Nhưng hiện nay lại chưa có công trình nào quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống, để khám phá ra những đặc điểm có tính quy luật, những khác biệt chủ yếu về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ n
Trang 1Lê Hồng Nhiên
TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU GIỮA CÁC PHƯƠNG NGỮ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2Lê Hồng Nhiên
TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU GIỮA CÁC PHƯƠNG NGỮ)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của rất nhiều người, sau đây là lời cảm ơn chân thành của tác giả:
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn - PGS.TS Đặng Ngọc Lệ - đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn, giúp tôi hoàn thành luận văn
Thứ hai, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là PGS.TS Hoàng Dũng đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
MỞ ĐẦU 8
0.1 Lí do chọn đề tài 8
0.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 10
0.3 Mục đích nghiên cứu 12
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
0.5 Phương pháp nghiên cứu 13
0.6 Những đóng góp của luận văn 15
0.7 Cấu trúc luận văn 16
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VÀ PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT 17 1.1 TỪ TIẾNG VIỆT 17
1.1.1 Khái niệm 17
1.1.2 Cấu tạo 19
1.1.3 Ngữ âm - ngữ nghĩa 21
1.2 PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT 24
1.2.1 Khái niệm 24
1.2.2 Sự hình thành 25
1.2.3 Phân vùng 29
Chương 2 TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT CẤU TẠO 32
2.1 TỪ 32
2.1.1 Phương ngữ Bắc 32
2.1.2 Phương ngữ Trung 33
2.1.3 Phương ngữ Nam 33
Trang 52.2 NGỮ 36
2.2.1 Phương ngữ Bắc 36
2.2.2 Phương ngữ Trung 38
2.2.3 Phương ngữ Nam 41
Chương 3 TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT NGỮ ÂM - NGỮ NGHĨA 48
3.1 TỪ NGỮ VỪA CÓ SỰ BIẾN THỂ VỀ NGỮ ÂM VỪA CÓ SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ NGHĨA 48
3.3.1 Biến thể phụ âm đầu 48
3.3.2 Biến thể phần vần 51
3.3.3 Biến thể thanh điệu 55
3.2 TỪ NGỮ CÓ SỰ BIẾN THỂ VỀ MẶT NGỮ ÂM VÀ CÓ BIẾN ĐỔI ÍT NHIỀU VỀ NGHĨA 57
3.3 TỪ NGỮ CÓ HÌNH THỨC NGỮ ÂM TRÙNG NHAU NHƯNG NGHĨA KHÁC NHAU 60
3.4 TỪ NGỮ CÓ NGHĨA GIỐNG NHAU NHƯNG HÌNH THỨC NGỮ ÂM KHÁC NHAU 64
3.4.1 Lựa chọn những thuộc tính không giống nhau làm cơ sở khu biệt khi định danh 65
3.4.2 Xuất phát từ những nguồn gốc khác nhau 73
3.4.3 Lưu giữ từ ngữ cổ, từ ngữ địa phương 77
3.5 MỞ RỘNG HOẶC THU HẸP DUNG LƯỢNG NGHĨA CỦA TỪ NGỮ 81
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC I 94
PHỤ LỤC II 96
Trang 7YTPN : yếu tố phương ngữ
YTTD : yếu tố toàn dân
Từ ngữ TD : từ ngữ toàn dân
Từ ngữ ĐP : từ ngữ địa phương
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại từ giữa các PN 34
Bảng 2.2: Số lượng và tỉ lệ từ TD và ĐP giữa các PN 35
Bảng 2.3: Số lượng và tỉ lệ từ và ngữ giữa các PN 43
Bảng 2.4: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại ngữ giữa các PN 43 - 44
Bảng 2.5: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại ngữ láy giữa các PN 44
Bảng 2.6: Số lượng và tỉ lệ ngữ láy TD và ĐP giữa các PN 45
Bảng 2.7: Số lượng và tỉ lệ YT tạo ngữ của ngữ ghép giữa các PN 45 - 46
Bảng 2.8: Số lượng và tỉ lệ YT từ loại theo sau DT chỉ loại giữa các PN
46 - 47 Bảng 3.1: Sơ đồ sự đối ứng các từ ngữ vần mở 54
Bảng 3.2: Thống kê từ ngữ có hình thức ngữ âm trùng nhau nhưng nghĩa khác
Bảng 3.6: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại từ ngữ có nghĩa giống nhau nhưng
hình thức ngữ âm khác nhau giữa các PN 80
Bảng 3.7: Thống kê từ ngữ có sự mở rộng hoặc thu hẹp dung lượng nghĩa
giữa các PN 82
Trang 9
MỞ ĐẦU 0.1 Lí do chọn đề tài
Thực vật có vai trò quan trọng trong đời sống con người và xã hội Từ khi xuất hiện, loài người đã tiếp xúc với thực vật Con người đã biết tận dụng chúng để phục vụ nhu cầu vật chất hàng ngày như ăn, mặc, ở đi lại,… dần dần
họ còn biết tận dụng chúng để trang trí, thưởng thức và nhiều loại đã trở thành những biểu tượng tinh thần cao quý Cũng từ đó, loài người đã phải tìm cách gọi tên để ghi nhớ và phân biệt các loại cây cối với nhau
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, địa hình có sự phân hóa đa dạng Do đó, giới thực vật ở đây đa dạng về chủng loại, nhiều về số lượng và có giá trị về chất lượng Mỗi loại có những thuộc tính, công dụng khác nhau Khi đặt tên cho những loại thực vật này, người Việt Nam thường dựa vào một hoặc một số thuộc tính nào đó của chúng, làm căn cứ để hiểu, phân biệt Vì vậy, định danh có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống con người Nếu đối tượng xung quanh con người không có tên gọi thì con người
sẽ không phân biệt được đâu là A, đâu là B và sẽ ảnh hưởng đến quá trình
giao tiếp và tư duy Đỗ Hữu Châu đã từng nhận định: “Con người cần đến các
tên gọi các đối tượng xung quanh như cần đến không khí” vì “mất cái tên gọi con người sẽ mất một trong những khả năng định hướng trong thế giới quanh mình” [10; 192]
Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất, là ngôn ngữ chung cho cả
54 dân tộc anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam Xét ở mặt bất biến, ngôn ngữ quốc gia là thống nhất cho toàn xã hội vì “là cái chung cho mọi người trong
một xã hội, không thể nào mảy may vi phạm nó được, vi phạm nó lập tức sự giao tiếp bị chặn lại, người nói và người nghe sẽ không hiểu nhau” [12; 34]
Nhưng trong phạm vi cái bất biến đó, vẫn có những độ xê dịch khá lớn, cho từng YT, từng cấu trúc Vì vậy, tiếng Việt thống nhất trong sự đa dạng Tính
Trang 10đa dạng của tiếng Việt thể hiện trên nhiều mặt, ở phong cách thể hiện, ở hiệu quả thể hiện, ở tính phân tầng xã hội, ở khu vực dân cư Xét trên bình diện địa
lý, như chúng ta đã biết, lịch sử phát triển của Việt Nam luôn phải trải qua những biến động với những giai đoạn lịch sử khác nhau Lịch sử văn hóa Việt Nam gắn liền với quá trình Nam tiến của dân tộc Vì vậy, ở mỗi vùng miền khác nhau, có những đặc điểm về mặt lịch sử - tự nhiên khác nhau Sự giao lưu, tiếp xúc các giá trị văn hóa cũng có sự khác nhau rõ rệt Điều đó được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ngôn ngữ - một thành tố quan trọng của văn hóa
Những người Việt Nam ở các khu vực địa lý khác nhau, do ảnh hưởng bởi những điều kiện tự nhiên – xã hội, sự giao lưu, tiếp xúc khác nhau như vậy nên cũng cùng một loại thực vật, họ có thể có những cách nhìn nhận, đặt tên khác nhau Sự khác nhau đó không chỉ đơn thuần là sự khác nhau về cách phát âm, từ ngữ mà đằng sau nó còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, cách tri nhận mang đậm đặc điểm tâm lý của người dân từng vùng Sự khác nhau này tuy góp phần làm cho tiếng Việt thêm phong phú, đa dạng nhưng cũng gây ra nhiều khó khăn trong việc giao tiếp, hiểu biết lẫn nhau của những người ở các vùng miền khác nhau
Nhưng hiện nay lại chưa có công trình nào quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống, để khám phá ra những đặc điểm có tính quy luật, những khác biệt chủ yếu về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa trong cách định danh từ ngữ chỉ thực vật
Mặt khác, đối chiếu từ ngữ chỉ thực vật cũng có thể giúp chúng ta thấy
rõ hơn vai trò của từ ngữ ĐP trong một vài lĩnh vực về mặt sử dụng, như trong sáng tạo văn học nghệ thuật, trong công cuộc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa ngôn ngữ; là cơ sở khoa học cho sự phân vùng PN tiếng Việt
Trang 11Xuất phát từ yêu cầu lí luận và thực tiễn như trên, thiết nghĩ đề tài: “Từ
ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ)” được
thực hiện sẽ mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực, đóng góp cùng các tác giả đi trước nghiên cứu từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt một cách toàn diện hơn
0.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển văn minh nhân loại, thực vật luôn giữ một vai trò quan trọng Vì vậy, một hệ thống từ ngữ chỉ thực vật được ra đời từ rất sớm trong ngôn ngữ loài người Chính điều này cũng đã thu hút sự chú ý của
các nhà khoa học nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật Trong tiếng Việt, chúng
ta có thể kể đến đóng góp của các nhà nghiên cứu với các công trình tiêu biểu theo thời gian như sau:
Năm 1999, trong công trình “Vai trò của thực vật trong đời sống văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á”, Trần Ngọc Thêm [54] đã đi sâu phân tích vai trò của thực vật trong ăn uống, trồng trọt (văn minh cây cỏ); ở, đi lại, đồ dùng (văn minh tre gỗ) và trong tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật (đời sống tinh thần) của người Việt Nam
Bốn năm sau, Trong Luận án Từ ngữ chỉ động thực vật trong tiếng Việt
và tiếng Anh [70], Nguyễn Thanh Tùng đã so sánh từ ngữ chỉ thực vật tiếng
Việt và tiếng Anh trong từ điển giải thích, trong thành ngữ và tục ngữ dựa trên cơ sở phân loại từ ngữ chỉ thực vật dùng theo nghĩa đen và nghĩa bóng Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của hai dân tộc Việt và Anh với hai loại hình ngôn ngữ và văn hóa khác biệt nhau
Hồ Văn Tuyên (2005) trong Đặc điểm định danh từ vựng trong
phương ngữ Nam Bộ” [71; 95 - 99], tác giả có đề cập đến cách định danh thực
Trang 12vật ở Nam Bộ xét về mặt cấu tạo, phương thức biểu thị và ngữ nghĩa Qua cách định danh này, tác giả cho ta thấy rõ nét văn hóa rất đặc trưng trong tư duy của người Việt nói chung và người Nam Bộ nói riêng
Năm 2008, với công trình “Văn minh cây cỏ trong văn hóa Việt Nam”, Triệu Thế Hùng [29] lại một lần nữa bàn về vai trò của thực vật trong đời
sống văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, quan niệm văn minh cây cỏ của tác giả bao hàm cả văn minh cây cỏ, văn minh tre gỗ và đời sống tinh thần theo quan
niệm của Trần Ngọc Thêm Cách quan niệm tuy có khác nhau nhưng nhìn chung bài viết cũng không có phát hiện gì mới so với những phát hiện của Trần Ngọc Thêm
Trong công trình “Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” [53; 247-254], Lý Toàn Thắng đi sâu vào việc nghiên
cứu ngữ nghĩa của từ “cây” và sự phân loại dân dã thực vật ở người Việt” Ông xác định có 11 ý nghĩa và cách dùng của từ cây và sự phân loại dân dã thực vật của người Việt, về cơ bản, không phải là nguyên lý “phân loại sinh học” mà quan trọng là tính chất về tri giác và văn hóa, và trong đó chủ yếu là nguyên lý “lấy con người làm trung tâm”
Năm 2010, trong công trình Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy, Nguyễn Đức Tồn [65; 281 - 283] đã trình bày 18 loại đặc trưng
được chọn làm cơ sở để định danh thực vật trong tiếng Việt có sự đối chiếu với tên gọi trong tiếng Nga, Cadắcstan, Anh Thông qua bảng đối chiếu và cách tính hệ số tương quan về tư duy giữa các dân tộc, tác giả nhận thấy bộ lí
do của tiếng Việt phong phú hơn các ngôn ngữ khác và khi định danh thực vật, tư duy người Việt gần với người Cadắcstan hơn, sau đó là người Anh
Trong công trình “V ăn minh vật chất của người Việt” [60; 324], Phan
Cẩm Thượng đã đề cập đến vai trò của thực vật trong mối quan hệ với sự phát triển nền văn minh vật chất của người Việt Dựa trên mục đích sử dụng, ông
Trang 13chia thế giới thực vật của người Việt thành “bốn loại rõ ràng: cây cho quả,
cây cho gỗ, cây làm cảnh và cây hoa màu để ăn”
Tóm lại, từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt được các tác giả đi trước
đề cập đến ở nhiều góc độ: văn hóa, tri nhận, đối chiếu Tuy nhiên, ở đây các tác giả đối chiếu tiếng Việt với một hay một vài ngôn ngữ khác, chứ chưa đối chiếu từ ngữ chỉ thực vật trong nội bộ ngôn ngữ với nhau Vì vậy, có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về từ ngữ chỉ thực vật nhằm tìm ra những khác biệt giữa các PN Luận văn kế thừa và phát triển những thành tựu nghiên cứu liên quan đến từ ngữ chỉ thực vật của những người đi trước và xem chúng như chỗ dựa về mặt lý thuyết cho những miêu tả, lý giải và nhận định trong công trình nghiên cứu này
0.3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm những mục đích sau:
1 Thông qua khảo sát các từ điển thường dùng và thực tế điền dã, người viết cố gắng thu thập từ ngữ chỉ thực vật có sự khác nhau trong định danh giữa các PN, sau đó thống kê, phân loại;
2 Đối chiếu từ ngữ chỉ thực vật giữa các PN xét về mặt cấu tạo, ngữ
âm - ngữ nghĩa để làm rõ cách tri nhận, cũng như YT văn hóa, địa lý có ảnh hưởng đến quy luật định danh của từng PN nói riêng và Việt Nam nói chung
3 Bên cạnh đó, thông qua đối chiếu nhóm từ ngữ chỉ thực vật giữa các
PN, người viết rút ra những đặc trưng, những nét khác biệt chủ yếu về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa giữa các PN, có sự so sánh với ngôn ngữ TD
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt Nói đến từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt, chúng ta có thể đề cập đến
Trang 14nhiều vấn đề khác nhau Tuy nhiên, trong công trình này, chúng tôi chỉ nghiên cứu từ ngữ chỉ thực vật trên các phương diện: đối chiếu cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa giữa các PN
Thực vật được người viết quan niệm ở đây là các loại cây cỏ Các thực
vật được chọn để đối chiếu phải là những thực vật có quan hệ gần gũi trong thực tiễn và có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của người dân
Tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được chúng tôi thu thập từ hai nguồn chủ yếu sau:
Từ điển
• Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên [45]
• Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh của Nguyễn Nhã Bản [3]
• Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín [62]
• Từ điển tranh về các loại củ, quả của Lê Quang Long [37]
• Từ điển tranh về các loài hoa của Lê Quang Long [38]
• Từ điển tranh về các loài cây của Lê Quang Long [39]
Điền dã
Do giới hạn thời gian, chúng tôi không thể khảo sát hết tất cả các tỉnh
mà chỉ chọn khảo sát điểm Cụ thể như sau:
• PNB, khảo sát các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội;
• PNT, khảo sát các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh;
• PNN, khảo sát các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh
0.5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Trang 15 Phương pháp thống kê ngôn ngữ học
Phương pháp thống kê được chúng tôi sử dụng để thống kê tất cả từ ngữ chỉ thực vật trong các từ điển thường dùng của Việt Nam, kết quả điền
dã Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành phân loại theo các nhóm từ nhất định Các số liệu được phân tích theo tần suất, tỷ lệ nhằm tìm ra tính nổi trội của việc định danh và mối liên hệ giữa các đối tượng
Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được chúng tôi sử dụng để làm rõ diện mạo và đặc điểm riêng của các từ ngữ chỉ thực vật trong ba PN tiếng Việt xét trên các bình diện: cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Đây là phương pháp đặc trưng rất quan trọng trong việc miêu tả đối tượng trên bình diện ngữ nghĩa, để từ đây xác định được đặc điểm của từ ngữ chỉ thực vật từng vùng miền khác nhau
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Các đối tượng khảo sát được chúng tôi đối chiếu trên bình diện cấu tạo, ngữ âm – ngữ nghĩa nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của từ ngữ chỉ thực vật giữa các PN Đây là phương pháp quan trọng bậc nhất trong quá trình nghiên cứu
Phương pháp điều tra – điền dã
Phương pháp điều tra – điền dã được thực hiện nhằm hai mục đích cơ bản:
Thứ nhất, thu thập thêm số liệu về từ ngữ chỉ thực vật giữa các PN; Thứ hai, kiểm tra, đối chiếu mức độ chính xác về từ ngữ chỉ thực vật được thu thập từ các từ điển thường dùng
Trang 16Như đã trình bày, chúng tôi tiến hành chọn và khảo sát điền dã ở một số tỉnh theo ba vùng PN Ở mỗi tỉnh, chúng tôi chọn từ 15 đến 20 nhân chứng cho điều tra cách định danh về thực vật Điều kiện về nhân chứng được chọn điều tra là:
- Những người đã lớn tuổi (từ 45 tuổi trở lên);
- Có trình độ văn hóa từ cấp 1 đến cấp 3;
- Cư dân địa phương, cư trú ổn định tại địa bàn các tỉnh trên
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp trên được vận dụng kết hợp; có khi tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể
mà sử dụng ưu tiên một phương pháp linh hoạt thích hợp trong từng trường hợp cụ thể
0.6 Những đóng góp của luận văn
Khi chọn đề tài này, luận văn hướng đến các trọng tâm sau:
Về phương diện lý luận
Luận văn góp phần làm rõ cách gọi tên về từ ngữ chỉ thực vật ở các PN;
Lí giải những cách định danh thực vật khác nhau nhằm làm rõ đặc điểm của PN từng vùng, nhất là những loại thực vật mà cả ba vùng định danh khác nhau;
Chỉ ra những quy luật, các YT ảnh hưởng đến quá trình định danh thực vật giữa các vùng miền khác nhau
Về phương diện thực tiễn
Luận văn sẽ có những đóng góp thiết thực cho việc định hướng sử dụng ngôn ngữ TD để đáp ứng nhu cầu giao tiếp nói chung;
Cung cấp tư liệu cho những nhà nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật, hay đối chiếu giữa các PN;
Trang 17Cung cấp dữ liệu cho việc biên soạn các từ điển đối chiếu giữa các PN một cách chính xác
0.7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, chính văn của luận văn gồm ba chương
Chương một trình bày một số vấn đề chung về từ và PN tiếng Việt Trên cơ sở đúc kết những thành tựu của các nhà nghiên cứu trước đó, chúng tôi sẽ đưa ra quan niệm về từ tiếng Việt: khái niệm, cấu tạo, đặc trưng về mặt ngữ âm - ngữ nghĩa; PN tiếng Việt: khái niệm, sự hình thành, phân vùng Đó
sẽ là những tiền đề cơ sở lí luận quan trọng để chúng tôi khảo sát ở các chương tiếp theo
Chương hai đối chiếu cấu tạo về từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt Từ đó, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo giữa các
PN
Chương ba đối chiếu ngữ âm - ngữ nghĩa về từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt Từ đó, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về mặt ngữ âm - ngữ nghĩa giữa các PN
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VÀ PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT 1.1 TỪ TIẾNG VIỆT
1.1.1 Khái niệm
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nhưng vấn đề nhận diện và định
nghĩa từ cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất F de Saussure đã viết “vì từ,
mặc dầu khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì đó có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [17; 214] Ở
Việt Nam, cho đến nay, vấn đề ranh giới từ vẫn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi Trên đại thể, chúng tôi nhận thấy có hai khuynh hướng khác nhau trong cách giải quyết vấn đề ranh giới từ trong tiếng Việt
Khuynh hướng thứ nhất coi tiếng là từ Đại diện tiêu biểu là Nguyễn
Tài Cẩn [6], Nguyễn Thiện Giáp [18], Nguyễn Tài Cẩn cho rằng tiếng là đơn vị cơ bản trong truyền thống ngữ văn Việt Nam Trong hệ thống đơn vị
ngữ pháp “có thể coi tiếng như một đơn vị đứng ở điểm giao nhau của hai hệ
th ống nhỏ” [6; 368] Hai hệ thống nhỏ ấy là:
Hệ thống 1, nửa tổ chức, nửa chức năng, có từ, cú vị, câu;
Hệ thống 2, đơn thuần tổ chức, có tiếng, tổ hợp cố định (bao gồm từ ghép) và t ổ hợp tự do (bao gồm đoản ngữ)
Về hệ thống 2, tác giả viết “khi đi từ tiếng lên tổ hợp tiếng, tách tổ hợp
c ố định nói chung, tách từ ghép nói riêng với tổ hợp tự do, tách tổ hợp tự do thành đoản ngữ, mệnh đề,… lại là đi theo con đường đơn thuần tổ chức [6;
368]
Xét về mặt khối lượng và quan hệ nội tại giữa tiếng, từ ghép và đoản
ngữ, tác giả cho rằng tiếng chặt hơn từ ghép, từ ghép chặt hơn đoản ngữ, và ngược lại, đoản ngữ lớn hơn từ ghép, từ ghép lớn hơn tiếng Tác giả viết
Trang 19“trong ti ếng Việt, đi từ tiếng lên từ ghép hay từ từ ghép lên đoản ngữ rõ ràng
là đi từ một từ bé lên một từ lớn hơn” [6; 352] Có thể hình dung quan niệm
của ông qua sơ đồ sau:
luận: “đường ranh giới rành mạch nhất, hiển nhiên nhất bao giờ cũng là đường ranh giới độc lập một bên là “tiếng” (từ điển hình, từ không điển hình)
và một bên là “tổ hợp tiếng” (bao gồm từ ghép và các tổ hợp cố định còn lại)”
Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng thứ hai là các tác giả: Nguyễn Kim
Thản [52], Đái Xuân Ninh [43], Hồ Lê [36], Hữu Đạt [16], Hoàng Văn Hành [22], Đỗ Hữu Châu [9], Nguyễn Văn Tu [67], Nhìn chung, các tác giả đều cho rằng:
1 Để nhận diện từ, nhất thiết phải dựa vào ba tiêu chí:
- Tính nhất thể về ngữ âm
- Tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa
- Tính độc lập về cú pháp
2 Tuy còn tồn tại những khó khăn nhất định, song có thể chấp nhận và
vận dụng khái niệm hình vị vào để phân tích cấu trúc của từ tiếng Việt
chặt
↓
lỏng
Trang 203 Dù còn có sự phức tạp trong sự phân định ranh giới, nhưng từ vẫn luôn là một thực thể, tồn tại với tư cách là một từ cơ bản của tiếng Việt, và khái
niệm từ vẫn luôn là một khái niệm trung tâm của Việt ngữ học
4 Từ tiếng Việt về cơ bản có thể phân thành: từ đơn, từ phức (bao gồm
từ ghép và từ láy)
Tuy nhiên, giữa các tác giả thuộc khuynh hướng thứ hai này vẫn còn tồn
tại những điểm khác biệt về hệ thống phân loại, tiêu chí phân loại, sử dụng hệ
thống thuật ngữ,…
Có thể nói, mỗi khuynh hướng đều có những ưu nhược điểm riêng.Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất theo quan niệm thứ hai, xem hình vị là đơn vị cơ bản để cấu tạo từ tiếng Việt Đây cũng là quan điểm được nhiều nhà Việt ngữ học đồng tình Từ đó, chúng tôi hiểu: từ là đơn vị ngôn
ngữ nhỏ nhất có nghĩa, hoạt động tự do, dùng để đặt câu
1.1.2 Cấu tạo
Hiện nay, xung quanh vấn đề cấu tạo từ ngữ tiếng Việt vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Tuy nhiên, như đã xác định, chúng tôi chọn “hình vị” là đơn vị cơ bản cấu tạo từ ngữ tiếng Việt Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà Việt ngữ học ở khuynh hướng thứ hai, chúng tôi cho rằng tiếng Việt có từ
và ngữ
Phương thức sử dụng một hình vị độc lập để tạo một từ Ứng với
phương thức cấu tạo này, ta có từ đơn tiết Ví dụ: cây, hoa, nhà, trâu, ngựa,
cười, vui, buồn, đẹp,…
Phương thức sử dụng hai hay nhiều âm tiết không độc lập để tạo một
hình vị độc lập Ứng với phương thức cấu tạo này, ta có từ đa tiết Ví dụ như
a ti sô, ti gon, cà phê,…
Trang 21Phương thức tổ hợp các hình vị lại theo một quan hệ nào đó để tạo từ
Ứng với phương thức cấu tạo, ta có ngữ Dựa vào quan hệ ngữ âm hay ý
nghĩa, có thể phân ngữ thành hai loại chính
Tổ hợp hai hoặc hơn hai hình vị lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa
Ứng với phương thức cấu tạo này, ta có ngữ ghép Ngữ ghép được chúng tôi chia làm hai loại: ghép đẳng lập và ghép chính phụ Ngữ ghép đẳng lập là
những ngữ ghép mà giữa các hình vị trong ngữ có quan hệ bình đẳng với
nhau Ví dụ: nhà cửa, cha mẹ, quần áo,…
Ngữ ghép chính phụ là ngữ ghép mà ở đó có ít nhất một hình vị cấu tạo
nằm ở vị trí phụ thuộc vào một hình vị cấu tạo khác, tức trong kiểu ngữ ghép này thường có một hình vị chính và một hình vị phụ về mặt ngữ pháp Ví dụ:
sân bay, xanh lè, dưa đỏ,…
Tổ hợp hai hoặc hơn hai hình vị lại với nhau dựa trên quan hệ ngữ âm
có tác dụng tạo nghĩa Ứng với phương thức cấu tạo ngữ này, ta có ngữ láy
Ngữ láy được chúng tôi chia làm ba loại: láy hai, láy ba và láy tư
Ngữ láy đôi là ngữ láy gồm có hai hình vị Có các dạng cấu tạo láy đôi
sau: Ngữ láy bộ phận: ngữ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu Ví dụ: sạch sẽ, đông đúc, chói lọi, khéo léo,… Ngữ láy hoàn toàn gồm các dạng sau:
giống nhau cả phần vần phụ âm đầu và thanh điệu Ví dụ: xanh xanh, vàng
vàng,…; giống nhau phần vần, phụ âm đầu, khác nhau về thanh điệu Ví dụ:
đo đỏ, tim tím,…; giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh
điệu và phụ âm cuối do sự chi phối của quy luật dị hóa Ví dụ: đèm đẹp, bàng
bạc,…
Ngữ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, kết hợp việc thay
đổi thanh điệu Ví dụ: con − cỏn còn con
sạch − sạch sành sanh
Trang 22Ngữ láy tư: phần lớn dựa trên cơ sở láy đôi, kết hợp với đổi vần, thay
đổi thanh điệu Ví dụ: hớt hải – hớt hơ hớt hải,…
1.1.3 Ngữ âm - ngữ nghĩa
1.1.3.1 Từ đồng nghĩa
Đồng nghĩa là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng Đồng thời, nó có thể xảy ra ở khắp các cấp độ ngôn ngữ Tuy nhiên, vấn đề được các nhà Việt ngữ học quan tâm nhiều nhất chính là hiện tượng đồng nghĩa ở cấp độ từ ngữ Có thể nói, đến nay, quan niệm về từ đồng nghĩa chưa phải đã thống nhất
Theo cách hiểu truyền thống, từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa gần nhau hay giống nhau Nhìn chung, quan điểm này đúng nhưng chưa đủ vì còn quá chung chung không quan tâm tới từ đồng nghĩa giống nhau về nghĩa biểu vật hay biểu niệm và không tính tới một cách nghiêm túc hiện tượng đa nghĩa
Trên cơ sở kế thừa những quan niệm truyền thống, các nhà ngôn ngữ học hiện đại đã dựa vào các tiêu chí khác nhau để nhận diện từ đồng nghĩa Trong công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, dựa vào sắc thái nghĩa
hoặc sắc thái phong cách, Vũ Đức Nghiệu cho rằng “từ đồng nghĩa là những
từ tương đồng với nhau về nghĩa; khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách… nào đó, hoặc đồng thời cả hai” [13; 195]
Dựa vào tương quan ngữ cảnh, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Trong vốn từ
hội của bất cứ một ngữ ngôn nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể, có thể thay thế cho nhau được Những từ này là những từ đồng nghĩa [73; 346]
Trang 23Dựa vào nghĩa biểu vật và sự vật, hiện tượng được gọi tên, Nguyễn
Văn Tu cho rằng: “Những từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau
Đó là nhiều từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó Đó là những tên khác nhau của cùng một hiện tượng Những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh” [67; 95]
Dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Nguyễn Thiện Giáp viết:
“Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho
từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm” [19; 191-192]
Dựa vào ý kiến của các tác giả trên, chúng tôi hiểu khái niệm từ đồng nghĩa như sau: Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, có âm thanh khác nhau, cùng thuộc về một từ loại, nhưng khác nhau về các sắc thái thể hiện của cùng một khái niệm
viết “Từ đa nghĩa là từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính
khác nhau của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại” [13; 172] Nhìn chung, các quan niệm này đúng nhưng chưa đủ, đặc
biệt là chưa quan tâm đến mối quan hệ giữa các nghĩa trong một từ đa nghĩa
Trang 24Quan điểm thứ hai dựa trên hai tiêu chí: “số lượng nghĩa” và “quan hệ giữa các nghĩa” trong một từ đa nghĩa Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này
có Đỗ Hữu Châu và Hoàng Dũng Đỗ Hữu Châu quan niệm: “từ đa nghĩa là
một từ, có sự thống nhất về nội dung và hình thức Trong một giai đoạn lịch
sử nhất định các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ với nhau và không thoát li nghĩa chính” [73; 337] Trong Giáo trình dẫn luận ngôn ngữ học, Hoàng Dũng viết: “đa nghĩa là hiện tượng một từ có hai nghĩa (hay nhiều hơn hai) có liên quan với nhau” [14; 125]
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm trên, chúng tôi hiểu khái niệm từ
đa nghĩa như sau: Từ đa nghĩa là hiện tượng một từ có từ hai nghĩa trở lên và giữa các nghĩa này có liên quan với nhau
điểm này là Trần Trọng Kim Ông cho rằng “tiếng đồng âm là những tiếng viết
gi ống nhau và đọc đồng một âm như nhau nhưng cái nghĩa thì khác mà không
có liên lạc gì với nhau cả” [34; 16]
Quan điểm thứ hai, xác định từ đồng âm bằng các tiêu chí như giống nhau về hình thức âm thanh, khác nhau về nghĩa và có thể khác cả về các phương diện ngữ pháp, đại diện cho quan điểm này có Hà Quang Năng, Hữu
Đạt, Bùi Minh Toán Tác giả Hà Quang Năng trong Từ tiếng Việt: hình thái –
cấu trúc – từ láy – từ ghép – chuyển loại đưa ra khái niệm từ đồng âm như sau:
“hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt là hiện tượng đồng nhất về mặt biểu hiện, nghĩa là trùng nhau về âm thanh, đồng thời khác nhau dù chỉ ở một
Trang 25trong những thành tố của bình diện được biểu hiện – đó là ý nghĩa từ vựng và
ý nghĩa ngữ pháp” [22; 200] Tác giả Hữu Đạt viết: “từ đồng âm là các từ có cùng v ỏ âm thanh nhưng nội dung ý nghĩa khác nhau” [16; 119] Bùi Minh
Toán quan niệm: “từ đồng âm là những từ có hình thức âm thanh hoàn toàn
giống nhau nhưng lại khác hẳn nhau về ý nghĩa và có thể khác nhau cả về các phương diện khác như bản chất ngữ pháp, chức năng trong giao tiếp, sắc thái phong cách” [64; 61]
Quan điểm thứ ba, xác định từ đồng âm dựa trên hai tiêu chí cơ bản là giống nhau về âm thanh và khác nhau về ý nghĩa, đại diện cho quan điểm này
có Vũ Đức Nghiệu và Nguyễn Văn Tu Tác giả Vũ Đức Nghiệu (Cơ sở ngôn
ngữ học và tiếng Việt, 1997) cho rằng: “những từ đồng âm là những từ giống nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về ý nghĩa” [13; 188] Nguyễn
Văn Tu viết: “từ đồng âm là những từ hoàn toàn khác nhau về nghĩa mà chỉ
trùng nhau về âm thanh” [67; 126]
Chúng tôi, thống nhất theo quan điểm thứ ba, cho rằng: Từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức ngữ âm nhưng giữa các nghĩa không có mối liên hệ nào
1.2 PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT
1.2.1 Khái niệm
Phương ngữ học là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu một hay nhiều PN của quốc gia Trước đây, khi đọc các tài liệu nghiên cứu về PN tiếng Việt, ta thấy các nhà nghiên cứu thường dùng từ “phương ngôn” theo cách dùng của Trung Quốc [48], [50] Nhưng vì từ “phương ngôn” ở trong
tiếng Việt đã được dùng để chỉ “tục ngữ ở địa phương” (Từ điển Văn Tân –
Hà Nội, 1967) cho nên dùng từ này dễ gây lẫn lộn Nên sau này, các nhà
nghiên cứu thay từ “phương ngôn” thành phương ngữ, tiếng địa phương, thổ
Trang 26ngữ, giọng địa phương… Cách gọi thổ ngữ (theo lí giải của Trần Thị Ngọc
Lang [35; 26]) là một phương ngữ đã bị thoái hóa, đã bị thu hẹp lại trong một làng, một xã, một địa phương nhỏ, dân cư ít Hơn nữa, các từ ngữ trong thổ ngữ chỉ hạn chế lại cho những nhu cầu đời sống hàng ngày của một cộng đồng trong một vùng nông thôn nào đó mà thôi Tiếng nói trong một thổ ngữ thường hết sức đặc biệt, ngay cả so với vùng phương ngữ quanh đó Còn cách
gọi giọng địa phương thì chỉ nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm Do đó, hai thuật
ngữ này chưa bao quát được nhiệm vụ của phương ngữ học Vì vậy, trong các
khái niệm trên thì khái niệm phương ngữ là hợp lý hơn cả và trong luận văn
này, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm phương ngữ
PN theo cách gọi khác là từ địa phương, với tư cách ấy, PN là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biến thể địa phương của tiếng TD ở các giai đoạn
lịch sử nhất định Vì vậy, PN không phải là “một nhánh của ngôn ngữ toàn
dân” như quan niệm của các nhà “ngữ pháp trẻ” của thế kỉ XIX (dẫn theo 12; 56) vì PN không phải là tách biệt ra từ ngôn ngữ như một nhánh cây tách ra từ thân cây
Quan hệ giữa PN với ngôn ngữ cũng không phải là “quan hệ giữa cái
cụ thể với cái trừu tượng, theo đó thì PN là cái cụ thể, còn ngôn ngữ là cái trừu tượng rút ta từ cái cụ thể” [12; 57] Đã nói đến PN, chúng ta phải giả
thiết rằng có một sự đối lập giữa PN đó với các PN khác, xem PN đó là một biến thể của ngôn ngữ TD – nghĩa là phải có cách định danh TD đã rồi có các định danh khác ở các PN khác nhau Sự khác nhau này có thể được thể hiện ở các bình diện khác nhau như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Từ sự phân tích trên, chúng tôi thống nhất theo quan niệm của Hoàng Thị Châu, cho rằng PN
là “một biến thể địa phương của tiếng toàn dân được hình thành trong quá trình lịch sử.” [12; 57]
1.2.2 Sự hình thành
Trang 27Các PN có sự khác nhau ở giọng nói, cách phát âm, từ ngữ, ngữ pháp,… Các mặt khác nhau này không đồng đều Ở bình diện ngữ pháp ít có
sự biến đổi hơn các bình diện khác Các bình diện ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa có sự khác biệt lớn trong các PN của tiếng Việt Các mặt khác nhau này
là do điều kiện tự nhiên, bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ, nguồn gốc cư dân của từng ĐP khác nhau Chẳng hạn, trong PNN hiện tượng mất cặp phụ âm cuối [n, t] ở một phần lớn vần trong PN này, nguyên nhân có thể là do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng Hán Triều Châu của bộ phận cư dân người Hoa di cư sang miền Nam (theo lí giải của Hoàng Thị Châu [12; 199]) Và nếu như cư dân Nam Bộ không sống trên một vùng đất có đặc điểm địa hình đặc biệt, kênh rạch sông ngòi chằng chịt, khác với cư dân Bắc Bộ và Trung Bộ thì chắc cũng không có một lớp từ vựng liên quan đến sông nước phong phú như miêu
tả của Trần Thị Ngọc Lang cho biết về PN này [35; 89-98] Hay, trong những nghiên cứu gần đây, người ta phát hiện ở PNN có nhiều từ vay mượn từ tiếng Khmer Nguyên nhân của hiện tượng này là do trong quá trình chung sống đã diễn ra sự giao lưu văn hóa - ngôn ngữ giữa người Kinh với người Khmer
Sự cách ngăn về địa lí, điều kiện giao thông ở một đất nước có chiều dài tương đối lớn như Việt Nam đã một thời làm cho sự giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ của người dân giữa các vùng bị hạn chế Tiếng Việt TD bị cô lập giao tiếp trong các vùng, miền nhỏ và đó là điều kiện khiến tiếng Việt thống nhất phát triển theo những khuynh hướng khác nhau; mặt khác, ý thức làng, xóm cũng dần tạo cho người nông dân một tâm lý ngại đi lại, ngại tiếp xúc,
trao đổi Đó cũng chính là nguyên nhân hình thành nên các PN địa lý
Ngoài ra, nếu nhìn ngôn ngữ dân tộc trong một quan hệ khác, quan hệ
xã hội của các tầng lớp người sử dụng, chúng ta sẽ thấy có những cộng đồng
xã hội, những lớp người có địa vị xã hội, văn hóa và nghề nghiệp khác nhau
có thể có cách dùng ngôn ngữ toàn dân với những biến thể riêng Hệ thống
Trang 28biến thể đó thường được gọi là PN xã hội Thực ra, nếu căn cứ vào cách dùng
với những biểu hiện khác biệt của các YT trong từng PN xã hội thì ta thấy tính hệ thống của PN xã hội không rõ ràng như PN địa lý và những khác biệt của nó so với ngôn ngữ TD cũng không đáng kể Chẳng hạn, ở Việt Nam, vào thời thuộc Pháp, trong tầng lớp trí thức, nhiều người hay chêm vào câu nói của mình các từ mượn của tiếng Pháp làm thành những lối nói đặc thù cả về
từ vựng lẫn phong cách, những lối nói không thể có ở nông dân và những người lao động bình thường khác Điều này một phần do tầng lớp trí thức chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Pháp, dùng tiếng Pháp để diễn đạt những khái niệm mới mẻ mà vốn từ tiếng Việt chưa có Bên cạnh đó, tầng lớp này cũng muốn chứng tỏ mình là tầng lớp trí thức - học nhiều, biết nhiều – so với các tầng lớp khác nên họ luôn cố gắng gìn giữ hoặc biến đổi các đặc điểm ngôn ngữ để định ranh giới riêng cho tầng lớp mình
Cũng có khi là do nguyên nhân chính trị - lịch sử Người vùng này hầu
như không được quan hệ hoặc không có dịp quan hệ với người vùng kia, bởi
lẽ hai lãnh chúa hoặc hai tôn giáo kình địch nhau, tranh chấp nhau về mọi phương diện Từ đó, cũng nảy sinh sự khác biệt của các ngôn ngữ Chẳng hạn, thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh trong lịch sử Việt Nam, hẳn đã tác động mạnh mẽ làm nên sự khác biệt đáng kể về ngôn ngữ giữa hai miền Nam - Bắc
nước ta “Những nguyên nhân chính trị - lịch sử này cũng ảnh hưởng tới các
Trang 29trúc ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn luôn phát triển và biến đổi Mặt biến đổi của
nó được thể hiện trên từng PN về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Ngôn ngữ ở thời kì bộ lạc cũng như ở giai đoạn đã hình thành dân tộc, đều không ngừng biến đổi Sự biến đổi của ngôn ngữ là không đồng đều trên từng bình diện ngôn ngữ cũng như trên khắp các vùng dân cư, vì thế mà tạo nên đặc điểm riêng của từng PN làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ trong thể hiện Trong điều kiện các cư dân cùng nói một ngôn ngữ nhưng sống trải trên một địa bàn lớn mà các vùng dân cư lại cách biệt nhau về địa lí, điều kiện giao thông và thông tin khó khăn, sự giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ giữa các vùng không thường xuyên, bị khép kín thì thông thường một sự thay đổi nào
đó về ngôn ngữ cũng chỉ là những YT rời rạc về mặt từ vựng như sự xuất hiện của các từ mới, sự mất đi của các từ cũ, về sau những thay đổi lớn hơn bắt đầu chạm đến cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ như sự biến đổi của một vài âm vị,
sự thay đổi của các từ công cụ ngữ pháp trong từng vùng địa lí (như ba phụ
âm quặt lưỡi (tr, r, s) mất đi trong cách phát âm của cư dân vùng Bắc Bộ, việc
quen dùng các từ chỉ trỏ: mô, tê, răng, rứa,…mà không dùng đây, kia, sao,
thế, ở địa bàn dân cư Nghệ Tĩnh) Đó là dấu hiệu của những sự khác nhau về
ngôn ngữ giữa các vùng dân cư Nói cách khác, các PN địa lí đã ra đời Đứng
về phương diện hoạt động giao tiếp mà nói, ngôn ngữ thay đổi trong từng vùng dân cư và tạo ra thói quen nói năng khác các vùng dân cư khác Tập hợp các thói quen nói năng khác đó của một vùng dân cư so với vùng dân cư khác
là tập hợp tạo nên PN của từng vùng Như vậy, nhìn vào biểu hiện của ngôn ngữ trên từng khu vực địa lí, ta thấy có sự khác nhau Sự khác nhau của các
PN địa lí rõ ràng không phải do nguyên nhân địa lí Nguyên nhân sâu xa bên trong chính là sự phát triển biến đổi của ngôn ngữ
Như vậy, sự ra đời của các PN tiếng Việt trong lòng ngôn ngữ toàn dân
là kết quả của hai sự tác động: tác động bên trong – từ cấu trúc ngôn ngữ, tác
Trang 30động của những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ - địa lý, chính trị, nguồn gốc cư dân,…
1.2.3 Phân vùng
Vấn đề phân vùng PN tiếng Việt, có rất nhiều quan điểm khác nhau và cũng
hết sức phức tạp Có ý kiến cho rằng tiếng Việt chia thành hai vùng PN, cũng
có ý kiến chia thành ba, bốn, năm vùng PN
Phân thành hai vùng PN: đó là quan niệm của Dương Quảng Hàm và Hoàng Phê Trong cách chia của Dương Quảng Hàm, PN thứ nhất gồm tiếng nói “Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ” PN thứ hai gồm tiếng nói “Nam Kỳ và Nam
Trung Kỳ” [21; 266] Hoàng Phê nêu lên ý kiến: “… ngày càng thấy rõ rệt có
hai tiếng ĐP chủ yếu: tiếng ĐP miền Bắc, nơi có thủ đô Hà Nội, và tiếng ĐP miền Nam, nơi có thành phố lớn Sài Gòn; còn ở Trung Bộ thì có thể nói là những tiếng ĐP nhỏ, thường hoặc là gần tiếng ĐP miền Bắc, hoặc là gần tiếng ĐP miền Nam về những mặt nào đó” [44; 46]
Phân thành ba vùng PN lớn: PNB, PNT, PNN Đó là quan niệm của các tác giả Hoàng Thị Châu [12; 91], Võ Xuân Trang [66; 66], Phạm Văn Hảo [23; 55], Đây cũng là ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu và phù hợp với quan niệm của dân gian Tuy nhiên, giữa các ý kiến này cũng không hoàn
toàn nhất trí với nhau vì có các “vùng chuyển tiếp và các bán PN gây khó
khăn cho việc xác định PN” [12; 90] Trong đó, vùng chuyển tiếp và bán PN
Thanh Hóa là gây ra nhiều tranh cải nhất Võ Xuân Trang, Phạm Văn Hảo thì xếp Thanh Hóa vào PNB, ngược lại Hoàng Thị Châu thì xếp Thanh Hóa vào PNT và điều này cũng gây khó khăn cho việc nghiên cứu
Nguyễn Văn Tu [67], Nguyễn Văn Ái [1], Nguyễn Kim Thản [52],… phân thành bốn vùng PN Giữa các ý kiến này cũng không hoàn toàn thống nhất với nhau Theo Nguyễn Văn Tu, PN miền Bắc gồm Bắc Bộ và Thanh
Trang 31Hóa; PN thứ hai kéo dài từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế (Bắc Trung Bộ);
PN thứ ba là tiếng nói vùng Nam Trung Bộ (Nam, Ngãi, Bình, Phú) và PN thứ tư là tiếng nói vùng Nam Bộ (từ Bình Thuận trở vào) [67; 225] Theo Nguyễn Văn Ái, PN Bắc Bộ từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thanh Hóa;
PN Bắc Trung Bộ từ Nghệ Tĩnh đến Bình Trị Thiên; PN Nam Trung Bộ từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Thuận Hải; PN Nam Bộ từ Đồng Nai - Sông Bé đến mũi Cà Mau [1; 10] Nguyễn Kim Thản thì cho rằng PN Bắc gồm Bắc Bộ
và một phần Thanh Hóa; PN trung Bắc gồm phía Nam Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên; PN trung Nam từ Quảng Nam tới Phú Khánh; PN Nam
từ Thuận Hải trở vào [52; 51- 69]
Ông Nguyễn Bạt Tụy (dẫn theo 12; 79), lúc đầu chia tiếng Việt thành ba PN nhưng về sau lại chia thành năm vùng PN Theo ông, PN miền Bắc (gồm cả Thanh Hóa); PN Trung Trên (từ Nghệ An đến Quảng Trị); PN Trung giữa (từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi); PN Trung Dưới (từ Bình Định đến Bình Tuy);
PN Nam (từ Bình Tuy trở vào)
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi phân chia PN Việt thành ba vùng: vùng PNB gồm các tỉnh từ Ninh Bình trở ra, vùng PNT gồm các tỉnh từ Thanh Hóa đến Huế, vùng PNN gồm các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào đến Cà
Mau Chúng tôi tán thành chủ trương phân chia PN thành ba vùng như trên bởi vì giữa các ĐP trong mỗi một vùng như vậy thường ít nhiều có những mối quan hệ gần gũi với nhau về phong tục tập quán, văn hóa, và đặc trưng ngôn ngữ Đồng thời, đây cũng là quan điểm hiện được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình Tuy nhiên, vấn đề phân định này chỉ mang tính chất tương đối, bởi vì việc phân định vùng miền theo tiêu chí địa lý thì dễ nhưng theo tiêu chí văn hóa, ngôn ngữ là khó khăn do tính giao thoa về văn hóa, ngôn ngữ giữa các vùng miền diễn ra rất phức tạp
Trang 32Tiểu kết
Điểm qua các công trình nghiên cứu đã có về từ và PN tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy có nhiều điểm chưa thống nhất trong quan niệm của các tác giả Tuy vậy, luận văn vẫn chọn cho mình một hướng tiếp cận phù hợp để nhận diện từ ngữ và PN tiếng Việt cụ thể như sau:
Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, hoạt động tự do, dùng để đặt câu Căn cứ vào số lượng hình vị, vào quan hệ và khả năng hoạt động của nó, chúng tôi chia từ ngữ tiếng Việt thành từ và ngữ Xét về mặt ngữ âm – ngữ nghĩa của từ, ở đây, chúng tôi làm rõ ba khái niệm: từ đồng âm, từ đồng nghĩa
và từ đa nghĩa
PN là một biến thể địa phương của tiếng toàn dân được hình thành trong quá trình lịch sử Có hai nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành các PN: từ cấu trúc ngôn ngữ, tác động của những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ
Về phân vùng PN tiếng Việt, chúng tôi thống nhất theo quan điểm phân làm
ba vùng: Bắc, Trung, Nam
Những vấn đề mang tính lý luận chung ở chương này sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để khảo sát cụ thể ở phần sau Đó là đối chiếu cấu tạo, ngữ âm – ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt
Trang 33Chẳng hạn: cùng chỉ loại “cây nhỡ, lá hình móng bò, hoa màu trắng”,
PNB sử dụng từ TD: ban [45; 28], PNT và PNN lại sử dụng ngữ ghép chính phụ ĐP để định danh: móng bò Hoặc, cùng chỉ loại “cây ăn quả và làm thuốc,
thuộc họ đào lộn hột, thân gỗ cao, quả hình bầu dục hay hình trứng, thịt màu
vàng, vị chua” [45; 196], PNT và PNN sử dụng từ TD cóc, còn PNB lại sử dụng ngữ ghép chính phụ TD dâu da xoan Hay cùng chỉ loài cây mọc leo hay
mọc bò, cùng họ với bầu, có nhiều loài, quả dùng làm thức ăn, PNB và PNN
sử dụng từ TD bí [45; 60] còn PNT sử dụng từ ĐP bín
Từ ngữ TD được chúng tôi quan niệm ở đây là: những từ ngữ toàn dân hiểu và sử dụng Nó là vốn từ ngữ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau Nó đóng vai trò làm nền tảng Nó cũng là cơ sở để thống nhất từ vựng và thống nhất ngôn ngữ dân tộc, đồng thời là tài sản chung để mọi thành viên trong dân tộc, trong xã hội sử dụng làm công cụ giao tiếp chung
2.1 TỪ
2.1.1 Phương ngữ Bắc
Qua khảo sát lớp từ ngữ chỉ thực vật, tỉ lệ từ ở PNB ít so với ngữ Cụ thể, có 85/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 21,7%, trong đó, từ đơn tiết có 72 từ, chiếm
Trang 34tỉ lệ 84,7% so với tổng từ (72/85 từ): bàng, bần, bí, cải, giầu, gioi, kê, nê,…;
từ đa tiết có 13 từ, chiếm tỉ lệ 15,3% so với tổng từ (13/85 từ): a ti sô, phi lao,
sơ ri, súp lơ, xà cừ, xà lách,…
Trong số 85 từ đó, từ có nghĩa TD có đến 79/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ
20,2% và chiếm tỉ lệ 92,9% so với tổng từ (79/85 từ): ban, bàng, bần, bí, cải,
chè, cọ, dâu, dền, dứa, a ti sô, ti gon, súp lơ, cà rốt …; từ được sử dụng như
từ ĐP có 6/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 1,5% và chiếm tỉ lệ 7,1% so với tổng từ (6/85 từ): đỗ, gianh, giầu, gioi, kê, nê
2.1.2 Phương ngữ Trung
Tỉ lệ từ ở PNT ít hơn so với ngữ Cụ thể, có 87/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 22,3%, trong đó, từ đơn tiết có 74 từ, chiếm tỉ lệ 85,1% so với tổng từ (74/87
từ): chên, trấy, cơn, cáo, điều, trù, gõ, lác, cói, hồng, mật, đay, ; từ đa tiết có
13 từ, chiếm tỉ lệ 14,9% so với tổng từ (13/87 từ): a ti sô, cà rốt, cu li, sơ ri,
cà kheo, chăm – pa,…
Ngược lại so với PNB, trong số 87 từ này, số lượng từ được sử dụng như một từ ĐP khá cao, có 60/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 15,3% và chiếm tỉ lệ
70% so với tổng từ (60/87 từ): bù, bín, mớp, tròi, chên, trấy, cơn, cáo, điều,
trù, gõ, lác, má, gức/cấc, kén, chăm – pa, cà kheo, xi lao, sa ri,…; chỉ có 27 từ
có nghĩa TD, chiếm tỉ lệ 6,9% và chiếm tỉ lệ 30% so với tổng từ (27/87 từ):
bàng, bứa, bòng, chè, cóc, cói, hồng, mật, đay, a ti sô, xà cừ, ti gon, súp lơ,…
2.1.3 Phương ngữ Nam
Tỉ lệ từ ở PNN ít hơn so với ngữ Cụ thể, có 78/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 19,9%, trong đó, từ đơn tiết có 64 từ, chiếm tỉ lệ 82,1% so với tổng từ (60/78
từ): dâu, dền, đậu, gà, gạo, gấc, giấy, trà, kè, lức, điều, bố,…; từ đa tiết có 14
từ, chiếm tỉ lệ 17,9% so với tổng từ (14/78 từ): xa bô chê, pan xê, ạc ti sô, sơ
ri, lê ki ma,…
Trang 35Trong số 78 từ ấy, từ có nghĩa TD là 37/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 9,5% và
chiếm tỉ lệ 47,4% so với tổng từ (37/78 từ): bầu, bí, cải, dâu, dền, đậu, gà,
gạo, gấc, giấy, lê ki ma, cu li, ; từ được sử dụng như một từ ĐP có 41/391 từ
ngữ, chiếm tỉ lệ 10% và chiếm tỉ lệ 52,6% so với tổng từ (41/78 từ): gõ, lác,
bung, trà, kè, lức, điều, bố, cú, xa bô chê, pan xê,…
Xét về mặt số lượng, số lượng từ chỉ thực vật ở ba PN trong tiếng Việt
có sự chênh lệch không đáng kể Trong đó, cao nhất là PNT (87/391 từ ngữ),
kế đến là PNB (85/391 từ ngữ), cuối cùng là PNN (78/391 từ ngữ) Nếu xét ở mức độ cụ thể hơn thì kết quả có khác Cụ thể xem bảng đối chiếu sau:
Từ
PN
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Từ đơn tiết 72 84,7 74 85,1 64 82,1
Từ đa tiết 13 15,3 13 14,9 14 17,9 Tổng cộng 85 100 87 100 78 100
Bảng: 2.1: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại từ giữa các PN
Xét trên tổng thể, tỉ lệ từ đơn tiết gấp trên dưới 5 lần so với từ đa tiết Trong đó, PNN có từ đa tiết cao nhất, chiếm tỉ lệ 17,9%, kế đến là PNB, chiếm tỉ lệ 15,3%, thấp nhất là PNT, chiếm tỉ lệ 14,9% Ngược lại từ đơn tiết cao nhất ở PNT, kế đến là PNB, PNN là thấp nhất Như vậy, khi định danh
thực vật, xét trong phạm vi từ, người Việt hạn chế sử dụng từ đa tiết (đa số là
từ vay mượn) mà ưu tiên lựa chọn từ đơn tiết (đa số là từ thuần Việt) Điều này, chứng tỏ người Việt rất có ý thức dân tộc trong việc sử dụng, phát triển
từ thuần Việt
Trang 36Nếu xét ở góc độ từ TD và ĐP, PNB có số lượng từ TD nhiều nhất (79/85 từ), kế đến là PNN (37/78 từ) và cuối cùng là PNT (27/87 từ) Cụ thể xem bảng sau:
Từ
PN
Số lượng Tỉ lệ (%)
Số lượng Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
TD 79 92,9 27 30 37 47,4
ĐP 6 7,1 60 70 41 52,6 Tổng cộng 85 100 87 100 78 100
2.2: Số lượng và tỉ lệ từ TD và ĐP giữa các PN
Dựa vào bảng trên, PNB có tỉ lệ từ TD gấp 3 lần so với PNT và gấp 2,5 lần so với PNN Những từ ĐP được tạo nên ở PNB chủ yếu là do hiện tượng
biến thể phụ âm đầu (tranh − gianh, trầu − giầu, roi − gioi) Ngược lại, PNT
sử dụng rất nhiều từ ĐP Số lượng từ ĐP ở PNT gấp 10 lần so với PNB và gấp 1,3 lần so với PNN YT được dùng phổ biến nhất trong các loại từ ở PNT
cũng là do các dạng biến thể ngữ âm của từ tiếng Việt (bù, bín, cơn, cổ, du,
chên, da, độ, ga, cấc, cáo, cú, dí, gõ,…) Hình thức biến thể xảy ra rộng khắp,
ở phụ âm đầu: gấc − cấc, dên − chên,…; ở phần vần: bầu − bù, bí − bín,… cũng như thanh điệu: vừng − vưng, quất − quật,… Các biến thể này có quy
luật (quy luật này chúng tôi sẽ làm rõ ở chương 3) Đáng lưu ý hơn, nếu so với từ biến thể về ngữ âm trong PNB, PNT không chỉ có một dạng thức biến thể mà có hiện tượng hai hoặc ba dạng thức từ ĐP biến thể so với một từ ở
PNB Chẳng hạn: vừng − vưng; dâu − du; gà − ga; dên − chên; gấc −
Trang 37gức/cấc; gấu − gú/gưng/cú; gừng − gưng/gâng/gầng; hoa − huê/goa; bí − bín/bim
YT thứ hai được dùng trong PNT là YT hiện không hoặc ít được dùng
do đã mờ nghĩa: mỉu, tran,
Ở PNN, số lượng từ ĐP nhiều hơn từ TD 4 đơn vị Nguyên nhân của hiện tượng này cũng giống như ở PNT, tuy nhiên hiện tượng biến thể ngữ âm
diễn ra không phức tạp như ở PNT chỉ có một vài trường hợp như: bòng −
bung; cau − cao; đa −da; hồng− hường,
Từ sự miêu tả trên, chứng tỏ trong ba PN, PNB sử dụng nhiều từ TD nhất, nó gần với ngôn ngữ TD nhất PNT sử dụng nhiều YTPN nhất chứng tỏ PNT là PN cổ nhất so với hai PN còn lại PNN có xu hướng hướng đến ngôn ngữ TD nhiều hơn so với PNT, nhưng so với PNB vẫn còn nhiều hạn chế hơn
vì số lượng từ TD chiếm chưa đến 50% so với tổng từ (37/78 từ)
2.2 NGỮ
2.2.1 Phương ngữ Bắc
So với từ, tỉ lệ ngữ chỉ thực vật ở PNB khá nhiều, có 306/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 78,3% Kết quả cụ thể như sau:
Ngữ láy có 7 ngữ, chiếm tỉ lệ 1,8% so với tổng từ ngữ và chiếm tỉ lệ
2,3% so với tổng ngữ (7/306 ngữ) Chúng đều là ngữ láy đôi Trong số 7 ngữ láy đôi này, láy hoàn toàn có 5 ngữ, chiếm tỉ lệ 71,4% so với tổng ngữ láy (5/7 ngữ): đu đủ, đùng đình, khúc khắc, su su, rành rành; láy bộ phận có 2
ngữ, chiếm tỉ lệ 28,6% so với tổng ngữ láy (2/7 ngữ): ngót nghẻo, bằng lăng
Ngữ ghép có 299/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 76,5% và chiếm tỉ lệ 97,7% so
với tổng ngữ (303/306 ngữ) Ngữ ghép ở đây có hai loại: ghép đẳng lập và ghép chính phụ, tuy nhiên, số lượng ngữ ghép đẳng lập rất ít, số lượng chỉ nằm ở hàng đơn vị, còn chủ yếu là ngữ ghép chính phụ
Trang 38Xét ở góc độ YT tạo ngữ của ngữ ghép, nhìn chung PNB được cấu tạo theo các kiểu sau:
Thuộc kiểu này có 283/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 72,3% và chiếm tỉ lệ
94,6% so với tổng ngữ ghép (283/299 ngữ): ánh hồng, ba đậu, ba soi, bèo
đất, bầu sao, bí xanh, bí đỏ, chanh leo, chuông đỏ, bách bệnh, bách bộ, bách nhật, bạch cúc,
với tổng ngữ ghép (3/299 ngữ): xấu hổ, cà dái dê, ngũ trảo
Kiểu thứ ba:
E + F EF (YTPN + YTTD)
E: là YT PN F: là YT có nghĩa trong ngôn ngữ TD
ghép
ghép
ghép
Trang 39EF: là ngữ ghép PN Thuộc kiểu này có 13/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 3,3% và chiếm tỉ lệ 4,4%
so với tổng ngữ ghép (13/299 ngữ): cứt lợn, đỗ bướm, đỗ chiều, đỗ cô ve, đỗ
đỏ, đỗ dải áo, đỗ dầu, đỗ dèo, đỗ khế, đỗ tương, đỗ ván, huỳnh liên, giầu không,
Xét ở góc độ YT từ loại theo sau danh từ chỉ loại kiểu như: đỗ đỏ,
cau lùn, chè xanh, chuông đỏ, (danh từ + tính từ); đỗ khế, dưa chuột, khoai riềng, loa kèn, (danh từ + danh từ); chanh leo, hoàng mộc leo, muồng ngủ, khoai ăn tàu, (danh từ + động từ) Kết quả cụ thể như sau:
• Thuộc kiểu danh từ + danh từ: có 185/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ
47,3% và chiếm tỉ lệ 61,9% so với tổng ngữ ghép (185/299 ngữ): loa kèn, bầu
hồ lô, bầu sao, bèo cái, bèo tây, bèo ong, bình vôi, đay suối, cà dái dê, bắp cải,
• Thuộc kiểu danh từ + tính từ: có 90/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 23%
và chiếm tỉ lệ 30,1% so với tổng ngữ ghép (90/299 ngữ): bạch cúc, mò trắng,
mò đỏ, bạch hạc, bí xanh, bí đỏ, bướm hồng, cải trắng, mít dai, mía tím, mía trắng, mướp đắng, liễu đỏ,…
• Thuộc kiểu danh từ + động từ: có 24/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 6,1%
và chiếm tỉ lệ 8% so với tổng ngữ ghép (24/299 ngữ): chanh leo, hoàng mộc
leo, hướng dương, phát tài, khoai mài, khoai ăn tàu, muồng ngủ, rồng nhả ngọc, đào lộn hột, mai chỉ thiên,…
2.2.2 Phương ngữ Trung
So với từ, tỉ lệ ngữ chỉ thực vật ở PNT khá nhiều, có 304/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 77,7% Kết quả cụ thể như sau:
Ngữ láy có 19/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 4,9% và chiếm tỉ lệ 6,3% so với
tổng ngữ (19/306 ngữ) Chúng đều là ngữ láy đôi Trong số 19 ngữ láy đôi
Trang 40này, láy hoàn toàn có 4 ngữ, chiếm tỉ lệ 21,1% so với tổng ngữ láy (4/19 ngữ):
thẹn thẹn, muồng muồng, đình đình, cúc cắc; láy bộ phận có 15 ngữ, chiếm tỉ
lệ 78,9% so với tổng ngữ láy (15/19 ngữ): ngọt nghẹo, làng lạc, chập chại, la
lét, rũ rẫy, bằng lăng, thu đủ, lòn bon, cốt mốt, lo bo, bình lịch, bù lù, bờ xờ,
bu du,
Xét ở góc độ ngữ TD hay ĐP, chúng tôi nhận thấy chỉ có 3 ngữ là ngữ láy TD, chiếm tỉ lệ 15,8% (3/19 ngữ): thẹn thẹn, muồng muồng, bằng lăng; 16
ngữ còn lại là ngữ láy PN, chiếm tỉ lệ 84,2% (16/19 ngữ) Hiện tượng PN
được tạo nên do biến thể ngữ âm so với PNB: đu (đủ) − thu (đủ), đùng (đình)
− đình (đình), khúc khắc −cúc cắc,… hoặc do PNT lưu giữ những ngữ láy đã
mờ nghĩa như làng lạc, cốt mốt, chập chại, lo bo, la lét,…
Ngữ ghép có 285/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 72,9% và chiếm tỉ lệ 93,7% so
với tổng ngữ (285/304 ngữ), chủ yếu cũng là ngữ ghép chính phụ
Xét ở góc độ YT tạo ngữ của ngữ ghép, nhìn chung PNT được cấu tạo theo các kiểu sau:
Kiểu thứ nhất: (YTTD + YTTD)
Thuộc kiểu này có 147/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 37,6% và chiếm tỉ lệ 51,6% so với tổng ngữ ghép (147/285 ngữ): ánh hồng, ba chạc, vông đồng,
lưỡi mác, dây ba mươi, bách hợp, bách nhật, vương tùng, cúc trắng, bạch hạc, móng bò, bèo tây, bèo tai chuột, bèo trứng, chìa vôi, vòi voi,…
Kiểu thứ hai: (YTTD +YTPN)
Thuộc kiểu này có 48/391 từ ngữ, chiếm tỉ lệ 12,2% và chiếm tỉ lệ
16,8% so với tổng ngữ ghép (48/285 ngữ): ruột ga, bá bịnh, bèo cấy, bèo huê
du, bình vui, chuối cao, cam trành, chuối ri, vông huê đỏ, xương long,…
Kiểu thứ ba: (YTPN + YTTD)