Đó chính là phát hiện những phức tạp trong đời sống con người, cái buồn da diết và thấm đẫm của mất mát, nỗi ám ảnh và đau thương của chiến tranh… Hơn hết, chúng ta thấy tiểu thuyết và t
Trang 1Đặng Hoàng Ngọc Thy
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HIỆN THỰC
Trang 2Đặng Hoàng Ngọc Thy
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HIỆN THỰC
Chuyên ngành : Lí luận văn học
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÙNG QUÝ NHÂM
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Người thực hiện Đặng Hoàng Ngọc Thy
Trang 4L ỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lí
luận văn học với đề tài: Tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truy ện ngắn của Bảo Ninh, tôi đã nhận được sự quan tâm của Ban chủ
nhiệm khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, của quý
Thầy Cô giảng dạy chuyên ngành Lí luận văn học (Cao học khóa 23 – Đại
học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh) Đặc biệt, tôi còn nhận được sự giúp đỡ
rất tận tình của PGS.TS Phùng Quý Nhâm, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Phùng Quý Nhâm, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, quý Thầy Cô, các phòng ban của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng Sau Đại học, Thư viện trường…) cũng như gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, ủng
hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cám ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9, năm 2014
Người thực hiện Đặng Hoàng Ngọc Thy
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
1 Lí do ch ọn đề tài 1
2 L ịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Đóng góp của luận văn 14
6 K ết cấu của luận văn 14
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HIỆN THỰC TRONG VĂN HỌC 16
1.1 Tư tưởng nhân văn 16
1.1.1 Cơ sở của tư tưởng nhân văn 16
1.1.2 Bản chất của tư tưởng nhân văn 19
1.2 Tư tưởng nhân văn hiện thực 23
1.2.1 Bản chất của tư tưởng nhân văn hiện thực 23
1.2.1.1 Kh ẳng định những giá trị toàn năng của con người 23
1.2.1.2 Đấu tranh giải phóng con người 24
1.2.2 Biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực 25
1.2.2.1 Tình yêu thương con người 26
1.2.2.2 S ự phân đôi trong thái độ của người nghệ sĩ đối với con người và cu ộc sống 29
1.2.2.3 Khơi dậy những khát vọng của con người 31
1.2.2.4 Tôn vinh v ẻ đẹp con người 32
1.2.3 Mục đích của tư tưởng nhân văn hiện thực 33
Trang 6Ti ểu kết chương 1 37
Chương 2 BIỂU HIỆN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HIỆN THỰC TRONG TI ỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA B ẢO NINH 39
2.1 Tình yêu thương con người 39
2.1.1 Hướng về những nỗi đau, mất mát và ám ảnh của con người 39
2.1.2 Chia sẻ và cảm thông với những nỗi đau của con người 47
2.1.3 Thái độ lên án chiến tranh 53
2.2 Khơi dậy những khát vọng của con người 55
2.2.1 Khát vọng tìm thấy lối thoát cho những nỗi đau 55
2.2.2 Khát vọng hòa nhập với cuộc sống thời bình 58
2.2.3 Khát vọng hòa giải dân tộc sau chiến tranh 60
2.3 Tôn vinh những vẻ đẹp của con người 63
2.3.1 Vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa 63
2.3.2 Vẻ đẹp của tình người 66
2.3.3 Vẻ đẹp của người lính 69
Ti ểu kết chương 2 71
Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HIỆN THỰC TRONG TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NG ẮN CỦA BẢO NINH 74
3.1 Điểm nhìn trần thuật 74
3.1.1 Điểm nhìn trần thuật từ bên ngoài – hiện thực lắng đọng vào tâm hồn 75
3.1.2 Điểm nhìn trần thuật từ bên trong – từ tâm hồn soi chiếu ra hiện thực bên ngoài 78
3.2 Giọng văn nghệ thuật 81
3.2.1 Giọng văn lên án, tố cáo 82
3.2.2 Giọng văn cảm thông, yêu thương 85
3.2.3 Giọng văn trăn trở, suy ngẫm, day dứt 88
Trang 73.3 Lời văn nghệ thuật 94
3.3.1 Lời văn hàm súc, giàu tính tạo hình và biểu cảm 95
3.3.2 Lời văn nặng trĩu tình người 101
Ti ểu kết chương 3 104
K ẾT LUẬN 106
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 111
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975 có những biến chuyển về mặt
nội dung và những cách tân sáng tạo, mới mẻ về mặt hình thức Đặc biệt giai đoạn từ 1986 đến đầu những năm 90, diện mạo văn học thay đổi một cách rõ rệt
theo “tinh th ần đổi mới về tư duy và nhìn thẳng vào sự thật” [34, tr.11] Những
cây bút nổi bật giai đoạn này có thể kể đến như: Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng… Mỗi nhà văn một phong cách sáng tác,
một cách nhìn, một cách cảm khác nhau và có những đóng góp rất riêng cho văn
học xu hướng đổi mới Trong số đó, Bảo Ninh - với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh và các truyện ngắn của ông, đã mang đến cho độc giả những ám ảnh da
diết, những câu chuyện mang hình hài của đau thương và mất mát từ chiến tranh Đó không chỉ là nỗi ám ảnh của tác giả mà còn là nỗi đau, nỗi ám ảnh của bao thế hệ Tiểu thuyết và truyện ngắn ông đã góp phần làm cho diện mạo của văn học thời kì đổi mới thêm phong phú và đa dạng
Đã có rất nhiều bài nghiên cứu, tìm hiểu về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh, bởi lẽ đây là một tác phẩm gây xôn xao dư luận một thời và
để lại dấu ấn rõ nét của tác giả Như nhận xét của Nguyễn Chí Hoan ở lời giới thiệu trong Bảo Ninh – Tác phẩm chọn lọc: “Sau tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh ra đời cuối năm 1991, với thời gian, càng ngày càng cảm thấy rõ rệt hơn, trước Bảo Ninh chưa từng có nhà văn nào viết về cuộc chiến tranh này như thế
và sau anh cũng sẽ không còn ai viết được như vậy nữa” [47, tr.5] Truyện ngắn
của Bảo Ninh cũng đã mang đến một luồng gió nhẹ nhàng và sâu lắng chođộc
giả, tuy truyện ngắn không nổi bật so với tiểu thuyết nhưng cũng đã thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu… Truyện ngắn của ông đa phần cũng là những dòng xúc cảm về ký ức chiến tranh, mỗi truyện tựa như một
mảnh ghép buồn thương, éo le của thời chiến và vẫn hoài những ám ảnh khôn nguôi hay những câu chuyện đầy cảm xúc về tình đời, tình người… Và tất cả
Trang 9những gì mà Bảo Ninh khai thác và chuyển tải vào tác phẩm là những điều mà văn học trước 1975 chưa khai thác được sâu sắc Đó chính là phát hiện những
phức tạp trong đời sống con người, cái buồn da diết và thấm đẫm của mất mát,
nỗi ám ảnh và đau thương của chiến tranh… Hơn hết, chúng ta thấy tiểu thuyết
và truyện ngắn của Bảo Ninh chứa đựng tư tưởng nhân văn hiện thực sâu sắc Ông hướng sự quan tâm đặc biệt đến số phận của con người, thông cảm và chia
sẻ với nỗi đau chiến tranh mà con người phải gánh chịu, cũng như lên án chiến tranh phi nghĩa… Chúng tôi nhận thấy, vấn đề này có được nhắc đến, tuy nhiên
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu kĩ Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu Tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của
mảng tiểu thuyết và truyện ngắn Thông qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ
có cơ hội tìm hiểu thêm, rèn luyện, trau dồi kĩ năng về nghiên cứu tác phẩm văn
học, vận dụng một số lí thuyết nền tảng của Lí luận văn học vào quá trình nghiên cứu và hơn hết là giúp ích cho chúng tôi trong công tác giảng dạy sau này
2 L ịch sử vấn đề
2.1 Nh ững ý kiến bàn về tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết của Bảo Ninh
Năm 1987, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được xuất bản
lần đầu tiên với nhan đề Thân phận tình yêu Tác phẩm được giải thưởng của
Hội Nhà văn năm 1991 Đến năm 1994, tác phẩm được dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh Hảo với tựa đề The sorrow of war Năm 2005, tác
phẩm được tiếp tục tái bản với nhan đề như ban đầu là Thân phận của tình yêu,
Trang 10và năm 2006, tái bản với nhan đề Nỗi buồn chiến tranh Đến nay, tiểu thuyết
N ỗi buồn chiến tranh đã được dịch ra hơn 15 thứ tiếng và giới thiệu ở 18 quốc
gia trên thế giới Gần đây nhất, năm 2011, tác phẩm đã nhận được giải thưởng châu Á (Nikkei Asia Prizes)
N ỗi buồn chiến tranh nổi tiếng và gây được tiếng vang không chỉ trong
nước mà còn ở ngoài nước, đây là một trong những quyển tiểu thuyết hay và xúc động nhất về chiến tranh Tuy nhiên, có nhiều nhà phê bình cho rằng cuốn sách này là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện thực”, “bôi nhọ quân đội”, nên
nó từng rơi vào thời gian bị lãng quên Có hai luồng dư luận trái ngược đối với
N ỗi buồn chiến tranh: một bên khen ngợi, ủng hộ, đánh giá cao và một bên chê
bai, lên án…
Cho đến khi giành được giải thưởng của Hội Nhà văn, được dịch ra nhiều
thứ tiếng để giới thiệu với thế giới thì tiểu thuyết này mới thật sự tạo được tiếng vang, có được chỗ đứng nhất định cũng như nhận được sự quan tâm nồng nhiệt
của giới nghiên cứu và độc giả
Về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, đã có rất nhiều công trình, nhiều bài
viết nghiên cứu đến, tiểu thuyết còn được chọn làm đối tượng nghiên cứu trong nhiều luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ…Tuy nhiên chúng tôi sẽ chỉ khảo sát những công trình, những bài viết nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng nhân văn hiện
thực: đó là hướng về con người, vì con người
- Biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết:
Nguyên Ngọc với bài viết “Văn xuôi sau 1975 – Thử thăm dò đôi nét về qui luật phát triển” đã có ý kiến liên quan đến số phận của con người trong Nỗi
bu ồn chiến tranh:
[…] Nỗi buồn chiến tranh đã là vấn đề hoàn toàn khác hẳn Không chỉ là
“bức tranh xã hội”, mà đã là cuộc tìm kiếm căng thẳng và cảm động của một con người không dứt ra được với quá khứ vừa quá thiêng liêng vừa quá đau
Trang 11đớn, khó nhọc hi vọng ở tương lai và vật vã cố sống cho ra người trong cuộc đời vừa hỗn độn như đầy dự báo, cả nguy hiểm lẫn triển vọng hôm nay [42, tr.13]
Phạm Xuân Thạch trong “Nỗi buồn chiến tranh” – viết về chiến tranh thời
hậu chiến, từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp” thì viết: “Ở điểm cuối cùng của một hành trình xuyên qua các lớp cấu trúc hình thức và biểu tượng của văn bản tiểu thuyết, có thể khẳng định, trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã xác lập một cái nhìn mới về hiện thực lịch sử – hiện thực chiến tranh” [34, tr.248] Bên cạnh đó, tác giả còn nhận xét về khát vọng của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh: “[…]nó không phải là một đối âm của những
tượng đài văn học chiến tranh mà văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tạo
d ựng qua hai cuộc chiến tranh lớn của lịch sử dân tộc Nó là một sự đào sâu hiện thực chiến tranh bằng những trải nghiệm cá nhân để làm phong phú thêm cái nhìn c ủa cộng đồng về hiện thực lịch sử” [34, tr.251]
Công trình Thi pháp h ọc hiện đại, Đỗ Đức Hiểu cũng đánh giá rất cao
cuốn tiểu thuyết này:
Trong văn học mấy chục năm nay, có thể Thân phận tình yêu là cuốn tiểu thuy ết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất… Nỗi buồn chi ến tranh thể hiện một điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài 35 năm,
nh ững cảnh tả về chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác
ph ẩm Bên cạnh nỗi buồn được phản ánh trong tác phẩm là nỗi buồn về tình yêu, nỗi buồn chiến tranh và nỗi buồn tình yêu thấm vào nhau [25, tr.265]
Trong bài “Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975” của Nguyễn Bích Thu, tác giả cũng đưa ra nhận xét về con người với vẻ đẹp, khát
vọng, thể hiện tinh thần nhân văn: “nhà văn đã khắc họa những con người vừa đời thường, trần thế vừa đẹp đẽ, thánh thiện, luôn luôn khao khát cái đẹp hướng
t ới cái thiện Đó là nét nổi bật mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người…” [34, tr.232]
Trang 12Nguyễn Phượng với bài “Tiểu thuyết với đề tài chiến tranh sau 1975 và
những thành tựu nghệ thuật bị bỏ lỡ”, nhận xét về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh là: “cu ốn tiểu thuyết mô tả chiến tranh đầy xúc động, đậm tính nhân văn”
[34, tr.222]
Nguyễn Thị Mai Liên trong bài “Hình tượng “con người – nạn nhân chiến tranh” trong hai tiểu thuyết: Một nỗi đau riêng và Nỗi buồn chiến tranh”, đã nêu
lên cảm nhận: “Chiến tranh thực sự là một nỗi đau buồn mênh mang Nó để lại
di ch ứng trên thân phận nhỏ bé của mỗi con người vô danh, để lại vết thương đau đớn không bao giờ lành trên thể xác và trong tâm hồn họ” [34, tr.339] Tác
giả đi sâu vào tìm hiểu những hình tượng con người là nạn nhân của chiến tranh,
cụ thể như: con người dị dạng nhân hình, con người tha hóa nhân tính và nhân
hình
Nguyễn Thị Thoa với luận văn Chiến tranh qua cái nhìn của Bảo Ninh
và Erich Maria Remarque trong Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có
gì l ạ, khi tìm hiểu giá trị vĩnh hằng cất lên từ hủy diệt có đề cập đến con người
và vấn đề nhân tính trong chiến tranh: “Đó là thân phận con người trong chiến tranh, s ự sám hối trước những món nợ của chiến tranh, suy tư về nhân tính trong chi ến tranh và sau chiến tranh” [58, tr.97] Tác giả cũng có bàn đến khát
vọng sống, khát vọng tình yêu trong tiểu thuyết mà cụ thể là về tình yêu đôi lứa, tình đồng đội, để thấy rằng chiến tranh không thể hủy diệt được những tình cảm đẹp và thiêng liêng của con người Đặc biệt, Nguyễn Thị Thoa cũng đề cập đến
lý tưởng nhân văn thông qua sự chiêm nghiệm, trăn trở của người lính về nhân tính Tác giả nêu lên lí tưởng nhân văn cao đẹp trong tiểu thuyết của Bảo Ninh,
vì đã: “Viết về những trăn trở của tâm hồn, sự hướng thiện, sự đối chất giữa sự hủy diệt và bài ca bất diệt” [58, tr.105]
Bên cạnh đó, bài “Sức mạnh và nỗi buồn” của Nguyễn Thị Từ Huy cũng
có ý kiến nhận xét về nỗi buồn cũng như những điểm khác biệt trong nỗi buồn
của tiểu thuyết Bảo Ninh:
Trang 13B ảo Ninh, trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, đã nhìn nhận nỗi buồn như một cảm giác người căn bản nhất Nỗi buồn chính là sức mạnh giúp con người chiến đấu và chiến thắng cả sự tàn khốc của chiến tranh lẫn sự phi nhân trong đời sống hòa bình Với tác phẩm, nỗi buồn quy định cơ chế vận hành của văn bản Với nhân vật chính, Kiên, nỗi buồn vừa có tính di truyền, vừa là sức
m ạnh kích hoạt hành động viết và duy trì khát vọng sống [78]
Và: “ Cái đẹp được bảo tồn trong nỗi buồn Nỗi buồn là hiện thân của cái đẹp Nỗi buồn nâng cao tâm hồn con người Do vậy, nỗi buồn ở đây không phải
là bi ểu hiện của sự yếu đuối, ủy mị, mà trái lại chính là sức mạnh của nhân tính,
s ức mạnh của cái đẹp” [78]
- Về nghệ thuật biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết, chúng tôi nhận thấy rằng, phần lớn các công trình nghiên cứu đi sâu vào đề tài, vào thế giới nhân vật, những biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật đặc sắc…
Với phương diện điểm nhìn, Nguyễn Văn Hiếu trong bài “Một vài khuynh
hướng vận động của điểm nhìn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975” cho rằng:
“Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh đặt điểm nhìn vào một trạng thái tâm hồn bất định, có lúc đến mức “rối bời, bấn loạn” [34, tr 302]
Nguyễn Thị Thoa với luận văn Chiến tranh qua cái nhìn của Bảo Ninh
và Enrich Maria Remarque trong Nỗi buồn chiến tranh và Phía Tây không có
gì l ạ cũng có nghiên cứu về điểm nhìn trong tiểu thuyết, theo tác giả: “nhà văn
đã trao cho các nhân vật quyền “đối thoại” để tạo nên cái nhìn đa chiều về hiện
th ực được miêu tả Có bao nhiêu người là có bấy nhiêu cuộc chiến tranh” [58, tr.34] Và: “B ằng cách so sánh, cắt nghĩa một cảm xúc lạ lùng, vừa bình yên, v ừa đau đớn… người kể chuyện đã cụ thể hóa được một phương diện vô cùng trừu tượng là tình cảm, là thế giới tinh thần của con người trong và cả sau chi ến tranh” [56, tr.35]
Nói về giọng văn và lời văn trong tiểu thuyết của Bảo Ninh, nhận xét chung của các tác giả là: buồn man mác, da diết… Đỗ Đức Hiểu khi đọc Nỗi
Trang 14bu ồn chiến tranh đã có nhận xét liên quan đến giọng văn và lời văn nghệ thuật
thông qua câu chữ, hình tượng, định nghĩa về chiến tranh: “Những cảnh tả chiến tranh, nh ững định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm, những chữ những câu, nh ững hình tượng gây những cú sốc liên tiếp, gây ngạc nhiên, sửng sốt và sáng t ạo một vũ trụ mới của cuộc chiến” [25, tr.265]
Trần Quốc Huấn với bài “Thân phận tình yêu của Bảo Ninh” có ý kiến bàn về chất thơ trong tiểu thuyết: “chất thơ và hương thơm trong quyển tiểu thuy ết chủ yếu tỏa lên từ mối tình của Phương, từ thân thể và tâm hồn Phương”
Truyện ngắn Bảo Ninh không nổi bật so với tiểu thuyết, chính vì vậy chưa
có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Bảo Ninh Có một số nhận xét cho rằng truyện ngắn của Bảo Ninh không đặc sắc, không có gì đặc biệt… Tuy nhiên có rất nhiều ý kiến đánh giá và khen ngợi truyện ngắn Bảo Ninh Truyện ngắn Bảo Ninh cũng được nhiều người chọn nghiên cứu trong các luận văn, luận án Có thể kể đến như: Đề tài chiến tranh chống Mỹ trong truyện ngắn
Bảo Ninh (Lưu Thị Thanh Trà, 2006); Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh (Nguyễn Thị Hóa, 2010); Đặc sắc truyện ngắn Bảo Ninh (Nguyễn Thị
Nhật Lệ, 2012); Truyện ngắn Bảo Ninh dưới góc nhìn thể loại (Nguyễn Phương Nam, 2013); Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh (Bùi Đỗ Kim Thuần, 2013)…
Các luận văn đã đề cập đến nhiều vấn đề trong truyện ngắn Bảo Ninh cả
về phương diện nội dung và nghệ thuật Đó là những khám phá trong thế giới
Trang 15nhân vật, khai thác đề tài chiến tranh và người lính, một số luận văn nghiên cứu
những nét độc đáo của truyện ngắn Bảo Ninh…
- Về biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực trong truyện ngắn của Bảo Ninh thì có những công trình nghiên cứu về nỗi buồn của con người, về quá
khứ, về tình người, lòng thương người, những cảnh đời bất hạnh…và qua đó cho
thấy tấm lòng của nhà văn Bảo Ninh
Phạm Xuân Thạch trong bài “Nỗi buồn chiến tranh” – viết về chiến tranh thời hậu chiến, từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp” thì cho
rằng những truyện ngắn của Bảo Ninh là mảnh ghép của tiểu thuyết: “Thế giới những truyện ngắn đó giống như những mảnh vỡ của tiểu thuyết hoặc phản chiếu, hoặc soi sáng thế giới của tiểu thuyết” [34, tr.251] Đó là những câu
chuyện xoay quanh mất mát của tuổi trẻ, tình yêu trong chiến tranh… Đồng thời tác giả cũng có nhận xét khát quát liên quan đến vấn đề khát vọng trong truyện
ngắn, đó là sự tiếp nối và mở rộng khát vọng của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh như khát vọng hòa giải dân tộc sau chiến tranh, suy tư về lịch sử dân tộc…
Còn Đoàn Ánh Dương với bài viết “Bảo Ninh – Cuộc trường diễn kí ức”
đã có lời kết về nỗi đau, về quá khứ trong tập truyện Chuyện xưa kết đi, được
chưa?: “Nghĩa là quá khứ sẽ không hoàn kết, quá khứ là một ám ảnh Mãi là
m ột ám ảnh…” [8, tr.11]
Tiêu biểu hơn là bài viết “Đọc truyện ngắn Bảo Ninh” của Mai Quốc Liên, tác giả đã nhận xét và cảm nhận đầy đủ về truyện ngắn của Bảo Ninh như sau:
B ảo Ninh đã đưa người đọc đi qua biết bao cảnh đời, tình người cảm động, xót xa, cay đắng nữa - những cảnh đời hết sức bình dị Và nhà văn như
mu ốn nhắn gởi: cuộc sống trong chiến tranh khốc liệt như thế đó, nhưng cái đọng lại vẫn là tình người, là lòng thương, là con người với muôn vàn xót xa,
Trang 16g ợi lên trong những người đang sống một ý niệm về lòng khoan dung, lòng trắc
Và chốt lại, tác giả đã khẳng định rằng: “Thông qua những câu chuyện đó, Bảo Ninh làm sống lại cuộc chiến dưới một chủ nghĩa nhân văn: lòng xót thương của tác giả, của chúng ta nữa, với những con người rất đỗi bình thường, những con người bị cuốn vào cuộc chiến lớn lao, bi tráng” [80]
Trong luận văn Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh của Bùi Đỗ
Kim Thuần cũng đưa ra nhận xét: “Bằng chính vốn sống, vốn ký ức phong phú
và quý giá về chiến tranh, về hiện thực cuộc sống, nhà văn đã cho ra đời những tác ph ẩm có giá trị nhân văn sâu sắc” [59, tr.4]
-Về nghệ thuật, chúng tôi sẽ tổng hợp những ý kiến bàn về: điểm nhìn
trần thuật, giọng văn và lời văn nghệ thuật
Ở điểm nhìn trần thuật, các nhà nghiên cứu không đi sâu để làm rõ tư tưởng mà tập trung làm rõ sự sáng tạo và thành công của Bảo Ninh trong truyện
ngắn thông qua phương diện điểm nhìn trần thuật, mà đặc biệt là phương diện người kể chuyện
Phùng Văn Tửu trong cuốn Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật
có nhận xét về người kể chuyện: “Người kể chuyện xưng “tôi” hiện diện song hành v ới tác giả ở nhiều truyện về đề tài chiến tranh” [62, tr.233] Và: “Chủ thể xưng “tôi” trong Hà Nội lúc không giờ dường như vẫn trùng với Bảo Ninh – ta
Trang 17nhìn vào năm sinh của tác giả - khi ấy là “một thằng bé mới mười ba tuổi đầu như “tôi” [64, tr 233]
Nguyễn Chí Hoan trong lời giới thiệu cho quyển Bảo Ninh - Tác phẩm
ch ọn lọc đã có nhận xét về điểm nhìn trần thuật: “Bảo Ninh cho thấy đã lựa
ch ọn giải pháp đơn giản truyền thống về kết cấu và trần thuật của chuyện kể
[tr.6], bên cạnh đó: “Giọng kể và nhân vật kể chuyện xưng “Tôi” quả là giống nhau xuyên qua nhiều truyện” [47, tr.7]
Còn Mai Quốc Liên với bài “Đọc truyện ngắn Bảo Ninh” có ý kiến về điểm nhìn như sau:
Khi ch ọn điểm nhìn của nhân vật, từ cõi siêu tôi dường như cái ngân hàng kí ức chiến tranh của Bảo Ninh đã chuyển sang thùy não phải và trở thành một phần trong đời sống tâm linh của ông Cõi nhớ mênh mông, ông tiếp cận nó
t ừ tầng sâu nhất của hoạt động tâm lý, ông đã gọi tên được những xung động vi
t ế và huyền bí trong vũ trụ tâm lý con người Những điều này được kết hợp khá hoàn h ảo với khiếu quan sát nhạy bén và kỹ thuật trần thuật, phục dựng, mô tả đầy chất thẩm mỹ [80]
Với luận văn Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh của Bùi Đỗ
Kim Thuần, nghiên cứu truyện ngắn Bảo Ninh về nghệ thuật trên nhiều phương
diện, trong đó cũng có nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn được khai thác bao gồm: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, sự dịch chuyển và
kết hợp các điểm nhìn Theo tác giả: điểm nhìn bên trong sẽ giúp cho cá tính, suy nghĩ và tình cảm của nhân vật được thể hiện rõ nét hơn; điểm nhìn bên ngoài thì thể hiện sự linh hoạt của nhà văn trong cách kể và sự di chuyển, kết hợp các điểm nhìn thể hiện sự đa dạng, sáng tạo trong cách sử dụng và tổ chức điểm nhìn
của Bảo Ninh
Với giọng văn và lời văn nghệ thuật: chúng tôi nhận thấy đã được bàn đến, tuy nhiên liên quan đến tư tưởng nhân văn hiện thực thì chưa được tìm hiểu
Trang 18toàn diện và cụ thể Chúng tôi sẽ tập hợp các bài nghiên cứu có liên quan đến
phạm vi đề tài
Mai Quốc Liên nhận xét chung về truyện ngắn là lời văn cần phải nhanh,
để phù hợp với đặc trưng của thể loại: “truyện ngắn thì phải nén chặt cuộc sống vào trong một “văn bản tối thiểu”, sự chọn lọc chi tiết đời sống khắc nghiệt hơn, nhịp truyện, lời văn cũng phải nhanh hơn” [80] Đồng thời, tác giả cũng đưa ra nhận xét về chất thơ trong văn của Bảo Ninh như sau: “Bảo Ninh không làm thơ, nhưng văn anh ẩn chứa một chất thơ đích thực, một chất thơ được gạn lọc từ những thân phận người và chan hòa vào trong một thiên nhiên buồn,
thường là một ngày tàn thu mưa lạnh” [80]
Luận văn Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh của Bùi Đỗ Kim
Thuần, tác giả có khai thác yếu tố giọng điệu chủ yếu bao gồm: giọng điệu triết
lý, suy ngẫm; giọng điệu khách quan, lạnh lùng; giọng điệu xót xa, luyến tiếc,
ngậm ngùi; và giọng điệu hài hước, mỉa mai Đây cũng là một trong những yếu
tố góp phần làm nên thành công và đặc sắc cho truyện ngắn Bảo Ninh Còn chúng tôi sẽ khai thác phương diện giọng văn, bởi theo chúng tôi, giọng văn tuy
hẹp hơn giọng điệu nhưng sẽ góp phần biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực
Cũng như tiểu thuyết, truyện ngắn của Bảo Ninh cho tới nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về tư tưởng nhân văn hiện thực Nhưng các công trình
đã nghiên cứu của các tác giả đi trước chính là những nghiên cứu quý giá, là nền
tảng giúp chúng tôi có thêm cơ sở lí luận và định hướng cho việc tìm hiểu và khai thác các phương diện của tư tưởng nhân văn hiện thực
Tóm lại, trong quá trình tìm hiểu và tổng hợp những công trình nghiên
cứu, chúng tôi nhận thấy rằng vấn đề tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh có được nhắc đến, nhưng với các vấn đề
nhỏ, các ý kiến khái quát Nên vấn đề này vẫn chưa được khai thác rộng và nghiên cứu kĩ Tuy nhiên, chúng tôi sẽ tiếp thu những ý kiến và quan điểm đúng đắn đã có và bổ sung, góp thêm những ý kiến, những cảm nhận riêng của mình
Trang 19với mong muốn mang đến một cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về tài năng của
Bảo Ninh thông qua việc nghiên cứu tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của ông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã khảo sát và nghiên cứu truyện ngắn
và tiểu thuyết của Bảo Ninh từ những nguồn tài liệu sau đây:
- Tập truyện ngắn Chuyện xưa kết đi, được chưa?, do Nhà xuất bản Văn học
Nhưng với truyện ngắn, chúng tôi không khảo sát tất cả truyện ngắn của
Bảo Ninh mà chỉ khảo sát một số truyện biểu hiện rõ tư tưởng nhân văn hiện
thực và chủ yếu khảo sát những truyện ngắn trong Bảo Ninh – những truyện
ngắn
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, ở một số phương diện, chúng tôi sẽ đối sánh với tiểu thuyết và truyện ngắn của một số tác giả cùng thời như: Chu Lai, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái…
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Với luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu về tư tưởng trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh Đặc biệt là nghiên cứu kĩ về tư tưởng nhân văn hiện thực Cụ thể là trên những phương diện về nội dung và nghệ thuật biểu
Trang 20hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và các
truyện ngắn của Bảo Ninh
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng một số phương pháp nghiên cứu
giả cùng thời như Chu Lai, Tạ Duy Anh Qua đó thấy được nét khác biệt và nổi
bật của Bảo Ninh cũng như đóng góp của Bảo Ninh so với các tác giả khác
4.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Đối với phương pháp tiếp cận thi pháp học, chúng tôi sẽ vận dụng cách
tiếp cận từ phương pháp phân loại và hình thức để phân tích các khía cạnh của
nội dung nhằm tìm ra các biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực và nghệ thuật nổi bật góp phần biểu hiện tư tưởng như: điểm nhìn trần thuật, lời văn nghệ thuật, giọng văn nghệ thuật…
Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết của chuyên ngành Lí luận văn học, Phương pháp luận nghiên cứu văn học để làm rõ một số khái niệm có liên quan đến nội dung và nghệ thuật biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực
4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp phổ biến trong nghiên cứu văn học Chúng tôi sẽ vận
dụng phương pháp này để phân tích, tổng hợp những câu văn, đoạn văn tiêu biểu
để minh họa cho các luận điểm trong luận văn, cũng như khảo sát từng tác phẩm
cụ thể để tìm ra các yếu tố có liên quan đến các phương diện của nội dung và
Trang 21nghệ thuật Từ đó, chúng tôi rút ra nhận xét chung, khái quát về tư tưởng nhân
văn hiện thực trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và các truyện ngắn của
Bảo Ninh
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp
những phương diện góp phần biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh Qua đó, sẽ thấy rõ được cá tính, con người
mà đặc biệt là tình cảm sâu nặng mà Bảo Ninh dành cho số phận của con người,
đó là một điều làm nên thành công của nhà văn Đồng thời, thông qua việc so sánh và đối chiếu với các tác giả cùng thời, chúng tôi sẽ khẳng định phong cách sáng tác và những đóng góp nổi bật của Bảo Ninh về phương diện tư tưởng đối
với giai đoạn văn học thời kì đổi mới nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm có 3 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lí luận chung về tư tưởng nhân văn hiện thực
trong văn học
Chương 2 Biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và
truyện ngắn của Bảo Ninh
Chương 3 Nghệ thuật biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu
thuyết và truyện ngắn
Luận văn này có cấu trúc 3 chương như trên, và mục đích của chúng tôi là
nhằm giải quyết vấn đề chính: tìm hiểu tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh một cách sâu sắc
Nhiệm vụ của chương 1 là trình bày những vấn đề lí luận chung liên quan
đến tư tưởng nhân văn hiện thực trong văn học trên các phương diện: bản chất,
Trang 22biểu hiện và mục đích Nhưng trước khi đi đến tư tưởng nhân văn hiện thực thì chúng tôi sẽ trình bày sơ lược về tư tưởng nhân văn
Trong chương 2, chúng tôi đi sâu tìm hiểu biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh Các phương diện
mà chúng tôi khảo sát là: tình yêu thương con người, khơi dậy những khát vọng
của con người và tôn vinh những vẻ đẹp của con người Đây là những phương
diện thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân văn hiện thực và làm nên thành công trong sáng tác của Bảo Ninh
Chương 3, chúng tôi sẽ tìm hiểu những phương diện nghệ thuật nổi bật
nhằm biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của
Bảo Ninh Và những phương diện nghệ thuật đó chính là: điểm nhìn trần thuật,
giọng văn nghệ thuật và lời văn nghệ thuật Nghệ thuật không chỉ góp phần biểu
hiện tư tưởng nhân văn hiện thực mà còn khẳng định tài năng cũng như phong cách sáng tác của Bảo Ninh
Trang 23Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG
NHÂN VĂN HIỆN THỰC TRONG VĂN HỌC 1.1 Tư tưởng nhân văn
1.1.1 Cơ sở của tư tưởng nhân văn
Tư tưởng nhân văn ban đầu được thể hiện chủ yếu qua các cuộc đấu tranh
của quần chúng nhân dân chống áp bức và những thói hư của đạo đức, mang tính tự nguyện và bộc phát Tư tưởng này ra đời từ khi xuất hiện phong trào
Phục hưng, với xuất phát điểm ban đầu từ nước Ý, thế kỉ XIV – XV, nó như một phong trào xã hội và tiếp tục phát triển qua các giai đoạn của lịch sử Thời Phục hưng hình thành khi thời Trung cổ đang lụi tàn và xã hội tư sản đang dần hình
thành, nên: “C hủ nghĩa nhân văn của những thế kỉ XV – XVI lớn lên trở thành
hệ tư tưởng hệ của một giai cấp mới đang hoài thai – là giai cấp tư sản và được dùng làm chỗ dựa cho những yêu sách của giai cấp đó” [70, tr.6-7]
Thời đại này chứng kiến sự sụp đổ của những mối quan hệ cũ và ra đời
những cá nhân tàn nhẫn, phi đạo đức Xã hội rơi vào tình trạng bất ổn, đầy
những hiện tượng phức tạp do xuất hiện cái xấu cái ác, các mối quan hệ xã hội
rạn nứt Các nhà nhân văn đã thể hiện sự phản kháng, chống đối của họ trước tình hình rối ren của xã hội đương thời, họ đã phản ánh điều đó thông qua các tác phẩm của mình
Thời Trung cổ, có nhiều yếu tố ảnh hưởng và chi phối đến sự hình thành
của nghệ thuật hiện thực, đó là hệ tư tưởng nhà thờ, sự trì trệ tương đối của cuộc
sống, phong trào giải phóng dân tộc… Hệ tư tưởng nhà thờ đã ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, mà đặc biệt là nông dân, thợ thủ công và các nhà văn
Họ không có quyền di chuyển ra khỏi giới hạn về ranh giới của mình trong xã
hội, không được tự do và phải sống trong một xã hội bất công, phân chia giai
cấp Sự trì trệ tương đối của cuộc sống ngăn trở quá trình thâm nhập vào những mâu thuẫn bên trong của xã hội phong kiến thời bấy giờ Chính những điều này
đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tư duy, nhận thức thẩm mĩ trong xã hội
Trang 24và khiến các nhà văn không có điều kiện thuận lợi để phát huy khả năng cảm
nhận và thâm nhập vào cuộc sống, lịch sử Thời đại này, sự nắm bắt hiện thực
cuộc sống được xem như là một quá trình phức tạp và nhiều mâu thuẫn Các nhà văn Trung cổ do chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng nhà thờ nên dẫn đến việc phản ánh hiện thực đời sống với các mâu thuẫn nội tại còn nhiều hạn chế Mặc dù văn
học tiến bộ thời Trung cổ cũng đã lên tiếng phê phán nhà thờ và các tầng lớp quí
tộc, bước đầu xây dựng những hình tượng mang tính hiện thực, châm biếm nhưng chưa đủ để phác họa một bức tranh hiện thực toàn cảnh về sự rộng lớn
của đời sống, những mối quan hệ phức tạp cũng như những mâu thuẫn nội tại
Đến thời Phục hưng, xã hội và con người phải chịu những ảnh hưởng
nặng nề từ hệ tư tưởng thống trị của đạo Thiên Chúa, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa khổ hạnh, thần học,… Những tư tưởng đó buộc con người phải tin vào Chúa trời và kinh thánh, khẳng định về niềm hạnh phúc tinh
thần ở thiên đường, khiến con người phải sống chịu đựng, nhẫn nhục và cầu nguyện, sám hối, chuộc tội… để đến được cõi vĩnh hằng khi chết đi Trước tình hình đó, chủ nghĩa nhân văn đã ra đời để phản kháng, chống lại những tư tưởng sai lầm và phản động đó, đồng thời truyền bá những tư tưởng tiến bộ cũng như
tiếp thu những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, triết học… Đồng thời, những phát minh mới trong sản xuất, văn hóa, cũng đã góp phần thay đổi hệ tư tưởng trong xã hội Các nhà nhân văn đã ý thức được nguồn gốc gây ra bất hạnh,
xã hội rối ren, tội lỗi là do những hệ tư tưởng sai lầm, trái với tự nhiên gây ra và
cần đưa con người trả về với tự nhiên để phát triển đúng theo qui luật của tự nhiên Theo tác giả A Vônghin trong quyển Chủ nghĩa nhân văn và Chủ nghĩa
xã h ội, có nhận xét rằng: “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan điểm đạo
đức và chính trị bắt nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên, kỳ ảo, từ những nguyên lí ngoài đời sống của nhân loại mà từ con người tồn tại thực tế trên mặt đất với những nhu cầu, những khả năng trần thế và hiện thực của nó, và những
Trang 25nhu c ầu, những khả năng ấy đòi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn” [70, tr.7]
Thời đại Phục hưng đã đúc kết những quan điểm về sự vận động của xã
hội, lịch sử Xã hội có khởi nguyên và phát triển từ trần thế, hoàn toàn không
xuất phát từ thần thánh hay các thế lực siêu nhiên Điều đó đã thúc đẩy các nhà nhân văn hiện thực Phục hưng tìm tòi và nghiên cứu về thực tại cùng những mối liên hệ phức tạp diễn ra bên trong của lịch sử xã hội:
Có th ể nói sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng là một bước ngo ặt quan trọng trong quá trình giải phóng tinh thần và tự ý thức của nhân
lo ại Từ thời Phục hưng trở về sau, trong văn học nghệ thuật, chủ nghĩa nhân văn đã bước sang một giai đoạn phát triển mới: từng bước gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng con người về các phương diện chính trị - xã hội và các phương diện khác thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống Nó trở thành lí tưởng thẩm mĩ có sức định hướng cho những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật và qui định bản chất của mỗi nền văn học nghệ thuật [21, tr.89-90]
Những tư tưởng tiến bộ dần dần được các nhà Triết học, nghệ sĩ, nhà văn hưởng ứng và tán thành Họ đã đem vốn kiến thức của bản thân mình để nâng cao và hoàn thiện hơn để trở thành tư tưởng nhân văn Tiêu biểu là các tác giả như: Leonardo de Vinci, Shakespeare, Dante, Bocaxio, Bruno, F Becon… Các nhà văn thời kì Phục hưng là những người truyền bá mạnh mẽ nhất cho chủ nghĩa nhân văn Họ ca ngợi lý trí, từ chối tính tầm thường và chủ nghĩa duy vật,
phản ánh tinh thần của thời đại lúc bấy giờ Nhờ vào tinh thần đấu tranh chống lại sự cai trị hà khắc của chế độ phong kiến, chủ nghĩa nhân văn đã trở thành một trào lưu tư tưởng hiện thực với sức mạnh to lớn và có ý nghĩa sâu sắc Theo Ăngghen:
Thời kỳ văn hóa Phục hưng là thời kỳ chuyển biến quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân loại Đó là cuộc cách mạng tiến bộ nhất mà loài người chưa từng thấy Một thời đại cần những con người khổng lồ, khổng lồ về tư
Trang 26tưởng về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về tài năng mọi mặt và về sự hiểu biết sâu rộng của họ [2, tr.13-14]
Tư tưởng nhân văn ra đời trong thời đại đầy biến động, xung đột Cơ sở thực tiễn đó chính là nền tảng để tư tưởng nhân văn trong văn học tồn tại và phát triển Sự xuất hiện của tư tưởng nhân văn được xem là hệ thống quan điểm lí
luận với đối tượng trung tâm là con người, đánh dấu bước phát triển quan trọng
về trình độ, nhận thức của xã hội loài người
1.1.2 B ản chất của tư tưởng nhân văn
Tư tưởng nhân văn hướng về con người với tư cách là trung tâm của vũ
trụ, là chủ thể của lịch sử - xã hội Các nhà nhân văn luôn dành tình yêu thương
và đặt niềm tin mãnh liệt nơi con người Nói về vai trò trung tâm của con người, Shakespeare đã phát biểu rằng: Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài Thông qua những vở bi kịch và hài kịch, Shakespeare đã tôn vinh và
ca ngợi những vẻ đẹp của con người và cười chê tầng lớp quí tộc Các nhà nhân văn chủ nghĩa như: Bocaxio, Xecvantex, Rabơle, Môngtennhơ… dưới nhiều hình thức phê phán khác nhau cũng đã kịch liệt giáng đòn vào chế độ phong
kiến, Giáo hội và hệ tư tưởng tôn giáo Họ đã góp phần vào việc giải phóng con người và sự tiến bộ của xã hội
Tư tưởng nhân văn thời Phục hưng đã tìm thấy những biểu tượng rất sáng
về con người với vẻ đẹp, ý chí và nghị lực đấu tranh chống áp bức bóc lột và giành tự do cho mình Vì thế, mọi thứ chống đối con người, kìm hãm sự phát triển và tự do của con người đều bị lên án Tiêu biểu nhất cho khuynh hướng này chính là ca ngợi sự tự do của con người đã được giải phóng khỏi xiềng xích, áp
bức của chế độ phong kiến Điểm sáng ở đây là lên án Thần học và Triết học kinh viện; lên án nền luân lí đạo đức phong kiến đã chi phối và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tình cảm, tư tưởng của con người; qua đó ca ngợi sự bứt phá,
ý chí vươn lên làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình Các nhà nhân văn đã cố gắng giành lại quyền tự do cho nhân loại Họ đã cho các nhân vật
Trang 27được suy nghĩ, tự do hành động, nói năng tùy theo lý tính và ý chí của mình với
tư cách là một cá nhân độc lập có trách nhiệm với xã hội Đồng thời, các nhà nhân văn còn tìm thấy nguyên nhân gây ra bất hạnh của con người ở ngay trong chính đời sống, chứ không phải trong quan hệ với thần thánh Họ lên tiếng phê phán mạnh mẽ vào những điều xấu xa, tội lỗi của xã hội phong kiến; lên án sự
áp bức của nhà thờ và phong kiến; chống lại mọi trói buộc đối với tự do cá nhân
của con người Bên cạnh đó, các nhà văn tiến bộ với một tinh thần trách nhiệm còn luôn cố gắng suy tư về tương lai, về cơ chế của tổ chức xã hội với hi vọng tìm được lối thoát cho chính mình và giải phóng nhân loại Vẻ đẹp của con người trong chủ nghĩa nhân văn không chỉ ở tư chất bẩm sinh mà còn ở ý tưởng
và tình cảm với xã hội Qua những biểu hiện trên đã cho thấy tính xã hội và tinh
thần trần thế của chủ nghĩa nhân văn
Các sáng tác văn học trong giai đoạn này mang tính xã hội hơn, vì tình hình xã hội phát triển với mâu thuẫn ngày càng sâu sắc Các nhà nhân văn thấy được xã hội có nguồn gốc hình thành, phát triển mang tính trần thế chứ không
phải từ thần thánh Chính vì thế, chủ nghĩa nhân văn phát triển theo xu hướng
mô tả đời sống cụ thể về lịch sử xã hội Các nhân vật nhân văn quan tâm nhiều hơn đến vấn đề xã hội, và nếu so sánh với các nhân vật cổ đại thì thấy rằng trong
họ luôn có sự đấu tranh gay gắt và tích cực hoạt động với hoàn cảnh xung quanh Cho nên nhân vật văn học Phục hưng sinh động và tràn đầy sức biểu
cảm, góp phần làm cho cách lý giải hiện thực trong các sáng tác văn học thời kì
này phong phú hơn
Tuy nhiên tư tưởng nhân văn thời kì này còn nhiều mặt hạn chế Đó là lí tưởng sống vì đồng tiền, coi tiền là trên hết, là tất cả trong cuộc sống Do xã hội
thời bấy giờ, đồng tiền giữ một vai trò hết sức quan trọng và chi phối đến tư tưởng này Tuy nhiên, đứng trước nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng của đồng
tiền đến con người, một số nhà nhân văn tiến bộ đã lên tiếng đả kích gay gắt và
chống lại những thế lực của đồng tiền, những con người sống vì tiền mà bất
Trang 28chấp tất cả, giẫm đạp lên cuộc sống và quyền lợi của người khác Hạn chế tiếp theo nữa là trào lưu tư tưởng nhân văn hầu như xa lạ với quần chúng do không
có tính thuần nhất và còn nhiều giới hạn giữa các tầng lớp Vì hạn chế này, nên
đã xảy ra sự đối nghịch với nhân dân, mà chủ yếu là do hai luồng tư tưởng của các nhà nhân văn: một bên là lên án mọi hiện tượng phản nhân văn trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản còn một bên là thỏa hiệp và bênh vực cho quyền lợi
của giai cấp tư sản
Mặc dù đã nhận ra được hạn chế của xã hội cũ, nhưng chủ nghĩa nhân văn không thấy được chế độ tư hữu chính là nguyên nhân dẫn đến áp bức và các thói
xấu trong xã hội Chính vì điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề hạnh phúc
của nhân loại Bên cạnh đó, thời kì tiền tư bản chủ nghĩa của xã hội Tây Âu lại
xuất hiện những hoàn cảnh bất hạnh, tàn bạo không khác gì thời Trung cổ, nên các nhà nhân văn chủ nghĩa lại rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng lí tưởng do không thể giải quyết được triệt để tình hình đó Họ chỉ còn một hướng đi là tiếp
tục lên án những hiện tượng phản nhân văn trong đời sống với tâm thế bế tắc và
bi quan Hạn chế này cũng chính là hạn chế của thời đại chứ không phải do bản thân của chủ nghĩa nhân văn Vấn đề không đơn giản chỉ là tháo gỡ được xiềng xích của chế độ phong kiến, giáo hội để đem lại sự tự do cho con người… thì nhân loại sẽ hạnh phúc, đó chỉ là sự ảo tưởng của chủ nghĩa nhân văn Chủ nghĩa nhân văn đặt vấn đề giải phóng nhân loại trước hết bằng cách giải phóng
cá nhân, mà không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội, và điều đầu tiên cần phải đạt được chính là tự do cho toàn xã hội Sự ảo tưởng đó còn tồn tại qua các thế kỉ XVII – XVIII – XIX, ngay cả những nhà trí thức của phong trào Ánh sáng ở nước Pháp cũng không thể nào xóa bỏ được mâu thuẫn
giữa lý tưởng nhân văn chủ nghĩa và hiện thực tư sản Và để khắc phục mâu thuẫn đó, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã ra đời Tuy nhiên do sở hữu tư sản
vẫn còn tồn tại và phát triển, nên dù các nhà nhân văn chủ nghĩa đã cố gắng
Trang 29tưởng tượng ra nhiều dự án tổ chức xã hội nhưng lại càng không tưởng và không
thể cải tạo xã hội
Bên cạnh đó, do tình trạng phát triển của ý thức xã hội thời Phục hưng còn yếu nên các nhà nhân văn chưa thể suy nghĩ triệt để về chủ nghĩa nhân văn Nên trong văn học nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng, các nhân vật không được phân biệt về mặt giai cấp, chẳng hạn như các tác phẩm của Shakespeare, Rabơle, Xecvantex Các nhân vật tích cực thời Phục hưng lại không có tính xác định về
lịch sử - xã hội, còn các nhân vật tiêu cực thường có tính chất cụ thể về mặt xã
hội Đây là do sự hạn chế trong tư tưởng, quan điểm của trào lưu này tạo nên,
mà thực chất là do sự bế tắc của xã hội
Hạn chế nữa là chủ nghĩa nhân văn đã nhìn nhận lầm lẫn giữa con người
với tự nhiên và con người với xã hội, nên áp dụng các qui luật của tự nhiên và
xã hội dẫn đến mâu thuẫn trong quan điểm và tính chất trừu tượng của chủ nghĩa nhân văn Mâu thuẫn tiếp theo với lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn là sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khoa học kĩ thuật thay đổi và phân công lao động làm con người lệ thuộc vào các qui luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản
Tư tưởng nhân văn thời kì này tuy vẫn còn nhiều mặt hạn chế, nhiều mặt tiêu cực, nhưng cũng đã có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của con người và chính
là nền tảng quan trọng cho hệ tư tưởng mới tiến bộ, toàn diện ra đời
Ở Việt Nam, việc tiếp thu, xây dựng và phát triển tư tưởng nhân văn hướng về con người cũng đã được quán triệt rõ ràng, thông qua các văn kiện của Đại hội Đảng Cụ thể là từ nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa VII cũng đã khẳng định:
Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của
y ếu tố con người, chủ thể mọi sáng tạo của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh qu ốc gia phải xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, nhằm phát triển con người toàn diện, xây dựng một xã hội công bằng nhân ái, thiết lập quan hệ
Trang 30th ật sự tốt đẹp và tiến bộ giữa con người và con người trong sản xuất và đời
s ống, để từ đó làm tăng gấp bội hiệu quả kinh tế xã hội [28, tr.5]
1.2 Tư tưởng nhân văn hiện thực
“Ch ủ nghĩa nhân văn hiện thực là thuật ngữ được Karl Marx sử dụng Karl Marx g ọi chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa nhân văn hiện thực” [44, tr.1]
1.2.1 B ản chất của tư tưởng nhân văn hiện thực
Con người là đối tượng trung tâm trong văn học Hiện thực trong văn học nghệ thuật được khai thác dựa vào nhân tố chính là con người Quá trình phản ánh hiện thực xuất phát từ chủ thể phản ánh Nhưng quan trọng, sự phản ánh đó còn xuất phát từ lòng mong muốn cải tạo hiện thực, góp phần xóa bỏ những tiêu
cực, xấu xa trong đời sống thực tại Theo đó, vai trò của một người nghệ sĩ khi
phản ánh hiện thực chính là: Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật (Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần VI)
Tư tưởng nhân văn hiện thực luôn hướng về con người, khẳng định
những vẻ đẹp và giá trị vốn có của con người, đấu tranh vì quyền lợi của con người và giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột Vấn đề nhân văn hiện thực
là vấn đề về con người trong sự tồn tại, hoạt động và phát triển: “Không có chủ nghĩa nhân văn hiện thực thì không có sự phát triển chân chính cho con người, cho s ự tiến bộ nghệ thuật Không có hạnh phúc và sự phát triển của từng cá nhân thì không th ể xây dựng xã hội hài hòa và bền vững” [44, tr.14]
1.2.1.1 Kh ẳng định những giá trị toàn năng của con người
Tư tưởng nhân văn hiện thực khẳng định những giá trị toàn năng của con
người, khẳng định con người với tư cách là con người chân chính
Với những quan niệm mới về con người, các nhà nhân văn đắm say trước
vẻ đẹp của con người, và “xem con người như kỳ quan của tự nhiên, như là người điều khiển vũ trụ, khâm phục tài năng, trí tuệ của nó” [19, tr.357] Con
người không chỉ là con người bình thường, mà còn có những phẩm chất, những
Trang 31giá trị tốt đẹp cả bên ngoài lẫn bên trong Như cách mà Shakespeare biểu đạt qua
lời thoại của nhân vật Ham – let:
Con người là một tuyệt tác biết chừng nào! Cao quý bao nhiêu với lý trí sáng su ốt! Những khả năng của nó vô tận biết bao nhiêu! Lớn lao và tuyệt vời
bi ết bao nhiêu trong hình dáng và cử chỉ! Trong hành động thì giống như thiên
th ần, về hiểu biết thì như một bậc thánh! Con người là sắc đẹp của thế giới, tinh hoa của muôn loài! [19, tr.358]
Con người từ lúc sinh ra đã là giá trị sẵn có Chính vì vậy, việc khẳng định những giá trị đó thể hiện tinh thần vì con người và tôn trọng con người Con người không chỉ bộc lộ những phẩm chất, vẻ đẹp của mình qua sức mạnh, trí tuệ, những tư chất thuộc về bẩm sinh mà còn bộc lộ qua những lí tưởng của
cá nhân của con người đối với xã hội
1.2.1.2 Đấu tranh giải phóng con người
Không chỉ khẳng định những giá trị toàn năng của con người, tư tưởng nhân văn hiện thực còn đấu tranh để giải phóng con người Con người phải chịu
sự ràng buộc của nhà thờ, chế độ phong kiến, và nhiều rào cản khác nên không
có quyền tự do cá nhân của riêng mình Vì vậy, con người cần phải được giải phóng khỏi tất cả những điều đó, đây là một yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết đối với
vận mệnh và cuộc sống của con người Bởi vì: “Con người không phải chỉ sống
b ằng bánh mì, và nó cũng không phải chỉ sống bằng những của cải vật chất hiện đại Con người sống chủ yếu bằng chân lý và lương tri, bằng chính trực và tự
do, b ằng đạo lý và nhân bản” [56, tr.28]
Các nhà nhân văn Phục hưng đã giải phóng con người thoát khỏi sự
khống chế và ánh sáng quyền lực của các thần thánh, để họ có quyền hành động theo lí trí của mình một cách tự do, không phụ thuộc Con người trở thành một
cá nhân riêng biệt và độc lập trong xã hội Dẫn theo lời của C Mác và Ăngghen
thì: S ự trả lại con người bản thân nó với tư cách là con người xã hội, tức là con
Trang 32người tính người, sự trả lại này có tính chất đầy đủ, diễn ra một cách tự giác, có
s ự giữ lại toàn bộ sự phong phú của sự phát triển trước đây [39]
Các sáng tác nhân văn hiện thực luôn đấu tranh giải phóng con người thoát khỏi những vây hãm, áp bức, từ đó khẳng định quyền tự do, phát triển tự
do của con người Đấu tranh giải phóng con người không chỉ là đưa con người thoát khỏi sự áp chế, xiềng xích mà còn là giải phóng nhân cách của con người, đòi quyền tự do thật sự cho con người và tạo mọi điều kiện để con người trở thành tự do với tư cách là một cá nhân trong xã hội Có như thế con người và xã
hội mới ngày càng phát triển bền vững hơn
Tư tưởng nhân văn hiện thực có sự tiến bộ hơn tư tưởng nhân văn thời
Phục hưng, đó là khẳng định sự tác động biện chứng, thống nhất giữa mỗi cá nhân với xã hội; hướng đến sự hoàn thiện nhân cách con người Tư tưởng nhân văn hiện thực gắn với toàn bộ quá trình cải biến của xã hội theo định hướng xã
hội chủ nghĩa
Tóm lại, bản chất của tư tưởng nhân văn hiện thực là hướng về vấn đề con người, mà đặc biệt là giải phóng để con người phát triển tự do và khẳng định
những khả năng của mỗi con người
1.2.2 Bi ểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực
Trong văn học, tư tưởng nhân văn hiện thực biểu hiện rất đa dạng, phong phú, rất khác nhau và tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, đó là: tùy từng thời đại và giai đoạn lịch sử phát triển của nhân loại; tùy theo mỗi trào lưu văn nghệ và khuynh hướng nghệ thuật; tùy theo từng cá nhân sáng tác và các tác phẩm văn
học, sáng tạo nghệ thuật Mọi biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực đều
hướng về đối tượng trung tâm là con người: “Con người là con người riêng biệt của từng thời đại, từng tập đoàn xã hội nhất định, đồng thời nó cũng là con người nói chung phát triển trong toàn thể lịch sử loài người, con người phổ cập
c ụ thể” [56, tr.139]
Trang 33Tuy nhiên trên bình diện lý thuyết thì tư tưởng nhân văn hiện thực được
biểu hiện ở những phương diện chính, đó là: tình yêu thương con người, sự phân đôi trong thái độ của người nghệ sĩ đối với con người và cuộc sống, khơi dậy
những khát vọng của con người, tôn vinh những vẻ đẹp của con người
1.2.2.1 Tình yêu thương con người
Văn học chính là tiếng nói đồng cảm và sẻ chia với mọi khổ đau, vui
buồn, hạnh phúc của con người Chính vì thế, nó còn mang một sứ mệnh cao cả
là thể hiện tình yêu thương đối với con người, bởi đây không chỉ là một thái độ
sống, một cách ứng xử nhân văn mà còn là động lực lớn lao tạo nên sức mạnh, khơi nguồn sự sống và những mạch cảm hứng sáng tạo cho con người Như lời
Hồ Chí Minh trước lúc đi xa, có căn dặn lại trong bản di chúc rằng: Phải có tình
đồng chí thương yêu lẫn nhau Lời dặn của Bác thấm đẫm tính nhân văn, để các
thế hệ sau hiểu rằng trong mối quan hệ giữa người với người, phải nhân lên trong nhau tình thân, sự thương yêu đồng loại; phải biết giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau để mà sống và dìu dắt nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc đời
Tình yêu thương con người thể hiện thái độ sống, cư xử đầy chất nhân văn Đó chính là sức mạnh tinh thần lớn lao tạo nên năng lượng sống của con
người Như lời của Gorki: “Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tình yêu thương chân chính đối với con người được tổ chức như một lực lượng sáng tạo”
[18, tr.139] Yêu thương là tôn trọng con người, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, thứ bậc trong xã hội,… Dẫn theo lời của Bielinxki thì:
Ni ềm kính trọng đối với tên tuổi con người, tình yêu bao la đối với con người chỉ vì rằng anh ta là con người, không có bất kì quan hệ nào đối với nhân cách, dân t ộc, tôn giáo, thứ bậc, thậm chí cả phẩm giá hay không phẩm giá riêng của anh ta – tóm lại là tình yêu bao la và lòng kính trọng vô hạn đối với loài người, ngay cả với đại diện cuối cùng của nó, cần phải là bản chất, hơi thở,
cu ộc sống của con người [20, tr.96]
Trang 34Tình yêu thương bao la và rộng lớn, đó là yêu nước thương dân, yêu đời thương người,… và thương yêu chính bản thân mình Những tình cảm thương yêu đó quyện chặt và đan kết vào nhau tạo nên một sức mạnh diệu kì, làm nên
những sáng tác độc đáo, sáng tạo và sâu sắc tính nhân văn Tố Hữu đã có những dòng thơ đầy cảm xúc khi nói về tình yêu thương giữa con người với nhau:
“Con ong làm m ật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời
Con người muốn sống, con ơi
Ph ải yêu đồng chí, yêu người anh em”
Tuy nhiên tình yêu thương được bộc lộ, thể hiện ở nhiều cung bậc với nhiều mức độ rất khác nhau Yêu thương không chỉ là ca ngợi, tung hô trước vẻ đẹp, tài trí mà yêu thương còn hướng về những vùng khổ đau, những góc tối bất
hạnh của con người Đó chính là tiếng nói cảm thông và chia sẻ, là thái độ bênh
vực, an ủi những cảnh đời, những số phận hẩm hiu, đau thương Hơn hết, đau thương chính là nguồn cảm hứng bất tận cho văn học, nguồn động lực sáng tác
lớn lao cho các nghệ sĩ chân chính Họ sáng tác để bày tỏ thái độ của mình, để lên tiếng thay cho con người, để bênh vực và đồng cảm với con người
Với Nguyễn Du, tình yêu thương con người là những nỗi đau tận sâu nơi đáy lòng, đau cho cái xã hội đồng tiền thối nát, đớn hèn; thương xót cho những thân phận hồng nhan bạc mệnh như Thúy Kiều
“Trải qua một cuộc bể dâu
Nh ững điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Truyện Kiều)
Chế Lan Viên đã từng viết những dòng thơ đầy xúc cảm và day dứt khi đọc Truyện Kiều:
“Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
S ắc tài sao mà lại lắm truân chuyên Cành xuân ph ải trao tay khí nước mất
C ỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên
Trang 35B ỗng quý cô Kiều như đời dân tộc
Ch ữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường”
Một tác phẩm văn học đích thực phải thể hiện được tình yêu thương con người, hướng về nỗi đau con người Một người nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng dành trọn trái tim của mình để sẻ chia, đồng cảm với những nỗi đau nhân tình
thế thái trong cuộc đời con người, trong thời đại mà họ đang sống Phải kể đến như: Đại văn hào Victor Huygô, Dostoievski, Nguyễn Du, Macxim Gorki,… Ví
dụ như tác phẩm Những người khốn khổ của Victor Huygô đã khẳng định giá
trị của một tác phẩm văn học vĩ đại bậc nhất Sự vĩ đại của tác phẩm nằm ở
những số phận tầm thường, cơ cực; ở những con người nhỏ bé bình thường trong xã hội…
Không chỉ đối với các nhà văn hiện thực mà ngay trong các sáng tác của các nhà văn lãng mạn, những gì mà họ truyền tải cũng hướng đến những nỗi đau
buồn tận sâu trong tâm can của con người
D ẫn theo lời của Đôbrôliubốp: Xã hội có nhiều tầng, nhiều lớp nên văn học cũng phải có nhiều kiểu, nhiều dạng người khác nhau Đó cũng chính là
nh ững điều tạo nên niềm say mê thích thú đối với người đọc Nó tạo nên những thành công cho các tác ph ẩm, các nhà văn Trong yêu cầu đó, nhân văn như một
tư tưởng, tình cảm, một bản chất của con người, mà mỗi một biểu hiện hay thiếu
v ắng của nó trong một nhân cách cụ thể trở thành thước đo, tiêu chuẩn của tất
cả các đại diện lỗi lạc nhất của nghệ thuật Không một lập trường quan điểm tri ết học, chính trị xã hội và các quan điểm khác, có thể ngăn cách họ Tất cả họ đều có chung tư tưởng “nỗi đau về con người” [20, tr.53]
Các nghệ sĩ khi thể hiện tình thương yêu, san sẻ với nỗi đau của người khác đôi khi cũng là một cách để họ chia sẻ chính cuộc đời mình, chia sẻ những
khổ đau mà bản thân họ đã trải qua Họ không chỉ thương cho phận người mà còn thương cho chính thân phận của mình, như câu: “Thương người như thể thương thân” Tình yêu thương vốn thiêng liêng và cao quý, biết đồng cảm và
Trang 36yêu thương người khác cũng chính là yêu thương chính bản thân mình, cảm thông và hiểu rõ hơn con người thật của mình Theo Hêghen thì tình thương chính ở sự từ bỏ ý thức về bản thân mình, quên mình, nhưng chính trong sự biến
mất và quên đi con người có thể tìm được và làm chủ được bản thân mình, tình thương như một hình thái tự khẳng định cá nhân của con người Tình thương không chỉ mang con người xích lại gần nhau hơn mà còn đưa con người trở về
với chính bản thân mình Đây cũng là một biểu hiện đặc trưng của tư tưởng nhân văn hiện thực
Tóm lại, tư tưởng nhân văn hiện thực chứa đựng tình yêu thương con người chan chứa, đó là tình yêu thương hướng về những vũng sâu tâm can của con người, nơi mà con người phải đối diện với những khổ đau, những bất hạnh,
những nỗi buồn sâu thăm thẳm khó giãi bày, khó sẻ chia Và nhờ hoạt động sáng
tạo văn học, người nghệ sĩ sẽ làm nhiệm vụ cứu rỗi cho những tâm hồn khổ đau,
bất hạnh và bảo vệ hạnh phúc của con người
1.2.2.2 S ự phân đôi trong thái độ của người nghệ sĩ đối với con người
Đầu tiên là thái độ lên án, phê phán những cái xấu, cái ác và phủ định
những cái phi nhân tính trong cuộc sống Có thể kể đến là những tập tục khắt khe; những lề thói cổ hũ, gay gắt; kỉ cương, luật lệ khuôn phép đã ràng buộc con người; và những lực lượng quyền thế của xã hội, các thể chế xã hội và thiết chế chính trị tư tưởng đã vây hãm, bóc lột, áp bức, khiến con người bị rơi xuống
Trang 37dưới đáy xã hội, hủy hoại nhân tính của con người Có thể kể đến như tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Huygônói tới bản chất của cái tốt, cái
xấu, của luật pháp ở Pháp nửa đầu thế kỷ 19 Truyện Kiều của Nguyễn Du đã
lên án sâu sắc chế độ phong kiến, thế lực đồng tiền đã khiến cho biết bao con người phải rơi vào tình cảnh khốn cùng Xã hội đó khiến cho gia đình Kiều phải rơi vào hoàn cảnh khó khăn, chia li, Kiều phải lặn ngụp giữa vũng bùn nhơ
nhớp, tình yêu cũng không giữ được, số phận hồng nhan hẩm hiu và bất hạnh
Bên cạnh thái độ lên án, phê phán là thái độ cảm thông, đồng cảm, bênh
vực và sẻ chia với những thân phận nhỏ bé, những cảnh đời cơ cực, bất hạnh và
khổ đau
Nh ững người khốn khổ của Victor Huygô đã cho thấy sự cảm thông toát
lên từ tận sâu trong tâm hồn của tác giả dành cho những thân phận nhỏ bé trong
xã hội Đó là cảnh sống khổ cực, rách rưới của Cô - dét; là nàng Phăng – tin giữa
cảnh bùn nhơ vẫn sáng ngời như một biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng Phăngtin còn là biểu tượng của sự sa đoạ, nhục nhằn, bị lạm dụng rồi bị ruồng
bỏ, đó cũng chính là thân phận của những người phụ nữ bất hạnh xưa nay…
Những người khốn khổ hay Truyện Kiều cũng đều là những tiếng nói đồng
cảm và bênh vực cho số phận đau khổ của con người Và đó là những tác phẩm đậm chất nhân văn hiện thực
Khi dành hết tình yêu thương cho con người, các nhà văn nhân văn hiện
thực vô cùng căm phẫn trước sự tàn ác, bất công của các thế lực phi nhân tính Trong các sáng tác của họ là sự phủ định, nguyền rủa những cái ác, cái xấu, các
thể chế, luật lệ hà khắc, kỉ cương… đã kìm hãm, chà đạp, hủy hoại con người
Có một điểm tư tưởng nhân văn hiện thực tiến bộ hơn tư tưởng nhân văn là giải thích nguyên nhân dẫn đến bất hạnh, khổ đau… của con người và đưa ra những phương pháp, mở ra những con đường, tìm ra lối thoát cho những nỗi đau của con người
Trang 381.2.2.3 Khơi dậy những khát vọng của con người
Người nghệ sĩ thông qua quá trình hoạt động và sáng tạo nghệ thuật của mình sẽ khơi dậy những khát vọng của con người Khát vọng đó có thể là niềm
tin, là ước mơ, hay hi vọng của con người Nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều
là con người ôm ấp những ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp, tuy ước mơ đó không thể nào tồn tại được trong xã hội tàn bạo bấy giờ nhưng cũng đã thể hiện tinh thần và niềm hi vọng của con người
Khi khơi dậy những khát vọng và niềm tin ở con người, những người nghệ sĩ, các tác giả nhân văn vẫn luôn chú ý đến sự tự nhận thức, tự ý thức của con người về chính bản thân mình, về cuộc sống của mình, đồng thời lí giải và phân tích những khát vọng sống đó Truyện Kiều là khao khát cuộc sống tự do,
niềm tin vào công lý trong xã hội Đời Kiều dù phải chịu đày đọa dưới biết bao trò khổ nhục, đau khổ vô biên giày vò nhưng Kiều vẫn ý thức được thân phận
của mình, ý thức được những điều xấu xa đang dìm mình xuống, và tìm mọi cách để giải thoát Cái tình của Kiều, sức sống bền bỉ và sâu sắc của Kiều đã làm lung lay phần nào khuôn khổ phong kiến… Sự nhận thức đó không chỉ là ý thức
của người nghệ sĩ mà còn xuất phát từ bản chất của xã hội, thời đại lịch sử với nhiều mối quan hệ, nhiều tầng bậc giai cấp khác nhau
Văn học đích thực muốn phát huy hết sức mạnh của mình thì phải gắn liền
việc khơi dậy những khát vọng của con người với việc thức tỉnh tinh thần của con người, đánh thức ý thức đấu tranh, phản kháng và quan trọng là giải phóng chính mình, giải phóng cả đồng loại của mình thoát khỏi áp bức, thoát khỏi xã
hội tàn bạo, đê hèn Để làm được điều đó là nhờ vào năng lực tự thân của mỗi con người Trong xã hội nhiều bất công, con người không có quyền bình đẳng cá nhân, không có quyền tự do dân chủ thì việc phản kháng để bảo vệ mình và đồng loại là một điều cần thiết Bởi sức chịu đựng và tinh thần kiên trì của con người đều có giới hạn, nếu vượt quá giới hạn thì tất yếu phải đứng lên đấu tranh
và giành lại quyền lợi cho mình Đây cũng là nguồn cảm hứng đối với các nhà
Trang 39văn, họ sẽ sáng tạo và tái hiện lại thông qua những hình tượng tiêu biểu Rừng
xà nu của Nguyễn Trung Thành là hình ảnh những con người Xôman, con người Tây Nguyên, con người Việt Nam trong những ngày đánh giặc vẫn sống,
bền bỉ, kiêu hùng, đầy khao khát trong niềm ham muốn tự do mãnh liệt, luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu Đó không chỉ là câu chuyện của một thời, một dân tộc, một đất nước mà tiêu biểu ở đây là hình ảnh những thế hệ dân làng Xôman nối tiếp nhau cùng đứng lên chiến đấu Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
cũng là một tác phẩm thể hiện rất rõ khát vọng, khao khát sống của con người
Đó là sự vươn dậy đấu tranh, không chỉ giải phóng bản thân mà còn giải phóng cho đồng loại của mình Khát vọng hạnh phúc có thể bị vùi lấp, bị lãng quên trong đáy sâu của một tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ, nhưng không thể bị tiêu tan, khi gặp thời cơ thuận lợi thì nó lại cháy lên mãnh liệt Mị đã cởi trói cho A
Phủ và cùng A Phủ chạy trốn Lòng nhân đạo, niềm khao khát cuộc sống tự do,
sự căm thù sâu sắc cha con thống lí đã làm nên sức mạnh diệu kì ở Mị Điều đó
khởi phát từ bản tính hướng thiện tự nhiên của con người Tô Hoài đã mở đường cho họ, để họ tìm đến với Đảng và đi theo cách mạng, đó mới là con đường để
họ tự đứng lên giải phóng mình, tháo bỏ ách xiềng xích nô lệ A Phủ và Mị đã được A Châu giác ngộ, họ hiểu rõ hơn bản chất của bọn thực dân phong kiến và
nhận thức được con đường duy nhất đúng đắn là mình phải theo cách mạng để thoát khỏi cái nghèo, thoát khỏi kiếp nô lệ: tự mình phải đứng lên lật đổ ách thực dân phong kiến, tiêu diệt những kẻ như cha con thống lí Pá Tra thì mới có cuộc
sống hạnh phúc, tự do lâu bền thực sự Đảng đã chỉ đường cho họ và A Phủ đã
trở thành tiểu đội trưởng đội du kích Mị và A Phủ tự nguyện đứng lên bảo vệ quê hương, bản làng, đánh Tây và xóa bỏ chế độ phong kiến
Tư tưởng nhân văn hiện thực khơi dậy những khát vọng của con người để hướng con người về những điều tốt đẹp và biết từ bỏ, rời xa những điều xấu xa,
tội lỗi
1.2.2.4 Tôn vinh vẻ đẹp con người
Trang 40Không chỉ thể hiện tình yêu thương con người, sự phân đôi trong thái độ
của người nghệ sĩ đối với con người và cuộc sống, khơi dậy những khát vọng
của con người mà tư tưởng nhân văn hiện thực còn tôn vinh vẻ đẹp của con người Bởi vì trong mỗi con người đều có những vẻ đẹp bên ngoài lẫn vẻ đẹp
tiềm ẩn bên trong Tôn vinh vẻ đẹp của con người là thể hiện sự yêu thương, tôn
trọng, tin tưởng vào con người
Tư tưởng nhân văn hiện thực luôn xuất phát từ sự đồng cảm với bất hạnh,
khổ đau của con người; quý trọng con người – với tư cách là một cá nhân trong
xã hội và con người – trong mối quan hệ giữa người với người; tôn trọng và đề cao những vẻ đẹp của con người Những vẻ đẹp của con người ở đây chính là vẻ đẹp ngoại hình, vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp của con người trần thế chứ không còn là
vẻ đẹp thần thánh như trước đây
Chính vì vậy, các tác phẩm văn học mang tư tưởng nhân văn hiện thực đều gắn với vẻ đẹp của con người Đó là những con người rất đỗi bình dị trong đời sống thực; họ thuộc mọi tầng lớp trong xã hội; họ tuy không toàn vẹn nhưng
ẩn sâu trong họ là những vẻ đẹp tiềm ẩn nhưng sáng ngời sẽ được các nhà văn tìm kiếm và phát sáng thông qua các tác phẩm của mình Cho nên, khi tiếp cận
với những tác phẩm văn học này, người đọc sẽ cảm thấy gần gũi và đồng cảm,
bởi vì họ có thể bắt gặp được mình đâu đó trong tác phẩm Điều này giúp cho văn học dễ dàng tiếp cận và chạm đến trái tim của người đọc
1.2.3 M ục đích của tư tưởng nhân văn hiện thực
Mọi quá trình vận động của xã hội cũng như toàn bộ tiến trình sáng tạo,
hoạt động nghệ thuật đều hướng về mục đích là làm cho xã hội trở nên nhân đạo hơn Tư tưởng nhân văn hiện thực không đơn thuần là phát triển năng lực phản kháng của con người mà hướng tới mục đích cao hơn, quan trọng hơn là phát triển những năng lực bản chất của mỗi con người, là sự hiểu biết, khám phá và sáng tạo