1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình huy động và cho vay vốn dưới tác động của lãi suất tại chi nhánh ngân hàng Nông Nghiệp & PTNT Cầu Giấy – Hà Nội năm 2008

21 485 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình huy động và cho vay vốn dưới tác động của lãi suất tại chi nhánh ngân hàng Nông Nghiệp & PTNT Cầu Giấy – Hà Nội năm 2008
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 640 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài:Tình hình huy động và cho vay vốn dưới tác động của lãi suất tại chi nhánh ngân hàng Nông Nghiệp & PTNT Cầu Giấy – Hà Nội năm 2008

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Lãi suất là giá cả của tiền tệ, là công cụ điều hành kinh tế vĩ

mô Lãi suất tác động đến cung cầu vốn thị trường, tạo động lực kích thích tiếtkiệm, phân bổ các nguồn vốn tài chính, chống lạm phát thông qua kích thíchhoặc hạn chế đầu tư Ngân hàng cung cấp dịch vụ với giá cả nhất định Với tưcách là trung gian tài chính, ngân hàng phải trả giá cho khách hàng về phần lớnnguồn tiền mà ngân hàng huy động được cấu thành chi phí của ngân hàng vàngược lại khách hàng cũng phải trả giá cho các sản phẩm mà ngân hàng cungcấp - cấu thành thu nhập của ngân hàng Do tính chất và yêu cầu về các sảnphẩm, giá các sản phẩm của ngân hàng rất đa dạng cho phép khách hàng tiếpcận với hàng triệu khách hàng khác nhau, thuộc những vùng, ngành nghề khácnhau

Mỗi ngân hàng đều có chiến lược hay lý do riêng khi quyết định thayđổi lãi suất tiền gửi hoặc lãi suất cho vay Có những lúc các ngân hàng phảichịu lãi suất tiền gửi cao và chấp nhận cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suấthuy động Khi tăng lãi suất huy động , các ngân hàng đều nhằm vào việc thuhút thêm lượng tiền hiện đang luân chuyển trong thị trường để phục vụ mụcđích tài chính nào đó Tuỳ vào nhu cầu tiền mặt của ngân hàng, của chính phủhay các khách hàng lớn cần vay để mua bán, đầu tư vào dự án trọng điểm, cácngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất thấp hay cao để thu hút dân chúng bỏ tiềnvào các khoản hoặc quỹ tiết kiệm

Năm 2008 là năm mà tình hình tài chính toàn cầu chứng kiến những thay đổilớn và liên tục Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ kéo theo hàng loạt nhữngbiến động thị trường tài chính các nước cùng với đó là sự biến động chóngmặt và bất ngờ về lãi suất của tất cả các NHTM nhằm ổn định lại thị trường

Trang 2

Biến động mạnh và theo hướng ngược chiều nhau là đặc điểm chung về lãisuất huy động cũng như lãi suất cho vay của nhiều ngân hàng Căn cứ vào đó

có thể thấy độ nhạy cảm của huy động và cho vay vốn với lãi suất luôn thayđổi Xuất phát từ thực tế trên tôi hình thành ý tưởng và nghiên cứu đề tài :

“Tình hình huy động và cho vay vốn dưới tác động của lãi suất tại chi nhánh ngân hàng Nông Nghiệp & PTNT Cầu Giấy – Hà Nội năm 2008”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu sự tác động của thay đổi lãi suất tới huy động

và cho vay vốn tại chi nhánh ngân hàng NNo&PTNT Cầu Giấy – Hà Nội

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của lãi suất tới kết quả huy động và chovay vốn tại chi nhánh năm 2008

Trang 3

No&PTNT Cầu Giấy- Hà Nội.

- Phạm vi thời gian: Đề tài đánh giá kết quả hoạt động chung trong 3năm 2006-2008 Nghiên cứu sự biến động lãi suất trong năm 2008

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp: Đây là những số liệu, thông tin đã đượcnghiên cứu và công bố phục vụ cho quá trình nghiên cứu, nắm được thông tin

về địa bàn và đối tượng nghiên cứu Bao gồm thu thập số liệu qua sách báo,các công trình khoa học được công bố, số liệu thống kê, các bảng tổng kết vàbảng số liệu theo dõi hoạt động tại chi nhánh… Cụ thể đọc và nghiên cứunhững tài liệu liên quan tới đề tài nghiên cứu

1.4.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được tiến hành chọn lọc và xử lý bằng excel đưa rađựơc bảng biểu và đồ thị

1.4.3 Phương pháp phân tích số liệu

1.4.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Là quá trình chuyển dịch dữ liệu thô thành những dạng thích hợp hơncho việc hiểu và giải thích chúng Trong đề tài tôi sử dụng số tương đối, sốtuyệt đối và số bình quân…

1.4.3.2 Phương pháp so sánh

So sánh số liệu qua các thời kỳ và giai đoạn để thấy được sự biến độngcủa các chỉ tiêu nghiên cứu

Trang 4

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY VỐN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Khái quát chung về lãi suất

2.1.1 Khái niệm về lãi suất

Lãi suất là một phạm trù kinh tế khách quan, mangtính chất tổng hợp và đa dạng Nó là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức phảitrả trên tổng số vốn đi vay trong một thời gian nhất định (năm, quí, tháng,ngày…) Lãi suất được biểu hiện dưới dạng số tuyệt đối, đó chính là lợi tứctín dụng Như vậy lợi tức tín dụng là khoản tiền phải trả cho việc vay mượnquyền sở hữu và quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định

Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất giữ

vị trí khá quan trọng Lãi suất là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, gópphần thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia Chính sách lãi suất, nếutạo ra được mức lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ có tácdụng thúc đẩy kích thích các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng sảnxuất, đổi mới thiết bị, trang bị công nghệ sản xuất hiện đại bằng nguồn vốn vayngân hàng Hiệu quả cuối cùng sẽ tạo ra một nguồn vốn của cải cho xã hội, tổngthu nhập quốc dân tăng lên rất nhiều

Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các NHTM, lãi suất làgiá cả của vốn, do vậy thông qua lãi suất các NHTM sẽ tự điều chỉnh hoạtđộng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng của mình mà kết quả cuốicùng là nền kinh tế, các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư được lợi vì sẽ đượchưởng giá rẻ và chất lượng dịch vụ cao

Lãi suất là công cụ dùng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư trong nềnkinh tế, hay nói cách khác, khi các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư có vốn,muốn đầu tư vào lĩnh vực nào cũng cần phải lấy lãi suất tín dụng trong nền

Trang 5

kinh tế làm cơ sở và quyết định ít nhất hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác

để sinh lời và phải có tỷ lệ lớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng lãi suất tín dụng

Lãi suất còn là công cụ để kiềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chínhsách tiền tệ của NHNN Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, NHNN sẽ sửdụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưuthông về nhằm điều hoà lượng tiền trong lưu thông, cân đối với khối lượng hànghoá

2.1.2 Phân loại lãi suât

2.1.2.1 Lãi suất huy động

Ngân hàng cung cấp dịch vụ với giá cả nhất định , với tư cách làtrung gian tài chính, ngân hàng phải trả giá cho khách hàng về phần lớnnguồn tiền mà ngân hàng huy động được

Lãi suất: là tỷ lệ (%) của số lãi trên gốc trong thời gian nhất định Ví dụ,lãi suất tiền gửi là 12%/năm Nếu khách hàng gửi vào ngân hàng 100 triệu,với thời hạn 6 tháng, thì ngân hàng sẽ phải trả số tiền lãi cho khách khi đếnhạn là:

10 triệu * 6 tháng * 12%/12 = 6 triệu

Lãi suất huy động: Là các loại lãi suất ngân hàng phải trả cho nguồn huyđộng bao gồm lãi suất tiền gửi giao dịch, lãi suất tiết kiệm và lãi suất tài trợ nhưlãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay Để đảm bảo thu nhập ròng, lãi suất huy độngbình quân phải nhỏ hơn lãi suất trợ bình quân Trước đây lãi suất huy động được

ấn định ở mức cố định do NHNN ban hành nhưng điều đó tạo ra cản trở lớn chocác NHTM thực hiện nghiệp vụ của mình và thị trường tài chính luôn mang tínhbao cấp Qua nhiều những thay đổi để tiến tới tự do hoá lãi suất, ngày nay lãisuất huy động được tính một cách linh hoạt dựa trên thực tế về thị trường cung -cầu tiền tệ và các NHTM có quyền quyết định và đưa ra mức lãi suất huy động

Trang 6

phù hợp với tình hình cũng như hoạt động của mình.

Rd = Rf + Rtd

Trong đó: Rd: Lãi suất huy động

Rf: Lãi suất phi rủi ro xác định thông qua đấu thầu tínphiếu kho bạc

Rtd: Tỷ lệ bù đắp rủi ro tín dụng do ngân hàng ước

lượng

2.1.2.2 Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản: là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của

NHNN trong ngắn hạn Theo luật NHNN, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng choĐồng Việt Nam, do NHNN công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấnđịnh lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được dựa trên cơ sở lãi suất thịtrường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của NHNN, lãi suấthuy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầuvốn.Theo luật dân sự các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suấtcao gấp rưỡi lãi suất cơ bản

Tuy được nhắc đếntrong Luật NHNN và luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 1998 songlãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày 30 tháng 05 năm 2000 Tronglần đầu được công bố, lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm Vào thời điểm tháng 6năm 2008, lãi suất cơ bản là 14%/năm Điều này có nghĩa các tổ chức tín dụng

có thể quyết địng mức lãi suất cho vay của mình cao tới 21%/năm Lãi suất cơbản sẽ được NHNN công bố hàng tháng

Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ươngnước ngoài tương tự như lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam là Fed Funds

Trang 7

Rate của Hoa Kỳ, London Interbank Offered Rate (LIBOR) của Anh, TokyoInterbank Offered Rate (TIBOR) của Nhật Bản, Euro Interbank Offered Ratecủa Liên minh Châu Âu.

Rcb = Rd + Rtn

Trong đó: Rcb: Lãi suất cơ bản

Rd: Lãi suất huy động

Rtn: Tỷ lệ thu nhập do đầu tư của ngân hàng

2.1.2.3 Lãi suất cho vay

Hoạt động tín dụng là họat động cơ bản và truyền thống của ngân hàng.Khi cạnh tranh trên thị trường cho vay càng cao, ngân hàng càng phải cố gắngduy trì giá của các khoản tín dụng tại mức hợp lý, phù hợp với mặt bằngchung của thị trường tài chính Trong một thị trường có tính cạnh tranh cao,ngân hàng chỉ có thể đóng vai trò là người chấp nhận giá, ngân hàng khôngthể là người đặt giá Cùng với quá trình tự do hóa hoạt động ngân hàng tạinhiều quốc gia, sự gia tăng trong cạnh tranh đã thu hẹp đáng kể khả năng sinhlời của ngân hàng từ các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay Chính vì vậy,việc định giá chính xác các khoản cho vay ngày càng trở thành vấn đề cấpthiết đối với ngân hàng trong giai đoạn hiện nay

Lãi suất cho vay là tỷ lệ số tiền lãi so với số tiền gốc khách hàng vay phải trảcho NHTM

Có hai cách xác định lãi suất cho vay:

+ Dựa trên lãi suất cơ bản:

R= Rcb + Rth + Rct

Trong đó: R: Lãi suất cho vay

Trang 8

Rcb: Lãi suất cơ bản

Rth: Tỷ lệ điều chỉnh rủi ro thời hạn

Rct: Tỷ lệ điều chỉnh cạnh tranh

+ Dựa trên lãi suất thi trường liên ngân hàng, là lãi suất các ngânhàng cho nhau vay Lãi suất trên thị trường lien ngân hàng nổi tiếng như LIBOR,SIBOR thường trở thành lãi suất cơ bản của các NHTM Lãi suất này thườngxuyên thay đổi Do đó, nếu ngân hàng áp dụng cho vay với lãi suất thả nổithường chọn lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hình thành lãi suất cho vay:

R = LIBOR + Rtd + Rth

Trong đó: R: Lãi suất cho vay

LIBOR: Lãi suất liên ngân hàng

Rtd: Tỷ lệ bù đắp rủi ro tín dụng do ngân hàng ước lượng

Rth: Tỷ lệ điều trỉnh rủi ro thời hạn

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng là thị trường màcác NHTM thực hiện việc vay và cho vay lẫn nhau sau khi họ đã tự cân đốigiữa nguồn vốn và sử dụng vốn tại ngân hàng của mình Lãi suất cho vay liênngân hàng là mức lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, nó chỉ dẫnkhá chính xác về chi phí vốn vay của các NHTM và cung - cầu vốn trên thịtrường Mỗi loại ngoại tệ được chào mời với một lãi suất riêng biệt chủ yếuvới thời hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng vào thời điểm 11h30’(Giờ London) khi

mà tình hình cung cầu đã rõ nét trên thị trường vốn quốc tế

2.2 Hoạt động huy động và cho vay vốn.

2.2.1 Hoạt động huy động vốn

2.2.1.1 Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của

Trang 9

NHTM Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở cáctài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đóngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư.

Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồntiề của ngân hàng Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để cóđược nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao,các ngân hàng đã đưa ra và thựchiện nhiều hính thức huy động khác nhau

- Tiền gửi thanh toán( tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán): Đây

là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hànggiữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả củadoanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện Các khoản thu bằngtiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanhtoán theo yêu cầu Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rất thấp (hoặc bằngkhông), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàngvới mức phí thấp Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán (tài khoản cóthể phát séc) cho khách hàng Thủ tục mở rất đơn giản Yêu cầu của ngânhàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư Mộtngân hàng kết hợp tài khoản và tài khoản cho vay (thấu chi – chi trội trên số

dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán) Một số ngân hàng sử dụng nhiềuhình thức “ biến tướng” của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất loại tiền gửinày nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác

- Tiền có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều khoản thubằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thờigian xác định Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toánsong lãi suất lại thấp Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngânhàng đã đưa ra hình thức gửi tiền có kì hạn Người gửi không được sử dụngcác hình thức thanh toán để áp dụng với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu,

Trang 10

người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra Tuy không thuận lợi cho tiêudùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kì hạn được hưởnglãi suất cao hơn tùy theo độ dài của kì hạn.

-Tiền gửi tiết kiệm của dân cư : Các tầng lớp dân cư đều có các khoảnthu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm) Trong điều kiện cókhả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiệncác mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhucầu bảo toàn Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều

cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhàbằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đadạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiếtkiệm nhiều chương mục tiết kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn vàmỗi lần gửi khác nhau Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hang

và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép

- Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ

và một số mục đích khác ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngânhàng khác Tuy nhiên, quy mô nguồn vốn này thường không lớn

2.2.1.2 Nguồn đi vay và nghiệp vụ đi vay của NHTM

Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM Tuy nhiên, khi cần ngânhàng thường đi vay mượn thêm Tại nhiều nước ngân hàng Trung ươngthường qui định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn chủ Do vậy nhiềungân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhucầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế

-Vay NHNN: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp báchtrong chi trả của NHTM Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắtbuộc, dự trữ thanh toán) NHTM thường vay NHNN Hình thức cho vay chủ

Trang 11

yếu của NHNN là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn) Các thương phiếu đã đượccác NHTM chiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở thành tài sản của họ Khi cầntiền, ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại NHNN.Nghiệp vụ này làm thương phiếu của NHTM giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặctiền gửi tại NHNN) tăng lên NHNN điều hành vay mượn này một cách chặtchẽ; NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định.Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chấtlượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêucủa NHNN trong từng thời kì Trong điều kiện chưa có thương phiếu, NHNNcho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.

-Vay các tổ chức tín dụng khác : Đây là nguồn các ngân hàng vaymượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngânhàng Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bấtngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho cácngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Ngược lại, các ngân hàngđang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản.Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dựtrữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thếcho nguồn vay mượn từ NHNN Quá trình vay mượn rất đơn giản Ngân hàngvay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàngđại lí (hoặc NHNN) Khoản vay có thể không cần đảm bảo hoặc được đảmbảo bằng các chứng khoán của kho bạc Kết quả là dự trữ của ngân hàng chovay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên

-Vay trên thị trường vốn: Giống như các doanh nghiệp khác, các ngânhàng cũng vay nợ bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, tráiphiếu) trên thị trường vốn Rất nhiều NHTM thiếu vốn tiền gửi trung và dàihạn Do vậy các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền

Ngày đăng: 23/04/2013, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w