1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh

183 676 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Sỹ Thanh

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÝ 11 BAN CƠ BẢN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG

TẠO CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý

Mã số : 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phạm Thế Dân Thành Phố Hồ Chí Minh 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Sỹ Thanh

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÝ 11 BAN CƠ BẢN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG

TẠO CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý

Mã số : 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phạm Thế Dân

Thành Phố Hồ Chí Minh 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Lê Sỹ Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ từ phía các thầy cô giáo, cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

Qua đây, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Thế Dân, người đã

tận tình hướng dẫn trong quá trình tác giả làm luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn tới:

- Quý Thầy (Cô) ở phòng Sau đại, khoa Vật lý, Thư viện trường ĐHSP TP.HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

- Quý thầy cô ở trường THPT Võ Thị Sáu, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cho tôi trong quá trình giảng dạy, hỗ trợ tôi trong việc khảo sát, thực nghiệm để đánh giá hiệu quả, chứng minh tính khả thi của luận văn

- Các em học sinh đã cho tôi niềm vui trên bục giảng, tham gia nhiệt tình trong quá trình thực nghiệm sư phạm để hoàn thành luận văn

Bà Rịa – Vũng Tàu, tháng 9 năm 2013

Tác giả luận văn

Lê Sỹ Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Giả thuyết khoa học 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Đóng góp của đề tài 11

8 Cấu trúc luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THPT 12

1.1 Bản chất của quá trình dạy học 12

1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy [26], [31] 12

1.1.2 Bản chất của hoạt động học 14

1.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học 17

1.2 Tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong quá trình dạy học 18

1.2.1 Tính tích cực học tập của HS [9], [15], [19], [33], [37] 18

1.2.2 Tính tự lực học tập của HS [20], [27], [33] 20

1.2.3 Tính sáng tạo trong học tập của HS [20], [26], [33] 22

1.3 Một số phương pháp dạy học phát huy cao tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong quá trình dạy học Vật lý ở trường THPT 23

1.3.1 Dạy học vấn đáp, đàm thoại [11], [13], [26] 23

1.3.2 Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề [19], [26], [32], [34] 24

1.3.3 Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ [9], [26], [34] 26

1.3.4 Dạy học theo dự án [9], [26], [34] 27

1.4 Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong dạy học Vật lý ở trường THPT [25], [27], [33] 29

1.4.1 Kích thích hứng thú và sự chú ý của học sinh đối với kiến thức 29

Trang 6

1.4.2 Tăng cường công việc của HS với SGK, BT và TN Vật lý 30

1.4.3 Sử dụng phiếu học tập và quan tâm đến công việc ở nhà của HS [5], [25], [34] 34 1.4.4 Xây dựng bầu không khí học tập thích hợp và nhóm học tập và tinh thần đồng đội cho HS 36

1.4.5 Sử dụng phương pháp và thủ thuật giảng dạy phù hợp 37

1.4.6 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý [12] 38

1.4.7 Hướng dẫn học sinh tự lực làm việc và xây dựng câu trả lời trong quá trình dạy học 40

1.5 Tiến trình dạy học một bài học vật lý theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS [19], [23], [31], [36] 42

1.6 Kết luận của chương 1 44

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC”- VẬT LÝ 11 BAN CƠ BẢN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HS 46

2.1 Mục tiêu dạy học và cấu trúc của phần “Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản46 2.1.1 Mục tiêu dạy học của phần “Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản [1], [7] 46

2.1.2 Cấu trúc của phần “Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản 48

2.2 Điều tra thực trạng dạy học phần “Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản ở một số trường THPT của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 49

2.2.1 Mục đích điều tra 49

2.2.2 Phương pháp điều tra 50

2.2.3 Kết quả điều tra 50

2.3 Thiết kế tiến trình dạy các bài học phần “Quang hình học”_Vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS [1], [2], [3], [7] 51

2.3.1 Các bài học của chương “ Khúc xạ ánh sáng” 51

2.3.2 Các bài học của chương VII: “Mắt Các dụng cụ quang học” 69

2.4 Kết luận của chương 2 126

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 128

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của TNSP 128

3.1.1 Mục đích của TNSP 128

3.1.2 Nhiệm vụ của TNSP 128

3.2 Nội dung, đối tượng, thời gian và địa điểm tiến hành TNSP 128

3.2.1 Nội dung 128

3.2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm của tiến hành TNSP 129

3.3 Phương pháp đánh giá kết quả TNSP 131

3.4 Diễn biến quá trình và kết quả TNSP 132

Trang 7

3.4.1 Diễn biến quá trình TNSP 132

3.4.2 Kết quả quá trình TNSP 142

3.5 Kết luận của chương 3 148

KẾT LUẬN CỦA LUÂN VĂN 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

PHỤ LỤC 153

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

Bài tập Công nghệ thông tin Dạy học

Đối chứng Giáo viên Học sinh Phương pháp Phương pháp dạy học Phuơng pháp dạy học tích cực Phương tiện dạy học

Thí nghiệm Thực nghiệm Thực nghiệm sư phạm Trung học phổ thông Tính tích cực

Sách giáo khoa

BT CNTT

TN T/N TNSP THPT TTC SGK

Trang 9

riêng Một yêu cầu bức thiết đặt ra là phải đổi mới PPDH theo hướng giúp cho nười học tiếp

thu có hiệu quả các tri thức của nhân loại

Việt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nền kinh tế phát triển mạnh và năng động, nhưng cũng nhiều thách thức, đòi hỏi ngành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ về mọi mặt Trong đó, đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học và phương tiện dạy học một cách đồng bộ Theo

nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy

học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh,…”[10]

Định hướng trên đây đã được thể hiện trong Điều 24.2 Luật Giáo dục “Phương pháp giáo

d ục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác đ ộng đến tình c ảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh…”.[8]

Vấn đề đặt ra đối với các trường học là cần không ngừng đổi mới về nội dung và PPDH Giáo dục phải gắn liền với sự phát triển kinh tế của đất nước, phù hợp với xu thế thời đại

ền giáo dục nước ta trong giai đoạn vừa qua chưa đáp ứng được yêu cầu nói trên Trong

Trang 10

công tác kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã chỉ rõ những yếu kém và

nguyên nhân: “Ho ạt động học tập trong các nhà trường ở mọi cấp học chủ yếu vẫn là hướng vào m ục đích khoa cử, chưa quan tâm làm cho người dạy ,người học, người quản lý coi trọng thực hiện mục đích học tập đúng đắn Phương pháp giáo dục nặng về lý thuyết thường khuy ến khích tiếp thu một cách máy móc, thụ động, chưa khuyến khích sự tích cực, sáng tạo của người học ”[10]

Chúng ta đang sống, thời đại của công nghệ thông tin và truyền thông, các mô hình, các phương pháp, chiến lược dạy học tích cực đã thành công và phổ biến ở nhiều quốc gia, bằng nhiều con đường trực tiếp hay gián tiếp đã đến với giáo viên (GV) Nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đang từng bước triển khai áp dụng, nhưng hình như chúng vẫn đang gặp phải một “bức tường” ngăn cách, bằng chứng nhiều năm rồi chúng ta vẫn còn đang nghiên cứu để tìm ra con đường để chúng có thể thâm nhập được cả vào lý luận và thực tiễn Việt Nam Vì vậy trong đề tài này, tôi đề cập đến việc nghiên cứu và vận dụng một số phương pháp dạy học dạy học tích cực với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học, hiện đang còn tương đối mới ở Việt Nam

Trong các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Một lần những quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục và đào tạo, đã xác định một cách toàn diện và cụ thể hơn,

để phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước và khắc phục những tồn tại và yếu kém trong thời gian vừa qua [6]

Đứng trước tình hình đó việc đổi mới PPDH trong các trường học của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã và đang phát triển Học sinh trung học phổ thông (THPT) trong tỉnh đã được tiếp cận với các phương pháp dạy học tích cực và hỗ trợ của các phương tiện dạy học Vấn

đề đặt ra ở mổi thầy cô giáo phải chủ động đổi mới PPDH Mặt khác để phát triển cho HS những kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học (PTDH), phục vụ hoạt động học tập, nghiên cứu, chuẩn bị cho các em những năng lực cơ bản để tiếp tục học lên

Nhờ sự quan tâm của Đảng và chính quyền địa phương, hiện nay các trường THPT ở tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu đã được trang bị khá đồng bộ về cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại phục

vụ cho công tác dạy học Tuy nhiên, cho đến nay hiệu quả của việc đổi mới PPDH và PTDH vẫn còn hạn chế, phần lớn vẫn còn mang tính tự phát.Có nhiều nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả đổi mới PPDH và PTDH nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong học tập Song chúng tôi cho rằng nguyên nhân không phải là do trình độ của đội ngũ

GV Kết quả khảo sát cho thấy ở đa số các trường THPT ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đội ngũ

Trang 11

GV đều có tâm huyết, mong muốn được đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực, tự lực

và sáng tạo của học sinh trong học tập, nhưng lại lúng túng không biết đổi mới như thế nào

và bắt đầu từ đâu để có hiệu quả, không gây khó khăn cho học sinh

Là một học viên cao học đồng thời là một giáo viên dạy học ở trường THPT, tôi nhận thấy dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh là cần thiết và phải được vận dụng vào trong thực tế, với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương

pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học Vật lý ở trường THPT, tôi lựa chọn đề tài: Tổ chức dạy học phần “Quang hình học”_ Vật lý 11 ban Cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh”

2 M ục đích nghiên cứu

Thiết kế phương án dạy các bài học của phần “ Quang hình học”_Vât lý 11 ban Cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học Vật lý

3 G iả thuyết khoa học

Có thể phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học phần “ Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản bằng việc sử dụng phối hợp các phuơng pháp dạy học tích cực và tổ chức phù hợp các hoạt động học tập của học sinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Các phương pháp dạy học tích cực, các phương tiện dạy học

- Các hoạt động dạy và học phần “ Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu việc vận dụng các PPDH tích cực (PPDHTC) trong quá trình dạy học phần “ Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh ở trường THPT Võ Thị Sáu, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà rịa – Vũng Tàu

5 N hiệm vụ nghiên cứu

-Nghiên cứu cơ sở lý luận về triết học, tâm lý học, giáo dục học để biết tiến trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh

Trang 12

- Nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực nói chung và trong Vật lý nói riêng Đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động nhận thức phù hợp với điều kiện học tập của học sinh trong tỉnh, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh

- Các biểu hiện của tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học

- Nghiên cứu nội dung kiến thức phần “Quang hình học”_Vật lý lớp 11 ban Cơ bản Từ

đó, vận dụng lí luận của phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của người học

- Tìm hiểu thực tế dạy và học môn Vật lý ở một số trường trong tỉnh đặc biệt là dạy học phần “Quang hình học”_Vật lý lớp 11ban Cơ bản

- Tiến hành TNSP theo nội dung và tiến trình đã soạn thảo Phân tích kết quả thực nghiệm thu được để đánh giá để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của từng tiến trình Từ đó, nhận xét, rút kinh nghiệm, sửa đổi, bổ sung để có thể vận dụng phương pháp dạy học tích cực, cho các nội dung kiến thức khác trong chương trình Vật lý trung học phổ thông

6 P hương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận:

Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lí luận của phương pháp dạy học tích cực, các phương tiện dạy học trong dạy học Vật lý để làm cơ sở định hướng cho việc thực hiện mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo để xác định mức độ nội dung kiến thức ở phần “Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản mà học sinh cần phải nắm vững

- Phương pháp điều tra: Điều tra thực tế dạy học phần “Quang hình học” Vật lý 11 ban

Cơ bản ở trường về phương pháp, việc sử dụng các phương tiện dạy học, hình thức tổ chức tiết học, đánh giá kết quả của học sinh, những kết quả đạt được

Điều tra những sai lầm, khó khăn của học sinh khi học phần “Quang hình học”_Vật lý 11 ban Cơ bản rồi từ đó xây dựng tiến trình dạy học cụ thể trên cơ sở vận dụng phù hợp lí luận dạy học phát huy tính tích cực

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành TNSP theo kế hoạch Phân tích kết quả thu được trong quá trình TNSP, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài

Trang 13

7 Đóng góp của đề tài

- Góp phần làm rõ thêm cơ sở lí luận về phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong dạy học Vật lý ở trường THPT

- Vận dụng phương pháp dạy học tích cực và các biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực

và sáng tạo của HS vào dạy học phần “Quang hình học”_Vật lý lớp 11 ban Cơ bản, kết quả nghiên cứu có thể làm tư liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học

8 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học Vật lý ở trường THPT

Chương 2: Tổ chức dạy học phần “Quang hình học” _ Vật lý 11 ban Cơ bản theo hướng phát huy tính tính tích cực và tự lực của HS

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG QUÁ

TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THPT

1.1 Bản chất của quá trình dạy học

1.1.1 Bản chất của hoạt động dạy [26], [31]

“Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm xã hội, đồng thời hình thành và phát triển ở họ phẩm chất và năng lực” “Hoạt động dạy của giáo viên là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh thực hiện thành công các hành động học của họ” “Theo quan điểm hiện đại, dạy Vật lý là tổ chức, hướng dẫn cho học sinh thực hiện các hành động Vật lý ” “Để họ tái tạo được kiến thức, kinh nghiệm xã hội và biến chúng thành vốn liếng của mình, đồng thời làm biến đổi bản thân học sinh, hình thành và phát triển những phẩm chất năng lực của họ”

Để thực hiện tốt mục đích của hoạt động dạy thì giáo viên cần phải nghiên cứu hoạt động học, căn cứ vào đặc điểm hoạt động của mỗi đối tượng cụ thể để định ra những hành động dạy thích hợp mà trước hết là những hành động để tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp cho học sinh có thể tự lực thực hiện tốt các hành động học tập

Những hành động chủ yếu của giáo viên trong dạy học Vật lý:

- Xây dựng tình huống có vấn đề

- Lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp

- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hiện một số thao tác cơ bản, một số hành động nhận thức phổ biến

- Xây dựng tình huống có vấn đề có thể tạo ra hứng thú ban đầu Nhưng muốn duy trì được hứng thú, tính tích cực, tự giác trong suốt quá trình hoạt động thì cần phải giúp đỡ học sinh sao cho họ có thể thành công trong khi thực hiện các hành động Càng thành công, học sinh càng cố gắng vươn lên thực hiện các nhiệm vụ khó khăn hơn, phức tạp hơn Nếu thất bại liên tiếp, học sinh sẽ sinh ra chán nản, mất tự tin

- Cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức được sử dụng rộng rãi trong hoạt động nhận thức vật lí Xu hướng hiện đại ngày nay trên thế giới coi kiến thức về phương pháp hoạt động là một loại kiến thức cơ bản quan trọng, kiến thức công cụ

Trang 15

- Hướng dẫn, tạo điều kiện để học sinh phát biểu, trao đổi, tranh luận về các kết quả hành động của mình, động viên khuyến khích kịp thời

- Lựa chọn và cung cấp cho học sinh những phương tiện, công cụ cần thiết để thực hiện các hành động

Vậy nếu học là hành động của học sinh xây dựng kiến thức cho bản thân mình và vận dụng kiến thức của mình thì dạy học là dạy hành động (hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) Vì vậy trong dạy học, giáo viên cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của học sinh để qua đó học sinh chiềm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện Việc tổ chức hoạt động học tập Vật lý cho học sinh là tổ chức các hành động tương ứng với các hành động thành tố trong tiến trình nhận thức khoa học

Tuy nhiên, để giúp học sinh hoạt động học tập tích cực, tự lực và sáng tạo có thể lựa chọn

và vận dụng một số hành động cơ bản như sau:

- Phát hiện vấn đề mới trong một tình huống cụ thể

- Dự đoán một phương thức tìm tòi một thuộc tính, một mối quan hệ (suy đoán giải pháp)

- Tìm các thuộc tính, các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng bằng suy luận logic hoặc suy luận toán học (giải pháp lí thuyết), bằng con đường quan sát, thí nghiệm (giải pháp thực nghiệm), từ trực giác trên cơ sở các quan sát, thí nghiệm, suy luận đề xuất giả thuyết

- Thiết kế một phương án thí nghiệm nhằm kiểm tra một giả thuyết (hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết), một kết luận được khái quát hóa

- Đánh giá kết quả đạt được trong việc thiết kế thí nghiệm, kiểm tra giả thuyết

- Vận dụng kiến thức xây dựng để giải quyết những vấn đề thực tiễn, cụ thể như: giải thích, tiên đoán hiện tượng, giải những bài tập Vật lý

- Hành động giải toán, phát biểu: định nghĩa, ý nghĩa Vật lý của đại lượng Vật lý hay định luật Vật lý

- Đo một đại lượng Vật lý

Tóm lại kiến thức của mỗi người là do bản thân mình xây dựng, là kết quả hoạt động của

bộ óc của chủ thể phản ánh thực tế khách quan, đồng thời đó là quá trình góp phần làm phát triển các năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của người học Việc học phải là quá trình hình thành và phát triển các dạng hành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể với

Trang 16

các tình huống Và trong quá trình dạy học, học sinh phải được hoạt động trong sự hợp tác giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh Giáo viên là người tạo ra các điều kiện khách quan giúp cho học sinh độc lập, tích cực, tự lực, sáng tạo trong nhận thức, là người giúp đỡ, định hướng, điều chỉnh hoạt động của học sinh

1.1.2 Bản chất của hoạt động học

Đặc điểm của hoạt động học [18], [23], [31]

Theo tác giả Nguyễn Đức Thâm “Hoạt động học là một hoạt động đặc thù của con người nhằm tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà loài người tích lũy được, đồng thời phát triển những phẩm chất năng lực của người học” Hoạt động nào cũng có đối tượng Thông thường, các hoạt động khác có đối tượng là một khách thể, hoạt động hướng vào làm biến đổi đối tượng Nhưng hoạt động học lại làm biến đổi chính chủ thể là người học Nhờ có hoạt động học mà xảy ra sự biến đổi bản thân của học sinh, sản phẩm hoạt động học là những biến đổi của chính bản thân chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động Học trong hoạt động, học bằng hoạt động học Những tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm mà người học tái tạo lại không có gì mới đối với nhân loại, nhưng những biến đổi trong bản thân người học, sự hình thành những phẩm chất và năng lực ở người học thực sự là những thành tựu mới, chúng giúp cho người học sau này sáng tạo ra được những giá trị mới

Cấu trúc của hoạt động học

- Theo lí thuyết hoạt động, hoạt động học có cấu trúc gồm nhiều thành phần, có quan hệ

và tác động lẫn nhau như hình 1.1

Phương tiện điều kiện Thao tác

Hình 1.1 Cấu trúc tâm lí hoạt động

Trang 17

Hoạt động của chủ thể tồn tại tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó Hoạt động

có đối tượng cấu thành từ các hành động Hành động gồm các thao tác Hành động có mục đích, điều kiện, phương tiện cụ thể

Động cơ học tập kích thích sự tự lực, tích cực, thúc đẩy sự hình thành và duy trì, phát triển hoạt động học, đưa đến kết quả cuối cùng là thỏa mãn được lòng khao khát mong ước của người học Muốn thỏa mãn động cơ ấy, phải thực hiện lần lượt những hành động để đạt được những mục đích cụ thể Mỗi hành động được thực hiện bằng nhiều thao tác, sắp xếp theo một trình tự xác định Ứng với mỗi thao tác trong những điều kiện cụ thể là những phương tiện, công cụ thích hợp

Động cơ học tập có thể được kích thích, hình thành từ những kích thích bên ngoài người học, nhưng quan trọng nhất, có khả năng thường xuyên được củng cố và phát triển, có hiệu quả bền vững là sự kích thích bên trong bằng mâu thuẫn nhận thức, mâu thuẫn giữa nhiệm

vụ mới phải giải quyết và khả năng hạn chế hiện có của học sinh, cần có một sự cố gắng vươn lên tìm kiếm một giải pháp mới, xây dựng một kiến thức mới “động cơ tự hoàn thiện bản thân mình” Việc thường xuyên tham gia vào việc giải quyết những mâu thuẫn này sẽ tạo ra thói quen, lòng ham thích hoạt động, hoạt động tự lực và tích cực, hoạt động càng có kết quả thì động cơ càng được củng cố

Mục đích của hoạt động học được thể hiện ở nhiệm vụ cụ thể của mỗi môn học, mỗi phần của môn học và cụ thể nhất là ở mỗi bài học Đó là mục tiêu cụ thể mà học sinh phải đạt được sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi phần, mỗi môn học mà ta có thể đánh giá được Để thực hiện mỗi mục đích cụ thể, phải thực hiện những hành động tương ứng Nhiệm vụ bài học thường được diễn đạt dưới dạng các “ bài toán nhận thức” hay “vấn đề nhận thức” mà nếu giải được nó thì học sinh sẽ đạt được mục đích đề ra Trong các hành động, có hành động vật chất và hành động trí tuệ Trong khi thực hiện một hành động, ta phải sử dụng một

số phương tiện, trong những điều kiện cụ thể Khi sử dụng những phương tiện, điều kiện đó

là đã thực hiện những thao tác Tương ứng với hành động vật chất và hành động trí tuệ có hai loại thao tác là thao tác tay chân và thao tác trí tuệ Trong thao tác tay chân thì sử dụng những công cụ, phương tiện vật chất như mắt, tay, dụng cụ thí nghiệm, máy đo, đối với loại thao tác này thì ta có thể quan sát được quá trình thực hiện chúng nên có thể can thiệp trực tiếp vào quá trình đó để uốn nắn, rèn luyện làm cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo thực hiện chúng một cách đúng đắn, có hiệu quả Còn thao tác trí tuệ hoàn toàn diễn ra trong nảo,

Trang 18

biết được kết quả khi học sinh thông báo ý nghĩ của họ Những thao tác trí tuệ có vai trò to lớn, quyết định trong nhận thức khoa học nên việc rèn luyện cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo thực hiện các thao tác tưduy trong học tập vật lí luôn luôn là vần đề thời sự, còn nhiều khó khăn

* Những hành động phổ biến trong hoạt động nhận thức Vật lý

Theo tác giả Nguyễn Đức Thâm thì có nhiều hành động khác nhau trong nghiên cứu Vật

lý Nhưng trong học tập Vật lý ở trường phổ thông thì có những hành động phổ biến sau:

- Quan sát, nhận biết dấu hiệu đặc trưng của sự vật hiện tượng

- Phân tích một hiện tượng phức tạp ra thành những hiện tượng đơn giản

- Xác định những giai đoạn diễn biến của hiện tượng

- Tìm các dấu hiệu giống nhau của các sự vật hiện tượng

- Bố trí một thí nghiệm để tạo ra một hiện tượng trong những điều kiện xác định

- Tìm những tính chất chung của nhiều sự vật, hiện tượng

- Tìm mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng

- Tìm mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng

- Mô hình hóa những sự kiện thực tế quan sát được dưới dạng những khái niệm, những

mô hình lí tưởng để sử dụng chúng làm công cụ của tư duy

- Đo một đại lượng vật lí

-Tìm mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng vật lí, biểu diễn bằng công cụ toán học

- Dự đoán diễn biến của một hiện tượng trong những điều kiện thực tế xác định

- Giải thích một hiện tượng thực tế

- Xây dựng một giả thuyết

- Từ giả thuyết suy ra một hệ quả

- Lập phương án thí nghiệm để kiểm tra một giả thuyết (hệ quả)

- Tìm những biểu hiện cụ thể trong thực tế của những khái niệm, định luật Vật lý

- Diễn đạt bằng lời những kết quả thu được qua hành động

- Đánh giá kết quả hành động

- Tìm phương pháp chung để giải quyết một loạt vấn đề

Để thực hiện những hành động vật lí trên thì học sinh cần dùng những thao tác phổ biến sau:

Trang 19

- Thu thập tài liệu, số liệu thực nghiệm

- Thay đổi các điều kiện thí nghiệm

Thao tác tư duy:

Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quá hóa, cụ thể hóa, suy luận quy nạp, suy luận diễn dịch, suy luận tương tự

- Học là những hoạt động của học sinh tìm kiếm kiến thức dưới sự tổ chức, định hướng

và giúp đỡ của giáo viên, nhằm đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng, thái độ và chuyển chúng thành kinh nghiệm của bản thân

- Theo quan điểm tâm lý học tư duy thì sự học là quá trình hình thành và phát triển các cách thức hành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể với tình huống thông qua sự đồng hoá và sự điều ứng Hoạt động của chủ thể tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó

- Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin

1.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học

- Quá trình dạy học là một quá trình thống nhất bao gồm quá trình dạy và quá trình học,

là hệ thống hoạt động tương tác lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh Trong hệ thống đó mỗi chủ thể tác động lẫn nhau có chức năng và vai trò của mình

- Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức: mục đích của dạy học là giúp cho người học lĩnh hội được tri thức của nhân loại

- Quá trình dạy học là một quá trình tâm lý: dạy học phải đi trước, thúc đẩy sự phát triển của các chức năng tâm lý như ý chí, động cơ, thái độ học tập; cơ chế của hoạt động nhận thức; phát triển và hoàn thiện nhân cách

- Quá trình dạy học là một quá trình xã hội: sự tương tác giữa người với người; nội dung dạy học là tri thức của loài người; mục đích học tập do xã hội đề ra Như vậy, ta có thể hiểu hoạt động dạy - học là sự luân phiên theo những quy luật của hoạt động nhận thức Nó mang

Trang 20

tính hai chiều và luôn phải có sự tác động qua lại giữa người dạy và người học; sự tác động qua lại này được diễn ra trong những điều kiện xác định, bao gồm: chương trình, nội dung, tài liệu, giảng dạy, tâm lý, đạo đức, thẩm mỹ…

- Bản chất của hoạt động dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định tới hành vi và quá trình học tập của người học, tạo ra môi trường và điều kiện để duy trì việc học, kiểm soát quá trình và kết quả học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập Dạy học chính là cơ cấu và quy trình tác động đến người học và quá trình học

1.2 Tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong quá trình dạy học

1.2.1 Tính tích cực học tập của HS [9], [15], [19], [33], [37]

“Tính tích cực, nét tính cách rất quan trọng trong nhân cách thể hiện ở năng lực làm thay đổi thực tiễn, theo nhu cầu, mục đích của mình trong hoạt động sản xuất, học tập, sáng tạo, đấu tranh, …” Tiến sĩ I.F Khalamốp thì coi nó là trạng thái hoạt động của các chủ thể, nghĩa là của người hành động chỉ đề cập trong quá trình nhận thức, thuộc mục đích trước mắt Như vậy, khi vận dụng vào PPDH thì quan niệm của I.F Khalamốp là phù hợp hơn Nói chung, tính tích cực là trạng thái hoạt động của các chủ thể, nghĩa là của người hành động Vậy tính tích cực học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức

GS Trần Bá Hoành cũng quan niệm, "Tính tích cực học tập là trạng thái hoạt động của

HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Nói cách khác, là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các hoạt động tri giác nhằm lỉnh hội những kinh nghiệm trong xã hội”

Nói tóm lại tính tích cực là một phẩm chất vốn có và cần có của con người trong đời sống

xã hội

- Việc hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể coi tính tích cực như là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục + Đặc điểm của tính tích cực: Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động tạo ra các sản phẩm phục vụ cho xã hội, bằng lao động, sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo

ra nền văn hoá ở mỗi thời đại Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm

Trang 21

vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách của quá trình giáo dục tính tích cực thể hiện ở hai mặt: tự phát và tự giác

- Tính tích cực tự phát là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi của mỗi người Chúng ta cần nuôi dưỡng, coi trọng

và phát triển chúng trong quá trình dạy học

- Tính tích cực tự giác là trạng thái tâm lý tích cực, có mục đích và đối tượng rõ rệt, thể hiện ở tính chủ động trong quan sát, nhận xét, phân tích và chiếm lĩnh đối tượng

+ Tính tích cực trong hoạt động học thể hiện ở:

- Óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học

- Sự độc lập trong việc tiếp nhận và giải quyết các nhiệm vụ học tập

- Tích cực trong hoạt động nhận thức: chủ động trong quá trình phát hiện, tìm hiểu và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên

- Có khát vọng hiểu biết, nỗ lực trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

- Tính tích cực trong hoạt động học còn thể hiện ở sự hứng thú trong việc nghiên cứu tri thức mới, sẵn sàng của tư duy, sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng kiến thức

- Tính tích cực nẩy sinh trong quá trình học tập, nhưng nó lại là hậu quả của nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân xuất phát trong quá trình học tập, có những nguyên nhân được hình thành trong quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách

- Quyết tâm vượt khó trong quá trình học tập, tự giác tham gia vào các hoạt động học, chủ động trao đổi với nhau và với giáo viên, không tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà thường hay phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích những vấn đề chưa hiểu rõ, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn

- Khi đạt tới một trình độ nhất định, việc học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học

+ Tính tích cực học tập đạt những cấp độ từ thấp đến cao:

- Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của giáo viên

- Tìm tòi: độc lập giải quyết những vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề

Trang 22

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu ích

- Tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào những nhân tố sau: hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, tính cách, sức khỏe, môi trường

+ Để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh thì hứng thú là vấn đề đáng quan tâm nhất vì:

- Nó được hình thành một cách nhanh chóng và ở bất cứ lúc nào trong quá trình dạy học

- Điều quan trọng hơn cả là người thầy có thể điều khiển hứng thú của học sinh qua các yếu tố của quá trình dạy học: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học; qua các bước lên lớp, giảng bài mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức; qua mối quan hệ thầy trò…

Để kích thích hứng thú học tập của học sinh điều quan trọng nhất là phải nắm được khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của học sinh

1.2.2 Tính tự lực học tập của HS [20], [27], [33]

Tính tự lực là một phẩm chất nhân cách Tính tự lực có liên quan chặt chẽ đến biểu hiện tích cực, ý chí, tình cảm, các quá trình nhận thức,…của con người Và trong quá trình học tập, HS phải biết sáng tạo khi tiếp thu tri thức, hình thành thái độ, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Hoạt động học tập thực chất là hoạt động nhận thức Ở đây thì tính tự lực nhận thức là hạt nhân của tính tự lực trong quá trình học tập

- Theo nghĩa rộng, bản chất của tính tự lực nhận thức là sự sẳn sàng về mặt tâm lý cho sự

tự học Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho hoạt động học tập có mục đích, có kế hoạch, có sự điều chỉnh và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả HS suy đoán được diễn biến những quá trình trí tuệ, cảm xúc, động cơ ý chí của mình, đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạt kết quả học tập nhất định HS biết huy động mọi sức lực, thể lực, trí lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ học tập Từ đó có thể nêu lên khái niệm tính tự lực học tập như sau: ”Tính tự lực học tập là một phẩm chất nhân cách quan trọng của con người được hình thành trong quá trình hoạt động học tập của

HS HS xác định mục đích, động cơ học tập đúng đắn, luôn bồi dưỡng năng lực học tập, tự

tổ chức học tập cho bản thân, có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực, ý chí nhằm lĩnh hội tri thức, rèn luyên kĩ năng kĩ xảo để thoả mãn nhu cầu nhận thức nói chung và học tập nói riêng”

Trang 23

+ Những biểu hiện hành vi của tính tự lực học tập của HS trong và ngoài giờ học thể hiện

ở bảng 1.1

Bảng 1.1: Biểu hiện hành vi của tính tự lực học tập trong và ngoài giờ học

Chú ý nghe giảng và chép bài đầy đủ

Nghiêm túc trong kiểm tra, trong các

thí nghiệm thực hành

Nỗ lực cao về trí tuệ, ý chí, thể lực

Học bài cũ Tham gia các hoạt động ngoại khóa Hoàn thành bài tập về nhà

Chủ động tìm kiếm bài tập, tư liệu ở thầy cô và bạn bè

Trao đổi bài học với bạn bè và thầy cô Khái quát kiến thức bài học

Lập kế hoạch học tập hằng ngày

Tự kiểm tra kiến thức đã tiếp thu

Để đào tạo nguồn nhân lực có đủ đức, trí, thể, mỹ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngoài việc rèn luyện cho học sinh tính tích cực trong học tập còn phải hướng học sinh đến khả năng tự lực khám phá tri thức Theo quan điểm giáo dục hiện nay, tính tự lực trong học tập được hiểu là:

- Tự học, tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, tức là cá nhân hoá việc học

- Tự mình khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có, chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt

- Người học tự mình trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách nghĩ của mình, từ đó tiếp thu được kiến thức mới, kĩ năng mới, bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Trang 24

- Ngoài ra, người học còn tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng

1.2.3 Tính sáng tạo trong học tập của HS [20], [26], [33]

Sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra được cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới

- Để rèn luyện tính sáng tạo của HS trong học tập nói chung và trong học tập môn Vật lý nói riêng cần phải xem xét tới một đặc điểm tâm lý của quá trình sáng tạo

- Một trong những đặc điểm quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính mới mẽ của sản phẩm Theo tâm lí học sản phẩm mới mẻ có vai trò quan trọng đối với hoạt động học tập sáng tạo Cái mới và cái chưa biết đối với HS có thể là cái đã biết đối với GV nhưng cũng

có thể là cái mà GV chưa biết (ví dụ như giải một cách độc đáo một bài tập)

- Năng lực sáng tạo của mổi cá nhân thể hiện ở chổ cá nhân đó có thể mang lại những giá trị mới, những sản phẩm mới quý giá đối với nhân loại

- Đối với HS, tính sáng tạo trong học tập chính là khả năng biết giả quyết vấn đề, để tìm

ra cái mới ở mức độ nào đó thể hiện được khuynh hướng, năng lực, kinh nghiệm của cá nhân học sinh Học sinh sáng tạo cái mới đối với bản thân nhưng thường không có giá trị xã hội Để có sáng tạo, chủ thể phải ở trong tình huống có vấn đề, tìm cách giải quyết mâu thuẩn trong nhận thức hoặc hành động và kết quả là đề ra phương án giải quyết không giống bình thường mà có tính mới mẻ đối với học sinh Tóm lại, đối với tính sạng tạo trong học tập là năng lực tìm ra cái mới, năng lực phát hiện ra vấn đề chưa biết, chưa có và tạo ra cái chưa biết, chưa có mà nó không bị bó buộc vào cái đã có

Năng lực sáng tạo không phải chỉ là bẩm sinh mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể Vì vậy muốn phát triển tính sáng tạo cho học sinh, giáo viên phải rèn luyện cho học sinh thói quen nhìn nhận mổi sự kiện dưới những góc độ khác nhau, biết đặt ra nhiều giả thuyết khi giải thích một hiện tượng, biết đề xuất nhiều phương án khác nhau khi giải quyết một tình huống Cần giáo duc cho học sinh không vội vã bằng lòng với giải pháp đầu tiên được đề xuất, không suy nghỉ cứng nhắc theo quy tắc đã được học trước

đó, không vận dụng máy móc những mô hình hành động đã gặp trong sách vở Đây là những biể hiện về sự linh hoạt, sự mới mẻ trong tư duy sáng tạo của học sinh

+ Những biểu hiện về tính sáng tạo của học sinh trong học tập môn Vật lý

Trang 25

Tính sáng tạo của học sinh chỉ được phát triển thông qua các hoạt động thực tế như: trong chiếm lỉnh tri thức Vật lý, vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng Vật lý, làm thí nghiệm, giải ác bài tập Vật lý trong những tình huống khác nhau…

Trong dạy học Vật lý chúng ta có thể bồi dưỡng tính sáng tạo cho học sinh như:

- Năng lực phán đoán đưa ra giả thuyết khoa học

- Năng lực đề xuất ra phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết đưa ra

- Năng lực chuyển tải các tri thức và kĩ năng đã biết sang một tình huống mới

- Năng lực nhìn thấy những vấn đề mới trong điều kiện quen biết

- Năng lực tìm ra những chức năng mới trong những đối tượng quen biết

- Năng lực nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu

- Đứng trước một bài toán có năng lực nhìn thấy nhiều lời giải, nhiều cách nhìn đối với viêc tìm kiếm lời giải

- Một bài toán có nhiều cách giải nhưng biết chọn cách giải bài toán độc đáo

1.3 Một số phương pháp dạy học phát huy cao tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong quá trình dạy học Vật lý ở trường THPT

Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ PPDH truyền thống Trong hệ thống các PPDH quen thuộc đã được sử dụng trong mấy thập kỉ gần đây cũng đã có nhiều

PP tích cực Việc đổi mới PPDH cần kế thừa và phát triển những PPDH đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện ở nước ta, để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc Theo quan điểm về PPDHTC, một số PPDH dưới đây cần được quan tâm trong việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh

Trang 26

thứ tự hỏi Giáo viên cũng cần dự kiến các phương án trả lời của HS để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ, tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập của HSvà tăng hấp dẫn của giờ học Căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh, mục tiêu của mỗi hoạt động nhận thức mà người giáo viên lựa chọn các mức độ vấn đáp cho phù hợp Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh hoạ và vấn đáp tìm tòi

- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại những kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Đây là một biện pháp được dùng khi cần đặt mối quan hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức mới chuẩn bị tiếp cận, hoặc củng cố kiến thức vừa mới học

- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục tiêu làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để làm HS dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng phương tiện nghe nhìn

- Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng dẫn

HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến (kể cả tranh lụân) giữa thầy và cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, GV giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn HS giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS có được niềm vui của sự khám phá, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy

1.3.2 Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề [19], [26], [32], [34]

Trong một xã hội phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành đạt trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, tự lực và sáng tạo Chuẩn bị được một năng lực thích ứng với đời sống xã hội Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù PPDH, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với PPDH

Trang 27

Nội dung cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là đặt ra trước HS một hệ thống tình huống có vấn đề, những điều kiện đảm bảo việc giải quyết các vấn đề đó và những chỉ dẫn nhằm đưa HSvào con đường tự lực giải quyết các vấn đề đã đặt ra Bằng con đường đó, không những HS thu được những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới mà họ còn rèn luyện năng lực tự lực nhận thức và phát triển được năng lực sáng tạo

Quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể chia thành ba giai đoạn:

Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức: Công việc của giai đoạn này là:

- Tạo tình huống có vấn đề

- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh

- Phát biểu vấn đề cần giải quyết

Mục đích chính của giai đoạn này là làm xuất hiện trước HS mâu thuẫn nhận thức, giúp

HS xác định rõ nhiệm vụ nhận thức và tiếp nhận nó, tức là tạo ra nhu cầu nhận thức của học sinh Kích thích ở HS hứng thú nhận thức sao cho các em phấn khởi, sẵn sàng giải quyết vấn đề một cách liên tục Cấn chú ý khi đưa ra tính huống có vấn đề là phải đảm bảo tính vừa sức, đòi hỏi tư duy của HS những không quá khó làm HS mất hứng thú Khi HS giải quyết được các khó khăn gặp phải sẽ củng cố niềm tin cho các em

Giải quyết vấn đề đặt ra: Các công việc của giai đoạn này là:

- Đề xuất các giả thuyết

- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

- Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề

Mục đích của giai đoạn này là đưa HSvào con đường tự lực, khai thác kiến thức; làm cho

HS quen dần với phương pháp khoa học trong nghiên cứu và giải quyết vấn đề Để đạt được mục đích ấy, giai đoạn này gồm hai yếu tố cơ bản: Xây dựng giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết, kiểm tra và vận dụng kết quả

Các công việc cụ thể của giai đoạn này là:

- Thảo luận kết quả và đánh giá

- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra

- Phát biểu kết luận

- Đề xuất vấn đề mới

Trong giai đoạn này, chú ý cho HSvận dụng sáng tạo các tri thức đã thu nhận được, tức là

Trang 28

thu nhận kiến thức Tuỳ theo mức độ tham gia của HS vào quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn đề, người ta phân chia dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thành bốn mức độ: Mức 1: Giáo viên nêu vấn đề và nêu cách giải quyết vấn đề; HSthực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá

kết quả làm việc của học sinh

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và HS cùng đánh giá

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống, HS phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp, HS thực hiện cách giải quyết vấn

đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên cùng HSđánh giá

Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết HS giải quyết vấn

đề, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả

1.3.3 Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ [9], [26], [34]

PPDH hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy những gì mình cần học hỏi thêm Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng HS với sự việc chung của cả lớp Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và điều quan trọng trong phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH, hoạt động nhómcàng nhiều thì chứng tỏ phương pháp càng đổi mới Thực hiện theo phương pháp này, lớp học được chia thành nhóm nhỏ từ

4 đến 6 người Tuỳ mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chỉ định, được duy trì ổn định hoặc thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau Mỗi nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ

Trang 29

mỗi người đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào thành quả học tập chung của cả lớp

Tiến trình của một tiết học (hoặc một buổi học) hoạt động theo nhóm có thể thực hiện như sau:

Làm việc chung cả lớp

- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm

Làm việc theo nhóm

- Phân công trong nhóm

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong

nhóm

- Cử đại diện (hoặc phân công) người trình bày kết quả

Tổng kết trước lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

- Thảo luận chung

- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong giờ học

+ Đặc điểm của dạy học theo dự án

Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm

Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã

hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học

Trang 30

- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà

trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các

dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù

hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học

khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu

lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

- Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực

vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự

cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản

phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

+ Mục tiêu của dạy học theo dự án

- Tạo ra một sản phẩm

- Thực hành nghiên cứu

- Giải quyết một vấn đề

Trang 31

1.4 Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong dạy học Vật lý ở trường THPT [25], [27], [33]

1.4.1 Kích thích hứng thú và sự chú ý của học sinh đối với kiến thức

Tính tích cực của học sinh sẽ được kích thích khi họ tin rằng nhiệm vụ mà họ đang thực hiện liên quan đến mục tiêu cá nhân của họ Do vậy giáo viên cần phải biết tạo mối liên hệ giữa mục tiêu chung của quá trình giảng dạy với mục tiêu riêng của học sinh để thực hiện việc xây dựng nhiệm vụ học tập cho các em Mặt khác học sinh thường chỉ hứng thú với những nhiệm vụ phù hợp với khả năng, với trình độ, với bản chất của mình và chỉ với những nhiệm vụ đó các em mới cố gắng để hoàn thành tốt nhiệm vụ một cách xuất sắc Nhưng nói như thế không có nghĩa là chỉ giao cho các em những nhiệm vụ quen thuộc mà hãy xen vào đó từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp những nhiệm vụ khác và nhớ là hãy đặt niềm tin vào học sinh, có như thế thì thái độ và mục tiêu học tập của họ mới được nuôi dưỡng và phát triển

Trong Vật lý học, có những kiến thức khi mới chỉ trình bày trong sách giáo khoa hay tài liệu học tập đã bộc lộ ra được tính hấp dẫn của nó và tự nó đã có thể kích thích hứng thú cũng như sự chú ý của học sinh mà giáo viên không cần thiết phải gia công thêm hay tìm kiếm cách thức trình bày nào gây tác dụng tích cực đến học sinh Ngược lại, có những kiến thức mà sự mới mẻ của nó không hề gây ra một cảm giác thích thú nào đối với học sinh, khi

đó giáo viên cần phân tích rõ nội dung kiến thức mới để học sinh thấy được mối liên hệ của

nó với thực tế Đôi lúc lại có trường hợp những kiến thức đó học sinh đã thấy, biết và hiểu

nó thông qua thực tế cuộc sống hay từ các nguồn thông tin khác, vì thế mà những kiến thức này không cuốn hút được sự tập trung chú ý của học sinh Trong những trường hợp này bắt đầu cần đến thủ thuật riêng của mỗi giáo viên, phải làm thế nào vạch ra cho học sinh thấy sự khác biệt giữa những nội dung kiến thức đã biết với những nội dung kiến thức mới nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào kiến thức mới đó

Nhưng vấn đề lại là ở chỗ, hầu hết các kiến thức Vật lý mới lại nằm giữa hai thái cực này

Do vậy để có thể kích thích hứng thú và sự chú ý của học sinh đối với kiến thức Vật lý mới

có thể bắt đầu với các công việc sau:

+ Lựa chọn từ ngữ để chuyển ý từ đề tài này sang đề tài khác dựa trên mối liên hệ giữa các đề tài với nhau; phải đánh bật lợi ích, tính mới lạ, sự cần thiết phải bổ sung và phát triển

đề tài mới so với cũ

Trang 32

+ Tạo tình huống có vấn đề, nghĩa là phải đưa ra cho học sinh thấy được những lợi ích và

sự cần thiết khi vấn đề đặt ra được giải quyết nhưng đồng thời cũng cho thấy sự bế tắc và cần phải được bổ sung thêm những hiểu biết của học sinh về vấn đề này bằng những nỗ lực

cá nhân Tình huống có vấn đề thường xuất hiện dưới dạng những hiện tượng, sự kiện Vật

lý bất thường, những điều có vẻ nghịch lý và có thể không thể xảy ra được

+ Đưa ra mục tiêu và tìm cách đạt được mục tiêu đó Nhờ đó hình thành phương hướng cho hoạt động học tập đồng thời rèn luyện thói quen làm việc hết mình của học sinh

+ Cần kết hợp nội dung giảng dạy với các phương tiện dạy học hiện đại (các dụng cụ thí nghiệm, âm thanh, hình ảnh tĩnh hay động, các phầm mềm hỗ trợ…)

+ Phải thường xuyên kiểm tra và đánh giá sự lĩnh hội kiến thức của học sinh (bao gồm việc tiếp nhận kiến thức và khả năng vận dụng kiến thức mới )

1.4.2 Tăng cường công việc của HS với SGK, BT và TN Vật lý

a Công việc của HS với SGK Vật lý

Sách giáo khoa vật lý hiện nay đã có một sự thay đổi đáng kể so với sách giáo khoa cải cách giáo dục trước đây: ở mỗi đầu chương hay đầu mỗi bài học thường đưa ra những tình huống có vấn đề, những hiện tượng thường thấy trong tự nhiên, những ứng dụng trong khoa học kỹ thuật và đời sống liên quan với nội dung sắp trình bày, vì thế sách giáo khoa hiện nay góp phần kích thích trí tò mò hay tìm hiểu hay khám phá của học sinh nếu như học sinh được đọc chúng, nhờ đó phát huy được tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập Vật

Thêm vào đó, sách giáo khoa vật lý hiện nay có phần trình bày thêm những nội dung, những bài đọc thêm, những thí nghiệm, những định luật không đủ điều kiện thực hiện (vì cấu tạo và cách thức hoạt động của các lọai thiết bị khá phức tạp) Cho học sinh đọc những phần này sẽ giúp đào sâu hoặc mở rộng tầm hiểu biết về một kiến thức vật lý nào đó cho học sinh

Ngoài ra, sách giáo khoa còn đề ra các hoạt động cho học sinh, vì vậy nếu giáo viên có cách tổ chức cho học sinh họat động cá nhân hoặc hoạt động nhóm (tùy trường hợp) một cách phù hợp sẽ làm tăng cường tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh, nhờ vậy học sinh sẽ trưởng thành cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ và cả về phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu khoa học

Trang 33

Hơn nữa, sách giáo khoa Vật lý hiện nay có nhiều tranh ảnh rõ nét, màu sắc thực, những bảng số liệu cụ thể giúp học sinh dễ quan sát và theo dõi khi kết hợp với việc nghe lời giảng của giáo viên, qua đó giúp luyện thêm các giác quan cho học sinh (thị giác và thính giác) Ngoài ra, sách giáo khoa còn có những tác dụng tích cực đối với học sinh khi sử dụng ở nhà Bởi vì, khi ở nhà học sinh sẽ có nhiều thời gian hơn để đọc nó nhằm chuẩn bị bài mới hoặc củng cố, đào sâu thêm những kiến thức được học trên lớp thông qua những ví dụ hay bài đọc thêm

Tuy nhiên, để việc sử dụng sách giáo khoa ở nhà đạt hiệu quả cao cần có sự hỗ trợ của giáo viên, mà cụ thể là giáo viên nên giao công việc cho từng cá nhân hoặc từng nhóm nhỏ dưới dạng nhiệm vụ học tập: chẳng hạn như trả lời các câu hỏi nhằm phục vụ cho việc xây dựng bài học mới hay kiến thức mới, nhờ đó kích thích học sinh phải làm việc với sách giáo khoa: từ việc tìm kiếm thông tin đến việc tiếp nhận thông tin và cuối cùng là chế biến nó theo suy nghĩ riêng để thực hiện nhiệm vụ học tập được giao; hoặc có thể giáo viên chỉ dẫn

để học sinh có thể sử dụng sách giáo khoa như một tài liệu cho việc định hướng học sinh thực hiện một bài tổng kết chương hay tổng kết một phần nào đó theo suy nghĩ riêng của từng học sinh

b Công việc của HS với BT Vật lý

Giải bài tập là một họat động trí óc gồm những thao tác đa dạng phức tạp nhưng xét cho cùng thì luôn là sự đối chiếu các điều kiện với các yêu cầu của bài, phân tích lý giải nhằm tìm ra mối liên hệ đã có để giải quyết mâu thuẩn giữa điều kiện và yêu cầu

Vật lý là bộ môn khoa học gắn liền với cuộc sống, chính vì điều đó mà giải bài tập vật lý không chỉ là những công việc trên mà còn là tìm ra mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tế Do vậy giáo viên chúng ta cần hiểu rằng việc giải các bài tập vật lý không phải là mục đích của dạy học, mà mục đích chính của công việc này là giúp học sinh hiểu rõ hơn nội dung kiến thức vừa học, biết cách ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn qua đó rèn luyện kỹ năng phân tích tổng hợp, đào sâu mở rộng một kiến thức đã biết, kỹ năng suy luận tính toán, đồng thời phát huy cách làm việc tự lực, tính kiên trì vượt khó và đặc biệt là phát huy năng lực tư duy sáng tạo của học sinh

Đối với học sinh, cần loại ra khỏi suy nghĩ của chúng việc giải bài tập là đi lựa chọn một cách máy móc những công thức có chứa các đại lượng đã cho hoặc những đại lượng cần tìm, cũng như tránh để cho những con số và các phép tính toán trong khi giải làm che khuất

Trang 34

hoặc lu mờ đi việc tìm hiểu ý nghĩa quan trong trong một bài tập Vật lý Nhưng một thực tế

thường thấy, việc giải một bài tập Vật lý ở trường phổ thông hiện nay thường thực hiện theo các bước sau:

- Đọc đề bài

- Giáo viên phân tích hướng dẫn trình tự làm bài

- Yêu cầu một học sinh lên bảng giải, các học sinh khác ngồi tại chỗ giải

Với cách làm này, với những học sinh chưa ý thức được vai trò của việc giải bài tập Vật

lý sẽ không tích cực, tự lực suy nghĩ về ý nghĩa bài tập đó mà hầu như chỉ tập trung vào các phép tính toán dựa trên một trình tự đã được bày sẵn giống như việc đi chép lại ý tưởng của giáo viên hay của một vài bạn tích cực nào đó trong lớp Nhưng phải làm sao đây hay chỉ còn cách trông chờ vào ý thức tự giác của mỗi học sinh Dưới đây sẽ là những biện pháp giúp giáo viên và cả học sinh đạt kết quả như ý muốn với công việc giải bài tập Vật lý

● Về nội dung bài tập Vật lý:

+ Trước hết bài tập phải được xây dựng một cách có hệ thống, từ dễ đến khó; từ biết, hiểu, vận dụng, rồi phân tích tổng hợp,…; lọai bài tập vận dụng cũng phải chú ý nội dung của nó phải đi từ những hiện tượng rất gần gũi với cuộc sống xung quanh đến những vận dụng có tính khoa học và phức tạp hơn, để học sinh dễ hình dung và tưởng tượng

+ Bài tập sau phải nhằm giải quyết một bế tắc ở bài tập trước hoặc một tình huống mới

mà bài tập trước chưa nhắc đến nhằm kích thích hứng thú và tính tò mò của học sinh tạo ra động cơ học tập tốt

+ Bài tập định tính nên xếp trước vì thông thường các bài tập loại này hay là việc giải thích một hiện tượng hay một lý do xảy ra hiện tượng Do vậy học sinh chỉ cần hiểu và thêm

vào một tí kỹ năng vận dụng là đã làm được các bài toán đơn giản

+ Bài tập thí nghiệm thường được đưa ra sau cùng vì đôi khi để giải được loại bài tập loại này đòi hỏi học sinh phải có một quá trình tích cực nghiên cứu, suy nghĩ để thiết kế một thí nghiệm ở nhà hoặc ở phòng thí nghiệm mới hy vọng giải được nó

+ Bài tập định lượng: đây là loại bài tập mà học sinh có vẽ thích thú nhất vì nó cụ thể, rõ ràng thông qua những con số Do vậy cần phải khai thác triệt để tính tích cực, tự lực và khả năng tư duy của học sinh thông qua loại bài tập này

c Sử dụng TN Vật lý

Trang 35

Trong dạy học Vật lý, thí nghiệm Vật lý không chỉ để minh họa bài giảng mà còn được

sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học, dưới mọi hình thức đa dạng và phong phú như: đặt vấn đề bằng cách tạo ra những tình huống có vấn đề bằng thí nghiệm; hình thành kiến thức mới thông qua khảo sát, minh họa hay kiểm tra các giả thuyết đã đưa ra; củng cố

và vận dụng các kiến thức đã học mà cụ thể là đề cập đến những ứng dụng của kiến thức vật

lý đó vào trong sản xuất và đời sống; hay là dùng để kiểm tra, đánh giá sự lĩnh hội về kiến thức, kỹ năng của học sinh;…

+ Sử dụng thí nghiệm Vật lý tạo tình huống có vấn đề:

Vật lý vốn là bộ môn khoa học thực nghiệm, vì vậy cần khai thác triệt để các thí nghiệm Vật lý nhằm tạo ra những tình huống có vấn đề hoặc lựa chọn sự khởi đầu phù hợp Thông qua thí nghiệm, tạo cho học sinh sự ngạc nhiên, sự khó khăn nhất định về mặt nhận thức đối với vấn đề được đặt ra, sự mâu thuẫn trong nhận thức của học sinh Nhờ đó kích thích hứng thú muốn tìm hiểu, khám phá, khởi đầu cho những dự đoán, sáng tạo của học sinh trong quá trình nhận thức

+ Sử dụng thí nghiệm Vật lý nhằm khảo sát, minh hoạ, hay kiểm tra giả thuyết:

Việc sử dụng lọai thí nghiệm này phải phù hợp với hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Thí nghiệm này thường được dùng để đưa ra những mô hình hay giả thuyết, hoặc dùng để kiểm tra những mô hình hay giả thuyết được học sinh hoặc giáo viên gợi ý đưa ra Nhờ những thí nghiệm này mà học sinh có thể thu thập được những thông tin cần thiết và liên quan với đối tượng cần nghiên cứu, nhất là có thể kiểm tra được những

dự đoán của học sinh Nếu kết quả thí nghiệm trùng khớp với dự đoán ban đầu sẽ làm cho học sinh phấn khởi, tự tin hơn đồng thời khắc phục tâm lý tự ti thường gặp ở học sinh khi học vật lý, từ đó học sinh trở nên thích thú và tích cực hơn trong học tập vật lý

+ Sử dụng thí nghiệm Vật lý để chứng minh:

Việc sử dụng thí nghiệm Vật lý để chứng minh nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ học thông qua việc lôi cuốn học sinh vào những câu hỏi định hướng hay những tình huống mới mà việc suy nghĩ để tìm ra câu trả lời cũng đồng thời với việc học sinh tự đưa ra tiến trình và dự đoán kết quả của thí nghiệm dựa trên một số dụng cụ có sẵn mà giáo viên đã chuẩn bị Khi đã thống nhất với tiến trình thí nghiệm là tiếp ngay đến việc thực hiện thí nghiệm, quan sát, ghi số liệu và xử lý kết quả Nếu có điều kiện (có nhiều

bộ dụng cụ) thì nên phân chia đến từng nhóm nhỏ và thực hiện đồng lọat; nếu chỉ có duy

Trang 36

nhất một bộ thì giáo viên nên yêu cầu một số học sinh có kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hiện các thao tác thí nghiệm tốt lên phía trước bàn các bạn còn lại để thực hiện dưới sự quan sát và điều chỉnh khi cần thiết của giáo viên Thí nghiệm kết thúc sẽ là hoạt động trao đổi giữa giáo viên và học sinh về mối liên hệ giữa lý thuyết và kết quả thí nghiệm

+ Sử dụng thí nghiệm vật lý để kiểm tra, đánh giá sự lĩnh hội về kiến thức, kỹ năng của học sinh:

Từ thí nghiệm chứng minh, giáo viên có thể mở rộng bằng cách thay đổi điều kiện, đặt tình huống mới, và yêu cầu học sinh dùng suy luận logic hay thực hiện lại các thí nghiệm theo những điều kiện và tình huống này…qua đó có thể kiểm tra, đánh giá sự lĩnh hội kiến thức cũng như các thao tác, kỹ năng thí nghiệm của học sinh Qua đó thấy rằng việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lý góp phần vào việc phát triển toàn diện, giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh Nhờ thí nghiệm Vật lý mà học sinh hiểu sâu hơn bản chất vật lý của các hiện tượng, quá trình, định luật,…Do vây khả năng liên hệ kiến thức vật lý với thực tế của học sinh sẽ linh hoạt và hiệu quả hơn

Mặt khác, đây còn là cơ hội rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành, góp phần thiết thực vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh, tránh những bỡ ngỡ khi tiếp xúc hay sử dụng những dụng cụ tương tự ngoài thực tế cuộc sống hay trong công việc sau khi rời khỏi ghế nhà trường

1.4.3 Sử dụng phiếu học tập và quan tâm đến công việc ở nhà của HS [5], [25],

[34]

a Phiếu học tập

Phiếu học tập là phương tiện để tổ chức hoạt động học tập của học sinh nhằm lĩnh hội, củng

cố kiến thức Đó cũng là phương tiện đơn giản để duy trì sự hưng phấn, thích thú của học sinh trong giờ học Có hai loại phiếu học tập:

• Phiếu học tập ở nhà

Nội dung phiếu học tập ở nhà có thể là hệ thống các câu hỏi, yêu cầu học sinh phải ôn tập lại kiến thức của những bài trước, những năm trước, thậm chí là ở những môn học khác; cũng có thể là yêu cầu học sinh tự nghiên cứu nội dung bài mới để cùng tham gia xây dựng bài trên lớp

Mục tiêu của phiếu học tập ở nhà là chuyển giao nhiệm vụ học tập đến từng học sinh, giúp mỗi cá nhân có ý thức và trách nhiệm cao hơn (việc giao nhiệm vụ bằng lời không làm

Trang 37

học sinh ý thức được trách nhiệm của mình), thường thì không học sinh nào dám mang một phiếu học tập còn trống rỗng đến lớp Tuy nhiên, không yêu cầu học sinh phải hiểu biết hết tất cả những nội dung trong đó Khi tự nghiên cứu, học sinh có thể gặp nhiều vấn đề khó khăn hoặc chưa hiểu, lúc đó học sinh có thể mang đến lớp để cùng các bạn thảo luận

• Phiếu học tập trên lớp

Các phiếu học tập trên lớp nhằm hướng tới mục tiêu chính của bài học, được thực hiện bằng hình thức hợp tác, thảo luận để thống nhất ý kiến Vì thế, phiếu học tập trên lớp phải được thiết kế sao cho nhiệm vụ học tập phải được sắp xếp một cách có lôgic theo sự phát triển của bài học; học sinh từng bước mở rộng vốn hiểu biết, rèn luyện được kỹ năng; đồng thời phải phát huy cao nhất tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong học tập vật lý của học sinh

Ngoài ra, khi thiết kế phiếu học tập trên lớp cần đan xen việc thực hiện nhiệm vụ học tập lĩnh hội kiến thức mới với nhiệm vụ liên hệ lý thuyết với thực tế Có như thế, học sinh sẽ rất hứng thú và tích cực tham gia chiếm lỉnh tri thức ngay tai lớp

b Công việc ở nhà của HS

Công việc ở nhà của học sinh bao gồm : đọc sách giáo khoa hoặc một tài liệu ngoài sách giáo khoa để khắc sâu kiến thức vừa tiếp thu ở lớp; thực hiện các thí nghiệm chứng minh (khi ở lớp không có đủ điều kiện thực hiện); vận dụng kiến thức đó để làm bài tập về nhà hoặc chế tạo những dụng cụ đơn giản; chuẩn bị bài mới: xem trước nội dung bài mới hoặc chuẩn bị một số dụng cụ cần thiết phục vụ bài học mới, tìm hiểu một số hiện tượng hay dụng cụ có liên quan trong đời sống và khoa học kỹ thuật theo định hướng của giáo viên Công việc làm bài tập về nhà của học sinh được giáo viên quan tâm nhất vì nó thật sự cần thiết để bù vào thời gian hạn chế ở lớp giúp học sinh ôn, hoàn chỉnh đến khi hiểu thấu đáo nội dung vừa được học ở lớp, nhờ đó mà tính tích cực và tự lực ở nhà của học sinh được nâng cao, đồng thời qua đó cũng tạo điều kiện (về thời gian) để học sinh phát huy những sáng tạo riêng của mình như: tìm hiểu cách khác để giải thích một hiện tượng hay giải một bài tập, tìm ra một qui tắc mới, thiết kế một thí nghiệm để giải thích hoặc chứng minh dựa trên những kiến thức đã biết,… Công việc ở nhà của học sinh ngoài những lợi ích nêu trên còn giúp hình thành thái độ tích cực ở học sinh về nó như: có sự thống nhất giữa giáo viên

và các bạn cùng lớp khi giao nhiệm vụ, có ý thức về sự cần thiết của công việc về nhà, có

Trang 38

tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao nhờ đó mà cố gắng hoàn thành công việc

ở mức độ cao nhất có thể

1.4.4 Xây dựng bầu không khí học tập thích hợp và nhóm học tập và tinh thần

đồng đội cho HS

a Xây dựng bầu không khí học tập

Không khí học tập bao gồm: môi trường xung quanh, điều kiện, sự quan tâm, tinh thần hợp tác giúp đỡ của giáo viên và các bạn cùng lớp, …

Môi trường, điều kiện học tập thuận lợi (thời tiết mát mẻ, không gian yên tĩnh, điều kiện

cơ sở vật chất đầy đủ), sự quan tâm và tôn trọng của giáo viên (sự chú ý theo dõi hay lắng nghe phần trình bày, tiến lại gần, khích lệ và động viên sự cố gắng của học sinh) sẽ làm cho học sinh cảm thấy thoải mái, an tâm, tự tin hơn nhờ đó mà các em sẽ tích cực nhiều hơn trong hoạt động học tập của mình

Sự quan tâm của các bạn cùng lớp thể hiện ở sự phân công và tin tưởng lẫn nhau khi tổ chức họat động theo nhóm, sẽ giúp từng cá nhân trong nhóm tích cực và tự lực tìm tòi sáng tạo để hoàn thành công việc được giao Và rồi sự hợp tác với nhau để đi đến thống nhất chung cho công việc của nhóm như “một loại thức ăn ngon” góp phần làm cho bàn tiệc thêm thịnh soạn

Tạo bầu không khí thoải mái, nhẹ nhàng trong giờ học bằng thái độ vui vẻ, hài hước bằng việc cho học sinh những tự do tham gia vào các hoạt động trong việc nêu ra những ý nghĩ riêng và có quyền trao đổi với các bạn hoặc giáo viên về những vấn đề còn chưa rõ; nếu không vượt quá những nguyên tắc và nội quy cho phép sẽ tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn hơn và có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của mình

Tạo bầu không khí học tập thích hợp còn thể hiện ở việc nghe và lắng nghe học sinh, chọn lọc những gì đã nghe và đồng cảm với những gì nghe được Nhờ vậy, học sinh sẽ có một niềm tin vào Giáo viên, từ đó thúc đẩy và động viên học sinh tích cực đưa ra những ý kiến riêng của mình Chính vì thế mà tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong học tập của học sinh được nâng lên

b Xây dựng nhóm học tập

Nhóm học tập là tập hợp các cá nhân có liên đới với nhau, có những kỹ năng, hiểu biết có thể bổ sung cho nhau, cùng quyết tâm và chia sẽ một mục đích chung Nhóm có cách làm việc chung, mang tính hợp tác; các thành viên trong nhóm có vai trò và trách nhiệm rõ ràng,

Trang 39

đồng thời phải chịu trách nhiệm với nhau về công việc của nhóm mà mình được giao Nhóm học tập hiệu quả sẽ thể hiện sự tự tin, lòng nhiệt tình trong công việc và lòng ham muốn hoàn thiện cách làm việc

Với những đặc điểm trên, nhóm học tập đòi hỏi từng thành viên trong nhóm phải tích cực, tự lực hơn trong học tập, chuẩn bị và nghiên cứu, nhằm hoàn thành công việc được giao; nhờ đó học sinh trở nên có trách nhiệm hơn, ít nhất là trách nhiệm của từng cá nhân đối với một nhóm nhỏ Khi công việc được giao chưa thể hoàn thành thì nhờ những hiểu biết và kỹ năng của các thành viên khác sẽ bổ sung cho những thiếu sót của mình, qua đó tinh thần đồng đội được rèn luyện thêm

1.4.5 Sử dụng phương pháp và thủ thuật giảng dạy phù hợp

Với học sinh, khi đứng trước một kiến thức hay một bài tập vật lý cho dù các em đã được giáo viên giảng giải cặn kẽ và các em cũng đã thực sự hiểu hết những lời giảng này nhưng học sinh cũng khó có thể khắc sâu được chúng nếu như học sinh không tích cực, tự lực và sáng tạo khám phá ra nó dưới sự chỉ dẫn của giáo viên Việc làm này của học sinh ngoài việc thỏa mãn tính tò mò hay tìm hiểu của lứa tuổi nó còn có tác dụng lâu dài và tích cực hơn là làm tăng hứng thú để tiếp tục tìm hiểu những kiến thức khác, qua đó còn rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy độc lập - một kỹ năng cần thiết cho việc nghiên cứu cũng như làm việc sau này, đồng thời rèn luyện được các giác quan và bộ óc của học sinh trong việc phát hiện những liên hệ và các quy luật vật lý Để giúp học sinh trong việc này, ngoài việc thực hiện mục tiêu chung, mỗi giáo viên cần phải lựa chọn một phương pháp và thủ thuật giảng tốt nhất phù hợp với nội dung kiến thức và điều kiện thực tế Một phương pháp và thủ thuật giảng giải được xem là hiệu quả nhất khi với thời gian ngắn nhất, điều kiện tối thiểu nhất mà vẫn đảm bảo cho học sinh đồng thời vừa nắm sâu các kiến thức vật lý vừa phát triển được khả năng nhận thức của mình lại vừa biết liên hệ thực tế từ các kiến thức đã biết Chính vì thế mà việc lựa chọn phương pháp và thủ thuật giảng giải là một nghệ thuật, là nét riêng của mỗi giáo viên Với mỗi giáo viên, việc làm này đòi hỏi phải có một sự đầu tư tìm hiểu từ nội dung bài giảng đến những kiến thức vật lý và khoa học khác có liên quan, phải

có những hiểu biết nhất định về cuộc sống về những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, phải

có một kế hoạch ngay từ đầu: từ việc sắp xếp thời gian hợp lý đôi khi phải có chút mạo hiểm (do không đủ thời gian), thêm vào đó là một ít khôi hài nhằm tránh

Trang 40

sự đơn điệu, tẻ nhạt của giờ học và nhất định là phải có một trình độ nhất định Cùng với những sự chuẩn bị trên, ở lớp cần tránh để tình trạng giáo viên cố dùng lời lẽ để giảng giải còn học sinh thì thụ động nghe và tiếp thu, mà hãy khơi gợi cho học sinh con đường đi đến kiến thức đó Chẳng hạn, hãy đặt học sinh trước một tình huống có vấn đề cần được giải quyết, hoặc đặt ra những câu hỏi có tính khơi gợi bộ óc tò mò nhằm phát huy tính tích cực,

tự lực và sáng tạo ở học sinh Công việc này dễ dàng được giải quyết nếu như biết áp dụng một cách linh họat cách tổ chức họat động theo nhóm, thí nghiệm biểu diễn, chứng minh,…nhưng hay hơn cả vẫn là cách đặt học sinh trước nhiều dụng cụ thí nghiệm cần thiết

và định hướng để học sinh suy nghĩ, tìm tòi phương án thí nghiệm nhằm giải quyết vấn đề được nêu lên Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc nhiều vào mức độ khó hay dễ của kiến thức, trình độ học sinh, phương tiện phục vụ giảng dạy,… Qua đó cho thấy không có phương pháp dạy học nào là duy nhất là vạn năng mà phải có sự phối hợp cùng lúc nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức một giờ dạy Cũng như không nhất định phải trình bày theo thứ tự của sách giáo khoa hay tài liệu học tập nhưng lại cần chú ý không nên phá

vỡ trật tự lôgic của kiến thức đó

1.4.6 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý [12]

Theo quan điểm thông tin, học là quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin Vì thế, trong quá trình dạy học, người giáo viên phải tìm cách làm tăng giá trị lượng thông tin , trao đổi thông tin nhanh, nhiều và hiệu quả hơn

Trong dạy học vật lý, việc mô tả, minh hoạ, chứng minh,…những hiện tượng, định luật, khái niệm hay những ứng dụng của vật lý trong đời sống và khoa học kỹ thuật là điều không thể thiếu Bởi vì, những điều đó sẽ góp phần gây sự chú ý, hứng thú, nhất là giúp học sinh

có một niềm tin tuyệt đối vào lượng thông tin nhận được Đó là khởi đầu cho hàng loạt những hoạt động tích cực khác của học sinh

Để thực hiện tốt những công việc đó, ngoài việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học thì ngày nay việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã phổ biến hơn và có những đóng góp tích cực hơn

a Máy vi tính và các phần mềm dạy học vật lý

Máy vi tính với chức năng lưu trữ, hiển thị lại một lượng lớn thông tin dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh; chọn lọc, sắp xếp, phóng to, thu nhỏ, chuyển hướng, liên kết,…Vì vậy, nó được dùng như một máy soạn thảo văn bản tuyệt vời Người giáo viên có thể dùng

Ngày đăng: 02/12/2015, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (chủ biên), Nguyển Xuân Chi, Đàm Trung Đồn, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Huynh (2007), Sách giáo khoa Vật lý 11 , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Vật lý 11
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (chủ biên), Nguyển Xuân Chi, Đàm Trung Đồn, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Huynh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
3. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (chủ biên), Nguyển Xuân Chi, Đàm Trung Đồn, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Huynh (2007), Sách giáo viên Vật lý 11 , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Vật lý 11
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (chủ biên), Nguyển Xuân Chi, Đàm Trung Đồn, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Huynh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Tô văn Bình (2008), Thí nghi ệm vật lý phổ thông , ĐHSP. Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm vật lý phổ thông
Tác giả: Tô văn Bình
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và đào tạo, Hội nghị tập huấn phương pháp dạy học Vật lý phổ thông , Hà Nội 10/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tập huấn phương pháp dạy học Vật lý phổ thông
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), “Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Vật lí”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Vật lí”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Luật Giáo dục, Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
9. Bộ giáo dục đào tạo-dự án Việt Bỉ, Dạy và Học tích cực- Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và Học tích cực- Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Đảng Cộng sản Việt nam: “Nghị quyết TW 2 khóa VIII” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết TW 2 khóa VIII
11. Nguy ễn Hải Châu – Nguyễn Trọng Sửu ( 2007), Nh ững vấn đề chung về đổi mới giáo d ục trung học phổ thông môn Vật lý , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Vật lý
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Phạm Thế Dân (2012), “Bài giảng các phương pháp dạy học hiện đại ở trường phổ thông cho học viên cao học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng các phương pháp dạy học hiện đại ở trường phổ thông cho học viên cao học
Tác giả: Phạm Thế Dân
Năm: 2012
13. Vũ Cao Đàm ( 2011 ), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Tô Xuân Giáp (1997), Phương tiện dạy học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
15. I.F.khaclamop (1979), Phát huy tính tích cực học tập như thế nào, tập 1,2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập như thế nào, tập 1,2
Tác giả: I.F.khaclamop
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1979
16. Nguyễn Thanh Hải (2001), Bài tập định tính và câu hỏi thực tế vật lý 11, Nxb G iáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bài tập định tính và câu hỏi thực tế vật lý 11
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. Thái Văn Hào (2008) “Vấn nạn giáo dục từ tư duy kinh kệ”. Tập san Ngoại ngữ-Tin học và giáo dục, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn nạn giáo dục từ tư duy kinh kệ”
18. Nguyễn Mạnh Hùng (2001), Phương pháp dạy học dạy học Vật lý ở trường phổ thông trung học, Trường ĐHSP TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học dạy học Vật lý ở trường phổ thông trung học
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2001
19. Nguy ễn Mạnh Hùng (2006), T ài li ệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán ở trường phổ thông , Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán ở trường phổ thông
Tác giả: Nguy ễn Mạnh Hùng
Năm: 2006
20. Nguy ễn Mạnh Hùng (2006), T ổ chức hoạt động nhận thức của học sinh theo hướng triển phát năng lực tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề và tư duy khoa học, Trường ĐHSP TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh theo hướng triển phát năng lực tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề và tư duy khoa học
Tác giả: Nguy ễn Mạnh Hùng
Năm: 2006
21. Tr ần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa , Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Tr ần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2006
22. Nguyễn Ngọc Hưng, “Bài giảng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”, ĐH Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài giảng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1  Cấu trúc tâm lí hoạt động - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Hình 1.1 Cấu trúc tâm lí hoạt động (Trang 16)
Bảng 1.1: Biểu hiện hành vi của tính tự lực học tập trong và ngoài giờ học - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Bảng 1.1 Biểu hiện hành vi của tính tự lực học tập trong và ngoài giờ học (Trang 23)
Hình vẽ: - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Hình v ẽ: (Trang 74)
Hình thấu kính sau. - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Hình th ấu kính sau (Trang 82)
Bảng tóm tắt (chỉ xét vật thật) - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Bảng t óm tắt (chỉ xét vật thật) (Trang 90)
Hình  được  thiết  kế  trên  máy  vi  tính.  Tại - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
nh được thiết kế trên máy vi tính. Tại (Trang 101)
Sơ đồ tạo ảnh: - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Sơ đồ t ạo ảnh: (Trang 119)
Bảng 3.2: Điểm trung bình HK I, mức ý nghĩa quan sát (p-value) của lớp TN và lớp - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Bảng 3.2 Điểm trung bình HK I, mức ý nghĩa quan sát (p-value) của lớp TN và lớp (Trang 133)
Kết quả được thể hiện qua bảng 3.3, bảng 3.4 và các biểu đồ hình 3.2, hình 3.3 - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
t quả được thể hiện qua bảng 3.3, bảng 3.4 và các biểu đồ hình 3.2, hình 3.3 (Trang 146)
Bảng 3.4:  Bảng phân phối tần suất tích lũy điểm kiểm tra 1 tiết của lớp TN và lớp ĐC - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất tích lũy điểm kiểm tra 1 tiết của lớp TN và lớp ĐC (Trang 146)
Bảng 3.5. Bảng kết quả điểm trung bình và độ lệch chuẩn - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Bảng 3.5. Bảng kết quả điểm trung bình và độ lệch chuẩn (Trang 147)
Bảng 3.6. Bảng kết quả kiểm định Mann-Whitney hai  mẫu  độc lập được xử lí từ  phần mềm SPSS - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Bảng 3.6. Bảng kết quả kiểm định Mann-Whitney hai mẫu độc lập được xử lí từ phần mềm SPSS (Trang 149)
Hình 3.4  Giao diện phần mềm SPSS - tổ chức dạy học phần “quang hình học” vật lý 11 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Hình 3.4 Giao diện phần mềm SPSS (Trang 149)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w