1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa dân gian trong tiểu thuyết đàn hương hình của mac ngôn

114 2,7K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 830,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một trong những tác phẩm mới của Mạc Ngôn, tiểu thuyết Đàn hương hình rất có thể sẽ trở thành cột mốc quan trọng đánh dấu sự quay trở về với văn hóa truyền thống, với nghệ

Trang 1

Trần Văn Tuân

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

Trần Văn Tuân

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Đinh Phan Cẩm Vân

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trình bày trong luận văn là trung thực

Tr ần Văn Tuân

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gởi lời cảm ơn đến:

- Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm Vân, người trực tiếp và tận tình hướng dẫn

khoa học cho tôi

- PGS.TS H ồ Sĩ Hiệp người đã gợi ý cho tôi tìm đề tài luận văn

- Trường Đại học Sư phạm TPHCM, Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học

và thư viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

- Gia đình, bạn bè đã ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Tr ần Văn Tuân

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

M Ở ĐẦU 1

C hương 1 VĂN HÓA DÂN GIAN - NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ TH ỰC TIỄN 14

1.1 Khái niệm văn hóa dân gian 14

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết 17

1.3 Quê hương Cao Mật với hành trình sáng tạo của Mạc Ngôn 24

1.3.1 Tình yêu đối với quê hương 24

1.3.2 Quan niệm tiểu thuyết của Mạc Ngôn 25

Tiểu kết 27

C hương 2 VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI THẾ GIỚI NHÂN VẬT VÀ NGÔN NG Ữ ĐÀN HƯƠNG HÌNH 28

2.1 Nhân vật Tôn Bính 28

2.1.1 Tôn Bính với làn điệu Miêu Xoang 30

2.1.2 Tôn Bính và cuộc khởi nghĩa đậm màu sắc dân gian 37

2.2 Nhân vật Tôn Mi Nương 43

2.2.1 Tôn Mi Nương với Miêu Xoang 43

2.2.2 Tôn Mi Nương sự phá vỡ văn hóa truyền thống 45

2.2.2.1 Tôn Mi Nương với “đôi chân bàn cuốc” 45

2.2.2.2 Tôn Mi Nương với tình yêu vượt lễ giáo 50

2.3 Miêu Xoang ở ngôn ngữ dân gian 55

2.3.1 Khẩu ngữ 56

2.3.2 Từ ngữ thô tục 57

Trang 6

C hương 3 VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

ĐÀN HƯƠNG HÌNH 61

3.1 Không gian Miêu Xoang trong Đàn hương hình 61

3.1.1 Miêu Xoang với không gian đường phố 62

3.1.2 Miêu Xoang với không gian pháp trường 65

3.2 Miêu Xoang với kết cấu Đàn hương hình 70

3.2 1 Kết cấu đối lập về âm thanh 73

3.2.2 Kết cấu đứt – nối và đảo lộn sự kiện 77

3.3 Yếu tố Kỳ - Mỹ trong hình phạt Đàn hương hình 84

3.3.1 Hình phạt trong Đàn hương hình 84

3.3.2 Đàn hương hình sự Kì – Mỹ của hình phạt 87

Tiểu kết 101

KẾT LUẬN 102

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trung Quốc là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại Những thành tựu rực rỡ của nền văn minh ấy được kết tinh từ khoa học kĩ thuật, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, triết học, tôn giáo, văn học hết sức phong phú, đa dạng và đặc sắc Về lĩnh vực văn học, trong giai đoạn lịch sử

xã hội nào thì Trung Quốc cũng đạt nhiều thành tựu rực rỡ: Sở có Tao (Ly tao), Hán có Phú, Đường có Thơ, Tống có Từ, Nguyên có Khúc, Minh - Thanh có Tiểu thuyết Nếu xét về thơ ca, có thể khẳng định cho đến nay chưa

có một nền thơ ca nào vượt qua thơ Đường, sự đồ sộ về số lượng và đặc sắc

về nội dung nghệ thuật Còn về thể loại tiểu thuyết, thời Minh - Thanh đã để

lại những bộ tiểu thuyết nổi tiếng như Tam quốc diễn nghĩa, Tây du kí, Thủy

hử, Hồng lâu mộng, Liêu trai chí dị

Trong nhiều năm trở lại đây, với chính sách cải cách mở cửa về kinh tế,

xã hội, văn học nghệ thuật đã đạt được những thành quả tốt đẹp Nhiều nhà văn Trung Quốc được đông đảo bạn đọc thế giới và Việt Nam biết đến như: Mao Thuẫn, Ba Kim, Giả Bình Ao, Vương Mông, Quỳnh Dao, Cao Hành Kiện, Phùng Kí Tài, Kim Dung, Trương Hiền Lượng, Mạc Ngôn, Vệ Tuệ

Nền văn học Trung Quốc đương đại có một diện mạo mới, với những bước đột phá và cách tân về thi pháp và thể loại Nhà văn Mạc Ngôn được coi là một trong những đại diện tiêu biểu của nền văn học Trung Quốc đương đại

Sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố văn hóa dân gian

truyền thống với phương pháp sáng tác hiện đại Tác phẩm của ông thực sự đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tầng lớp độc giả trong cũng như ngoài nước Theo Annie Wang: “Mạc Ngôn được coi như một ứng cử viên tiềm năng của giải Nobel trong con mắt cả giới lãnh đạo Bắc Kinh lẫn các tác giả

Trang 8

như Kenzaberô Oe” [1, tr.114] Ngày 11 - 10 – 2012 vinh dự lớn nhất cuộc đời sáng tác, Mạc Ngôn được nhận giải Nobel Văn học 2012

Trong sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn, tiểu thuyết Đàn hương hình là

tác phẩm tiêu biểu cho sự đổi mới của nhà văn trên phương diện thi pháp tiểu thuyết và những tinh hoa văn hóa trong nghệ thuật sáng tác được tập trung thể

hiện ở cuốn tiểu thuyết này Đàn hương hình là câu chuyện diễn ra tại vùng

Đông Bắc - Cao Mật vào năm 1900 vào cuối thời kì nhà Thanh Tác phẩm kể lại cuộc đấu tranh mang tính tự phát của người dân vùng Đông Bắc - Cao Mật chống lại quân Đức, khi chúng tiến hành xây dựng tuyến đường sắt Giao Tế chạy qua thôn Cao Mật Tôn Bính là nhân vật trung tâm được xây dựng dựa trên nguyên mẫu một nhân vật có thật trong lịch sử, nhưng theo Mạc Ngôn, trong tiểu thuyết, Tôn Bính đã được nâng lên rất nhiều Ông được xây dựng thành một nhân vật anh hùng chẳng kém gì Lý Tư Thành Tác phẩm lấy bối cảnh thời kì Mãn Thanh, câu chuyện chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp ở vùng Đông Bắc - Cao Mật với quan hệ giữa ba gia đình Tôn Bính, Triệu Giáp và vị quan huyện Tiền Đinh Đặc biệt là nàng Mi Nương con gái Tôn Bính vợ Triệu Tiểu Giáp, anh chàng đồ tể bất lực chuyện chăn gối, nàng còn là dâu Triệu Giáp, lại là người tình quan huyện Tiền Đinh Trớ trêu nhất là khi người Đức xây tuyến đường sắt Giao Tế đi qua Cao Mật, làm đứt long mạch ảnh hưởng đến phong thủy và cuộc sống của nhân dân Tôn Bính đứng lên chống Đức, tri huyện Tiền Đinh bắt sống ông, giao cho Triệu Giáp xử tử Đàn hương hình Nàng Tôn Mi Nương đứng ở trung tâm mối quan hệ, cha ruột bị bắt chờ hành

xử, cha chồng là người đứng ra hành hình, người tình lại là kẻ bắt cha ruột Đặc biệt hơn, câu chuyện xoay quanh quan hệ tình yêu vụng trộm mà cháy bỏng của Mi Nương và quan huyện, cùng với cuộc hành hình man rợ

của Triệu Giáp dành cho Tôn Bính Nhưng Đàn hương hình đã đặt ra những

vấn đề lớn không chỉ ở thôn Đông Bắc - Cao Mật mà còn của cả lịch sử phát

Trang 9

triển đất nước Trung Hoa Đó là mâu thuẫn gay gắt giữa chính nghĩa là những người dân đứng lên chống lại quân xâm lược và phi nghĩa là kẻ đi xâm lược và bọn tay sai bán nước Cuộc đấu tranh của Tôn Bính, xét theo quan điểm hiện đại là hành động ngu muội, không chịu tiếp nhận cái mới, nhưng nó đã phản ánh được thái độ phản ứng của nhân dân Trung Quốc trước quân xâm lược Thông qua đó, Mạc Ngôn đã chỉ ra sự vận động trong ý thức hệ của người dân Cao Mật nói riêng và nhân dân Trung Quốc nói chung Một vấn đề khác được

Mạc Ngôn đề cập đến trong tác phẩm là mâu thuẫn giữa văn hóa hiện đại và

truyền thống Vấn đề này không chỉ tồn tại khi đó, mà cho đến nay, nó vẫn là

vấn đề đáng được quan tâm Trong tác phẩm, để thể hiện vấn đề này, Mạc Ngôn đã đưa ra hai hệ thống âm thanh tồn tại song song với nhau Đó là âm thanh của tuyến đường sắt Giao Tế đại diện cho sự xuất hiện của yếu tố hiện

đại Đối nghịch với âm thanh đường sắt là làn điệu Miêu Xoang lại vang lên tiêu biểu cho nền văn hóa dân gian truyền thống, lâu đời Hai loại âm thanh

này đã trở thành nỗi ám ảnh trong từng trang viết của Mạc Ngôn

Cũng theo Mạc Ngôn, việc xây dựng kết cấu truyện theo kiểu chương mở đầu phải đẹp như đầu chim phượng hoàng, phần kết thúc phải mạnh mẽ, có sức thuyết phục như đuôi con báo, phần giữa phải phình to ra và nhiều mỡ như bụng của con lợn, (Đầu phụng - Bụng heo - Đuôi beo) không nằm ngoài

ý muốn tôn vinh giá trị nền văn hóa dân gian Ở đây, nền văn hóa dân gian

là loại hình hí kịch Miêu Xoang, một loại hình nghệ thuật của người dân Đông Bắc - Cao Mật Với tư cách là một trong những tác phẩm mới của Mạc

Ngôn, tiểu thuyết Đàn hương hình rất có thể sẽ trở thành cột mốc quan trọng đánh dấu sự quay trở về với văn hóa truyền thống, với nghệ thuật và phong

tục dân gian trong sáng tác của Mạc Ngôn

Sức cuốn hút của nền văn hóa truyền thống lâu đời và sự phát triển rực rỡ

từ cổ đến kim của nền văn học Trung Quốc đã làm say mê không biết bao

Trang 10

nhiêu thế hệ độc giả Sự ảnh hưởng của nền văn học này không chỉ ở các thời đại trước mà ngày hôm nay, văn học Trung Quốc vẫn tỏa hương thơm ngát đến các nền văn học khác trong khu vực Ngoài sức cuốn hút về thành tựu thì văn học Trung Quốc là một trong những nền văn học lớn trên thế giới được đưa vào hệ thống giáo dục Việt Nam từ cấp trung học phổ thông đến bậc đại học và sau đại học Với bản thân là người làm công tác giảng dạy nên việc nghiên cứu tác giả Mạc Ngôn nhằm mục đích làm thỏa mãn sự đam mê của bản thân và phục vụ cho công tác chuyên môn Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Đàn hương hình để nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Về lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Mạc Ngôn, đã có rất công trình nghiên cứu như các bài báo, các bài tham luận về tác phẩm của ông Ở đây, chúng tôi xin tổng hợp những bài nghiên cứu và chia lịch sử nghiên cứu về tác giả Mạc Ngôn thành hai nhóm vấn đề lớn như sau:

2.1 Những công trình nghiên cứu Mạc Ngôn ở Việt Nam

Trong hàng chục cuốn tiểu thuyết Mạc Ngôn đã viết, ba cuốn tiểu thuyết

có tiếng vang và gây xôn xao dư luận nhất Đó là Cao lương đỏ, Báu vật của

đời và Đàn hương hình Tác phẩm Cao lương đỏ được giải thưởng toàn quốc

năm 1985- 1986, người ta vẫn thích Cao lương đỏ vì tác phẩm viết hơi nặng

về cái xấu của người Trung Quốc, mãi đến khi nó được đưa lên màn ảnh và

được giải “Cành cọ vàng” tại liên hoan phim Canne năm 1994 thì dư luận mới tạm lắng xuống Tiểu thuyết Báu vật của đời có nhiều người không thích

vì nó hơi dung tục, đến Đàn hương hình bên cạnh người khen thì không ít kẻ

chê Đàn hương hình in năm 2001, song chỉ sau 4 tháng đã được tái bản với

số lượng trên 1000 cuốn Trong tình hình thị trường sách hiện nay, Đàn

hương hình trở thành một hiện tượng đáng chú ý trong lĩnh vực xuất bản và

phát hành Đàn hương hình ở Việt Nam cũng được nhiều nhà văn hoan

Trang 11

nghênh Theo thời gian, những bài viết, những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn ngày càng phong phú và đa dạng Lịch sử tìm hiểu tiểu thuyết Mạc Ngôn dần dần có bề dày và tất nhiên chưa có dấu hiệu dừng lại

Sẽ có những hướng nghiên cứu được mở rộng từ một hay một vài khía cạnh đến tổng thể thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Mạc Ngôn Nhưng dù được

tiếp cận theo hướng nào, hầu hết những nghiên cứu đó đều chạm đến “văn

hóa dân gian” vì gần như mọi phương diện nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn

đều thấm đẫm tính dân gian Lịch sử nghiên cứu “văn hóa dân gian” trong

tiểu thuyết Mạc Ngôn vì vậy, có thể nói, gắn liền và song hành với lịch sử nghiên cứu Mạc Ngôn và tiểu thuyết của ông

Tác giả Nguyễn Khắc Phê với bài viết "Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết

của Mạc Ngôn qua hai tiểu thuyết Báu vật của đời và Đàn Hương hình"

(Tạp chí Sông Hương số 166 năm 2002), đã nhấn mạnh đến khả năng bao quát hiện thực lịch sử rộng lớn và nêu lên vấn đề xung đột văn hóa Đông – Tây, trong Đàn hương hình ông quan tâm đến đối chọi Đông - Tây, sẽ nhận

ra từ hai loại âm thanh quyện vào tuổi ấu thơ của tác giả (tiếng xe lửa và làn điệu Miêu Xoang) Âm thanh đường sắt là làn sóng văn minh phương Tây đang đe dọa và bóp chết văn hóa dân tộc Chuyện cũ mà ý nghĩa vẫn rất

"thời sự" Ngoài sự đối nghịch giữa văn hóa Đông - Tây thì trong Đàn

hương hình nhà văn đã dùng phương pháp "lạ hóa" và "huyền thoại hóa" để

cường điệu và phóng đại những cuộc hành hình như: tùng xẻo năm trăm miếng thịt, mà đặc biệt nhất là cảnh tử hình bằng cọc đàn hương, đâm từ hậu môn lên miệng để cho phạm nhân đau khổ cùng cực nhưng không thể chết Bài viết đã có chú tâm đến vấn đề văn hóa dân gian nhưng chỉ giới hạn ở phạm vi nhỏ như ngôn ngữ, và những yếu tố dân gian trong hai tác phẩm

Nhưng vấn đề văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Đàn hương hình vẫn chưa

được khám phá trọn vẹn

Trang 12

Hai bài nghiên cứu có phần toàn diện đầu tiên về tiểu thuyết Mạc Ngôn là

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn” (Tạp chí Văn học nước

ngoài, số 4, năm 2003) và "Mạc Ngôn và tiểu thuyết Đàn hương hình" (Tạp

chí Sông Hương số 166 năm 2002) Ở hai bài viết này, giáo sư Lê Huy Tiêu

đã phân tích những đặc trưng của thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn như: phép lạ hóa, nghệ thuật tự sự Ngoài ra ở hai bài viết tác giả cũng đã đề cập về ngôn ngữ dân gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đượm mùi dân dã, chen nhiều ca dao thành ngữ, lời văn có nhiều lời hay ý đẹp, có thanh có tục Song trong giới hạn của bài nghiên cứu có tính khái quát về những đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, những biểu hiện cụ thể của vấn đề văn hóa dân gian vẫn còn nhiều vấn đề tác giả chưa bàn đến

Nguyễn Thị Minh Quân trong luận văn thạc sỹ Nghệ thuật tự sự trong

tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn (Đại học Sư phạm Hà Nội, năm

2006), ngoài các vấn đề lớn mà tác giả đã phân tích như: người tự sự, không gian tự sự, thời gian tự sự luận văn còn phân tích làn điệu dân gian Miêu Xoang đặc trưng của tác phẩm như giọng “mèo” được sử dựng phổ biến trong tác phẩm và Miêu Xoang trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người dân Cao Mật Người đọc thực sự cuốn hút khi trực tiếp nghe làn điệu Miêu Xoang Nhưng ở giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài thì người viết không đi sâu phân tích biểu hiện cụ thể của văn hóa dân gian trong tác phẩm

Luận văn thạc sỹ Người kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010) Bùi Thị Thanh Hương cho rằng ngôi kể chuyện và điểm nhìn là một trong những thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Ngoài ra còn có giọng điệu kể chuyện như: giọng điệu dân dã, hài hước, dung tục, khoa trương, hoài nghi, bi phẫn đây là vấn đề tác giả đã cụ thể hóa ngôn ngữ dân gian một

Trang 13

khía cạnh của văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Nhưng tác giả chỉ mới khái quát chung về ngôn ngữ dân gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

nói chung còn vấn đề cụ thể hóa trong tiểu thuyết Đàn hương hình tác giả vẫn

còn để ngỏ

Luận văn thạc sỹ Tiểu thuyết Mạc Ngôn dưới góc nhìn văn hóa (Đại học

Sư phạm Huế năm 2011) Phan Thị Thanh Tâm đã làm sáng rõ những nội hàm của văn hóa truyền thống và hiện đại cũng như xung quanh những xung đột giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa Đông - Tây trong tiểu

thuyết Mạc Ngôn nói chung và trong tiểu thuyết Đàn hương hình nói riêng

Tuy nhiên ở luận văn này người viết chỉ phân tích dưới góc độ văn hóa nói chung, tác giả chưa đi vào vấn đề cụ thể của văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Luận văn thạc sỹ Cái kì trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học Sư phạm

Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2012) của Võ Nguyễn Bích Duyên cho rằng sức hấp dẫn của tiểu thuyết Mạc Ngôn là do những hình tượng nghệ thuật đậm chất kì như: kì nhân, kì cảnh, kì tài và những con người kì lạ, không gian

kì lạ, âm thanh kì lạ, mùi vị, sắc màu kì lạ và biết bao câu chuyện chỉ có thể sinh ra từ sự hư cấu, phóng đại của nhà văn Cùng với cách viết hiện đại một mặt Mạc Ngôn chịu ảnh hưởng của cách kể chuyện của những người dân quê ông, miệng lưỡi của dân gian Luận văn này chỉ giải quyết vấn đề cái kì nên yếu tố dân gian chưa được tác giả thật sự chú ý khai thác

Nhìn chung tất cả những công trình khoa học ở trong nước chúng tôi đã điểm qua, ít hoặc nhiều người viết có bàn đến văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Nhưng ở biểu hiện cụ thể hóa vấn đề văn hóa dân gian

trong tiểu thuyết Đàn hương hình thì chưa tác giả nào bàn đến Vì vậy luận văn của chúng tôi sẽ cụ thể hóa vấn đề văn hóa dân gian trong tiểu thuyết

Đàn hương hình của Mạc Ngôn

Trang 14

2.2 Những công trình nghiên cứu Mạc Ngôn ở Trung Quốc

Những bài trả lời phỏng vấn được Lâm Kiến Phát và Vương Nghiên tập

hợp trong Mạc Ngôn và những lời tự bạch (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội

năm 2004) do Nguyễn Thị Thại dịch, đã tập hợp những bài phát biểu, bài diễn thuyết của Mạc Ngôn và những cuộc trả lời phỏng vấn trong và ngoài nước

như bài nói chuyện Diễn đàn của các nhà văn tại trường Đại học Tô Châu về vấn đề "Thử bàn về nguồn tư liệu dân gian của sáng tác văn học" Mạc Ngôn

đã khẳng định "Cái gọi là sáng tác dân gian, vấn đề cuối cùng là tâm lí sáng tác của nhà văn [ ] đó là anh viết cho bà con dân thường hay anh là một dân thường để viết, vì vậy nhà văn phải sáng tác từ vị trí của người dân' [41, tr

29] Ngoài ra còn có các bài phát biểu "Vì sao tôi lại viết Gia tộc cao lương

đỏ", bài nói chuyện ở Trường Đại học Stan - phooc Mỹ, đã bàn về vấn đề

"Đói khát và cô đơn là tài sản sáng tác của tôi", bài nói chuyện ở Trường Đại

học Colompia, Mỹ "Về Báu vật của đời của tôi" hay bài diễn thuyết ở thư viện Đài Bắc về vấn đề "Tôi và tư trào văn học chủ nghĩa lịch sử" Nhìn

chung những bài nói chuyện, những bài phát biểu, đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin bổ ích về động cơ, quan điểm, lập trường sáng tác của nhà văn Mạc Ngôn Cũng như việc đề cập đến những ảnh hưởng của William Faulkner, Gunter Grass, Garcia Marquer đến Mạc Ngôn về đề tài, hiện thực lịch sử, khuynh hướng sử thi, lịch sử hay phong cách dân gian trong sáng tác của ông

Bên cạnh những nghiên cứu có tính chất tổng hợp, khái quát còn có nhiều bài viết tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu của Mạc Ngôn như bài trả lời

phỏng vấn với Trương Huệ Mẫn "Cái gì nâng đỡ Đàn hương hình" Có thể

thấy sự xuất hiện ngày càng nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tác giả và tác phẩm Mạc Ngôn đã chứng minh sức thu hút cũng như vai trò, vị trí của Mạc Ngôn trên văn đàn Trung Quốc hiện nay Tuy nhiên, do điều kiện và khả

Trang 15

năng hạn chế, người viết chưa tiếp xúc được trực tiếp với các bài viết, công trình này

Ngoài ra, trên các trang web tiếng Anh cũng có nhiều bài viết đề cập đến

Mạc Ngôn và tiểu thuyết của ông Tuy nhiên những bài viết này chỉ mang tính chất giới thiệu khái quát về con người, sự nghiệp cũng như một số tác phẩm của Mạc Ngôn đã được xuất bản ở các nước phương Tây

Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên đều có đề cập đến nội hàm văn hóa và văn hóa dân gian, song chỉ mới dừng lại trên một số phương diện nhất

định của văn hóa, và vấn đề “văn hóa dân gian” Tuy nhiên trong tiểu thuyết

Đàn hương hình của Mạc Ngôn văn hóa dân gian là một trong những vấn đề

trọng tâm xuyên suốt tác phẩm Vì vậy nghiên cứu “văn hóa dân gian” trong tiểu thuyết Đàn hương hình, chúng tôi hi vọng sẽ bổ sung thêm một phần nhỏ

vào lịch sử nghiên cứu tác giả, vẫn đang còn để ngỏ Đặc biệt là những biểu

hiện cụ thể của “văn hóa dân gian” trong tác phẩm này và hàng loạt tiểu

thuyết của ông cùng các tiểu thuyết gia Trung Quốc đương đại

3 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu biểu hiện “văn hóa dân gian” trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn cả hai phương diện nội dung

tư tưởng và hình thức nghệ thuật, biểu hiện ở làn điệu Miêu Xoang, trong xây dựng hình tượng nhân vật, với những phong tục tập quán, ngôn ngữ dân gian, đến nghệ thuật hành hình Để việc nghiên cứu có thể được tiến hành trên một

cơ sở lý thuyết ổn định và rõ ràng, chúng tôi cũng sẽ đi vào giới thuyết nội

hàm khái niệm “văn hóa dân gian” và mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học Đồng thời, chứng minh rằng “văn hóa dân gian” là một trong những

yếu tố truyền thống trong văn học Trung Hoa, và trong tiểu thuyết Mạc Ngôn,

đặc biệt là tiểu thuyết Đàn hương hình sẽ giúp ích chúng ta trong việc đánh

giá “văn hóa dân gian” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn như một yếu tố quan

Trang 16

trọng thể hiện sự kế thừa, tiếp nối và sáng tạo của Mạc Ngôn đối với văn học dân tộc

1 Đàn hương hình (2002), Trần Đình Hiến dịch, NXB Phụ nữ

2 Cao lương đỏ (2003), Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn học

3 Báu vật của đời (2001), Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn nghệ

4 Rừng xanh lá đỏ (2003), Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn học

5 Tửu quốc (2004), Trần Đình Hiến dịch, NXB Hội Nhà văn

6 Tổ tiên có màng chân (2006), Thanh Huệ, Bùi Việt Dương dịch, NXB

Văn học

7 Sống đọa thác đày (2007), Trần Trung Hỷ dịch, NXB Phụ nữ

8 Tứ thập nhất pháo (2007), Trần Trung Hỷ dịch, NXB Văn nghệ

Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số truyện vừa của Mạc Ngôn

như: Châu Chấu đỏ, Trâu thiến, Ma chiến hữu, Con đường nước mắt

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu vấn đề "văn hóa dân gian " trong tiểu thuyết Đàn hương hình

của Mạc Ngôn, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp tiểu sử

Phương pháp tiểu sử là phương pháp tìm hiểu và nghiên cứu tiểu sử nhà văn để lý giải tác phẩm văn học Các sáng tác của Mạc Ngôn thường chịu sự chi phối và ảnh hưởng của những trải nghiệm thời tuổi trẻ với những khó

Trang 17

khăn của cuộc sống Do vậy, việc sử dụng phương pháp này vào nghiên cứu tiểu thuyết Mạc Ngôn, dưới góc độ nó là sản phẩm của một thời tăm tối, đáng

sợ với sự đeo bám của cái đói, cái rét và sự vây bọc của nỗi cô đơn đối với tác giả

5.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là hiểu một sự vật thông qua các sự vật khác, ngoài

ra nó là sự so sánh đối chiếu những sự vật, hiện tượng, hình tượng nghệ thuật

mà nhà văn sử dụng trong tiểu thuyết Đàn hương hình với các phẩm khác của

ông cũng như các nhà văn khác và các nền văn học khác nhau, các thời kì khác nhau

5.3 Phương pháp lịch sử - xã hội học

Ưu điểm của phương pháp này là nó đặt hiện tượng văn học vào bối cảnh

xã hội để nghiên cứu, tránh cho chúng ta khỏi sa vào lối nghiên cứu siêu hình,

xa rời thực tiễn Tiểu thuyết Mạc Ngôn chủ yếu xoay quanh hai đề tài: thế sự

và lịch sử Tách rời bối cảnh xã hội, chúng ta sẽ không có được những lý giải xác đáng, mặc dù tiểu thuyết của ông là sản phẩm của hư cấu và tưởng tượng, nhưng chúng một mặt là sự biến dạng của những hiện tượng, sự kiện có thực;

mặt khác, "văn hóa dân gian" như là một phương thức phản ánh hiện thực của

Mạc Ngôn Do vậy, nắm bắt bối cảnh xã hội, lịch sử sẽ góp phần nhận ra

những biểu hiện cũng như giá trị nghệ thuật của "văn hóa dân gian" trong tiểu

thuyết của ông

5.4 Phương pháp liên ngành

Chúng tôi sử dụng phương pháp này khi nghiên cứu luận văn nhằm vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa dân gian để tìm hiểu, lí giải tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn trên một

số phương diện như các loại hình nghệ thuật dân gian Miêu Xoang, phong tục tập quán, ngôn ngữ dân gian và nghệ thuật hành hình

Trang 18

5.5 Phương pháp phân tích tổng hợp

Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi sẽ tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản, từ đó sẽ phân tích đưa ra những luận điểm tổng hợp khái quát, của luận văn về vấn đề văn hóa dân gian trong đời sống xã hội và trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn

Tất cả các phương pháp nghiên cứu đã nêu, người viết sẽ vận dụng linh hoạt trong quá trình nghiên cứu, để có một cái nhìn toàn diện, khách quan khi đánh giá vấn đề, chúng tôi còn phối hợp sử dụng các phương pháp khác nhau như: đối chiếu, thống kê để làm rõ vấn đề văn hóa dân gian trong tiểu thuyết

Đàn hương hình của Mạc Ngôn

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu “văn hóa dân gian” trong tiểu thuyết Đàn hương hình của

Mạc Ngôn, chúng tôi hi vọng sẽ chỉ ra những đặc sắc của dấu ấn văn hóa dân gian với làn điệu Miêu Xoang, cùng với nghệ thuật hành hình man rợ trong

tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn trên cơ sở mối quan hệ giữa văn

hóa dân gian và văn học viết, khẳng định một số nét phong cách cơ bản của nhà văn cùng với sự đóng góp của ông cho nền văn học đương đại Trung Quốc

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận

văn gồm có 3 chương

Chương 1 Văn hóa dân gian – vấn đề lí luận và thực tiễn Chúng tôi

sẽ làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa dân gian và mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết, cũng như tình yêu quê hương và quan niệm tiểu thuyết của Mạc Ngôn

Trang 19

Chương 2 Văn hóa dân gian với thế giới nhân vật và ngôn ngữ trong

Đàn hương hình Chương này chúng tôi phân tích ảnh hưởng của Miêu

Xoang đối với thế giới nhân vật và ngôn ngữ Miêu Xoang trong tác phẩm

Chương 3 Văn hóa dân gian với thế giới nghệ thuật Đàn hương hình

Chúng tôi làm rõ Miêu Xoang với không gian nghệ thuật, Miêu Xoang với kết cấu tác phẩm và nghệ thuật hành hình

Trang 20

Chương 1 VĂN HÓA DÂN GIAN - NHỮNG VẤN ĐỀ

LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Khái ni ệm văn hóa dân gian

Trong một vài thập kỉ gần đây, văn hóa đã trở thành một trong những vấn

đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, văn

hóa gắn bó khăng khít với sự phát triển của lịch sử xã hội của từng quốc gia, từng dân tộc Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, lòng nhân ái, khoan dung và xây dựng lối sống

có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng xã hội Văn hóa trở

thành nhân tố thúc đẩy con người hoàn thiện nhân cách, mỗi người sẽ kế thừa,

chọn lọc những tinh hoa văn hóa dân gian dung hòa với văn hóa đương đại Thế nhưng để có khái niệm cụ thể về văn hóa và văn hóa dân gian là việc làm không hề dễ Vì vậy chúng tôi sẽ hệ thống lại những định nghĩa về văn hóa và

văn hóa dân gian nhằm làm rõ nội hàm khái niệm

Có thể nói văn hóa là cái liên quan gắn bó với mọi người, mọi cộng đồng

quốc gia, mọi dân tộc, nhưng vấn đề này có rất nhiều cách hiểu khác nhau

Sau khi liên Hiệp Quốc phát động phong trào “Thập kỉ quốc tế phát triển văn

hóa” (1987 – 1997) được toàn thế giới hưởng ứng, những vấn đề về văn hóa lại càng được nghiên cứu tìm hiểu một cách sâu rộng hơn Người ta đã thấy rằng văn hóa là người bạn đồng hành của toàn nhân loại và giờ đây văn hóa

đã trở thành nền tảng, động lực, mục tiêu phát triển an toàn của mọi quốc gia dân tộc trên toàn thế giới

Nguồn gốc của chữ “văn hóa” có từ thời Tây Hán và tác giả Lưu Hướng (năm 77 – 6 trước công nguyên) cho rằng: “việc trị thiên hạ của thánh nhân, trước là văn đức, sau là vũ lực Phàm dùng vũ lực, lại không phục, văn hóa không thay đổi, thì sau đó xử chém” [63,tr.18] Ý nghĩa của từ “văn hóa” thời

Trang 21

cổ đại là chỉ văn trị giáo hóa, tức là điều chỉnh và cảm hóa luân lý, đạo đức, hình thành chế độ điển chương, lễ nhạc đối với con người Sự giải thích về từ

văn hóa như vậy kéo dài đến thời cận đại

Tuy nhiên, ngày nay nghĩa của từ văn hóa mà chúng ta thường dùng,

đương nhiên khác với thời cổ đại Nó được du nhập từ phương Tây, dịch lại

thông qua tiếng Tiếng Anh, tiếng Pháp, từ này đều viết là “culture”, tiếng Đức viết là “kulture”, chúng đều bắt nguồn từ tiếng Latinh“cultura” Tiếng Latinh “cultura” vốn có nghĩa là canh tác, nghĩa mở rộng sau này là cư trú, luyện tập, lưu tâm hoặc chú ý, kính thần, v.v hiện nay các loại ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức còn giữ một số hàm nghĩa đó của tiếng Latinh

Văn hóa là một từ Việt gốc Hán, theo những cứ liệu xa xưa nhất của Trung

Quốc thì văn có nghĩa là đẹp (cái đẹp, vẻ đẹp) và hóa có nghĩa là làm thay

đổi, làm cho trở nên đẹp, tốt, hoàn thiện

Theo chúng tôi v ăn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở

bình minh của xã hội loài người, sự tồn tại và phát triển lâu dài cùng với lịch

sử là một phạm trù lịch sử xã hội, là hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Nó là sản phẩm vật chất và tinh thần được tạo bởi hoạt động thực tiễn của con người Văn hóa là một tiêu chí quan trọng của sự phát triển lịch sử loài người

Văn hóa dân gian là cội nguồn của mọi nền văn hóa trên thế giới là cơ sở

rất quan trọng của văn hóa dân tộc, chi phối đời sống con người mọi phương diện Do vậy không thể hiểu được bản sắc của một dân tộc nếu như không

hiểu văn hóa dân gian của dân tộc đó

Thuật ngữ "dân gian" có thể hiểu như sau: Chữ gian có ba nghĩa khác nhau, chữ gian thứ nhất là dối trá (trong gian tà), chữ gian thứ 2 là vất vả

(trong chữ gian nan), còn chữ gian thứ 3 trong dân gian nghĩa là cái khoảng,

cái khu rộng lớn, cái vùng Không gian là một hay tất cả khoảng trời đất bao

Trang 22

la Trung gian là cái khoảng chính giữa, và dân gian là trong khu vực trong địa hạt của dân Văn hóa dân gian được thể hiện ở mọi lĩnh vực, mọi không gian mọi thời điểm Có cuộc sống, có người dân, thì ở đó có văn hóa dân

gian Tìm hiểu văn hóa dân gian là tiếp cận với cuộc sống của dân tộc đó đi

sâu vào cuộc sống của dân tộc đó, hiểu thế giới xã hội quanh và hiểu được chính ta

Để chỉ hiện tượng mà tiếng Việt gọi là văn hóa dân gian thì hiện nay trên thế giới và cả Việt Nam thường dùng thuật ngữ folklore (flok: dân chúng, nhân dân, lore: tri thức, trí khôn) Thuật ngữ này lần đầu tiên được nhà khoa học người Anh là Willam J.Thoms sử dụng trong một bài báo đăng trên tạp

chí “The Athenneum” xuất bản ở Luân Đôn năm 1846 Ông là người đã đặt cột mốc đầu tiên cho việc xác định một đối tượng và con đường hình thành khoa học về đối tượng đó Hơn một thế kỉ trôi qua, các nhà nghiên cứu, các trường phái khoa học ở nhiều nước vẫn chưa có quan niệm thống nhất về

folklore và có rất nhiều tranh luận về vấn đề này

Thuật ngữ folklore ít dùng ở Việt Nam, nhưng lại phổ biến ở nhiều nước Khi nhà nhân chủng học người Anh Willam J.Thoms đưa ra lần đầu tiên năm (1846) thì thuật ngữ này có nội dung rộng; đôi khi chỉ cả những di tích của nền văn hóa vật chất, nhưng chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân như: phong tục, đạo đức, việc cúng tế, ca dao, truyện cổ tích, cách ngôn, của các thời trước

Qua việc tổng kết lại các công trình trên, theo chúng tôi văn hóa dân gian (folklore) có trong mọi lĩnh vực đời sống và vẫn diễn ra sống động, có thể thâu nhận và tiêu hóa những yếu tố mới, trên đường đi của nó Ở đây chúng

tôi chỉ đi vào nghiên cứu văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Đàn hương hình

ở làn điệu dân gian Miêu Xoang cùng văn hóa tàn khốc được nâng lên thành

Trang 23

nghệ thuật chém người Đó chính là nghiên cứu sự tác động ảnh hưởng của văn hóa dân gian đến đời sống xã hội trong quá khứ cũng như đương thời

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết

Văn học nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa Nếu văn hóa thể hiện những quan niệm, ứng xử của con người trong cuộc sống thì văn học sẽ là nơi lưu giữ những ứng xử, những quan niệm, những phong tục của cuộc sống rất sinh động Văn hóa tác động đến văn học không chỉ ở đề tài, mà còn biểu hiện ở toàn bộ các hoạt động sáng tạo của nhà văn và cũng như sự tiếp nhận của người đọc Văn học là sự tự ý thức văn hóa Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa mà còn chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa, là một trong những phương tiện bảo tồn văn hóa

Quan hệ giữa văn hóa và văn học không chỉ là mối quan hệ một chiều

Văn học chịu sự ảnh hưởng và chi phối của văn hóa, mối quan hệ này là mối quan hệ tương hỗ, mối quan hệ của hai hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng Vì vậy khi nghiên cứu văn học, người ta có thể lấy tư liệu từ văn hóa và ngược lại Văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Sự sáng tạo của nhà văn luôn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố trong đó có văn hóa Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hóa lớn Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ

có thể cổ vũ hoặc phê phán những biểu hiện phản văn hóa, đồng thời họ có thể khẳng định hoặc ca ngợi những giá trị văn hóa dân tộc, của nhân dân khai phóng Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hóa tiêu cực hay cổ vũ cho

sự tiếp biến văn hóa, giới sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là người tiên phong

mở ra hướng nhìn về vận hội mới của văn hóa dân tộc

Trang 24

Giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ nên việc tìm hiểu văn học dưới góc độ văn hóa là một hướng đi rất cần thiết và triển vọng Cùng với những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học thì cách tiếp cận văn học bằng văn hóa học sẽ giúp chúng ta lí giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hóa được bao hàm bên trong nó Những yếu tố văn hóa liên quan đến thiên nhiên, lịch sử, địa lí, văn hóa, xã hội, pháp luật, tôn giáo, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ

Có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm Theo Chu Lập Nguyên “Văn học là một phần của văn hóa, biết

sử dụng cái nhìn văn hóa thích hợp thì sẽ hiểu văn học sâu hơn, cũng có thể

mở rộng phương diện nghiên cứu” [21, tr 51] Phương pháp nghiên cứu liên ngành cũng có ý nghĩa đối với lí luận văn học, lúc này lí luận văn học sẽ là bộ môn mở, bao dung nhiều thành phần Nó sẽ coi trọng diễn ngôn, văn bản, phương diện truyền bá, văn học đại chúng Việc chuyển hướng nghiên cứu văn hóa trong văn học đang mở ra những hướng nghiên cứu mới trong tầm nhìn văn hóa Có thể nói, định hướng nghiên cứu thi pháp văn hóa bao gồm thi pháp đối thoại và thi pháp carnaval kiểu M Bakhtin hay nghiên cứu mẫu gốc huyền thoại kiểu Northrop Frye, nghiên cứu trần thuật lịch sử kiểu H White, hay nghiên cứu mối quan hệ văn học với các truyền thống văn hóa, chẳng hạn như văn học với Nho học, Đạo học, Phật học, văn hóa với thi ca, văn hóa với tư duy tiểu thuyết… Đó là những cách nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hóa Một trong những người khởi xướng xu hướng tiếp cận văn học dưới góc độ văn hóa là nhà nghiên cứu người Nga Mikhai M Bakhtin cho rằng: nghiên cứu văn học phải đặc biệt chú ý đến tầm quan trọng của lịch

sử văn hóa đặc biệt là nghiên cứu thời đại văn hóa mà tác phẩm đó ra đời

"Khoa học nghiên cứu văn học phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài

Trang 25

cái mạch (kontest) nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại Tác phẩm văn học không chỉ sống trong những thế kỉ tiếp, nếu nó không biết bằng cách nào đó thu hút vào mình những gì của thế kỉ đã qua Nếu nó chỉ nảy sinh bằng tất cả những yếu tố của ngày nay (tức xã hội đương thời của nó) mà không tiếp tục quá khứ và không gắn bó với quá khứ một cách đáng kể, nó không thể tiếp tục sống trong tương lai" [20,tr.139] Như vậy theo cách nói M Bakhtin quá khứ là một phần của văn hóa dân tộc tức là văn hóa dân gian Và vấn đề này từ rất lâu các nhà văn đã tự giác và hoàn toàn đã ý thức tiếp thu, ảnh hưởng lí giải những vấn đề của văn hóa dân gian

từ văn học dân gian cho đến những vấn đề như tôn giáo, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, pháp luật

Có thể khẳng định văn hóa dân gian bao đời nay đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống chính tri, xã hội, trong đó có văn học Các nền văn học lớn trên thế giới tồn tại và phát triển luôn chịu ảnh hưởng đậm nét của văn hóa dân gian Trong tiến trình lịch sử văn học thế giới các nhà văn, nhà thơ lớn đều chịu ảnh hưởng, tiếp thu, vận dụng chất liệu dân gian, một cách nhuần nhuyễn đều gặt hái những thành công nhất định và sẽ trụ vững với thời gian

Văn hóa dân gian đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh của đời sống nhưng có

lẽ sự ảnh hưởng đó diễn ra đậm nét nhất là trong văn học Quan hệ tác động ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa dân gian và văn học viết diễn ra hết sức độc đáo Đó là quan hệ mang tính sáng tạo, có tính quy luật và cũng là cơ sở lí luận cốt yếu cho sự cắt nghĩa một quá trình phát triển, một hiện tượng văn học Trong nền văn học Việt Nam mối quan hệ và ảnh hưởng giữa văn hóa dân gian và văn học viết cũng diễn ra hết sức độc đáo Trong tiến trình lịch sử phát triển của văn học dân tộc những nhà văn, nhà thơ chịu ảnh hưởng và tiếp thu vận dụng chất liệu dân gian một cách nhuần nhuyễn đều gặt hái những thành công nhất định Tác phẩm của họ sẽ gây được tiếng vang và lưu truyền

Trang 26

sâu rộng trong đời sống Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến Việc ảnh hưởng và tiếp thu văn hóa dân gian không dừng lại ở văn học trung đại Việt Nam mà nó vẫn còn tiếp nối trong văn xuôi đương đại Việt Nam chúng ta vẫn bắt gặp

những ngôi làng: làng Giếng Chùa (tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường), làng Đình Cổ (tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh), làng Đông (tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng), xóm Nhài (truyện ngắn Những bài học nông thôn của Nguyễn Huy

Thiệp)… Làng, xóm là cái nôi nảy nở văn hóa dân gian lâu đời, dù ở đồng bằng, trung du hay miền núi thì mỗi làng quê đều có một ngôi đình Đó là trung tâm của làng, vừa là công đường, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa của nhân dân đã đi vào trong những sáng tác văn học

Sự ảnh hưởng và tác động của văn hóa dân gian đối với văn học viết diễn ra rộng khắp không chỉ nền văn học Việt Nam mà các nền văn học lớn của phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc Những bộ tiểu thuyết Minh -

Thanh nổi tiếng như: Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây Du kí, Liêu trai chí

dị, Hồng lâu mộng… chứa đầy yếu tố dân gian Để viết được bộ tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa vĩ đại La Quán Trung không chỉ dựa vào sử sách như

cuốn Tam quốc chí của nhà viết sử Trần Thọ đời Tấn hay cuốn Tam quốc chí

của Bùi Tùng Chi thời Nam Bắc triều Để có được bộ tiểu thuyết đồ sộ này tác giả La Quán Trung còn dày công sưu tầm những nguồn tài liệu rất đặc biệt, đó là những câu chuyện truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian và

dã sử Không chỉ nguồn gốc lịch sử của tác phẩm mang chất dân gian mà việc xây dựng hình tượng nhân vật cũng được hun đúc bởi ước vọng của quần chúng như nhân vật Gia Cát Lượng là con người có trí tuệ hơn người và có lí tưởng tuyệt vời, một mưu sĩ trác việt Người đọc dễ dàng nhận thấy dấu ấn dân gian trong những mưu mẹo của ông mang tính chất hồn hậu của trí tuệ

Trang 27

quần chúng như việc Khổng Minh dùng thuyền cỏ mượn tên, tam kích Chu

Du hay kế thành không đánh đuổi Tư Mã Ý

Như trên đã trình bày mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học không phải là mối quan hệ một chiều Văn học là một thành tố rất quan trọng của văn hóa, nó vừa chịu sự tác động của văn hóa nhưng nó cũng tác động ngược lại tiến trình phát triển của văn hóa Nhà văn vừa là chủ thể tiếp nhận văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể sáng tạo văn hóa, tác phẩm của họ cũng là

nơi sáng tạo văn hóa và Tam Quốc diễn nghĩa là một minh chứng cho điều

đó Khi bắt tay sáng tác Tam Quốc diễn nghĩa nhà văn La Quán Trung đã sưu

tầm những truyền thuyết, dã sử trong dân gian nhưng khi tác phẩm đi vào đời sống thì các hình tượng nhân vật trong tác phẩm lại trở thành những hình tượng văn hóa sinh động của cuộc sống như: Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, Gia Cát Lượng, Điêu Thuyền đã trở thành những tượng đài văn hóa trong cuộc sống Đó chính là hiện tượng ảnh hưởng tương tác lẫn nhau giữa văn hóa dân gian và văn học viết Điều này đã được Hồ Sĩ Vịnh trong

bài viết Văn hóa ngọn nguồn của văn học nhận định: "Văn hóa dân gian là

ngọn nguồn của tiến trình lịch sử văn học, là bầu sữa nuôi dưỡng nhiều tài năng văn học Song mối quan hệ ấy không diễn ra một chiều mà văn học luôn

có sự tác động trở lại đối với văn hóa” [3.tr.29]

Mối quan hệ ảnh hưởng giữa văn hóa và văn học nói chung hay mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết nói riêng là mối quan hệ mang tính quy luật Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa mà còn là một bộ phận tồn tại và bảo lưu văn hóa, sáng tạo văn hóa Văn học luôn chịu

sự chi phối văn hóa và môi trường văn hóa Vì thế, khi nhà văn viết về vấn đề

gì, thì họ sẽ mang tâm trạng văn hóa của dân tộc mình Nhà văn Nga Macxim Goocki đã từng nói: "Nhà văn không bao giờ là ngẫu nhiên mà thường là tất yếu của lịch sử, anh ta là một hiện tượng nảy sinh từ sản phẩm tinh thần của

Trang 28

dân tộc, biện giải từ yêu cầu của dân tộc để nhìn nhận cuộc sống thể hiện trong nghệ thuật Anh ta nhiệt thành với những khát vọng, những lí tưởng và những hình thức mới Những khát vọng đó được hình thành và thâm nhập vào thế giới Bằng cách đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật nảy sinh từ tinh thần và hi vọng của dân tộc, của xã hội Nhà văn sáng tạo từ tài liệu vốn có, do lịch sử đưa lại cho anh ta, vì thế những tác phẩm sáng tạo của nhà văn là chứa đựng bản sắc của dân tộc" [49,tr,170] Thực vậy, trong đời sống văn hóa, đã chứng minh rất nhiều sáng tác văn học của các tác gia chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa dân gian Tác phẩm của họ bắt nguồn từ những chất liệu dân gian của cuộc sống đều hướng tới việc xây dựng những hình tượng văn hóa trong đời

sống như Tây du kí của Ngô Thừa Ân bắt nguồn từ câu chuyện có thật về nhà

sư đời Đường là Trần Huyền Trang sang Ấn Độ xin kinh Phật Đường đi vạn dặm nhà sư đã vượt qua 28 nước lớn nhỏ, đi về mất 17 năm trời Câu chuyện

có thật đó vốn đã mang màu sắc huyền thoại và được truyền tụng rộng rãi trong dân gian Lâu ngày, nó trở thành truyền thuyết và được thần thoại hóa Những nghệ nhân kể chuyện đời Tống phát triển thành những câu chuyện hoàn chỉnh Ngô Thừa Ân đã dày công thu thập truyền thuyết và dã sử để xây

dựng nên bộ tiểu thuyết đồ sộ Tây du kí

Ảnh hưởng của văn hóa dân gian không chỉ dừng lại trong văn học trung đại mà sự ảnh hưởng này vẫn còn tiếp diễn trong văn học hiện đại và đương đại Trong văn học đương đại sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với văn học vẫn còn sức sống mãnh liệt Những nhà văn tiếp nối truyền thống

đó như Giả Bình Ao, Phùng Kí Tài, Mạc Ngôn họ đã kế thừa và tiếp nối

xuất sắc truyền thống văn hóa dân gian trong những sáng tác Từ năm 1987 trở lại đây, Giả Bình Ao cho ra đời một số tác phẩm giống với những truyện

Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh Đó là tập kí sự Núi Thái Bạch có nhiều

chuyện hoang đường không có thật, như chuyện Quả phụ kể về một người bố

Trang 29

đã chết nhưng một đêm trở về với người vợ góa, chuyện chăn gối giữa hai người chỉ có đứa con nhìn thấy, còn người mẹ thì không hề hay biết gì Dân tộc Trung Hoa từ thời hồng hoang thậm chí cho đến tận ngày nay ít nhiều vẫn còn đắm mình trong văn hóa dân gian thần bí như: âm dương, ngũ hành, bát quái…Trong các điển tích văn hóa Trung Hoa, lịch sử thường phủ một màu sắc thần thoại vì hiện tượng thần bí là một hiện tượng khách quan Trong lời

tựa của cuốn tiểu thuyết Nôn nóng, Giả Bình Ao nói: “Người nông dân có

triết học của họ, người văn minh ở thành phố có thể không thừa nhận, nhưng dân nhà quê thì vẫn cứ tin” [49, tr 278] Nhà văn Trung Quốc không thể quay lưng làm ngơ trước thực tế hiển nhiên đó

Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, trong xã hội Trung

Quốc dấy lên phong trào “phản tư” (suy ngẫm về quá khứ lịch sử) Phong trào

“phản tư” cũng là nguyên nhân thúc đẩy, các nhà văn suy ngẫm về phong tục,

kì dị về nền văn hóa cổ xưa của Trung Hoa là đặc điểm nổi bật trong sáng tác

của Phùng Kí Tài Tiểu thuyết bộ ba Chuyện kì quái (gồm Chiếc roi thần, Gót

sen ba tấc, Âm dương bát quái) tác giả viết về phong tục bím tóc, bó chân và

tục phong thủy, khí công, tướng thuật… những hiện tượng văn hóa thần bí và

cổ quái của người xưa Ngoài Phùng Kí Tài thì Mạc Ngôn cũng là một nhà văn tiêu biểu cho sự tiếp thu văn hóa dân gian trong các sáng tác của mình

Đàn hương hình là tác phẩm chứa nhiều yếu tố dân gian như tục bó chân của

người phụ nữ, làn điệu dân gian Miêu Xoang, hay nghệ thuật hành hình…

Vì vậy, nghiên cứu văn hóa dân gian trong sáng tác của một nhà văn cụ thể về vai trò tác dụng của yếu tố văn hóa dân gian trong thế giới nhân vật, hay những đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm Không đơn thuần chỉ ra hay thống kê việc ảnh hưởng đó mà nghiên cứu từ góc độ những yếu tố dân gian nhằm đánh giá đầy đủ về tính dân gian trong văn học

Trang 30

1.3 Quê hương Cao Mật với hành trình sáng tạo của Mạc Ngôn

1.3 1 Tình yêu đối với quê hương

Sơn Đông cùng với Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà Bắc, Hà Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh Trung Hoa Nơi đây là quê hương của địa linh nhân kiệt, là quê hương của những nhà tư tưởng, nhà triết học kiệt xuất của Trung Quốc như: Khổng Tử, Mạnh Tử, những nhà chính trị nổi tiếng như các vua Tề, Quản Trọng, Lưu Dung là vùng đất nổi tiếng về truyền thống anh hùng hào kiệt như Tống Giang, Võ Tòng… có lẽ gần gũi và thân

hiết hơn là quê hương của tác giả bộ biểu thuyết Liêu trai Chí dị của Bồ Tùng

Linh nổi tiếng thời Minh – Thanh

Mạc Ngôn sinh ra và lớn lên từ vùng đất giàu truyền thống văn hóa, văn học và đấu tranh chính trị, vì vậy, không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của văn hóa truyền thống quê hương đối với tài năng văn chương và con người của ông Tài năng của nhà văn nảy nở trên mảnh đất nghèo đói vì các cuộc chiến tranh, song sức mạnh của truyền thống văn hóa quê hương chính

là nguồn sữa nuôi dưỡng và làm nên sức sống Vùng quê Cao Mật nghèo đói

về vật chất nhưng lại rất giàu về lòng yêu thương Ông cũng từng yêu quê hương Đông Bắc Cao Mật với những gì vốn có, ông cho rằng đây: "là nơi đẹp

đẽ nhất, xấu xa nhất; siêu thoát nhất, thế tục nhất, trong trắng nhất, nhơ bẩn nhất, anh hùng hảo hán nhất, đểu giả nhất, giỏi uống rượu nhất, biết yêu đương nhiều nhất trên trái đất này" [23,tr.14-15] Con người sinh ra và lớn lên chịu ảnh hưởng sâu sắc về mọi phương diện, nhất là phương diện văn hóa của mảnh đất nơi họ sinh ra Bởi xét cho cùng, văn hóa chính là sự thích nghi một cách chủ động, có ý thức con người với tự nhiên, xã hội đồng thời cũng chính là kết quả của sự thích nghi ấy Mạc Ngôn rất có duyên với vùng Sơn Đông Cao Mật, nơi ông sinh ra và trải qua thời niên thiếu với những biến cố cay đắng của cuộc đời Thiên nhiên, con người với những giá trị văn hóa lịch

Trang 31

sử nơi đây đã hình thành nên một Mạc Ngôn với phong cách nghệ thuật vừa truyền thống vừa hiện đại với những quan niệm nhân sinh độc đáo với cách nhìn cuộc đời, tình yêu, cuộc sống hết sức táo bạo

Mạc Ngôn là người con tiêu biểu của quê hương xứ sở Sáng tác của ông bắt nguồn từ tình yêu sâu đậm đối với quê hương và trở về cội nguồn của nhân dân Theo dịch giả Trần Trung Hỉ thì "Mạc Ngôn là vua của vương quốc Cao Mật” Những tác phẩm của ông, người đọc dễ dàng nhận thấy hơi thở đất quê, và mối tình sâu đậm không thể tan chảy giữa ông với "huyết địa" làng Đông Bắc, Cao Mật Chính vì vậy, giới bình luận văn học đã gọi ông là "vị hoàng đế khai phá trời đất của làng Đông Bắc Cao Mật"

Ông đã trở thành vị hoàng đế khai thiên lập địa làng Đông Bắc, để được tha hồ hò hét hạ lệnh, muốn ai chết là chết, để ai sống được sống, hưởng

đủ cái lạc thú làm vua một vùng Nào dương cầm, nào bom nguyên tử, nào bánh mì, thằng Tây rởm, cha cố thật ông đem nhét tuốt vào trong cánh đồng cao lương Có một nhà văn từng nói: Tiểu thuyết của Mạc Ngôn đều được moi ra từ chiếc bao tải rách của cái làng Đông Bắc - Cao Mật Chiếc bao tải này thực sự là của báu, cho tay vào moi mạnh một cái, ra được bộ tiểu thuyết, moi nhẹ một tí, ra ngay cái truyện vừa, nếu chỉ thò ngón tay vào nhón một cái, cũng gắp ra được dăm ba truyện ngắn Mạc Ngôn nói rằng: Tôi không yêu, cũng chẳng ghét chúng

1.3 2 Quan niệm tiểu thuyết của Mạc Ngôn

Mỗi nhà văn đều có một quê hương cho riêng mình, hầu hết các sáng tác của họ đều mang đậm dấu ấn quê hương Mạc Ngôn là nhà văn tiêu biểu cho đứa con của quê hương Sáng tác của ông bắt nguồn từ tình yêu sâu đậm đối với quê hương và luôn tìm về với cội nguồn của quê hương

Trong những sáng tác của mình Mạc Ngôn đã đưa người đọc quay trở

về những năm 1900 đến những năm gần đây trên mảnh đất quê hương Cao

Trang 32

Mật, với những cuộc chiến tranh chống phát xít Đức và Nhật cùng với những nạn đói rét, hạn hán, mất mùa… nhà văn đã đưa người đọc chứng kiến những chuyện vụn vặt, bình thường nhất nhưng riêng nhất, độc đáo nhất của cuộc sống quê hương ông Ông lớn lên trên vùng đất nghèo khổ bần cùng nên ông

hiểu hơn ai hết về cái đói và miếng ăn đối với người dân và mọi chuyện lớn nhỏ từ miếng ăn mà ra cả

Ông viết về người nông dân và tự nguyện làm nhà văn của người dân Vấn đề Mạc Ngôn quan tâm nhất trong tác phẩm của mình chính là hiện thực sinh tồn, là đời sống của người dân Quan niệm sáng tác của ông thể hiện rất nhất quán Đó là:

Ông đã biến vùng Cao Mật quê hương ông thành một khái niệm văn

học, không phải một khái niệm địa lý, là một khái niệm mở, không phải một khái niệm khép kín, vùng Cao Mật của ông là một cảnh ảo do ông tưởng tượng trên cơ sở những kinh nghiệm của tuổi ấu thơ, ông liên tục biến nó thành một Trung Quốc thu nhỏ, đồng hoá nỗi khổ và niềm vui của nó với nỗi

khổ và niềm vui của nhân loại và bằng tài năng của mình ông ra sức tác động người đọc trên toàn thế giới quan tâm đến những câu chuyện của ông

Ông đã quay về sáng tác dân gian chân chính và sáng tác của Mạc Ngôn phải từ vị trí của người dân Ông cho rằng “nhà văn sáng tác từ vị trí người dân, cho dù họ viết văn, làm thơ hay viết kịch, bản chất công việc của

họ chẳng khác gì những người thợ dân gian […] giữa những người thợ dân

gian cũng có sự kế thừa, học hỏi và phát triển […] nhưng họ không bao giờ quên mình là một người dân bình thường, họ không bao giờ phân biệt mình

với người dân bình thường” [41, tr.341] và “Tôi (Mạc Ngôn) cho rằng sáng tác dân gian thực sự chính là loại sáng tác với tư cách người dân” [41,tr 341]

Vì vậy, tiểu thuyết của Mạc Ngôn được viết từ vị trí người dân luôn quay về cội nguồn văn hóa dân gian của dân tộc, nhưng tình cảm phải được xuất phát

Trang 33

từ nơi sâu thẳm tâm hồn, nó chạm đến nơi đau đớn nhất trong trái tim, nó bị dồn tới đáy sâu của sự đau khổ

Tiểu kết:

Tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn đánh dấu sự theo đuổi cái

đẹp của phong cách dân gian chân chính Ông tìm về với những phong tục xưa đã làm cho không biết bao nhiêu phụ nữ đã rơi nước mắt cùng với làn điệu dân gian Miêu Xoang làm say đắm lòng người và phê phán sự dã man mất nhân tính của những hình phạt man rợ được thể hiện bằng ngôn từ của Miêu Xoang

Trang 34

Chương 2 VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI THẾ GIỚI NHÂN VẬT

VÀ NGÔN NGỮ TRONG ĐÀN HƯƠNG HÌNH

2.1 Nhân vật Tôn Bính

Đối tượng chung của văn học là cuộc đời, trong đó con người luôn giữ

vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những lời bình luận chỉ góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của tác phẩm, nhưng cái quyết định chất lượng của một tác phẩm văn học, chính là việc xây dựng hình tượng nhân vật Văn học không thể thiếu nhân vật, vì nhân vật chính là hình thức cơ bản, để qua đó nhà văn miêu tả thế giới một cách hình tượng Bản chất của văn học là mối quan hệ của nhân vật đối với đời sống Nhà văn tái hiện được đời sống thông qua những chủ thể nhất định Chủ thể đóng vai trò

như những tấm gương của cuộc đời và chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật cuộc sống của con người, thể hiện những hiểu biết, những ước

mơ, và kì vọng về con người Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để thể hiện những cá nhân của xã hội nhất định và những quan niệm về cá nhân đó Nói cách khác, nhân vật là phương diện khái quát có tính cách, số phận và các quan niệm Tính cách, trong ý nghĩa rộng nhất, chung nhất là sự thể hiện các phẩm chất xã hội lịch sử của con người qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lí của họ Tính cách có một hạt nhân là sự thống nhất

của cá tính và cái chung của xã hội Trong Nghệ thuật thi ca Arixtot cho rằng

“Tôi hiểu tính cách là cái lí do mà chúng ta gọi nhân vật bằng một tên nào đó” [17, tr 279] Nhân vật sẽ có tính cách, nếu trong lời nói hay hành động bộc lộ

một khuynh hướng một ý chí nào đó Trong tính cách bao giờ cũng tìm thấy một tính tất yếu hay một tính khả nhiên của một hiện tượng lịch sử, xã hội

Nhân vật không chỉ thể hiện tính cách mà còn là người dẫn dắt ta vào một thế giới đời sống Pheedin nói rằng “nhân vật là một công cụ” [17, tr

Trang 35

280] Đọc tác phẩm văn học, cái đọng lại trong tâm hồn người đọc là hình tượng nhân vật mà tác giả đã kì công xây dựng Qua nhân vật nhà văn sẽ gởi

gắm những tư tưởng, những suy nghĩ, những tình cảm và thông qua nhân vật, nhà văn thể nghiệm tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật của mình Vì vậy, nhân vật càng chân thật, càng sống động thì sức sống của tác phẩm càng mạnh mẽ và

bền lâu với thời gian Tiểu thuyết là một thể loại tự sự nên nhân vật cũng được coi là một trong những yếu tố cốt tử Nhân vật trong tiểu thuyết là hạt nhân của sự sáng tạo nghệ thuật, là trung tâm của tiểu thuyết Những cuốn

tiểu thuyết vượt thời gian đều là những tác phẩm có sự sáng tạo bậc thầy trong cách xây dựng nhân vật: Đônkihôtê, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, AQ… là những nhân vật điển hình về tính cách và hành động Trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ngoài những vấn đề chiến tranh, đói khổ và con người, thì thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông mang những nét tính cách rất riêng và không bao giờ lặp lại Mỗi nhân

vật trong tiểu thuyết của ông là một siêu điển hình về tính cách và hành động

Từ Chiếm Ngao trong tác phẩm Cao lương đỏ mang khí phách ngang tàng,

phóng túng, dám phá bỏ mọi ràng buộc của phong tục, lễ giáo để được đến

với tình yêu tự do Từ Chiếm Ngao là nhân vật mang khí phách của người anh hùng Còn Khoan Kim Cương trong tác phẩm Tửu quốc là một siêu nhân

uống rượu, rượu ông uống nhiều đến nỗi “lượng nước mà chúng ta uống không bằng lượng rượu mà ông ta đã dùng” [26.tr,55] ông có thể uống một

mạch ba mươi chén mà mặt không đổi sắc Nếu Khoan Kim Cương là một siêu nhân uống rượu thì La Tiểu Thông trong tiểu thuyết Tứ thập nhất pháo

lại là một “Nhục Thần” về thịt, một siêu nhân về ăn thịt Hắn sinh ra trong

một gia đình cha mẹ bất hòa, người cha bỏ mẹ hắn đi theo người con gái khác nên hắn chỉ sống với người mẹ vô cùng tiết kiệm, suốt đời bà chỉ lo tích góp

từng xu để gây dựng cơ ngơi, sự nghiệp Vì vậy trong bữa ăn của La Tiểu

Trang 36

Thông không bao giờ nghe mùi thịt nên cậu thèm thịt tới mức có thể gọi bất

cứ ai bằng “bố” nếu người ấy cho cậu ăn thịt, không những thèm thịt đến điên

cuồng mà La Tiểu Thông còn có khả năng tương thông với thịt và có khả năng ăn thịt một cách siêu phàm Trong cuộc thi ăn thịt cậu ta ăn một lần hết

ba cân thịt Như vậy ăn và uống là hai nhu cầu đầu tiên của con người nhưng

sự thèm khát miếng ăn cho thấy một giai đoạn lịch sử xã hội cái đói đang ngự

trị cuộc sống con người Đó cũng chính là hình ảnh tuổi thơ của nhà văn đã

trải qua thời kì lịch sử chiến tranh và cuộc cách mạng văn hóa Trung Quốc

hằn sâu trong kí ức của mỗi người dân

Nếu La Tiểu Thông thèm thịt, hiểu thịt và yêu thịt, coi thịt như người

bạn tâm giao tri kỉ thì Kim Đồng (trong tiểu thuyết Báu vật của đời) lại say

mê bầu vú đến mức tôn sùng Chính sự say mê bầu vú đã làm cho Kim Đồng

mắc phải một chứng bệnh, luyến nhũ yếm thực Kim Đồng lớn lên phụ thuộc hoàn toàn vào sữa mẹ, anh ta dị ứng với tất cả các loại thức ăn khác Anh ta

sống và lớn lên, lệ thuộc hoàn toàn vào bầu sữa của người mẹ và độc chiếm

vú mẹ sẵn sàng dành vú mẹ với bất kì ai xâm phạm dù đó là người chị song sinh khiếm thị bẩm sinh của mình, anh ta bú mẹ đến năm mười lăm tuổi Anh

ta say mê đến mức bệnh hoạn bầu vú của phụ nữ, đến nỗi sau này lớn lên mất

cả khả năng làm tình Sự say mê bầu vú của Kim Đồng có một sự ẩn dụ,

tượng trưng rất lớn

Sự say mê và dựa dẫm của Kim Đồng đối với nguồn sữa mẹ chính là văn hóa sống bám của biết bao thế hệ Có thể nói nhân vật trong tiểu thuyết

Mạc Ngôn thường là những nhân vật siêu tính cách và trong tiểu thuyết Đàn

hương hình nhân vật mang những tính cách hết sức kỳ lạ

2.1.1 Tôn Bính với làn điệu Miêu Xoang

Nếu La Tiểu Thông yêu thịt, hiểu thịt, Kim Đồng say mê bầu vú, thì Tôn Bính lại say mê làn điệu Miêu Xoang Ông sống ca hát Miêu Xoang, đấu

Trang 37

tranh bằng Miêu Xoang, chết trong âm thanh đồng vọng của Miêu Xoang Đây là làn điệu dân gian đặc trưng của vùng Đông Bắc Cao Mật và là loại hí kịch có giai điệu du dương diễn xuất độc đáo, mang đậm màu sắc thần bí, là hóa thân cuộc sống tinh thần, của người dân vùng Đông Bắc Cao Mật Mỗi loại hình nghệ thuật đều có nguồn gốc xuất xứ riêng của nó Lỗ Tấn cho rằng:

“Trong cái thứ tự phát sinh của tác phẩm văn nghệ, có lẽ thơ ca có trước tiểu thuyết có sau Thơ ca bắt nguồn từ lao động và tôn giáo Lẽ thứ nhất là trong lao động, một mặt thì làm lụng, một mặt thì ca hát, như vậy có thể quên mệt nhọc và khổ sở đi, cho nên từ tiếng kêu la đơn thuần mà phát triển ra, đi đến chỗ phát huy cái tâm lí, cái tình cảm của mình lên, đều có vài vần điệu tự nhiên cả Lẽ thứ hai dân tộc nguyên thủy đối với thần linh, đi dần từ sợ sệt đến kính mến rồi ca tụng cái oai linh của nó, ca ngợi cái công lao của nó, như vậy là tạo thành cái khởi nguyên của thơ ca Còn tiểu thuyết thì tôi nghĩ ngược lại, lại khởi nguyên từ sự nghỉ ngơi Con người lao động đã dùng ca ngâm để cho vui, nhờ đó mà quên đi nỗi mệt nhọc cực khổ, thì đến lúc nghỉ

ngơi cũng nhất định tìm một cách gì đó tiêu khiển khi nhàn rỗi Cách đó là người này người kia, trao đổi với nhau, chuyện đã qua, việc bàn kể trao đổi chuyện cũ đó chính là khởi nguyên của tiểu thuyết Vì thế mà thơ ca là văn vần, từ lao động mà phát sinh, còn tiểu thuyết là văn xuôi, nhân lúc nghỉ ngơi

mà phát sinh” [38.tr.316] sự ra đời của thơ ca và tiểu thuyết gắn liền với hoạt động lao động và sự nghỉ ngơi của con người Đó là cuộc sinh tồn với những bộn bề lo toan của con người, còn sự ra đời của Hí kịch Miêu Xoang thì ngược lại với thơ ca và tiểu thuyết Miêu Xoang không phải ra đời trong lúc con người đang sống và lao động, mà nó ra đời lúc con người từ giã cõi đời, khi cuộc đời thực của con người không còn nữa, con người đã từ biệt cuộc sống trần gian đang bước vào thế giới của cõi vĩnh hằng Đó là lúc người đang sống hát lên khúc hát bi thương kể về công trạng người đã chết, như lời

Trang 38

điếu văn của chính cuộc đời mình, Miêu Xoang như những lời kinh sám hối tiễn người chết để cho họ được thanh thản đi vào cõi vĩnh hằng

Miêu Xoang vốn là một làn điệu dân gian có nguồn gốc từ sự khóc tang của Thường Mậu và sau đó Tôn Bính đã đưa lên thành một loại hình kịch nghệ, nổi tiếng cả một vùng rộng lớn "phía Bắc đến phủ Lai Châu, phía Nam đến phủ Giao Châu, phía Tây đến phủ Thanh Châu, phía đông đến phủ Đăng Châu, tổng cộng mười tám huyện" [22, tr.40] Miêu Xoang làm say đắm và lôi cuốn người nghe bởi làn điệu mượt mà và nội dung chân thật như hơi thở của cuộc sống Với những vở diễn mang nội dung về cuộc sống nhân tình thế thái, các đời vua thịnh vượng như Nghiêu Thuấn, cũng như các anh hùng trong truyền thuyết và trong lịch sử, các vị quan tham vô độ Các vở diễn tiêu

biểu của Miêu Xoang như “Thường Mậu khóc tang”, hay “Hồng môn yến”…

các vở diễn này luôn gắn với cuộc đời oai hùng và đầy bi kịch của nghệ sĩ Tôn Bính, một kép hát lừng danh, một ông bầu gánh hát, một nguyên soái của cuộc khởi nghĩa bi thương, một phạm nhân bị hành quyết dã man trên pháp trường

Nếu Triệu Giáp cả cuộc đời sống và chết đều gắn với những cuộc hành hình thì Tôn Bính cả đời ông gắn liền với làn điệu Miêu Xoang, ông đi đến đâu làn điệu Miêu Xoang đi theo bước chân của ông vang lên nơi đó Ông như một con ong cần mẫn lấy phấn từ trăm hoa để biến Miêu Xoang thành giọt mật ngọt dâng lên cho đời Ông đã sáng tác nên các làn điệu như Miêu

Hồ, Miêu Cổ và cải biên các làn điệu với phong cách mới mẻ, phù hợp với tâm tình của người dân Cao Mật Từ Tôn Bính, làn điệu Miêu Xoang phổ biến rộng rãi trong cuộc sống, với ông Miêu Xoang không còn đơn thuần cho những buổi khóc tang người chết hay những buổi biểu diễn trên sân khấu diễn những tích tuồng mà Miêu Xoang giống như máu chảy trong huyết quản của ông

Trang 39

Từ sự đam mê làn điệu Miêu Xoang nên lời hát tang của ông không còn đơn giản như tổ sư Hùng Mậu là khóc trước quan tài người chết kể về công lao người chết, mà điều quan trọng và đặc biệt hơn so với vị tổ sư Hùng Mậu Khi Tôn Bính cất tiếng hát của mình trước quan tài người chết, sẽ làm cho người chết phải sống lại như trường hợp ông khóc tang mẹ lão Tần Khi ông hát trước quan tài người chết, giọng của ông làm cho con cháu người chết như đứt từng khúc ruột, trong quan tài có tiếng lục đục, khiến cho con cháu sợ xanh mắt Miêu Xoang qua chất giọng của ông nó trở thành liều thuốc cải tử hoàn sinh, làm cho người chết đã ngồi bật dậy Không chỉ diễn trên sân khấu

có đạo cụ trợ giúp, có đào kép xướng xô nhau, hát ở đám tang "Chỉ một mình

Tôn Bính, lúc đóng vai nam, khi đóng vai nữ, giọng khóc, giọng cười giữa chừng lại đệm bao nhiêu tiếng mèo kêu "mi - ao", biến buổi khóc tang thành cuộc trình diễn sân khấu cực kì sống động, con cháu người chết quên cả đau thương, những người đến xem quên cả một thi hài đang ngồi nghe hát Mãi đến khi Tôn Bính hát xong câu cuối cùng dư âm của nó dài lê thê như một cái đuôi diều giấy, bà lão từ từ nhắm mắt, thở dài một tiếng tỏ vẻ thỏa mãn, rồi đổ sụp xuống như một bức tường đổ" [22, tr.504] Đó là chuyện Tôn Bính hát Miêu Xoang làm cho người chết sống lại, với cái tài của ông không chỉ đặc trưng chất giọng thiên phú hát hay, ông là diễn viên đa tài, ông có thể hoán đổi cuộc đời của mình thành kẻ khác, sống với thân phận con người khác Ở người nghệ sĩ này không chỉ sống cho riêng bản thân mình mà có thể nếm trải

cuộc đời những kẻ khác, ông hóa thân vào thân phận của kẻ khác, vui buồn và đau khổ cùng người khác Ở đây làn điệu Miêu Xoang trở thành nỗi thông cảm thấu hiểu tình người với nhau và sự chia sẻ nhau trong cuộc sống Miêu Xoang như một liều linh dược xóa tan mọi phiền muộn của cuộc sống khi được thưởng thức làn điệu này do Tôn Bính biểu diễn

Trang 40

Tôn Bính không chỉ nổi tiếng trong việc hát tang, ông hát làm cho người chết phải sống lại ngồi nghe ông hát, rồi sau đó ra đi một cách thanh thản Đối với Tôn Bính khi ông hát Miêu Xoang phụ nữ nghe thì lệ chảy tràn, làn điệu Miêu Xoang qua giọng hát của ông rất dễ hớp hồn phụ nữ Ông lại một người có chất giọng khàn khàn lạ lùng Vì vậy ông đã biến Miêu Xoang thành dưa mật làm mê mẩn không biết bao nhiêu phụ nữ Cao Mật Đặt biệt là người mẹ quá cố của Mi Nương, bà một người phụ nữ đẹp nổi tiếng, có rất nhiều người say mê Trong đó có một vị cử nhân họ Đỗ từng cầu hôn nhưng

bà không bằng lòng, bà lại mê một kép hát nghèo rớt mồng tơi như Tôn Bính, bởi vì bà mê cái giọng khàn khàn ấy nên mới lấy ông Không riêng gì mẹ Mi Nương mê ông mà Tiểu Hồng hay Hồng Đào là những cô đào đẹp nhất gánh hát cũng mê ông Miêu Xoang đã làm cho cuộc đời ông thấm đẫm chất phong tình nhưng cũng đầy bi tráng và hào hùng Có thể nói quãng thời gian hào hùng nhất của nghệ sĩ Tôn Bính là lúc ông đóng những vai anh hùng, những khanh tướng "Tôn Bính là một kép hát, quanh năm suốt tháng đóng các vai đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân, hát ra rả những trung hiếu tiết nghĩa," [22, tr.182] từ những vai diễn trên sân khấu đã hun đúc cho ông thành "người

có khí chất hiên ngang, mặt mày rạng rỡ, quyết không phải là phường xướng

ca vô loài" [22, tr.375] Không chỉ đối với những người yêu ông mà ngay cả

Ba Tống người không ưa gì ông cũng phải dành cho ông những lời khen:

"Tôn Bính đa tài, xuất khẩu thành chương, nghe một lần là thuộc Chỉ tiếc hắn không biết chữ, nếu biết, hắn đỗ mười bằng tiến sĩ" [22, tr.296]

Vì đóng vai những người anh hùng, những khanh tướng nên cuộc đời của ông cũng oanh liệt như chính những nhân vật trên sân khấu do chính ông sắm vai Ông sống cuộc đời mình vừa thực vừa hư Thực đó là tính thẳng thắn ngang tàng, nhưng ông cũng sống trong cuộc đời hư ảo, ông cho mình là con người trên sân khấu Chính vì sự ngang tàng nên trong bữa tiệc sinh nhật ông

Ngày đăng: 02/12/2015, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w