Nền tảng lý thuyết diễn ngôn cùng với cách cắt nghĩa về khái niệm “sự thật” của nó đã cung cấp cho chúng tôi một cách tiếp cận mới về thể loại tự truyện, hồi kí - tự truyện nói chung và
Trang 1Nguy ễn Thị Thu Thủy
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Trang 4
Trong quá trình hoàn thành luận văn, cùng với những nỗ lực của bản thân, người
viết đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của rất nhiều người
Người viết xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thành Thi – Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Tp HCM Thầy đã tận tình chỉ
bảo và hướng dẫn người viết trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn, các thầy cô giáo ở Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Tp HCM, Tổ thông tin Thư viện Đại học
Sư phạm Tp HCM, Tổ thông tin Thư viện Khoa học Tổng hợp, cùng các anh (chị) lớp
Lí luận văn học K23 đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để người viết hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT chuyên Quang Trung
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong công tác để người viết hoàn thành luận văn đúng
Trang 5Lời cảm ơn
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG 15
1.1 T ự truyện, hồi kí - tự truyện như là những loại hình diễn ngôn 15
1.1.1 Khái niệm hồi kí; tự truyện ; hồi kí - tự truyện 15
1.1.2 Phương pháp nghiên cứu loại hình và việc phân xuất các loại hình diễn ngôn nghệ thuật 24
1.2 Diễn ngôn nghệ thuật và diễn ngôn tự truyện, diễn ngôn hồi kí - tự truyện 26
1.2.1 Một số hướng tiếp cận diễn ngôn và hướng tiếp cận của tác giả luận văn 27 1.2.2 Sự hội tụ cái tôi tác giả, chủ thể viết, chủ thể kể trong diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện 33
1.2.3 Đặc điểm nội dung, cảm hứng, thế giới nghệ thuật của tự truyện, hồi kí - tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn 38
1.2.4 Đặc điểm ngôn từ và phương thức thể hiện nội dung, cảm hứng của tự truyện, hồi kí - tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn 41
1.2.5 Sự chi phối của thời - không gian trong tự truyện, hồi kí - tự truyện đối với văn bản nghệ thuật: nét đặc trưng thi pháp thể loại nổi bật 45
1.3 Tự truyện, hồi kí - tự truyện trong sáng tác của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài 47
1.3.1 Tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng 47
1.3.2 Tự truyện của Hồ Dzếnh 48
1.3.3 Tự truyện, hồi kí - tự truyện của Tô Hoài 50
Ti ểu kết chương 1 52
Trang 62.1 Diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện – diễn ngôn về “sự thật” nhằm thỏa mãn
nhu cầu nhận thức về cá nhân 54
2.1.1 Suy ngẫm, đánh giá lại chính mình 54
2.1.2 Giải thích trình trạng hiện tồn của chủ thể kể 62
2.2 Diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện như là diễn ngôn về “sự thật” nhằm thể hiện cái nhìn hồi quang về thế giới dĩ vãng 67
2.2.1 Bức tranh thiên nhiên, bức tranh sinh hoạt, đời sống xã hội 68
2.2.2 Sự xuất hiện của con người như là tâm điểm của hoạt động hồi tưởng 75
2.3 Các yếu tố chi phối diễn ngôn về “sự thật” trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài 82
2.3.1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội chi phối hệ tư tưởng 82
2.3.2 Cái nhìn sắc tộc, ý thức cội nguồn 86
2.3.3 Dấu ấn của đức tin, tôn giáo 89
2.3.4 Cái nhìn nữ quyền 91
2.3.5 Thời điểm sáng tác 94
2.3.6 Tự tạo cơ hội đối thoại trực tiếp với bạn đọc 95
Ti ểu kết chương 2 97
Chương 3 MÃ NGHỆ THUẬT DIỄN NGÔN TRONG TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ - T Ự TRUYỆN CỦA NGUYÊN HỒNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI 98
3.1 Cấu trúc diễn ngôn của ý thức hồi tưởng 98
3.1.1 Kết hợp linh hoạt các phương thức trần thuật 98
3.1.2 Sự hòa phối điểm nhìn trong kiến tạo diễn ngôn 102
3.1.3 Kĩ thuật tăng tốc, giảm tốc, đảo thuật, dự thuật 106
3.2 Kĩ thuật tạo tác diễn ngôn trần thuật 112
3.2.1 Diễn ngôn của người kể chuyện 112
Trang 7ngôn trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của ba nhà văn 121
3.3 Xu hướng liên kết, tổng hợp và lấn át trong tương tác thể loại 126
3.3.1 Xu hướng tổng hợp hình thức tự sự cỡ nhỏ với tự sự cỡ lớn 126
3.3.2 Xu hướng liên kết, tổng hợp tự truyện với tiểu thuyết 128
3.3.3 Xu hướng tổng hợp và lấn át giữa tự truyện và hồi kí 131
3.3.4 Xu hướng xâm lấn, mở rộng của chất thơ 135
Ti ểu kết chương 3 138
K ẾT LUẬN 139
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 142
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tự truyện, hồi kí - tự truyện là hai thể loại văn học không mới nhưng khi nhìn vào thực tiễn sáng tác cũng như thực tiễn nghiên cứu văn học ở Việt Nam thì có
thể xem là đây là những thể loại ít được chú trọng Trong những năm trở lại đây, cùng
với sự nở rộ của thể loại tự truyện trên văn đàn là nhu cầu cắt nghĩa lại đặc trưng của
thể loại văn học này Cuộc tranh luận thực chất có tồn tại hay không thể loại tự truyện trong văn học Việt Nam đã khơi dậy nhiều vấn đề cần bàn bạc Thêm vào nữa, đường biên thể loại giữa tự truyện và hồi kí, tự truyện và tiểu thuyết tự thuật, về xu hướng
tổng hợp, liên kết, lấn át trong tương tác thể loại của những tác phẩm chuyên viết về
“người thật việc thật”,… vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ Trung tâm của khái niệm tự truyện, hồi kí - tự truyện là vấn đề “sự thật” cũng đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi
Những “nhập nhằng” về thể loại và “lỗ hổng” về tri thức xung quanh khái niệm “sự
thật” đã không ngừng kêu gọi giới nghiên cứu tham gia tìm hiểu, mổ xẻ, phân định 1.2 Nghiên cứu diễn ngôn là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ nở rộ vào thế
kỷ XX, xuất phát từ thành tựu của khoa nghiên cứu ngôn ngữ học Sự xuất hiện của nó
đã làm cho tư duy lý thuyết của các ngành khoa học xã hội và nhân văn có một bước chuyển biến mới Đặc biệt là khái niệm “sự thật” trong văn học được cắt nghĩa lại Các
hiện tượng văn học vì thế không còn được xem xét bằng cách quy chiếu nó với thực tại
có thật mà được xem xét trong mối quan hệ với các diễn ngôn lân cận Tác phẩm văn
học lúc này không còn là một thực thể khép kín mà là sự kết hợp của các lớp diễn ngôn, không còn là một thực thể tĩnh tại mà là một thực thể sinh động gắn với hoạt động giao tiếp Hệ quả là nghiên cứu văn học chuyển sang hướng nghiên cứu diễn ngôn và các yếu tố chi phối việc hình thành, cấu trúc các lớp diễn ngôn ấy Nền tảng lý thuyết diễn ngôn cùng với cách cắt nghĩa về khái niệm “sự thật” của nó đã cung cấp cho chúng tôi một cách tiếp cận mới về thể loại tự truyện, hồi kí - tự truyện nói chung
và tự truyện, hồi kí - tự truyện của ba tác giả Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài nói riêng, góp phần giải quyết những vấn đề cốt yếu của thể loại này như vai trò, khuynh hướng, sắc thái, các yếu tố quyền lực chi phối lên khái niệm “sự thật” được xem là cốt
Trang 9lõi của thể loại tự truyện, hồi kí - tự truyện và sự chi phối của nó đến quá trình kiến
tạo, cấu trúc các lớp diễn ngôn Qua đó giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về
những thể loại văn học này
1.3 Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài là những cây bút văn xuôi tự sự tiêu biểu
của Việt Nam Sự nghiệp sáng tác văn học của họ đã được khẳng định bằng những tập
tiểu thuyết, những tập truyện ngắn, tập thơ,… Và đặc biệt, trong hành trình sáng tác
ấy, họ đã ghi lại, hồi tưởng lại, cắt nghĩa lại tuổi thơ cũng như những khoảng thời gian
sống và làm việc đáng ghi nhớ của cuộc đời mình, mang đến cho độc giả những tác
phẩm tự truyện, hồi kí - tự truyện hấp dẫn, đặc sắc Mỗi nhà văn có một quá khứ riêng, hơn thế nữa họ lại có những cách cảm, cách nghĩ, cách đánh giá, giải thích, tái tạo riêng về quá khứ của mình Đặc biệt, trong khuôn khổ đặc điểm thể loại tự truyện và
hồi kí - tự truyện, họ đã có những nét riêng trong cách thức xây dựng tác phẩm, trong cách kể chuyện,… Chính vì lẽ đó, mỗi trang truyện là một thế giới riêng, độc đáo, không lặp lại ở bất kỳ ai Nghiên cứu tự truyện và thể loại kế cận nó : hồi kí - tự truyện
của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài dưới góc độ diễn ngôn nghệ thuật sẽ mang lại
một cái nhìn mới, giúp cắt nghĩa lại những vấn đề đang bỏ ngõ và tìm ra phong cách cũng như sự biến đổi trong quá trình sáng tác của ba nhà văn
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Các nghiên c ứu lý thuyết về vấn đề diễn ngôn ở Việt Nam
Nghiên cứu diễn ngôn là một hướng nghiên cứu khá mới xuất hiện vào thế kỷ
XX ở phương Tây và bắt đầu nở rộ, ảnh hưởng đến khoa nghiên cứu văn học của các nước khác trên thế giới Lý thuyết về diễn ngôn đã được nhiều nhà nghiên cứu bàn
luận và hoàn thành bằng nhiều công trình được công bố Ở Việt Nam, lý thuyết về nghiên cứu diễn ngôn chủ yếu được dịch và giới thiệu ở lĩnh vực ngôn ngữ học Có thể
kể đến những công trình như Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown và George Yule
do Trần Thuần dịch Riêng về lý luận văn học, có một số tác giả đã viết những bài viết xác định đối tượng nghiên cứu cũng như các hướng nghiên cứu diễn ngôn Có thể kể đến một số bài viết sau:
Trang 10Trần Đình Sử trong bài viết Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay đã cho người đọc một số tri thức về khái niệm diễn ngôn, tìm hiểu rõ căn nguyên
ra đời của vấn đề diễn ngôn và vai trò quan trọng của diễn ngôn trong tu từ học và thi pháp học Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh đến những luận điểm quan trọng về diễn ngôn dưới cái nhìn của ba nhà nghiên cứu đại diện cho ba lĩnh vực có liên quan đến khái niệm này: F.de Sausure (ngôn ngữ học), M.Bakhtin (thi pháp học), M.Foucault (xã hội học)
Nguyễn Thị Ngọc Minh trong bài viết Giới thiệu cuốn “Diễn ngôn tự sự” của Gerard Genette đã trình bày một cách sơ lược nhất quan điểm của Genette về diễn ngôn tự sự Ông cho rằng “Diễn ngôn tự sự chính là con đường trực tiếp nhất để phân tích văn bản, là công cụ trực tiếp nhất để nghiên cứu tự sự văn học, đặc biệt là sự hư
c ấu Thực chất, nghiên cứu về diễn ngôn tự sự là nghiên cứu về mối quan hệ giữa ba thu ật ngữ: câu chuyện (nội dung kể - story), tự sự (văn bản tự sự - narrative) và hoạt động kể (narrating)” Genette đã nghiên cứu diễn ngôn tự sự dựa trên ba phạm trù cơ
bản đó là Tense (thời: mối liên hệ thời gian giữa câu chuyện và diễn ngôn), Mood (thức: những phương thức trình bày), Voice (giọng: cách thức biểu hiện của người trần thuật trong câu chuyện)
Nguyễn Mạnh Quỳnh trong bài viết Một số luận điểm cơ bản trong Diễn ngôn tự
s ự của G Genette (in trong Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 5
năm 2006) đã tóm tắt một số luận điểm cơ bản được Genette trình bày trong cuốn Diễn ngôn tự sự Bằng việc tuyển dịch và tóm tắt, tác giả đã cho người đọc hiểu được một
số khái niệm cơ bản của Genette như: THỜI (trình tự, khoảng thời gian, tần số),
THỨC (khoảng cách, tụ điểm), GIỌNG KỂ (thời gian kể chuyện, các cấp độ trần thuật, ngôi) Công trình cũng giới thiệu cho người đọc biết về những kĩ thuật tạo tác
diễn ngôn trần thuật như đảo thuật, dự thuật, tóm tắt, tỉnh lược, ngừng nghỉ,
Trong bài viết Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn, Nguyễn Thị Ngọc Minh
cũng đã trình bày cho người đọc một cách khá chi tiết về ba quan điểm cơ bản, đại
diện cho ba trường phái tiếp cận khái niệm diễn ngôn này Một là cách tiếp cận theo hướng ngôn ngữ học của F.de Sausure, Todorov, Genette, Roland Barthes,… Thứ hai
Trang 11là cách tiếp cận theo hướng phong cách học của M.Bakhtin Thứ ba là cách tiếp cận theo hướng xã hội học của M.Foucault
2.2 Các nghiên c ứu vận dụng lý thuyết diễn ngôn ở Việt Nam
Mặc dù mới được giới thiệu trong thời gian gần đây nhưng lý thuyết diễn ngôn
đã được vận dụng khá rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học lớn nhỏ trong cả nước Có thể kể đến một số công trình nổi bật sau:
Luận án Tiến sĩ mang tên Kí như một loại hình diễn ngôn (2013) của Nguyễn
Thị Ngọc Minh đã vận dụng khái niệm diễn ngôn để phân tích đặc điểm thể loại văn
học kí nói chung và kí trong văn học Việt Nam nói riêng Bằng công trình nghiên cứu
của mình, tác giả đã đưa ra những nhận xét thích đáng về thể loại kí, đặc biệt là sự tác động, chi phối của mã sự thực và mã thể loại đã tạo nên những đặc trưng riêng của thể
kí: “Kí là lo ại hình văn học có mã thể loại kép: vừa chịu sự chi phối của những mã ngoài ngh ệ thuật, vừa chịu sự chi phối của mã thể loại nghệ thuật Mã thể loại ngoài ngh ệ thuật đã khiến cho trong bộ khung cấu trúc của kí có tồn tại những mã thể loại biên niên, k ỉ truyện, khảo cứu lịch sử,… Mã thể loại nghệ thuật lại khiến cho các sự
ki ện trong kí được tổ chức thành một khung truyện kể, có một câu chuyện, một ý nghĩa
th ống nhất, các sự vật, sự kiện được khắc họa sinh động bằng các chi tiết, các đoạn miêu t ả chân dung, phong cảnh…, lời văn của kí là lời văn nghệ thuật được lạ hóa, có
m ột giọng điệu cảm xúc riêng, tất cả những yếu tố làm nên sức sống, sức hấp dẫn và giá tr ị lâu bền của kí” [55]
Nguyễn Thị Hải Phương trong luận án Tiến sĩ Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn t ừ góc độ diễn ngôn (2012), đã vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu tiểu
thuyết Việt Nam đương đại Trong công trình này, tác giả luận án đã chỉ ra hai khuynh hướng cơ bản trong diễn ngôn tiểu thuyết đương đại đó chính là diễn ngôn thế tục và
diễn ngôn chấn thương Trong mỗi phần, Nguyễn Thị Hải Phương đã vận dụng hướng
tiếp cận xã hội học của Foucault để nghiên cứu cơ chế văn hóa – xã hội chi phối lên
việc hình thành các khuynh hướng diễn ngôn đó, đồng thời cho thấy hệ thống nhân vật được các tác giả xây dựng tương ứng
Trang 12Nguyễn Thị Ngọc Minh trong bài nghiên cứu Diễn ngôn về xứ thuộc địa trong tác ph ẩm Người tình của M.Duras đã vận dụng khái niệm diễn ngôn để nghiên cứu các
yếu tố chi phối cái nhìn, cách cảm, cách nghĩ của tác giả đối với thiên nhiên, con người Việt Nam trong những năm tháng mà tác giả lưu lạc lại mảnh đất này Đó chính
là mối quan hệ nước đôi giữa diễn ngôn thực dân và thuộc địa, cùng với đó là diễn ngôn về giới nhằm khẳng định quyền bình đẳng của người phụ nữ
Trong công trình V ề một diễn ngôn tính dục trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam (t ừ đầu thế kỉ XX đến 1945) (2009), Trần Văn Toàn vận dụng lí thuyết diễn ngôn của
Foucault để triển khai đề tài Theo Foucault, bản chất người sinh ra dựa trên những quan niệm hợp thức chịu sự chi phối của những mối quan hệ quyền lực, thể chế xã hội
Vì vậy, câu hỏi mà người ta đặt ra không phải là “cái tôi, con người, bản chất người
đã được khám phá như thế nào mà là những phạm trù trên đã được tạo lập như thế nào” [83, tr.250] Trên cơ sở đó, Trần Văn Toàn đã đưa ra những dẫn liệu chứng minh
diễn ngôn trong văn học có sự chuyển đổi từ diễn ngôn đạo đức sang diễn ngôn khoa
học về tính dục Tác giả khẳng định : “Văn học là một diễn ngôn trong hệ thống diễn ngôn xã h ội Một cách tự nhiên chịu sự tương tác của những diễn ngôn khác Bằng cách ấy, tính dục trở thành đối tượng đặc biệt của diễn ngôn văn học” [83, tr.295]
Nguyễn Đăng Vy với bài viết Đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn
Nh ất Linh, Khái Hưng đã vận dụng lý thuyết tự sự học để nghiên cứu những tác phẩm
của hai nhà văn nổi tiếng của Tự lực văn đoàn Theo đó, tác giả đã chia diễn ngôn thành hai lớp: diễn ngôn nhân vật và diễn ngôn người kể chuyện và tiến hành khảo sát ngôi kể, hình thức kể, tần suất sử dụng lời thoại và đưa ra những kết luận khoa học về phong cách trần thuật của Nhất Linh và Khái Hưng Một đóng góp của tác giả cũng
cần phải kể đến đó là việc nghiên cứu sự tương tác giữa diễn ngôn của người kể chuyện, diễn ngôn của nhân vật và vai trò điều phối của tác giả trong quá trình kiến
tạo, tổ chức các lớp diễn ngôn
Đi sâu vào hướng nghiên cứu diễn ngôn trần thuật, Lâm Thị Liên Lan trong công
trình V ề diễn ngôn người kể chuyện trong truyện ngắn Trang Thế Hy đã tập trung thu
nhỏ phạm vi nghiên cứu của mình chỉ xoay quanh diễn ngôn người kể chuyện Theo
Trang 13đó, tác giả đã đi sâu khảo sát các lớp diễn ngôn cấu thành diễn ngôn của người kể chuyện như diễn ngôn tả, diễn ngôn kể, diễn ngôn bình luận
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình khác như: Diễn ngôn gián tiếp tự
do trong truy ện ngắn Cá sống của Nguyễn Ngọc Thuần (Hoàng Tố Mai); Nghệ thuật xây d ựng diễn ngôn tình yêu trong tương quan giữa văn bản tiểu thuyết Tình yêu thời
th ổ tả với tiểu sử tự truyện của G.G.Marquez (Phan Tuấn Anh); Quy ước diễn ngôn văn chương giai đoạn 1986-1991 (Hồng Duy); Lớp văn bản ngôn từ của truyện ngắn
cách m ạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 nhìn từ góc độ lý thuyết diễn ngôn (Hoàng
Thị Thu Giang);
Qua việc thống kê, phân tích, mô tả những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi
nhận thấy các tác giả chủ yếu vận dụng hướng nghiên cứu xã hội học (Nguyễn Thị Hải Phương, Trần Văn Toàn, Phan Tuấn Anh, ) hoặc khai thác diễn ngôn theo khía cạnh
trần thuật với quy mô nhỏ như diễn ngôn người kể chuyện, diễn ngôn đối thoại, độc thoại, mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể những
yếu tố cụ thể chi phối đến quá trình tạo lập diễn ngôn hoặc vận dụng đồng thời các hướng nghiên cứu diễn ngôn vào một tác phẩm cụ thể Có thể nói, trong những công trình trên, Kí như một loại hình diễn ngôn là công trình vận dụng hướng nghiên cứu
diễn ngôn một cách sâu rộng nhất, xác lập được đặc trưng thể loại kí dựa trên cơ sở phân tích diễn ngôn Mặc dù sự vận dụng hướng nghiên cứu diễn ngôn trong khoa học nghiên cứu văn học ở Việt Nam chưa trở nên phổ biến, rộng rãi và thực sự sâu rộng Tuy vậy, những công trình trên đã định hướng cho chúng tôi rất nhiều trong việc triển khai đề tài
2.3 Các nghiên c ứu về tự truyện, hồi kí - tự truyện Việt Nam và tự truyện,
h ồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài
Nghiên cứu về tự truyện và hồi kí - tự truyện cũng là một đề tài thu hút đối với
giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Phạm Ngọc Lan trong luận án Tiến sĩ Tự truyện trong văn học Việt Nam (2006)
là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về thể loại tự truyện trong văn học Việt Nam Tác giả luận văn đã xác lập nên khung thể loại tự truyện, đưa ra những nhận
Trang 14định khá thuyết phục về lý thuyết tự truyện, phân định nó với các thể loại kế cận như
hồi ký, tiểu thuyết tự thuật Quan trọng hơn, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ về sự thay đổi quan niệm về cái tôi trong văn học hiện đại Việt Nam với sự ra đời và phát triển
của thể loại tự truyện Đặc biệt, tác giả luận văn đã có những đóng góp lớn trong việc nghiên cứu sự chuyển dịch kết cấu và cốt truyện, sự đan cài các lớp không - thời gian
và giọng điệu trần thuật trong tự truyện Việt Nam Theo chúng tôi, đây là một công trình khoa học có đóng góp lớn không chỉ về mặt lý thuyết bằng việc xác lập khung
thể loại tự truyện, một công việc chưa được nghiên cứu triệt để và toàn diện ở Việt Nam, mà còn đã góp phần chỉ ra những dấu hiệu, đặc điểm nổi bật của tự truyện Việt Nam qua các thời kỳ cũng như những yếu tố chi phối sự thay đổi đó
Dương Thị Thu Hiền trong luận văn Thạc sĩ Tô Hoài với hai thể văn: chân dung
và t ự truyện (2007) đã chỉ ra một số đặc điểm về cả phương diện nội dung và nghệ
thuật của hai thể văn chiếm vị trí không nhỏ trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn này Trong đó, tác giả đã nêu lên hai đặc điểm khá nổi bật trong tự truyện của Tô Hoài đó chính là nhãn quan thế sự, sinh hoạt và dấu ấn của nghệ thuật tiểu thuyết Không chỉ
vậy, tác giả luận văn còn trình bày cho người đọc những đặc sắc về phương diện ngôn
ngữ và nghệ thuật kể chuyện của Tô Hoài
Đỗ Thị Vân Oanh trong luận văn Thạc sĩ Đặc điểm của tự truyện và hồi ký Nguyên H ồng (2005), đã nghiên cứu hai thể loại tự truyện và hồi ký của Nguyên Hồng
ở hai mặt nội dung và hình thức Đặc biệt trong thể loại tự truyện, tác giả luận văn đã
nhận ra hai đặc điểm tiêu biểu của tự truyện Nguyên Hồng đó là bi kịch tuổi thơ và
tiếng nói cảm thông, tình thương yêu sâu sắc của tác giả đối với con người Về phương
diện nghệ thuật, Đỗ Thị Vân Oanh đã tiến hành nghiên cứu những đặc điểm về cái tôi tác giả - nhân vật, nghệ thuật xây dựng cốt truyện và lời văn trần thuật
Nguyễn Thị Ái Vân trong luận văn Thạc sĩ Đặc điểm nghệ thuật tự truyện và hồi
ký c ủa Tô Hoài (2011) đã nghiên cứu hai thể loại tự truyện và hồi ký của Tô Hoài dưới
hai góc độ Thứ nhất, tác giả luận văn đã tiến hành nghiên cứu nghệ thuật tái hiện, tái
tạo hồi ức và tiếng nói của cái tôi Thứ hai, tác giả tập trung tìm hiểu nghệ thuật trần thuật với những phương diện chính như: kết hợp trần thuật theo diễn biến sự kiện và
Trang 15trần thuật theo dòng hồi ức; sự hòa phối điểm nhìn; kỹ thuật giảm tốc, tăng tốc, đảo thuật, dự thuật; kết hợp ưu thế của các loại diễn ngôn, phát huy sức mạnh ngôn từ và đặc điểm giọng điệu trần thuật;…
Lê Thị Lan trong luận văn Thạc sĩ Thể loại tự truyện qua Những ngày thơ ấu của Nguyên H ồng và Sống nhờ của Mạnh Phú Tư đã tiến hành nghiên cứu trên cơ sở so
sánh hai phong cách tiêu biểu trong làng văn học Việt Nam trong việc sử dụng chung
một thể loại để tái hiện lại hai số phận trẻ thơ có phần nào bất hạnh giống nhau Về
mặt nội dung, tác giả đã đặt hai nhà văn với hai tác phẩm trên trục so sánh với những tiêu chí: cảm hứng, cái nhìn hiện thực, sự khẳng định của cái tôi tác giả Về mặt nghệ thuật, tác giả đã tiến hành so sánh về kết cấu cốt truyện, nghệ thuật trần thuật và giọng điệu, ngôn ngữ Từ việc nghiên cứu theo hướng so sánh trên, tác giả đã chỉ ra được
những nét đặc trưng trong phong cách tự truyện của hai nhà văn, đồng thời phần nào khái quát được những đặc điểm chung của thể loại tự truyện về cả phương diện nội dung và nghệ thuật
Còn có những công trình luận văn khác khai thác những khía cạnh khác nhau trong tự truyện, hồi kí của Nguyên Hồng, Tô Hoài như Cái nhìn, không gian và thời gian ngh ệ thuật trong hồi kí của Tô Hoài (Nguyễn Hoàng Hà); Nghệ thuật trần thuật trong h ồi kí của Tô Hoài (Lê Thị Hà); Hai phong cách hồi kí: Những ngày thơ ấu (Nguyên H ồng) và Cỏ dại (Tô Hoài) (Phạm Thị Hiền); Ngoài những luận án, luận
văn trên, nghiên cứu tự truyện và hồi kí - tự truyện còn được thể hiện ở nhiều bài viết, bài báo khác Có thể kể đến như bài viết Tự truyện trong văn xuôi Đoàn Lê (Bùi Thanh
Truyền); Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng (Đỗ Hải Ninh); Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (T ản Đà) – những bước đi đầu tiên của tự truyện Việt Nam (Lê Tú Anh); …
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy những công trình trên chủ yếu nghiên cứu tự truyện, hồi kí của Nguyên Hồng, Tô Hoài dưới góc độ thi pháp hoặc trần thuật học Các tác giả đều đã có những đóng góp lớn trong việc tìm hiểu và chỉ ra những đặc sắc
về nội dung, về nghệ thuật của tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng và Tô Hoài Riêng với Hồ Dzếnh, tác phẩm Chân trời cũ chủ yếu được nghiên cứu trên góc
Trang 16độ thể loại truyện ngắn hoặc khai thác trên phương diện trữ tình như trong công trình
Ba phong cách truy ện ngắn trữ tình (Phạm Thị Thu Hương) Qua quá trình nghiên
cứu, các công trình trên đã cho người đọc thấy được những nét riêng trong phong cách
tự sự của ba nhà văn, đồng thời thấy được đóng góp của họ trong nền văn học nước nhà Tuy nhiên, về đại thể, chúng tôi nhận thấy chưa hề có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu tự truyện, hồi kí - tự truyện dưới góc độ diễn ngôn Trong một số công trình, các tác giả đã phần nào chỉ ra được những yếu tố chi phối đến quá trình sáng tác
tự truyện, hồi kí của họ Tuy nhiên, những khảo sát đó chưa mang tính đồng bộ, hệ
thống và toàn diện Các công trình nghiên cứu tự truyện, hồi kí - tự truyện theo hướng
trần thuật cũng đã chỉ ra được những đặc điểm trong nghệ thuật tổ chức điểm nhìn, ngôi kể, giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật nhưng chưa chỉ ra được cơ chế nào chi phối
việc chủ thể kể vận dụng cách thức trần thuật đó Những công trình trên cũng chưa chú
trọng nghiên cứu cơ chế tác động của khung thể loại đến quá trình kiến tạo diễn ngôn
tự truyện, hồi kí - tự truyện Những điều chúng tôi vừa nêu lên không phải là hạn chế
mà là những điều mà các tác giả chưa chú trọng nghiên cứu bởi sự khác biệt về góc độ quan sát, tìm hiểu: họ chưa xem xét các tác phẩm như một loại hình diễn ngôn trong
m ối tương quan giao tiếp của con người
Như vậy, tính đến thời điểm này, đã có rất nhiều những bài viết, công trình nghiên cứu tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài trên nhiều khía cạnh, trong đó có đề cập đến khía cạnh ngôn ngữ và thể loại Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa thấy có công trình nào trực tiếp tiếp cận tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài theo hướng nghiên cứu diễn ngôn một cách có hệ thống và toàn diện Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã đặt vấn đề tìm
hiểu: Tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài dưới góc nhìn di ễn ngôn nghệ thuật
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Bằng mô hình lý thuyết diễn ngôn nghệ thuật, chúng tôi mong muốn có thể
cắt nghĩa, lý giải vai trò, ý nghĩa của yếu tố “sự thật” được xem là cốt lõi, là hạt nhân
của thể loại tự truyện và hồi kí - tự truyện trong sáng tác của Nguyên Hồng, Hồ
Trang 17Dzếnh, Tô Hoài Từ đó, chúng tôi hướng tới việc nghiên cứu những yếu tố quyền lực,
những động cơ, mục đích, những yếu tố ngoài thể loại chi phối đến cách cảm, cách xây
dựng, cách kể về “sự thật” đó của mỗi tác giả Tự truyện, hồi kí - tự truyện là những
thể loại tự thuật về quá khứ của mỗi tác giả Tiếp cận những thể loại này theo hướng
diễn ngôn sẽ giúp chúng tôi trả lời những câu hỏi như: Tại sao chủ thể kể lại hướng sự
hồi tưởng về sự việc đó? Hồi tưởng về sự việc đó nhằm mục đích gì? Việc hồi tưởng
có đơn thuần để thỏa mãn nhu cầu nhận thức? Hồi tưởng về quá khứ đó có mối liên hệ
gì với hiện tại? Những yếu tố ngoài thể loại góp phần chi phối sắc thái diễn ngôn như
thể chế xã hội, sắc tộc, tôn giáo, Qua đó, chúng tôi mong muốn có thể đem lại một cách tiếp cận mới mẻ, rõ ràng hơn, góp phần lý giải phần nào những vấn đề mà giới nghiên cứu còn tranh luận về thể loại này, góp phần hoàn thiện hơn những đặc trưng
nội dung của thể loại tự truyện, hồi kí - tự truyện
3.2 Luận văn được thực hiện còn nhằm mục đích tìm ra dấu hiệu sự chi phối của
mã thể loại đến quá trình tạo tác diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện Mã thể loại là
một cơ chế tác động kép đên quá trình tạo lập diễn ngôn Trong đó, nó vừa quy định ngòi bút sáng tạo phải tuân thủ những yêu cầu đặc trưng của thể loại vừa hướng tới sự vượt thoát khỏi ranh giới quy phạm đó để mở rộng phạm vi, khả năng phản ánh Trung tâm của vấn đề này là vai trò điều phối, tổ chức, sắp xếp, điều khiển các lớp diễn ngôn
của chủ thể kể Nghiên cứu cơ chế tác động kép này, chúng tôi hy vọng đem đến một cái nhìn mới, đầy đủ, toàn diện hơn về thể loại tự truyện – vốn chưa được nghiên cứu
một cách sâu rộng và thể loại kế cận của nó: hồi kí - tự truyện
3.3 Chọn lựa tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài
để khảo sát, trước hết, chúng tôi mong muốn có thể khám phá được những động cơ,
mục đích và những yếu tố khác chi phối đến quá trình tự thuật của các nhà văn Từ đó, ngoài việc thấy được những sắc thái, khuynh hướng chủ đạo trong diễn ngôn tự truyện,
hồi kí - tự truyện, chúng tôi còn hướng tới khám phá, tìm ra những điểm riêng, độc đáo
của họ trong mảng sáng tác tự truyện và hồi kí - tự truyện cũng như những đóng góp
của họ đối với mảng sáng tác tự truyện, hồi kí - tự truyện nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung
Trang 184 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, chúng tôi đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình: Tự truyện, hồi kí - tự truyện là những
thể loại trong hệ thống tổng thể các thể loại văn xuôi tự sự Khi nghiên cứu tự truyện,
hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, chúng tôi luôn quan tâm đến
những đặc trưng nghệ thuật của những thể loại này nhằm tìm ra những quy ước nghệ thuật của thể loại đã chi phối đặc điểm cũng như quy trình kiến tạo diễn ngôn Bên
cạnh đó, phương pháp nghiên cứu loại hình cũng hỗ trợ chúng tôi phân xuất các loại hình diễn ngôn trong từng cấp độ khảo sát Ví dụ như trong diễn ngôn người kể chuyện, phương pháp loại hình giúp chúng tôi phân xuất thành những tiểu loại nhỏ hơn như diễn ngôn tả, diễn ngôn kể, diễn ngôn bình luận để việc khảo sát sẽ đi sâu,
rộng, đúng đối tượng, đúng mục tiêu
4.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Để triển khai luận văn, chúng tôi đặt
những tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài trong hệ thống tự truyện của
Việt Nam và hệ thống các thể loại khác trong sự nghiệp sáng tác của ba nhà văn này Điều này giúp chúng tôi tìm hiểu và làm rõ các đặc điểm riêng, độc đáo, cách tân của
loại hình diễn ngôn nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng,
Hồ Dzếnh, Tô Hoài Từ đó, tránh đưa ra những kết luận sai lệch, chủ quan
4.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn: Chúng tôi sử dụng hệ phương pháp
hình thức phân tích văn bản trong ngôn ngữ để phân tích tác phẩm thành các đơn vị
nhỏ hơn Từ đó đặt ngôn ngữ trong hành động nói, trong bối cảnh giao tiếp sinh động
để giải quyết nội dung mà luận văn cần đạt Đặc biệt là gắn diễn ngôn với hoạt động giao tiếp của con người, từ đó truy tìm những yếu tố và quá trình, hệ quả chi phối đến quá trình giao tiếp theo nghĩa rộng và quá trình kiến tạo diễn ngôn theo nghĩa hẹp của nhà văn Phương pháp phân tích diễn ngôn cũng giúp chúng tôi tìm hiểu cấu trúc, kĩ thuật tạo tác diễn ngôn và đặc biệt là vai trò điều phối, tổ chức của chủ thể kể
4.4 Phương pháp liên ngành văn học và ngôn ngữ: Bởi vì diễn ngôn ra đời
từ Ngữ học, sau đó được vận dụng vào nhiều ngành khoa học khác nhau Văn học là
Trang 19nghệ thuật ngôn từ, nó có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ học Vận dụng phương pháp liên ngành văn học và ngữ học giúp tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và ngôn
ngữ, qua đó làm cơ sở để tìm hiểu rõ và triển khai các luận điểm của luận văn
4.5 Phương pháp so sánh: Trong quá trình triển khai luận văn, muốn làm rõ
hơn đặc điểm diễn ngôn nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên
Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, chúng tôi có so sánh họ với nhau và so sánh với một số tác
phẩm của những nhà văn khác trên cùng một trục chủ đề hoặc thể loại hoặc thời điểm sáng tác, Từ đó có cơ sở khẳng định nét độc đáo trong cách xây dựng diễn ngôn nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của họ Phương pháp so sánh cũng giúp chúng tôi trong việc đối chiếu các khung thể loại tự truyện, hồi kí, tiểu thuyết, truyện
ngắn, để vừa thấy được đặc trưng của từng thể loại, vừa thấy được quá trình liên kết,
tổng hợp, xâm lấn trong tương tác thể loại
Ngoài những phương pháp chính được sử dụng trong luận văn như đã trình bày
ở trên, chúng tôi còn sử dụng những thao tác sau:
- S ử dụng thao tác phân tích: Trong quá tình thực hiện luận văn, chúng tôi vận
dụng thao tác phân tích để minh họa cho những nhận xét, lập luận của mình trên
cơ sở phân tích những dẫn chứng trích ra từ các tác phẩm tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài
- S ử dụng thao tác thống kê, mô tả: Chúng tôi sử dụng thao tác thống kê ở một
chừng mực nhất định nhằm phân loại các kiểu diễn ngôn trần thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, để xem xét
những hiện tượng có tính tập trung cao, có tần suất xuất hiện nhiều lần, mong tìm
ra những đặc điểm riêng, ổn định trong tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên
Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trong luận văn này chúng tôi khảo sát hầu hết các tác phẩm tự truyện và thể loại
kế cận hồi kí - tự truyện của ba tác giả Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài:
- Nguyên Hồng: Những ngày thơ ấu; Những nhân vật ấy đã sống với tôi
Trang 206 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày khái quát những tiền
đề lý thuyết là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu Đó là lý thuyết về đặc điểm
của hai thể loại kế cận nhau : tự truyện và hồi kí - tự truyện; lý thuyết về nghiên cứu
diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn tự truyện và diễn ngôn hồi kí - tự truyện về các mặt như nội dung, cảm hứng, các phương thức biểu hiện, ngôn từ, không - thời gian,… Và
một phần không thể thiếu đó chính là vị trí, vai trò của thể loại tự truyện, hồi kí - tự truyện trong sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài
Chương 2: MÃ NỘI DUNG DIỄN NGÔN TRONG TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ - TỰ TRUYỆN CỦA NGUYÊN HÔNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI Trong chương này, chúng tôi tập trung nghiên cứu diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện của Tô Hoài, Hồ
Dzếnh, Nguyên Hồng về phương diện nội dung, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của yếu tố
“sự thật” cũng như các “quyền lực”, các yếu tố trong và ngoài thể loại đã chi phối đến tái hiện những “sự thật” trong quá khứ đó Trung tâm là sự chi phối của động cơ, mục đích và các yếu tố có cơ chế tác động gián tiếp như thể chế kinh tế, xã hội, sắc tộc, tôn giáo, Chúng tôi sẽ đặt những diễn ngôn nghệ thuật trong tương quan với hoàn cảnh
Trang 21sáng tác, hoàn cảnh tiếp nhận, tất cả các yếu tố có ảnh hưởng tới việc nhà văn nói hay không nói một vấn đề, cách nói…
Chương 3: MÃ NGHỆ THUẬT DIỄN NGÔN TRONG TỰ TRUYỆN, HỒI KÍ -
TỰ TRUYỆN CỦA NGUYÊN HÔNG, HỒ DZẾNH, TÔ HOÀI Trong chương này chúng tôi tiến hành phân tích diễn ngôn nghệ thuật trong tự truyện, hồi kí - tự truyện
của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài về các phương diện cấu trúc diễn ngôn, kĩ thuật tạo tác các loại diễn ngôn cũng như sự pha trộn, lấn át thể loại kề cận
Trang 22Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG
1.1 Tự truyện, hồi kí - tự truyện như là những loại hình diễn ngôn
1.1.1 Khái niệm hồi kí; tự truyện ; hồi kí - tự truyện
Trong những thập kỉ gần đây, hướng nghiên cứu thể loại trở thành một trong
những xu thế nổi bật của khoa nghiên cứu văn học Theo Bakhtin: “Đằng sau cái mặt ngoài s ặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận
m ệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và
h ạng ba”0
1
Phân xuất và xác lập đặc trưng của từng thể loại là một công việc vô cùng
cần thiết Nguyễn Thành Thi trong công trình Văn học thế giới mở đã nhận định: “Nhà văn khi sáng tác tác phẩm bao giờ cũng sáng tác theo một mô hình thể loại xác định
Th ể loại tác phẩm văn học, thường được hiểu là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác ph ẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [79, tr.12]
1.1.1.1 Hồi kí
Hồi kí là một thể loại văn học thuộc loại hình kí, ghi chép một cách chân xác người thật việc thật, nó gắn liền với một thời điểm lịch sử xã hội nhiều biến động và qua hồi kí, người đọc không chỉ hình dung được cuộc đời của nhân vật kể chuyện mà còn có thể hình dung được một cách khái quát bức tranh xã hội, lịch sử thời kì ấy Có nhiều tài liệu đã đưa ra định nghĩa về thể loại này, có thể kể đến:
Theo T ừ điển thuật ngữ văn học: “Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí, kể lại
nh ững biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng
ki ến… Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác c ủa sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật
kí Còn v ề phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi kí lại gần
1 Vũ Tuấn Anh, Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại, TCVH số 9/1996, tr.28
Trang 23v ới văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [23, tr.152] Hồi kí giống với nhật kí ở hình
thức giãi bày, tâm sự, cách kể chuyện theo trình tự thời gian, chú ý đến các sự kiện mang tính chất tiểu sử Còn về phương diện chất liệu, tính xác thực, không sử dụng hư
cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, kí sự tư liệu lịch sử Tuy nhiên, khác với các thể loại vừa nhắc đến, hồi kí chỉ tái hiện lại những gì gây ấn tượng sâu đậm trong lòng tác giả, chỉ kể lại những gì nằm trong tầm quan sát của chủ thể kể,
vì thế, những sự kiện trong hồi kí không thể chuẩn xác và toàn diện, đầy đủ như trong các tư liệu gốc, các chứng tích Hơn thế nữa, hồi kí là một thể loại văn học, đã là văn thì dù ít hay nhiều, dù thể hiện qua phương diện không dễ nhận thấy đi chăng nữa thì
hồi kí cũng in đậm dấu ấn của tác giả, được thể hiện bằng phong cách ngôn ngữ văn chương, một lối văn sinh động, hình tượng, biểu cảm
Theo T ừ điển văn học của Đỗ Đức Hiểu, hồi kí là “thuật ngữ chỉ một thể loại
n ằm trong nhóm thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể
v ề những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến”
[29, tr.648] Theo chúng tôi nhận thấy, định nghĩa này của Đỗ Đức Hiểu nhấn mạnh vai trò của chủ thể trần thuật Trong những tác phẩm hồi kí, người kể chuyện đó cũng chính là tác giả tiến hành một cuộc hồi tưởng, kể lại những chuyện mà mình đã trải qua hoặc chính bản thân mình chứng kiến Đương nhiên, những sự kiện đó là những sự
kiện gây ấn tượng sâu đậm trong lòng tác giả và nằm trong mạch kể, là một mảnh ghép góp phần hoàn thành chỉnh thể tác phẩm, chứ không phải những mảnh hồi ức đứt đoạn, không có liên hệ nào với những mảnh hồi ức còn lại
Trong bài Kí và gi ảng dạy Kí, Hoàng Như Mai định nghĩa: “Hồi kí ghi lại những
s ự việc đã qua, nhưng những sự việc ấy không phải thuộc vào một thời kì lịch sử xa xôi mà ph ải gần gũi, có liên quan khá mật thiết với hiện tại Hồi kí thường là do những người đang còn sống kể lại” [53, tr.218] Một luận điểm đáng lưu ý của Hoàng Như
Mai đó chính là tính liên hệ của ý thức hồi tưởng với những gì đang xảy ra trong hiện
tại Người viết hồi kí không chỉ nhằm mục đích kể lại, tái hiện lại quá khứ mà sâu xa hơn là giải thích cho những gì trong hiện tại, có mối liên hệ gần gũi với thực tại
Trang 24Như vậy, nói một cách khái quát, cô đọng – theo tổng hợp của người thực hiện
luận văn này – hồi kí có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hồi kí là những tác phẩm mà ở đó người kể chuyện cũng chính là tác
giả đang viết lại, kể lại về cuộc đời thực tại, về người thật, việc thật có liên quan đến
bản thân mình nhưng thường được viết như là sự phản ứng với những biến cố thời sự nóng bỏng đang đặt ra trong cuộc sống Vì thế mà ngôn ngữ của hồi kí phải đảm bảo tính xác thực, tôn trọng sự kiện của cuộc đời thực Tính thông tin sự kiện và tính thời
sự là hai đặc điểm nổi bật của hồi kí
Thứ hai, tác phẩm hồi kí phải thể hiện được mối quan hệ giữa “tính truyện” và
“tính nghiên cứu”, giữa tư duy sáng tạo văn học và tư duy nghiên cứu khoa học Tác
giả không chỉ viết những điều mình trông thấy, mình nghiền ngẫm mà còn phải tìm
hiểu, phân tích, nghiên cứu, lý giải do đâu mà có như vậy Hơn nữa, những lý giải đó còn phải thuyết phục người đọc
1.1.1.2 Tự truyện
Cũng nằm trong hệ thống những thể loại viết về lịch sử - chuyện đời như một
“dòng chảy”, nhưng là thể trung gian giữa tự sự hư cấu và tự sự phi hư cấu, tự truyện mang trong mình những đặc trưng thể loại riêng
Theo T ừ điển thuật ngữ văn học, “Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc thể loại
t ự sự do tác giả viết về cuộc đời mình…” [23, tr.389] Có thể thấy, đặc trưng lớn nhất
của thể loại tự truyện đó chính là chủ thể trần thuật tự kể lại chính câu chuyện cuộc đời mình
Theo T ừ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên: “Tự truyện là những câu chuy ện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả… Theo Lơjon, bởi vì, về quá kh ứ, kỷ niệm bị xóa mờ với thời gian, vì tư duy khi viết tự truyện đã trải qua biết bao c ảnh đời, và vì các sự kiện được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà trùng h ợp với sự thật… Tự truyện không phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn,
mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết…” [29, tr.1905-1906] Đây chính là
Trang 25những căn cứ xác thực để xác lập sự khu biệt giữa tự truyện và các loại văn chân dung,
hồi kí
Trong bài viết Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (Tản Đà) – những bước đi đầu tiên của Tự truyện Việt Nam, Lê Tú Anh đã nêu ra ba quy
ước để một tác phẩm được xem là tự truyện, chúng tôi xin được tóm tắt lại:
1/ Tự truyện là chuyện đời của chính người viết Có một lưu ý cho quy ước này, chuyện đời của người viết phải là những chuyện có thực, là cuộc đời nhà văn đã nghiệm sinh Nói cách khác, tác giả tự truyện phải là con người hữu thể, đã sống thật 2/ Người viết tự truyện phải đặt cái “tôi” của mình ở vị trí trung tâm tác phẩm để
tự quan sát, đào xới, lý giải bằng nhãn quan cá nhân Nghĩa là, nhà văn viết tự truyện
phải sử dụng điểm nhìn nội quan trong trần thuật Tuy nhiên, trong khi đi tìm cái “tôi”,
một tự truyện đích thực phải đạt tới cái “chúng ta”
3/ Nhà văn kể lại chuyện đời mình trong tinh thần tự phán xét, tự chất vấn lương tâm Có nhà nghiên cứu cho rằng, tự truyện in dấu nếp sống của tín đồ Thiên Chúa giáo, rõ nhất là việc xưng tội
Theo tác giả Phạm Ngọc Lan trong luận văn Tự truyện trong văn học Việt Nam
hi ện đại, những tự truyện đầu tiên xuất hiện từ thời cận đại ở Tây Âu, tuy nhiên danh
từ “tự truyện” mãi đến cuối thế kỉ XVIII mới được sử dụng, khi thể loại này bắt đầu nở
rộ ở châu Âu và châu Mĩ Luận văn cũng trích dẫn định nghĩa của nhiều nhà nghiên
cứu trên thế giới về thể loại này Hiểu một cách đơn giản, tự truyện là tự thuật về chính
cuộc đời của mình từ cái nhìn của thời hiện tại, lấy tọa độ hiện tại để soi sáng những
sự kiện trong quá khứ, thông qua quá trình hồi tưởng, tái hiện và phản ánh lại trên trang giấy Đây chính là lý do mà có người gọi tiểu thuyết mang yếu tố tự truyện là
tiểu thuyết tự thuật
Năm 1974 trong Hiệp ước tự thuật, Philipple Lejeune đã đưa ra một định nghĩa
nổi tiếng về tự truyện, định nghĩa này được khá nhiều nhà nghiên cứu xem là định
nghĩa kinh điển cho thể tự truyện truyền thống Lejeune cho rằng tự truyện là: “thể loại
t ự sự tái hiện dĩ vãng, trong đó một người có thật kể lại cuộc sống của mình, nhấn
Trang 26m ạnh về đời sống riêng tư, đặc biệt là về mặt lịch sử hình thành nhân cách” [46,
tr.19] Định nghĩa này nhấn mạnh một trong những đặc trưng của tự truyện như là bản
tổng thuật lịch sử hình thành nhân cách của nhà văn, góp phần lý giải, giải thích cho tình trạng hiện tại của chủ thể kể
Trong công trình M ột số nguyên tắc của tự truyện (1974), tác giả William
L.Howarth nhấn mạnh đặc trưng của phương thức sáng tác tự sự trong tự truyện Ông cho rằng: “một tự truyện là một bức chân dung tự họa, trong đó cái tôi suy nghĩ và hành động với nhận thức rằng mình là một tồn tại duy nhất và một tồn tại giữa tha nhân, và b ức chân dung là hình ảnh với những hạn định của không gian và thời gian,
ảo tưởng và sự thật, họa sĩ và nguyên mẫu – mỗi thành tố có những đòi hỏi riêng và
nh ững nhân nhượng riêng Khi viết lại câu chuyện đời mình, nhà văn có thể định nghĩa, hạn chế, định hình cho cuộc đời ấy bằng một bức chân dung tự họa, xét một cách khách quan có th ể khác với chân dung thật của mình, dẫu có nét tương đồng với
nh ưng tất cả đã được cấu trúc lại, nhào nặn lại thành một sự sáng tạo nghệ thuật”
[46]
Còn phải kể đến công trình Hoạt động tự thuật: Vị thế đang thay đổi của một thể
lo ại văn học của Elizabeth W.Bruss nghiên cứu sự hành chức của diễn ngôn tự thuật
cả về phương diện người viết lẫn người tiếp nhận đã đề ra 3 nguyên tắc xác định tự truyện Chúng tôi nhận thấy tác giả đã đưa ra những nhận xét xác đáng về tính chất, vai trò của yếu tố“sự thật” cũng như vai trò của tác giả:
1/ Tác giả tự truyện đảm nhận một vai trò kép Ông phải là điểm khởi đầu của
chủ thể cũng như của cấu trúc văn bản
2/ Những thông tin, những sự kiện được trình bày trong mối quan hệ với tác giả
tự truyện được xác nhận phải là hoặc có khả năng là sự thật
3/ Cho dù những điều được trình bày có bị nghi ngờ hay không, cho dù những điều đó có thể bị công thức hóa theo hướng nào đấy dễ tiếp nhận hơn từ điểm nhìn khác hay không thì tác giả tự truyện vẫn tin vào điều mà ông nhìn thấy
Trang 27Từ việc khảo sát những định nghĩa trên, Phạm Ngọc Lan trong công trình của mình cũng đã đưa ra những luận điểm tiêu biểu để khu biệt thể loại tự truyện với
những thể loại mang tính tự thuật khác Theo chúng tôi, đây có thể xem là một trong
những đóng góp lớn của tác giả trong lĩnh vực lý thuyết thể loại tự truyện – một thể
loại vốn chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện ở Việt Nam Đồng quan điểm với tác giả, chúng tôi cho rằng để biết một tác phẩm có phải thuộc thể loại tự truyện hay không, người đọc có thể căn cứ vào hai tiêu chí sau:
Một là, nhìn từ góc độ của cái tôi, nội dung của bất cứ một tác phẩm tự truyện nào cũng là một quá trình soi rọi lại chính mình, trong cuộc sống nội tâm, không phải như người ấy đã và đang là thế mà như người ấy cảm thấy và tin là thế Mỗi tác phẩm
là sự đánh giá, suy nghiệm lại số phận mình Câu chuyện là hành trình tìm kiếm bản thân mình trong quá khứ để soi xét bản thân mình trong hiện tại Vì thế, quá khứ hiện
ra không phải là một quá khứ như nó đã từng là thế mà là một quá khứ được soi chiếu qua góc nhìn hiện tại, với sự cộng hưởng của kinh nghiệm sống mà nhà văn thu nhặt được trong quá trình sống của mình, để nhận thấy cái ưu - khuyết, cái tốt đẹp - tầm thường, cái làm được - chưa làm được,… trong cuộc đời của mình Tới đây, ta lại phải
nhắc đến động lực thúc đẩy để tác giả nảy sinh ý định viết tự truyện Quá trình viết tự truyện không chỉ là quá trình hồi tưởng, mô tả, tái hiện một cách khách quan, nhớ lại
để mà đánh giá, nghiền ngẫm, suy xét lại chính mình mà còn là quá trình sống lại, là
cơ hội được làm lại những điều mình chưa làm được, được sửa chữa những lỗi lầm vì
một lý do nào đó chưa thể thực hiện trong quá khứ nên đứng từ một phương diện nào
đó có thể xem tự truyện là quá trình nhà văn sáng tạo lại quá khứ để được sống lại quá
khứ đó một lần nữa một cách tự do, chủ động, không bị chi phối, ràng buộc bởi bất cứ điều gì, dù chỉ trong tưởng tượng
Thứ hai, đứng từ góc độ tính xác thực của tổng thể cốt truyện, tự truyện chân
thực ở cái nhìn, cách nhìn chứ không phải ở bản thân những sự kiện được nêu ra trong quá trình hồi tưởng lại quá khứ Bởi lẽ, quá khứ được tái hiện vốn dĩ đã được khúc xạ qua tâm hồn và suy nghĩ của tác giả trong hiện tại nên không bao giờ có thể nguyên
vẹn như đời thực mà là một quá khứ được nhìn từ một góc độ nào đó, theo một chiều
Trang 28kích nào đó Những sự kiện trong quá khứ chỉ tồn tại như một chất liệu sẽ được nhà
văn tổ chức, sắp xếp, gia cố lại cho tương ứng với tình trạng ý thức hiện tại và dụng ý sáng tác Lúc đó, quá khứ sẽ không còn là quá khứ một cách khách quan nữa mà là quá
khứ được nhìn nhận bằng điểm nhìn của thời hiện tại Đây cũng chính là một trong
những căn cứ để khu biệt tự truyện với những thể loại mang tính chất hồi cố khác
1.1.1.3 Hồi kí - tự truyện
Tự truyện và hồi kí đều là những thể loại mang tính chất hồi cố, tái hiện lại quá
khứ với những sự kiện mang tính chất người thật việc thật nên việc phân chia ranh giới
một cách rạch ròi cũng gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên vì chúng thuộc hai địa hạt không hề trùng khít nhau trong hệ thống thể loại văn học, tự truyện thuộc hệ thống truyện, hồi kí thuộc hệ thống các thể loại kí, sự khác nhau cơ bản giữa chúng là những tiêu chí nhận diện thể loại, đặc biệt là vai trò của yếu tố sự thật và hư cấu
Trong bài Kí và gi ảng dạy Kí, Hoàng Như Mai đã có những nhận định mang tính
chất bước đầu nhằm khu biệt hai thể loại này: “Những điểm khác nhau cơ bản giữa hồi
kí và t ự truyện là tự truyện thiên về kể lại những chuyện thân mật, bình thường nhiều hơn mà hồi kí thì thiên về những sự kiện có tính lịch sử Cũng do đặc điểm này, mà sự
hư ấu trong tự truyện có thể xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người viết Cho nên nói v ề giá trị lịch sử thì hồi kí hơn tự truyện, nhưng đứng về tính chất văn học thì tự truy ện có thể hơn hồi kí vì tự truyện thuộc phạm trù của truyện” [53, tr.218] Qua nhận
định của tác giả, chúng ta có thể nhận thấy đặc trưng khu biệt rõ nhất hai thể loại kế
cận này đó chính là cặp phạm trù: tính văn học và tính lịch sử Đi kèm với tính văn học
của tự truyện là tính hư cấu, tính đời thường của những sự kiện được kể Còn đi kèm
với tính lịch sử của hồi kí đó chính là những sự kiện gắn liền với những biến động lịch
sử, và đặc biệt, không hư cấu Nói như vậy hoàn toàn không nhằm phủ định tính văn
học trong hồi kí, mà xét ở một mức độ nào đó, thì tính văn học vẫn được thể hiện một cách đậm đặc hơn ở thể tự truyện
Trong công trình T ự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại mà chúng tôi đã
nhắc đến, Phạm Ngọc Lan đã có một sự so sánh khá cụ thể và tường tận về hai thể loại
gần gũi này, chúng tôi xin được tóm tắt những ý chính thông qua bảng so sánh:
Trang 29Bảng 1.1 Bảng so sánh thể loại tự truyện và hồi kí
- Đòi hỏi sự chính xác của sự kiện
và những đánh giá khách quan của
- Mối quan tâm đầu tiên: khám phá, tự họa gương mặt của chính mình qua hồi ức
- Tâm điểm của hồi kí là thế giới bên ngoài, là cuộc sống và con người trong một thời kì lịch sử nào đấy
- Mối quan tâm đầu tiên: khám phá gương mặt của thời đại qua những sự kiện mà tác giả chứng kiến Trọng lượng của tác phẩm nằm ở chính sức thuyết phục, lay động của những sự kiện thực ấy
Vai trò,
đặc điểm
của cái tôi
- Cái tôi đóng vai trò là trung tâm câu chuyện, chi phối ở một mức độ nào đó với quá khứ được tái hiện
- Cái tôi trong trạng thái động, trạng thái của sự hình thành, biến đổi, tiến triển về tâm lý, tính
- Cái tôi nói chung chỉ đóng vai trò nhân chứng, nhìn nhận và tái hiện quá khứ một cách khách quan
- Cái tôi trong trạng thái tương đối tĩnh, trạng thái của kẻ quan sát, phân tích thực tại và ghi nhận một cách khách quan
Trang 30cách không ngừng và không hoàn kết
- Cái tôi với tất cả chiều kích tâm hồn, bề sâu tư tưởng và tình cảm của nó
- Cái tôi đại diện cho một phương diện nào đó của ý thức xã hội, một xu hướng tiếp nhận và phản ứng nào đó đối với những biến cố và những nhân vật lịch sử
Tuy nhiên, trong quá trình sáng tạo văn học, thực tế đã cho thấy, đối với mỗi nhà văn, song song với quá trình tư duy lựa chọn - tuân thủ khung thể loại là tư duy lựa
chọn - phá vỡ ranh giới thể loại Mỗi khi cầm bút, tác giả luôn đứng trước một sự lựa
chọn sẽ sáng tác một tác phẩm văn học thuộc thể loại nào, chắc hẳn phải tuân thủ
những đặc trưng thể loại mang tính chất quy ước của thể loại đó Tuy nhiên, vì nhiều
lý do, có thể kể đến tính chất đặc biệt của đối tượng mà tác giả chọn lựa để thể hiện trong tác phẩm, hoặc do ý muốn chủ quan muốn tạo nên một sự mới mẻ trong sáng tác
của mình, hoặc có thể xuất phát từ lý do khách quan: quy luật tương tác thể loại trong đời sống văn học mà nảy sinh hiện tượng tác giả phá vỡ ranh giới quy ước thể loại để tìm đến những tác phẩm có hơi hướng “lệch chuẩn” Hiện tượng này thể hiện ở việc,
mặc dù vẫn giữ lại những đặc trưng mang tính chất nòng cốt, mô phạm, nhưng các tác
giả có ý thức tiếp thu những đặc điểm của những thể loại khác để góp phần biểu đạt
nội dung một cách hiệu quả nhất Hiện tượng này diễn ra nhiều nhất ở thể loại tiểu thuyết – thể loại “khổng lồ” có thể nuốt trọn bất kì một thể loại nào khác trong nó Tuy nhiên nó cũng diễn ra đối với một số thể loại khác, chúng tôi muốn nhắc tới ở đây hiện tượng tương tác giữa hồi kí và tự truyện, giữa thể loại có hư cấu và không hư cấu để
sản sinh ra một thể loại mang tính chất giáp ranh: hồi kí - tự truyện
Hồi kí là thể loại hồi tưởng lại những điều mà mình có dịp quan sát, những sự
việc và con người để lại ấn tượng sâu sắc, gắn bó với những kỉ niệm riêng nhưng lại mang nội dung xã hội phong phú Tâm điểm của hồi kí là thế giới bên ngoài Còn hồi
kí - tự truyện là thể loại mà trong quá trình sáng tạo, tác giả không chỉ sắp xếp đơn thuần các sự kiện như kí, mà chủ trương “thêm thắt”, “sắp xếp lại” các chi tiết, sự kiện
Trang 31của cuộc đời mình, nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy trở nên hợp lý, nhất quán Đặc biệt, trong hồi kí - tự truyện, song song với quá trình tái hiện đời sống xã
hội, tác giả vẫn có ý thức làm nổi bật cái tôi chính bản thân mình Bên cạnh một thế
giới khách quan với những biến động phức tạp của thời đại, của xã hội là cả một thế
giới tâm hồn cá nhân với đầy đủ những cung bậc cảm xúc Sự đan xen, hòa quyện, chuyển biến, xuyên thấm lẫn nhau giữa yếu tố “truyện” và “kí”, giữa cái tôi cá nhân và
thế giới khách quan đã tạo nên thể loại hồi kí - tự truyện Đơn cử cho trường hợp này
là những tác phẩm như Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài hay Những nhân
v ật ấy đã sống với tôi của Nguyên Hồng Đó là những tác phẩm hồi kí - tự truyện, nằm
ở phần giáp ranh, mang trên mình những đặc trưng nổi bật của cả hai thể loại kế cận trên
1.1.2 Phương pháp nghiên cứu loại hình và việc phân xuất các loại hình
diễn ngôn nghệ thuật
Theo T ừ điển tiếng Việt, loại hình là “Tập hợp sự vật, hiện tượng cùng có chung
nh ững đặc trưng cơ bản nào đó” Còn loại hình học là “Khoa học nghiên cứu về các
lo ại hình nhằm giúp cho việc phân tích và phân loại một thực tại phức tạp” [63]
Trong nghiên cứu khoa học, một trong những phương thức phổ biến và lâu đời
nhất trong việc nghiên cứu loại hình là việc phân loại các sự vật để xác định danh tính
và ý nghĩa của chúng trong một hệ thống, đồng thời nhận dạng cấu trúc của hệ thống
đó Từ đó mà làm cho việc định vị, phân tích loại hình trở nên có cơ sở, sâu sắc, có tính hệ thống hơn
Mặc dù, như đã biết, diễn ngôn là sản phẩm của cá nhân trong quá trình giao tiếp,
nó mang tính cá thể độc đáo của chủ thể phát ngôn Tuy nhiên, không được xem rằng tính cá thể ấy đồng nghĩa với sự tách biệt và cho rằng diễn ngôn của mỗi cá thể không
có mối liên hệ nào với nhau Diễn ngôn đồng thời cũng là sản phẩm của lịch sử, của xã
hội, của những cơ chế quyền lực nhất định trong một phạm vi nhất định, một điều không thể tránh khỏi đó là giữa các diễn ngôn ấy đều tồn tại một mối quan hệ nội tại,
thể hiện những cơ sở và khuynh hướng chung Hơn nữa, trong thực tiễn nghiên cứu
Trang 32khoa học, có những hiện tượng nếu chỉ được nghiên cứu một cách riêng biệt, ta khó có
thể xác định được danh tính và giá trị của nó, bởi lẽ ta không có được các tiêu chuẩn
và hệ quy chiếu để dựa vào đó mà đánh giá nó Xuất phát từ những điểm chung, riêng,
từ mối liên hệ ấy mà đối với bất cứ lĩnh vực khoa học nào, phương pháp nghiên cứu
loại hình cũng là một phương pháp cần thiết
Ưu điểm cơ bản của phương pháp loại hình là giúp chúng ta định vị, nắm bắt các
hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể, bao quát; xác định được chủng loại của cái cá
thể; hiểu rõ đươc các quy luật phát triển của các hiện tượng và sự vật Tuy nhiên, cũng
cần lưu ý một điều chủ chốt là: mọi sự phân loại chỉ là tương đối, không thể vì sự phân
loại mà quên mất mối quan hệ tương tác phổ biến giữa các sự vật Bởi “sự thống nhất
v ề mặt loại hình trong văn học – đó là một sự cộng đồng không có tính chất tĩnh tại
mà có tính ch ất cơ động Đó không phải là một dây xích đóng kín gồm những mắt xích như nhau, nó là một thứ quang phổ của những màu sắc khác nhau và nằm trong một tương quan nhất định” [43, tr.340]
Về đại thể, trong nghiên cứu văn học, phương pháp loại hình có thể có hai phương thức áp dụng Một là dùng phương pháp loại hình để phân loại các hiện tượng văn học, trên cơ sở của việc chứng minh các nhóm hiện tượng giống nhau theo một tiêu chuẩn nào đó Hai là phương thức nghiên cứu từ những đặc điểm chung của một
loạt hiện tượng văn học, chúng ta có thể chứng minh cho sự tồn tại của một loại hình văn học nào đó, biện hộ cho quyền tồn tại và hiệu quả thẩm mỹ của nó Tuy nhiên, trong thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai phương thức Tức là trong khi biện
hộ cho một loại hình, nhà nghiên cứu lại dùng phương pháp loại hình để chia nhỏ các hình thức của một loại hình, hay chia nhỏ loại hình ra thành các tiểu loại hình
Diễn ngôn, cũng như bất cứ đối tượng nghiên cứu nào khác của khoa nghiên cứu văn học, có thể phân xuất thành nhiều loại khác nhau dựa vào một số tiêu chí nhất
định Trần Thiện Khanh trong bài viết Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn
h ọc, diễn ngôn thơ [51] đã phân loại diễn ngôn nói chung như một sản phẩm của khoa
học xã hội nhân văn Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi đã nhận thấy, chọn lựa và liệt
kê ra đây những tiêu chí phân loại phù hợp với việc phân loại diễn ngôn trong văn học:
Trang 33o Dựa vào dạng tồn tại của ngôn ngữ có thể chia diễn ngôn thành hai loại lớn: diễn
ngôn nói và diễn ngôn viết
o Dựa vào các lĩnh vực tri thức có thể chia thành các loại: diễn ngôn văn học, diễn
ngôn khoa học, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn báo chí,…
o Dựa vào thể loại có thể chia diễn ngôn văn học thành diễn ngôn tự sự, diễn ngôn
thơ, diễn ngôn phê bình,…
o Dựa vào cấp độ của diễn ngôn có thể chia thành diễn ngôn và siêu diễn ngôn
o Dựa vào chủ thể diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn của cá nhân và
diễn ngôn của tập thể, diễn ngôn văn học nữ giới,…
o Dựa vào cấu trúc có thể xác định diễn ngôn độc lập và diễn ngôn phụ thuộc; diễn
ngôn nguồn, diễn ngôn phụ trợ và diễn ngôn bao chứa; diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn nhân vật; diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn;…
o Dựa vào chức năng của ngôn ngữ có thể chia diễn ngôn thành hai loại là diễn ngôn
giao dịch và diễn ngôn liên nhân
Tuy nhiên, trên thực tế, chúng tôi nhận thấy còn nhiều góc độ phân loại khác
Chẳng hạn: xét về phong cách chức năng, có thể phân xuất: diễn ngôn khoa học, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn thông tin, truyền thông, diễn ngôn chính luận, diễn ngôn báo – công vụ,…; xét riêng về loại thể văn học, có thể phân xuất thành: diễn ngôn tự
sự, diễn ngôn trữ tình, diễn ngôn kịch, diễn ngôn kí, hay diễn ngôn hư cấu, diễn ngôn phi hư cấu; với diễn ngôn kí lại có thể phân xuất diễn ngôn phóng sự, diễn ngôn bút kí,
diễn ngôn hồi kí, diễn ngôn nhật kí, và trong sự tương tác giữa hư cấu, phi hư cấu lại
có thể xác lập thêm: hồi kí - tự truyện; v.v
1.2 Diễn ngôn nghệ thuật và diễn ngôn tự truyện, diễn ngôn hồi kí - tự truyện
Ở nước ta, trong khoảng vài thập niên gần đây, khái niệm diễn ngôn văn học xuất
hiện ngày càng nhiều trong các công trình nghiên cứu văn học và ngữ học Phân tích
Trang 34diễn ngôn văn học là phân tích quá trình vận hành của một đối tượng văn học cụ thể trong một hoàn cảnh giao tiếp văn học cụ thể dưới sự tác động của một hệ thống các
yếu tố ngoài văn học Để biết được khái niệm ấy được hiểu và được sử dụng như thế nào trong thực tiễn nghiên cứu văn học, trước hết chúng tôi xin đưa ra hướng tiếp cận
của luận văn trên cơ sở những hướng tiếp cận diễn ngôn phổ biến hiện nay
1.2.1 Một số hướng tiếp cận diễn ngôn và hướng tiếp cận của tác giả luận văn
Trong công trình Ba cách ti ếp cận khái niệm diễn ngôn, một công trình mang
tính chất tổng thuật có giá trị, Nguyễn Thị Ngọc Minh đã phác thảo ba cách tiếp cận
chủ yếu trong nghiên cứu diễn ngôn
Hướng tiếp cận ngôn ngữ học
Nền tảng của hướng tiếp cận này là những luận điểm của F.de Saussure trong
Giáo trình ngôn ng ữ học đại cương Trong công trình này, Saussure đã phân biệt ngôn
ngữ và lời nói Sự đối lập lời nói/ngôn ngữ đó đã làm nền tảng cho sự phân biệt giữa discourse (diễn ngôn) và text (văn bản) Văn bản là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn là cấu trúc lời nói mang tính chất động
Trên cơ sở này, vào những năm 1960, ngôn ngữ học đã rẽ sang hai hướng: một hướng đi sâu nghiên cứu cấu trúc nội tại của các văn bản như là hệ thống chỉnh thể, khép kín và biệt lập, và hướng còn lại, chuyên nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn trong
mối quan hệ với ngữ cảnh phát ngôn, nhân vật phát ngôn,… Các nhà nghiên cứu như Roland Barthes, Todorov,… đều có tham vọng khái quát sự đa dạng, muôn hình muôn
vẻ của các thể loại văn học vào một số khung, mô hình nhất định Đặc biệt cần phải kể đến đóng góp của G.Genette trong việc nghiên cứu diễn ngôn tự sự Theo ông, diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày một câu chuyện và nó bao gồm các yếu tố như: thời,
th ức và giọng Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ giữa câu chuyện và
diễn ngôn tự sự, giọng chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa
hoạt động kể và câu chuyện
Trang 35Như vậy, có thể nhận thấy, ưu điểm của hướng nghiên cứu văn bản là đã chỉ ra
những yếu tố nội tại chi phối cấu trúc diễn ngôn như thời, thức, thể, giọng, ngôi,… Nhưng cũng chính vì họ chỉ quan tâm đến cấu trúc nội tại mà quên đi những mối liên
hệ bên ngoài cũng góp phần chi phối diễn ngôn Họ loại trừ tất cả thuộc tính ngẫu nhiên, cá thể của lời nói Họ không hướng đến nghiên cứu những cấu trúc diễn ngôn
cụ thể mà chỉ nỗ lực tìm kiếm những mô hình ngôn ngữ mang tính chất tĩnh tại bất
biến Đây cũng chính là hạn chế của hướng nghiên cứu này
Nếu như ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn lại nhằm làm nổi bật mối quan hệ
chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản Các
yếu tố này bao gồm trường (hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn), thức (vai trò của ngôn
ngữ trong tình huống), không khí chung (các vai xã hội trong giao tiếp) Giai đoạn sau này cũng với sự phát triển của chủ nghĩa giải cấu trúc và tự sự học đã khắc phục được
một số thiếu sót của hướng tiếp cận ngôn ngữ học thuần túy trước đây mắc phải
Hướng tiếp cận phong cách học
Có thể nói M.Bakhtin chính là người đặt nền móng cho hướng nghiên cứu này
Tiểu luận Vấn đề các thể loại lời nói viết vào quãng 1952-1953 cùng với công trình Mikhail Bakhtin – nguyên lí đối thoại của Todorov là những công trình nghiên cứu thể
hiện tập trung nhất quan điểm của Bakhtin về diễn ngôn Ông đề xuất hướng nghiên
cứu ngôn ngữ như một thực thể đa dạng, sống động, mang tính lịch sử Ông cho rằng:
“di ễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong b ối cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng ”, “là mảnh đất giao c ắt, hội tụ, tranh biện của những tư tưởng, quan niệm khác nhau về thế giới”
[96] Bởi thế, Bakhtin nhấn mạnh, đối thoại là bản chất của diễn ngôn Bản chất đối thoại ấy thể hiện ở chỗ, mỗi hành động phát ngôn đều là sự trả lời, là sự đối thoại với hàng ngàn những phát ngôn trước đó Và đối tượng mà phát ngôn hướng đến đều đã
từng được nhắc đến, bàn bạc đến, đánh giá nhiều lần và mỗi phát ngôn chỉ là một mắt xích, một khâu của các mạch phát ngôn khác
Trang 36Và, chính vì quan điểm trên, khi nghiên cứu diễn ngôn, Bakhtin chú trọng hướng đến phân tích những phát ngôn cụ thể, nó là đơn vị cơ bản của lời nói, là hóa thân sống động của ngôn ngữ trong ngữ cảnh thực tế sử dụng Trong thực tế, các phát ngôn thường cố kết với nhau và được tổ chức trong những hình thức ổn định mà ông gọi là các thể loại lời nói Thể loại lời nói là những loại hình phát ngôn tương đối bền vững, được sản sinh ra trong một phạm vi sử dụng ngôn ngữ cụ thể, là một chỉnh thể bao
gồm ba bình diện: nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu Bakhtin cho rằng,
thể loại lời nói là cái có trước, có vai trò chi phối và tổ chức lời nói của chúng ta, thấm vào tư duy của chúng ta, được bật ra một cách vô thức khi giao tiếp
Một luận điểm cũng cần được nhắc đến của Bakhtin đó chính là tính chất lưu trữ
dữ liệu đời sống và tính lịch sử trong những thể loại lời nói Thông qua những thể loại
lời nói, người ta có thể thấy được bức tranh sinh động của lịch sử Hơn thế nữa, trong quá trình vận hành ngôn ngữ, sẽ luôn có những phát ngôn có uy tín cao sẽ được người
ta dựa vào, viện dẫn, trích dẫn, bắt chước, làm theo; sẽ luôn có những truyền thống
nào đó được thực hiện và gìn giữ trong bộ lễ phục ngôn từ; và sẽ luôn có “những tư tưởng chủ đạo của các bậc chúa tể trí tuệ ở một thời đại nào đó, những khẩu hiệu,
nh ững nhiệm vụ cơ bản nào đó được thể hiện bằng ngôn từ” [92]
Hướng tiếp cận xã hội học
Trung tâm của hướng tiếp cận thứ ba này là những quan niệm về diễn ngôn của M.Foucault Thứ nhất, diễn ngôn được coi là tất cả các nhận định nói chung, đó là tất
cả các phát ngôn hoặc văn bản có nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực
Thứ hai, diễn ngôn là một nhóm các diễn ngôn cụ thể, được quy ước theo một cách
thức nào đó và có một mạch lạc hoặc một hiệu lực nói chung “được nhóm lại với nhau
b ởi một áp lực mang tính thiết chế nào đó, bởi sự tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay b ởi chúng cùng hành động theo một cách gần giống nhau” [96] Thứ ba, diễn
ngôn là một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và chi phối việc vận hành của chúng Theo đó, hệ thống những “tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành x ử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thể” [96] có một
hiệu lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của mỗi người, chi phối các hoạt
Trang 37động nói năng của con người Như vậy, diễn ngôn không được tạo ra từ hư không, mà sinh mệnh của nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thiết chế, và đằng sau đó là bàn tay vô hình của quyền lực Lời nói và suy nghĩ của con người không phải là sự biểu
hiện một cách tự do những tư tưởng cá nhân mà bị định hình và nhốt chặt trong những khuôn khổ có trước
Quyền lực và loại hình tri thức có thể được xem là mối quan tâm lớn nhất của Foucault và cả hai chỉ có thể được tạo ra, được vận hành và phân phối trong diễn ngôn Quyền lực không chỉ là sự cưỡng bức, cái ngăn trở sự tự do và ý nguyện của người khác mà là “điều kiện tạo thành tất cả mọi lời nói”, cái không chỉ cấm người ta nói mà
còn cho phép người ta được phát ngôn, không chỉ là quyền lực của nhà nước mà rải rác trong tất cả các mối quan hệ xã hội Foucault cho rằng tri thức là sản phẩm được tạo ra
bởi các diễn ngôn, “là cái khung tư tưởng của một thời kì nhất định…”, “là cái mà từ
ng ữ dựa vào để được tổ chức lại, và quyết định từ ngữ được tồn tại như thế nào, là cái không gian tri th ức trong đó đồ vật được xem là cái gì…” [107] Diễn ngôn là chiến
trường nơi diễn ra các cuộc giao tranh nhằm giành quyền phát ngôn chân lý, quyền tuyên bố cái gì đó được coi là tri thức Toàn bộ tri thức mà chúng ta có, thực chất là
kết quả quá trình chinh phục các đối tượng, dùng quyền lực để áp đặt thước đo chuẩn
mực lên đối tượng
Foucault cũng bàn đến cấu trúc vận hành diễn ngôn, đó là những cơ chế bên ngoài chi phối diễn ngôn: bình luận, những nghi thức, tác giả Bình luận khiến cho
diễn ngôn được vận hành, lưu thông Những diễn ngôn không được bình luận thì sẽ đi vào quên lãng Những nghi thức khống chế số người có thể nói một số kiểu diễn ngôn
Tất cả những yếu tố đó là những cấu trúc bên trong tạo lập nên diễn ngôn và những
cấu trúc bên ngoài cho phép diễn ngôn nào được tồn tại, được lưu hành Ẩn sau những
cấu trúc này là một thứ quyền lực vô hình có vai trò giám sát, chọn lựa, tổ chức và phân phối toàn bộ các diễn ngôn được lưu hành trong một thời điểm nhất định như đã nói ở trên
Quan niệm về diễn ngôn của Foucault đã tạo ra một bước ngoặt trong tư duy lý thuyết thế kỉ XX đó là hướng nghiên cứu văn hóa thịnh hành từ sau những năm 1960
Trang 38trở lại đây Với hướng tiếp cận này, người ta không nghiên cứu văn học như một thực
thể biệt lập mà đặt nó trong mối liên hệ với những loại hình diễn ngôn khác như chính
trị, đạo đức, tôn giáo, ; người ta không nghiên cứu văn bản và những hình thức tổ
chức ngôn từ của nó mà cố gắng tìm hiểu những cơ chế tạo lập và chi phối các văn bản ngôn từ - yếu tố ẩn sâu, đằng sau các văn bản
Hướng tiếp cận của tác giả luận văn
Như vậy, bằng việc tóm lược một cách ngắn gọn những hướng tiếp cận diễn ngôn tiêu biểu hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy quá trình phát triển cũng như phân hóa của khái niệm diễn ngôn cũng gắn liền với sự phát triển của tư duy lí luận văn học: chuyển từ nghiên cứu nội văn bản sang nghiên cứu các yếu tố ngoài văn bản, chuyển
từ nghiên cứu cấu trúc sang giải cấu trúc, chuyển từ nghiên cứu văn học như một lĩnh
vực biệt lập và khép kín sang nghiên cứu văn học như một diễn ngôn đồng tồn tại trong một mạng lưới chằng chịt các diễn ngôn khác Đối với ngữ học, diễn ngôn là khái niệm chỉ cấu trúc, liên kết của đơn vị ngôn ngữ trên câu, cần phân tích mạch lạc, liên kết và ngữ cảnh để phát hiện được ý nghĩa, lý do của nó Đối với nghiên cứu văn hóa là tìm hiểu các cơ chế tiềm ẩn những hạn chế lời nói trong thực tiễn giao tiếp Còn trong nghiên cứu văn học, diễn ngôn là chỉ chiến lược phát ngôn nghệ thuật, thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ để vượt thoát khỏi các hạn chế nhằm phát ra được tiếng nói mới, thể hiện được tư tưởng mới trong chỉnh
thể sáng tác
Sau quá trình tìm hiểu, căn cứ vào đặc trưng đối tượng và mục đích nghiên cứu
của luận văn, chúng tôi quyết định tiến hành phân tích diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài trên cả ba phương diện tiếp cận : ngôn
ngữ học, phong cách học và xã hội học Tuy nhiên ở đây đặc biệt lưu ý đến phương
diện tính nghệ thuật của diễn ngôn tự truyện và hồi kí - tự truyện Có thể nói, chúng tôi quan niệm diễn ngôn tự truyện cũng như tất cả các diễn ngôn khác, đều hình thành trên đơn vị phát ngôn (lời nói), và bao gồm cấu trúc nội tại và những yếu tố chi phối từ bên ngoài, hay nói cách khác nó không chỉ phụ thuộc vào các quy tắc của ngôn ngữ mà còn phụ thuộc vào các quy tắc, chuẩn mực, cấm đoán ngoài ngôn ngữ Các quy tắc
Trang 39ngoài ngôn ngữ do các nhân tố ý thức hệ, tri thức và quyền lực quy định Bên cạnh đó
là sự chi phối quy tắc của thể loại; sự chuyển hóa của quy tắc ngoài ngôn ngữ, ngoài
thể loại thành quy tắc thể loại Kết hợp ba phương diện tiếp cận trên, chúng tôi mong
muốn có thể tìm ra những yếu tố chi phối việc hình thành diễn ngôn trong tất cả các
mối liên hệ trong và ngoài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thể loại tự truyện và hồi kí - tự truyện Nét khu biệt lớn nhất của những thể loại này với các thể loại tự sự khác đó chính là các yếu
tố chi phối quá trình tự sự gồm: tác giả, người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể, giọng
kể, trật tự kể,… Quá trình tự sự này lại hướng đến đối tượng đặc biệt là chính bản thân người tự sự, nội dung tự sự lại gắn liền với cuộc đời của bản thân người tự sự Tự truyện được sáng tác với mục đích chủ yếu là tự thuật, tự vấn,… hay nói cách khác là
tự đối thoại với chính mình Chính vì lẽ đó, hướng nghiên cứu ngôn ngữ học và phong cách học sẽ giúp chúng tôi giải quyết thỏa đáng vấn đề này
Tuy nhiên, như đã nói, bản chất của diễn ngôn là đối thoại Mỗi diễn ngôn khi
xuất hiện luôn đứng trong tư thế đối thoại với những diễn ngôn trước và sau nó Điều này cũng là một trong những yếu tố chi phối góp phần tạo nên diện mạo của bất cứ
diễn ngôn nào Và đó cũng là lí do khiến chúng tôi vận dụng quan điểm tính đối thoại
của Bakhtin vào phân tích diễn ngôn trong công trình này
Mặt khác, không có diễn ngôn nào là một cấu trúc khép kín, tĩnh tại mà nó luôn
bị chi phối bởi nhiều yếu tố Phân tích diễn ngôn không chỉ chú ý tới chức năng giao
tiếp của nó mà còn cần chú ý đến khía cạnh tư tưởng và quan hệ quyền thế được thể
hiện trong diễn ngôn, hoặc chi phối đến sự kiến tạo diễn ngôn Chúng tôi muốn nhắc đến ở đây là yếu tố quyền lực và tri thức đã tác động đến quá trình tự thuật của các nhà văn Những yếu tố chi phối ấy xuất phát từ đời sống xã hội, diện mạo văn học, đối tượng tiếp nhận, hoàn cảnh sáng tác thời bấy giờ,… Mặt khác, diễn ngôn văn học mang tính lịch sử Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền văn hóa, mỗi thể chế chính trị xã hội
có một quy ước thực tiễn diễn ngôn nhất định “Chưa bao giờ văn học thoát khỏi sự ảnh hưởng của thế chế xã hội, chưa bao giờ nó thoát khỏi các hệ thống xã hội khác…[94] Ngược lại, diễn ngôn văn học cũng góp phần tạo nghĩa về một hiện tượng,
Trang 40một sự thể, nó tham gia định nghĩa về bất cứ điều gì theo quy ước riêng của nó, thậm chí còn có thể phá hủy những ảo tưởng và sự ngụy biện tri thức nào đó đang ngự trị Tri thức và quyền lực tác động, chi phối lên nó, ngược lại, nó cũng góp phần tạo ra tri
thức và quyền lực Mối quan hệ hai mặt này chỉ có thể được giải quyết một cách thỏa đáng dựa trên quan điểm xã hội học của Foucault
1.2.2 Sự hội tụ cái tôi tác giả, chủ thể viết, chủ thể kể trong diễn ngôn tự truyện, hồi kí - tự truyện
Cái tôi tác giả, hay còn được hiểu là hình tượng tác giả chính là khái niệm “tác
giả hàm ẩn” mà nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến và W.Booth là người hoàn chỉnh Ông cho rằng tác giả hàm ẩn luôn khác với “con người hiện thực”, với tác giả bằng xương
bằng thịt ngoài đời Sự khác nhau giữa tác giả hàm ẩn với tác giả thực không phải là sự đối lập mà là sự khác nhau về cấp độ, vị trí và chức năng Nhà văn (tác giả thực) khi sáng tạo tác phẩm, tùy vào thể loại, luôn có ý thức xây dựng một dị bản ngụ ý bản thân mình Có một thực tế không thể phủ nhận, khi sáng tác ra truyện kể, nhà văn luôn đặt
ra mục tiêu của sự viết, định rõ chủ ý và khát vọng của mình Người đọc có thể nhận ra
điều đó thông qua diễn ngôn, chi tiết và hành động “Đứa con tinh thần của nhà văn có
th ể sẽ mang đầy đủ dấu ấn những phẩm chất cũng như giới hạn của kẻ đã sáng tạo ra nó” [45] Đặc biệt trong thể loại tự truyện và hồi kí - tự truyện, với đặc trưng nhằm tự thuật lại cuộc đời chính bản thân mình, qua đó chủ thể viết tiến hành nhìn lại, đánh giá
lại mình, đồng thời chia sẻ, tìm kiếm sự đồng cảm của người đọc Chính vì lẽ đó, giữa tác giả thực và tác giả hàm ẩn có sự giao nhau rất lớn bởi chủ thể đã chủ động bộc lộ cái tôi của chính mình trên trang giấy Tuy nhiên, vì nhiều rào cản, rào cản lớn nhất là
do tính giới hạn kí hiệu ngôn ngữ, tác giả hàm ẩn, ở một mức độ nào đó, chỉ là phần
lớn của tác giả thực, chứ không hoàn toàn trùng khít với tác giả thực Vậy làm thế nào
để xác định được tác giả hàm ẩn (hình tượng tác giả)? Tác giả hàm ẩn là một bậc trần thuật không được thể hiện ở văn bản nghệ thuật dưới dạng nhân vật – người kể chuyện, mà chỉ được độc giả tái tạo trong quá trình đọc như là một “hình tượng tác
giả” ngấm ngầm, ẩn tàng Có thể hình dung mối quan hệ đó bằng sơ đồ: