Tự ý thức có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người vì: Thứ nhất, tự ý thức giúp con người tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các qua
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Tự ý thức của sinh viên tại một số trường đại
h ọc Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các thông tin, d ữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích d ẫn đều được ghi rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong
lu ận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tp H ồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2013
Người cam đoan
PH ẠM THỊ KIM THOA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh
- Phòng KHCN – SĐH và các phòng ban của Trường Đại học Sư Phạm thành phố
Hồ Chí Minh
- Quí thầy cô trong khoa Tâm Lý – Giáo Dục Trường Đại học Sư Phạm thành phố
Hồ Chí Minh và quí thầy cô ở các khoa đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt khóa học
- TS Lê Xuân Hồng đã tận tâm hướng dẫn và giảng dạy tôi trong suốt thời gian thực
hiện đề tài cho tới nay
- Và các bạn cùng khóa học, đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong
học tập cũng như trong khi tôi thực hiện luận văn này
Tp H ồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2013
Người cảm ơn
PHẠM THỊ KIM THOA
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
L ỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 M ục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7
4 Gi ả thuyết nghiên cứu 7
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 7
6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1.1 Ở nước ngoài 10
1.1.2 Ở Việt Nam 12
1.2 Lý lu ận về ý thức, tự ý thức 15
1.2.1 Khái niệm về ý thức 15
1.2.2 Khái niệm về tự ý thức 18
1.2.3 Sự hình thành và phát triển tự ý thức cá nhân 25
1.2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tự ý thức cá nhân 29
1.3 T ự ý thức của sinh viên 33
1.3.1 Đặc điểm của sinh viên 33
1.3.2 Đặc điểm tự ý thức của sinh viên 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ Ý THỨC CỦA SINH VIÊN TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 48
2.1 Cách th ức nghiên cứu 48
2.1.1 Xây dựng bảng hỏi 48
2.1.2 Các thông số chung 49
2.2 K ết quả nghiên cứu 50
2.2.1 Tự ý thức của sinh viên biểu hiện ở tự nhận thức 50
2.2.2 Tự ý thức của sinh viên biểu hiện ở sự tự đánh giá 56
Trang 62.2.3 Tự ý thức của sinh viên biểu hiện ở sự tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi theo
mục đích tự giác của sinh viên 68
2.2.4 Kết quả nghiên cứu về tự ý thức của sinh viên nói chung 75
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự ý thức của sinh viên 78
2.2.6 Tương quan giữa các mặt cảu tự ý thức, nhóm nghiên cứu 87
2.3 M ột số biện pháp giúp nâng cao tự ý thức của sinh viên 88
2.3.1 Khảo sát ý kiến của sinh viên về những biện pháp được gợi ý: 88
2.3.2 Một số biện pháp nâng cao tự ý thức của sinh viên 90
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
1 K ết luận 94
2 Ki ến nghị 96
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 98
PH Ụ LỤC 102
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nước ta do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, tình hình thất nghiệp ngày càng tăng nhất là ở giới trẻ Và nước ta là nước có số lượng người trẻ tuổi thất nghiệp cao Theo điều tra của Bộ Giáo dục năm 2011 số sinh viên thất nghiệp chiếm 63% trên tổng số sinh viên vừa tốt nghiệp (trong trao đổi của GS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với báo Giáo dục Việt Nam) Do đó, mỗi sinh viên nếu
muốn tìm được một công việc tốt phù hợp thì cần phải tự ý thức về bản thân mình, tự điều
chỉnh và điểu khiển hành vi của mình, thể hiện mình có thể đáp ứng được yêu cầu của công
việc và của xã hội
Tự ý thức là mức độ phát triển cao nhất của ý thức Tự ý thức bắt đầu hình thành từ
tuổi lên ba Tự ý thức và ý thức khác nhau ở đối tượng mà nó hướng vào Đối tượng của tự
ý thức không phải là thế giới khách quan mà là chính bản thân chủ thể ấy Tự ý thức có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người vì: Thứ nhất, tự ý thức giúp con người tự nhận
thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội thông qua việc mỗi người tự trả lời những câu hỏi “tôi là ai?”, “tôi có vai trò gì?”, “tôi là người như thế nào?”, “tôi có thể làm được việc gì?”, “tôi phải trở thành người như thế nào?” ; thứ hai, từ việc nhận thức về mình, mỗi người sẽ tự tỏ thái độ, tự nhận xét, tự đánh giá bản thân bằng những rung cảm khác nhau; thứ ba, mỗi người tự định hướng, tự điều khiển, tự điều khiển hành vi của bản thân theo mục đích tự giác; cuối cùng là cá nhân có thể
tự rèn luyện, tự giáo dục và hoàn thiện bản thân
Ở tuổi sinh viên, nhân cách phát triển khá toàn diện và phong phú Trong đó có tự ý
thức phát triển một cách mạnh mẽ và sâu sắc Tự ý thức của sinh viên giúp họ có hiểu biết
về bản thân mình: thái độ, hành vi, cử chỉ của mình để chủ động hướng hoạt động của mình
đi theo những yêu cầu đòi hỏi của tập thể, của cộng đồng xã hội Chính phẩm chất nhân cách bậc cao này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực của những trí thức tương lai… Hơn nữa sự thể hiện tự ý thức ở mỗi sinh viên khác nhau về mức độ biểu hiện tự ý thức, về vấn đề biểu hiện, về luận cứ đánh giá bản thân…
Tự ý thức là một vấn đề được quan tâm nhiều của các nhà khoa học Có thể kể ra một vài nghiên cứu như: Trần Ninh Giang, (2005): “Vấn đề ý thức và tự ý thức trong tâm lý
Trang 9học”; Đỗ Long (2005): “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học tộc người”; Kiều Thị Thanh Trà (2010) “Biểu hiện tự ý thức của học sinh một số trường Trung học phổ thông tại Thành phố
Hồ Chí Minh”… Tuy nhiên đề tài nghiên cứu tự ý thức của sinh viên vẫn chưa có mà chỉ có
một vài đề tài nghiên cứu về tự đánh giá của sinh viên [4]
Về mặt lý luận tự ý thức của sinh viên phát triển ở mức cao Nhưng trong thực tế
cuộc sống hiện nay với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự phát triển của nền kinh tế
thị trường, sự hội nhập thế giới nên sinh viên tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau thì
tự ý thức của sinh viên ra sao? Tự ý thức của sinh viên biểu hiện như thế nào? Sinh viên quan tâm đến bản thân ở những đặc điểm nào? Những yếu tố nào tác động và chi phối đến
tự ý thức của sinh viên? Sinh viên khẳng định bản thân mình thông qua những gì? Khả năng
tự giáo dục của sinh viên ra sao? Tất cả đều là một ẩn số đang chờ chúng ta khám phá Do
đó cần thiết phải có một đề tài nghiên cứu về tự ý thức của sinh viên hiện nay
Từ những lý do trên người nghiên cứu xin lựa chọn đề tài: “Tự ý thức của sinh viên
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát tự ý thức của sinh viên tại một số trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh,
từ đó đưa ra giải pháp giúp nâng cao tự ý thức cho sinh viên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tự ý thức của sinh viên
- Khách thể nghiên cứu: sinh viên tại một số trường Đại học thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết nghiên cứu
Biểu hiện tự ý thức của sinh viên tại một số trường Đại học Thành Phố Hồ Chí Minh đạt mức độ khá
Sinh viên vẫn chưa đánh giá chính xác về khả năng của mình từ đó dẫn tới việc thể
hiện bản thân chưa phù hợp
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tự ý thức của sinh viên trong đó yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến tự ý thức là bạn bè và các kênh truyền thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa một số lí luận liên quan đến tự ý thức của sinh viên
Trang 10Khảo sát thực trạng tự ý thức của sinh viên tại một số trường Đại học tại Thành phố
Hồ Chí Minh
Đề ra biện pháp giúp nâng cao tự ý thức cho sinh viên
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 N ội dung
Đề tài chỉ tập trung khảo sát thực trạng tự ý thức của sinh viên tại một số trường Đại
học Thành phố Hồ Chí Minh ở các khía cạnh: một số biểu hiện tự ý thức của sinh viên, các
yếu tố tác động đến tự ý thức
Đề ra một số giải pháp giúp nâng cao tự ý thức cho sinh viên
6.2 Khách th ể
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ở 3 trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh:
- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Khoa học Xã Hội & Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Thể Dục Thể Thao Thành phố Hồ Chí Minh
Số lượng khách thể: 514 sinh viên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc: vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề
tài ta sẽ tìm hiểu tự ý thức của sinh viên diễn ra trên các mặt: tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi của bản thân theo mục đích tự giác
7.1.2 Quan điểm thực tiễn: nghiên cứu tự ý thức của sinh viên xuất phát từ thực tiễn
cuộc sống, có ý nghĩa thực tiễn, và giúp giải quyết được những vấn đề của thực tiễn đề ra
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu
- Cách thực hiện: Tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, sách,
tạp chí chuyên ngành, các thông tin … có liên quan đến đề tài Hệ thống hóa những tài liệu nói trên để xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài
7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 117.2.2.1 Phương pháp đều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp chính của đề tài này
- Mục đích: Thu thập thông tin từ sinh viên nhằm tìm hiểu về sự biểu hiện tự ý thức
của sinh viên
- Cách thực hiện: Phát cho sinh viên những phiếu thăm dò ý kiền Yêu cầu sinh viên
trả lời đầy đủ không bỏ sót câu nào
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: nhằm thu thập thêm thông tin sâu hơn về vấn đề nghiên cứu
- Cách thực hiện: đặt câu hỏi cho sinh viên trả lời thông qua các bảng hỏi phỏng vấn
7.2.2.4 Phương pháp toán thống kê
- Mục đích: xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu
- Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu được
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Ở nước ngoài
Tâm lý là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao với khả năng phản ánh thực
tại khách quan Ý thức là thuộc tính tâm lý chỉ có ở con người và nó giúp phân biệt người
với động vật, và nó được con người sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống, mọi khía cạnh của hoạt động nhằm cải tạo thế giới phục vụ cho lợi ích của mình Ý thức vốn là
một “đề tài kinh điển” Và những vấn đề liên quan đến ý thức hầu như chỉ được nghiên cứu nhiều trong triết học và tâm lý học
Tâm lý học duy tâm xem ý thức như một cái gì đó ở ngoài tâm lý (siêu tâm lý), khép kín một cách thần bí Tâm lý học duy tâm, tâm lý học hành vi cổ điển do J Watson sáng lập
đã loại trừ ý thức ra khỏi đối tượng nghiên cứu của trường phái này Mặc dù sau này các nhà tâm lý học hành vi mới như E.C.Tolman, B.F Skinner, đã phần nào nhận ra rằng trong nghiên cứu hành vi không thể không tính đến ý thức Song, về bản chất những nhà tâm lý
học này cũng chỉ mới tạo thêm một số yếu tố làm phức tạp thêm công thức S - R, chứ chưa
tạo ra một bước tiến mới về chất, chưa xem ý thức là vấn đề mấu chốt khi nghiên cứu hành
Đầu thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của tâm lý học Mác - xít được xây dựng trên nền
tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thì vấn đề ý thức, tự ý thức
mới dần được làm sáng tỏ và nghiên cứu triệt để
Những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô, đứng đầu là L.X.Vugotxki, đã chỉ ra rằng ý thức cũng như các hiện tượng tâm lý khác, là sự phản ánh
thế giới khách quan vào não người, chứ không phải cái gì huyền bí vốn có từ bên trong con người phát ra hay do một đấng siêu nhiên nào đó sinh ra rồi “nhập” vào con người Thành
Trang 13tựu này đã đặt tiền đề cho hàng loạt những công trình nghiên cứu tiếp theo về ý thức và tự ý
thức Các công trình của A.N.Leonchiev, V.A.Petrovxki, B.Ph.Lomov, K.K.Platonov, V.V.Stolin, I.I.Chetxnocova, đã làm sáng tỏ các khái niệm, cấu trúc, chức năng cũng như
sự hình thành và phát triển ý thức, tự ý thức [9], [11], [22]
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu tự ý thức khác như:
- Nhà tâm lý học người Đức, A.Pfender, đầu thế kỷ XX đã xây dựng khái niệm tự ý
thức từ sự phân biệt “Cái tôi” và tự ý thức Theo ông, tất cả các hiện tượng tâm lý là cảm xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không được hiểu là sự phản ánh mà như cái bên trong có sẵn Chủ thể tâm lý hình thành khả năng tự nhận thức về bản thân mình, hình ảnh của chính mình, hình ảnh này có hạt nhân và ngoại biên Hạt nhân gồm có cuộc
sống quá khứ của con người, ý thức về những khả năng hành động khác nhau Ngoại biên
gồm những gì nằm ngoài tâm lý như: quần áo, thân thể, tài sản Khi chính hình ảnh đó của
chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức tâm lý đặc
biệt là tự ý thức [18] Do đó, tự ý thức trong quan niệm của A.Pfenden giống như là màn ảnh, trên đó phóng chiếu biểu tượng về bản thân của chủ thể tâm lý
- Cùng nghiên cứu về tự ý thức, GS Philippe Rochat, thuộc khoa Tâm lý học, Đại
học Emory, Mỹ, đã có công trình về “Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc lộc ở những năm đầu đời” [45] Trong đó, ông đã phân tích năm mức độ tự ý thức của trẻ gồm có: Mức 0: Sự
hỗn loạn; Mức 1: Sự khác biệt; Mức 2: Sự định vị; Mức 3: Sự nhận ra; Mức 4: Sự bền vững;
Mức 5: Sự tự ý thức Thông qua các bài tập thí nghiệm trên trẻ ở các độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi
với gương soi, tác giả đã khẳng định mức độ của tự ý thức xuất hiện theo thứ tự thời gian, tương ứng với độ tuổi của trẻ Theo sự phát triển lứa tuổi, sự tự ý thức luôn luôn biến đổi ở các đối tượng có sự trải nghiệm khác nhau cho đến khi chết đi Do đó, khi nghiên cứu về sự
tự ý thức, tác giả đã rất xem trọng yếu tố trải nghiệm mà bỏ qua các yếu tố liên quan đến đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ, với vai trò là cơ sở
Nhà tâm lý học Pháp, P Janet, đã có bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết bản chất
của tự ý thức Quan niệm của Janet xuất phát từ việc tự thừa nhận tâm lý con người bị chế ước bởi quá trình tác động qua lại của xã hội Trong hoạt động tập thể và giao tiếp con người nhập tâm những phương thức hành vi, quan hệ, thái độ đối với thế giới bên ngoài của người khác Những phương thức hành vi được nhập tâm đó sẽ thể hiện thành phương thức hành vi của con người đó Quan điểm của P.Janet về tự ý thức, như thuộc tính cơ bản của nhân cách được hình thành trong hệ thống các mối quan hệ xã hội phức tạp Quan điểm đó
Trang 14đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quan niệm duy vật về bản chất của tự ý thức [18]
Các công trình nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của ý thức, tự ý thức trong đời sống tâm lý con người, cần tiếp tục được đào sâu nghiên cứu Tuy nhiên, ý thức, tự ý
thức vẫn là một lĩnh vực vô cùng phức tạp, cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và chính xác hóa
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam ý thức, tự ý thức là lĩnh vực còn ít được nghiên cứu cả về mặt lý luận và nghiên cứu thực nghiệm - ứng dụng Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, các nhà tâm lý
học Việt Nam đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu về vấn đề này
Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu lý luận của các tác giả như Lê Khanh (Bản chất của ý thức, năm 2003), Đỗ Long (Về vấn đề tự ý thức trong tâm lý học tộc người, năm 2005), Trần Ninh Giang (Vấn đề ý thức, tự ý thức trong tâm lý học, năm 2005),
Vũ Dũng (Ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia, năm 2009),… Các nghiên
cứu đã đi sâu vào các vấn đề lý luận, phương pháp luận về bản chất, cấu trúc của ý thức, tự
ý thức trong quá trình phát triển tâm lý con người Bên cạnh đó, các vấn đề về ý thức, tự ý
thức trong tâm lý tộc người, ý thức môi trường cộng đồng, ý thức quốc gia dân tộc, cũng được tiến hành nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu thực tiễn về ý thức và tự ý thức ở nước ta hiện nay cũng
bắt đầu được quan tâm Có thể kể ra như sau:
- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thạc về tự ý thức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được
tiến hành trên 326 trẻ tại các trường mẫu giáo ở Hà Nội năm học 1998 – 2000 Kết quả nghiên cứu cho thấy tự ý thức của trẻ 5 - 6 tuổi thể hiện cao ở tất cả các mặt; đa số trẻ có
mức độ đánh giá phù hợp cao Tự ý thức của trẻ phát triển không đồng đều ở các mặt tự ý
thức và ở từng cá nhân trẻ Đồng thời, đề tài cũng đi đến khẳng định tự ý thức của trẻ em
mẫu giáo mang tính trực quan
- Nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị về tự ý thức nghề nghiệp của sinh viên năm 2010 trên 320 sinh viên năm thứ ba, thứ tư và thứ năm của 3 trường đại học kỹ thuật trên địa bàn Hà Nội (Bách khoa, Xây dựng, Thủy lợi) Kết quả cho thấy sáu thành tố tự
nhận thức và tự nhận thức nghề nghiệp đã được xác định trên cơ sở quan điểm rằng tự ý
thức là công cụ tự điều chỉnh của chủ thể hoạt động Các số liệu điều tra trên sinh viên cũng
Trang 15chỉ ra sự phát triển cao hơn của tự ý thức nghề nghiệp ở những sinh viên tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp trong tương lai
- Đề tài của sinh viên Kiều Thị Thanh Trà: “Biểu hiện tự ý thức của học sinh một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2010 Nghiên cứu được thực hiện trên 465
học sinh thuộc 4 trường: Trường Trung học thực hành Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường THPT Hùng Vương, Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Trường THPT Lê Thánh Tôn
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số học sinh THPT ở TP.HCM hiện nay có biểu hiện tự ý
thức ở mức khá, có mối liên hệ ở mức trung bình giữa biểu hiện tự ý thức thể hiện trên ba
mặt Trong đó cặp nhận thức và thái độ có tương quan mạnh nhất Và yếu tố giáo dục gia đình và bản thân các em là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến tự ý thức của học sinh
Mặt khác, những khía cạnh khác nhau của tự ý thức như vấn đề “cái tôi”, tự nhận
thức, tự đánh giá, … đã được quan tâm nghiên cứu khá nhiều Có thể kể đến như:
- Đề tài: “Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh” của Cao Hải An năm 2010 Tác giả tiến hành nghiên cứu trên 200 sinh viên, 20 cán bộ Đoàn thanh niên và Hội sinh viên, 20 giáo viên chủ nhiệm Kết quả nghiên
cứu của luận văn cho thấy sinh viên trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh có mức độ đánh giá về bản thân ở mức trung bình Và sự đánh giá về bản thân của sinh viên trường Đại
học Công nghiệp Quảng Ninh có mối tương quan nhất định với kết quả học tập của sinh viên ở trường [49]
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Đẹp, 2007, “Những yếu tố tác động đến tự đánh giá của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh” trên 234 sinh viên ba trường Đại học tại TP.HCM là Đại học Sư Phạm, Đại học Kinh Tế và trường Đại học dân lập Văn Hiến Đề tài
đã kết luận là tự đánh giá của sinh viên ở mức trung bình trong đó tự đánh giá sự “quan tâm
của gia đình” là cao nhất
- Đáng chú ý nhất là các đề tài nghiên cứu về “cái Tôi” với tư cách là hạt nhân của tự
ý thức trong công trình “Tính cộng đồng - tính cá nhân và “cái Tôi” của con người Việt Nam hiện nay” do Đỗ Long và Phan Thị Mai Hương làm chủ nhiệm Đề tài đã xem xét, bổ sung những quan điểm truyền thống về tính cộng đồng - tính cá nhân cũng như khái niệm
“cái Tôi” của người Việt Nam từ góc độ tâm lý học
- Nghiên cứu của Đỗ Ngọc Khanh về “Tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở ở
Hà Nội” Đề tài được thực hiện nghiên cứu 471 em học sinh đại diện cho 5 trường THCS
Trang 16(Chu Văn An, Giảng Võ, Nguyễn Trãi, Phương Liệt và Huy Vãn) tại 4 quận nội thành Hà
Nội Công cụ nghiên cứu là thang đo tự đánh giá được sử dụng rộng rãi nhất trong thời điểm
hiện tại “Perceived compentence scale for children” được Susan Harter xây dựng năm 1979 Thang đo bao gồm 5 yếu tố: khả năng học tập, cảm xúc, khả năng giao tiếp xã hội, các hành
vi đạo đức và thể chất phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS ở Việt Nam Cuối cùng tác giả
đã kết luận rằng học sinh THCS ở Hà Nội có mức độ tự đánh giá tổng thể ở mức độ trung bình Nói chung, sự tự đánh giá về học tập, đạo đức, xã hội đạt mức trung bình cao Sự tự đánh giá về mặt thể chất ở mức trung bình, trong đó các em học sinh đánh giá sức khỏe tích
cực hơn đánh giá về hình dáng của bản thân Sự tự đánh giá về cảm xúc đạt mức trung bình
thấp Các em có sự tự đánh giá về cảm xúc tiêu cực liên quan đến khía cạnh học tập, trong khi đó cảm xúc tích cực thường liên quan đến quan hệ xã hội
- Tác giả Bùi Thị Hồng Thắm với đề tài: “Khả năng tự đánh giá các phẩm chất ý chí
của học sinh THPT” năm 2010 Đề tài được nghiên cứu trên 275 học sinh của 3 trường là: THPT chuyên Trần Hưng Đạo, THPT Phan Bội Châu, THPT dân lập Lê Lợi tại TP Phan Thiết Kết quả nghiên cứu tác giả đã khẳng định đa phần các em chưa có khả năng tự đánh giá biểu hiện ở mối tương quan thấp giữa tự đánh giá phẩm chất ý chí với nhận thức và đánh giá của các bên thứ hai
- Đề tài “Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10-15 tuổi” do Văn Thị Kim Cúc thực
hiện trên khách thể là 120 trẻ (60 nam - 60 nữ) ở một số trường THCS tại Hà Nội, bằng thang do Florence Sordes - Adler, Gvvenaelle Lévêque, Nathalie Oubravrie, Claire Sa fort - Mottay Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy ở thanh thiếu niên 10 - 15 tuổi, sự tự đánh giá bản thân bộc lộ tính tích cực ở lĩnh vực học đường thể hiện rõ khả năng đáp ứng thích hợp của các em vào hoạt động chủ đạo, vào các quan hệ trong cuộc sống học đường ở
lứa tuổi này
- Công trình nghiên cứu “Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu
học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh.” của tác giả Lê Ngọc Bảo Trâm Tác giả
tiến hành nghiên cứu trên 100 học sinh và kết quả cho thấy tự nhận thức của học sinh lớp 4,
lớp 5 về các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình và tính cách, năng lực học tập ở mức
Trang 17cách cụ thể đến tự ý thức của thế hệ trẻ nói chung, của sinh viên nói riêng Vì vậy, người nghiên cứu thực hiện đề tài theo hướng tìm hiểu tự ý thức của sinh sinh viên ở TP Hồ Chí Minh trong thời điểm hiện tại và dự định phân tích ở các thành phần tự nhận thức; tự đánh giá; tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi theo mục đích tự giác của tự ý thức
là khoa học cụ thể về ý thức, vấn đề ý thức của con người phải là một bộ phận của đối tượng
của tâm lý học Ông tuyên bố: “Tâm lý học mà không có lý luận về ý thức thì còn tệ hơn cả chính trị kinh tế học không có học thuyết về giá trị thặng dư” Có nhiều quan điểm về ý thức dưới các góc độ khác nhau:
Theo nghĩa thông thường, ý thức dùng để chỉ những thái độ hay ứng xử của con
người mà họ nhận biết được tính chất hợp lý, đúng đắn dựa trên sự tuân thủ những quy định
của pháp luật hay chuẩn mực, yêu cầu của các nhóm xã hội, cộng đồng Ý thức theo nghĩa này là có hiểu biết, tự giác và hành động phù hợp.[13]
Theo quan điểm Triết học duy vật biện chứng, ý thức về mặt bản chất, là sự phản
ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan [23]
- Khả năng của con người tái hiện hiện thực vào trong tư duy
- Sự nhận thức trực tiếp, tức thời về hoạt động tâm lý của bản thân sự hiểu biết trực
tiếp những việc bản thân mình làm
- Sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ, hành động cần phải có
- Khả năng của con người phản ánh và tái hiện thực tiễn khách quan vào trong tư duy Đây là hình thức phản ánh cao nhất của sự phản ánh tâm lý đặc trưng cho con người xã
hội phát triển và có quan hệ trực tiếp với ngôn ngữ
- Sự nhận thức trực tiếp, tức thời của mỗi người về thế giới xung quanh, về những suy nghĩ, thái độ, hành động của mình đối với những sự vật bên ngoài và với bản thân
Trang 18Trong tâm lý h ọc ý thức là vấn đề cơ bản, quyết định của khoa học tâm lý Do đó mà
ý thức là một lĩnh vực nghiên cứu thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà Tâm lý học như:
năng quan sát, ghi nhận, cảm nhận, nhận định đối với các sự vật bên ngoài cái tôi và đối với các suy tư, cảm xúc và hình ảnh bên trong cái tôi Ý thức như thế có thể gọi là một quang năng nhận định và là một quang năng định hướng với bốn chức năng: chức năng cảm nhận, suy tư, đánh giá và trực kiến Thể hiện các chức năng nói trên, ý thức phải liên hệ với cái Tôi như chủ thể, như động lực, như đầu não, như trung tâm [21] Cũng theo quan điểm này,
S Freud đã đề cập đến ý thức trong quan hệ giữa hệ thống vô thức - ý thức trong đời sống tinh thần của con người Ông đưa ra nhân tố “Cái tôi” được ví như là cán cân giữa “cái ấy”
và “cái siêu tôi”, nó luôn cố gắng xử lý sự bướng bỉnh và nôn nóng của “cái ấy”, đối chiếu hành động của mình với hiện thực, giảm căng thẳng tâm lý và đồng thời đáp ứng với khát
vọng thường xuyên vươn tới sự hoàn thiện của “cái siêu tôi” Từ việc phân tích các nhân tố trong hệ thông cấu trúc trong bộ máy tâm thần, Freud ví ý thức như một cái máy chiếu quét sáng trên sân khấu, những gì nằm ngoài vùng sáng nhưng vẫn trong tầm chiếu của nó sẽ trở thành tiềm ý thức, và “cái tôi” có trách nhiệm điều khiển máy chiếu này.[27]
- Theo V.N.Miaxisep nghiên cứu về thái độ, coi ý thức là sự thống nhất của phản ánh
thực tại và thái độ tích cực, có mục đích của con người đối với hiện thực khách quan
- Theo E.V.Sorokhova, “Ý thức được đặc trưng bởi thái độ tích cực của con người đối với thực tại, với bản thân, với cử chỉ và hành vi, hoạt động của mình - hướng vào đạt
mục đích đặt ra Ý thức là năng lực (khả năng của con người) hiểu thế giới xung quanh, các quá trình diễn ra trong đó, các tư tưởng, hành động và thái độ của mình đối với thế giới cũng như với chính bản thân mình”
- Theo K.K.Platonov cho rằng, ý thức là sự thống nhất của mọi hình thức nhận thức,
trải nghiệm của con người và thái độ của họ đối với cái mà họ phản ánh - là sự thống nhất
của tất cả các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý của con người như là một nhân cách
- Theo X L.Rubinstein, coi ý thức - đó không chỉ là sự phản ánh, mà còn là thái độ
của con người đối với xung quanh Ý thức là sự thống nhất giữa tri thức và trải nghiệm [9]
- Còn A.N.Leonchiev, nhà tâm lý học người Nga nổi tiếng cho rằng ý thức trực tiếp
là bức tranh về thế giới bày ra trước chủ thể, hành động và trạng thái của chủ thể Đối với người không thông thạo thì sự tồn tại của bức tranh chủ quan ấy ở chủ thể, dĩ nhiên, không đặt ra một vấn đề lý luận nào cả: trước mắt chủ thể là thế giới, chứ không phải thế giới là
Trang 19bức tranh về thế giới [10]
- Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Văn Đồng trong “Tâm lý học phát triển”, đã
đưa ra khái niệm về ý thức dưới dạng ý thức xã hội là: nhận thức của cá nhân về suy nghĩ, động cơ, tình cảm và ứng xử của bản thân và của người khác [6]
- Theo Ph ạm Minh Hạc thì ở một con người, ý thức là năng lực hiểu biết được các
tri thức về thực tại khách quan nói riêng mà người đó tiếp thu được và năng lực hiểu được
thế giới chủ quan trong chính bản thân người đó
phản ánh tâm lý, của khả năng tự điều chỉnh và chỉ có ở người như một sinh vật xã hội –
lịch sử”
Tóm lại, các tác giả đã đưa ra các quan điểm khác nhau về ý thức, song có thể hiểu ý
thức:
+ Là năng lực hiểu được các tri thức về thế giới khách quan và năng lực hiểu được
thế giới chủ quan trong chính bản thân mình
+ Là sự thống nhất của tất cả các quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lý của con người với tư cách là một nhân cách
+ Là sự thống nhất của tất cả các hình thức nhận thức và trải nghiệm của con người cùng thái độ của người đó đối với cái được phản ánh
+ Là sự tích lũy và sử dụng thông tin về xung quanh và về chính bản thân mình để
giải quyết các vấn đề của cuộc sống [9]
Trong phạm vi đề tài người nghiên cứu đồng ý với cách hiểu “Ý thức là hình thức
phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được những tri thức mà con người đã tiếp thu được (là tri thức về tri thức,
phản ánh của phản ánh)”.[41]
1.2.1.2 Thu ộc tính của ý thức
Ý thức có các thuộc tính cơ bản sau:
a Ý th ức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới Đó là nhận
thức các bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ Và còn dự kiến trước kế hoạch hành
vi, kết quả của nó, làm cho hành vi mang tính có chủ định
b Ý th ức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới Ý thức không chỉ nhận thức
sâu sắc về thế giới mà còn thể hiện thái độ đối với nó C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Ý
thức tồn tại đối với tôi là tồn tại một thái độ nào đó đối với sự vật này hay sự vật khác, động
Trang 20vật không biết “tỏ thái độ” đối với sự vật nào cả…”
c Ý th ức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người Trên cơ sở
nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới Ý thức điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề ra Vì thế ý thức có khả năng sáng tạo V.I.Lênin nói: “Ý thức của con người không chỉ phản ánh hiện thực khách quan mà còn sáng tạo nó”
d Kh ả năng tự ý thức: con người không chỉ ý thức về thế giới mà còn, ở mức độ cao
hơn, có khả năng tự ý thức, có nghĩa là khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình
Như vậy, ý thức là chức năng cao nhất của tâm lý Ý thức tiếp nhận những thông tin trong môi trường và thông tin về bản thân, chọn lọc và biểu thị những rung cảm tương ứng,
từ đó vạch ra kế hoạch hành động thích hợp và hiệu quả Với những đặc điểm này, ý thức được coi là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi cao nhất của con người với thế giới –
Khả năng tự ý thức
1.2.2 Khái niệm về tự ý thức
1.2.2.1 Định nghĩa tự ý thức
Trên phương diện Triết học duy vật biện chứng tự ý thức được xem xét ở việc con
người tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan, ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ
với ý thức về thế giới bên ngoài, tự nhận thức về bản thân mình như một thực thể hoạt động
có cảm giác có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, nhận thức các cử
chỉ, hành động, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng lợi ích của mình Với vai trò là một hiện tượng tâm lý cá nhân, tự ý thức xuất hiện đồng thời với ý thức, là cái phát sinh của ý thức nhưng thể hiện ở một giai đoạn phát triển cao hơn, giúp con người nhận rõ bản thân mình,
tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra
- Từ điển tiếng Anh của Oxford University định nghĩa tự ý thức (self-consciousness)
là “ý thức về sự tồn tại những suy nghĩ và hành vi của mình”
- Trong tự điển của Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô, tự ý thức được định nghĩa là
“sự hiểu biết đầy đủ về bản thân mình, về giá trị và vai trò của bản thân, trong cuộc sống, trong xã hội”
- Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt
Trang 21Nam, tự ý thức là: “Việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình về hiểu biết, phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng của mình với tư cách là một nhân cách đang tư duy và hoạt động có ý thức Nhờ tự ý thức, con người tự tách mình khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí và vai trò của mình trong thế giới đó Tự ý thức hình thành không những trong
từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ…”[46]
Theo từ điển tâm lý học do A.V.Petrovski và M.G.Iarosevski chủ biên, tự ý thức được xem như là “quan niệm về cái tôi”, “hình ảnh cái tôi” của cá nhân – đó là “Hệ thống
biểu tượng của con người về bản thân tương đối ổn định, ít nhiều được ý thức, được trải nghiệm như là một hệ thống độc nhất vô nhị mà trên cơ sở của nó, cá nhân xây dựng sự tác động qua lại của mình với những người khác, với thế giới bên ngoài”[19]
Như vậy, về mặt thuật ngữ, tự ý thức được đề cập đến có chung những điểm thống
nhất như sau: Tự ý thức là ý thức con người hướng về bản thân mình, nhận thức về sự tồn
tại, hành động, suy nghĩ,… của cá nhân Tự ý thức còn là ý thức về vị trí, giá trị của mình trong mối quan hệ với những người xung quanh
xem xét nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn với nhiều
gốc độ và cách nhìn nhận khác nhau:
- Tự ý thức là việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình về hiểu biết,
phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng… của mình với tư cách là một nhân cách đang tư duy
và hoạt động có ý thức [47]
- Theo S Franz, tự ý thức là “ý thức về chính bản thân mình, là sự trở nên có ý thức đối với những hiểu biết về bản thân, sự trở nên có ý thức về những xúc cảm riêng của bản thân” [8]
- Tương tự, A G Xpirkin cũng cho rằng “Tự ý thức là sự tự giác của con người về hành động cũng như kết quả hành động của bản thân mình, về tư tưởng, tình cảm, bộ mặt đạo đức, hứng thú, lý tưởng động cơ và hành vi Đó là sự đánh giá tổng thể về bản thân và
vị trí của mình trong cuộc sống” [44; tr.148 – 149]
- Theo V.A.Kruchetxki cho rằng tự ý thức là sự nhận thức về bản thân như một thành viên của các mối quan hệ với thế giới xung quanh, với những người khác, về hành vi, hành động, suy nghĩ, cảm giác, toàn bộ các phẩm chất đa dạng của nhân cách
- Theo K.K Platonov, tự ý thức là sự phản ánh của mỗi người về vai trò của mình trong tập thể và xã hội Sự nhận thức của con người về cái tôi, các hành vi của mình và sự
Trang 22điều chỉnh tích cực của chúng trong xã hội
- Tự ý thức theo P.R Chamata - là sự nhận thức của con người về bản thân trong
những quan hệ của mình với thế giới bên ngoài và với những người khác
- Theo I.I Chetxnocova sự tự ý thức như là một quá trình phức tạp nhiều bậc trên cơ
sở các quá trình tâm lý: quá trình nhận thức, xúc cảm và ý chí [9]
- Khi xem xét nội dung của tự ý thức trong một cấu trúc tầng bậc mà bậc phát triển
cuối cùng là tự đánh giá, L.S Kôn đã đi đến định nghĩa: Tự ý thức là một cấu trúc tâm lý
phức tạp bao gồm: thứ nhất, ý thức về tính đồng nhất của mình; thứ hai, ý thức về cái tôi của
bản thân mình như là cơ sở của tính tích cực hoạt động; thứ ba, ý thức về những thuộc tính
và phẩm chất tâm lý của mình và thứ tư là hệ thống xác định những ý kiến tự đánh giá về
- Tự ý thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình [17, tr.46]
Phạm Minh Hạc cũng khẳng định: “ở đây ý thức xuất hiện như năng lực hiểu được chính mình: gọi là tự ý thức Đó là năng lực phân tích các hiện tượng tâm lý trong ta, diễn
biến của nó, dự kiến kết quả và khi có kết quả thì phân tích lợi hại,… của kết quả”.[12, tr.62]
Cùng với việc xác định tự ý thức là một dạng phát triển cao của ý thức một số tác giả
đã xác định thành phần của tự ý thức bao gồm: “khả năng tự nhận thức về mình; tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển điều chỉnh, tự hoàn thiện mình” [42],
Như vậy, khi xem xét về bản chất tâm lý học của tự ý thức, các tác giả đã đưa ra
những cách hiểu, khái niệm khác nhau nhưng đều thống nhất xem tự ý thức là “ý thức xuất
hiện như năng lực hiểu được chính mình” [12; 62] Trong các định nghĩa trên, các tác giả cũng đề cập đến nội dung của tự ý thức Đó là toàn bộ những đặc điểm, những thuộc tính về
cơ thể và tâm lý, nhân cách của bản thân chủ thể
Tóm lại, từ việc tìm hiểu các quan điểm trên người nghiên cứu đồng ý với quan điểm cho rằng: “Tự ý thức là ý thức về bản thân, bao gồm năng lực nhận thức và xác định thái độ đối với bản thân, năng lực tự điều khiển, điều chỉnh hành vi, thái độ cũng như toàn bộ sự
Trang 23phát triển nhân cách”
1.2.2.2 C ấu trúc tự ý thức
Từ việc phân tích định nghĩa trên có thể thấy cấu trúc của tự ý thức bao gồm: tự nhận
thức về bản thân; tự đánh giá về bản thân; tự điều chỉnh, tự điều khiển bản thân theo mục đích tự giác Cụ thể từng thành phần như sau:
Tự nhận thức bắt đầu từ rất sớm của tuổi thơ và khi đó nó đã có những hình thức và
nội dung đặc trưng Đầu tiên, đứa trẻ học cách phân biệt bản thân nó với thế giới vật chất –
hiện tại đứa trẻ chưa biết cái gì liên quan tới cơ thể của nó Sau đó, nó nhận thức bản thân
với một tư duy khác – nó là thành viên của môi trường xã hội vi mô Trong giai đoạn này đứa trẻ đã bắt đầu quan sát các hiện tượng giống nhau Mặc dù vậy, đứa trẻ vẫn còn khó khăn trong việc phân biệt nó với những người khác Đến tuổi vị thành niên, cá nhân bắt đầu
nhận thức về “cái tôi lý tưởng” của mình qua hiểu biết về các đặc điểm tâm lý, tính cách và các phẩm chất đạo đức của bản thân
Quá trình tự nhận thức là quá trình kích thích mạnh mẽ sự lĩnh hội một cách tích cực các kinh nghiệm văn hoá của cá nhân Đối với lứa tuổi vị thành niên, quá trình này bắt đầu
với câu hỏi: “Tôi là ai?”, “Tại sao mình lại không như vậy?”, “Tôi sẽ cần trở thành một người như thế nào?” Đó là sự nhận thức về cái tôi lý tưởng và đây chính là bắt đầu của sự
tự hoàn thiện cá nhân [3]
Khi đề cập đến vấn đề “cái tôi” lý tưởng, Carl Rogers cũng đã nhấn mạnh “cái tôi” lý tưởng được hiểu là tự nhận thức mà cá nhân muốn trải qua nhất [24]
Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ đặc điểm bên ngoài, năng lực, phẩm chất đến vị thế xã hội Cụ thể là:
- Hình thức bên ngoài: là những đặc điểm về mái tóc (màu gì? dài hay ngắn? mềm hay cứng? ), làn da (màu trắng hay ngăm đen? da khô hay mềm mại?), vóc dáng (to hay
nhỏ?), chiều cao (cao hay thấp?), cân nặng (ốm hay mập?), …
- Nội dung bên trong: năng lực (kết quả học tập, năng lực làm việc, năng khiếu,…),
phẩm chất (tính cách, khí chất)
Trang 24- Vị thế và các quan hệ xã hội: vị trí của cá nhân trong gia đình (quan hệ với ba, mẹ, anh, chị, em, …), trong nhà trường (quan hệ với thầy, cô, bạn cùng lớp, bạn cùng trường) và các tổ chức xã hội (Đoàn, Đội, câu lạc bộ, …)
Tóm lại, Tự nhận thức về bản thân là quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm,
phẩm chất, … của bản thân, làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi
của mình
b T ự đánh giá về bản thân
Bộ phận cấu thành trung tâm của tự ý thức là tự đánh giá của nhân cách - sự suy xét
của con người về mức độ có những phẩm chất, thuộc tính của bản thân so với khuôn mẫu chuẩn – biểu hiện thái độ con người đánh giá bản thân mình (ở cấp độ có thể nó phần nào được đồng nhất với ý kiến riêng của “cái Tôi”)
Cũng như nhà tâm lý học V.P Levcôvich đã định nghĩa: “Tự đánh giá là một giai đoạn cao của tự ý thức, nó bao gồm không những nhận thức bản thân mà còn có sự đánh giá đúng sức lực và khả năng của mình, bao gồm cả thái độ phê phán đối với bản thân [38]
Theo Franz, sự tự đánh giá gồm các quá trình sau:
- Quá trình soạn thảo và tiếp nhận các thông tin khác nhau về bản thân
- Những quá trình dẫn đến sự xác định đơn giản về những hiện tượng tâm lý, những thái độ đang tồn tại của bản thân
- Cá nhân xem xét những hiện tượng đã được xác định đó trong hệ thống tiêu chuẩn đánh giá để biết các hiện tượng tâm lý tồn tại ở mức nào
- Phát biểu thành lời dưới hình thức tự đánh giá
Các thông tin có thể thu được từ hai nguồn khác nhau:
- Cá nhân tự quan sát bản thân, tự phân tích mình, thông qua quá trình tự nhận thức
bản thân từ đó có được thông tin về mình
- Thu thập thông tin của những người khác về mình Kết quả thu thập thông tin phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Yếu tố bên ngoài (nội dung, chất lượng, độ phong phú của thông tin…), yếu tố bên trong (trình độ nhận thức của cá nhân, mối quan hệ giữa chủ thể và người phát ra thông tin…) Từ việc thu thập thông tin, cá nhân sẽ có những cứ liệu để xem xét
những hiện tượng về cơ thể và tâm lý, hành vi, thái độ của bản thân, từ đó đối chiếu với hệ
thống tiêu chuẩn đánh giá xem nó tồn tại ở mức độ nào
Tự đánh giá là hệ thống thái độ đối với bản thân Từ việc nhận thức bản thân, cá nhân
tự nhận xét, đánh giá, phê bình những nét tâm lý của mình Hệ thống thái độ đối với bản
Trang 25thân là rất đa dạng, tự hài lòng, tự hào, tin tưởng đến thất vọng, xấu hổ hay cảm thấy tự ti về chính mình
Tóm lại, sự tự đánh giá chung của nhân cách có thể dựa trên cấu trúc các đánh giá bộ
phận: đánh giá về trí tuệ, khả năng tiếp xúc và ảnh hưởng đến những người khác trong giao
tiếp, về ổn định cảm xúc và tốc độ phản ứng, sự tự tin, tự nhận thức
c T ự điều chỉnh, tự điều khiển bản thân theo mục đích tự giác
Việc tự điều chỉnh, tự điều khiển bản thân theo mục đích tự giác được thể hiện qua hành vi của mỗi cá nhân trong các mối quan hệ Thông qua quá trình tự nhận thức, tự đánh giá bản thân, cá nhân sẽ tự điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với bản thân, phù hợp với mục tiêu hướng tới, phù hợp với những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức
xã hội, kiềm chế những hành vi sai trái một cách tự giác, tiến đến tự giáo dục và hoàn thiện
bản thân, đáp ứng yêu cầu của xã hội
1.2.2.3 Vai trò c ủa tự ý thức
Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, với cấu trúc gồm có: tự nhận thức bản thân; tự đánh giá; tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân để từ đó cá nhân có thể tự giáo dục và hoàn thiện mình Chính nhờ sự tự ý thức về bản thân, con người tự tách mình ra
khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí và vai trò của mình trong thế giới đó Tự ý
thức hình thành không những trong từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ
Mặt khác, kỹ năng tự ý thức ở mỗi người sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo
dục ở mỗi gia đình, nhà trường và các trung tâm giáo dục khác
Một trải nghiệm xã hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành tự ý thức là gắn
bó an toàn với người chăm sóc đầu đời Sandra Pipp và đồng nghiệp đã làm một test phức
tạp với những trẻ 2 và 3 tuổi Test này đánh giá hiểu biết của trẻ về tên, giới tính cùng với các tác vụ về tự ý thức của chúng Kết quả là những trẻ gắn bó an toàn trình diễn tốt hơn hẳn
những bạn gắn bó không an toàn Sự khác biệt này gia tăng theo lứa tuổi từ 2 đến 3 [40]
Mặc dù chúng ta tự hiểu mình hơn những người khác nhưng an toàn nhất đối với một
cá nhân là hãy tự tìm hiểu về bản thân thông qua tiếp xúc và trải nghiệm với những người khác Sự tăng trưởng của tự ý thức và những hiểu biết nảy sinh về bản thân như một thành viên của các tương tác xã hội là tiền đề cho rất nhiều hiểu biết và kỹ năng xã hội Ví dụ:
những trải nghiệm lương tâm như xấu hổ phụ thuộc vào mức độ phát triển của tự ý thức Hơn thế nữa, những trẻ đã đạt được tự ý thức về cơ bản sẽ trở nên dễ hòa hợp và có kỹ năng
Trang 26hòa nhập xã hội Chúng sẽ thích thú bắt chước những hành động của bạn chơi Thỉnh thoảng chúng còn có thể cộng tác để đạt được mục tiêu chung
Khi trẻ bắt đầu thể hiện tự ý thức, chúng trở nên nhạy cảm hơn với sự khác biệt về tính cách của những người xung quanh và bắt đầu phân loại bản thân theo những tiêu chí này Đây là cái tôi được phân loại Những tiêu chí xã hội đầu tiên mà trẻ dùng là tuổi, giới tính và những giá trị xã hội Ví dụ trẻ nói: “Cháu là cậu bé lớn chứ không phải em bé”, “Mai
là bạn gái tốt”
Cho đến gần đây các nhà tâm lý học phát triển vẫn cho rằng tự ý thức của trẻ tiền tiểu
học có tính cụ thể, thể chất và không chứa những hiểu biết tâm lý về bản thân Khi được hỏi
về bản thân (“cháu là người như thế nào?”), trẻ từ 3 đến 5 tuổi thường nói nhiều về những đặc trưng thể chất của bản thân (“Cháu cao hơn bạn”), về những đồ vật mà chúng sở hữu (“Cháu có xe đạp ba bánh”) hoặc về những hành động mà chúng đặc biệt tự hào (“Cháu tự mình đi đến trường mẫu giáo”) Những mô tả tâm lý theo kiểu: “Cháu sung sướng lắm”,
“Cháu thích mọi người” rất hiếm khi xuất hiện trong câu chuyện của trẻ ở độ tuổi này
Rebecca Eder thấy rằng khi hỏi trẻ từ ba tuổi rưỡi đến năm tuổi những câu hỏi có đáp
án cho phép lựa chọn theo kiểu “Cháu thích chơi một mình hay chơi với bạn?” (yêu cầu ít
kỹ năng nói hơn câu hỏi “Cháu là người như thế nào?”) thì câu trả lời của trẻ sẽ có tính đặc trưng tâm lý xã hội Và những đặc trưng này khá bền vững theo thời gian Những nghiên
cứu của Eder cho thấy trẻ có khái niệm về bản thân khá rõ rệt
Ở độ tuổi thiếu niên, trẻ tự mô tả bản thân bằng một danh sách những đặc tính thể
chất, ứng xử và dáng vẻ bề ngòai khác nhằm nhấn mạnh những phẩm chất bên trong của chúng – ví dụ như nét tính cách, hệ thống giá trị, niềm tin và nhân sinh quan Càng lớn thì
mô tả của thiếu niên về bản thân càng trừu tượng hơn, càng mang nét tâm lý rõ rệt hơn, càng
ít tự tin và kém thành thật hơn Tác giả cũng đưa ra 3 ví dụ minh họa cho quan điểm này như sau:
Trẻ chín tuổi: “Tôi là Bruce C (cả họ lẫn tên) Mắt và tóc tôi màu nâu Tôi yêu thể thao Gia đình tôi có bảy người Tôi có đôi mắt rất to! Tôi có rất nhiều bạn bè! Tôi sống ở… Tôi có chú cao tới gần hai mét Thầy giáo của tôi tên là… Tôi chơi khúc côn cầu Tôi là người khỏe nhất lớp Tôi thích ăn Tôi yêu trường tôi.”
Mười một tuổi rưỡi: “Tôi tên là A (chỉ có họ) Tôi là một người… một cô gái… một con người thẳng thắn Tôi không xinh Tôi học cũng thường thôi Tôi đánh đàn viôlông rất hay Tôi hơi cao so với bạn bè Tôi thích một vài bạn trai Tôi thuộc kiểu người bảo thủ Tôi
Trang 27bơi rất tốt Tôi luôn cố giúp đỡ mọi người Tôi thường vui vẻ nhưng đôi khi tôi mất bình tĩnh Tôi không được như một vài bạn trai và gái khác Tôi không biết các bạn trai có thích tôi không?”
Mười bảy tuổi: “Tôi là một con người… là một cô gái… là một cá nhân… Tôi sinh dưới chòm sao song ngư Tôi là một người ủ rũ, không dứt khoát, có tham vọng Tôi ham
hiểu biết Tôi rất cô đơn Tôi là người Cộng hòa Tôi là người tự do Tôi là người tiến bộ Tôi là người bảo thủ Tôi là người tự do giả danh Tôi là người vô thần Tôi là người không thuộc loại nào cả” [6, tr.450 – 455]
Tuổi sinh viên: sinh viên không chỉ trả lời “Tôi là ai?” mà còn: “Tôi là người thế nào?”, “Tôi có những phẩm chất gì?”, “Tôi có xứng đáng không?” v.v Hơn thế họ còn có
khả năng đi sâu lý giải câu hỏi: “Tại sao tôi là người như thế?” Từ đó sinh viên có hiểu biết
về thái độ, hành vi, cử chỉ của mình để chủ động hướng hoạt động của mình đi theo những yêu cầu đòi hỏi của tập thể, của cộng đồng xã hội
1.2.3 Sự hình thành và phát triển tự ý thức cá nhân
Có nhiều quan điểm khác nhau về sự hình thành và phát triển tự ý thức cá nhân
* Theo lý thuy ết xã hội - tâm lý của E Erikson, sự phát triển nhân cách được chia
thành tám giai đoạn có liên quan đến tám thời kỳ quyết định [30; tr.161 - 166], trong đó sáu
thời kỳ đầu gắn liền với sự nảy sinh và phát triển tự ý thức:
- Giai đoạn 1, “Sự tin cậy cơ bản” (khoảng từ 0 đến 1 tuổi): ý thức cơ bản về sự đáng tin cậy của chính bản thân trẻ từ cảm giác là những người khác chấp nhận nó, là từ sự quen thuộc gia tăng với những thôi thúc của cơ thể nó, đặc biệt là trong sự tương tác tin cậy của người mẹ (người thay thế)
- Giai đoạn 2, khoảng từ 2 đến 3 tuổi: Ý thức tự kiểm soát cùng sự lo sợ phải tách
khỏi bố mẹ Trong một xã hội hoạt động tốt, ý thức tự chủ được động viên ở trẻ, được giữ
suốt cuộc đời bởi các cấu trúc chính trị, kinh tế xã hội
- Giai đoạn 3, Sáng kiến mặt kia là tội lỗi (Khoảng từ 4 đến 5 tuổi): "Tin chắc là mình”, "là" một con người, trẻ bây giờ phải tìm ra nó sẽ là "người loại gì"
- Giai doạn 4, Công nghệ, mặt kia là thấp kém (Khoảng từ 6 tuổi đến giậy thì): ý
thức công nghiệp, cảm giác về sở trường và làm chủ
- Giai đoạn 5, Bản sắc và khước từ, mặt kia là sư lan toả của bản sắc (Tuổi vị thành niên): Lòng tin, tự chủ, chủ động sáng kiến và công nghệ hợp thành một bản sắc đầy đủ
Trang 28hơn, độc thoại “là mình hoặc không phải là mình”, đi tìm chính mình thông qua các nhóm đồng đẳng, câu lạc bộ, đạo giáo, các phong trào chính trị, v.v
- Giai đoạn 6: Thân mật và đoàn kết mặt kia là cô lập (Đầu tuổi người lớn): nâng cao
bản sắc của chính mình, xúc tiến sự phát triển nhân cách để hòa nhập vào cộng đồng
* V.C Merlin cho r ằng, có 4 giai đoạn tương ứng với các giai đoạn cuộc đời:
- “Ý thức và sự đồng nhất” - năm đầu đời - tự phân tách và cho mình nhập cuộc
- “Ý thức cái tôi” - năm thứ hai, thứ ba - ý thức bản thân như chủ thể hoạt động
- “Ý thức các thuộc tính tâm lý của mình nhờ khái quát những gì tự quan sát được
- Tự đánh giá đạo đức - xã hội (tuổi thanh niên)
* Nhà tâm lý h ọc I.I Chetxnocova cho rằng chỉ có hai mức độ phát triển tự ý thức:
- So sánh "cái tôi" và "cái người khác" (tự tri giác, tự quan sát)
- "Cái tôi và cái bản ngã” (tự nhận thức trên cơ sở tự phân tích, tự suy luận; con người hành động tương ứng với động cơ; các động cơ được đánh giá theo nhu cầu của xã
hội và bản thân ) [9]
V.V Xtôlin cho r ằng, có 3 mức độ phát triển tự ý thức; mỗi mức tự ý thức thể hiện
như cơ chế liên hệ ngược với nội dung và chức năng khác nhau:
- Mức "cơ thể" - sự phán ánh của chủ thể trong hệ thống tính tích cực của cơ thể và tương ứng với mức này, đơn vị của tự ý thức có bản chất nhận thức – cảm giác
- Mức "cá thể" - sự phản ánh trong hệ thống hoạt động đối tượng tập thể của nó và trong các quan hệ do hoạt động này quy định Đơn vị của tự ý thức ở đây là sự tiếp nhận đánh giá của người khác về mình và sự tự đánh giá tương ứng; sự nhận diện về lứa tuổi, giới tính và xã hội của bản thân
- Mức "nhân cách" - sự phản ánh trong hệ thống phát triển nhân cách gắn với nhiều
loại hoạt động Đơn vị của tự ý thức ở đây là ý riêng bị mâu thuẫn được báo hiệu dưới hình
thức thái độ tình cảm - giá trị đối với bản thân
Theo S.L.Rubinstein cho rằng: Trong sự phát triển của tự ý thức diễn ra một loạt các
mức độ từ sự nhận thức đơn giản về bản thân dẫn tới sự nhận thức ngày càng sâu sắc hơn
Từ sự nhận thức sâu sắc đó gắn liền với một sự tự đánh giá Trong đó trọng điểm của những người đang trưởng thành ngày càng đi sâu hơn từ những biểu hiện bên ngoài đến những
phẩm chất tâm lý bên trong Từ sự phản ánh những mối liên hệ ngẫu nhiên đến sự phản ánh tính cách một cách trọn vẹn
Từ đó S.Franz khẳng định: Quá trình tự ý thức được thực hiện trong các quá trình
Trang 29tâm lý bộ phận và trong thực tế của một nhân cách, những quá trình tâm lý đó không thể tách rời nhau, bao gồm:
- Thứ nhất: Bên cạnh những quá trình cung cấp tài liệu ban đầu (tự cảm giác, tự quan sát, so sánh những kết quả thu được) thông qua quá trình tự nhận xét với những nguồn thông tin của những người khác về bản thân mình Quá trình này là mở đầu cho sự tự đánh giá, nhận xét ban đầu về mình
- Thứ hai: Là những quá trình dẫn đến những xác định đơn giản về bản thân
- Thứ ba: Là quá trình dẫn đến sự tự đánh giá, ví dụ như quá trình dẫn đến việc khẳng định thành tích học tập của mình thuộc loại nào (loại tốt hoặc kém)
- Thứ tư: “Là quá trình dẫn đến sự tự phê phán”
Qua ý kiến của S Franz cho thấy: Tự ý thức là sự nhận thức về bản thân mình, nó bao gồm không những sự hiểu biết về những phẩm chất, những năng lực của bản thân mà cả
việc xác định thái độ đối với bản thân Tự ý thức hay là tự nhận thức về bản thân mình được hình thành trong cuộc sống và hoạt động của con người
Như vậy, Quá trình phát triển tự ý thức gắn bó chặt chẽ với quá trình hình thành nhân cách Sự tự nhận thức của cá nhân được thực hiện trên cơ sở nhận thức về người khác và về môi trường xung quanh, có nghĩa là tự ý thức nảy sinh trên cơ sở ý thức đạt được trình độ phát triển nhất định Ý thức đặt tiền đề nảy sinh ra tự ý thức
* Trong quá trình phát tri ển cá thể, thời điểm xuất hiện nhân cách thường gắn với
những biểu hiện đầu tiên của tự ý thức
- Tuổi lên 3, “Cái tôi” của đứa trẻ được nảy sinh và hình thành theo mức độ lĩnh hội các kiến thức về thế giới bên ngoài, về những người khác và về bản thân mình Trong quá trình hoạt động có đối tượng, trò chơi, đứa trể dần tách biệt bản thân với những người khác xung quanh nó, nghĩa là ở đây diễn ra quá trình phân tách “cái tôi” và “cái không phải tôi”
rồi đến “tự tôi” [9] Cùng với sự hình thành "cái tôi", tính tự ý thức của trẻ cũng manh nha ở
thời kỳ này Đứa trẻ mong muốn người lớn thừa nhận nó, khen ngợi nó; và ngược lại nó rất
khổ tâm khi mọi người không bằng lòng Sự khen ngợi, tán thưởng của người xung quanh là nguồn cổ vũ quan trọng giúp trẻ hình thành tình cảm tự hào, tự khẳng định mình Trẻ thường tự cố gắng trong hành động để được người lớn khen thưởng Đây chính là cơ hội tốt
để trẻ điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực mà người lớn qui định.[28]
- Tuổi mẫu giáo "cái tôi" phát triển mạnh và dần dần trở thành ý thức về bản thân
Trang 30Trẻ một mặt ngày càng tách mình ra khỏi người lớn, mặt khác muốn bắt chước để xử sự như người lớn Lúc đầu ý thức về bản ngã của trẻ chưa phục tùng những qui luật, qui tắc khách quan Nghĩa là trẻ chưa phân biệt đâu là ý muốn chủ quan, đâu là những điều phải tuân theo
Nó nhìn nhận đánh giá sự vật khách quan theo ý muốn của mình Piaget gọi đây là biểu hiện
của tính "tự ngã trung tâm" Thông qua hoạt động chơi nhất là hoạt động đóng vai theo chủ
đề thì vào cuối tuổi mẫu giáo đứa trẻ nhận thức ra mình là một thành viên của xã hội
- Tiếp theo, trong quá trình phát triển, trong hoạt động, trong các quan hệ tác động liên nhân cách, mặt nội dung của tự ý thức - sự nhận thức “cái tôi” được bổ sung, làm phong phú và từ chỗ “cái tôi muốn” chuyển sang “cái tôi có thể” - quy định mức độ tự đánh giá
của nhân cách Nhân cách được phát triển đến tuổi thiếu niên với phẩm chất nhân cách nổi
bật là tự ý thức phát triển mạnh, đạt đến mức khá cao Thiếu niên có ý thức về mình là một nhân cách có quyền được tôn trọng, được độc lập và được tin cậy như mọi người lớn khác
Họ tích cực lĩnh hội từ thế giới người lớn những giá trị, những chuẩn mực và phương thức hành vi khác nhau, nhờ đó những phẩm chất mới về tự ý thức, tự đánh giá được hình thành Thiếu niên có nhu cầu hiểu biết những đặc điểm của bản thân, suy nghĩ về chính mình và tự đánh giá về mình để đi đến chỗ hài lòng hay bất mãn với chính mình Thiếu niên thường tự phân tích nhân cách của mình (ưu điểm và nhược điểm) và coi sự phân tích đó như là một phương tiện cần thiết để điều chỉnh, tổ chức những mối quan hệ đối với hoạt động, với bạn
bè, với người lớn Xu hướng chung là thiếu niên thường tự thấy chưa hài lòng về mình Điều quan trọng là thiếu niên thường suy nghĩ về mình một cách có chủ định, trở thành quá trình độc lập bên trong và thường có ý nghĩa điều chỉnh hành vi, hoạt động, giao tiếp
- Đến 15, 16 thì phát triển mạnh Biểu hiện đặc trưng là thanh niên nhận thức được
những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng Ở mức cao hơn, đó
là khả năng tự đánh giá về mình theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lý, đạo đức Hơn thế nữa đầu tuổi thanh niên tự đánh giá về hình ảnh cơ thể của bản thân một cách tỉ mỉ, nghiêm khắc Điều này phát triển ở tuổi thiếu niên, nhưng đến đầu tuổi thanh niên thì bộc lộ mạnh mẽ
- Khi cá nhân bước vào giai đoạn trưởng thành với tư cách là một chủ thể xã hội Tự
ý thức phát triển đến mức cao Ở mức độ phát triển này, cá nhân có thể tác động một cách
có ý thức không những nhằm biến đổi hiện thực xung quanh mà còn có thể tác động đến điều khiển sự phát triển tâm lý, nhân cách của bản thân mình
Trang 311.2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tự ý thức cá nhân
1.2.4.1 Gia đình
Gia đình bao gồm nhiều yếu tố phức hợp như: huyết thống, tâm lý, văn hoá và kinh
tế, thông qua đó mỗi cá nhân có sự liên hệ với gia đình Gia đình chính là môi trường văn hóa - xã hội đầu tiên của mỗi cá nhân Chính vì vậy, gia đình có ảnh hưởng đặc biệt tới sự hình thành và phát triển nhân cách nói chung, tự ý thức nói riêng ở mỗi cá nhân
I.X.Kôn từng nhận định: “Những người đầu tiên có ý nghĩa nhất trong cuộc đời của đứa trẻ dĩ nhiên là bố mẹ Ảnh hưởng của họ không chỉ mạnh mẽ, toàn diện mà còn lâu dài
nhất Phong cách giáo dục gia đình sẽ để lại dấu ấn không phai mờ trong tính cách của trẻ” Ông bà, bố mẹ chính là những người thầy đầu tiên trong cuộc đời của mỗi người, là tác nhân quan trọng chăm sóc, giáo dục cá nhân đạt được các giá trị xã hội cơ bản; là màng lọc giúp
trẻ em khắc phục được những ảnh hưởng tự phát từ môi trường xã hội, là tấm gương để các
em noi theo và phấn đấu,… dần dần thích ứng tích cực với cuộc sống xã hội Những giá trị được tiếp nhận từ tuổi thơ trong gia đình không chỉ là “hành trang” cho cá nhân bước vào
cuộc sống xã hội mà còn là những giá trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tự ý thức, tự đánh giá
của cá nhân
Tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường gia đình đến sự phát triển của cá nhân phụ thuộc vào kiểu quan hệ trong gia đình, phong cách chăm sóc và giáo dục con và các mô hình văn hóa gia đình [16, tr.70]
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định được các kiểu quan hệ gia đình: Quan hệ
nồng ấm – chấp nhận và yêu cầu cao đối với con; Quan hệ nồng ấm – dễ dãi, hay cho phép; Quan hệ lạnh nhạt – chấp nhận và yêu cầu cao; Quan hệ lạnh nhạt và dễ dãi Và mỗi kiểu gia đình có những tác động riêng đến sự phát triển của trẻ Chẳng hạn, trẻ em sống trong gia đình với kiểu quan hệ nồng ấm - chấp nhận và yêu cầu cao đối với con, thường phát triển tốt hơn về các mặt nhận thức, xúc cảm và ý chí, dễ dàng hòa nhập vào cuộc sống xã hội cũng như phát triển khả năng tự ý thức, tự đánh giá bản thân tốt hơn so với trẻ em trong các gia đình nồng ấm nhưng dễ dãi hay gia đình lạnh nhạt
Còn về phong cách giáo dục: Có nhiều kiểu chăm sóc giáo dục con trong gia đình Trong đó có ba kiểu giáo dục dựa trên ba phong cách dạy con điển hình của cha, mẹ: phong cách độc đoán, phong cách dân chủ và phong cách tự do Theo nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, đối với trẻ trước tuổi học nếu được giáo dục trong kiểu gia đình dân chủ thường tự
Trang 32tin, vui vẻ, hòa đồng, có khả năng tự điều khiển, điều chỉnh hành vi, làm chủ bản thân cho phù hợp với yêu cầu của hoàn cảnh xã hội và có khả năng tự ý thức tốt hơn các trẻ em được nuôi dạy trong kiểu gia đình độc đoán hay tự do
Hơn thế nữa thông qua mối quan hệ liên nhân cách trong gia đình đặc biệt là quan hệ
bố mẹ - con cái; tính cách của ông bà, bố mẹ, văn hóa gia đình có những ảnh hưởng nhất định đến tự ý thức của trẻ Trẻ thường xem những hành động lời nói, cách ứng xử của ông
bà, bố mẹ là những chuẩn mực, hình mẫu để trẻ học hỏi, là khung quy chiếu giúp trẻ so
sánh, đánh giá những phẩm chất tâm lý của bản thân
1.2.4.2 B ạn bè
Bên cạnh yếu tố gia đình bạn bè có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân nói chung, tự ý thức nói riêng Sự ảnh hưởng đó diễn ra theo các khía cạnh:
Thứ nhất, bạn bè là những mô hình xã hội để trẻ thực hiện hành vi của mình Theo các nghiên cứu của nhà tâm lí học M A Bandura đã cho thấy ảnh hưởng của cơ chế học tập hành vi phổ biến ở trẻ em là bắt chước các khuôn mẫu hành vi của người khác, mà trước hết
và gần gũi là hành vi của bạn Nếu đứa trẻ nhìn thấy bạn của mình cư xử như thế nào, trẻ sẽ
bắt chước cách hành động đó trong những tình huống tương tự Trên thực tế, trẻ em có thể
bắt chước ở bạn những hành vi tốt và không tốt Đứa trẻ càng ít tuổi càng dễ dàng bắt chước hành vi của bạn một cách không có chủ đích
Thứ hai, bạn bè là chuẩn để trẻ so sánh hành vi xã hội của mình Bên cạnh sự đánh giá của người lớn, bạn bè là chuẩn để trẻ so sánh hành vi xã hội của bản thân Trẻ thường có khuynh hướng so sánh bản thân với bạn bè để lượng giá, nhận ra những ưu điểm, khuyết điếm của mình
Thứ ba, bạn bè chính là tấm gương, phản chiếu, giúp mỗi người phát hiện ra chính mình trong nhóm, tập thể Trong quá trình tương tác với nhóm bạn, những hành vi của cá nhân sẽ được tiếp nhận và phản hồi theo sự cảm nhận của bạn, nhờ quan sát các phản ứng đáp lại đó, cá nhân có thể nhận ra hiệu quả tác động của mình, và từ đó điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp
- Thứ tư, bạn bè cũng chính là những tác nhân củng cố hành vi xã hội được lặp lại ở
cá nhân Những hành vi xã hội của cá nhân sẽ được duy trì nếu nó nhận được sự ủng hộ, tán thành của bạn bè xung quanh; và ngược lại hành vi sẽ bị dập tắt nếu bị bạn bè phản đối
1.2.4.3 Nhà trường
Trang 33Nhà trường là một thiết chế xã hội, có chức năng đặc thù là xã hội hoá cá nhân So
với tác động của gia đình, của nhóm bạn và của các lực lượng xã hội đối với sự phát triển
của cá nhân, sự tác động của giáo dục nhà trường sâu sắc, mạnh mẽ, toàn diện và triệt để
nhất
Nhà trường ngoài việc cung cấp những kiến thức phổ thông cơ bản, nhà trường còn
phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẫm mĩ, lao động, , tạo mọi điều kiện biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục cho mỗi cá nhân Để hình thành năng lực tự giáo
dục cho mỗi cá nhân, trước hết, nhà trường phải giúp cho học sinh phát triển năng lực tự ý
thức tích cực và phù hợp
Ảnh hưởng của nhà trường đến sự phát triển tự ý thức cá nhân thể hiện rất đa dạng, trong đó những yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất chính là cách thức, nội dung giáo dục và môi trường văn hóa học đường Thông qua hoạt động dạy học và giáo dục, các mối quan hệ giao tiếp trong nhà trường (bạn bè, thầy – trò,…) mà cá nhân tiếp thu, lĩnh hội được các chuẩn mực ứng xử, hành vi xã hội, định hướng giá trị xã hội để hình thành ý thức cá nhân Đây chính là cơ sở nền tảng giúp cá nhân có được nhận thức, thái độ đúng đắn về bản thân, điều chỉnh hành vi của bản thân cho phù hợp với chuẩn mực xã hội dẫn tới sự hoàn thiện tự
ý thức bản thân
1.2.4.4 Các y ếu tố xã hội khác
Môi trường xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người bằng cơ chế xã hội hóa cá nhân Bên cạnh đó, xã hội còn tác động đến mỗi cá nhân thông qua dư luận xã hội Dư luận xã hội có tác dụng xây dựng và uốn nắn hành vi của con người, giúp con người có nhận thức, thái độ, cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực
xã hội
Nền kinh tế theo cơ chế thị trường cùng với sự trao đổi, giao lưu văn hóa đã kích thích mạnh mẽ tính tích cực, tính linh hoạt năng động và sáng tạo của con người Bên cạnh
đó cũng không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực như đề cao chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ,
lối sống thực dụng, sống gấp, sống vội, Chính những tác động này đã dẫn đến sự mâu thuẫn trong hệ thống giá trị xã hội, gây không ít khó khăn cho giới trẻ trong việc xác định giá trị cho bản thân nói riêng và tự ý thức nói chung
Truyền hình, máy tính, intenet và các phương tiện thông tin khác đang ngày càng có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của cá nhân Thông qua truyền hình, máy vi tính, internet, ngay từ lúc còn bé, trẻ đã có thể được tiếp cận với các khuôn mẫu xã
Trang 34hội phong phú và đa dạng mà trẻ chưa có cơ hội tiếp cận thực tế bên ngoài Tuy nhiên, không phải lúc nào những gì trẻ tiếp cận đều phản ánh đúng khuôn mẫu thực Như vậy rất
dễ tạo sự ngộ nhận hay nghi ngờ ở trẻ em Chẳng hạn, những hiện tượng tiêu cực trong xã
hội, hình ảnh bạo lực, quan hệ giới tính lệch lạc, xuất hiện tràn lan trên các phương tiện thông tin sẽ dẫn đến sai lầm trong nhận thức của trẻ về khuôn mẫu nhân cách và hành vi xã
hội được mong đợi Từ dó, trẻ sẽ có xu huớng “nhiễm” những giá trị sai lệch chuẩn mực xã
hội hay ứng xử thiếu phù hợp, dẫn đến sai lệch trong ý thức cá nhân
Bên cạnh đó, Truyền hình, máy tính và phương tiện truyền thông hiện đại khác là công cụ giáo dục đắc lực Thông qua các kênh thông tin này trẻ được tiếp cận với nhiều nguồn kiến thức, thông tin khác nhau phong phú một cách sinh động hấp dẫn giúp nâng cao
nhận thức cá nhân, hoàn thiện nhân cách nói chung và nâng cao tự ý thức nói riêng Tuy nhiên, việc tiếp xúc với những thông tin không phù hợp cũng gây cản trở cho việc sai lệch trong ý thức trẻ đối với một vấn đề xã hội nói chung và với bản thân nói riêng
Tóm lại, nền kinh tế thị trường, môi trường đa văn hóa cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin dẫn đến những thay đối đáng kể trong đời sống xã hội Sự thay đổi này đã tác động không nhỏ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ nói chung
và sinh viên nói riêng
1.2.4.5 Cá nhân v ới tư cách là chủ thể tâm lý
Lý luận tâm lý học đã chỉ ra rằng: trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách thì hoạt động của cá nhân đóng vai trò quyết định Những kinh nghiệm xã hội - lịch sử loài người, nền văn hoá xã hội được cá nhân tiếp thu và lĩnh hội thông qua hoạt động, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, yếu tố cá nhân đóng vai trò quyết định trong đó có sự tự giáo
dục của cá nhân Như vậy, bản thân cá nhân cùng với tính tích cực hoạt động và giao lưu
của mình chính là yếu tố quyết định tự ý thức
Vai trò quyết định của cá nhân thể hiện ở việc thông qua “bộ lọc cá nhân”, cá nhân tự
nhận thức, tự lựa chọn, tiếp nhận những giá trị nào để theo đuổi, tiếp nhận sự đánh giá của
những người xung quanh như thế nào? – đồng ý hay không đồng ý, biết định hướng và điều
chỉnh bản thân như thế nào cho có ý nghĩa, biết lựa chọn những gì là đúng đắn, phù hợp với chính bản thân và với xã hội Con người là một thực thể xã hội luôn hoạt động tích cực không ngừng với mong muốn hoàn thiện bản thân Sức mạnh của con người thể hiện ở chỗ
bản thân nó có thể uốn nắn mình, phát triển và làm cho mình mỗi ngày một tốt đẹp hơn
Trang 351.3 Tự ý thức của sinh viên
1.3.1 Đặc điểm của sinh viên
1.3.1.1 Khái ni ệm sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có gốc từ tiếng La tinh "Student", nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức Sinh viên là những người đang chuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội Các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa
học, sản xuất hay hoạt động xã hội của họ đều phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề
Sinh viên là con người thuộc một lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên có thể được xác định về ba phương diện: sinh lí, tâm lí và xã hội
Phương diện sinh lí: Tuổi sinh viên được xem xét từ 19 đến 25 tuổi, sự phân chia này
chỉ mang tính chất tương đối Lứa tuổi được bắt đầu sau khi kết thúc phổ thông trung học
chấm dứt ở tuổi 24 – 25, vì ở tuổi 24 - 25 con người đã hoàn tất sự phát triển về thể chất (thường nữ sớm hơn nam từ 1 đến 2 năm), đây là tuổi mà con người đã đạt đến mức hoàn thiện tất cả các hệ thống thần kinh, cơ xương… Các tố chất thể lực đều phát triển mạnh như
sức nhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmon Trọng lượng não ở tuổi này đạt ở trọng lượng tối
đa (khoảng 1.400g) và chứa khoảng 100 tỉ nơron Nơron của tuổi sinh viên hoàn hảo hơn, cách li tốt, đốt nhánh nhiều so với lứa tuổi trước Slâyben đã tính được nhiều tế bào thần kinh não đến tuổi sinh viên có thể nhận tin từ 1.200 nơron sau và ước tính có tới 2/3 số kiến
thức học được trong một đời người do được tích lũy trong thời gian này Ở lứa tuổi sinh viên còn có nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền đã được biến đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện
sống và giáo dục [34, tr.58-59]
Phương diện tâm lý: Bước sang tuổi sinh viên, các chức năng tâm lý cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy Các nghiên cứu tâm lý
học cho thấy rằng ở tuổi này, các hoạt động tư duy của sinh viên rất tích cực và có tính độc
lập, tư duy lý luận phát triển mạnh, có khả năng khái quát các vấn đề, nhờ đó mà tự mình phát hiện ra cái mới Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo
- Về phương diện xã hội, là đặc trưng quan trọng nhất của tuổi sinh viên thể hiện ở
mức độ xã hội, ở kế hoạch chuẩn bị tham gia vào một phạm vi cơ bản của đời sống, tham
Trang 36gia vào một cộng đồng xã hội nào đó như cộng đồng của những người làm thầy thuốc, thầy giáo, những kĩ sư của các ngành công nghiệp, những tập thể làm công tác nghiên cứu khoa
học v.v
Xem xét sinh viên ở bình diện nhân cách thì đó là giai đoạn quá độ của việc hình thành nhân cách mà cận dưới của nó là sự chín muồi về sinh lí và cận trên là có nghề nghiệp
ổn định và bắt đầu bước vào một phạm vi hoạt động lao động Nghiên cứu sinh viên ở góc
độ ý thức thì đó là quá trình hình thành thế giới quan nắm vững các giá trị và các tiêu chuẩn
về ý thức nghề nghiệp
Vai trò của sinh viên: Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị Sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho
một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội Chính sinh viên
là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau có
cấu trúc của tầng lớp tri thức xã hội Các tổ chức chính trị, xã hội, dòng tộc gia đình có nhiều kỳ vọng đối với sinh viên
1.3.1.2 Các ho ạt động cơ bản của sinh viên
* Hoạt động học tập
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học tập Mặc dù chưa có sự thống
nhất hoàn toàn trong việc quan niệm về hoạt động học tập, và mỗi một định nghĩa thường
nhấn mạnh một khía cạnh nào đó theo quan điểm của tác giả, nhưng có điểm chung của hoạt động học tập là có mục đích tự giác, có ý thức về động cơ và trong đó diễn ra các quá trình
nhận thức, đặc biệt là quá trình tư duy
Trong các tài liệu tâm lí học gần đây nêu ra 5 vấn đề cơ bản nói lên bản chất của hoạt động học tập:
- Đối tượng của hoạt động học tập là các tri thức kĩ năng, kĩ xảo
- Mục đích của hoạt động này hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động
- Hoạt động học tập là loại hoạt động lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
- Hoạt động học tập không phải là hoạt động chỉ tiếp thu những tri thức của bản thân
hoạt động (những hành động học tập thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao)
* Hoạt động học tập của sinh viên
Hoạt động học tập của sinh viên cũng có bản chất như vậy và có thể định nghĩa: Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lí được tổ chức một cách độc đáo của sinh
Trang 37viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao
Những nét đặc trưng cho hoạt động này là sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ, trong đó bao gồm các quá trình tâm lí cao, các hoạt động khác nhau và nhân cách người sinh viên nói chung
* Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên
Thứ nhất, có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động: tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên gia tương lai
Thứ hai, hoạt động học tập của sinh viên diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó
phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo
Thứ ba, phương tiện hoạt động học tập của sinh viên là các thư viện với sách vở, phòng thực nghiệm với các thiết bị bộ môn
Thứ tư, tâm lí diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng
mạnh mẽ về trí tuệ Họ phải chịu một sự quá tải và điều đó thể hiện rất rõ các kì kiểm tra, thi, bảo vệ khoá luận, luận văn
Thứ năm, hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập trí tuệ cao
Từ những đặc điểm trên cho thấy nét đặc trưng trong hoạt động học tập của sinh viên
là sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ bao gồm việc thực hiện các quá trình tâm lí cao (tư duy, xúc cảm, ý chí), các động cơ khác nhau và có thể nói về toàn bộ nhân cách người sinh viên
Sự tự ý thức về học tập là cái cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên Tự ý thức
về động cơ, mục đích, biện pháp học tập, hiểu sâu sắc rằng chính mình là chủ thể của hoạt động nên bản thân phải là người tổ chức, định hướng, cụ thể hoá của quá trình học tập Nhiệm vụ cơ bản của sinh viên là giải quyết các nhiệm vụ học tập do chính mình đề ra; phải hoàn thiện các hành động học tập sao để biết cách học và học có hiệu quả; có nhiệm vụ tự
kiểm tra và tự đánh giá kết quả học tập Trong chế độ học tập theo học phần hiện nay thì tự
ý thức trong học tập càng trở nên đặc biệt quan trọng Sinh viên nào biết tổ chức quá trình
học tập của mình và chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập mới mong đạt kết quả cao
Hoạt động học tập giữ vai trò chủ đạo trong số các hoạt động chủ yếu của sinh viên
có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến sự phát triển các quá trình và các thuộc tính tâm lí của sinh viên, đến sự lĩnh hội tri thức khoa học, các thông tin, các kĩ năng và kĩ xảo nghề nghiệp quan trọng của họ
Trang 38* Động cơ học tập của sinh viên
Động cơ học tập chính là nội dung tâm lý của hoạt động học tập Đó là những lý do khiến sinh viên tham gia vào các hoạt động học, là nội dung tâm lý của hoạt động học tập Động cơ học tập có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố, dựa trên nguồn gốc xuất phát có thể chia thành ba yếu tố sau: Thứ nhất, các yếu tố xuất phát từ chính chủ thể như hứng thú,
niềm tin, lý tưởng, tâm thế, mục đích, thế giới quan, lý tưởng sống… và các yếu tố này có giá trị tích cực trong việc hoàn thiện của nhân cách; Thứ hai, các yếu tố xuất phát từ phía xã
hội (ngoài chủ thể) như danh vọng, mong muốn của gia đình và xã hội ; Thứ ba, các yếu tố
xuất phát trong chính hoàn cảnh học tập như nội dung, phương pháp dạy học, trình độ tay nghề, nhân cách của những thầy, cô giáo, các điều kiện, thiết bị dạy học: thư viện, phòng thí nghiệm v.v
Chính vì vậy lĩnh vực động cơ hoạt động của sinh viên đại học rất phong phú và thường bộc lộ rõ tính hệ thống Trong đó việc học tập của họ không chỉ bị chi phối bởi một động cơ mà thường là một số động cơ nào đó Ví dụ: những động cơ có tính chất nhận thức đối với chính quá trình nghiên cứu, học tập như khao khát có tri thức, có trình độ, hứng thú
với những vấn đề lý luận, những vấn đề khoa học, những nội dung có tính nghề nghiệp rõ
rệt, thích có nghề nghiệp nghiêm chỉnh, muốn trở thành chuyên gia của một nghề ; những động cơ liên quan đến sự tự khẳng định, tự ý thức về năng lực, phẩm chất của người thanh niên trưởng thành, những động cơ có tính xã hội; muốn cống hiến tài năng, sức lực cho xã
hội, có hoài bão trong việc xây dựng đất nước; những động cơ liên quan đến chính tương lai, đường đời của cá nhân: có nghề nghiệp ổn định, tương đối cao trong xã hội để có thu
- Động cơ có tính xã hội ở vị trí thứ ba: đáp ứng yêu cầu của xã hội
- Động cơ tự khẳng định ở vị trí thứ tư: về năng lực và phẩm chất cá nhân
- Động cơ có tính cá nhân ở vị trí thứ năm: tương lai ổn định, thu nhập cao
Thứ bậc các động cơ này không cố định mà thường thay đổi trong quá trình học tập
Trang 39của sinh viên và ở mỗi sinh viên có trình độ học lực khác nhau cũng không giống nhau
Tìm hiểu từng mặt của việc động cơ hóa đối với hoạt động học tập của sinh viên có
thể nhận thấy một số đặc điểm như sau:
- Sinh viên không muốn người khác xem mình như một đứa trẻ mới lớn, nhưng muốn được tôn trọng như một người lớn thực sự Sinh viên có nguyện vọng thể hiện tính tự lập và độc lập khỏi mọi sự ràng buộc quá mức từ phía gia đình cũng như nhà trường Họ muốn được thể hiện chính kiến của mình, có thể điều đó khác với quan điểm của giảng viên và các
bạn, nhưng chính bằng cách đó sinh viên khẳng định được "cái tôi" và bản sắc riêng của mình
- Khác hẳn với các học sinh Trung học, sinh viên muốn đem những kiến thức trải nghiệm bản thân vào chính bài học của mình Những phương pháp dạy học truyền thống
cần phải chuyển sang những phương pháp lấy hoạt động làm phương tiện và sinh viên làm trung tâm Tăng cường hoạt động của sinh viên và giảm bớt hoạt động của giảng viên Sự
thụ động cần được thay thế bằng sự tích cực tham gia trong quá trình thảo luận và làm việc nhóm giữa sinh viên; những vấn đề đưa ra cần phải kích thích tư duy và trí tò mò thì mới khơi gợi được tính tích cực học tập của sinh viên
Tóm lại, chính do tính đặc thù của hoạt động học tập trong môi trường Đại học, Cao đẳng sẽ giúp sinh viên phát triển mạnh về mặt nhận thức và trí tuệ để đáp ứng được yêu cầu
học tập Đây sẽ là một ưu điểm lớn để sinh viên trưởng thành hơn khi bước chân vào cuộc
sống thực sự Ngoài ra, việc giảng viên cần tìm hiểu các động cơ học tập rất đa dạng và
phức tạp của sinh viên để tổ chức hoạt động học tập hiệu quả cũng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng
Hoạt động chính trị - xã hội: Đây là một hoạt động đặc trưng ở tuổi sinh viên Sinh viên là những người có trí tuệ nhạy bén, mẫn cảm đối với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
của quốc gia, quốc tế Về mặt tư cách của một công dân, họ có chính kiến đối với đường lối,
chủ trương, chính sách của đảng chính trị và Nhà nước, do đó hoạt động chính trị – xã hội là nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên Việc tham gia của họ vào các tổ chức chính trị, đoàn
thể xã hội như Hội sinh viên, Đoàn thanh niên, … hay đối với những sinh viên ưu tú, được vinh dự đứng vào hàng ngũ Đảng, mang một ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nhân cách toàn diện của họ
Bên cạnh những hoạt động có ý nghĩa chính trị – xã hội, sinh viên cũng là nhóm
Trang 40người tích cực tham gia vào các hoạt động khác mang tính chất giải trí, vui chơi phù hợp
với năng khiếu và sở thích cá nhân như các câu lạc bộ văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, câu lạc bộ ngoại ngữ,… hay các cuộc thi về nghiệp vụ nghề nghiệp được Đoàn trường và các cơ quan tổ chức, cũng luôn hấp dẫn và lôi cuốn sự tham gia của nhiều sinh viên, để thoả mãn nhu cầu giao lưu phong phú cũng như nhu cầu rèn luyện toàn diện của họ Bao trùm lên các hoạt động phong phú, đa dạng của sinh viên ở trường đại học là những quan hệ giao lưu, giao tiếp với hàng loạt mối quan hệ xã hội đan xen lẫn nhau Những mối giao lưu này mang tính phức hợp giữa cá nhân người sinh viên với người lớn, với bạn bè cùng lứa, cùng
giới, khác giới, các tổ chức, các nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua phương tiện thông tin truyền thông),… Các hoạt động giao lưu này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển đời sống tâm lý, nhân cách của sinh viên
Vị thế xã hội của sinh viên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó, các quan hệ xã
hội của sinh viên được mở rộng Chính những thay đổi trong vị thế xã hội của các em,
những thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến sự xuất hiện ở lứa tuổi này những nhu
cầu hiểu biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người – người, hiểu mình
và tự khẳng định mình trong đời sống xã hội
1.3.1.3 Nh ững đặc điểm phát triển tâm lý cơ bản của sinh viên
Những nghiên cứu về sinh viên Đại học cho thấy, đầu tiên họ giải thích thế giới và
những kinh nghiệm giáo dục của họ một cách độc đoán (authoritarian term) Thế nhưng, dần
dần họ bắt đầu chấp nhận và tích cực chấp nhận những chân lý Kramer (1991) cho rằng đặc trưng tư duy của tuổi này vượt khỏi tư duy hình thức gồm ba giai đoạn: tuyệt đối hóa (18 -
22 tuổi); tương đối (cuối tuổi 20 - đầu trung niên); biện chứng [32], [48]
Hoạt động nhận thức của sinh viên vừa phải kế thừa và cập nhật những thành tựu của khoa học đương đại Hoạt động học tập có tính chất mở rộng theo năng lực và sở trường
Tuổi 20 - 30 của một đời người có thể tích lũy 2/3 lượng tri thức của cuộc đời
Những so sánh về chiều kích độ tuổi cho thấy có sự khác biệt cơ bản về tư duy của sinh viên
và thanh thiếu niên Đặc biệt, sinh viên thường có những biểu hiện sau trong nhận thức:
- Thay đổi cách suy nghĩ của mình để tập trung cao độ vào những hướng đi cụ thể
- Phải xem xét những tương lai (viễn cảnh) khác nhau của mọi người ở các lứa tuổi khác nhau hơn là họ đã làm điều này ở tuổi thanh thiếu niên
- Phải khám phá ra những cách giải quyết những cuộc tranh luận, bất hòa và giải