Điều cơ bản quan trọng hơn hết là trong quá trình dạy học các tri thức cụ thể đó phải rèn luyện cho học sinh tiềm lực để khi ra trường học sinh có thể tiếp tục tự học tập, có khả năng ng
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 4MỤC LỤC
M ỤC LỤC 3
M Ở ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỊNH HƯỚNG VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC CỦA HỌC SINH 10
1.1 B ản chất của hoạt động dạy học 10
1.2 T ự lực học tập 11
1.3 Ho ạt động tổ chức, hướng dẫn học sinh tự lực học tập 15
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC NH ẰM PHÁT HUY KHẢ NĂNG TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 31
2.1 Phân tích c ấu trúc nội dung chương “cảm ứng điện từ” 31
2.2 Thi ết kế nội dung bài giảng 36
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 M ục đích của thực nghiệm sư phạm 80
3.2 Đặc điểm đối tượng 80
3.3 N ội dung thực nghiệm sư phạm 80
3.4 Ti ến trình thực nghiệm 81
3.5 Hướng khắc phục những hạn chế 88
3.6 K ết luận về thực nghiệm sư phạm 89
Trang 5KẾT LUẬN 91 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 93
Trang 6thải Vì vậy việc học là rất cần thiết và có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người chúng ta
“Học, học nữa, học mãi” – câu nói bất hủ của Lê-nin dễ dàng được minh
chứng là đúng cho mọi thời đại, nhất là thời đại khoa học công nghệ phát triển với
tốc độ chóng mặt như hiện nay Sống trong hoàn cảnh đó, con người phải không
ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, kĩ năng Tuy nhiên không phải lúc nào bên cạnh mình cũng có người thầy cung cấp sẵn những tri thức cần thiết Điều này đòi hỏi
mỗi người phải trang bị cho mình khả năng tự lực học tập để có thể học một cách
chủ động và hiệu quả
Theo cố giáo sư Tạ Quang Bửu : “Muốn học giỏi phải có phương pháp học tập
và phương pháp nghiên cứu khoa học Những năm học ở trường là quá trình xây
dựng phương pháp học tập tốt để làm tiềm lực cho suốt đời vì suốt đời phải học tập
Nội dung chung của phương pháp học là tiếp thu kiến thức và thông tin khoa học
một cách sáng tạo, để sáng tạo ra những phương pháp mới Đó là độc lập suy nghĩ.”[1]
Lý luận và thực tiễn cho thấy, khi một chủ thể trực tiếp thực hiện một công
việc nào đó, nếu chủ thể này tích cực tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, có ý thức tự giác,
chủ động làm công việc của mình thì sẽ hiểu công việc đó một cách sâu sắc và hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra
Trang 7Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học” [2] Từ nhiều năm nay,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ đạo phải đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm, đảm bảo cho học sinh có thời gian được thảo luận, được trình bày và được vận dụng củng cố kiến thức, có thói quen tự nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa (SGK) ở nhà “Dạy học các môn khoa học ở nhà trường không chỉ đơn thuần là giúp cho học sinh có được một số kiến thức cụ thể nào đó Điều cơ bản quan trọng hơn hết là trong quá trình dạy học các tri thức cụ thể đó phải rèn luyện cho học sinh tiềm lực để khi ra trường học sinh có thể tiếp tục tự học tập, có khả năng nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo, giải quyết các vấn đề, đáp ứng được những đòi
hỏi đa dạng của hoạt động thực tiễn không ngừng phát triển”[3] Tuy nhiên, một
thực tế ở các trường phổ thông là vẫn chưa có nhiều sự thay đổi về phương pháp,
phần nhiều các giáo viên vẫn còn dùng phương pháp thuyết trình, học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, chưa phát huy được tính tích cực và tự lực học tập của học sinh
Về kĩ năng, với cách học truyền thống, tức là học sinh đến lớp nghe giảng và ghi chép thụ động, số tiết thực hành lại hạn hẹp, các em ít có cơ hội được rèn luyện các kĩ năng, nhất là kĩ năng làm thí nghiệm, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng phân tích và tổng hợp, …, trong khi đó lại là những kĩ năng rất quan trọng của con người trong xã hội hiện đại
Với bộ môn Vật lý, để học tốt thì học sinh vừa phải nắm vững bản chất, nội dung của các định luật, hiện tượng , các thuyết,… vừa phải biết vận dụng những
kiến thức đó vào thực tiễn Vì vậy học sinh cần phải có một phương pháp học tích
cực, chủ động, có cơ hội tiến hành các thí nghiệm, phân tích các bài tập, liên hệ với
thực tiễn thì mới hiểu bài một cách sâu sắc
Nói về chương ”Cảm ứng điện từ”, đây là một chương tương đối khó đối với
học sinh lớp 11 Nhiều em không hiểu hoặc hiểu một cách hời hợt phần kiến thức
Trang 8trong chương này Thiết nghĩ nếu các em có cơ hội tự tìm tòi, nghiên cứu, trao đổi
với giáo viên và các bạn thì nhất định hiệu quả học tập của các em sẽ được nâng lên đáng kể
Như đã phân tích ở trên, việc hình thành khả năng tự lực học tập cho học sinh
là vô cùng quan trọng Tuy nhiên các em vẫn chưa đủ năng lực để tự mình tìm kiếm
những tri thức cơ bản và cần thiết Do đó người giáo viên phải là người hướng dẫn giúp học sinh tự tìm ra tri thức cho mình Để làm được điều đó, giáo viên phải có
những định hướng phù hợp, biết cách tổ chức một tiết học sao cho học sinh có thể phát huy tối đa vai trò chủ động của mình
Về nhu cầu của bản thân – một sinh viên sư phạm sắp ra trường, tôi luôn trăn
trở về một phương pháp dạy học nào đó mà có thể phát huy hết nội lực của học sinh Tôi luôn mong mỏi mỗi tiết dạy của mình đều đem lại cho học sinh sự hứng thú và thái độ tích cực học tập
Với những lý do trên, đề tài Tổ chức cho học sinh tự lực học tập chương “
C ảm ứng điện từ” - Vật lý 11 nâng cao mà chúng tôi nghiên cứu sẽ có khả năng
giúp các em học sinh hiểu một cách sâu sắc hơn kiến thức trong chương này cũng như các kiến thức có liên quan, đồng thời rèn luyện cho các em thói quen suy nghĩ độc lập, không ỷ lại giáo viên, biết cách làm việc nhóm hiệu quả, rèn kĩ năng thực hành, kĩ năng tìm kiếm tài liệu, tự nghiên cứu tài liệu phục vụ cho việc học tập của mình
2 M ục tiêu của đề tài
Xây dựng kế hoạch dạy học và tổ chức dạy học nâng cao tính tự lực của học sinh chương “ Cảm ứng điện từ” Vật lý 11 Nâng cao
3 Gi ả thuyết khoa học
Nếu xây dựng tiến trình dạy học phù hợp với quan điểm lý luận dạy học về phát triển khả năng tự lực học tập của học sinh cũng như có sự điều chỉnh cho phù
Trang 9hợp với từng đối tượng học sinh thì có thể giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh tri thức, nâng cao khả năng tự học và góp phần nâng cao chất lượng dạy học
4 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình tổ chức dạy học chương “Cảm ứng điện từ” SGK Vật lí 11 Nâng cao
tại trường Trung học phổ thông
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về phương pháp dạy học tăng tính tự lực của học sinh
- Đề xuất sử dụng những phương pháp định hướng học sinh tự lực học tập
- Xây dựng kế hoạch dạy học chương “Cảm ứng điện từ” SGK Vật lí 11 Nâng cao theo định hướng tự lực học tập cho học sinh
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận
+ Nghiên cứu lý luận dạy học, tâm lý học, giáo dục học và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài
+ Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình vật lý lớp 11 nâng cao, đặc biệt
là chương “Cảm ứng điện từ” và các chương có liên quan đến kiến thức của chương này
- Điều tra
+ Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn cũng như một số giáo viên Vật lí
có kinh nghiệm dạy lớp 11 để học hỏi và trau dồi kinh nghiệm dạy học cũng như cách hướng dẫn học sinh tự lực học tập
+ Thăm dò thái độ của học sinh trước và sau khi được giáo sinh tổ chức các bài học theo hướng nâng cao tính tự lực của học sinh
Trang 10- Thực nghiệm sư phạm
Tổ chức dạy học theo kế hoạch đã xây dựng trong đợt thực tập sư phạm và rút kinh nghiệm, chỉnh sửa kế hoạch bài dạy cho phù hợp hơn
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỊNH HƯỚNG VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TỰ LỰC
C ỦA HỌC SINH
Trong chương này chúng tôi trình bày những cơ sở lý luận về những vấn đề:
bản chất của hoạt động dạy học, nội dung của hoạt động tự lực học tập và ý nghĩa
của nó, một số phương pháp tổ chức và hướng dẫn học sinh tự lực học tập
1.1 B ản chất của hoạt động dạy học
Học là một hoạt động tích cực, tự lực và sáng tạo của người học nhằm tạo ra
sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và kĩ năng trên cơ sở những kiến thức, thái độ
và kĩ năng hiện có của bản thân [4]
Theo B.S.Bloom [5], không ai có thể truyền thụ cho chúng ta tất cả những tri
thức mà ta sẽ cần trong mọi hoàn cảnh mới Vậy nên ta cần phải tiếp thu những tri
thức được nhận định là có ích nhất trong quá khứ, phát triển những khả năng và kỹ năng trí tuệ để có thể áp dụng những tri thức này trong hoàn cảnh mới, nghĩa là tự mình phải tạo cho mình năng lực thực tiễn cần thiết để sống được và phát triển được trong xã hội đương thời
Những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà người học tái tạo lại không có gì
mới đối với nhân loại, nhưng nhờ có hoạt động học, trong bản thân người học có sự
biến đổi, và chính sự biến đổi này sẽ giúp hình thành phẩm chất, năng lực ở người
học, giúp họ sáng tạo ra những giá trị mới sau này
Trang 12Như vậy, người học phải chủ động, tích cực, tự lực trong học tập thì mới có
thể hoàn thiện và phát triển nhân cách cá nhân
1.1.2 B ản chất của hoạt động dạy
Dạy học là hoạt động của giáo viên: tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh nhằm giúp cho học sinh có thể lĩnh hội tri thức, tạo ra sự phát triển tâm lý và nhân cách của họ
“Bản chất của hoạt động tổ chức học tập là tổ chức hoạt động nhận thức tích
cực, sáng tạo, chủ động của học sinh, hình thành năng lực tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập hợp lý phù hợp với điều kiện của bản thân người học dưới sự hướng
dẫn, chỉ đạo của các lực lượng giáo dục và vai trò chủ động tích cực của người học
là yếu tố “ nội lực” của sự phát triển, sự tác động của giáo viên và các yếu tố khác
là “ ngoại lực” Hiệu quả cao nhất của đào tạo là có sự cộng hưởng giữa nội lực và ngoại lực.”[6]
Trong cuốn Giáo dục học, Kairov viết: “Giảng dạy không phải là chỉ nhồi cho
học sinh một mớ kiến thức Các em không phải là cái bình chứa, mà kiến thức cũng không phải là chất nước rót vào bình”, cho nên “ trong quá trình giảng dạy cần phát triển tính tích cực và độc lập của học sinh” Để làm được điều đó, người giáo viên không còn đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà là người gợi mở, hướng
dẫn, tổ chức, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tự học của học sinh
Trang 13Theo tác giả Thái Duy Tuyên, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo,… và kinh nghiệm lịch sử, xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học [7]
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi
phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ và không
ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết
biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.” [8]
Về định nghĩa tự học có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song có thể hiểu tự
lực học tập là tự mình suy nghĩ, tìm tòi để chiếm lĩnh tri thức bằng nhiều hình thức
và phương tiện khác nhau
Có nhiều hình thức tự học khác nhau, ở đây chỉ đề cập đến sự tự học của học sinh phổ thông dưới sự hướng dẫn của giáo viên
1.2.2 N ội dung của hoạt động tự lực học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Dưới sự định hướng và trợ giúp của giáo viên, học sinh cần phải thực hiện
những nội dung tự học như sau:
- Thông qua phần đặt vấn đề của giáo viên, hoặc học sinh tự nêu được vấn đề dưới
sự định hướng của giáo viên mà học sinh xác định nhu cầu, động cơ và mục đích để kích thích hứng thú học tập
- Cùng giáo viên xây dựng kế hoạch học tập
- Chọn và đọc tài liệu
- Tiếp cận thông tin thông qua đọc tài liệu, nghe giảng, dự hội thảo, làm thí nghiệm, điều tra,…
Trang 14- Xử lí thông tin
- Vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề
- Tự kiểm tra và đánh giá
hội hiện đại
- Khi tự lực học tập, học sinh phải nghiền ngẫm, lật đi lật lại vấn đề, nảy sinh
thắc mắc và tìm cách trả lời, nhờ đó mà tư duy độc lập, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo được hình thành và phát triển
- Khi tự học, học sinh thấy được những vất vả của những người nghiên cứu khoa học, từ đó hình thành thái độ biết trân trọng những thành quả mà nhân loại đã đạt được
- Tự học là một yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học Xu
thế hiện nay là trong dạy học phải phát huy được tính tích cực, sáng tạo của người
học, lấy người học làm trung tâm Để làm được điều đó thì cần phải dạy cho học sinh biết cách tự học
1.2.4 Các hành động tự học đối với học sinh trong quá trình học tập môn Vật
lý
Trong quá trình học môn Vật lý, học sinh phải suy luận logic để xây dựng kiến
thức mới, phải biết cách tổ chức thí nghiệm và rút ra kiến thức từ những thông tin thu được trong các thí nghiệm, phải tự giải nhiều bài tập Vật lý, phải biết vận dụng
Trang 15những kiến thức vật lý đã học để tự giải thích các hiện tượng tự nhiên, các ứng dụng
+ Giải thích các hiện tượng tự nhiên và đời sống
- Từ nội dung tự học mà học sinh xác định được các công việc:
+ Làm việc với SGK theo hệ thống câu hỏi của giáo viên
Trang 161.3 Ho ạt động tổ chức, hướng dẫn học sinh tự lực học tập
1.3.1 M ột số phương pháp dạy học Vật lí tăng tính tự lực, tích cực của HS [9],
[10]
a Phương pháp đàm thoại
- Đàm thoại tái hiện: là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi
chỉ nhằm cho học sinh tái hiện lại những kiến thức đã học Đàm thoại tái hiện có thể dùng trong nhiều mục đích dạy học, nhưng chủ yếu dùng trong ôn tập, củng cố, hệ
thống hóa kiến thức và trong kiểm tra kiến thức cũ
- Đàm thoại thuyết trình: là loại đàm thoại trong đó giáo viên đặt ra một hệ thống
câu hỏi nhằm dẫn dắt học sinh trả lời và thông qua đó thuyết trình cho học sinh một
vấn đề hoàn chỉnh của vật lí
- Đàm thoại ơrixtic (còn gọi là đàm thoại tìm tòi – phát hiện hoặc đàm thoại gợi
mở): là đàm thoại trong đó giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi có tính chất gợi
mở, nêu ra những vấn đề cần giải quyết Đồng thời bằng một hệ thống các câu hỏi, các yêu cầu mà giáo viên tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu, nghiên cứu, trao đổi với
thầy,trao đổi với nhau để đạt tới mục đích của việc dạy học vật lí như học sinh nắm
vững một kiến thức vật lí mới, rèn luyện một kĩ năng vật lí mới,…
Bằng phương pháp này học sinh không những lĩnh hội được nội dung kiến
thức mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói
b Phương pháp dạy học giải bài tập
Bài tập là một phương tiện dạy học quan trọng của người giáo viên Bài tập giúp học sinh hệ thống lại kiến thức, đồng thời rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo,
kỹ năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề Việc giải bài tập rèn cho học sinh tính kiên trì, chịu khó, cẩn thận Khi tự lực giải được bài tập, học sinh sẽ cảm thấy vui sướng, thêm yêu thích và say mê khoa học
c Phương pháp dạy học nêu vấn đề
Trang 17Nội dung cơ bản của phương pháp này là giáo viên đặt ra trước học sinh một
vấn đề học tập cần giải quyết dưới dạng một bài toán có vấn đề, dẫn dắt học sinh
tiếp nhận được mâu thuẫn của bài toán và chuyển mâu thuẫn này thành mâu thuẫn
nội tâm, đặt học sinh vào trạng thái tâm lí có nhu cầu và sẵn sàng giải quyết mâu thuẫn
Về mặt lý luận, đây là phương pháp dạy học tốt nhất, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu mà mục đích dạy học đề ra Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay thì phương pháp này rất khó thực hiện đầy đủ Vấn đề cơ bản là giáo viên cần vận dụng linh
hoạt các mức độ thấp của phương pháp này
d Phương pháp thảo luận theo nhóm nhỏ
Học sinh được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn
Tác dụng của phương pháp này:
- Học sinh ý thức được khả năng của mình
- Nâng cao niềm tin của học sinh vào việc học tập
- Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, thông tin về sự việc vào giải quyết các tình huống khác nhau
- Cải thiện mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân
- Dễ dàng hơn, ít thất bại
- Tôn trọng các giá trị dân chủ
- Tăng cường sự tôn trọng chính bản thân mình
e Phương pháp dạy học theo dự án
Là phương pháp mà dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tiếp thu kiến
thức và hình thành kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một tình huống có thật
Trang 18trong đời sống, theo sát chương trình học và có sử dụng những kiến thức thuộc
những môn học khác có liên quan
g Phương pháp thí nghiệm thực hành vật lí
Là phương pháp trong đó giáo viên tổ chức và hướng dẫn cho học sinh thực hành các thí nghiệm vật lí nhằm mục đích tác động trực tiếp lên đối tượng vật lí để nghiên cứu chúng
Ưu điểm: Học sinh phát huy được tính tích cực chủ động, rèn luyện được kĩ năng, kĩ xảo, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng hoạt động độc lập, rèn luyện được những phẩm chất tốt của người làm công tác nghiên cứu và biết cách nghiên
cứu, đồng thời kiến thức thu được chắc chắn, sâu sắc và tạo được hứng thú học tập Nhược điểm: đòi hỏi trang thiết bị và cơ sở vật chất phải đồng bộ và đầy đủ,
thời gian kéo dài, trình độ học sinh không đồng đều cũng là một khó khăn khi thực
hiện phương pháp này
1.3.2 Hướng dẫn học sinh tự lực học tập
Muốn học sinh phổ thông có thể tự học tốt thì sự định hướng của giáo viên là
vô cùng quan trọng Nhờ có sự định hướng thích hợp của giáo viên mà học sinh có
thể bám sát mục tiêu bài học, hoàn thành nhiệm vụ học tập, không lãng phí thời gian quý báu trên lớp cũng như ở nhà
1.3.2.1 M ột số hình thức định hướng của giáo viên
a Năm định hướng dạy học của R Marzano [11]:
- Tạo ra và duy trì thái độ, sự nhận thức tích cực về việc học
- Tổng hợp và thu nhận kiến thức
- Mở rộng và tinh lọc kiến thức
- Sử dụng kiến thức hiệu quả
- Rèn luyện thói quen tư duy
Trang 19b Theo Galperin, có thể phân tích một hành động theo hai phương diện là cấu trúc
và đặc điểm Về cấu trúc, hành động có hai phần: phần định hướng và phần thực
hiện Phần định hướng lại có thể được tách ra làm hai khía cạnh: bản thân sự định hướng trong cơ cấu hành động và các phương pháp tổ chức việc định hướng cho trẻ
em Có 3 phương pháp định hướng cơ bản [12]:
- Giáo viên chỉ giao mẫu sản phẩm, không nêu cách làm
- Giáo viên hướng dẫn theo mẫu (nêu các bước hành động cụ thể)
- Giáo viên hướng dẫn phương pháp chung (khái quát)
b Theo tác gi ả Nguyễn Mạnh Hùng có các kiểu định hướng sau [12]:
• Định hướng theo mẫu: là kiểu định hướng mà giáo viên làm mẫu hành động, học
sinh theo dõi hành động và làm theo
- Định hướng theo mẫu đầy đủ: giáo viên hướng dẫn bằng lời và hành động cụ thể
từng bước, học sinh tiến hành làm theo Có thể dùng kiểu định hướng này để thuyết trình về một kiến thức mới, hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm hoặc giải bài
tập
Ví dụ trong việc hướng dẫn học sinh giải bài tập:
+ Giáo viên làm một bài tập mẫu rồi học sinh bắt chước làm theo ở những bài
- Định hướng theo mẫu từng phần, không đầy đủ: giáo viên hướng dẫn một số bước
chính, học sinh tự tiến hành làm Định hướng này có thể dùng trong thực hành thí
Trang 20nghiệm, giải bài tập nhưng ở mức độ cao hơn kiểu định hướng theo mẫu đầy đủ, vì giáo viên không làm từng bước mà chỉ hướng dẫn một số bước chính cho học sinh
tự làm
Ví dụ trong việc hướng dẫn HS làm thí nghiệm: GV thuyết trình phương án thí nghiệm và yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm
- Định hướng theo mẫu tái tạo: là kiểu định hướng bằng cách nhắc lại những hành
động mà giáo viên đã chỉ dẫn hoặc lặp lại những hành động quen thuộc đã làm ở
những tình huống tương tự mà học sinh đã quên
Ví dụ: GV nhắc lại cách thiết lập công thức tính thế năng trọng trường dựa vào công thức tính công của trọng lực:
Ta có công thức tính công của trọng lực: ABC=mgzB – mgzC Ký hiệu
Wt=mgz và gọi Wt là thế năng trọng trường của vật
Tương tự từ công thức tính công của lực đàn hồi A12= 1
thể định nghĩa Wdh=1
2kx
2
là thế năng đàn hồi của vật
Nh ận xét: Định hướng theo mẫu là kiểu định hướng ở mức độ thấp, ít phát
huy tính tích cực và khả năng tư duy của học sinh Định hướng này chỉ có tác dụng
củng cố phương thức nhận thức cũ, thường áp dụng cho đối tượng học sinh có học
lực trung bình và dùng nhiều trong việc hướng dẫn giải các bài tập cơ bản hoặc xây
dựng các kiến thức tương tự với các kiến thức đã học
• Định hướng suy luận: là kiểu định hướng mà hành động của học sinh là hành
động tìm tòi bằng con đường suy luận logic, xây dựng kiến thức mới trên cơ sở phát triển tư duy khoa học và năng lực sáng tạo cho học sinh Định hướng suy luận có 2
dạng:
- Định hướng suy luận – chương trình hóa: là kiểu định hướng mà hành động
của học sinh là hành động tìm tòi nhưng học sinh nhận thức được đường lối thực
Trang 21hiện hành động trên cơ sở gợi ý của giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi chặt chẽ, logic Phương pháp đàm thoại, cụ thể là đàm thoại thuyết trình và đàm thoại ơrixtic
rất thích hợp để thực hiện kiểu định hướng này
Ví dụ áp dụng vào việc giải thích hiện tượng tự cảm khi đóng mạch:
+ Các em quan sát thí nghiệm và
cho cô biết có hiện tượng gì xảy ra?
+ Các em hãy giải thích hiện tượng
trên?
GV gợi ý tiếp:
+ Khi đóng công tắc thì cái gì đã
thay đổi và thay đổi như thế nào?
+ Dòng điện tăng lên thì cái gì qua
ống dây đã biến đổi?
+ Theo định luật Len-xơ thì dòng
điện cảm ứng này có tác dụng gì? Chiều
của icưnhư thế nào với chiều của i?
+ Như vậy các em hãy giải thích vì
sao đèn ở nhánh có cuộn dây không sáng
lên ngay mà sáng lên từ từ?
+ Đèn ở nhánh có biến trở sáng lên ngay, đèn ở nhánh có ống dây sáng lên từ từ
+ Dòng điện cảm ứng có tác dụng
chống lại nguyên nhân sinh ra nó, tức là
cản trở sự tăng của dòng điện, icư ngược chiều với i
+ Vì dòng điện cảm ứng trong ống dây cản trở sự tăng của dòng diện qua đèn nên dòng điện này không tăng lên nhanh chóng, do đó đèn sáng từ từ
Trang 22- Định hướng suy luận – tương tự: là kiểu định hướng trong đó giáo viên chỉ ra mục
đích hành động và những phương pháp hành động tương tự mà học sinh đã thực
hiện và từ đó học sinh chuyển sang hành động tìm tòi với đối tượng mới
Ví dụ áp dụng trong việc giải thích hiện tượng tự cảm khi ngắt mạch:
+ GV định hướng: Tương tự như đã giải thích hiện tượng bóng đèn ở nhánh có ống dây sáng lên một cách từ từ khi đóng mạch, các em hãy giải thích tại sao bóng đèn lại lóe sáng khi ngắt mạch trong thí nghiệm cô vừa làm
+ HS sẽ suy luận tương tự: Khi ngắt mạch thì dòng điện giảm về 0, B giảm
dẫn đến từ thông qua ống dây giảm, trong ống dây suất hiện dòng điện cảm ứng, dòng điện này có tác dụng chống lại nguyên nhân sinh ra nó, nghĩa là icư cùng chiều
với i, dòng điện cảm ứng này qua bóng đèn làm đèn lóe sáng
GV cần theo dõi, chỉnh sửa, bổ sung thêm vào sự suy luận tương tự của học sinh VD trong trường hợp trên thì GV cần giải thích thêm là do dòng điện giảm đột
ngột nên dòng điện cảm ứng lớn mới có thể làm bóng đèn lóe sáng
Nh ận xét: Kiểu định hướng suy luận giúp nâng cao khả năng hành động tìm tòi
của học sinh
+ Kiểu định hướng suy luận chương trình hóa vừa đảm bảo tạo cơ hội cho học sinh tự lực học tập, vừa đảm bảo nội dung kiến thức vì có hệ thống câu hỏi chặt chẽ, logic của giáo viên Đây là kiểu định hướng linh hoạt vì có thể hạ thấp dần mức độ định hướng tùy theo năng lực của học sinh Tuy nhiên kiểu định hướng này ít có tác
dụng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
+ Kiểu định hướng suy luận tương tự có tác dụng giúp học sinh hành động tìm tòi một cách vừa sức, tuy nhiên chỉ áp dụng được đối với những kiến thức được xây
dựng tương tự với kiến thức đã học và với những phương thức nhận thức quen thuộc
Trang 23• Định hướng tìm tòi: là kiểu định hướng trong đó giáo viên chỉ đề ra mục đích,
phương pháp hành động hoặc gợi ý ở dạng chung nhất Học sinh tự lực thực hiện hành động trên cơ sở gợi ý của giáo viên để đạt mục đích
Ví dụ: Áp dụng vào việc xác định chiều dòng điện cảm ứng:
+ GV định hướng: Chúng ta cần xác định chiều của dòng điện cảm ứng Các
em hãy tiến hành lại thí nghiệm về cảm ứng điện từ khi nam châm và ống dây chuyển động với nhau, quan sát chiều của kim điện kế, từ đó xác định chiều của dòng điện cảm ứng trong từng trường hợp, tìm mối quan hệ giữa chiều dòng điện
cảm ứng với nguyên nhân sinh ra nó thông qua từ trường cảm ứng mà nó sinh ra + HS tiến hành thí nghiệm, xác định chiều dòng điện cảm ứng, xác định chiều
từ trường cảm ứng và rút ra nhận xét: Khi từ thông tăng thì từ trường cảm ứng ngược chiều với từ trường của nam châm, còn khi từ thông giảm thì từ trường cảm ứng cùng chiều với từ trường của nam châm Như vậy, nếu ta xác định được từ thông đang tăng hay giảm và chiều của từ trường của nam châm thì ta sẽ xác định được chiều của từ trường cảm ứng, từ đó xác định được chiều của dòng điện cảm ứng
Nhận xét: Kiểu định hướng tìm tòi có tác dụng tăng tính tự lực, tích cực của học
sinh rất cao, nếu thực hiện được sẽ giúp học sinh lĩnh hội tri thức khoa học một cách sâu sắc Tuy nhiên học sinh phải cần nhiều thời gian để tìm tòi, suy luận, kiểm
chứng và không phải đối tượng học sinh nào cũng có khả năng này
• Định hướng tìm tòi sáng tạo: là kiểu định hướng trong đó giáo viên tổ chức các
tình huống học tập thích hợp giúp học sinh hành động sáng tạo theo mục đích đã đề
ra GV cần chỉ ra mục đích hành động và cung cấp những điều kiện sẵn có cho học sinh hành động Học sinh phải tự lực tìm ra phương thức hành động và thực hiện hành động để sáng tạo tri thức kỹ năng mới Tuy nhiên sự sáng tạo của học sinh là sáng tạo lại, phải tổ chức cho học sinh thực hiện theo cách mà các nhà khoa học đã
thực hiện
Trang 24Để định hướng sáng tạo cần phải xây dựng các tình huống có vấn đề Đó là tình huống khởi đầu để học sinh phát hiện vấn đề, tình huống cơ bản cơ bản để học sinh xây dựng mô hình giả định, tình huống kiểm chứng để học sinh xây dựng phương án kiểm chứng và thực hành phương án kiểm chứng, xác nhận kiến thức sau kiểm chứng, vận dụng kiến thức đã được xác nhận và tạo tình huống phát triển
kiến thức
Ví dụ tạo tình huống để học sinh xây dựng được mô hình giả định về sự phụ thuộc của lực đàn hồi vào độ biến dạng của lò xo
+ GV định hướng: Lấy tay kéo dãn (hoặc nén) một lò xo dọc theo trục của nó
với các độ biến dạng khác nhau Khi kéo hoặc nén lò xo thì tay bị kéo hoặc đẩy ngược lại Khi độ biến dạng càng lớn thì cảm giác cho thấy lực kéo hay đẩy tay ta càng mạnh và ngược lại Có mối liên hệ gì giữa độ lớn và hướng của lực đàn hồi tác
dụng lên tay với biến dạng của lò xo? Có thể biểu diễn mối liên hệ này bằng mô hình như thế nào?
+ HS đề xuất mô hình: Lực đàn hồi có chiều ngược với chiều biến dạng và có
độ lớn tỉ lệ với độ biến dạng Nếu gọi độ biến dạng là x thì mô hình lực đàn hồi là
F = - kx
Nh ận xét: Định hướng sáng tạo là kiểu định hướng đòi hỏi tính tự lực cao
nhất ở học sinh, giúp phát triển một cách tốt nhất năng lực tư duy và sáng tạo của
học sinh Tuy nhiên kiểu định hướng này đòi hỏi cả giáo viên lẫn học sinh phải có trình độ hiểu biết cao và vận dụng linh hoạt các kiến thức Kiểu định hướng này
phức tạp và không thể áp dụng một cách đầy đủ với mọi đối tượng học sinh và với
mọi kiến thức vì không phải học sinh nào và cũng không phải lúc nào học sinh cũng
có khả năng tự mình tìm tòi sáng tạo ra tri thức cần học Hơn nữa với điều kiện thực
tế hiện nay, nội dung kiến thức còn nặng nề, thời gian trên lớp hạn hẹp cùng với nội dung thi cử chưa chú trọng đến tính sáng tạo của học sinh nên kiểu định hướng sáng
tạo không dễ dàng thành công
Trang 25Với ưu nhược điểm của từng kiểu định hướng như vậy, người giáo viên phải
biết linh hoạt kết hợp nhiều kiểu định hướng khác nhau, hạ thấp dần mức độ định hướng cho phù hợp với tình hình cụ thể để giúp học sinh phát huy năng lực tự học
của mình một cách tốt nhất
Phương tiện trong định hướng: là hệ thống câu hỏi và lệnh
- Câu hỏi và lệnh phải được diễn đạt đúng ngữ pháp và nội dung khoa học, diễn đạt chính xác, rõ ràng nội dung yêu cầu học sinh thực hiện và phải vừa sức đối với học sinh
- Không nên đặt những câu hỏi có hoặc không, câu hỏi trùng lặp Khi đặt câu hỏi giáo viên cần chú ý thái độ và giọng nói của mình, không nên hỏi sẵng, gắt gỏng vì
sẽ làm học sinh mất hứng thú và không hợp tác trả lời
1.3.2.2 T ổ chức các hoạt động học tập
a Ở trường
Tùy vào từng nội dung kiến thức và từng đối tượng cụ thể mà giáo viên dùng
những phương pháp và những định hướng khác nhau, từng bước dẫn dắt học sinh tham gia giải quyết các nhiệm vụ:
- Phát hiện vấn đề
- Thu thập thông tin
- Xử lí thông tin
- Hình thành kiến thức mới
- Phát hiện sai lầm và tìm cách sửa chữa
- Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề có liên quan
- Nêu ý kiến phản hồi
b Ở nhà
Trang 26Việc học tập ở nhà là vô cùng quan trọng, giúp học sinh củng cố kiến thức, tự tìm hiểu thêm kiến thức để hiểu sâu sắc hơn bài học trên lớp ; rèn luyện các kĩ năng,
nhất là kĩ năng giải bài tập; chuẩn bị bài mới để có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức
mới trên lớp… Tuy nhiên, mỗi ngày các em phải học 4-5 môn nên những yêu cầu
của giáo viên cho học sinh làm ở nhà phải phù hợp, cần chú ý đến thời gian thực
hiện của các em Vật lý là bộ môn cần phải rèn luyện nhiều nên khối lượng công
việc về nhà cho các em nên được thực hiện khoảng từ 1 đến 2 giờ đồng hồ, tránh tình trạng quá tải đối với học sinh
- Tổ chức cho học sinh tự chuẩn bị bài mới: giúp học sinh có thể định hướng, chuẩn
bị tâm lý và kiến thức cho giờ học trên lớp Giáo viên cần xây dựng một hệ thống câu hỏi sao cho trong bản thân câu hỏi chứa đựng việc hướng dẫn học sinh đọc sách
hoặc hướng dẫn học sinh quan sát, tìm hiểu những hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài mới
- Tổ chức cho học sinh củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức:
+ Yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa, đối chiếu với việc ghi chép trên lớp,
vẽ thêm hình ảnh, đồ thị, mô tả lại thí nghiệm đã làm trên lớp
+ Yêu cầu học sinh lập bảng tóm tắt kiến thức hoặc sơ đồ tư duy để hệ thống
lại kiến thức và ghi nhớ tốt
+ Giao bài tập vật lí về nhà, như đã nói ở trên, cần yêu cầu học sinh phân tích
đề bài để hiểu đúng bản chất vật lí của bài tập chứ không đơn thuần là áp dụng công
thức một cách máy móc Hệ thống bài tập cần được soạn thảo chặt chẽ từ dễ đến khó để học sinh không nhàm chán, không nản chí, tạo hứng thú giải bài tập cho các
em
- Tổ chức cho học sinh tự làm thí nghiệm ở nhà
+ Mô tả một phương án thí nghiệm, yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm,
giải thích kết quả thí nghiệm
Trang 27+ Hướng dẫn học sinh làm những thí nghiệm vật lí vui, dễ làm, thông qua đó các em sẽ hiểu sâu sắc hơn bài học trên lớp Giáo viên cần sắp xếp thời gian để các nhóm trình bày sản phẩm trước lớp
- Tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
1.3.2.3 Các bi ện pháp tổ chức phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập
v ật lý của học sinh [13]:
- Xây dựng nhóm học tập và tinh thần đồng đội cho HS
Với những ưu điểm đã trình bày ở phần phương pháp thảo luận theo nhóm
nhỏ, người giáo viên cần chú ý tổ chức cho HS làm việc nhóm, hiệu quả công việc
sẽ đạt được cao hơn và phát huy được tính tự lực của học sinh, đồng thời tăng cường tình đoàn kết trong lớp
- Thiết kế các loại phiếu học tập
Có 2 loại phiếu học tập là phiếu học tập trên lớp và phiếu học tập ở nhà Phiếu
học tập trên lớp phải được thiết kế sao cho nhiệm vụ học tập phải được sắp xếp một cách logic theo sự phát triển của bài học và phải phát huy cao nhất tính tích cực, tự
lực học tập của học sinh Còn phiếu học tập ở nhà có thể là hệ thống câu hỏi, yêu
cầu học sinh ôn lại kiến thức hoặc là nghiên cứu bài mới
- Tạo bầu không khí học tập thích hợp
Giáo viên cần tạo bầu không khí thoải mái, nhẹ nhàng trong giờ học bằng thái
độ vui vẻ, hài hước, cho phép học sinh được phát biểu ý kiến, trao đổi với giáo viên
và bạn bè trong giới hạn cho phép Ngoài ra giáo viên còn phải biết lắng nghe, biết cách động viên, khích lệ kịp thời để học sinh cảm thấy thoải mái, an tâm và tự tin hơn, kích thích tính tự lực học tập của các em
- Kích thích hứng thú và sự chú ý của học sinh đối với kiến thức
Trang 28Ngay đầu bài học, giáo viên phải làm cho học sinh thấy được bài học đó có ý nghĩa như thế nào đối với các em, có như thế học sinh mới có được hứng thú và sẽ luôn chú ý vào bài học
Mặt khác, các nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao cho học sinh phải vừa sức,
nếu không các em sẽ dễ nản và mất đi hứng thú học tập
Trong bài học có những kiến thức khô khan, không tạo được sự thích thú đối
với học sinh thì giáo viên phải biết liên hệ với thực tế để nội dung dạy học được sinh động, không gây cảm giác buồn chán cho học sinh
Ngoài ra giáo viên cần phải chú ý:
+ Lựa chọn từ ngữ để chuyển đề tài dựa vào mối quan hệ giữa đề tài này với
đề tài khác, phải làm rõ lợi ích, tính mới lạ, sự cần thiết phát triển đề tài mới so với
cũ
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Đưa ra mục tiêu và cách thức hành động để đạt được mục tiêu đó
+ Thường xuyên kiểm tra sự chú ý của học sinh
- Lựa chọn phương pháp và thủ thuật dạy học
Cần lựa chọn và kết hợp những phương pháp dạy học có tác dụng tăng cường tính tự lực, tích cực của học sinh, có thể sử dụng các phương pháp dạy học đã nêu ở trên
Việc lựa chọn phương pháp và thủ thuật dạy học là một nghệ thuật, là nét riêng của từng giáo viên Do đó người giáo viên phải không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ của mình
- Sử dụng sách giáo khoa
Trang 29Giáo viên cần tận dụng sách giáo khoa, yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa
cả phần đặt vấn đề mỗi chương hay mỗi bài, phần nội dung chính của bài học và cả
phần đọc thêm Nếu giáo viên biết cách tổ chức cho học sinh làm việc với sách giáo khoa một cách phù hợp thì sẽ tăng cường được tính tích cực, tự lực tìm tòi khám phá của học sinh, đồng thời tiết kiệm được thời gian với những kiến thức mà với trình độ của học sinh chỉ cần đọc là có thể hiểu được.Việc đọc sách giáo khoa có thể được tiến hành trên lớp hoặc ở nhà
- Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý
Hiện nay, máy vi tính và các phần mềm dạy học vật lý đã hỗ trợ giáo viên rất nhiều trong việc giảng dạy Các chương trình máy tính có thể thay thế một số công
việc của giáo viên trên lớp như vẽ hình, lập sơ đồ hoặc thí nghiệm ảo để học dễ hình dung, làm tiết học thêm sinh động, học sinh thích thú
Ngoài ra, Internet là nguồn tài liệu vô cùng phong phú để giáo viên và học sinh tham khảo, đồng thời là nơi để giáo viên và học sinh trao đổi với nhau ngoài
giờ lên lớp hoặc đưa ra những ý kiến phản hồi
- Giải bài tập vật lý
Giáo viên phải xây dựng một hệ thống bài tập từ dễ đến khó, bài tập định tính nên xếp trước các bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm đưa ra sau cùng Bài tập
Trang 30định lượng là dạng bài tập học sinh thích thú nhất vì nó có những con số cụ thể, rõ ràng nên cần khai thác triệt để tính tích cực, tự lực của học thông qua dạng bài tập này
Về phương pháp tiến hành giải bài tập vật lý:
+ Giáo viên nên giao bài tập về nhà cho học sinh chuẩn bị trước
+ Rèn luyện cho học sinh kĩ năng phân tích đề để hiểu ý đồ của bài tập
+ Cần chú trọng vào việc hướng dẫn học sinh tìm ra ý nghĩa vật lý của bài tập
chứ không chỉ đơn thuần là áp dụng công thức một cách máy móc
+ Cho học sinh bàn luận về bài tập, về việc chọn lựa công thức và việc chọn đơn vị của các đại lượng sao cho phù hợp và chính xác
+ Lắng nghe học sinh trình bày những hiểu biết cùng với phương án giải quyết bài tập đó rồi phân tích đúng sai và sửa chữa cho hoàn chỉnh
+ Giao một số bài tập tương tự về nhà để học sinh tự rèn luyện
+ Khuyến khích học sinh tự đặt ra những bài tập có liên quan đến kiến thức
vừa học
- Kiểm tra, đánh giá
+ Kiểm tra vấn đáp: đây là công việc phải làm thường xuyên trong suốt giờ
học, từ việc ôn lại kiến thức cũ đến việc vận dụng nó vào xây dựng kiến thức mới
và cuối cùng là củng cố kiến thức vừa học Công việc này giúp giáo viên đánh giá được sự lĩnh hội của học sinh để có những điều chỉnh kịp thời, mặt khác giúp học sinh tích cực ôn bài cũ cũng như hoạt động tích cực hơn trên lớp
+ Kiểm tra viết: hình thức này thường dùng khi cần kiểm tra mức độ lĩnh hội
và khả năng vận dụng kiến thức một cách tổng hợp theo chương hay theo chủ đề
Trang 31Tổ chức những buổi nói chuyện ngoại khóa về những thành tựu và ứng dụng
của vật lý vào khoa học kỹ thuật và đời sống
1.4 K ết luận
Chương I đã trình bày tóm tắt một số phương pháp, biện pháp tổ chức dạy học
và một số định hướng của giáo viên cũng như các hoạt động tự học của học sinh
nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực học tập môn vật lý cho học sinh ở trường phổ thông Để đạt được mục tiêu dạy học, giáo viên phải biết vận dụng và kết hợp một cách sáng tạo các phương pháp và các định hướng dạy học, đồng thời nắm bắt đặc điểm tình hình cụ thể của đối tượng dạy học mà có những điều chỉnh thích hợp
Trang 32CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
H ỌC SINH
Trong chương này, chúng tôi vận dụng những cơ sở của phần lý luận để vận
dụng xây dựng một số tiến trình giảng dạy chương “Cảm ứng điện từ” theo hướng phát huy khả năng tự lực học tập, chiếm lĩnh tri thức của học sinh
Gồm các bài học:
- Hiện tượng cảm ứng điện từ Suất điện động cảm ứng
- Suất điện động cảm ứng của một đoạn dây chuyển động trong từ trường
- Dòng diện Fu-cô
- Hiện tượng tự cảm
2.1 Phân tích c ấu trúc nội dung chương “cảm ứng điện từ”
2.1.1 M ục tiêu của chương [14]
- Trình bày được khái niệm từ thông
- Vận dụng được công thức xác định suất điện động cảm ứng trong trường hợp
mạch điện kín và trong trường hợp một đoạn dây dẫn chuyển động trong từ trường
- Trình bày và vận dụng được định luật Len-xơ và quy tắc bàn tay phải
- Vận dụng được công thức xác định suất điện động tự cảm
- Vận dụng được công thức xác định năng lượng trong ống dây mang dòng điện và năng lượng điện trường
Trang 332.1.2 S ơ đồ hình thành kiến thức chương “Cảm ứng điện từ”
Nhìn vào sơ đồ ta thấy kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” được hình thành thông qua các bước sau:
Bước 1: Khảo sát định lượng các kiến thức về cảm ứng điện từ đã được giới thiệu một cách định tính ở lớp 9
Bước 2: Vận dụng kiến thức của bài “Hiện tượng cảm ứng điện từ Suất điện động cảm ứng” để khảo sát sự xuất hiện của suất điện động cảm ứng trong một đoạn dây chuyển động cũng như cách xác định cực và độ lớn của suất điện động trong đoạn dây
Bước 3: Vận dụng kiến thức bài “Hiện tượng cảm ứng điện từ Suất điện động
cảm ứng” để tìm hiểu về dòng điện Fu-cô, vì dòng điện Fu-cô thực chất là dòng điện cảm ứng, tìm các ví dụ về ứng dụng cũng như tác hại của dòng điện Fu-cô trong đới sống và kĩ thuật
Trang 34Bước 4: Vận dụng kiến thức bài “Hiện tượng cảm ứng điện từ Suất điện động
cảm ứng” để khảo sát một trường hợp riêng của hiện tượng cảm ứng điện từ, đó là
hiện tượng tự cảm
Bước 5: Nhận xét thí nghiệm hiện tượng tự cảm khi ngắt mạch, chứng tỏ khi ống dây có dòng điện thì ống dây có năng lượng Thông báo cho HS công thức xác định năng lượng từ trường trong ống dây và công thức xác định mật độ năng lượng
từ trường
Bước 6: Vận dụng các kiến thức đã học ở các bài Hiện tượng cảm ứng điện từ
- Suất điện động cảm ứng, Suất điện động cảm ứng trong một đoạn dây chuyển động trong từ trường, Hiện tượng tự cảm, Năng lượng từ trường để giải một số bài
+ Dòng điện cảm ứng: Dòng điện xuất hiện khi có sự biến đổi từ thông qua
mạch điện kín gọi là dòng điện cảm ứng
+ Suất điện động cảm ứng: Khi có sự biến đổi từ thông qua mặt giới hạn bởi
một mạch kín thì trong mạch xuất hiện suất điện động cảm ứng
Trang 35+ Hiện tượng cảm ứng điện từ: Hiện tượng xuất hiện suất điện động cảm ứng
gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ
- Định luật Len-xơ về chiều dòng điện cảm ứng
Dòng điện cảm ứng có chiều sao cho từ trường do nó sinh ra có tác dụng
chống lại nguyên nhân đã sinh ra nó
- Định luật Fa-ra-day về cảm ứng điện từ
Độ lớn của suất điện động cảm ứng trong mạch kín tỉ lệ với tốc độ biến thiên
của từ thông qua mạch
- Suất điện động cảm ứng trong một đoạn dây dẫn chuyển động: Khi một đoạn dây chuyển động cắt các đường sức từ thì trong đoạn dây đó xuất hiện suất điện động cảm ứng, khi đó đoạn dây đóng vai trò như một nguồn điện, có các cực được xác định bằng quy tắc bàn tay phải
+ Quy tắc bàn tay phải: Đặt bàn tay phải hứng các đường sức từ, ngón cái choãi ra 900 hướng theo chiều chuyển động của đoạn dây, khi đó đoạn dây dẫn đóng vai trò như một nguồn điện, chiều từ cổ tay đến bốn ngón tay chỉ chiều từ cực âm sang cực dương của nguồn điện đó
+ Biểu thức suất điện động cảm ứng trong đoạn dây:
|e c| =Bvlsinα
Với α là góc tạo bởi B
và v
- Dòng điện Fu-cô
Trang 36Dòng diện cảm ứng được sinh ra ở trong khối vật dẫn khi vật dẫn chuyển động trong từ trường hay được dặt trong từ trường biến đổi theo thời gian là dòng điện Fu-cô
- Hiện tượng tự cảm
Hiện tượng cảm ứng điện từ trong một mạch điện do chính sự biến đổi của dòng điện do chính sự biến đổi của dòng điện trong mạch đó gây ra gọi là hiện tượng tự cảm
- Năng lượng từ trường
Năng lượng của ống dây có dòng điện:
Trang 372.1.4 K ết luận
Các bài học trong chương “Cảm ứng điện từ” chủ yếu là vận dụng kiến thức
cũ để tìm ra kiến thức mới, nhiều kiến thức giúp HS giải quyết những vấn đề liên quan trong cuộc sống Điều này rất thuận lợi cho việc định hướng và tổ chức cho
HS tự lực học tập
2.2 Thi ết kế nội dung bài giảng
2.2.1 Bài 38: Hi ện tượng cảm ứng điện từ suất điện động cảm ứng
2.2.1.1 Ti ến trình hình thành kiến thức
- Bước 1: Thông qua việc tiến hành 2 thí nghiệm (thí nghiệm 1 về cảm ứng điện từ khi nam châm và ống dây chuyển động đối với nhau, thí nghiệm 2 về cảm ứng cảm ứng điện từ khi dòng điện trong ống dây biến đổi) rút ra nhận xét: Khi số đường sức từ xuyên qua một mạch kín biến đổi thì trong mạch xuất hiện dòng điện
- Bước 2: Thừa nhận công thức tính từ thông, tìm hiểu ý nghĩa và đơn vị của
- Bước 5: Tiến hành thí nghiệm để khảo sát một cách định tính về sự phụ thuộc của độ lớn suất điện động cảm ứng vào tốc độ biến thiên của từ thông Từ đó
GV thông báo cho học sinh định luật Faraday về cảm ứng điện từ
2.2.1.2 M ục tiêu bài học
a M ục tiêu hành động
- Tiến hành được các thí nghiệm về cảm ứng điện từ
Trang 38- Phát hiện được vấn đề: Làm thế nào để xác định được chiều dòng điện cảm ứng?
- Tiến hành thí nghiệm và xác định được chiều dòng điện cảm ứng
- Đề xuất và tiến hành được thí nghiệm để khảo sát độ lớn của suất điện động cảm ứng có liên quan đến tốc độ biến thiên từ thông hay không
- Phát biểu được định nghĩa
dòng điện cảm ứng, suất điện
động cảm ứng, hiện tượng cảm
ứng điện từ
- Hiểu được định luật
Len-xơ về chiều dòng điện cảm ứng
+ Bố trí và tiến hành được thí nghiệm
và rút ra nhận xét: Khi số đường sức từ xuyên qua mạch kín biến đổi thì trong mạch kín xuất hiện dòng điện
+ Viết được công thức tính từ thông + Nêu được ý nghĩa và đơn vị của từ thông
+ Nêu được các cách làm thay đổi từ thông
+ Sử dụng được khái niệm từ thông để định nghĩa hiện tượng cảm ứng điện từ + Vận dụng được công thức để tính từ thông qua một mạch kín
+ Phát biểu được định nghĩa dòng điện
cảm ứng, suất điện động cảm ứng, hiện tượng cảm ứng điện từ
+ Phát biểu được định luật Len-xơ + Áp dụng được định luật Len-xơ để xác định chiều dòng điện cảm ứng trong các trường hợp khác nhau
Trang 39- Hiểu được định luật
- Định hướng theo mẫu, từng phần để học sinh làm thí nghiệm phụ nhằm xác định
sự tương ứng giữa chiều dòng điện qua điện kế và phía lệch của kim điện kế
- Định hướng tìm tòi để học sinh tiến hành thí nghiệm về định luật Len-xơ và tìm được cách xác định chiều dòng điện cảm ứng
- Định hướng suy luận – chương trình hóa để học sinh đề xuất và tiến hành thí nghiệm khảo sát: độ lớn của suất điện động cảm ứng có liên quan đến tốc độ biến đổi từ thông hay không
b Phương pháp đàm thoại
- Định hướng suy luận tương tự để học sinh giải thích hiện tượng kim điện kế bị
lệch ở thí nghiệm 38.2 SGK
Trang 40- Định hướng suy luận- chương trình hóa cho hoạt động tìm hiểu ý nghĩa từ thông
- Định hướng theo mẫu, tái tạo trong việc hướng dẫn học sinh làm việc với SGK và phát biểu định nghĩa dòng điện cảm ứng, suất điện động cảm ứng, hiện tượng cảm ứng điện từ
- Định hướng sáng tạo để học sinh phát hiện vấn đề: Làm thế nào để xác định chiều dòng điện cảm ứng
- Định hướng theo mẫu, tái tạo trong việc xây dựng biểu thức tính suất điện động