1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề chân thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong “sông côn mùa lũ” của nguyễn mộng giác

129 431 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 786,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên tiếp trong những năm gần đây có nhiều cuộc Hội thảo văn học về đề tài lịch sử mà theo Hữu Thỉnh cho rằng: “Làm sống lại kinh nghiệm sống của cả một dân tộc” [53,tr.3] Xuất hiện nhữ

Trang 1

CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đồng Văn Đẹp

VẤN ĐỀ CHÂN THẬT LỊCH SỬ VÀ HƯ CẤU NGHỆ THUẬT TRONG “SÔNG CÔN MÙA LŨ”

CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

Đồng Văn Đẹp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Khoa học và Đào tạo sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho chúng tôi được học tập tại trường

Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường TH, THCS và THPT Trương Vĩnh Ký đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để cho tôi trong quá trình công tác tại Trường vẫn có thể theo học chương trình sau đại học này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với Quý Thầy, Cô đã trực tiếp giảng dạy, cung cấp những kiến thức hữu ích cho tôi và các học viên lớp Lí luận văn học K22 (năm

2011 – 2013)

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Phùng Quý Nhâm là người

trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này

Đặc biệt tôi muốn nói lời biết ơn chân thành đến gia đình tôi, những người đã gửi trọn niềm tin yêu, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian tôi theo học chương trình sau đại học này

Cuối lời, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến tất cả mọi người!

Đồng Văn Đẹp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3 Lịch sử vấn đề 8

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Đóng góp của luận văn 13

6 Kết cấu của luận văn 13

CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ TỪ1986 ĐẾN NAY VÀ “SÔNG CÔN MÙA LŨ” CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC 15

1.1 Tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay 15

1.1.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử 15

1.1.2 Quá trình sáng tác của tiểu thuyết lịch sửtừ 1986 đến nay 20

1.1.3 Nội dung chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay 23

1.1.4 Những đặc trưng nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay 27

1.2 Tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác 29

1.2.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Mộng Giác 29

1.2.2 Đôi nét về “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác 33

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ CHÂN THẬT LỊCH SỬ TRONG “SÔNG CÔN MÙA LŨ” CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC 38

2.1 Vấn đề chân thật trong tiểu thuyết lịch sử 38

2.2 Vấn đề chân thật lịch sử trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác 43

2.2.1 Tái hiện chân thật bức tranh xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII 43

2.2.2 Xây dựng nhân vật dựa theo khuôn mẫu những nhân vật lịch sử 49

2.2.3 Sự tái hiện chân thật phong trào Tây Sơn 60

2.2.4 Nét đẹp văn hóa Việt trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác 69

2.3 Đóng góp của vấn đề chân thật lịch sử trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác 75

CHƯƠNG 3: HƯ CẤU NGHỆ THUẬT TRONG “SÔNG CÔN MÙA LŨ” CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC 78

3.1 Hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử 78

Trang 6

3.2 Hư cấu nghệ thuật trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác 83

3.2.1 Nhân vật lịch sử được hư cấu trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác83 3.2.2 Nhân vật hư cấu trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác 100

3.3 Giá trị hư cấu nghệ thuật trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác 116

KẾT LUẬN 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thời kì rất quan trọng trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử văn học nói riêng Với không đầy nửa thế kỷ, văn học Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc Đất nước đã vượt lên sự kìm hãm của các thế lực thực dân phong kiến, hòa nhịp với sự lớn mạnh của dân tộc, nền văn học nước nhà đã phát triển theo hướng hiện đại hóa, tốc độ phát triển của các thể loại văn học thời kì này hết sức nhanh chóng Trong vòng 10 năm (1932 – 1941), thơ mới liên tục phát triển với các tác giả như: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Về tiểu thuyết và truyện ngắn cũng phát triển nhanh chóng như những truyện ngắn trào phúng độc đáo của Nguyễn Công Hoan, truyện ngắn giàu chất trữ tình, thấm đượm chất thơ của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, truyện ngắn của Nguyễn Tuân có màu sắc vừa cổ điển vừa hiện đại, truyện ngắn của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân hóm hỉnh và tài hoa Đặc biệt là những truyện ngắn hiện thực sắc nét, giàu giá trị nhân văn, nhân bản của ngòi bút bậc thầy Nam Cao Có thể nói văn học giai đoạn này đã đạt được những thành tựu to lớn cả về thơ và văn xuôi, nhiều tác giả thực sự tài năng và nhiều tác phẩm đáng gọi là kiệt tác thời kỳ này Trong khi đó bộ phận văn xuôi viết

về đề tài lịch sử từ sau 1945 còn là đề tài xa lạ và ít được chú ý, bàn luận đến

Sau khi chiến tranh kết thúc 1975, cuộc sống dần trở lại quy luật bình thường của nó, con người trở về với khuôn mặt đời thường Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức

cá nhân, đòi quan tâm đến từng số phận của mỗi người Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở

ra cho văn học nhiều đề tài mới Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế

và tính đa chiều của mọi quan hệ, con người được khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc khác nhau có thể thấy trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu với các truyện

“tự thú” – “sám hối”, truyện tự nhận thức… đã tạo nên bộ mặt văn học phong phú và phát triển khá phức tạp Tuy nhiên, về tiểu thuyết lịch sử, trong thời gian này vẫn chưa có bước phát triển đáng kể Ở thời điểm này, chúng ta có thể nhắc đến công trình khảo cứu công phu

của Phan Cự Đệ xuất bản 1975 Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Nhưng trong cuốn sách

những năm 80 của thế kỷ XX, việc bàn luận đến tiểu thuyết lịch sử hầu như vẫn còn rất

hiếm Theo Nguyễn Văn Dân: “Trong tinh thần này, chúng tôi thấy có một bài viết đáng

qu an tâm của tác giả người Rumani Ion Maxim được dịch sang tiếng việt: Những viễn

Trang 8

cảnh của tiểu thuyết lịch sử (“Perspctives du roman historique”, Cahiers ruomains

d`etudes littéraires, 1979, No 4, Thu Hà dịch)” [74]

Đặc biệt, từ năm 1986 đã diễn ra quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nên tiểu thuyết lịch sử đã có bước phát triển nhất định, trở thành phong trào sáng tác góp phần làm cho diện mạo văn xuôi tự sự thêm phong phú đa dạng Các nhà văn đã trở lại với lịch sử của dân tộc, những sự kiện lịch sử, những anh hùng dân tộc đã tạo nên nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử nhằm mục đích làm sống lại bức tranh hào hùng của dân tộc trong những năm tháng kháng chiến, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử, trở về với truyền thống dân tộc Liên tiếp trong những năm gần đây có nhiều cuộc Hội thảo văn học về

đề tài lịch sử mà theo Hữu Thỉnh cho rằng: “Làm sống lại kinh nghiệm sống của cả một dân

tộc” [53,tr.3] Xuất hiện những bộ tiểu thuyết cỡ lớn có tiếng vang như: Sông Côn mùa lũ

(Nguyễn Mộng Giác), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Bộ tiểu thuyết lịch sử Tám triều vua Lý và

Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải), Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Vạn xuân (nguyên tác Dix Mille Printemps (YvelineFéray),

Bí mật hậu cung (Bùi Anh Tấn)… Cho thấy, thể loại tiểu thuyết lịch sử được sự quan tâm

nhiều hơn của người viết, người đọc và giới nghiên cứu văn học Tuy nhiên, nhìn tổng thể

về tiểu thuyết lịch sử từ giai đoạn 1986 đến nay như đã nói tuy được quan tâm và có bước

ra rời rạc chưa tập trung khảo sát một cách toàn diện, sâu sắc Trong Hội thảo khoa học toàn quốc về Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử vừa diễn ra ở Hà Nội ngày 15 – 16

tháng 12 năm 2012 Phan Trọng Thưởng cho rằng: “Với sức sống lâu bền và tiềm năng vô

tận, người ta xem đề tài lịch sử là miền đất hứa, là nguồn chất liệu không vơi cạn, nguồn cảm hứng vô biên và là cái nôi nuôi dưỡng những kiệt tác nghệ thuật của nhân loại”

màu mỡ” của văn học nhưng lại mau chóng cạn kiệt, chưa thật sự tạo sức hút thật sự đối với người đọc nếu không có sự sáng tạo cần thiết

thuyết lịch sử thì phải thừa nhận rằng Nguyễn Mộng Giác là một ngòi bút được quan tâm

nhiều, đặc biệt với tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ ông thật sự đã làm cho tên tuổi của mình

đến rất gần với những người yêu mến văn chương trong và ngoài nước Ông tốt nghiệp thủ khoa đại học sư phạm ban Việt Hán tại Huế năm 1963, là nhà văn có nhiều đóng góp ở thể

Trang 9

loại trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ được nhà xuất bản Văn Học và Trung tâm

Nghiên cứu quốc học xuất bản 1998 – Là một trường thiên tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng thế

kỷ XVIII, một tác phẩm mà nhà văn đã đầu tư rất công phu, với gần hai ngàn trang sách, hoàn toàn xứng đáng là tiểu thuyết theo cái nghĩa cổ điển của từ này Tác phẩm hấp dẫn người đọc ở chất văn chương của nó, lôi cuốn ta, những người yêu lịch sử dân tộc, yêu con người Việt Nam nhân ái và quả cảm Đồng thời tác phẩm còn thể hiện sự tài hoa, hiểu biết sâu rộng của người viết về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam Tác phẩm đã tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với người đọc, góp phần phác họa lại bức tranh lịch sử Việt Nam qua việc tái hiện lại hình ảnh đẹp của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ dưới cái nhìn văn chương

có những hư cấu độc đáo nhưng vẫn giữ được những giá trị chân thật của nhân vật lịch sử này Nguyễn Huệ trở thành biểu tượng cho giòng lịch sử oai hùng của dân tộc Tác phẩm được hội đồng tuyển chọn sách hay đánh giá là một tác phẩm có giá trị nhân bản, giá trị dân tộc năm 2012 và được hãng phim TFS (Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) mua bản quyền để chuyển thành phim truyền hình Bên cạnh đó, với đề tài này chúng tôi còn muốn thổi hơi thở của lịch sử vào lòng người đọc một cách nhẹ nhàng thông qua những tiểu thuyết

lịch sử mà cụ thể là Sông Côn mùa lũ Tin rằng, luận văn này sẽ góp một phần có ích trong

việc truyên truyền, phổ biến, giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước qua những chiến công chói lọi của phong trào Tây Sơn đã đi vào sử sách

Ngoài ra, với sự yêu mến và xúc động chân thành của người viết trước hồn thiêng sông núi được lắng kết trong từng trang viết của tác phẩm chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài:

Vấn đề chân thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác” để nhằm đi vào tìm hiểu tác phẩm một cách sâu sắc, nhất là vấn đề chân thật

lịch sử và hư cấu của tác phẩm Đồng thời đây coi như lời tri ân đối với tác giả Nguyễn Mộng Giác Dưới góc độ đây không phải là tác phẩm được coi như là một hiện tượng, là tác phẩm tiêu biểu dùng làm khuôn mẫu cho cả khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử trong bối cảnh cận đại mà chỉ nhằm đi vào tìm hiểu một tác phẩm tiêu biểu được phổ biến rộng rãi của nhà văn Nguyễn Mộng Giác để khảo sát vấn đề chân thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật của tác phẩm này

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Để làm rõ nội dung của luận văn, chúng tôi chủ yếu đi vào nghiên cứu tiểu thuyết Sông

Trang 10

Côn m ùa lũ của tác giả Nguyễn Mộng Giác Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ

nội dung đề tài một cách sâu sắc, chúng tôi có sự mở rộng nghiên cứu một số tác phẩm khác cùng thể loại Trên tiêu chí lựa chọn những tác phẩm tiêu biểu, có sự ảnh hưởng nhiều nhất, được phổ biến rộng rãi như:

- Vạn xuân (nguyên tác Dix Mille Printemps) (1989) của nữ văn sĩ người Pháp

- Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) của Nguyễn Xuân Khánh

-Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần (2010) của nhà văn Hoàng Quốc Hải…

Để tăng tính thuyết phục, những kết luận được đúc kết phải dựa trên cơ sở thực tiễn chính xác nên vai trò quan trọng của sự so sánh, đối chiếu với lịch sử dân tộc trong luận văn này là không thể thiếu Những tài liệu lịch sử tiêu biểu được sử dụng như:

- Chế độ phong kiến Việt Nam (1978) - Kỷ yếu Hội nghị nghiên cứu phong trào nông

dân Tây sơn

- Lịch sử Việt Nam (1976) do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên

- Lịch sử Việt Nam qua những chiến tích oai hùng (1967) của Nhóm trí thức Việt…

- Đại Việt sử ký toàn thư (2004) của Ngô Sĩ Liên

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ là một tác phẩm hay, có nhiều vấn đề cần nghiên cứu,

khám phá Tuy nhiên, với luận văn này chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu hai nội dung chính

3 Lịch sử vấn đề

Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác là một trường thiên tiểu thuyết lịch sử rất

đặc sắc ở những giá trị lịch sử và chất văn chương Với sự phong phú, vẻ đẹp mang tính

cứu văn học trong và ngoài nước Tuy nhiên, cho đến nay chưa có những công trình nghiên cứu, khảo luận về tác giả, tác phẩm này với quy mô lớn, toàn vẹn Có thể điểm qua một số bài viết và những Tạp chí văn học… đã đi vào nghiên cứu nội dung này như sau:

Trong cuốn Tạp chí sáng tác nhận định văn nghệ (2006), thực hiện số đặc biệt về nhà

văn Nguyễn Mộng Giác, xuất bản tại Nhà xuất bản Văn nghệ Hoa Kỳ Cuốn tạp chí này, tập

Trang 11

hợp những bài viết của nhiều tác giả nhận định về những sáng tác của Nguyễn Mộng Giác

mộng Giác Trần Hữu Thục đã đi vào thể hiển hình ảnh Nguyễn Huệ từ lịch sử đến những

Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác Tác giả bài viết này cũng có đưa ra hai quan niệm trái chiều giữa Nguyễn Khắc Phê và Phan Cự Đệ khi tiếp nhận Sông

Côn mùa lũ Nguyễn Khắc Phê cho rằng tác phẩm có những hạn chế vì cho rằng viết về một

tiểu thuyết lịch sử viết về mấy thập kỷ cuối thế kỷ XVIII mà lại chọn nhân vật trung tâm là Nguyễn Huệ, tác phẩm viết quá ít về những chiến công của phong trào tây Sơn… Khác với

quan niệm trên, Phan Cự Đệ cho rằng: “Sông Côn mùa lũ rõ ràng không phải viết về Nguyễn

Huệ như một vĩ nhân (điều mà các sử gia và bộ máy thông tin tuyên truyền đã làm quá nhiều và có quá hiệu quả), ngược lại muốn thăm dò những phía khác của người anh hùng xét như một con người (không cần phải kèm theo những thuộc tính, có khi đã trở thành sáo rỗng, như oanh liệt, hiển hách, thiên tài, lỗi lạc…)” [31,tr.93] Từ những nhận định trên,

cũng cho thấy phần nào về diện mạo Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

Năm 2012 để giới thiệu và làm rõ về giá trị của tác phẩm, Đỗ Minh Tuấn có bài viết

Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác: Sự khám phá nhân cách văn hóa Việt Trong

bài viết này, Đỗ Minh Tuấn có trình bày ba vấn đề chính: Thứ nhất “Cái nhìn mới mẻ táo bạo về người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ” Theo Đỗ Minh Tuấn, lịch sử Việt Nam có nhiều nhân vật lớn mà cuộc đời của họ là những trang sử giá trị nhưng cho đến nay tiểu thuyết lịch sử Việt Nam chỉ dừng lại ở việc khai thác một vài khía cạnh của các nhân vật lịch sử vĩ đại này Tác giả bài viết đặc biệt đề cao hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ:

“ Thành công lớn của Nguyễn Mộng Giác là đã trình bày thuyết phục và nhuần nhuyễn sức hấp dẫn văn hoá của người anh hùng nông dân Nguyễn Huệ, thách thức những định kiến lịch sử Đó là một góc nhìn rất mới mẻ và táo bạo của nhà văn với nhân vật lịch sử độc đáo, phức tạp này”[94] Sức hấp dẫn văn hóa của người anh hùng nông dân thật sự làm cho sự ra

đời của Sông Côn mùa lũ là một thành công lớn trong tiểu thuyết lịch sử Thứ hai “Nội soi

nhân cách văn hóa người anh hùng Nguyễn Huệ”, các nhà văn xưa nay thường cho rằng mối quan hệ giữa trí thức nông dân trong lịch sử và các nhân vật lịch sử là thân phận người trí thức với những bi kịch éo le trong sự hợp tác với lãnh tụ nhân dân Riêng tác phẩm này, Nguyễn Mộng Giác có sự sáng tạo tránh được lối tư duy cũ khi xây dựng nhân cách Nguyễn

Huệ “Tác giả di chuyển người tri thức từ vị trí đứng ngoài bổ sung, đối trọng và đối lập với

Trang 12

người nông dân vào bên trong cấu trúc nhân cách của người anh hùng Nguyễn Huệ, để nội soi người anh hùng này, khám phá những mâu thuẫn, những giằng xé, những gắn kết, những cộng sinh lai tạp trong quá trình lịch sử và tâm lý, tìm ra mã số văn hoá thống nhất trong nhân cách lãnh tụ khởi nghĩa nông dân” [94] Đó là cách nhìn nghệ thuật vừa táo bạo,

trí tuệ, vừa sâu sắc, nhân bản của tác giả Nguyễn Mộng Giác Trên cơ sở đó, thấy được cơ

chế sáng tạo nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ: “… việc lồng trí thức vào nông dân, lồng con

người thế tục vào con người huyền thoại, lồng con người tình nghĩa vào con người quyền lực, lồng cái nhìn nhân bản vào cái nhìn chính trị, lồng dã sử, huyền sử vào chính sử đó là cái cơ chế sáng tạo nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ của Nguyễn Mộng Giác trong Sông Côn mùa lũ” [94] Thứ ba là “Những nhân cách văn hoá trong đời thường” Về vấn đề này, chúng

tôi thấy Đỗ Minh Tuấn đã chỉ ra cái nhìn văn hóa là cái nhìn xuyên suốt tác phẩm, là ngọn

nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật, là cái đẹp của con người Việt Nam Văn hóa “Là sự

khám phá, lý giải kết nối chuỗi nhân cách văn hoá từ thường nhân đến vĩ nhân làm nên một dòng chảy văn hoá tâm linh nhất quán qua từng trang sách Dòng chảy văn hóa đó là sự hoà quyện của logic lịch sử, lôgic đời sống và lôgic nghệ thuật trong dung môi văn hoá Việt Nam đầy tính nhân bản, lưỡng hợp hỗn dung Đó chính là mã số của sức mạnh Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam” [94]

Năm 2012 Nhà xuất bản Thanh Niên đã xuất bản Quán văn – tập san văn học nghệ thuật - số 7, giới thiệu các bài viết về tác giả Nguyễn Mộng Giác và tiểu thuyết Sông Côn

mùa lũ: Một cái nhìn của Nguyên Minh, Với bạn, một chân tình khó quên của Lữ Quỳnh, Trong tình thân & nỗi thương tiếc! của Mang Viên Long, Ban Mai Nụ cười bình yên, Về thể loại tiểu thuyết trường thiên của Đặng Tiến, Nguyễn Mộng Giác và người Bình Định

của Thụy Khuê, Nhân vật Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

của Trần Hữu Thục… nhằm nhắc lại những kỷ niệm với Nguyễn Mộng Giác, quá trình sáng

tác của nhà văn, những cảm nhận về tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, cùng với sự bày tỏ niềm

Cũng năm 2012 Nguyễn Vy Khanh có bài viết nhân đọc tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ

Về tiểu thuyết lịch sử nhân đọc Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác) Trong bài viết

Côn mùa lũ, chỉ ra chân dung của Nguyễn Huệ: “Nguyễn Mộng Giác cho người đọc nhìn

thấy sự sinh thành và lớn dậy cùng tâm lý, kiến thức, chính trị và tài năng khác người của người anh hùng áo vải gốc nhà nông, nhưng đồng thời là một con người văn hóa, có sở học

Trang 13

Nho của thời đại, có cái học đạo lý làm người” [78] Theo Nguyễn Vy Khanh thì Nguyễn

Mộng Giác viết sát lịch sử dù phần nào theo dã sử nhưng rất gần với các nhân vật Tây Sơn:

“Sông Côn mùa lũ là cái nhìn tổng hợp của Nguyễn Mộng Giác về con người lịch sử Nguyễn Huệ (…) Sông Côn mùa lũ đại diện cho khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử muốn trình bày trung thực một thời đại bằng cách tiểu thuyết hóa những diễn tiến tình tiết, những thái độ, trình độ trí thức, tâm tính, với những nhân vật có thật bên cạnh vài nhân vật tiểu thuyết có thể có thật, như một giả thuyết, một thử nghiệm văn chương cho đề tài lịch sử đã chọn” [78] Trên cơ sở đó, ông phát biểu nhận xét về tiểu thuyết lịch sử nói chung

Phải nhắc đến người có công phát hiện và đem bộ tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của

nhà văn Nguyễn Mộng Giác ra mắt người đọc trong nước là Mai Quốc Liên Đến năm 2013,

trong bài viết Sông Côn mùa lũ – Người đẹp khó gặp lần nữa Ngô Quốc Liên đã trình bày

quan niệm của mình về tiểu thuyết lịch sử, về vấn đề chân thật lịch sử qua việc xây dựng người anh hùng Nguyễn Huệ và những yếu tố hư cấu góp phần làm tăng tính văn chương của tác phẩm nhất là xây dựng nhân vật An Nhận định về hình ảnh người anh hùng Nguyễn

Huệ được thể hiện trong tiểu thuyết lịch sử Mai Quốc Liên có viết: “Tôi là người để tâm tìm

hiểu về thời Quang Trung, về sử sự Tây Sơn, tôi đã dịch nhiều thơ văn Ngô Thì Nhậm Nhưng thực ra, sử sự rất ít Rất cần có một cuốn Lịch sử Tây Sơn – Quang Trung cho ra trò, một cuốn như thế phải là một công trình sưu tầm, nghiên cứu công phu… từ “điền dã” đến

sử liệu và một ngọn bút sâu sắc, thông minh Hình như ta chưa có một cuốn sách như thế Còn về tiểu thuyết, kịch bản… thì chưa có cái nào thật xứng tầm với thời đại đó, nó mới là

m ột cái gì nhất thời, làm vội, ngẫu nhiên” [80] Với Sông Côn mùa lũ ông đã đánh giá cao

bởi quy mô và những đặc sắc của của tác phẩm: “Sông Côn mùa lũ là một nỗ lực tổng hợp

với một quan niệm mới cả về tiểu thuyết và cả về lịch sử”, “Tôi rất quý cuốn tiểu thuyết này Tôi nghĩ là một “người đẹp” khó gặp lần thứ hai (“giai nhân nan tái đắc”) trong đời một người viết như anh Nguyễn Mộng Giác” [80]

Trước sự ra đi đầy luyến tiếc của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, năm 2012 Nhà xuất bản

Văn mới California có xuất bản Nguyễn Mộng Giác và bằng hữu để bày tỏ niềm tiếc

thương vô hạn và cũng là sự tổng kết về sự nghiệp sáng tác của nhà văn

cứu về tiểu thuyết lịch sử nói chung có đi vào khảo sát Sông Côn mùa lũ như:

Khánh, Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

- Đoàn Thị Huệ (2012), Đặc trưng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đượng đại (giai đoạn

1986 – 2010), Luận án tiến sĩ, Trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh

đến 1945 (diện mạo và đặc điểm), Luận án tiến sĩ Trường ĐHSP Hà Nội

của Nguyễn Triệu Luật, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp trường, Trường

Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh

Những đề tài nghiên cứu trên chỉ đi vào một vài khía cạnh nào đó của Sông Côn mùa

lũ để phục vụ cho việc nghiên cứu Đáng chú ý là đề tài nghiên cứu cấp Bộ, trường Đại học

Qui Nhơn của Bùi Văn Lợi (2004), Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ trong tiểu

thuyết lịch sử Việt Nam và vấn đề giảng dạy tiểu thuyết lịch sử về Nguyễn Huệ trong nhà trường phổ thông Tác giả đề tài có đi vào nghiên cứu hình tượng người anh hùng Nguyễn

chưa có công trình nghiên cứu nào có quy mô lớn, toàn diện, chuyên sâu nhiều mặt về tác phẩm này Cho nên, tác phẩm còn ẩn chứa nhiều vấn đề cần được đào sâu, nghiên cứu, phát hiện, đây là điều vô cùng thú vị, hấp dẫn trong quá trình nghiên cứu bởi những giá trị tương đối tươi mới của tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

Để cho nội dung của luận văn được nghiên cứu một cách sâu sắc, logic nhưng cũng đảm bảo không cứng nhắc, liệt kê Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi vận dụng kết hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử

Là tiểu thuyết lịch sử nên nội dung có liên quan mật thiết với chính sử Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch để đặt tác phẩm trong bối cảnh lịch sử, xã hội cụ thể từ đó mới đưa ra những kết luận chính xác về tác phẩm, nhất

là trong việc chỉ ra được những nội dung mà tác giả thể hiện: Đâu là nội dung đảm bảo tính chân thật của lịch sử? Đâu là nội dung mà tác giả đã hư cấu?

- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học

Khi tiếp cận một tác phẩm văn học cần phải có kiến thức về thi pháp học để thấy được

Trang 15

những đặc trưng của từng thể loại, từ đó có hướng đi đúng đắn trong quá trình nghiên cứu nhất là trong quá trình nghiên cứu về nghệ thuật tác phẩm

- Phương pháp nghiên cứu văn hóa học

Xuyên suốt tác phẩm tác giả có thể hiện nhiều vấn đề mang bản sắc văn hóa Việt Nam được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau của văn hóa Chính vì vậy, cần phải vận dụng kiến thức văn hóa trong quá trình tiếp cận để thấy được cái hay, cái đẹp, phê phán những quan điểm, lối sống trái với truyền thống văn hóa Việt trong trường thiên tiểu thuyết lịch sử này

- Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được đặc biệt chú trọng trong quá trình thực hiện luận văn này để làm rõ sự tương đồng hay dị biệt giữa nội dung tác phẩm với các sự kiện lịch sử

- Phương pháp hệ thống

Khi tiến hành nghiên cứu cần đặt hệ thống thể loại tác phẩm này trong hệ thống quan

hệ đồng đại hay lịch đại để thấy được sự giống nhau của tác phẩm với các tác phẩm khác và những đóng góp khác biệt của tác giả trong việc phát triển thể loại tiểu thuyết lịch sử đương đại

5 Đóng góp của luận văn

Hòa vào xu hướng tìm về cội nguồn dân tộc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận văn

thời cuộc được lồng ghép trong những trang viết của tác phẩm

nghệ thuật góp phần làm cho chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về tiểu thuyết Sông Côn mùa

lũ của Nguyễn Mộng Giác

Luận văn cung cấp tài liệu hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về tác giả Nguyễn

Mộng Giác và tác tác phẩm Sông Côn mùa lũ Ngoài ra, từ muôn vàn sự kiện lịch sử trong

thời khắc đất nước đầy biến cố, nhất là qua hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ được vẽ lại bằng văn chương góp phần làm cho người đọc thấy được sự cần thiết của tiểu thuyết lịch

sử trong việc tìm về cội nguồn của dân tộc

6 Kết cấu của luận văn

Trang 16

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận luận văn này được cấu trúc thành ba chương:

- Chương 1 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay và “Sông Côn mùa lũ”

của Nguyễn Mộng Giác

Nhằm làm rõ nội hàm khái niệm tiểu thuyết lịch sử, đi vào nghiên cứu tiểu thuyết lịch

sử Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay về các mặt nội dung phản ánh, những đặc trưng nghệ thuật Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Mộng Giác, quá trình sáng tác và diện mạo, vị trí

của Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

- Chương 2 Vấn đề chân thật lịch sử trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng

Giác

những nội dung được tác giả thể hiện dựa vào căn cứ lịch sử từ đó chỉ ra đóng góp của vấn

đề chân thật lịch sử trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

- Chương 3 Hư cấu nghệ thuật trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác

Là quá trình nghiên cứu về vấn đề hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử và nghiên cứu những nội dung hoàn toàn do trí tưởng tượng của tác giả, từ đó chỉ ra giá trị hư cấu nghệ

thuật trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

Trang 17

CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ TỪ1986 ĐẾN NAY VÀ

“SÔNG CÔN MÙA LŨ” CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

1.1 Tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay

1.1.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử có cội nguồn từ thời Hi Lạp cổ, sau đó được du nhập vào Việt Nam

là từ phương Tây Sự khai sinh ra tiểu thuyết lịch sử có thể nói đến chủ nghĩa lãng mạn với Walter Scott và Victor Huygo mặc dù cội nguồn của nó đã có từ thời Hi Lạp Ở nước ta tiểu thuyết lịch sử có tiền đề từ các thể loại truyền thuyết lịch sử, thời trung đại có bộ phận văn xuôi tự sự chữ Hán ghi chép lịch sử, thể liệt truyện, tiểu thuyết chương hồi viết về đề tài lịch sử… đó là kho tư liệu quý báu cho những người viết sử sau này

Nói đến tiểu thuyết lịch sử thì chúng ta nghĩ ngay đến loại hình tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính để sáng tác, làm sống lại lịch sử bằng việc tái hiện những sự kiện, những biến cố lịch sử của dân tộc Tuy nhiên, khái niệm tiểu thuyết lịch sử là một thuật ngữ có nhiều cách tiếp cận nội hàm khái niệm khác nhau khi đặt lịch sử trong sự tương quan với tiểu thuyết, quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử… Có nhiều quan niệm khác nhau, trái chiều nhau trong quan niệm về tiểu thuyết lịch sử,

có quan niệm chính thống và quan niệm theo hướng đổi mới Bên cạnh đó, sự khác biệt trong truyền thống văn hóa phương Đông và phương Tây cũng tạo nên những quan niệm khác nhau về tiểu thuyết lịch sử

Bàn về khái niệm tiểu thuyết lịch sử Đỗ Hải Ninh khẳng định: “Tiểu thuyết lịch sử hiểu

theo ngh ĩa chung nhất, là tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử” [84] Theo cách hiểu này thì đã

làm sáng rõ, khưu biệt thể loại vào nội dung lịch sử Ấy thế, theo chúng tôi quan niệm này còn những bất cập khi chưa làm thỏa đáng những yêu cầu, đặc trưng, biên độ của của sự hư cấu về nội dung lịch sử

lấy một giai đoạn lịch sử làm khung cảnh và mong muốn truyền bá cái tinh thần, kiểu cách,

và các điều kiện xã hội của một thời kỳ quá khứ với những chi tiết hiện thực và trung thành với sự thật lịch sử (tuy nhiên trong một số trường hợp sự trung thành này chỉ là giả tạo)

C ông trình sáng tạo đó có thể đề cập đến những nhân vật lịch sử có thật… hoặc có thể bao hàm một sự pha trộn nhân vật lịch sử với nhân vật hư cấu” [Dẫn theo Nguyễn Văn Dân,

Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – phác họa một số xu hướng chủ yếu, 74] Quan

Trang 18

điểm này, theo chúng tôi là hoàn toàn sát đáng, thể hiện khá trọn vẹn nội hàm khái niệm tiểu thuyết lịch sử khi cho rằng tiểu thuyết lịch sử lấy giai đoạn lịch sử làm khung cảnh, để thể hiện tư tưởng người viết dựa vào sự thật lich sử, nhân vật lịch sử và do là tác phẩm văn học

quan niêm về tiểu thuyết lịch sử: “Đã quan niêm tiểu thuyết lịch sử luôn có một tác giả và

tác giả bị tác động bởi xã hội hắn sống, tác động này ảnh hưởng đến cái nhìn lịch sử của hắn, đến chính việc hắn lựa chọn tiểu thuyết lịch sử hoặc chọn đề tài và thời đại lịch sử”

[Dẫn theo Nguyễn Vy Khanh Về tiểu thuyết lịch sử nhân đọc Sông Côn mùa lũ Nguyễn

Mộng Giác,78]

Gần với các quan niệm trên thì theo Từ điển văn học do Trần Hữu Tá, Nguyễn Huệ

Chi chủ biên cho rằng: “Tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Lịch

sử trong ý nghĩa khái quát là quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội Các khoa học xã hội (cũng được gọi là các khoa học lịch sử) đều nghiên cứu qúa khứ của loài người trong tính cụ thể và đa dạng của nó Tuy vậy, những tiêu điểm chú ý của các sử gia lẫn các nhà văn quan tâm đến đề tài lịch sử, thường đều là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia như chiến tranh, cách mạng… cuộc sống và sự nghiệp của các nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử”

ngẫm lịch sử “trong tính cụ thể và đa dạng của nó”

Sáng tác về đề tài lịch sử còn là sự xói mòn ranh giới thể loại giữa tiểu thuyết và truyện khi có những tác phẩm lẽ ra được coi như truyện dài mang đậm tính sử thi thì được coi là tiểu thuyết nhưng nhìn vào bức tranh tổng thể của quá trình nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết lịch sử chúng tôi có thể đưa ra một số quan niệm nổi bật về khái niệm này.Trước hết phải nói đến quan niệm truyền thống về tiểu thuyết lịch sử Bằng cái nhìn đã được định hình là tiểu thuyết lịch sử cần đảm bảo độ chính xác lịch sử với những sự kiện có tầm vóc, nhân vật có can dự trực tiếp vào biến cố lịch sử đóng vai trò nhân vật trung tâm và mục đích tái hiện lại lịch sử theo quan điểm

tôi viết lịch sử Mà đã viết lịch sử thì phải trung thực, tôn trọng sự thật không bịa, dù là một sự kiện lịch

sử hay một nhân vật lịch sử” [58,tr.5] Ngược lại, có nhiều người cho rằng cần phải có yếu tố hư

cấu nghệ thuật trong sáng tác tiểu thuyết lịch sử Với quan niệm rộng mở hơn này, tiểu thuyết

Trang 19

lịch sử có thể chỉ xuất hiện khung cảnh lịch sử, tùy theo trí tưởng tượng nhà văn mà hư cấu nhân vật

liệu” để người viết có thể sáng tạo, hư cấu trong quá trình sáng tác

Đã là tiểu thuyết thì phải hư cấu, dù đó là tiểu thuyết lịch sử, hư cấu là đặc trưng của tiểu thuyết Hư cấu là đặc quyền của nhà văn, bởi tiểu thuyết lịch sử trước hết nó cũng là thể loại tiểu thuyết, mang đặc trưng của tiểu thuyết Quan niệm về tiểu thuyết thì một trong

những định nghĩa sâu sắc, đầy đủ và bao trùm nhất mà Thụy Khuê trong Nguyễn Mộng

Giác và người Bình Định có đưa quan niệm của Bakhtine về tiểu thuyết: “Tiểu thuyết là sự

đa dạng xã hội của ngôn ngữ, đôi khi của những thứ tiếng và những giọng cá nhân Sự đa dạng này được thực hiện một cách văn chương Những định đề thiết yếu của tiểu thuyết đòi hỏi ngôn ngữ dân tộc (langue nationale) phải được kết tầng thành những thổ ngữ (dialecte)

xã hội khác nhau, thành những kiểu nói riêng của một nhóm người, thành những tiếng lóng, tiếng nhà nghề (jargon), thành ngôn ngữ của những kiểu cách, những lối nói, ngôn ngữ của

m ột thế hệ, của một lớp tuổi tác, của các trường phái, của những kẻ cầm quyền, của những câu lạc bộ hay những mốt thời thượng, thành ngôn ngữ xã hội của “ngày này” (thậm chí của “giờ này”) thành ngôn ngữ của chính trị (mỗi ngày chính trị có một định thức riêng để chỉ định một vấn đề chính xác bằng từ vựng và bằng cách nhấn mạnh) mỗi loại ngôn ngữ trên đây phải được kết tầng bên trong tiểu thuyết, bất cứ lúc nào, khi câu truyện hiện hữu”

tưởng tượng trong tiểu thuyết lịch sử được nhiều người đồng tình TheoAlexandre Dumas

nhận định rằng: “Lịch sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo bức họa của tôi

mà thôi.” Còn S Haasse cho rằng: “Mặc dù những cuốn tiểu thuyết của tôi có thể là tiểu

thuyết lịch sử (bởi nó dựa trên những sự kiện và những biến cố lịch sử hoặc có liên quan đến những con người có thật)… chủ định của tôi không bao giờ lấy việc tái hiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu trong văn học, đề tài lịch sử là một phương diện chứ không phải một cứu cánh” [Dẫn theo Phan Cự Đệ Tiểu thuyết lịch sử,14] Theo Nguyễn Huy Tưởng:

Lịch sử chỉ là cái cớ để nhà văn triển khai những băn khoăn trăn trở cho thôi day dứt tâm thế của người cầm bút về thân phận con người, ý thức công dân và sứ mệnh nghệ thuật”

[54,tr.71]

Bàn về tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Triệu Luật có đưa ra quan niệm về tiểu thuyết lịch

sử: “Nhà viết tiểu thuyết lịch sử không cần theo phép sử học Tác giả chỉ phải tưởng tượng

ra một “truyện có thể có” ở một thời đại, rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy

Trang 20

Mục đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống một thời đại Những tiểu thuyết Note dame de par , Quatre vingt treize của Victor Huygo đều là bịa đặt, nhưng đọc truyện đó ta thấy cả thời đại của vua Louis và hồi Đại cách mệnh sống lại” [70] Theo nhà giáo Phạm

người góp phần gợi nỗi niềm cho người đời về những sự thật của lịch sử Khác với các sử gia, người viết tiểu thuyết lịch sử tham gia vào tâm lý của nhân vật” [38,tr.18]

thảo, Tọa đàm văn học trong những năm gần đây Trong Hội thảo đề tài lịch sử và sáng tác

văn học về đề tài lịch sử Vài suy nghĩ về tiểu thuyết lịch sử nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

đã chia tiểu thuyết lịch sử ra làm ba loại: Thứ nhất là loại tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu như:

Nhà thờ Đức Bà Paris của V Huygo, Hòm đựng người của Nguyễn Triệu luật… Thứ hai

là loại tiểu thuyết lịch sử toàn những nhân vật có thật trong lịch sử như: Thanh gươm yên

ngựa của Hoàng Yến, những tiểu thuyết lịch sử về thời Lý – Trần của Hoàng Quốc Hải…

Thứ ba là loại tiểu thuyết lịch sử trộn lẫn giữa cái hư và cái thật như: Quo Vadis của

hướng viết thể hiện được nhiều ưu thế nhất mà Nguyễn Xuân Khánh cũng đã từng cho rằng

tiểu thuyết lịch sử cần viết theo hai hướng: “Một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong

lịch sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn Chỉ được phép hư cấu

về tâm lí hoặc thêm những nhân vật hư cấu để soi sáng nhân vật có thực Còn một loại khác

là nhà văn xây dựng không khí xưa nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo” [33,tr.3] Với

luận điểm cũng cho rằng “lịch sử chỉ là cái đinh treo” thì ta thấy được quan điểm sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh mà bằng chứng là Hồ Quý Ly là sự kết hợp độc đáo giữa chất lịch

sử và những hư, thậm chí sự hư cấu làm cho chất văn chương của tác phẩm còn nổi bật hơn các sự kiện lịch sử Thành công của tác phẩm đã khẳng định hướng đi đúng đắn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

Khác với cách phân loại tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh chủ yếu dựa vào tính chân thật lịch sử, Nguyễn Văn Dân dựa vào mục đích và quan niệm nghệ thuật của tác giả khi chia tiểu thuyết lịch sử thành ba loại: Tiểu thuyết lịch sử chương hồi; Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn; Tiểu thuyết lịch sử luận giải

Hải Thanh trong bài viết Bàn về tiểu thuyết lịch sử cũng phát biểu suy nghĩ của mình

về tiểu thuyết lịch sử: “Tiểu thuyết lịch sử (historical novel) là một khái niệm kép chỉ một

Trang 21

tác phẩm văn học viết lịch sử bằng tiểu thuyết Rõ hơn là nhà văn lấy tiểu thuyết làm phương tiện để làm sáng tỏ hơn chân lý lịch sử, tức mục đích” [90] Từ đó, Hải Thanh đề cao

yếu tố hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử: “Tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái

nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạonhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử” [90] Từ quan niệm này, soi rọi vào góc nhìn liên văn bản thì tiểu thuyết lịch sử góp phần

làm sống dậy văn hóa, lịch sử theo sự kiến tạo của từng cá nhân tác giả Mượn lịch sử để bàn về hiện tại, dùng những giá trị lịch sử để phục vụ hiện tại Nhận định về tiểu thuyết lịch

sử vấn đề đặt ra là “đánh giá lịch sử” Lịch sử dưới con mắt của nhiều người khác nhau, sẽ

có nhiều ý kiến khác nhau Tiểu thuyết lịch sử rất dễ rơi vào mâu thuẫn không thể dung hòa được giữa tính chân thật lịch sử và hư cấu, sự đồng nhất về thời gian lịch sử… Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử là vấn đề còn tranh cãi cho đến nay mà đó cũng là tính hấp dẫn của thể loại này Bời vì, nếu có tranh cãi, sự không đồng thuận đó cũng là lẽ thường và lành mạnh trong văn chương

sáng tác thể loại này giai đoạn năm 1986 đến nay, có thể thấy rõ “tiểu thuyết lịch sử là tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử” Quan niệm tiểu thuyết lịch sử phải gắn liền và tôn trọng các sự kiện lịch sử,

rất gần với các thể loại như: sử ký, phóng sự, truyền thuyết… Tác phẩm dường như không còn là văn học mà mang đậm tính sử học, tính thời sự, như một phóng sự về những diễn biến của những câu chuyện quá khứ của lịch sử Trong tiểu thuyết thông thường hư cấu, tưởng tượng, sáng tạo là điều không thể thiếu của người viết nên hướng tiếp cận thứ hai cho rằng hư cấu là biện pháp nghệ thuật nhằm thể hiện sự sáng tạo của nhà văn, gây hứng thú cho người đọc, là đặc điểm thể hiện sự đặc sắc, bộc lộ quan điểm của tác giả đối với lịch sử, là cơ sở để phân biệt thể loại này khác với các công trình sử ký Bên cạnh đó hư cấu còn xuất phát từ quan niệm nghệ thuật của nhà văn, do đó không nên tuyệt đối hóa nó hay quá đề cao tính trung thành với lịch

sử Theo chúng tôi, thành công nghệ thuật cần đánh giá một cách toàn diện, là sự tổng hợp nhiều mặt của thể loại tiểu thuyết lịch sử, chứ không chỉ thiên về tính chân thực lịch sử hay

văn tái hiện, đâu là hành vi văn chương mà nhà văn muốn trao gửi trong tác phẩm Ta không

lệ thuộc vào con số thống kê tỷ lệ bao nhiêu phần trăm là thực, bao nhiêu phần trăm là hư

Trang 22

Mà chủ yếu không làm biến tướng nhân vật lịch sử, làm ta thêm yêu, thêm quý và trân trọng những con người này hơn

1.1.2 Quá trình sáng tác của tiểu thuyết lịch sửtừ 1986 đến nay

Để thấy rõ quá trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn 1986 đến nay, chúng tôi

có sự sơ lược quá trình sáng tác của tiểu thuyết lịch sử các giai đoạn trước 1986 để có cái nhìn khái quát và thấy được rõ hơn diện mạo của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn từ 1986 đến

thuộc còn mờ nhạt, rất ít người sáng tác, trong giai đoạn văn học trung đại số lượng tác

phẩm rất ít, chỉ nổi lên các tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí (cuối thế kỷ XVII)

của Nguyễn Khoa Chiêm - tự Bảng Trung (cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của văn học Việt Nam), viết bằng chữ Hán văn, được Ngô Đức Thọ dịch ra tiếng Việt năm 1986, tái bản

1987 với tiêu đề Trịnh – Nguyễn diễn chí, đến nay được ấn hành nhiều lần có sự bổ sung và sửa chữa với những tên gọi khác nhau: Mộng bá vương (1990), Việt Nam khai quốc chí

truyện (1994), Nam triều công nghiệp diễn chí (2003) Sau gần một thế kỷ có tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí (cuối thế kỷ XVIII) hay còn gọi An Nam nhất thống chí là tác

phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán trong tùng thư của Ngô gia văn phái Đến nền văn học Việt Nam hiện đại đầu thế kỷ XX đến 1945 là giai đoạn thơ, tiểu thuyết và truyện ngắn phát

phẩm còn ít, chỉ nổi lên một số tác phẩmtiêu biểu như: Bà chúa chè, Loạn kêu binh và

Chúa Trịnh Khải (cùng viết 1938) của Nguyễn Triệu Luật, Đêm hội Long trì (1942), An

Tư (1944) của Nguyễn Huy Tưởng… Về nội dung các sáng tác giai đoạn này dựa vào các

sự kiện lịch sử nên rất đậm tính chính sử, nội dung chủ yếu là nỗi xót xa, tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn, tinh thần lên án, đả kích kẻ thù xâm lược Nhìn chung, các tác phẩm giai đoạn này có sự chuyển biến rõ rệt so với giai đoạn trước nhất là trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, tiểu thuyết giai đoạn này gặt hái được những thành công, vẫn tiếp tục cảm hứng sáng tác dựa vào tính chân thật lịch sử của giai đoạn trước nhưng có sự đa dạng, phong phú hơn do chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi hay loại “nghĩ thoại bản”

tiểu thuyết hiện đại phương Tây Tuy nhiên, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vẫn chưa được

nhân vật theo lối kết cấu có hậu, nhân vật chủ yếu bộc lộ tính cách qua hành động nhiều hơn

Trang 23

Giai đoạn từ 1945 đến 1985 là giai đoạn tiểu thuyết lịch sử có sự phát triển, có thể kể

một số tác phẩm như: Hùng khí Thăng Long (1964), Bóng nước Hồ Gươm (1970) của

Cư Sao Khuê lấp lánh (1984) của Nguyễn Đức Hiền… Các tác phẩm giai đoạn này dần

dần thoát khỏi lối kết cấu chương hồi, lối văn biền ngẫu được thay thế cách viết giàu hình ảnh, văn phong khúc chiếc, Các tác phẩm giai đoạn này tăng lên về số lượng, đa dạng hơn

về đề tài, cũng như có sự kết hợp giữa tính chân thật lịch sử và những hư cấu nghệ thuật, đánh dấu bước sáng tạo trong nghệ thuật sáng tác, làm cho diện mạo tiểu thuyết lịch sử được hoàn thiện, phát triển với nội dung sâu sắc và hấp dẫn hơn

Từ 1986 đến nay là giai đoạn phát triển cao, thời điểm “lên ngôi” của tiểu thuyết lịch

sử Với đông đảo đội ngũ sáng tác, độc giả bắt đầu có hứng thú tìm về lịch sử Việt Nam thông qua những tiểu thuyết lịch sử hấp dẫn và giàu giá trị nhân văn, đặc biệt được sự quan tâm của cứu giới nghiên cứu, phê bình văn học Bởi, trong những năm gần đây có rất nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm về đề tài tiểu thuyết lịch sử, những buổi giới thiệu sách mới: Hội nhà

văn Việt Nam tổ chức hội thảo ngày 07/09/2012 ở Hà Nội với đề tài Sáng tác văn học về đề

tài lịch sử, Hội thảo khoa học toàn quốc ở Hà Nội ngày 15 và 16/12/2012 với đề tài Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử… Đặc biệt, trong những năm gần đây có nhiều tác

phẩm tiểu thuyết lịch sử xuất sắc được sự tôn vinh và được trao nhiều giải thưởng văn học

như: Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh được trao giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam

năm 1998 – 2000 Sau đó tác phẩm còn được giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội 2001 và giải thưởng Thăng Long của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội năm 2002 Đồng thời, Nguyễn Xuân Khánh còn được trao giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội năm 2006 với tiểu

thuyết Mẫu Thượng ngàn (Thâm cung bí sử).Hội thề cuả Nguyễn Quang Thân đạt giải A cuộc thi viết tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam 2006 – 2010, Bộ tiểu thuyết Bão táp

triều Trần gồm: Bão táp cung đình, Huyền Trân công chúa, Thăng Long nổi giận, vương triều sụp đổcủa Hoàng Quốc Hải được giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội

giá là một tác phẩm có giá trị nhân bản, giá trị dân tộc năm 2012… Trên cơ sở đó, chúng tôi xin liệt kê một số tác phẩm tiêu biểu để thấy được diện mạo của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn

từ 1986 đến nay

- Ngôi vua và những chuyện tình (Trần Thủ Độ) (1988), Người đẹp ngậm oan (Đặng Vương Phi) (1990), Gươm thần vạn kiếp (Trần Quốc Tuấn) (1991), Tuyên phi họ

Trang 24

Đặng (Đặng Thị Huệ) (1996) của Ngô Văn Phú

- Vạn xuân (nguyên tác Dix Mille Printemps) (1989) của nữ văn sĩ người Pháp

- An tư (1994), Khúc khải hoàn dang dở (2002) của Hà Ân

- Danh tướng Trần Hưng Đạo (1995), Mai Hắc Đế (1996), Vằng vặt sao khuê

- Sông Côn mùa lũ (1998) của Nguyễn Mộng Giác

- Kinh đô rồng (1999), Một mất một còn, Thời vàng son (2004) của Nguyễn Khắc

Phục

- Mười hai sứ quân, Hào kiệt Lam Sơn (2000) của Vũ Ngọc Đĩnh

- Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) của Nguyễn Xuân Khánh

- Quân sư Nguyễn Trãi (2001) của Trần Bá Chi

- Lê Lợi (2002), Bà Triệu (2003), Đinh Bộ Lĩnh (2004), Lý nam Đế (2006) của Hàn

Thế Dũng

- Ức Trai – Tâm thượng quan khuê tảo (2002) của Bùi Anh Tấn

- Trần Quốc Toản (2005) của Lưu Sơn Minh

- Đàn đáy (2006) của Trần Thu Hằng

- Đô đốc Bùi Thị Xuân (2006) của Quỳnh Cư

- Đất Việt Trời Nam (2007) của Đan Thành

- Hội thề (2010) của Nguyễn Quang Thân

- Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần (2010) của Hoàng Quốc Hải…

Đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này ngoài sự phát triển nhanh chóng về số lượng bởi đây là thể loại văn học có hiệu quả nhất trong việc tìm về cuội nguồn của dân tộc bằng những trang sử, giàu giá trị văn hóa Các tác phẩm giai đoạn này thể hiện sự đột phá,

sự đa dạng về nội dung đề tài và hình thức thể hiện Về đề tài, tác phẩm có sự tiếp nối các đề tài của các giai đoạn sáng tác trước Ngoài ra, còn phát huy những đề tài mới như văn hóa dân tộc, cái nhìn mới về các nhân vật chính sử Hình thức sáng tạo giai đoạn này cũng đa dạng, độc đáo, có nhiều đổi mới, ngoài việc dựa vào chân thật lịch sử các sáng tác còn phát huy tính hư cấu nghệ thuật tạo, khai thác chiều sâu nội tâm nhân vật với những trăn trở, suy

tư da diết tạo được hiệu quả nghệ thuật cao trong sáng tác văn học về đề tài lịch sử

Trang 25

1.1.3 Nội dung chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay

Yêu nước, căm thù giặc, ý chí quật cường và lòng tự hào dân tộc

vật lịch sử Mà lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước Một dân tộc

có truyền thống yêu nước “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” Chính vì vậy, nội dung “Yêu nước, căm thù giặc, ý chí quật cường và lòng tự hào dân tộc” là nội dung quan trọng của tiểu

thuyết lịch sử

của những thời điểm lịch sử gay cấn làm nền để phát triển cốt truyện đã tạo được hiệu quả nghệ thuật lớn lao, khơi dậy được tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc trong tâm hồn mỗi người dân đất Việt Ngoài ra, nội dung yêu nước, căm thù giặc, ý chí quật cường và lòng tự hào dân tộc còn được thể hiện trong nhiều tác phẩm, những tác phẩm nổi bật có thể

kể như: Gươm thần vạn kiếp của Ngô Văn Phú, Kinh đô rồng của Nguyễn Khắc Phục,

Quân sư Nguyễn Trãi của Trần Bá Chí, Bà Triệu, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Nam Đế của Hàn Thế

Dũng, Tám triều vua Lý và của Hoàng Quốc Hải, Gió lửa của Nam Dao…

thuyết lịch sử giai đoạn từ 1986 đến nay Tình yêu là tất cả những tình cảm tốt đẹp của con người như: tình yêu gia đình, tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu nam nữ… Ở đây,

đã viết về tình yêu lứa đôi trong thời chiến, mặc dù đó có thể là những mối tình có thật, hay những mối tình do người viết tưởng tượng nên, nhưng đều xúc cảm lòng người Có thể kể

đến các tác phẩm như: Kinh đô rồng của Nguyễn Khắc Phục, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo,

Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải…

Tình yêu trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh được thể hiện khá phong phú, đa dạng, nhiều cung bậc khác nhau Đặc biệt là tình yêu luôn gắn liền với tình nghĩa, nét tính cách của con người Việt Nam thủy chung, son sắc, quả cảm, biết tôn trọng phẩm giá, sẵn sàn giúp

đỡ mọi người Đó là chất keo gắn kết tình cảm lâu dài, giúp vượt qua những khó khăn, thử thách Ví như, tình yêu giữa Hồ Nguyên Trừng (con trai trưởng của Hồ Quý Ly) và Quỳnh

Mặc dù cuộc hôn nhân của họ bắt đầu bằng sự tính toán của hai bên, về Hồ Quý Ly là ông muốn xoa dịu mâu thuẫn, sự đối nghịch giữa ông và Trần Nguyên Hàng Còn về phía Trần

Trang 26

Nguyên Hàng, ông đồng ý gã con gái cho Hồ Nguyên Trừng vì ông muốn con gái làm nội gián cho mình để lấy thông tin Đám cưới của hai người nhanh chóng được diễn ra mặc dù

đích chính trị, họ trở thành “những kẻ đồng mưu”, là “con mồi đặt bẫy”… Nhưng họ lại yêu nhau bằng tình yêu chân thành, say đắm

Sự mất mát, đau đớn trong tình yêu để khẳng định tình yêu vĩnh cửu, bất diệt, một tình yêu đẹp là đề tài đã được thể hiện trong khá nhiều tác phẩm tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước 1986 Các tác giả đã viết nên những câu chuyện tình với đủ mọi khía cạnh: hiến dâng, chia cách, trừng phạt, đền tội… Có thể thấy tình yêu rất đẹp nhưng kết thúc đầy nước mắt

giữa Ấu Mai và Duy Lễ trong Hòm đựng người của Nguyễn Triệu Luật Một tình yêu bắt

đầu từ sự chịu ơn và cũng vì mến mộ tài năng, dũng khí của Duy Lễ (con vua Lê Kính

đặt cho chui vào cái hòm đựng đồ bí mật đưa vào trong lăng Quả Thịnh nhưng bị phát hiện

cả hai bị khép án tử hình

Đến tiểu thuyết đương đại, tình yêu còn được thể hiện ở tầng bật khác.Tình yêu trong

Giàn thiêu của Võ Thị Hão vẫn khơi gợi niềm thương cảm của người đọc được tác giả khai thác theo hướng khác khi mở một hướng đi mới – Biến đau thương thành sự trải nghiệm để sống có ý nghĩa hơn giữa chàng trai Từ Lộ và Nhuệ Anh trong hoàn cảnh có nhiều rối ren nên tình yêu của họ gặp nhiều đắng cay Một tai họa ập đến gia đình chàng, cha chàng là Tăng quan đô án Từ Vinh bị Diên Thành hầu nhờ pháp sư Ðại Ðiên dùng phép thuật giết chết, nên nhiều lần báo mộng nhắc con trai trả thù

Sau biến cố của gia đình đã làm thay đổi chàng hoàn toàn, từ một công tử thư sinh chàng trở thành người sống đầy hận thù Chàng nhiều lần đem đơn khiếu nại để đòi lại sự trong sạch cho cha nhưng không thành nên chàng quyết học phép thuật để trả thù cho cha

đã bỏ trốn trước lễ hợp cẩn để đi tìm chàng, quyết một lòng theo chàng Nhưng Từ Lộ giờ chỉ sống có hận thù, nên Từ Lộ quyết không cho nàng đi theo, trước tình cảnh đó, nàng đã dâng hiến cho Từ Lộ trước khi nàng lao xuống dòng thác dữ Khi thù nhà đã trả, chàng tìm đến dòng thác dữ nơi người yêu đã trầm mình năm xưa định chết theo nàng nhưng chính hồi

ức tình yêu lại khiến sức sống trong chàng trỗi dậy Sau khi đàm đạo về phật lý với một cao tăng, chàng nguyện dùng cuộc đời còn lại để giúp người

Có thể thấy, tình yêu trong tiểu thuyết lịch sử đương đại được thể hiện có nhiều màu

Trang 27

sắc khác nhau nhưng hơn hết vẫn là sự đi sâu thể hiện tình yêu đầy ngang trái, đau thương của con người

Sự thể hiện nét đẹp văn hóa phong tục

trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị

vật vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [51,tr.10] Văn

hóa là tất cả những giá trị, nét đẹp vật chất, tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy nên,

rằng văn hóa, bản sắc của dân tộc ta được thể hiện khá đậm nét trong tiểu thuyết lịch sử tiêu

biểu như: Kinh đô rồng của Nguyễn Khắc Phục, Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Tám triều vua Lý và Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải, Đất trời của Nam Dao… hướng về những vấn đề phong phú trong xã

hội như những vấn đề về tâm lý xã hội, hiện thực xã hội, vấn đề lịch sử, vấn đề đời tư và văn hóa phong tục của người dân Việt Nam

Văn hóa dân tộc là nguồn cảm hứng lớn lao trong quá trình sáng tác Với Nam Dao là

sự đi tìm lẽ sống của dân tộc qua ca dao, tục ngữ, các làn điệu dân ca trong Đất trời Tác giả Thu Hằng trong Đàn đáy đã tái hiện số phận một giáo phường hát ca trù nổi tiếng từ đó

khám phá nỗi đau của người nghệ sĩ qua sự thể hiện những ngón đàn, tiếng hát tài hoa

đang được tái hiện

Bên cạnh đó, tín ngưỡng là nét văn hóa tiêu biểu mang dấu ấn phương Đông nói chung

cũng như Việt Nam nói riêng Trong Mẫu Thượng Ngàn các nhân vật đã làm nổi rõ nền

văn hóa Việt với những văn hóa phong tục và những lễ hội dân gian, tín ngưỡng, đặc biệt là hành trình khám phá, tìm về cội nguồn bản sắc văn hóa Việt qua tín ngưỡng thờ Mẫu.Tín ngưỡng thờ Mẫu, một tín ngưỡng thuần Việt đậm chất bản địa có ở nước ta bắt nguồn từ thời kỳ mẫu hệ tồn tại cách đây cả ngàn năm Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng ảnh hưởng từ đạo giáo, là thành tố đan dệt nên bức tranh văn hóa của dân tộc Tín ngưỡng thờ Mẫu lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi và che chở cho con người Là nơi người phụ nữ Việt Namgửi gắm những ước vọng giải thoát khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến

Trang 28

Tiểu thuyết Vạn xuân (nguyên tác Dix Mille Printemps) của nữ văn sĩ người Pháp

sử Việt Nam, nhưng tác giả tỏ ra rất am tường về văn hóa Việt Nam: nói về văn hóa tâm linh, tin vào định mệnh, tin có hai thế giới âm – dương, có trời, phật, thần thánh, ma quỷ… Tác phẩm đáp ứng được cái hằng số lịch sử và văn hóa trên tinh thần nhân bản trên cơ sở rất

am tường về văn hóa Việt Tác giả đã làm cho Vạn Xuân như là một bản anh hùng ca lớn về

nền văn hiến Đại Việt đầy khí phách và nhân hậu

đời sống tâm linh đó là đức tin để vượt qua những thử thách Về tín ngưỡng và tôn giáo trong văn chương thì riêng tiểu thuyết lịch sử giai đoạn sau 1986 đến nay những vấn đề Phật

người gửi gắm tâm tư, tình cảm, đồng thời đó còn là cách để lý giải những triết lý nhân sinh, những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh của con người Tư tưởng Thiền, tư tưởng của đạo phật “từ bi hỉ xả”, “bác ái”, “yêu thương con người”, yếu tố văn hóa tâm linh trở thành

nguồn cảm hứng để tác giả tổ chức cấu trúc văn bản tự sự như: Bão táp triều Trần, Tám

triều vua Lí của Hoàng Quốc Hải, Giàn thiêu của Võ Thị Hão… Trong Giàn thiêu của Võ

Thị Hảo là sự pha trộn giữa lịch sử với tôn giáo trong đó yếu tố văn hóa tâm linh trở thành nguồn cảm hứng chính để tác giả tổ chức cấu trúc tác phẩm này khi suốt hơn 500 trang của tiểu thuyết cứ vang lên những lời kinh cầu hồn, lời nguyện, tiếng niệm phật, tụng kinh… Nhiều tác phẩm tác giả còn dựa vào tôn giáo, lấy triết lý nhân sinh quan để làm cơ sở lý giải

trong cách giải quyết vấn đề (Giàn thiêu, Hội thề, Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lí,

Hồ Quý Ly…)

ở thể loại truyền thuyết, huyền thoại… cũng được các nhà vănđương đại quan tâm trong quá

có tục hầu bóng, lên đồng, trong cuộc hầu đồng còn có hội rước ông Đùng bà Đà, đây là hội mười năm mới được tổ chức một lần, được chờ đợi và tổ chức rất long trọng, không khí tưng bừng, sôi nổi Với tín ngưỡng mang tính phồn thực, tác giả góp phần “giải thiêng” ý nghĩa văn hóa Việt, thể hiện sức sống bền bỉ, không bao giờ tàn lụi, vĩnh cửu như đất, như rừng, như tấm lòng bao la, vĩ đại của người mẹ Để phát huy vai trò của tiểu thuyết lịch sử là

“dùng văn dạy sử”, góp phần giáo huấn về nhân nghĩa, đạo làm người thì nghệ thuật cấu tạo

Trang 29

nên tác phẩm đóng vai trò không kém phần quan trọng

1.1.4 Những đặc trưng nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay

 C hủ thể trần thuật và kết cấu trần thuật

đồng chủ biên thì: “Trần thuật (narrate) là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là

việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả… Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả Người trần thuật (narrator) – một yếu tố quan trọng trong tiểu thuyết” [Dẫn theo Trần

Minh Đức,75] Nhằm đảm bảo tính khách quan hóa của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, đảm bảo sự chân thật của lịch sử nên nhiều tác giả đã viết tác phẩm với chủ thể trần thuật ngôi thứ ba, điểm nhìn có thể tập trung bên ngoài, người kể hoàn toàn khách quan, vô nhân xưng, chủ thể trần thuật không bộc lộ chính kiến của mình Chính vì thế, người viết kể lại diễn biến câu chuyện lịch sử một cách trung thực Tuy nhiên, do đặc điểm văn chương nên người viết không thể chỉ ghi chép lại một cách lạnh lùng những sự kiện lịch sử, xem như đó là một cái gì diễn ra bên ngoài mà nhằm thể hiện đời sống nội tâm với những diễn biến tình cảm sâu thẳm bên trong con người, người viết tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này đôi

Về kết cấu một tác phẩm văn học dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng là chỉnh thể nghệ

thuật được sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nhằm biểu hiện một nội dung nhất

định Trong cuốn Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên có viết: “Có thể nói kết cấu tác

phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật

cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm” [43,tr.296] Kết cấu trần thuật của tiểu thuyết lịch sử

từ năm 1986 đến nay được tổ chức theo các dạng: Kết cấu trần thuật theo trình tự thời gian, phù hợp cho viết tiểu thuyết lịch sử trong việc ghi lại những diễn biến lịch sử theo tuyến trình của lịch sử như các tác giả: Hoàng Quốc Hải, Hàn Tiếng Dũng, Ngô Văn Phú… Kết cấu trần thuật theo dòng tâm trạng nhân vật, đây là hình thức kết cấu được nhiều tác giả dùng để viết nhất là từ những năm trong tiểu thuyết đương đại Ngoài ra, còn có Kết cấu theo hai tuyến nhân vật chính – phụ

Trang 30

 N ghệ thuật xây dựng nhân vật

học, có thể là những nguyên mẫu có thật ngoài đời hay những nhân vật do nhà văn hư cấu, tưởng tượng nên Nhân vật văn học là yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm văn học, góp phần thể hiện tư tưởng của nhà văn Nghệ thuật xây dựng nhân vật là hình thức được các nhà văn quan tâm nhiều thông qua các thủ pháp như: miêu tả tâm lý để khắc họa tính cách nhân vật (đây là thủ pháp được sử dụng khá phổ biến trong tiểu thuyết lịch sử nói chung),

cách sâu sắc, kết hợp với việc miêu tả ngoại hình, giới thiệu tiểu sử làm cho người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về nhân vật Có thể thấy rõ điều này ở cách xây dựng nhân vật Nguyễn

vật Chu Văn Antrong Chu Văn An khuôn mặt người thầy… Đặc biệt trong tiểu thuyết lịch

sử đương đại nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua những đối thoại và độc thoại nội tâm

để khắc họa tính cách nhân vật là một thủ pháp được khai thác triệt để và tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao

 N ghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

động, đa dạng, phong phú Với lớp ngôn ngữ cổ kính góp phần tạo màu sắc trang trọng,

khoan thai, phù hợp với không khí cổ xưa cũng như trong việc xây dựng các nhân vật lịch

sử Cho nên, ngôn ngữ phải theo chuẩn mực thứ bậc, chức danh, địa vị nhất định của từng

người Ví như, trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Ngay cả việc sắp đặt hôn nhân

cho con hoàn toàn chỉ dựa vào mục đích chính trị, ấy thế Hồ Nguyên Trừng vẫn giữ đúng

“… Và con cũng hiểu đấy, việc lấy vợ cho con không chỉ đơn thuần là việc lấy vợ…

- Dạ con hiểu…

- Vì thế… nên ta mới chọn quận chúa… Quỳnh Hoa…

- Thưa cha… quận chúa con quan thái bảo?

- Đúng Con quan thái bảo Trần Nguyên Hàng

- Thưa cha…

- Con sợ gì? – Cha tôi mỉm cười bí ẩn” [36,tr.61-62]

L ớp ngôn ngữ hài hước, dí dỏm, đời thường, góp phần tạo không khí gần gũi, mộc

mạc của các lễ hội dân gian cũng như nét tính cách chân phương của người dân Việt Nam,

Trang 31

thiết nghĩ đây là lớp ngôn ngữ không kém phần quan trọng để làm cho tác phẩm dễ đi vào lòng người đọc hơn Chính vì vậy, những tác phẩm giai đoạn sau này các tác giả đã tập trung khai thác ở chuẩn mực thích hợp lớp ngôn từ này Lời văn của những tác phẩm trước đây dần dần được thay thế bằng lớp từ giản dị, gần gũi, nhưng giàu hình ảnh, trong sáng

Như những lời trao đổi rất “đời thường” khi Hồ Nguyên Trừng gặp lại Thanh Mai trong Hồ

Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh:

“ - Ô hay!

- Đúng là nàng! Thật hay mơ?

- Ô kìa chàng chẳng nhận ra em?

Tôi bàng hoàng hơn, khi nhận thấy giọng nói… quá ư quen thuộc…

- Chàng sao thế? Chàng nghĩ đi đâu vậy? Em đây mà! Thanh Mai đây mà!” [36,tr.679]

Có thể nói, tiểu thuyết lịch sử những năm 1986 đến nay ngôn ngữ rất sinh động: trang

nghiêm, tao nhã, văn chương và cũng có lớp ngôn từ gần gũi, dí dõm, đời thường

Lớp ngôn từ cô động, hàm súc giàu chất thơ góp phần hiệu quả trong việc ghi chép

lại ngắn gọn thời gian, diễn biến của những sự kiện lịch sử như những trang nhật ký thâu

trong tác phẩm của rất nhiều tác giả như: Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn

người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ Nhưng với sự đổi mới, ngày càng phong phú về nội dung, nghệ thuật thể hiện, góp phần làm cho tiểu thuyết lịch sử giai đoạn từ năm 1986 đến nay có

những thành công nhất định mà Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác đã góp phần làm

1.2 Tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

1.2.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Mộng Giác

1.2.1.1 Cuộc đời

Giác) của Nguyễn Vy Khanh có đưa quan niệm về tiểu thuyết lịch sử trong The Historicol

sống, tác động này ảnh hưởng đến cái nhìn lịch sử của hắn, đến chính việc hắn lựa chọn

Trang 32

viết tiểu thuyết lịch sử hoặc chọn đề tài và thời đại lịch sử” [78] Cho nên, việc tìm hiểu về

tác giả Nguyễn Mộng Giác thiết nghĩ sẽ không thừa khi nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử

Do quê hương cũng là nơi nhà văn sinh ra ở Võ Hồng, từng dạy học tại Ngân Sơn, quận Tuy

An, Phú Yên nên nhà văn còn lấy bút hiệu Nguyễn Ngân Sơn

Trong học tập, Nguyễn Mộng Giác là người có sự cố gắng và luôn vượt qua những khó

khăn của bản thân với tinh thần cầu thị Trong bài viết Nguyễn Mộng Giác nói về mình, nhà

văn có nói: “Sau 1954, tiếp tục đi học tại các trường vùng quốc gia, tôi gặp trở ngại về vấn

đề học ngoại ngữ (Pháp văn, Anh văn) vì trình độ yếu so với lớp mình đang theo học Nhưng chính vì chỗ yếu này đã khiến tôi và những người khác cùng cảnh ngộ phải cố gắng rất nhiều để bắt kịp Riêng tôi, nhờ sự cố gắng này mà về sau tôi có thể đọc được tiểu thuyết tiếng Pháp, và đâm ra mê một tác giả Nga là Dostoievsky qua các bản dịch tiếng Pháp”

trường đại học Sư phạm Huế, rồi về giảng dạy tại trường nữ trung học Đồng Khánh đến năm

1963 Tại đây ông gặp người bạn đời của mình là Nguyễn Khoa Diệu Chi - là người cùng

Năm 1964 ông chuyển về dạy tại trường trung học Cường Đễ, Qui Nhơn - một trường trung học danh tiếng lúc bấy giờ của tỉnh Bình Định - quê nhà ông Cũng năm này ông có người con gái đầu lòng là Nguyễn Khoa Dao Tiên, sau đó ông có các con là Nguyễn Thụy

Vũ và Mai Tiên Ông được làm hiệu trưởng của trường trung học Cường Đễ, đến năm 1971 ông được thăng làm Chánh sở Giáo dục tỉnh Bình Định Nguyễn Mộng Giác từng sống và làm việc tại Qui Nhơn nên rất gắn bó với các bạn ở đây như: Mang Viên Long, Lê Văn Ngăn, Ban Mai, Nguyên Minh… Tuy là người khá thành công trong sự nghiệp nhưng Nguyễn Mộng Giác là người sống giản dị, từ tốn, kiệm lời, rất gần gũi, chân tình, là người

có nụ cười bao dung rất hiền, sống có trách nhiệm Giữa năm 1974 ông được thuyên chuyển

về Sài Gòn, làm chuyên viên ở Bộ Giáo dục Ông là người tài hoa, nhưng cuộc đời phải chịu đựng nhiều khó khăn, vất vã Những năm bao cấp, ông phải sống trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn trong khoảng sáu năm ở Sài Gòn Ông làm đủ thứ nghề: đi bán sách cũ, làm công nhân lò bánh mì, rồi tham gia chế biến mì sợi…

Đến năm 1982, ông sang định cư tại Mỹ Khi sang sống ở nước ngoài nhưng ông vẫn chăm chỉ trong hoạt động văn chương, làm tờ văn học và gửi báo qua bưu điện cho đọc giả dài hạn Năm 2001 ông chuẩn bị làm số Văn học tưởng niệm Trịnh Công Sơn mà theo Lữ

Trang 33

Quỳnh trong “Với bạn, một chân tình khó quên” có viết: “Nguyễn Mộng Giác vui lắm, có

lần anh nói, có lẽ đây là tuyển tập nghiêm túc và trang nhã nhất nhận định về Trịnh Công Sơn Số văn học đặc biệt này đã tuyệt bản từ nhiều năm trước” [17,tr.12] Giữa năm 2003, Nguyễn Mộng Giác nghỉ việc, ông đi khám bệnh và phát hiện mình bị ung thư gan thời kỳ

đầu Về việc này, Mang Viên Long trong “Trong tình thân và nỗi thương tiếc” có dẫn lời

của Nguyễn Mộng Giác: “Nhân dịp mình nghỉ hưu, công ty cho đi khám sức khỏe toàn diện,

bác sĩ đã phát hiện có vết đen ở gan – nghi ung thư, Bệnh viện đã yêu cầu thân nhân ký vào đơn cam kết, nếu khi mổ vết đen chưa ảnh hưởng gì đến gan – họ sẽ phẫu thuật – và đảm bảo lành bệnh hoàn toàn Ngược lại – thì sẽ không thể can thiệp được, sẽ may lại, như cũ.”,

Rất may – là họ đã phát hiện sớm – và mình đã được giải phẫu an toàn” [17,tr.17-18] Cho

công tinh thần ông trở nên lạc quan trở lại Ông tiếp tục lo cho tờ văn học Đến năm 2007 sức khỏe của ông suy giảm nhiều nhưng ông vẫn về lại Qui Nhơn chăm sóc mẹ, viếng thăm

bà con, anh em, bạn bè Sau đó, ông về trở lại Mỹ để tiếp tục công việc của mình Đến ngày 04/12/2007 người em trai là Nguyễn Văn Ngọc báo tin mẹ mất Riêng ông, bệnh càng ngày càng nguy kịch, sức khỏe ông ngày càng yếu, tưởng như không qua khỏi, nhưng ông đã vượt qua được Và rồi ông cũng nằm xuống sau những năm tháng bệnh đau,vật vã, Nguyễn Mộng Giác mất lúc 22 giờ 15 phút, ngày 02/7/2012 tại nhà riêng (thành phố Westminster, California, Mỹ), hưởng thọ 73 tuổi

Nguyễn Mộng Giác là một trí thức lớn, ông luôn sống lạc quan ngay cả những năm phát hiện mình bị ung thư ông còn khôi hài trước sự sinh tử vô thường Sự ra đi của ông để lại biết bao niềm luyến tiếc đối với độc giả trong và ngoài nước Là sự mất mát không gì bù đắp được Chính vì vậy, dù cho ông đã ra đi nhưng tác phẩm và hình ảnh của ông vẫn còn sống mãi trong lòng người thân, bằng hữu và người đọc

1.2.1.2 H oạt động văn chương

Trong sự nghiệp cầm bút của mình, Nguyễn Mộng Giác rất cẩn trọng trong quá trình

tộc tính Việt Nam là một tiểu luận về văn hóa Việt Nam đăng trên tạp chí Ý Thức (Nguyệt

san văn học nghệ thuật), số 12, ra ngày 01/4/1971 Sau bài viết này, Nguyễn Mộng Giác viết

bài nhận định văn học Con chim đến từ núi lạ đăng trên tạp chí Ý Thức, số 18 ra ngày

ngày trở về, truyện ngắn Đất và nước được in trên tờ Bách Khoa ra ngày 01/6/1971 Ngày

Trang 34

01/11/1971 trên tạp chí Ý Thức - số 21, ông cho in truyện ngắn Trong cơn say

Năm 1972 ông gửi truyện ngắn Cây cầu tuổi dại cho Nguyên Minh để đăng trên tạp

viết tiểu luận Nỗi băn khoăn của Kim Dung (1972)

Nhận xét về những sáng tác văn học Việt Nam trước 1975, Nguyễn Mộng Giác thấy những ngòi bút miền Trung có khuynh hướng hiện thực, bám sát cuộc chiến tranh của dân tộc Khuynh hướng hiện thực đó, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những sáng tác của nhà văn

Có thể thấy trong nhiều tác phẩm của ông như: các truyện dài Bão rớt (1973), Tiếng chim

vườn cũ (1973), Qua cầu gió bay, Ðường một chiều (1974)…

trạng của người nữ tù binh do Hoàng Khởi Phong kể Đường một chiều đã giúp Nguyễn

Mộng Giác đạt giải thưởng Truyện dài Văn Bút 1974 Tác phẩm có cốt truyện hấp dẫn, với nhiều hiện tượng đột biến, bất ngờ Truyện kể về một vụ án mạng mà người phạm tội không biết mình phạm tội Câu chuyện chấm dứt chơi vơi, có tính triết lý đạo đức, gợi cho người đọc thấy con đường một chiều mà Ninh và nhiều người khác dù vô tình hay cố ý đi vào để cho người đọc thấy được con đường một chiều cũng không thể giải thích hay phê phán theo một chiều cố định

Nguyễn Mộng Giác bắt đầu viết văn trễ mà đến 1975 phải ngưng, mãi đến những năm

Sông Côn mùa lũ Tiếp đó ông có một số tác phẩm khác như: Ngựa nản chân bon (1983), Xuôi dòng (1987)

Mùa biển động khi ra đời được đọc giả đón nhận như một hiện tượng văn học quan trọng ở

hải ngoại vì tác phẩm tái tạo được không khí xã hội miền Nam Tác phẩm đã đi sâu vào đời sống tâm hồn của nhiều hạng người Trong chiến tranh, họ là những con người ngây thơ bị lôi vào cuộc chiến mà bản thân họ chưa hề gắn bó với một nền chính trị nào

văn Bạn văn, một thuở (2006)…

Những tác phẩm chưa xuất bản: tiểu luận Tình và đạo trong thơ Hàn Mặc Tử, truyện

dài Vào đời (đã được đăng một phần trên tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn năm 1973 -1974),

truyện dài Mây bay về đâu

Trang 35

Nguyễn Mộng Giác còn có rất nhiều bài viết đăng trên tạp chí Văn học (California,

Hoa kỳ): Thư gửi một người bạn, Thư mùa xuân gửi người bạn trẻ, Đàm thoại với nhóm

thế hệ ở Houstuon, Tìm về thế giới nhân vật của Võ Phiến, Tạ ơn đời, tạ ơn anh, Lời cuối cho một trường thiên, Nhìn lại một chặng đường, Lại bàn một chuyện cũ, Bệnh hoang tưởng Câu chuyện văn học, Văn học lưu vong hay văn học dân gian…

Nguyễn Mộng Giác là người sống khiêm tốn, cả đời Nguyễn Mộng Giác gần như gắn với công việc của một ông giáo yêu nghề, thế nhưng sự nghiệp cầm bút của ông thật đáng

nể Khởi đầu, bằng việc viết các bài nhận định văn học, tùy bút, truyện ngắn đến truyện dài, sau đó ông viết thể loại trường thiên tiểu thuyết – một thể loại khó và đòi hỏi sự đầu tư rất nhiều ở người viết Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Mộng Giác khá phong phú, trong đó có nhiều tác phẩm được xuất bản ở hải ngoại và có những tác phẩm trở thành một hiện tượng văn học ở hải ngoại, làm cho tên tuổi của nhà văn Nguyễn Mộng Giác được đông bạn đọc

1.2.2 Đôi nét về “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác

1.2.2.1 Quá trình sáng tác và diện mạo “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác

Ở phần cuối tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, tác giả có

cho biết bộ tiểu thuyết được bắt đầu tìm tài liệu từ 4 – 10 – 1977, bắt đầu viết chương I ngày

Sông Côn mùa lũ có nêu ý của nhà nghiên cứu Đặng Tiến “Sông Côn mùa lũ được Nguyễn

Mộng Giác viết từ tháng 3 đến 8/1981, sau đó tu chỉnh tại Mỹ năm 1990 Năm 1998, Nhà xuất bản văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học ấn hành Sông Côn mùa lũ tại Việt Nam” [83] Cũng trong bài viết này, Hoàng Nhân cho biết nhà văn Mang Viên Long, một

người từng làm nghề giáo và quen biết Nguyễn Mộng Giác, kể: “Những năm sống trong

hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, anh Nguyễn Mộng Giác cho biết – đã luôn cố gắng, kiên nhẫn viết từng chương cho cuốn trường thiên tiểu thuyết Sông côn mùa lũ trong những lúc được

thay ca, nghỉ trưa hay trực gác đêm ở cơ sở sản xuất mì sợi” [83] Ý định viết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác bắt đầu vào thai nghén năm 1977, khi nhà văn gặp Nguyễn

Thành Hải, trước đây đã làm ở Nhà xuất bản Nhị Khê Qua trao đổi văn chương Nguyễn Mộng Giác đã nảy ra ý định viết về Thời Tây Sơn, mượn tâm trạng giới trí thức Tây Sơn để soi sáng cho thời nay Đến năm 1978, Nguyễn mộng Giác mới bắt đầu viết tác phẩm này và hoàn thành năm 1981

Trang 36

Theo Nguyên Minh trong bài viết Về một cái nhìn có cho biết Nguyễn Mộng Giác viết

Sông Côn mùa lũ từ năm 1978 đến 1981, nơi ông ngồi viết trường thiên tiểu thuyết này ở

địa chỉ cũ là 62/22 Dương Công Trừng – Sài Gòn (nay là 62/8 Ngô Tất Tố, Phường 19,

Quận Bình Thạnh, Sài Gòn) Nguyên Minh cũng cho rằng Nguyễn Mộng Giác viết Sông

Côn mùa lũ lúc ông là công nhân hãng mì sợi, trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất

nước: “Suốt ngày lo cơm áo cho vợ con chưa xong tâm trí đâu mà viết văn làm thơ Tôi bỏ

bút gần 25 năm, tôi không ngờ Nguyễn Mộng Giác vào giờ nghỉ trưa lúc anh làm công nhân cho một hãng mì sợi lại có thể viết được trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ”

[17,tr.11]

nước, những năm cực kỳ khó khăn (1978 – 1981) Với sức lao động và thái độ làm việc nghiêm túc, tranh thủ từng giờ tác giả đã viết nên một bộ tiểu thuyết lớn, đóng góp quan trọng vào văn học nước nhà Tác phẩm được nhà xuất bản Văn học và trung tâm nghiên cứu

Quốc học ấn hành tại Việt Nam năm 1998

Về kết cấu, bằng thể loại tiểu thuyết trường thiên nên Sông Côn mùa lũ dài gần hai

nghìn trang, chia thành nhiều phần, nhiều chương, với việc xây dựng hệ thống nhân vật gợi

khung cảnh xã hội lớn lao Với sự dày công của tác giả, Sông Côn mùa lũ có kết cấu quy

mô: gồm sáu phần và phần kết từ, chia thành 101 chương

- Phần I Về An Thái (chương 1 đến chương 12): Cảnh chạy loạn của gia đình ông

giáo Hiến đến vùng đất An Thái Nguyễn Nhạc nhờ ông giáo Hiến dạy cho hai người em trai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ Tình yêu còn mơ hồ giữa Nguyễn Huệ và An

- Phần II Tây Sơn Thượng (chương 13 đến chương 17): Những khó khăn bước đầu

của phong trào Tây Sơn Nguyễn Huệ thúc đẩy việc rèn thêm vũ khí chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa

- Phần III Hồi hương (chương 18 đến 37): Nguyễn Nhạc quyết định đánh Kiên

Thành Giải pháp hoàng tôn không giải quyết được tình hình cô lập, ông giáo bắt đầu bị thất sủng Nhạc đứng ra làm mối để ông giáo gả An cho Lợi Nguyễn Huệ đau đớn khi An đi lấy chồng

- Phần IV Phương Nam (chương 38 đến 55): Gia đình ông giáo về ở Bằng Châu

Cuộc tiến công Gia Định lần thứ hai năm Đinh Dậu thắng lợi Ông giáo Hiến mất Nguyễn Ánh rước quân Xiêm xâm lăng Gia Định đến Qui Nhơn Trận Rạch Gầm, Xoài Mút, chiến thắng quân Xiêm

Trang 37

- Phần V Vượt đèo Hải Vân (chương 56 đến 71): Cuộc tiếp đón lạnh nhạt đối với

đoàn quân chiến thắng, Nguyễn Huệ quyết định cầm quân đánh Thuận Hóa sau đó chiếm được thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ vào Thăng Long yết kiến vua Lê Nguyễn Huệ cưới Ngọc Hân công chúa, vua Lê băng hà

- Phần VI Phú Xuân (chương 72 đến 96): Biến cố “nồi da xáo thịt” – Nguyễn Nhạc,

Nguyễn Huệ đánh nhau Tin Chiêu Thống rước quân Thanh vào Thăng long, Lợi tham gia đốt kho thóc nên bị bắt và bị hành quyết Sáng 25, tháng 11, năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Huệ đăng quang lấy hiệu là Quang Trung và đánh đuổi được quân Thanh xâm lượt

- Phần Kết từ (chương 97 đến 101):An đưa hai con về sống ở Bến Ván, còn Lãng trở

thành người du thủ du thực và bị mất tích do đi tìm hoa Mặc Lan Vua Quang Trung băng

Tóm lại, với sự dày công Nguyễn Mộng Giác đã sáng tạo nên trường thiên tiểu thuyết

Sông Côn mùa lũ tuy cũng có những hạn chế nhất định, nhưng nhìn chung đây là tác phẩm

có kết cấu quy mô, rất giá trị cả về sử học và văn chương Góp phần không nhỏ tạo nên sự thành công của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn từ 1986 đến nay

1.2.2.2 Vị trí “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn mộng Giác trong dòng chảy tiểu thuyết lịch sử đương đại

S ông côn mùa lũ là một trường thiên tiểu thuyết lịch sử thế kỷ XVIII Về “Trường

thiên tiểu thuyết” là thuật ngữ mà Nguyễn Mộng Giác còn dùng khi viết trường thiên Mùa

biển động Nói về trường thiên tiểu thuyết thì đây là thể loại không mới, trước kia trong văn

học Trung Quốc có Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long, Tam quốc chí diễn nghĩa

của La Quán Trung… Ở Việt Nam, người thí nghiệm thể loại tiểu thuyết trường thiên đầu

Xóm Cầu Mới: “Xóm Cầu Mới là bộ trường giang tiểu thuyết gồm một loạt truyện dài, đặt

dưới tên chung Xóm Cầu Mới Mỗi truyện dài lại có tên riêng (…) Tôi mong viết độ hai chục cuốn nữa thành một bộ gần vạn trang mới đủ để tả đầy đủ sự phức tạp và muôn mặt

của cuộc đời” [17,tr.24] Trên cơ sở đó, Nhất Linh viết Bộ Dòng sông Thanh Thủy hơn sáu

trăm trang, gồm ba cuốn: Ba người bộ hành, Chi bộ hai người và Vọng quốc Tuy nhiên,

nó chỉ là một truyện dài, do chỉ mô tả một vài nhân vật, không gợi được khung cảnh xã hội lớn lao Vì vậy, tiểu thuyết trường thiên không phải do số trang, hay chu kỳ, mà do cơ cấu nội tại quyết định Tiểu thuyết trường thiên tiêu biểu của văn học Việt Nam phải nói đến bộ

Cửa biển của Nguyên Hồng dài khoảng hai nghìn trang, mô tả phong trào vùng lên làm

Trang 38

cuộc cách mạng tháng Tám

Khảo sát những tác phẩm văn xuôi Việt Nam sau 1975 viết về hình tượng người anh

nổi bật như: Kiếm sắc, Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp), Sóng nhồi vào sóng (Trần Thị Trường), Thế trận Linh Xà (Trần Hạ Tháp), Mùa mưa gai sắc (Trần Vũ) Về tiểu thuyết có: Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác),Gió lửa (Nam Dao), Mưu sĩ Quang

Trung: Trần Văn Kỷ (Hoài Anh), Tây Sơn bi hùng truyện (Lê Đình Danh), Hoàng đế Quang Trung (Nguyễn Thu Hiền) Riêng Sông Côn mùa lũ ra đời là một cột mốc quan

trọng đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của thể loại tiểu thuyết lịch sử giai đoạn từ năm 1986 Bởi những độc đáo về phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Một tác phẩm văn học đầy màu sắc nhân văn, hấp dẫn người đọc trước hết là vì phẩm chất văn học của nó Vẻ đẹp,

sự phong phú của nó lôi cuốn ta, lôi cuốn những người yêu lịch sử dân tộc dưới ánh sáng của văn chương Tác phẩm không chỉ phản ánh những sự kiện lịch sử của dân tộc mà còn tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc bởi những hư cấu nghệ thuật độc đáo của tác giả

Như Phan Cự Đệ có nhận xét tác phẩm: “Nghiêng về tiểu thuyết hơn là lịch sử Ông không

quan niệm lịch sử chỉ là câu chuyện của các ông hoàng bà chúa, của các tướng lĩnh, là sự biên niên của các trận đánh Tiểu thuyết lịch sử trước hết phải là tiểu thuyết, là thế sự, là chất văn xuôi, là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người và thiên nhiên” [14,tr.78]

Nguyễn Mộng Giác sinh ra và lớn lên ở vùng đất Tây Sơn - đó cũng là quê hương của người anh hùng Nguyễn Huệ, nơi có con sông Côn chảy qua êm đềm Chính vì vậy, tác giả

có những hiểu biết và tình cảm sâu sắc để viết tiểu thuyết này Hình ảnh người anh hùng

Tác phẩm bao quát một cái nhìn đúng và sâu về dòng chảy của lịch sử, về sự phát triển của dân tộc Tuy nhiên, thành công của tiểu thuyết này cònlà tuyến nhân vật hư tưởng, đó là cái hồn, cái nền, cái thẳm sâu của đời sống tâm tưởng con người Đặc biệt là việc xây dựng nhân vật An, người phụ nữ rất Việt Nam, quyến rũ, ngời sáng, nhẫn nại, yêu thương, đẹp đẽ biết bao trong đời sống nội tâm Cùng những nhân vật như Lợi, Lãng, Kiên, Chinh mỗi người một nét tính cách khác nhau làm cho tác phẩm không nhàm chán, mà luôn cuốn hút người đọc tìm hiểu, khám phá, theo dõi những diễn biến của từng nhân vật Thông qua các tuyến nhân vật hành động và suy tưởng mà lịch sử được hiển hiện với bao hấp dẫn, say mê

phẩm được tái bản rất nhiều lần ở cả trong nước và nước ngoài, được đài Tiếng nói Việt

Trang 39

Nam cho đọc ròng rã nửa năm trời trên chương trình Đọc truyện đêm khuya đã tạo được

cảm xúc, xúc động mạnh mẽ ở người nghe Nhiều độc giả thuộc các tầng lớp, các lứa tuổi khác nhau đều say mê theo dõi cuộc đời người anh hùng áo vải Quang Trung và mối tình rất đẹp với cô An Tác phẩm cũng được đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh mua bản quyền

để chuyển thành phim

Tiểu kết chương 1

Nhìn chung, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đương đại có sự phát triển nhanh chóng Các tác phẩm giai đoạn này thể hiện sự đột phá, sự đa dạng về nội dung đề tài và hình thức sáng

hóa dân tộc Hình thức sáng tác giai đoạn này cũng có nhiều đổi mới Ngoài việc dựa vào chân thật lịch sử các sáng tác còn phát huy tính hư cấu nghệ thuật tạo được hiệu quả nghệ

thuật cao trong sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử Trong đó, trường thiên tiểu thuyết Sông

Côn mùa lũ dài gần hai nghìn trang của nhà văn Nguyễn Mộng Giác là một minh chứng cụ

thể Tác phẩm là một thành công xuất sắc của tác giả Nguyễn Mộng Giác, đánh dấu sự trưởng thành và ngày càng hoàn thiện của thể loại tiểu thuyết lịch sử trong dòng chảy văn học Việt Nam

Trang 40

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ CHÂN THẬT LỊCH SỬ TRONG “SÔNG

CÔN MÙA LŨ” CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

2.1 Vấn đề chân thật trong tiểu thuyết lịch sử

Nhận thức con người bao giờ cũng bắt nguồn từ hiện thực Theo nhận xét của Lênin:

Kết luận duy nhất của mọi người rút ra trong đời sống thực tiễn, kết luận mà chủ nghĩa duy vật lấy làm cơ sở cho nhận thức luận của mình một cách tự giác là: có những đối tượng, vật, vật thể tồn tại ở ngoài chúng ta, không lệ thuộc vào chúng ta, và cảm giác của chúng ta

đều là hình ảnh của thế giới bên ngoài” [Dẫn theo cuốn Lí luận văn học - Phương Lựu (chủ

biên),43,tr.63] Trên cơ sở lí thuyết của Lênin, ta thấy được mối quan hệ giữa văn học với tư tưởng của con người Tư tưởng của con người bao giờ cũng bắt nguồn từ thế giới hiện thực Văn học có mối quan hệ chặt chẽ với hiện thực xã hội Hiện thực được xem là mảnh đất ươm mầm để cho văn học sinh sôi và phát triển, mảnh đất đó càng phì nhiêu bao nhiêu thì

cũng hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định Bất kì một nghệ sĩ nào cũng thoát thai

từ một môi trường sống nào đó Bất kì một tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ từ những vấn

đề trong cuộc sống nhà văn chọn lựa và áp dụng phương pháp sáng tác nào đó là do thế giới quan của họ quyết định Nhưng sự hình thành phương pháp chung của một trào lưu văn học, xét đến cùng cũng là bắt nguồn từ thực tại khách quan Tính hiện thực, do đó, là thuộc tính tất yếu của văn nghệ” [43,tr.64] Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tác tùy vào yêu cầu,

mục đích sáng tác khác nhau, tùy vào cảm quan riêng của từng người mà những “đứa con tinh thần” của họ có hình hài không giống nhau, mang dấu ấn cá nhân của từng nghệ sĩ Nhưng điểm gặp nhau giữa các tác phẩm là dấu ấn hiện thực Một tác phẩm dù được sáng tác theo nhiều khuynh hướng khác nhau, hiện thực hay lãng mạn, thậm chí dù lạc hậu hoặc

phản động cũng không thể xa lánh hiện thực, tách rời thực tại Bất kì nền văn nghệ nào cũng

hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định Nhà tiểu thuyết hiện thực nổi tiếng người

Pháp Pr, Merimée có nhận xét thú vị: “Đối với các anh… trước hết phải là sự thật, còn cái

Đẹp thì như là kết quả của sự thật ấy” [Dẫn theo Nguyễn Trường Lịch Khi sự thật lịch sử bước vào nghệ thuật,39.tr.5] Hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn nghệ Bất kì nền văn

nghệ nào cũng hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định nhưng khái niệm tính hiện thực trong văn học như thế nào là một vấn đề phức tạp

Văn học là sản phẩm của tưởng tượng chứ không phải sao chép lại hiện thực mà hiện

Ngày đăng: 02/12/2015, 13:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Ân (1979), “Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong truyện lịch sử phục vụ các em”, Tạo chí Văn học, (3), tr.97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong truyện lịch sử phục vụ các em
Tác giả: Hà Ân
Năm: 1979
2. Lại Nguyên Ân (2000), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
3. Lại Nguyên Ân (1990), “Suy nghĩ về một lối tiếp cận lịch sử”, Nghệ thuật điện ảnh, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về một lối tiếp cận lịch sử
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1990
4. Lại Nguyên Ân (2000), “Hồ Quý Ly”, Tạp chí nhà văn, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2000
5. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
6. Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên) (2005), Từ điển văn học – Bộ mới, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học – Bộ mới
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
7. Phan Trần Chúc (2000), Vua Quang Trung , Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Quang Trung
Tác giả: Phan Trần Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội
Năm: 2000
8. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng (2009), Các triều đại Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội
Năm: 2009
10. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2004
11. Nguyễn Văn Dân (2012), “Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại”, Văn nghệ (11), tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2012
12. T rương Đăng Dung (1994), “Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm của G.Lukacs”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm của G.Lukacs
Tác giả: T rương Đăng Dung
Năm: 1994
13. Lê Tiến Dũng (2005), Giáo trình Lí luận văn học, Nxb Đại học quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TPHCM
Năm: 2005
14. Phan Cự Đệ (2003), “Tiểu thuyết lịch sử”, Tạp chí Nhà văn, (1), tr.55-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2003
15. Trương Trung Đỉnh (2001), “Hồ Quý Ly và giả pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà”, Văn nghệ quân đội, (10), tr14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly và giả pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà
Tác giả: Trương Trung Đỉnh
Năm: 2001
16. Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 2003
17. Nhiều tác giả (2012), Quán Văn - Tập san văn học nghệ thuật số 7, Nxb Thanh Niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán Văn -
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thanh Niên Hà Nội
Năm: 2012
18. Nhiều tác giả (2012), Nguyễn Mộng Giác và bằng hữu, Nxb Văn Mới California Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Mộng Giác và bằng hữu
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn Mới California
Năm: 2012
19. Nguyễn Mộng Giác (2003), Sông Côn mùa lũ, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sông Côn mùa lũ
Tác giả: Nguyễn Mộng Giác
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2003
20. Hoàng Quốc Hải (2005), Văn hóa phong tục, Nxb Phụ nữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phong tục
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Phụ nữ Hà Nội
Năm: 2005
21. Hoàng Quốc Hải (2010), Tám triều vua Lý, Nxb Phụ nữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tám triều vua Lý
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Phụ nữ Hà Nội
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w