1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính

187 1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh, đặc biệt xung quanh vấn đề nên cung cấp những kiến thức gì về giới tính, làm sao để các em có nhận thức đúng đắn c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

HUỲNH VĂN SƠN

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH PTTH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI

TÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI, 1999

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

HUỲNH VĂN SƠN

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH PTTH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy PTS BÙI NGỌC OÁNH, người hướng dẫn khoa học

- Quý thầy cô khoa TÂM LÝ GIÁO DỤC đã dạy dỗ, dìu dắt, đóng góp nhiều ý kiến

quý báu trong quá trình học tập và nghiên cứu

- Quý Ban Giám Hiệu, Quý Thầy Cô, Ban Chấp Hành Đoàn Thanh Niên cùng với hơn

500 học sinh của trường PTTH NGUYỄN DU, PTTH NGUYỄN HIỂN, PTTH HÙNG

VƯƠNG

- Cùng toàn thể bạn bè đồng nghiệp, một số chuyên gia tư vấn tâm lý , đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận án khoa học này

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3

5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3

6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

8 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9

1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 16

2.1 Lí luận về nhận thức và thái độ 16

2.1.1 Nhận thức 16

2.1.2 Thái độ 19

2.2 Lý luận về giới tính, giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính 23

2.2.1 Giới tính: 23

2.2.2 Khái niệm giáo dục giới tính 28

2.2.3 Nội dung giáo dục giới tính 31

2.3 Đặc điểm tâm lý học sinh PTTH 40

2.4 Những vấn đề giới tính – giáo dục giới tính cần chú ý ở tuổi học sinh PTTH 45

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 49

Trang 5

1 Vài nét về khách thể nghiên cứu: 49

2 Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính 50

2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính 50

2.2 Thực trạng thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính 68

2.3 Tương quan giữa nhận thức và thái độ 90

2.4 Nguyên nhân của thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính 92

3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH PTTH ĐỐI VỚI NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH 103

3.1 Đề xuất một số biện pháp 103

3.2 Một vài thực nghiệm bước đầu: 104

3.2.1 Mục đích thực nghiệm: 104

3.2.2 Nội dung thực nghiệm: 104

3.2.3 Kết quả thực nghiệm 106

3.2.4 Kết luận chung về thực nghiệm: 114

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115

1 KẾT LUẬN 115

2 ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 119

3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI: 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHẦN PHỤ LỤC 115

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giáo dục thế hệ trẻ trở thành con người toàn diện không chỉ cung cấp những tri thức khoa học đơn thuần mà còn phải cung cấp những tri thức về con người để các em hiểu nhiều hơn về con người cũng như hiểu chính mình Định hướng cho học sinh PTTH về một lối sống đúng đắn, về những tiêu chuẩn của một con người mới thì bên cạnh những tri thức cơ bản, những tri thức về nghề nghiệp còn phải trang bị cho các em những tri thức về đời sống tâm sinh lý cơ thể, những vấn đề của đời sống giới tính để các em có ý thức hơn về những suy nghĩ và hành vi của mình Đó chính là vai trò vô cùng quan trọng của giáo dục giới tính

Nhận thức đúng về những vấn đề giới tính, các em sẽ không chỉ có những suy nghĩ đúng, hành vi đúng mà còn có thái độ đúng mực với các hiện tượng xấu, hành vi không phù hợp, tức là không chỉ có khả năng tự định hướng cho bản thân mình mà còn ảnh hưởng đến người khác một cách tích cực

Thực tế đã cho thấy những vấn đề về giới tính nói chung, tình yêu, tình dục nói riêng đang là điểm báo động đỏ Rất nhiều sự sa sút xoay quanh vấn đề giới tính của học sinh như yêu đương quá sớm, quan hệ tình dục sớm, sinh nở sớm, nạo phá thai, những cử chỉ và hành

vi suồng sã ở lứa tuổi học sinh PTTH và thậm chí là sớm hơn

Hậu quả của những vấn đề ấy vô cùng tai hại, nó không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển sinh lý của các em mà còn ảnh hưởng nặng nề và tàn khốc về mặt tâm lý Đó chính là những dấu ấn không thể phai mờ trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách mãnh liệt nhất của con người Nguyên nhân rõ rệt và chủ yếu mà ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra

là các em còn thiếu hiểu biết về giới tính mà đúng ra đó là nhu cầu tối quan trọng với lứa tuổi này

Trang 7

Giáo dục giới tính đang là vấn đề được các nhà Tâm lý học, Giáo dục học, Sinh lý học, Xã hội học quan tâm Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh, đặc biệt xung quanh vấn đề nên cung cấp những kiến thức gì về giới tính, làm sao

để các em có nhận thức đúng đắn cũng như có thái độ đúng mực với nội dung trên vẫn là những câu hỏi hết sức bức xúc đang được tranh cãi Thế nhưng, chính những chủ thể của quá trình tiếp nhận giáo dục giới tính nói gì, có nhận thức và thái độ như thế nào đối với nội dung giáo dục giới tính Đây là vấn đề hết sức cấp bách cần phải tìm hiểu

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Thực trạng nhận

thức và thái độ của học sinh PTTH ở một số trường nội thành TP HỒ CHÍ MINH" đối với nội dung giáo dục giới tính

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính Từ đó hướng tới việc nâng cao nhận thức và thái độ đối với nội dung giáo dục giới tính góp phần trong việc hoàn thiện nhân cách cũng như chuẩn bị cho cuộc sống hạnh phúc tương lai của các em

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: nhận thức, thái độ, giới tính, giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính,

3.2 Nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính, một số nguyên nhân của thực trạng đó

3.2.1 Nhận thức của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính

3.2.2 Thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính

3.2.3 Một vài nguyên nhân của thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính

Trang 8

3.3 Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Học sinh ở một số trường PTTH nội thành Tp HCM

- Khách thể nghiên cứu thực trạng: 320 học sinh PTTH

- Khách thể nghiên cứu thực nghiệm: 162 học sinh khác ở khối 12

5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

5.1 Học sinh PTTH ở một số trường nội thành Tp Hồ Chí Minh chưa có nhận thức thực sự sâu sắc cũng như chưa có thái độ tích cực đúng mực đối với nội dung giáo dục giới tính

5.2 Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng nhận thức và thái độ của các em học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính, trong đó những nguyên nhân chủ yếu là: các em chưa được cung cấp những kiến thức về giới tính một cách hệ thống, các em sợ dư luận xã hội cấm kỵ, cha mẹ ngăn cản, bạn bè trêu chọc

5.3 Có thể nâng cao nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính bằng một số biện pháp tác động hợp lý như: cung cấp một cách hệ thống, khoa học những tri thức về giới tính ; tác động vào những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của các em ; vận động sự kết hợp của gia đình trong việc cung cấp những nội dung giáo dục giới tính, quán triệt tư tưởng của các em khi học tập những nội dung này

Trang 9

6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH

về nội dung giáo dục giới tính với phạm vi nghiên cứu là một số trường nội thành Tp HCM

- Về mặt nhận thức, chúng tôi khảo sát chủ yếu về vốn hiểu biết của các em đối với nội dung giáo dục giới tính và một số kiến thức cụ thể về giới tính ; nhận thức về sự cần thiết của nội dung giáo dục giới tính

- Về mặt thái độ, chúng tôi khảo sát thái độ thích thú ; tán thành ; e ngại đối với nội dung giáo dục giới tính Bên cạnh đó, chúng tôi khảo sát thái độ của các em đối với một số nhận xét về nội dung giáo dục giới tính

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như sau:

7.1 Những phương pháp nghiên cứu lý luận:

Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: vấn đề nhận thức, thái độ, giới tính, nội dung giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính cho học sinh PTTH,

7.2 Những phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 10

• Việc xây dựng bảng anket được tiến hành qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 Xây dựng bảng thăm dò mở:

Dựa trên những biểu hiện về thực trạng nhận thức và thái độ của các em học sinh đối với nội dung giáo dục giới tính bước đầu quan sát được, cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

và những kết quả nghiên cứu của một số đề tài trước, người nghiên cứu đưa ra bảng thăm dò

mở gồm 6 câu hỏi mở (xin xem phụ lục 4)

- Giai đoạn 2 Xây dựng bảng thăm dò thử:

Từ kết quả bảng thăm dò mở, kết hợp với cơ sở lý luận người nghiên cứu tiến hành xây dựng bảng thăm dò thử trước khi hoàn tất bảng thăm dò chính thức

- Giai đoạn 3 Xây dựng bảng thăm dò chính thức:

Từ kết quả của bảng thăm dò mở, thăm dò thử kết hợp và đối chiếu với cơ sở lý luận của đề tài, người nghiên cứu tiến hành xây dựng bảng thăm dò chính thức Đây là công cụ nghiên cứu chủ yếu của thực trạng nhận thức và thái độ của các em đối với nội dung giáo dục giới tính

• Mô tả bảng thăm dò:

- Bảng thăm dò chính gồm 26 câu hỏi được soạn thảo dưới nhiều hình thức khác nhau Có loại câu hỏi bao gồm 5 lựa chọn và trong đó khách thể nghiên cứu chỉ được lựa chọn duy nhất một lựa chọn mà thôi; có loại câu hỏi mà khách thể được quyền chọn lựa những lựa chọn nào mà họ cảm thấy phù hợp với mình

- Bảng thăm dò được người nghiên cứu chia thành từng phần cơ bản như: thực trạng nhận thức ; thái độ của các em đối với nội dung giáo dục giới tính - nguyên thân của thực trạng trên

* Quá trình tiến hành:

- Liên hệ với Ban giám hiệu các trường được khảo sát xin phép được sử dụng thời gian sinh hoạt chủ nhiệm để khảo sát với thời gian cụ thể thực hiện phiếu điều tra khoảng 50 phút

Trang 11

- Trước khi phát phiếu, dành khoảng 5 phút "làm quen" với học sinh một cách khéo léo, tế nhị và thân thiện Hướng dẫn kỹ lưỡng cách trả lời từng phần trong bảng anket

- Tiến hành phát phiếu điều tra, phối hợp cùng với quản sinh và giáo viên chủ nhiệm đảm bảo sự nghiêm túc và thoải mái trong khi thực hiện bảng anket

- Nhắc nhở đối tượng kiểm tra lại xem đã trả lời đầy đủ và toàn diện chưa Thu phiếu điều tra

- Tiến hành xử lý bảng anket bằng toán thống kê và bình luận

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn:

* Mục đích: Tiến hành gặp gỡ, trò chuyện và trao đổi với các em học sinh PTTH về nội dung giáo dục giới tính để các em bộc lộ nhận thức, quan niệm cũng như thái độ của các

em đối với nội dung giáo dục giới tính

* Nội dung: Các nội dung mà người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn như: tự đánh giá nhận thức về nội dung giáo dục giới tính, thái độ khi tiếp cận hay khi được học tập từng nội dung cụ thể, những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng nhận thức và thái độ, những nhu cầu

và nguyện vọng đối với việc học tập những nội dung giáo dục giới tính

* Quá trình tiến hành:

- Cởi mở và giới thiệu để tạo mối quan hệ thân thiện, gần gũi với khách thể

- Gợi mở và phỏng vấn ở một số nội dung đã chuẩn bị sẵn

- Thực hiện ghi âm kết hợp với biên bản phỏng vấn

Trang 12

* Quá trình tiến hành: Người nghiên cứu tiến hành phương pháp quan sát và thực hiện biên bản quan sát các vấn đề:

- Quan sát thái độ của các em qua một số giờ học những kiến thức về giới tính

- Quan sát tinh thần nỗ lực, tích cực và những biểu hiện hứng thú nhận thức cũng như một số biểu hiện về thái độ của các em trong khi học tập nội dung giáo dục giới tính hay khi tham gia hội thi tìm hiểu về giới tính do Đoàn trường cùng phối hợp tổ chức

- Quan sát thái độ của các em khi trò chuyện, trao đổi về những vấn đề giới tính 7.2.4 Phương pháp thực nghiệm:

* Mục đích: Tiến hành thực nghiệm tác động nhằm nâng cao nhận thức và thái độ của học sinh PTTH về nội dung giáo dục giới tính

* Quá trình tiến hành: Chọn lựa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm để so sánh nhằm tìm ra sự khác biệt giữa trước và sau thực nghiệm để kiểm định hiệu quả của những biện pháp tác động

Đây là phương pháp chủ yếu để tìm hiểu hiệu quả của những biện pháp tác động nâng cao nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính (Phần này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn, đầy đủ hơn ở mục 3.2)

7.2.5 Phương pháp toán thống kê:

* Mục đích: Dùng phương pháp toán thống kê để phân tích và xử lý các số liệu điều tra để định lượng các kết quả nghiên cứu

* Quá trình tiến hành:

- Thống kê các kết quả của bảng anket, xử lý thô

- Tính tỉ lệ phần trăm, thống kê tần số, điểm trung bình, xếp thứ hạng

- Kiểm nghiệm Chi square

Trang 13

8 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU

Đề tài này được bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 với các bước như sau:

- Tháng 7, 1997: Chọn đề tài, chính xác hoá tên đề tài, xác định rõ mục đích, nhiệm

vụ, đối tượng, khách thể, phạm vi và phương pháp nghiên cứu , thông qua người hướng dẫn khoa học

- Tháng 10, 1997: Xây dựng đề cương, kế hoạch nghiên cứu

- Tháng 1, 1998: Bảo vệ đề cương, thông qua các mẫu phiếu điều tra ; Xin ý kiến của các chuyên gia và người hướng dẫn, hoàn chỉnh các mẫu phiếu điều tra

- Tháng 2, 1998: Chuẩn bị địa bàn nghiên cứu và tiến hành điều tra mở

- Tháng 3, 1998: Điều tra thử, hoàn thành phần nghiên cứu lý luận của đề tài, điều tra chính thức

- Tháng 4, 1998: Phân tích, xử lý các số liệu và tài liệu thu thập được, xây dựng kế hoạch và công cụ thực nghiệm

- Tháng 5 và 6, 1998: Tiến hành thực nghiệm, thu thập số liệu và xử lý

- Tháng 10, 1998: Hoàn tất đề tài

- Tháng 12, 1998: In ấn và đệ trình

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới:

- Giáo dục giới tính nói chung, nội dung giáo dục giới tính nói riêng đã được nghiên cứu khá lâu dù rằng góc độ nghiên cứu có thể không thống nhất với nhau

- Ngay từ thế kỷ XX, có những công trình nghiên cứu vấn đề này như các công trình của V.V Phavrơ, D.N Zbancov, P.P Blonxki,

Tuy nhiên, nội dung giáo dục giới tính được đề cập nhiều nhất đến vấn đề tình dục và

ít được xã hội chấp nhận

- Những năm 30 của thế kỷ, giáo dục giới tính được nghiên cứu toàn diện hơn về nội dung, phương pháp và việc tổ chức thực hiện A.X Makarenko khẳng định vai trò cần thiết và quan trọng của giáo dục giới tính đồng thời đưa ra những nguyên tắc, nội dung, phương hướng giáo dục giới tính cho học sinh Giáo dục giới tính được xem là một mặt của giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh, tuy thế giáo dục giới tính vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi

- Riêng Thụy Điển lần đầu tiên vào năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết định thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập cho tất cả các bậc học từ tiểu học đến trung học

- Sau Thụy Điển là các nước Đông Âu như: Đức, Ba lan, Hungari, Tiệp Khắc và các nước Tây Âu, Bắc Âu khác Hầu hết các nước này đều coi giáo dục tình dục là một vấn

đề lành mạnh, đem lại tự do cho con người vì thế họ quan niệm: cần nói rõ cho mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động tình dục Chương trình giáo dục giới tính của họ rất đa dạng, các trường có thể tự chọn vấn đề phù hợp với đối tượng để giảng dạy Nhà nước tận dụng những phương tiện truyền thông để tiến hành giáo dục giới tính

Trang 15

- Đến năm 1960, giáo dục giới tính mới được khẳng định, được nghiên cứu rộng rãi

và hoàn chỉnh dần Giáo dục giới tính được nghiên cứu sâu về mục đích, nội dung, phương pháp với các nhà khoa học nổi tiếng như I.X Côn, V.A Sukhômlinxki v.v Nội dung giáo dục giới tính không chỉ là vấn đề tình dục mà còn là các vấn đề của gia đình, giới tính, tình yêu Tất cả bắt đầu được quan tâm nhiều hơn

- Tuy thế, giáo dục giới tính từ năm 1960 trở về trước vẫn còn bị "đóng khung" chặt ở Châu Âu, Châu Mĩ mà thôi, riêng ở Châu Á vấn đề này vẫn còn là điều bí ẩn Đặc biệt hơn, tình dục là hạt nhân trong nội dung giáo dục giới tính, còn các vấn đề khác tuy vẫn được đề cập song vai trò rất mờ nhạt

- Năm 1968, Đại hội đồng Liên hiệp quốc bắt đầu có những hoạt động về giáo dục dân số và đi liền với hoạt động ấy, giáo dục giới tính lại được quan tâm hơn nữa với giáo dục dân số trong việc triển khai các nội dung ấy đến với học sinh các cấp

- Khoảng những năm 1970, 1980 việc giáo dục giới tính có nên đưa vào trường học bắt đầu được quan tâm thực sự và từ đó bốn khuynh hướng về giáo dục giới tính xuất hiện:

+ Bắt buộc thực hiện trong tất cả các trường phổ thông như: Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, Tiệp Khắc

+ Hoan nghênh và bước đầu công nhận hợp pháp hóa như: Ba Lan, Thụy Sĩ, Nam Tư, Pháp

+ Tán thành nhưng không hợp thức hóa về luật pháp như: Anh, Hà Lan

+ Không ngăn cấm nhưng cũng không phát triển như: Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kì Như vậy, giáo dục giới tính bắt đầu được một số nước đưa vào trường học Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung giáo dục giới tính vẫn hoàn toàn khác nhau ở mỗi nước, mỗi khu vực

- Đặc biệt đến năm 1981, hội đồng bộ trưởng Liên Xô (cũ) ra chỉ thị cho tất cả các trường phổ thông trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất

cụ thể cho các cấp Hơn thế nữa, trong nội dung chương trình giáo dục ở

Trang 16

hai lớp cuối cấp III (lớp 9 và lớp 10) có thêm một môn học là Đạo đức học và Tâm lý học đời sống gia đình với thời lượng là 34 tiết cùng với những nội dung cũng khá phong phú và bổ ích

Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung đề ra vẫn chưa thống nhất mà phải thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng

- Riêng ở Châu Á, giáo dục giới tính cũng được thừa nhận là cần thiết và cũng đã được thực hiện những nội dung giáo dục giới tính trong trường học ở các quốc gia như: Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Xingapo, Malaisia, Philippin Riêng ở Philippin, giáo dục giới tính được đưa vào chương trình nội khóa của trường THCS và PTTH, nó còn là một bộ phận của giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình Ở nước này có nhiều cải tiến về phương pháp, hình thức giảng dạy nhưng nổi lên hết là nội dung giáo dục giới tính đáp ứng được nhu cầu của học sinh cũng như bắt đầu được xã hội thừa nhận Việc giáo dục giới tính không chỉ còn gò bó trong trường mà được mở rộng ngoài nhà trường và các tầng lớp khác

- Liên tiếp những năm 1984, 1986 các hội nghị của UNESCO đã làm sáng tỏ những yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính trong quá trình giáo dục ở các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Nội dung giáo dục giới tính được chọn lọc phù hợp với lứa tuổi và phong tục tập quán thế nhưng các vấn đề được đề cập chủ yếu là:

+ Giới tính

+ Quan hệ giới tính

+ Định hướng giá trị về tình dục

1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam:

- Do bị ảnh hưởng nhiều của tư tưởng phong kiến cho nên vấn đề giáo dục giới tính theo đúng nghĩa của nó hầu như bị "né tránh", "thả nổi", hay "lãng quên" hoặc có đề cập đến nhưng lại rất sơ lược, qua loa và nội dung giáo dục giới tính là một cái gì đó rất xa lạ với các

em học sinh

Trang 17

- Vào thập niên 90 của thế kỷ, hòa nhập vào chương tình của quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNEPA) về vấn đề bùng nổ dân số, Đảng và nhà nước ta xem chiến lược dân số, giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lược con người và giáo dục giới tính là một chương tình khá quan trọng trong bốn điểm của chủ trương thực hiện khuyến nghị của hội tư vấn khu vực

về giáo dục dân số năm 1986 ở Băngkok:

+ Giáo dục đời sống gia đình

+ Giáo dục giới tính

+ Giáo dục tuổi già

+ Giáo dục về đô thị hóa

Chính lúc này, nội dung giáo dục giới tính bắt đầu được cung cấp đến các em học sinh

- Thực ra, các nội dung giáo dục giới tính được đề cập và phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau ở những năm 80 của thế kỷ này như: báo cáo khoa học, chuyên đề, nội dung sinh hoạt ở các câu lạc bộ mà trong những người tham dự có khá đông các em học sinh dù rằng chưa chính thức và sâu sắc nhưng vấn đề giáo dục giới tính nói chung, nội dung giáo dục giới tính cho học sinh nói riêng bắt đầu là điểm nóng của nhiều ngành khoa học, nhiều nhà khoa học Đặc biệt hơn, vào ngày 24 tháng 12 năm 1984 chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký chỉ thị 176 a, trong đó nêu rõ: "Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân và gia đình, về nuôi dạy con"

- Bộ giáo dục đã ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ

hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước với khối lượng nội dung và chương trình tương ứng

- Đến năm 1985, các công trình nghiên cứu về giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình lần lượt được thừa nhận Nhiều nhà khoa

Trang 18

học như: Trần Trọng Thủy, Đặng Xuân Hoài, Đức Uy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan:.,

đã nghiến cứu những mặt khác nhau xung quanh giáo dục giới tính như: nhu cầu, nguyện vọng, dư luận xã hội, nội dung

- Ngay sau đó, cũng năm 1985 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp với công đoàn ngành Đại học tổ chức hội thảo về giáo dục giới tính cho sinh viên các trường Đại học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn, cán bộ Tuyên huấn ở các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp ở phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục giới tính nhằm hỗ trợ cho việc đưa các nội dung giáo dục giới tính đến với học sinh một cách chính xác, khoa học và hiệu quả

Nổi bật nhất vẫn là việc khẳng định vai trò cần thiết của giáo dục giới tính với thanh niên nói chung và học sinh nói riêng Thế nhưng, nội dung giáo dục giới tính vẫn chưa thật sự đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhiều người vì điều kiện kinh phí, thời gian

- Trong thời gian này, Trung ương hội liên hiệp Phụ nữ đã triển khai phong trào giáo dục "Ba triệu bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan" trong đó nội dung giáo dục giới tính được

đề cập nhiều nhất đến việc giáo dục cho con cái ở lứa tuổi dậy thì Các tỉnh hội phụ nữ, thành hội phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến nội dung giáo dục giới tính tuy nhiên hiệu quả cũng chỉ dừng lại "tính chất phong trào" vì những khó khăn nhất định

- Đến năm 1988, được sự tài trợ của UNEPA cùng với sự giúp đỡ kỹ thuật của UNESCO khu vực, Bộ giáo dục - Đào tạo đã giao cho Viện khoa học giáo dục Việt nam thực hiện đề án VIE/ 88/P 09 với sự chỉ đạo của nhiều nhà khoa học như Trần Trọng Thủy, Đặng

Vũ Hoạt, Đặng Xuân Hoài, Ngô Đặng Minh Hằng đề án đã nghiên cứu sâu và rộng các vấn

đề như:

+ Quan niệm về tình yêu, tình dục trong hôn nhân và ngoài hôn nhân

+ Quan niệm về đời sống gia đình và kế hoạch hóa gia đình

Trang 19

+ Nguyện vọng đối với việc học tập về đời sống gia đình

Nội dung của đề án thể hiện sự thử nghiệm giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh lớp 9, l0, 11, 12 ở nước ta Trong đó, những nội dung giáo dục đời sống gia đình là trọng tâm ở chương trình lớp 10, 11; những nội dung giáo dục giới tính nằm trọng tâm ở chương trình lớp 9 và lớp 12 Đây là lần đầu tiên học sinh được học một cách có hệ thống về

"những điều bí ẩn" của chính mình và của mối quan hệ với người khác giới

- Tất cả "bề dày" của việc nghiên cứu giáo dục giới tính không làm cho việc nghiên cứu trở nên nhàm chán mà nhiều hướng nghiên cứu mới tiếp tục ra đời

- Từ năm 1986 đến năm 1991, PTS Bùi Ngọc Oanh với đề tài nghiên cứu "Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh niên học sinh" một lần nữa khẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tính trong nhà trường PTTH, phân tích một số yếu

tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của các em, những biểu hiện trong đời sống giới tính của lứa tuổi cũng như bước đầu vạch ra một số biện pháp để nâng cao sự chấp nhận việc giáo dục giới tính của học sinh PTTH

- Ngoài ra, cũng có một số đề tài khác nữa cũng nghiên cứu xung quanh vấn đề này như:

+ Đề tài nghiên cứu "Nhận thức, thái độ của sinh viên trường sư phạm Phú Yên về những nội dung cơ bản của kế hoạch hóa gia đình" của tác giả Đinh thị Dậu cũng đề cập đến một số vấn đề trong nội dung giáo dục giới tính song đối tượng nghiên cứu là những sinh viên sư phạm và những nội dung giáo dục giới tính mà tác giả đề cập chỉ là những tri thức có liên quan với vấn đề kế hoạch hoa gia đình mà thôi

+ Đề tài nghiên cứu "Nhận thức, thái độ của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Mẫu giáo Trung Ương I về giới tính và giáo dục giới tính" của tác giả Thái Lan Chi một lần nữa đề cập đến nhận thức và thái độ xung quanh vấn đề này song giới hạn

Trang 20

nghiên cứu của đề tài là cả vấn đề giới tính và giáo dục giới tính, đối tượng nghiên cứu lại chỉ

là những sinh viên sư phạm - những người sẽ làm công tác giáo dục giới tính cho các em học sinh sau này chứ không phải là những chủ thể đích thực của quá trình giáo dục giới tính

- Năm 1996, Nguyễn Văn Phương với luận văn tốt nghiệp khoa Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh "Tìm hiểu nhận thức và sự quan tâm của học sinh PTTH Tp Hồ Chí Minh về giáo dục giới tính" cũng bước đầu làm cho mảng đề tài này thêm phong phú hơn nhưng đề tài vẫn chưa thực sự khoa học và chính xác khi giới hạn và phạm vi nghiên cứu chưa rõ ràng, cơ sở lý luận còn rất sơ sài và đặc biệt là khái niệm công cụ và bảng điều tra chưa đầy đủ, cân đối

- Đặc biệt hơn, vào đầu năm 1998 PGS - PTS Lê Ngọc Lan nghiên cứu nhận thức của sinh viên về tình yêu và giới tính đã công bố ở tạp chí Tâm lý học số 3/ 1998 đưa ra những kết luận khá thú vị về sự quan tâm và nhận thức của sinh viên về tình yêu, những đặc điểm đặc trưng của người yêu

- Thế nhưng, vấn đề mà người nghiên cứu rất bức xúc là đối tượng trực tiếp và khá quan trọng của việc giáo dục giới tính là học sinh PTTH cũng như thực trạng giảng dạy nội dung giáo dục giới tính ở một số trường PTTH nội thành TP Hồ Chí Minh Nhận thức của các

em học sinh về nội dung giáo dục giới tính ra sao, thái độ của các em như thế nào với nội dung này ; đặc biệt là nhận thức và thái độ của các em như thế nào với từng nội dung cụ thể, từng kiến thức cụ thể trong nội dung giáo dục giới tính là những vấn đề hết sức lý thú và cần thiết phải tìm hiểu góp phần quan trọng vào công tác giáo dục toàn diện cho các em học sinh

Trang 21

2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Vậy nhận thức được hiểu như thế nào?

2.1.1.1 Khái niệm chung:

Hoạt động nhận thức là một hoạt động bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan

Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

2.1.1.2 Các mức độ của quá trình nhận thức:

a Nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người

Nhận thức cảm tính bao gồm hai mức độ sau:

Trang 22

* Cảm giác: là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta [tr 74 29]

* Tri giác: là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta [tr 83 29]

b Nhận thức lý tính: Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết

Nhận thức lý tính bao gồm hai mức độ:

* Tư duy: là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên

hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan,

Trang 23

Như vậy, hoạt động nhận thức giúp cho con người hiểu biết về thế giới khách quan,

về các sự vật hiện tượng Sự hiểu biết có thể ở nhiều mức độ:

- Nhận biết: là mức độ nhận thức thấp nhất, chỉ nắm được các dấu hiệu bên ngoài của khái niệm nhưng chưa có được khả năng vận dụng để giải quyết những tình huống, những hiện tượng Nhận biết được biểu hiện ra các dấu hiệu sau: nhận ra vấn đề, nhận biết được hình thức bên ngoài của các khái niệm, nhận biết được một số biểu hiện cụ thể

- Thông hiểu: là khi đã nắm được một số thuộc tính bản chất, nắm được khái niệm của

sự vật, hiện tượng nhưng chưa thực sự giải quyết được vấn đề

- Vận dụng: Khi đã nắm vững và thông hiểu sâu được các bản chất, các thuộc tính trừu tượng bên trong của khái niệm, do đó có thể dùng các khái niệm để giải quyết được những vấn đề, những tình huống phức tạp

Nhận thức của mọi người đều có những quá trình cơ bản như nhau, đều thực hiện theo những quy luật giống nhau Nhưng kết quả đạt được của mỗi người khác nhau tức là phản ánh hiện thực đúng hoặc sai đều khác nhau Đó là do phẩm chất trí tuệ của mỗi cá nhân quyết định

Tóm lại: Quá trình nhận thức của con người rất phong phú, đa dạng và phức tạp Quá trình nhận thức có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, song để đánh giá nhận thức của con người về một vấn đề nào đó chúng ta có thể đánh giá theo các mức độ nhận thức hay đánh giá một cách giản đơn theo hai hướng: nhận thức đúng đắn hay nhận thức chưa đúng đắn (nhận thức sai lệch)

Trong đề tài này, nhận thức của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính được khảo sát ở mức độ thấp: mức độ nhận biết ; các em biết hay chưa, biết đúng hay sai về một vài kiến thức cụ thể trong nội dung giáo dục giới tính, đó chính là vốn hiểu biết của học sinh về những nội dung kiến thức nhất định

Trang 24

Nếu vậy, thái độ nảy sinh bên trong con người trước sau đó mới biểu lộ ra bên ngoài

và thái độ là sản phẩm của sự đánh giá tâm lý và nhận thức về đối tượng xuất phát từ nhu cầu của chủ thể

- Trong Tâm lý học xã hội thì quan niệm "thái độ" là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân

để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân [tr 70 30]

- Nhà Tâm lý học xã hội Hoa kỳ G.V ONPARTE thì cho rằng: "Thái độ đó là trạng thái thần kinh và tâm lý của sự sẵn sàng được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm, nó có ảnh hưởng

và điều khiển năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó", [tr 70 30]

- Theo D.N ƯZƠNATAZE (TBILIXI) cho rằng: "Thái độ là một trạng thái toàn vẹn của chủ thể Đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối với các tác động của tình huống trong chủ thể phải đặt ra và giải quyết tình huống", [tr 70 30]

Qua những khái niệm trên ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định đến khía cạnh tâm lý

cá nhân trong thái độ Các tác giả đều cho rằng thái độ là cái gì đó rất riêng của cá nhân như

là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân hay là sự sẵn sàng của cơ thể Thế nhưng, thực sự mà nói thái độ không chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lý cá nhân mà phải được xem xét trong mối quan

hệ với những yếu tố khác như mối quan hệ với người khác và cả trong mối quan hệ phức tạp

và đa dạng của xã hội

Trang 25

Thực vậy, thái độ không chỉ mang tính chất cá nhân mà còn mang tính xã hội Thông thường thái độ mang tính chất rất riêng tư của cá nhân vì mỗi cá nhân là một chủ thể nhất định, song chính cá nhân lại tồn tại và sống trong một xã hội nhất định cho nên xã hội đã chi phối rất rõ thái độ của con người

Như vậy thái độ phải được xem xét dưới khía cạnh xã hội

- HIPSƠ dùng thuật ngữ " khuôn mẫu thái độ" là một hiện tượng tâm lý xã hội với tư cách là sự sấn sàng phản ứng nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể [tr 71 30]

- Nhà Xã hội học Mỹ G Onpoxt tóm tắt thành năm đặc trưng của khái niệm thái độ

- Theo Y Tomat và Znanhieuski, khi nghiên cứu về sự thích ứng của người nông dân

Ba lan di cư (từ châu Âu đến Mỹ) thì khái niệm này dùng để chỉ những đặc trưng cá nhân so với đặc trưng xã hội Thái độ được coi là trạng thái xúc động của cá nhân đối với các giá trị, ý nghĩa, lý tưởng của đối tượng xã hội cụ thể hoặc là trạng thái ý thức của cá nhân phù hợp với một số giá trị xã hội [tr 35 13]

- Theo từ điển tiếng Việt, Thái độ được hiểu là "cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình".[tr 872 27]

- Thái độ là một khái niệm tạo lập được LÊNIN định nghĩa:

"Thái độ là một bộ phận lĩnh vực tình cảm phản ánh quan hệ của cá nhân đối với hiện thực Nó được quyết định bởi thế giới quan của cá nhân cho nên cũng phản ánh tồn tại xã hội chịu ảnh hưởng của ý thức giai cấp, của tâm lý xã hội, của dư luận và tập đoàn xã hội Nó

Trang 26

một cách minh thị hay trực tiếp mà là những ý nghĩ đang chuyển hóa thành hành động"

Như vậy khái niệm thái độ là một khái niệm mang tính chất phức tạp và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Vậy thái độ bao gồm những gì?

- Đầu tiên là cảm xúc với đối tượng mới gặp hoặc là tình cảm với đối tượng quen thuộc Tuy thế vẫn chưa đủ mà thái độ bao gồm cả ý định và hành động Hành động ở đây là hành động đối xử với một đối tượng nhất định, muốn có một hành động gì đó từ phía chủ thể

về phía đối tượng

Đó là mặt bên trong, mặt chủ quan của thái độ Mặt bên trong của thái độ hay còn có thể gọi là thái độ bên trong không phải lúc nào cũng thể hiện một cách trọn vẹn, thẳng thắn

và "nguyên xi" mà thái độ bên trong này có thể giấu kín nếu như cầm thấy cần che giấu, khi

đó chủ thể sẽ kìm chế, đè nén và không biểu hiện thái độ của mình

Khi con người tỏ thái độ hay biểu hiện thái độ được gọi là mặt bên ngoài của thái độ Mặt bên ngoài của thái độ là khi con người muốn biểu lộ một thái độ đó như là một sự cần thiết hoặc khi chủ thể không ý thức là cần phải che giấu mà cứ biểu lộ ra ngoài một cách tự nhiên và thoải mái

- Thái độ của con người như đã nói có thể biểu hiện một cách minh thị song cũng có thể được che giấu Nhưng ngay khi thái độ được biểu hiện thì thái độ có thể biểu hiện một cách chân thực, rõ ràng nhưng cũng có thể biểu hiện một cách giả dối và không chân thực

- Thái độ mang tính chủ thể nhưng lại mang tính đối tượng rất rõ nét Đối với con người bao giờ thái độ cũng là thái độ đối với một đối tượng cụ thể, nhất định

Thế nhưng thái độ lại thể hiện rất rõ nét tính chủ thể vì với cùng một đối tượng nhưng mỗi người lại có thái độ khác nhau và thậm chí ngay khi con người có thái độ tương đối giống nhau thì cách thức và mức độ biểu hiện lại cũng khác nhau

Trang 27

- Thái độ của con người mang tính cá nhân nhưng bao giờ cũng chịu sự chi phối bởi những yếu tố xã hội nhất định như: những yếu tố tâm lý xã hội, dư luận xã hội, phong tục tập quán Thực sự phải thừa nhận rằng thái độ tồn tại ở mỗi người khác nhau song việc biểu thị thái độ hay công khai thái độ đó cho mọi người cùng biết lại là chuyện khác Trước khi tỏ thái độ con người thường xem xét những yếu tố xã hội xung quanh mình xem có cho phép hay không, có phù hợp hay không?

- Mặt khác, thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Thái độ có thể nói là giai đoạn nảy sinh trước động cơ song chính thái độ góp phần không nhỏ trơng việc hình thành động cơ và chính nó lại là giai đoạn định hướng cho động cơ đi đến hành động

- Thái độ thường được phân chia theo hai hướng khác nhau như: thái độ tích cực, thái

độ tiêu cực ; thái độ đúng đắn hay thái độ không đúng đắn (thái độ sai lệch) Khi đề cập đến thái độ ta thường đề cập đến những thuật ngữ như: thích hay không thích, tán thành hay không tán thành, e ngại hay tự tin Tất cả đều được hiểu là thái độ của một chủ thể đối với một đối tượng nhất định, đó là những sự vật hiện tượng, hoặc một vấn đề, hay là một con người cụ thể nào đó

- Thái độ có mối liên quan chặt chẽ với nhận thức, thái độ chịu sự chi phối của nhận thức, nhưng cùng lúc đó thái độ lại tác động ngược trở lại đến nhận thức Thông thường nếu nhận thức đúng đắn con người sẽ có thái độ tích cực, đúng đắn nhưng khi con người có thái

độ tích cực đối với một vấn đề cụ thể thì nhu cầu và hứng thú nhận thức của chủ thể sẽ được nâng lên Lẽ dĩ nhiên, đây chỉ là sự tác động xuôi chiều vì nhiều khi con người nhận thức đúng nhưng không hẳn đã có thái độ tích cực và ngược lại

Ở đây, trong phần nghiên cứu thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính, chúng tôi phân tích thái độ của các em ở một số biểu hiện như: Có thích thú những nội dung giáo dục giới tính không? Có tán thành học tập những nội dung giáo dục giới tính hay không? Đồng ý hay không đối với những nhận xét về

Trang 28

nội dung giáo dục giới tính Bên cạnh đó, các em có thái độ e ngại hay không khi học tập nội dung giáo dục giới tính, mức độ e ngại ở từng nội dung cụ thể

2.2 Lý luận về giới tính, giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính

2.2.1 Giới tính:

2.2.1.1 Khái niệm Giới tính:

Nói đến giới tính là đề cập đến tổng thể những đặc điểm tâm lý, tính cách, hành vi của từng giới; là toàn bộ những biểu hiện có thể quan sát được như cách ứng xử, nói năng, ăn mặc, sở thích Giới tính chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường sống, hoàn cảnh xã hội, nền văn hóa của môi trường đó, nó không bất biến mà thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội Mỗi thời đại, mỗi xã hội có những chuẩn mực riêng về giới tính, đòi hỏi mỗi con người phải có những phẩm chất nhất định về hành vi ứng xử, đạo đức

Mỗi cá thể khi được kết nạp vào cộng đồng đều đã thuộc một giới nào đó, được cấu thành một giới tính tương ứng do xã hội và nền văn hóa của xã hội đó nhào nặn, có vai trò, vị trí, giá trị nhất định để thừa nhận

Giới tính là một đặc điểm nền tảng có tính chất sinh học - xã hội của con người ý thức rằng mình thuộc giới nào ở mỗi cá nhân là kết quả của quá trình sinh học -xã hội phức tạp, liên kết thống nhất cả ba mặt: sự phát triển thể chất, sự xã hội hóa,, giới tính ngày càng sâu sắc và sự phát triển tự nhận thức của con người

Như vậy: giới tính là những đặc điểm riêng biệt về mặt giải phẫu sinh lý cơ thể, những đặc điểm riêng biệt về mặt tâm lý (hứng thú, xúc cảm, tính cách, năng lực.) tạo nên sự

khác biệt giữa nam và nữ Nói khác đi, giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người

tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ [tr 164 23]

Những đặc điểm khác biệt về giới tính không phải tự dưng có được mà xuất phát từ hai nguồn gốc: sinh học và xã hội

Trang 29

2.2.1.2 Nguồn gốc giới tính:

a Nguồn gốc sinh học:

Giới tính của con người trước hết do các tế bào sinh sản quyết định Trong tế bào sinh sản của nam (tinh trùng) có chứa hai loại nhiễm sắc thể quy định giới tính: nhiễm sắc thể X quy định giới nữ và nhiễm sắc thể Y quy định giới nam Ở tế bào sinh dục nữ (trứng) chỉ chứa một loại nhiễm sắc thể giới tính X Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể X thụ tinh với trứng thì đứa trẻ sinh ra sẽ là nữ, còn nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y thụ tinh với trứng thì đứa trẻ sinh ra sẽ là nam Các nhiễm sắc thể X và Y quy định các tính trạng nam và nữ, làm cho thai nhi có cấu tạo đặc trưng của cơ thể nam hay cơ thể nữ trong quá trình phát triển của nó

Do cấu tạo khác nhau nên hoạt động sinh lý mỗi giới có những đặc điểm khác nhau Các tuyến sinh dục và hoocmon tiết ra từ các tuyến này sẽ quy định những đặc điểm sinh lý

cơ thể riêng biệt và góp phần tạo nên những nét tính cách đặc trưng cho mỗi giới Sự trưởng thành về mặt sinh lý cơ thể tạo nên đặc điểm giới tính nhất định Đến một độ tuổi nhất định, tuyến sinh dục sẽ hoạt động và cường độ hoạt động càng lúc càng mạnh cho đến khi vào thời

kỳ trưởng thành (chín muồi) sẽ tạo nên những chức năng sinh lý đặc biệt của cơ thể: hoạt ộng tình dục, sinh sản Dù rằng tuyến sinh dục ở người hình thành từ tuần thứ ba trong đời sống

ở tử cung nhưng mãi đến tuổi dậy thì (khoảng 13, 14 tuổi ở nữ và 15, 16 tuổi ở nam) mới hoạt động tích cực thực sự Và như thế, chính các tuyến sinh dục như buồng trứng hay tinh hoàn lại tạo nên "giới tính đích thực" bởi vì phản ánh khả năng của tuyến sinh dục sản sinh ra tinh trùng hay trứng hay sản sinh ra hoocmon giới tính nam hay nữ đặc thù và chính các hoocmon này ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc về sự phát triển của các cơ quan sinh dục bên trong và bên ngoài cùng với những đặc điểm giới tính phụ khác Thế nhưng, nguồn gốc sinh học vẫn chưa thật sự đủ để hình thành giới tính một cách rõ nét

Trang 30

b Nguồn gốc xã hội:

Thực thế, những đặc điểm về giới tính sinh học của cơ thể chỉ là tiền đề, là cơ sở vật chất tạo nên sự khác biệt giới tính mà thôi Giới tính thực sự còn do các mối quan hệ xã hội chi phối Xã hội ảnh hưởng đến con người rất phong phú và đa dạng ở nhiều mặt:

- Xã hội quy định, đánh giá con người theo những phẩm chất đạo đức, tư thế tác phong riêng phù hợp với giới tính Điều này thể hiện ở phong tục tập quán, đạo đức xã hội

- Xã hội quy định sự phân công lao động giữa nam và nữ khác nhau

- Xã hội chi phối sự đánh giá những yếu tố có nguồn gốc sinh học Ngay cả bản năng tình dục cũng được xã hội thừa nhận theo những tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa nhất định

- Sự giáo dục của xã hội, của người lớn, của nền giáo dục ảnh hưởng đến đặc điểm giới tính của con người

2.2.1.3 Sự khác biệt giới tính: Chính những nguồn gốc sinh học và xã hội sẽ tạo nên

sự khác biệt giới tính Về giới tính có hai giới cơ bản: giới nam và giới nữ

a Sự khác biệt về mặt giải phẫu:

- Tầm vóc nữ giới thường nhỏ, thấp hơn nam giới vì bộ xương của nữ nhỏ hơn, xương chậu rộng và thấp, xương tứ chi ngắn hơn

- Bề dày lớp mỡ dưới da của nữ bao giờ cũng lớn hơn nam ở mọi lứa tuổi, sự khác biệt lớn nhất ở giữa tuổi 15 đến 20 Da của nữ mỏng và mịn hơn da của nam giới

- Tim của nam dễ bị vỡ động mạch vành gấp hai lần nữ Mạch máu ở nữ mềm mại hơn, dẻo dai hơn và nữ thường sống lâu hơn nam từ 3 đến 5 tuổi

Trang 31

- Hầu hết kích thước của mặt (khoảng cách giữa hai đầu mắt, chiều dài của mũi ) ở

b Sự khác biệt về tâm lý:

Để tìm hiểu sự khác biệt về tâm lý chúng tôi xin đưa ra những đặc điểm khác biệt chủ yếu ở lứa tuổi dậy thì trở đi tức là lúc hoocmon sinh dục hoạt động mãnh liệt thực sự:

- Ở tuổi dậy thì, khuynh hướng vươn lên làm người lớn ở các em trai và các em gái có

sự khác biệt nhất định: Các em gái thường tự khẳng định bằng cách trang điểm, làm dáng, kín đáo, e ngại, thẹn thùng trong khi các em trai thường hướng tới sự tự khẳng định bằng sức mạnh, sự dũng cảm, không sợ nguy hiểm, sức dẻo dai chịu đựng, sự tự kiềm chế cảm xúc

- Bản chất của nam giới thường muốn tỏ ra dũng cảm, cường tráng, muốn tỏ rõ năng lực của mình so với người khác Vì thế con trai, đàn ông thường thích dấn thân vào chỗ nguy hiểm để tìm lấy sự thích thú của việc thành công khi vượt qua những cuộc phiêu lưu nguy hiểm hay những khó khăn gian khổ

- Ngược lại với nam giới, nữ giới thường muốn sự yên bình, tránh xa những nơi nguy hiểm và không muốn những người thân của mình bước vào những hiểm nguy

Trang 32

- Hứng thú ở nam và nữ không giống nhau Các em nam thường thích thú với các hoạt động mang tính cụ thể và thực tế so với các em nữ Hoạt động trong thời gian nhàn rỗi của các em nữ ít hơn nhưng lại có tổ chức hơn Các em nữ thích thú chơi nhóm và quan tâm tới nhau rất nhiều, các trò chơi các em tham gia sinh hoạt không quá mãnh liệt và ồn ào như các

em nam

- Nữ dễ xúc động, đa cảm và ít tự kiềm chế xúc động so với nam

- Hoạt động của người đàn ông ít bị chi phối bởi những yếu tố gia đình Khi cần thiết người đàn ông có thể tập trung năng lực để giải quyết công việc mà không bị chi phối về những việc xảy ra trong cuộc sống đời thường

- Về tính cách, nữ giới thường cần cù chăm chỉ, kiên nhẫn, phụ nữ chịu cô đơn và làm công việc tỉ mỉ tốt hơn nam nhưng kém hơn ở tính quả quyết, chủ động, phong cách sống của người đàn bà đượm màu sắc tình cảm thường gắn liền với chức năng làm mẹ, làm vợ Trong cuộc sống nhiều khi gặp những cơ hội thăng tiến nhưng người phụ nữ thường bỏ lỡ hay chịu

hy sinh để quan tâm và lo lắng cho gia đình

- Về năng lực giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt: nữ thích hợp hơn với những hoạt động đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và cẩn thận Khả năng biểu hiện tư duy ngôn ngữ của nữ tốt hơn nam trong khi khả năng nhận định không gian hai chiều của nam giới lại tốt hơn nữ giới Thể lực, độ nhanh của các phản ứng và sự phối hợp các vận động của nữ kém hơn nam, phụ

nữ lĩnh hội khó khăn hơn nam giới về các loại tri thức và kỹ xảo cơ giới

- Nhu cầu tình dục ở nữ giới mang tính toàn vẹn hơn nam ở nhiều mặt: trí tuệ, phẩm chất, sự hấp dẫn của thân thể

Thế nhưng, sự khác biệt này chỉ mang tính chất tương đối dù là có cơ sở thực tế vì sự biểu hiện những đặc điểm ấy cũng không hoàn toàn chân thực và toàn diện Những đặc điểm đặc trưng của giới tính là điều vô cùng cần thiết ở mỗi con người, tuy nhiên, muốn có được những đặc điểm đặc trưng ấy không phải là dễ dàng mà

Trang 33

đòi hỏi bản thân mỗi người phải trải qua những yêu cầu nhất định, trong đó việc tiếp thu những nội dung giáo dục giới tính là điều hết sức cần thiết

2.2.2 Khái niệm giáo dục giới tính

Có nhiều khái niệm khác nhau về giáo dục giới tính, mỗi tác giả nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau:

a Theo A.G Khơricôpva và D.B Kôlêxôp:

" Giáo dục giới tính là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với những người thuộc giới khác", [tr 15 15] Định nghĩa đã nêu bật được:

- Nhiệm vụ của giáo dục giới tính: vạch ra những phẩm chất đặc trưng của giới tính

- Mục đích của giáo dục giới tính: xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với những người thuộc giới khác

- Nội dung của giáo dục giới tính: không chỉ bó hẹp ở việc giáo dục mối quan hệ giữa nam và nữ mà bao gồm cả việc giáo dục những mối quan hệ nam nữ trong đời sống cũng như trong học tập, lao động, nghỉ ngơi và giải trí Nói chung, giáo dục giới tính là giáo dục cho con người biết rèn luyện những phẩm chất giới tính nhằm phát huy thế mạnh của giới tính

b Theo Bách khoa toàn thư y học phổ thông - V A Pêtrôpxki chủ biên:

"Giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho nhi đồng, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giới tính", [tr 15 15]

Trang 34

- Định nghĩa khẳng định: việc giáo dục giới tính không chỉ gồm những biện pháp sư phạm mà phải bằng những biện pháp y học đứng dưới góc độ y khoa

- Định nghĩa nêu bật được đối tượng giáo dục giới tính là trẻ nhi đồng, thiếu niên, thanh niên

- Mục đích của giáo dục giới tính nhằm giúp con người có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giới tính

- Theo nghĩa rộng của giáo dục giới tính, ngoài góc độ giáo dục còn đứng ở góc độ y học để xem xét nội dung giáo dục giới tính giúp thế hệ trẻ bảo vệ sức khỏe của chính mình và những người khác trong quan hệ nam nữ

c Theo từ điển Bách khoa về giáo dục:

"Giáo dục giới tính là giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính Điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ trong lớp học từ nhà trẻ đến đại học giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ các cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính", [tr 16 15]

Phân tích khái niệm này ta thấy rõ những vấn đề được nêu ra hết sức thuyết phục

- Định nghĩa nêu bật được bản chất của công tác giáo dục giới tính: giáo dục giới tính

là sự định hướng cho thế hệ trẻ "làm một con người có giới tính" Việc làm cho một con người có giới tính một cách đúng đắn và rõ rệt quả thực là điều không phải dễ dàng, tuy nhiên lại hết sức cần thiết trong cuộc sống Chỉ khi con người hiểu rõ chức năng của giới tính cũng như hiểu rõ chức năng làm một con người có giới tính thì khi ấy con người trở thành con người đúng nghĩa Nhiều người không nhận thức được hay nhận thức chưa rõ ràng về giới tính của mình như việc thiếu nữ tính của phụ nữ hoặc thiếu nam tính của đàn ông là một tai hại ghê gớm, điều này biểu hiện là khi con người mất đi "cái tôi" thì đồng thời hệ thống quan

hệ với người khác giới cũng bị phá vỡ

Trang 35

Những đặc điểm nam và nữ hay "tính nam" và "tính nữ" đã nói không thể hình thành một cách tự nhiên mà đó là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng ; là kết quả của một quá trình được rèn luyện, được giáo dục Ngay cả chức năng giới tính quan trọng nhất và thiêng liêng nhất

mà thiên nhiên đã bẩm phú cho người đàn ông là chức năng truyền giống và ở người đàn bà

là chức năng sinh đẻ cũng cần được giải thích, làm sáng tỏ cơ sở khoa học của sự hoạt động

có quy luật của hành vi tình dục nhằm mang lại "sự an toàn và tự do" cho con người Con người chỉ cảm thấy "tự do" khi đã nắm vững những quy luật phát triển tâm sinh lý của con người mà thôi

- Giáo dục giới tính không phải tự phát mà giáo dục giới tính phải được thực hiện nhờ vào vai trò của cơ quan giáo dục, của nhà trường nói riêng và của xã hội nói chung Đó là những nơi có đủ diều kiện thuận lợi trong việc truyền thụ cho thế hệ trẻ những kiến thức giới tính một cách có hệ thống và khoa học Điều này khẳng định là việc giáo dục giới tính không phải là một điều gì đó cấm kỵ mà phải được tiến hành một cách công khai: đó là tiến hành ngay trong nhà trường và việc thực hiện nội dung giáo dục giới tính này phải được thực hiện bởi một lực lượng chuyên biệt là nhà giáo dục

- Cần hiểu rõ khái niệm giáo dục giới tính hơn khi phân biệt với giáo dục về tình dục Giáo dục về tình dục ở đây không phải là một điều gì quá ghê tởm hay quá kinh hãi với học sinh mà giáo dục tình dục là nhằm giúp cho học sinh có được kiến thức khoa học về sinh lý học, vệ sinh học và những vấn đề khác về giới tính và đời sống tình dục Lẽ dĩ nhiên, giáo dục về tình dục chỉ nên được bắt đầu khi các em dậy thì và có liên quan chặt chẽ với giáo dục giới tính

Như vậy, ở khái niệm này ta thấy:

- Mục đích giáo dục rất rõ ràng, chính xác và toàn diện: giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính; đó là người có đầy đủ những biểu hiện của một con người có đời sống lành mạnh, trong sáng

Trang 36

- Hình thức của việc giáo dục giới tính được khẳng định là tiến hành một cách công khai ở trên lớp học với đầy đủ học sinh cả nam lẫn nữ

- Đối tượng của giáo dục giới tính không chỉ là của riêng một lứa tuổi nào mà là tất cả các học sinh từ nhà trẻ đến nhi đồng, thiếu niên, thanh niên và sinh viên đại học hay với các lứa tuổi sau nữa đều được tiến hành giáo dục giới tính Điều quan trọng ở đây là việc lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục giới tính sao cho phù hợp với từng đối tượng nhất định

- Mỗi người sẽ có một đời sống giới tính khác nhau nhưng điều quan trọng là giúp cho học sinh hiểu và biết cách biểu lộ những cảm xúc của mình phù hợp với giới tính của mình Bên cạnh đó, nhằm giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự tin trong việc biểu lộ các cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính Đó vừa là mục đích và cũng là kết quả vô cùng quan trọng của việc giáo dục giới tính cho học sinh

Như vậy, khái niệm trên nêu bật được những vấn đề hết sức quan trọng của giáo dục giới tính Ta có thể khẳng định:

Giáo dục giới tính là một bộ phận quan trọng trong việc giáo dục và phát triển nhân cách hài hòa, cân đối và toàn diện cho các em học sinh và không thể thiếu được

2.2.3 Nội dung giáo dục giới tính

2.2.3.1 Khái niệm nội dung giáo dục giới tính

Nội dung giáo dục giới tính là hệ thống những tri thức về khoa học giới tính, những kĩ năng, kĩ xảo cùng những cơ sở hành vi, thế giới quan, đạo đức và những thói quen thể hiện rõ giới tính của mình phù hợp với yêu cầu của xã hội được hình thành ở người học thông qua quá trình giáo dục giới tính để chuẩn bị cho người học vững vàng, thuận lợi bước vào cuộc sống tương lai

Trang 37

2.2.3.2 Những căn cứ lựa chọn nội dung giáo dục giới tính

Sự lựa chọn nội dung giáo dục giới tính phải dựa trên những căn cứ và những tiêu chuẩn nhất định Theo tiến sĩ A.G Khơricôpva và D.B Kôlêxốp thì những căn cứ quan trọng nhất để lựa chọn nội dung giáo dục giới tính như sau:

a Trình độ chung của đối tượng giáo dục, khả năng của họ đối với việc nhận thức thông tin, phân tích thông tin ở những mức độ cao thấp khác nhau

b Sự quan tâm có chủ định hay quan tâm do tình cờ, ngẫu nhiên trong việc tiếp nhận những thông tin biểu hiện bằng lời hoặc những hình thức biểu hiện khác của thông tin

c Những đặc điểm hoạt động của đối tượng giáo dục cùng những đặc điểm hành vi của chúng và những mối quan hệ qua lại giữa chúng với những người cùng giới và những người khác giới

d Mức độ trưởng thành về mặt thể chất và tinh thần của đối tượng Những đặc điểm biến đổi sinh lý cơ thể của trẻ

e Qui luật chung của việc hình thành tập thể lớp và những đặc điểm cụ thể của lớp học

f Những đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình, đối tượng giáo dục và ảnh hưởng của nó đến việc giáo dục trẻ

2.2.3.3 Những vấn đề cơ bản trong nội dung giáo dục giới tính

a Những vấn đề sinh lý cơ thể, nguồn gốc giới tính, cấu tạo và chức năng của một số

bộ phận cơ thể, sức khỏe, vẻ đẹp cơ thể, đặc biệt là đời sống tình dục của con người

b Những vấn đề tâm lý xã hội như: Tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ, chọn bạn trăm năm, đời sống vợ chồng, cuộc sống gia đình

c Những vấn đề giới tính liên quan mật thiết với đạo đức, phong tục tập quán như: đạo đức giới tính, thẩm mỹ giới tính, phong tục tập quán về giới tính

Trang 38

d Những vấn đề cư xử và quan hệ nam nữ, đời sống thẩm mỹ, nếp sống giới tính bao gồm tư thế tác phong, hành vi cư xử trong đời sống giới tính

e Các bệnh về giới tính, các loại bệnh lây qua đường tình dục Như vậy, nội dung giáo dục giới tính bao gồm một loạt các vấn đề của Xã hội học, Đạo đức học, Tâm lý học, Giáo dục học, Sinh lý - Vệ sinh học

* Có thể tóm tắt những nội dung khác nhau vào các mặt:

- Những đặc điểm tâm sinh lý của em trai và em gái, của thanh nam và thanh nữ, ý nghĩa của những đặc điểm đó với mối quan hệ qua lại của các em và người khác giới trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

- Gia đình và các mối quan hệ gia đình

- Sự sinh đẻ và giáo dục con cái, sự kế tục của các thế hệ

- Vấn đề đạo đức giới tính

- Vấn đề vệ sinh giới tính [tr 39 24]

2.2.3.4 Nội dung giáo dục giới tính cho tuổi thanh niên (học sinh PTTH)

a Tìm hiểu nội dung giáo dục giới tính cho tuổi thanh niên trước hết phải khẳng định rằng:

- Việc giáo dục giới tính cho con người một cách đúng nghĩa và toàn diện phải được tiến hành ngay ở lứa tuổi tiền học đường và tiến hành xuyên suốt qua từng lứa tuổi khác nhau Điều quan trọng là việc lựa chọn nội dung giáo dục giới tính phải phù hợp với từng lứa tuổi

- Nội dung giáo dục giới tính phải thực hiện qua từng lứa tuổi như sau:

+ Nội dung giáo dục giới tính cho trẻ em trước tuổi học (Trẻ Nhà trẻ - Mẫu giáo) + Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi nhi đồng (Học sinh Tiểu học)

+ Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi thiếu niên (Học sinh THCS)

+ Nội dung giáo dục giới tính cho lứa tuổi thanh niên (Học sinh PTTH)

Trang 39

+ Nội dung giáo dục giới tính cho các giai đoạn tuổi sau tuổi thanh niên

b Nói đến nội dung giáo dục giới tính cho tuổi thanh niên cũng không thể bỏ qua những nội dung giáo dục giới tính hết sức cơ bản của lứa tuổi thiếu niên, lứa tuổi mà con người bước vào giai đoạn phát triển của tuổi dậy thì - giai đoạn hết sức quan trọng trong sự phát triển giới tính của mỗi người

Những nội dung giáo dục giới tính chủ yếu ở lứa tuổi này bao gồm:

- Giới tính, sự khác biệt tâm sinh lý giới tính ở nam và nữ

- Giai đoạn dậy thì và những hiện tượng tâm sinh lý quan trọng của lứa tuổi

- Những vấn đề cần chú ý về giới tính trong hoạt động của tuổi thiếu niên

- Chuẩn bị tâm lý cho tuổi dậy thì

c Dựa trên những căn cứ để lựa chọn nội dung giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính cho học sinh PTTH được khá nhiều nhà Tâm lý học, Giáo dục học cũng như nhiều nhà khoa học khác quan tâm Theo PGS PTS NGUYỄN VĂN LÊ, nội dung giáo dục giới tính dành cho học sinh PTTH bao gồm những vấn đề như sau: [tr 32 15]

1 Ôn lại và nâng cao những kiến thức về giải phẫu sinh lý và chức năng của cơ quan sinh dục nam, nữ:

- Cơ quan sinh sản nam

- Cơ quan sinh sản nữ

- Chức năng của cơ quan sinh dục nam và nữ

- Sự thụ tinh

2 Tính đạo đức trong quan hệ tình dục nam, nữ:

* Đối với các em nữ:

- Lòng tự trọng của người con gái, biết bảo vệ sự trong trắng

- Không khoan nhượng với những hành vi xâm phạm nhân quyền, xâm phạm tình dục

- Ý thức quan hệ trong giới hạn rõ ràng với những người khác giới

Trang 40

- Sự sáng suốt trong đối xử với người bạn nam trong tình yêu

- Ý thức trách nhiệm làm mẹ, rèn luyện các phẩm chất nữ tính như: kín đáo, nhẹ nhàng, bình tĩnh, dịu dàng

* Đối với các em nam:

- Tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ phẩm giá của bạn nữ, sẵn sàng giúp đỡ bạn nữ

- Ý chí kiềm chế dục vọng của bản thân trong đối xử, trong tình yêu

- Trung thực, thẳng thắn và chân thành đối với bạn nữ và trong tình yêu

- Có ý thức trách nhiệm và bổn phận của một người đàn ông

- Rèn luyện các đức tính của một người đàn ông thật sự: hào hiệp, vị tha, độ lượng, dũng cảm

4 Hôn nhân - Sự lựa chọn bạn đời:

- Tình yêu và sự lựa chọn bạn đời

- Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời

- Nguyên nhân phải lựa chọn bạn đời

- Hậu quả của việc lựa chọn bạn đời không phù hợp

- Hôn nhân - vai trò của hôn nhân trong cuộc sống của con người

- Tuổi kết hôn

- Chuẩn bị gì cho kết hôn

5 Thụ thai và sự phát triển của thai:

- Thai nghén - dấu hiệu thai nghén

Ngày đăng: 02/12/2015, 13:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Khách thể nghiên cứu của đề tài: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 1. Khách thể nghiên cứu của đề tài: (Trang 55)
Bảng 3. Đánh giá mức độ biết đối với nội dung giáo dục giới tính: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 3. Đánh giá mức độ biết đối với nội dung giáo dục giới tính: (Trang 57)
Bảng 4 : Tự đánh giá mức độ biết của học sinh đổi với từng nội dung cụ thế: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 4 Tự đánh giá mức độ biết của học sinh đổi với từng nội dung cụ thế: (Trang 59)
Bảng 5. Nhận thức về sự cần thiết của nội dung giáo dục giới tính: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 5. Nhận thức về sự cần thiết của nội dung giáo dục giới tính: (Trang 61)
Bảng 6. Nhận thức về sự cần thiết của từng nội dung cụ thể: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 6. Nhận thức về sự cần thiết của từng nội dung cụ thể: (Trang 64)
Bảng 7. Đánh giá chung nhận thức của học sinh PTTH đối với từng kiến thức cụ thể: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 7. Đánh giá chung nhận thức của học sinh PTTH đối với từng kiến thức cụ thể: (Trang 67)
Bảng 8. Nhận thức của học sinh PTTH về từng nội dung kiến thức cụ thể: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 8. Nhận thức của học sinh PTTH về từng nội dung kiến thức cụ thể: (Trang 70)
Bảng 9. Thái độ thích học nội dung giáo dục giới tính: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 9. Thái độ thích học nội dung giáo dục giới tính: (Trang 81)
Bảng 15. Thái độ học tập các nội dung giáo dục giới tính: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 15. Thái độ học tập các nội dung giáo dục giới tính: (Trang 97)
Bảng 16. Thái độ khi được đề nghị học thêm một số nội dung khác: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 16. Thái độ khi được đề nghị học thêm một số nội dung khác: (Trang 98)
Bảng 19. Bảng các nhận xét có điểm trung bình từ 1.00 đến 1.49: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 19. Bảng các nhận xét có điểm trung bình từ 1.00 đến 1.49: (Trang 106)
Bảng 21. Tương quan giữa nhận thức về sự cần thiết và thái độ học tập: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 21. Tương quan giữa nhận thức về sự cần thiết và thái độ học tập: (Trang 116)
Bảng 24. Nguồn cung cấp kiến thức về giới tính: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 24. Nguồn cung cấp kiến thức về giới tính: (Trang 122)
Bảng 27. Thái độ e ngại của học sinh khi học nội dung giáo dục giới tính: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 27. Thái độ e ngại của học sinh khi học nội dung giáo dục giới tính: (Trang 143)
Bảng 28. Thái độ e ngại của học sinh với từng nội dung cụ thể: - thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Bảng 28. Thái độ e ngại của học sinh với từng nội dung cụ thể: (Trang 145)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w