1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai

154 628 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống kinh tế - xã hội của nước ta lại bao gồm các hệ thống kinh tế - xã hội nhỏ hơn ở cấp tỉnh, thành phố như Đồng Nai và hệ thống này còn tiếp tục được phân chia tới các cấp nhỏ hơn

Trang 1

Hoàng Đức Thọ

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, 2012

Trang 2

Hoàng Đức Thọ

Chuyên ngành : Địa lý học (Trừ Địa lý tự nhiên)

Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS ĐẶNG VĂN PHAN

Thành phố Hồ Chí Minh, 2012

Trang 3

Để hoàn thành chương trình cao học và bài luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, động viên của qúy thầy cô, gia đình, bạn bè

Trước hết tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Văn Phan đã tận tình hướng dẫn để tác giả hoàn thành tốt luận văn

Đồng thời tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Địa lý trường Đại học Sư Phạm thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành khóa học

Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên trong suốt quá trình làm đề tài

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng với tất cả sự nhiệt tình và năng lực, song luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn!

Học viên Hoàng Đức Thọ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn nghiên cứu là kết quả của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng số liệu

Danh mục bản đồ, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TCLT CÔNG NGHIỆP 8

1.1 Một số khái niệm 8

1.1.1 Tổ chức lãnh thổ 8

1.1.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 12

1.1.3 Các yêu cầu cơ bản của tổ chức lãnh thổ công nghiệp 14

1.1.4 Hệ thống phân vị tổ chức lãnh thổ công nghiệp 15

1.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ khu công nghiệp 23

1.2.1 Nhóm nhân tố bên trong 23

1.2.2 Nhóm nhân tố bên ngoài 25

1.3.Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam 25

1.3.1 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Đài Loan 25

1.3.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Thái Lan 26

1.3.3 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Malaixia 27

1.3.4 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam 28

1.4 Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2000 – 2010 29

2.1 Khái quát tỉnh Đồng Nai 29

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLT KCN tỉnh Đồng Nai 30

Trang 6

2.2.1 Nhóm nhân tố bên trong 30

2.2.2 Nhóm nhân tố bên ngoài 41

2.2.3 Đánh giá chung 42

2.3 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 – 2010 43

2.4 Thực trạng tổ chức lãnh thổ KCN tỉnh Đồng Nai 45

2.4.1 Quá trình hình thành và phát triển các KCN tỉnh Đồng Nai 45

2.4.2 Bản chất của các KCN tỉnh Đồng Nai 46

2.4.3 Tình hình phân bố các KCN trên lãnh thổ 54

2.4.4 Tình hình quản lý các KCN 56

2.4.5 Tình hình sử dụng đất của các KCN 56

2.4.6 Lao động sản xuất trong KCN 59

2.4.8 Tình hình thu hút vốn đầu tư phát triển KCN 70

2.4.9 Tình hình xử lý nước thải tại các KCN 72

2.4.10 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN 73

2.5 Đánh giá chung 75

2.5.1 Vai trò của các KCN 75

2.5.2 Khó khăn, hạn chế 81

2.6 Tiểu kết chương 2 87

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2020 88

3.1 Định hướng TCLT KCN tỉnh Đồng Nai đến 2020 88

3.2 Các dự báo 106

3.3 Một số giải pháp phát triển bền vững các KCN tỉnh Đồng Nai 110

3.4 Kiến nghị 122

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNCBNSTP : Công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

GTDSTN : gia tăng dân số tự nhiên

GTSXCN : giá trị sản xuất công nghiệp

KCN, KCX, KCNC : Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao

TCLTCN : Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

TCLT KTXH : Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội

VKTTĐPN : Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

XLNTTT : Xử lý nước thải tập trung

Trang 8

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 : Diện tích các loại rừng của Đồng Nai năm 2010 35

Bảng 2.2 : Tình hình sử dụng đất KCN tỉnh Đồng Nai GĐ 2000 - 2010 56

Bảng 2.3 : Tình hình sử dụng đất tại các KCN tỉnh Đồng Nai năm 2010 57

Bảng 2.4 : Lao động trong các KCN tỉnh Đồng Nai qua các năm 59

Bảng 2.5 : Tổng hợp tình hình thu hút vốn đầu tư xây dựng và phát triển KCN 70

Bảng 3.1 : Quy hoạch phát triển các KCN tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 96

Bảng 3.2 : Dự báo về cơ cấu vốn đầu tư phân theo khu vực giai đoạn 2011-2020 108

Bảng 3.3 : Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành công nghiệp 109

Bảng 3.4 : Cơ cấu các ngành công nghiệp chủ yếu trong các KCN 110

Trang 9

DANH MỤC BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ

1 Dan h mục bản đồ

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai 2010 32

Hình 2.2: Bản đồ phân bố dân cư tỉnh Đồng Nai 37

Hình 2.3: Bản đồ phân bố KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 55

2 Dan h mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: Lao động trong các KCN tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 – 2011 59

Biểu đồ 2.2: Vốn đầu tư vào các KCN tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 – 2010 65

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000-2011 74

Biểu đồ 3.1: Dự báo đóng góp của các KCN vào GDP của tỉnh 107

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc thành lập các KCN đã tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội các địa phương, đặc biệt là các địa phương khó khăn, thông qua việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư khá cởi mở đối với các khu công nghiệp nhằm thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước Qua đó, kinh tế của các địa phương có bước phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy một số ngành sản xuất phát triển, đồng thời góp phần thu ngân sách, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động

Đồng Nai là một trong các tỉnh dẫn đầu phát triển công nghiệp tại Việt Nam, là tỉnh phát triển khu công nghiệp đầu tiên tại vùng Nam bộ Việt Nam, và đang thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Riêng trong lĩnh vực quy hoạch phát triển khu công nghiệp, do có nhiều thuận lợi để phát triển công nghiệp, đến năm 2010, chưa kể các cụm tiểu thủ công nghiệp qui mô nhỏ, Đồng Nai đã qui hoạch và phát triển hơn 11.000 ha đất khu công nghiệp tập trung, trong đó Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 30 KCN với diện tích

4805 ha, trở thành địa phương dẫn đầu cả nước trong việc xây dựng phát triển Khu công nghiệp với tỷ lệ lấp đầy khoảng từ 70 - 95% Các khu công nghiệp này, cơ sở

hạ tầng đã và đang được xây dựng đồng bộ, đã bố trí trên 57% diện tích đất và đang sẵn sàng đón nhận các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Tuy nhiên, ngân sách nhà nước còn hạn hẹp nên nhiều KCN ra đời nhưng không thể nhận đủ lượng vốn ngân sách, dẫn tới tình trạng đầu tư hạ tầng không theo kịp với yêu cầu phát triển Bên cạnh đó, mặc dù các KCN có xác định tính chất nhưng chưa thực sự làm rõ được việc hình thành khu chức năng nòng cốt, chủ đạo

và gắn kết chặt chẽ Công tác phối hợp phát triển các ngành, lĩnh vực trong các KCN theo các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch vẫn chưa thực hiện tốt Các quy hoạch ngành và quy hoạch các KCN chưa gắn kết chặt chẽ nên việc kêu gọi đầu tư cũng như giám sát đầu tư theo quy hoạch chung vào các KCN chưa hoàn chỉnh, còn

Trang 11

chồng chéo Đặc biệt, sự phối hợp và liên kết, hợp tác kinh tế giữa các địa phương chưa được phát huy

Là một công dân của tỉnh, tôi chọn đề tài “Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai” để:

- Nghiên cứu chuyên môn hóa các ngành, lĩnh vực và lợi thế của từng địa phương, tạo bước đột phá phát triển ở một số KCN, tránh gây nên sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các KCN

- Nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và điều hành thực hiện theo quy hoạch, đảm bảo tính thống nhất Việc phát triển các KCN trong thời gian tới cần gắn với quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch phát triển của địa phương

- Rà soát tình hình thu hút các dự án đầu tư và tình hình đầu tư phát triển của từng khu để điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với thực tế phát triển trong thời kỳ mới, tránh lãng phí nguồn vốn đầu tư và nguồn lực đất đai

Và từ đó hi vọng có thể đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

2 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích:

+ Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp, đề tài tập trung nghiên cứu sự phân bố, hoạt động khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai

+ Qua thực trạng đánh giá và phân tích để thấy được những thành tựu và tìm ra những bất hợp lý trong tổ chức, phân bố các khu công nghiệp của tỉnh + Đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển, tổ chức các khu công nghiệp theo hướng bền vững

Nhiệm vụ:

- Lựa chọn cơ sở lý luận phù hợp để vận dụng vào việc nghiên cứu sự phân

bố, hoạt động các khu công nghiệp tại Đồng Nai

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 – 2010

Trang 12

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tổ chức hợp lý các khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2020

Giới hạn nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng, thực

trạng phân bố, phát triển và đề xuất giải pháp trong việc tổ chức, quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên

sự phát triển kinh tế nói chung, vấn đề tổ chức các khu công nghiệp của tỉnh nói riêng có quan hệ chặt chẽ với các tỉnh lân cận và cả nước Do đó trong quá trình nghiên cứu, tác giả đi sâu phân tích thực trạng tổ chức, phát triển các khu công nghiệp của Đồng Nai trong mối quan hệ với các tỉnh trong khu vực Đông Nam

Bộ và VKTTĐPN

Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu khu công nghiệp tỉnh Đồng

Nai giai đoạn 2000 – 2010, giải pháp tổ chức, phát triển khu công nghiệp giai đoạn 2011 -2020

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Qua tìm hiểu của tác giả thì hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách

hệ thống về KCN tỉnh Đồng Nai Vấn đề này mới chỉ được một số tác giả nghiên cứu như:

Phan Văn Hết (2006), Vấn đề xử lý chất thải công nghiệp đảm bảo môi

trường cho các KCN tỉnh Đồng Nai, Kỷ yếu hội nghị - hội thảo quốc gia về xây

dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam

Võ Văn Một (2006), Phát triển các KCN trong quá trình công nghiệp hóa –

hiện đại hóa tại tỉnh Đồng Nai, Kỷ yếu hội nghị - hội thảo quốc gia về xây dựng và

phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam

Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2006), Báo cáo tổng hợp ‘‘Quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2006-2020, trong đó có nghiên

cứu quy hoạch các KCN

Trang 13

Do đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài này, hi vọng có thể đóng góp công sức của mình vào sự phát triển chung của tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các quan điểm nghiên cứu

Quan điểm hệ thống:

Các hiện tượng và sự vật địa lý là một hệ thống thuộc địa lý tự nhiên và địa

lý kinh tế - xã hội Hệ thống kinh tế - xã hội của nước ta lại bao gồm các hệ thống kinh tế - xã hội nhỏ hơn ở cấp tỉnh, thành phố như Đồng Nai và hệ thống này còn tiếp tục được phân chia tới các cấp nhỏ hơn nữa như các ngành kinh tế, dân cư, xã hội,…

Nghiên cứu vấn đề tổ chức khu công nghiệp thì phải xem xét trong mối quan

hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong phạm vi lãnh thổ của tỉnh và cả trong tổng thể nền kinh tế quốc dân nước ta

Khi nghiên cứu khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, tác giả đặt trong mối quan

hệ với vùng Đông Nam Bộ cũng như cả nước Bên cạnh đó, tác giả còn đi vào phân tích tình hình phân bố, phát triển các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh

tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội chung của tỉnh

Quan điểm tổng hợp cho phép nhận thức đầy đủ các mối quan hệ phụ thuộc

và quy định lẫn nhau giữa các đối tượng, các phần tử, các quá trình diễn ra trong hoạt động công nghiệp trên một không gian và thời gian nhất định

Trang 14

Mặt khác hiệu quả của tổ chức khu công nghiệp đưa lại cũng mang tính tổng hợp như hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường

Quan điểm lịch sử - viễn cảnh:

Có thể nói Đồng Nai là vùng đất có tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc

tổ chức, quy hoạch, phát triển khu công nghiệp Hiện nay các khu công nghiệp của tỉnh phát triển mạnh mẽ Do đó, nghiên cứu lịch sử hình thành và thực trạng tổ chức, phát triển khu công nghiệp của tỉnh giúp chúng ta dễ dàng đưa ra những định hướng, giải pháp để tổ chức hợp lý các khu công nghiệp nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp của tỉnh phát triển lên tầm cao mới Trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức, quy hoạch, phát triển khu công nghiệp từ những năm 2000 đến nay, từ đó đánh giá, đưa ra định hướng và giải pháp phát triển khu công nghiệp của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững:

Việc phát triển các khu công nghiệp chưa có sự quản lý và quy hoạch chặt chẽ trong thời gian qua đã gây ra nhiều tác động tiêu cực tới các vấn đề môi trường như: làm ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước,…Chính vì vậy, cần phải xây dựng và thực hiện các phương án tổ chức, phát triển các khu công nghiệp một cách hợp lý để dung hòa được giữa những tác động tích cực – tiêu cực trong vấn đề bảo

vệ môi trường, tạo sự phát triển bền vững Quan điểm này được tác giả vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài

4.2 Hệ thống các phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Trên cơ sở thu thập các số liệu, tài liệu về sự hình thành, tình hình tổ chức phát triển,…của các KCN tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010 từ Cục thống kê, Ban quản lý các KCN và các ban ngành có liên quan tỉnh Đồng Nai, tác giả đã sử dụng phương pháp này trong việc xử lý và phân tích các cơ sở số liệu phục vụ cho

đề tài

Trang 15

2020

5 Những đóng góp chính của đề tài

- Hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức, phát triển KCN tỉnh Đồng Nai

- Tìm hiểu thực trạng tổ chức, phát triển khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000-2010 Từ đó đánh giá những thành tựu và hạn chế trong tổ chức, phát triển KCN của tỉnh

- Đưa ra định hướng và giải pháp tổ chức hợp lý khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2020

Trang 16

6 Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm 4 phần chính:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung: Gồm 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ công nghiệp

+ Chương 2: Thực trạng TCLT KCN tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 - 2010

+ Chương 3: Định hướng và giải pháp TCLT KCN tỉnh Đồng Nai GĐ 2011 - 2020

- Phần kết luận và phần phụ lục, tài liệu tham khảo

Trang 17

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TCLT CÔNG NGHIỆP

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Tổ chức lãnh thổ

1.1.1.1 Khái niệm không gian

Các Mác đã khẳng định: “Với trình độ phát triển nhất định của năng suất lao động bao giờ cũng cần một không gian nào đó”

Theo từ điển Địa Lý của Oxford Universiry Press, 1997, không gian (space) là phạm vi của một vùng hay một khu vực thường được thể hiện dưới dạng bề mặt Trái Đất Các mối quan hệ không gian giữ vị trí trung tâm trong Địa Lý học Tuy

nhiên, ở đây cần phân biệt không gian tuyết đối và không gian tương đối

Không gian tuyệt đối là một không gian tuyệt đối khách quan Không gian

tuyệt đối là một không gian nhận thức bởi con người hay xã hội có liên quan tới các mối liên hệ giữa những đối tượng và khuynh hướng của đối tượng đó

Thuật ngữ lãnh thổ: “Territory” là thuật ngữ mà trường phái các nhà khoa học

Xô Viết thường dùng trong TCLT Ở nước ta, lãnh thổ cũng được hiểu theo nghĩa không gian bao gồm: Vùng đất, vùng trời, vùng biển và vùng dưới lòng đất Do vậy,

tổ chức lãnh thổ ở đây bao hàm nghĩa không gian TCLTCN là một bộ phận quy hoạch tổng thể về tổ chức không gian kinh tế - xã hội được cụ thể hóa [Theo nghị định 92 của Chính phủ]

1.1.1.2 Tổ chức không gian kinh tế - xã hội

Nhận thức về tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội

Theo quan điểm của các nhà Địa lý phương Tây: TCLT được coi là sự lựa chọn về nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỷ lệ, quan hệ hợp lý vế sự phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành trong một vùng lớn hoặc giữa các vùng trong cùng một quốc gia có xét đến mối quan hệ giữa các quốc gia để tạo nên giá trị mới

Theo quan điểm của các nhà Địa lý Xô Viết: TCLT KTXH là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ qua lại giữa

Trang 18

các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường

Tổ chức lãnh thổ được hiểu là toàn bộ quá trình hoạt động của con người nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên có liên quan đến các mối liên hệ, các phụ thuộc lẫn nhau của chúng Các hoạt động này phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và trên cơ sở các quy luật kinh

tế hoạt động trong hình thái xã hội tương ứng Mục tiêu cơ bản của nền kinh tế là đạt đến cơ cấu sản xuất năng động hợp lý, phát triển bền vững của đất nước hay từng vùng cụ thể Tổ chức lãnh thổ cũng nhằm phát triển tổng hợp, có hiệu quả cho nền sản xuất, sử dụng hợp lý các nguồn lực tự nhiên, nâng cao đời sống nhân Như vậy, tổ chức lãnh thổ KTXH góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững

Tổ chức lãnh thổ KT-XH còn được hiểu là sự kết hợp của các cấu trúc lãnh thổ đang hoạt động: cấu trúc lãnh thổ quần cư, cấu trúc không gian xã hội, cấu trúc

không gian sản xuất,…Tổ chức lãnh thổ (không gian) chính là hướng tới quy luật phát triển khách quan trên con đường phát triển tối ưu của một lãnh thổ

• Không gian KT - XH

Không gian kinh tế - xã hội là một bộ phận lãnh thổ có khả năng cung cấp các nguồn lực phát triển, chứa đựng các hoạt động kinh tế - xã hội thông qua những quan hệ phân bố, những liên kết kinh tế ngành, liên vùng và quốc tế Dưới góc độ tổ chức không gian, người ta thường xem không gian KT - XH là một trường lực với 3 thành phần sau đây:

+ Trung tâm KT - XH (còn gọi là cực hay nút phát triển): Là nơi có nhiều nguồn lực thuận lợi, tập trung dân cư đông đúc, các hoạt động công nghiệp chế biến

và dịch vụ phát triển hơn cả Đây là bộ phận tạo ra các lực liên kết kinh tế - xã hội, hay còn được gọi là bộ phận tạo lực

+ Hành lang phát triển: Là nơi diễn ra các dòng liên kết kinh tế - xã hội

giữa các trung tâm Thực chất đây chính là mạng lưới hạ tầng, bao gồm: đường sá, bến bãi, điện, thông tin liên lạc qua hành lang, sức phát triển trung tâm sẽ dẫn truyền ra các bề mặt, hành lang phát triển đi đến đâu, ở đó sẽ có sự phát triển

Trang 19

+ Bề mặt: là những “Vùng trống” của không gian kinh tế - xã hội, nơi dân cư

thưa thớt, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp hay công nghiệp khai thác đơn thuần Bề mặt là bộ phận chịu tác động chịu tác động bởi các lực từ trung tâm thông qua hành lang, những nơi nào gần trung tâm hay hành lang thì sẽ có trình độ phát triển cao hơn, càng xa trung tâm hay hành lang thì càng kém phát triển Nơi nào sức ảnh hưởng của trung tâm trở nên không đáng kể thì nơi đó chính là ranh giới của bề mặt

Vùng phân cực

Vùng phân cực là một không gian không đồng nhất, các bộ phận khác nhau của nó có tính chất bổ sung lẫn nhau và duy trì với một cực chi phối và trao đổi với cực này nhiều hơn bất kỳ một cực nào khác có cùng quy mô tầm cỡ chi phối một vùng kế bên “Vùng phân cực là tổng thể những liên hệ có thang bậc, tồn tại giữa các cực kinh tế, tùy theo các dòng nối liền chúng với nhau” (J.R.Boundeville)

Hai yếu tố đặc trưng của vùng phân cực là khái niệm liên hệ (liên kết) và khái niệm thang bậc (phi đối xứng)

Sự phân cực là tổng thể một mạng lưới những giao lưu, những liên hệ.Chính

vì các đơn vị kinh tế tồn tại trên lãnh thổ (ngành, khu vực, thành phố) giao lưu với nhau mà hình thành những tổng thể phân cực

Các liên hệ được quan tâm xem xét:

+ Liên hệ vị trí – địa lý

+ Liên hệ kỹ thuật – công nghệ

+ Liên hệ kinh tế, thị trường song phương, đa phương

Quan niệm về “cực”

Cực là một phức hợp tổng thể những hoạt động kinh tế - xã hội có hiệu quả tạo nên sức hút, trên cơ sở những liên hệ bổ sung lẫn nhau đa chiều, nhờ đó mà duy trì được sức hút Đó là lý do tồn tại cực

+ Cực phát triển: Khi tổng thể các hoạt động của cực có một hoạt động có tính

động lực thì đó là cực phát triển Cực phát triển là một phức hợp trong đó có một hoạt động động lực xoay quanh nó, nhờ đó có những tác động lôi cuốn mạnh mẽ đối với các khu vực xung quanh, các vệ tinh và toàn bộ nền kinh tế vùng Tác động ấy

Trang 20

rất đa dạng và thể hiện khác nhau tùy theo tình hình cụ thể, nhưng bản chất là năng động, đổi mới, dẫn đến tiến bộ kinh tế có thể thúc đẩy tạo lập những ngành hoạt động mới, có thể làm cho tổng quy mô của ngành hiện có thay đổi cơ cấu, đổi mới

kỹ thuật, đổi mới phương thức tổ chức

+ Cực tăng trưởng: Là một tổng thể, một phức hợp những hoạt động, chịu ảnh

hưởng thúc đẩy của cực phat triển Các cực tăng trưởng là vệ tinh của các cực phát triển Nhịp độ phát triển của các cực vệ tinh – cực tăng trưởng, thường là mạnh bởi chúng phản ứng mạnh và sâu đối với những thúc đẩy lôi cuốn từ cực phát triển + Cực liên kết: Là một cực phát triển gắn liền hai hệ thống đô thị từ khi chưa có

mối liên kết nào cho đến lúc nó tạo ra mối liên hệ chặt chẽ, nhờ đó không chỉ tác dụng lôi cuốn của nó tăng lên mà các cực tăng trưởng vệ tinh cũng tăng lên

- Thang bậc (tính phi đối xứng): Hiện tượng phân cực dựa trên sự tồn tại của

các liên hệ, mà sau đó các liên hệ này thay đổi tăng, giảm trong quá trình phát triển, dẫn đến các thay đổi theo tiêu chuẩn thang bậc Thang bậc là yếu tố chìa khóa của

+ Lan truyền đổi mới về văn hóa, giáo dục, thể chế, nhưng đổi mới về tư tưởng

và tâm lý, thị hiếu của người sản xuất và tiêu dùng, dẫn đến đổi mới nhu cầu về lượng và chất

Vậy, “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội là quá trình lựa chọn có tính chiến lược các cách thức phát triển và bố trí những trung tâm, những hành lang, các bề

Trang 21

mặt, trên cơ sở tận dụng và phát huy cao nhất các nguồn lực, tạo ra cơ cấu không gian kinh tế - xã hội tối ưu trong một giai đoạn phát triển nhất định có tính đến tương lai xa hơn”

Để đảm bảo tính chiến lược, có tầm nhìn xa, sâu rộng và tổng hợp, quá trình

tổ chức không gian kinh tế - xã hội phải được thực hiện một cách trình tự, có kế thừa và điều chỉnh qua lại giữa các bước cơ bản sau đây”

+ Tổng hợp đánh giá các nguồn lực trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu + Đánh giá hiện trạng lãnh thổ, phát hiện những bất hợp lý, những xu thế có tính quy luật đối với tổ chức không gian kinh tế - xã hội của lãnh thổ được nghiên cứu + Lập các phương án tổ chức không gian để lựa chọn phương án tối ưu

+ Hoạch định các giai đoạn phát triển lãnh thổ cùng phương án quản lý, điều hành và triển khai các biện pháp đầu tư, thực hiện

Như vậy, để tiến hành nghiên cứu tổ chức lãnh thổ phải có sự phân tích những phân dị địa lý nhằm tìm ra các cấu trúc không gian (Cấu trúc lãnh thổ), phân tích mối quan hệ lãnh thổ, sự tác động qua lại giữa các cấu trúc không gian thành phần để tổng hợp lại, nhận dạng một không gian tổng hợp vận động theo định hướng tối ưu Đó chính là sự định dạng mang tính khoa học

1.1.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Trên thế giới, có nhiều quan điểm, nhiều lý thuyết về phát triển và tổ chức không gian (lãnh thổ) công nghiệp, trong đó một số quan điểm dựa chủ yếu vào các nhân tố khách quan gắn liền với nội lực và ngoại lực của vùng, của từng quốc gia và đặc điểm tự nhiên, kinh tế - khoa học - kỹ thuật cụ thể của từng ngành công nghiệp

Để bố trí, sắp xếp các nhà máy, xí nghiệp trên lãnh thổ để đạt được hiệu quả KT -

XH và môi trường cao nhất, cần phải nghiên cứu kỹ các điều kiện tự nhiên, các mối liên hệ kinh tế kỹ thuật giữa các ngành trong vùng và mối liên hệ giữa các vùng với nhau Những quan điểm còn lại đặt nền tảng vào hành động của các nhà đầu tư

Không gian công nghiệp là bộ phận đặc biệt quan trọng của không gian kinh

tế - xã hội, vì tổ chức không gian công nghiệp gắn liền và đi trước một bước trong quá trình CNH - HĐH đất nước

Trang 22

Do vậy, quá trình tổ chức không gian công nghiệp có những ảnh hưởng lớn lao, thâm chí là quyết định đến toàn bộ quá trình tổ chức không gian kinh tế - xã hội, nhưng đồng thời cũng chịu những tác động từ quá trình tổ chức không gian thuộc các lĩnh vực còn lại; như vậy đòi hỏi sự tương thích đồng bộ giữa tổ chức không gian kinh tế - xã hội với tổ chức không gian công nghiệp Các khái niệm về không gian kinh tế - xã hội là những lý luận cần thiết khi xem xét đến cơ sở lý luận của việc phát triển và tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp được nghiên cứu từ lâu ở các nước Châu Âu, châu Mỹ TCLTCN hợp lý, khoa học sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH Thực chất TCLTCN là bộ phận quan trọng được cụ thể hóa chi tiết nằm trong tổng thể tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội

Theo A.T Khowrusov (1979): TCLTCN là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành, các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp

lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất lao động cũng như tiết kiệm chi phí để khắc phục sự không phù hợp trong lịch sử về phân bố các nguồn nguyên liệu, năng lượng, nơi sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả kinh tế cao

Trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ta tổ chức lãnh

thổ công nghiệp thường được hiểu “Là việc bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất công

nghiệp, các điểm dân cư cùng kết cấu hạ tầng trên một phạm vi lãnh thổ nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài lãnh thổ đó”

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là quá trình thiết kế, định dạng, chọn lọc và phân bố SXCN một cách khoa học; tạo dựng các mối quan hệ đa ngành, liên vùng

và quốc tế ngày càng sâu sắc Đó là quá trình năng động, yêu cầu khách quan, thích ứng với khoa học, công nghệ mới, nhằm tối ưu hóa mọi nguồn lực, tối thiểu hóa mọi chi phí trong quá trình vận động phát triển bền vững

Trang 23

1.1.3 Các yêu cầu cơ bản của tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Tính khách quan của TCLTCN

Theo dòng lịch sử, nền kinh tế nông nghiệp gắn liền với nền sản xuất nhỏ và tiểu thủ công, công nghệ kỹ thuật lạc hậu, sản xuất theo lối truyền thống Khi máy móc ra đời, sản xuất công nghiệp hình thành và thay thế dần sản xuất nông nghiệp (chuyển dịch cơ cấu, tăng năng suất, giải phóng sức lao động) Công nghiệp khi mới hình thành phát triển tự phát, phân bố rải rác ở một số nước, lúc đó người ta chưa nghĩ đến tổ chức, quy hoạch lãnh thổ Càng về sau, công nghiệp phát triển lan rộng, quá trình CNH – HĐH đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết Do đó, người

ta chú ý đến việc nghiên cứu tổ chức, sắp xếp nhà máy, xí nghiệp nên phân bố ở những vị trí phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất Đó là đòi hỏi khách quan của sản xuất công nghiệp, thúc đẩy việc nghiên cứu TCLTCN: định dạng, bố trí, sắp xếp SXCN khoa học, hợp lý để phát triển nhanh và bền vững mang lại hiệu quả cao nhất

về kinh tế - xã hội và môi trường

Phân công lao động xã hội là tiền đề của TCLTCN

Phân công lao động xã hội được hình thành khách quan từ nhu cầu phát triển của đời sống xã hội Khi sản xuất phát triển, nền sản xuất hàng hóa hình thành thay thế nền sản xuất tự cung, tự cấp, tạo điều kiện cho sự phân công lao động xã hội phát triển và hình thành các ngành nghề riêng biệt, tạo sự chuyên môn hóa trong sản xuất

Cơ sở khoa học của TCLTCN xuất phát từ sự phân công lao động xã hội theo ngành và sự phân công lao động theo lãnh thổ ngày càng sâu sắc trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh, làm cho TCLTCN có sự biến đổi sâu sắc Giữa các lãnh thổ kinh tế - xã hội có tốc độ tăng trưởng rất khác nhau, cơ cấu ngành kinh tế nói chung và cơ cấu công nghiệp nói riêng có sự khác biệt sâu sắc Tuy nhiên, giữa chúng lại có mối quan hệ kinh tế, kỹ thuật sâu sắc, tạo nên nhưng đặc trưng riêng về lãnh thổ kinh tế - xã hội và lãnh thổ sản xuất công nghiệp

Trang 24

Tập trung công nghiệp theo lãnh thổ

Tập trung công nghiệp theo lãnh thổ là tổ chức không gian công nghiệp khách quan, xuất phát từ bản chất hoạt động của ngành được thể hiện ở hai mặt: Một là quy mô xí nghiệp ngày càng lớn, hai là mật độ xí nghiệp ngày càng cao Tập trung hóa ngày càng cao trong công nghiệp do khả năng lan tỏa, tập hợp, hấp dẫn những ngành nghề khác nhau, hội tụ dân cư lao động thích ứng và tạo lập đô thị công nghiệp Tuy nhiên, quá trình tập trung công nghiệp nói trên diễn ra theo quy luật từ thấp đến cao và mức độ nhanh hay chậm tùy thuộc vào sự chi phối mạnh mẽ của đường lối và chính sách phát triển công nghiệp trong quá trình CNH - HĐH, liên quan chặt chẽ với phân công lao động, đầu tư phát triển, thị trường

Quá trình tập trung hóa trong công nghiệp còn tạo ra hệ thống không gian công nghiệp với những tốc độ khác nhau, là phân hóa lãnh thổ công nghiệp

1.1.4 Hệ thống phân vị tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Năm 1994, Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra 6 hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp và vận dụng chúng vào thực tiễn công nghiệp nước ta, gồm: Điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu vực tập trung công nghiệp, trung tâm công nghiệp, dải công nghiệp, địa bàn công nghiệp trọng điểm Năm 2001, Nhà nước ta đã công nhận 6 vùng công nghiệp do

Bộ Công nghiệp đưa ra

Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp của nước ta là sự học tập các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên thế giới và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam

Trong những hình thức trên, khu công nghiệp là hình thức tổ chức công

nghiệp mang tính thực tiễn hơn cả và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế đất nước

Điểm công nghiệp

Đặc trưng

Đặc trưng của điểm công nghiệp nước ta cũng gần tương tự như quan niệm

về điểm công nghiệp của trường phái Xô Viết trước đây nhưng quy mô nhỏ hơn

Trang 25

Đây là hình thức cấp thấp nhất, tạo cơ sở cho các hình thức cao hơn Gồm 1 - 2 xí nghiệp nằm gần nguồn nguyên - nhiên liệu hay thị trường tiêu thụ nhưng chưa có điều kiện phát triển thành hình thức tổ chức lãnh thổ cao hơn; thường đồng nhất với một điểm dân cư, có kết cấu hạ tầng riêng và hầu như không có mối liên hệ giữa các

xí nghiệp

Nước ta có nhiều điểm công nghiệp Các điểm công nghiệp thường hình thành ở các tỉnh vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên Các điểm công nghiệp này là các xí nghiệp công nghiệp khai thác các thế mạnh của địa phương như khai thác khoáng sản, lâm sản, chế biến lương thực thực phẩm Đây là những vùng có những lợi thế về tài nguyên khoáng sản, nông sản nhưng có những khó khăn về các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội để có thể hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ

ở cấp cao hơn nên các điểm công nghiệp sẽ góp phần khai thác các tài nguyên tại chỗ, phát triển kinh tế địa phương

Cụm công nghiệp

Đặc trưng

Cụm công nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ nhỏ, gồm vài xí nghiệp công nghiệp, có các mối liên hệ giữa các xí nghiệp công nghiệp nhưng đơn giản, thiếu chặt chẽ Ở nước ta, cụm công nghiệp khác với quan niệm về cụm công nghiệp của trường phái Xô Viết trước đây Cụm công nghiệp ở nước ta hình thành thường gắn liền với vai trò của các đô thị và các tuyến giao thông quan trọng

Cụm công nghiệp ở nước ta thường được phân bố ở các thị trấn, thị xã, dọc

theo các trục giao thông Ví dụ: cụm công nghiệp Thượng Đình, cụm công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau, cụm công nghiệp Vinashin Đình Vũ (Hải Phòng)…

Các cụm công nghiệp làng nghề là một hình thức mới, ra đời khi năm 2000

Chính Phủ có quyết định về khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn tạo điều kiện phát triển các cụm công nghiệp làng nghề

Trang 26

Sự hình thành của các làng nghề từ 2 con đường chính, đó là sự tự phát từ một cụm sản xuất do các hộ tự xây dựng, sau đó phát triển thành cụm công nghiệp làng nghề; thứ hai là xây dựng mới cụm công nghiệp làng nghề

Hiện nay đang tồn tại 2 loại cụm công nghiệp làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề đa nghề và cụm công nghiệp làng nghề đơn nghề Hiện nay, cả nước có 1

450 làng nghề với Bắc Bộ chiếm 63% (2007) Các tỉnh có nhiều cụm công nghiệp làng nghề như Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Giang…

Khu công nghiệp

Có nhiều quan niệm khác nhau về nội dung cũng như những đặc trưng của các KCN Trong đó quan điểm của một số nhà khoa học hàn lâm Liên Xô rõ rằng và

cụ thể hơn cả Theo đó: “Khu công nghiệp bao gồm một nhóm trung tâm công

nghiệp phân bố gần nhau và kết hợp với nhau bằng việc cùng chung chuyên môn hóa, mạng lưới giao thông vận tải và những mối liên hệ sản xuất chặt chẽ”

* Đặc điểm: Có ba tiêu chuẩn để xác định một khu công nghiệp:

- Khu công nghiệp phải bao gồm một số trung tâm công nghiệp

- Các trung tâm công nghiệp phải phân bố gần nhau và gắn bó với nhau trên

cơ sở cùng hướng chuyên môn hoá

- Có mạng lưới giao thông vận tải thống nhất và các mối liên hệ kinh tế - sản xuất chặt chẽ tạo thành:

+ Liên hệ trực tiếp về mặt phân phối sản xuất, cùng tham gia tạo ra các sản phẩm mới, chế biến phế liệu của nhau, hay điều phối nhân lực cho nhau

+ Liên hệ gián tiếp về mặt sử dụng chung nguồn nguyên liệu, mạng lưới giao thông

Tất nhiên quan niệm về khu công nghiệp của các nhà khoa học Xô Viết khác

xa với quan niệm của chúng ta Theo Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 định nghĩa:“Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất

hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”

Trang 27

Khu công nghiệp được hình thành là công cụ đắc lực để nước ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Khu công nghiệp là nơi trọng điểm đầu tư của trong và ngoài nước, là đầu tàu thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển, đầu tàu về phát triển khoa học công nghệ, tiếp thu những ngành nghề mới để đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ; đồng thời, đây cũng là nơi chủ yếu tạo ra các nguồn hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nước ta trên trường quốc tế

- Có Ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lí

- Có sự phân cấp về quản lí và tổ chức sản xuất

+ Về phía các xí nghiệp, khả năng hợp tác sản xuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của từng doanh nghiệp

+ Việc quản lí Nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước quy định những ngành (hay loại xí nghiệp) được khuyến khích và không được đặt trong KCN

Các biến dạng của khu công nghiệp là khu công chế xuất, khu công nghệ cao:

Tháng 10/1991 Chính phủ đã ban hành Quy chế KCX, cho phép thành lập KCX đầu tiên tại các địa bàn thích hợp “KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, bao gồm một hoặc nhiều xí nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, do Chính phủ thành

lập” (Điều 2, Luật bổ sung sửa đổi Luật Đầu tư tháng 12/1992)

Hiện nay, cả nước có 6 KCX: Tân Thuận, Linh Trung I, Linh Trung II, Hải Phòng 96, Đà Nẵng, Cần Thơ

Trang 28

Khu công nghệ cao

Đặc trưng là nơi tập trung các tổ chức hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao và công nghiệp cao; gồm 3 thành phần chủ chốt: các tổ chức nghiên cứu

và phát triển KCNC, các cơ sở đào tạo, huấn luyện, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao

Hiện nay, nước ta có 2 KCNC: Hòa Lạc (Hà Nội), Linh Trung (thành phố Hồ Chí Minh)

Trung tâm công nghiệp

Trung tâm công nghiệp là khu vực tập trung công nghiệp gắn liền với các đô thị vừa và lớn Mỗi trung tâm công nghiệp có thể gồm một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp với những xí nghiệp hạt nhân có sức thu hút các lãnh thổ lân cận Các hạt nhân này thường là cơ sở cho việc hình thành trung tâm công nghiệp

Các trung tâm công nghiệp rất đa dạng, được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau:

+ Vai trò của trung tâm trong sự phân công lao động theo lãnh thổ

+ Giá trị sản xuất công nghiệp

+ Tính chất chuyên môn hoá và đặc điểm sản xuất

lãnh thổ, có thể chia ra:

- Các trung tâm có ý nghĩa quốc gia: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh

- Các trung tâm có ý nghĩa vùng: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ…

- Các trung tâm có ý nghĩa địa phương: Việt Trì, Nam Định, Bắc Giang…

Dựa vào giá trị sản xuất công nghiệp có thể phân biệt thành:

- Các trung tâm lớn: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh

- Các trung tâm trung bình: Hải Phòng, Đà Nẵng…

- Các trung tâm nhỏ: Vinh, Quy Nhơn, Nha Trang…

Theo tính chất chuyên môn hoá và đặc điểm sản xuất, chia ra:

- Các trung tâm công nghiệp tổng hợp đa ngành

- Các trung tâm công nghiệp chuyên môn hoá

Trang 29

Thậm chí, một số thành phố - trung tâm công nghiệp được mang tên gắn liền với hướng chuyên môn hoá như: Nam Định (dệt), Thái Nguyên (gang thép)…

Dải công nghiệp

Dải công nghiệp là sự phân bố đan xen và kéo dài dọc theo các trục đường giao thông quan trọng của các điểm công nghiệp (xí nghiệp phân bố độc lập), cụm công nghiệp và cả các khu công nghiệp Chúng thường xuất hiện từ các đô thị lớn (đồng thời cũng là các trung tâm công nghiệp lớn) và lan toả theo các hướng có nhiều thuận lợi về giao thông vận tải và các điều kiện khác Sự phát triển của các dải công nghiệp phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển công nghiệp của lãnh thổ, vào sự phát triển các tuyến giao thông huyết mạch và hàng loạt các yếu tố khác Ở Việt Nam các dải công nghiệp phát triển chưa nhiều và chưa thật tiêu biểu Chúng thường tập trung xung quanh các thành phố - trung tâm công nghiệp hàng đầu của cả nước: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và vùng phụ cận

Từ Hà Nội toả đi theo các hướng sau:

N ội

Đáp Cầu (Bắc Giang)

Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh

Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá Hoà Bình

Thái Nguyên Việt Trì (Phú

Thọ)

Trang 30

Từ thành phố Hồ Chí Minh toả đi các hướng sau:

Địa bàn công nghiệp trọng điểm

Địa bàn công nghiệp trọng điểm là khu vực tương đối rộng lớn trên phạm vi nhiều tỉnh, có điều kiện thuận lợi về mặt vị trí địa lí, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, kinh tế xã hội, có khả năng bố trí tập trung công nghiệp nhằm đạt hiệu quả và nhịp độ phát triển công nghiệp cao, thúc đẩy và kéo theo sự phát triển kinh tế của cả vùng nói riêng và của cả nước nói chung Đây là hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cao nhất và đặc thù của Việt Nam

Đặc điểm của địa bàn công nghiệp trọng điểm:

- Là bộ phận lãnh thổ lớn nhất trong số các hình thức TCLT công nghiệp, nhưng ranh giới chỉ mang tính ước lệ, không rõ ràng về mặt pháp lí

- Có thể bao gồm tất cả các hình thức TCLTCN từ cấp thấp đến cấp cao, hoặc cũng có thể chỉ chứa đựng một vài hình thức TCLTCN nào đó

- Không có bộ máy quản lí riêng để chỉ đạo phát triển công nghiệp của cả địa bàn Hiện nay nước ta có 3 địa bàn công nghiệp trọng điểm:

Địa bàn công nghiệp trọng điểm phía Bắc: Bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng,

Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc

Là vùng có lịch sử phát triển công nghiệp sớm nhất nước ta, tập trung nhiều ngành công nghiệp mang ý nghĩa cả nước: cơ khí chế tạo, khai thác than, vật liệu

Biªn Hoµ

Long An

TP HCM Bình Dương

Trang 31

xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng…Hiện nay đã và đang tập trung nhiều cơ sở công nghiệp cũng như nhiều cụm, khu công nghiệp tập trung

Địa bàn công nghiệp trọng điểm miền Trung: Bao gồm: Thừa Thiên -

Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định

Vùng này vẫn chủ yếu trong giai đoạn đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, với việc chú trọng xây dựng, đầu tư các khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai, Chân Mây, xây dựng các cảng nước sâu và kết nối hành lang Đông Tây của tiểu vùng Mê Kông… Đây chính là tiền đề để vùng này phát triển trong thời gian tới

Địa bàn công nghiệp trọng điểm phía Nam: Bao gồm: Đồng Nai, Bình

Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh

Là vùng công nghiệp phát triển mạnh nhất nước ta, có tốc độ tăng trưởng cao

và bền vững, có mức độ tập trung lãnh thổ công nghiệp lớn nhất cả nước với một số lượng lớn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao với nhiều ngành trọng điểm như CN năng lượng, CN chế tạo - điện tử - tin học, CN chế biến thực phẩm và đồ uống, CN luyện kim…

Vùng công nghiệp

Vùng công nghiệp là một kết hợp sản xuất lãnh thổ, ra đời trên cơ sở kết hợp các vùng, ngành trên một lãnh thổ rộng lớn, với chuyên môn hoá và cấu trúc sản xuất rõ rệt

Ở nước ta có rất nhiều các sơ đồ phân vùng khác nhau, thay đổi theo thời gian và không gian để phù hợp hơn với sự phát triển của từng địa phương, khu vực

và quốc gia Để định hướng một cách tốt hơn, năm 2001 Viện chiến lược phát triển

đã đưa ra 6 vùng công nghiệp thay cho 8 vùng như trước đây (được quy hoạch từ nay đến năm 2020):

+ Vùng 1: Các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ, trừ Quảng Ninh:

Cho đến nay, vùng này bao gồm có 14 tỉnh: Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hoà Bình, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái

Trang 32

+ Vùng 2: Gồm 14 tỉnh, bao gồm các tỉnh đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

+ Vùng 3: Bao gồm 10 tỉnh: từ Quảng Bình đến Ninh Thuận

+ Vùng 4: Vùng này gồm 4 tỉnh thuộc Tây Nguyên, trừ Lâm Đồng

+ Vùng 5: Bao gồm 8 tỉnh: 6 tỉnh Đông Nam Bộ và Bình Thuận, Lâm Đồng + Vùng 6: Gồm 13 tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long

Tóm lại, tổ chức lãnh thổ công nghiệp là tổ chức không gian kinh tế mang tính lịch sử, khác biệt giữa các nước và khác nhau ở các giai đoạn phát triển nhằm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của từng thời kỳ

Kế thừa có chọn lọc các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp của thế giới

và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, nước ta đã cơ bản hình thành một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Trong đó, để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hiện nay, hình thức khu công nghiệp tập trung và các biến dạng như khu chế xuất, khu công nghệ cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

1.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ khu công nghiệp

1.2.1 Nhóm nhân tố bên trong

1.2.1.1 Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên

• Trong 10 yếu tố quyết định sự thành công của khu công nghiệp, nhất là khu chế xuất mà hiệp hội khu chế xuất thế giới tổng kết, thì có hai yếu tố liên quan đến vị trí địa lí (gần tuyến giao thông, bến cảng) và tài nguyên thiên nhiên (đảm bảo đủ nguồn nước công nghiệp)

• Ở nước ta với khoảng 100 địa điểm có thể xây dựng khu công nghiệp thì chỉ

có trên dưới 40 nơi thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư do có vị trí địa lí thuận lợi

và gần nguồn nước

1.2.1.2 Trung tâm kinh tế và đô thị

• Ở nước ta, các đô thị cũng thường là các trung tâm kinh tế với ý nghĩa khác nhau (Quốc gia, vùng, địa phương) Các đô thị, nhất là các thành phố lớn,

Trang 33

chứa đựng nhiều yếu tố thuận lợi cho việc ra đời và phát triển các khu công nghiệp, đồng thời có sức thu hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư

• Nhìn chung, các khu đô thị nước ta có thuận lợi chủ yếu sau đây:

+ Có nguồn lao động dồi dào, nhất là lao động có chất lượng cao

+ Sẵn có cơ sở công nghiệp hỗ trợ, phục vụ cho khu công nghiệp

+ Tập trung kết cầu hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ công nghiệp

+ Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, dạy nghề, ngân hàng, tài chính

1.2.1 3 Kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng là một trong những yếu tố hàng đầu đối với việc thu hút đầu

tư để hình thành các khu công nghiệp

Một số nơi có nhiều điều kiện thuận lợi, thí dụ có thể hình thành cảng nước sâu (dọc duyên hải Miền Trung), nhưng các nhà đầu tư chưa mặn mà với kết cấu hạ tầng còn hạn chế nơi đây

1.2.1 4 Vốn đầu tư trong nước

Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho công nghiệp, các nguồn vốn đầu tư trong nhân dân góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển, tạo điều kiện cho việc tổ chức các KCN đạt hiệu quả kinh tế cao hơn

Muốn lôi kéo được vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, trước hết phải bỏ vốn trong nước xây dựng hạ tầng, việc đầu tư này khá tốn kém trong khi đó nước ta lại còn nghèo

1.2.1 5 Thị trường trong nước

Hiện nay nước ta có trên 86 triệu người, đây là nguồn lao động dồi dào và đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ rộng lớn Theo sự phát triển, tăng trưởng kinh

tế thì thu nhập của người dân cũng tăng, nhu cầu nhiều, đa dạng là một nhân tố tác động rất lớn đến tổ chức lãnh thổ các KCN

Trang 34

1.2.2 Nhóm nhân tố bên ngoài

1.2.2.1 Vốn đầu tư nước ngoài

Có ý nghĩa to lớn trongviệc xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu công nghiệp vì đây là những nguồn vốn lớn

1.2.2.2 Thị trường quốc tế

• Thị trường quốc tế là một trong những nhân tố hàng đầu tác động đến việc ra đời của các khu công nghiệp, nhất là khu chế xuất

1.2.2.3 Quan hệ chính trị và chính sách toàn cầu

• Quan hệ chính trị và chính sách toàn cầu của các nước phát triển có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất tại các nước đang phát triển Sự tác động của các yếu tố này được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau:

• Điều kiện ưu đãi vốn, nhất là vốn ODA và các khoản vay ngân hàng để xây dựng kết cấu hạ tầng tại các khu công nghiệp

• Điều kiện về đầu vào (nguyên liệu, trang thiết bị, máy móc) và đầu ra (thị trường tiêu thụ sản phẩm)

• Khả năng chuyển giao công nghệ

1.3 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam 1.3 1 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Đài Loan

Đài Loan nhanh chóng trở thành một trong những “con rồng” Châu Á chỉ sau

30 năm thực hiện CNH Kế hoạch xây dựng các KCN – KCX được triển khai từ năm 1960 (với KCN Cao Hùng), đến nay đã có hơn 100 KCN đi vào hoạt động, đóng góp nhiều thành quả quan trọng trong nền kinh tế Phát triển các KCN Đài Loan có đặc trưng đáng lưu ý:

- Phối hợp thông minh giữa tổ chức các KCN trọng điểm với những KCN địa phương phù hợp trong từng lãnh thổ Bên cạnh 12 KCN quan trọng nhất tập trung

ở những tỉnh, thành phố trọng điểm do Trung Ương quản lý, Đài Loan đã mở mạng lưới với hơn 80 KCN trên toàn quốc do chính quyền địa phương và tư nhân quản

lý, hầu hết các huyện đều có KCN Với hình thức tổ chức này, Đài Loan có thể tập

Trang 35

trung phát triển những ngành công nghiệp kỹ thuật cao, có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới, vừa tận dụng các nguồn lực địa phương phát triển ổn định các ngành công nghiệp chế biến thấp, nhằm tăng tốc CNH các vùng nông nghiệp

- Đặc biệt lưu ý đến những điều kiện cơ sở hạ tầng, giao thong thuận lợi, điện nước đầy đủ và ổn định, thông tin liên lạc nhanh chóng với giá cả dễ chấp nhận

- Chính sách thong thoáng, có những ưu tiên nhất định như miễn giảm thuế một số năm, thuế suất thấp, một số trường hợp được vay vốn ưu đãi Chi phí đầu tư

hạ tầng thấp

- Các KCX đều bước vào giai đoạn trưởng thành, tỷ lệ nội địa hóa ngày càng cao, thong qua hoạt động gia công của các xí nghiệp vệ tinh ngoài KCX, những lien kết phía sau thậm chí phía trước ngày càng cao với thị trường nội địa

1.3.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Thái Lan

Năm 1972, Thái Lan bắt đầu xây dựng các KCN, năm 1997 đã có 64 KCN đi vào hoạt động Các KCN Thái Lan vẫn chưa lấp đầy toàn bộ, nhưng trong hơn 30 năm phát triển, các KCN đã góp phần đắc lực giúp Thái Lan nhanh chóng vượt qua thời kỳ đầu của CNH và đang chuẩn bị kết thúc công cuộc CNH

Phát triển các KCN ở Thái Lan có những đặc trưng đáng lưu ý:

- Cực phát triển kinh tế mạnh nhất ở Thái Lan hầu như chỉ tập trung vào Bangkok, do vậy mà các KCN tạo ra 3 vành đai xung quanh Bangkok với những lợi thế khác nhau Vành đai thứ nhất gồm 6 tỉnh, có ưu thế tiếp cận thị trường tiêu thụ lớn là Bangkok, hạ tầng thuận lợi, lao động đông và trình độ cao; vành đai thứ hai gồm 10 tỉnh bao xung quanh vành đai thứ nhất, lợi thế kém hơn, vành đai cuối cùng gồm 60 tỉnh còn lại, kém lợi thế nhất

- Chính phủ Thái Lan có chủ trương phát triển cân đối lãnh thổ, nhằm khắc phục đơn cực trước kia, bằng cách thực hiện chính sách ưu đãi tài chính khác nhau

ở 3 vành đai phát triển KCN Chẳng hạn, thuế nhập khẩu thiết bị máy móc: vành đai 1 – 2 được giảm 50%, vành đai 3 được miễn hoàn toàn; thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất: vành đai 1 – 2 được miễn hoàn toàn trong vòng 3 năm, vành đai 3 được miễn trong vòng 5 năm; thuế thu nhập công ty: vành đai 1 được miễn 3 năm,

Trang 36

vành đai 2 được miễn 7 năm, vành đai 3 được miễn 8 năm và được giảm 50% trong 5 năm tiếp theo

- Bộ máy quản lý thống nhất theo cơ chế “một cửa” Các hoạt động từ điều tra thiết kế ban đầu, đến những quy hoạch giá bất động sản, thủ tục cấp phép,… đều tập trung vào Cục quản lý các KCN Thái Lan Hình thức quản lý này đã đảm bảo các dịch vụ hành chính KCN trở nên nhanh chóng, hiệu quả Thường các nhà đầu

tư chỉ mất một ngày là làm xong mọi thủ tục và chỉ sau một tuần có thể nhận được giấy phép bước vào xây dựng

- Các KCN Thái Lan là điển hình của quản lý môi trường có hiệu quả Bên cạnh quản lý môi trường bằng luật pháp và chính sách Thái Lan còn mạnh dạn áp dụng các công cụ kinh tế theo nguyên tắc PPP (người gây ô nhiễm phải trả tiền) Các chất thải đều được xử lý thỏa đáng và doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả những chi phí ấy

1.3.3 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Malaixia

Cũng bắt đầu xây dựng các KCN từ đầu nhưng năm 70 như Thái Lan, tuy diện tích của Malaixia nhỏ hơn Thái Lan và tương đương Việt Nam, dân số chỉ 26 triệu người (2005) nhưng Malaixia có số lượng KCN nhiều nhất trong khu vực Đông Nam Á, đạt đến 166 KCN (năm 1997) Có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Malaixia đã mạnh dạn mở nhiều khu thương mại tự do (50 khu), có nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài Chẳng hạn, nhà đầu tư được tự do chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không bị quốc hữu hóa tài sản, thời hạn thuê đất đến 99 năm

- Phát triển nhiều doanh nghiệp chế xuất nằm ngoài KCX Hình thức này đã looi cuốn được nhiều doanh nghiệp trong nước tạo ra nhiều nguồn hang xuất khẩu

mà không phải tăng đầu tư mở rộng hạ tầng và diện tích KCX

- Có chính sách hỗ trợ vốn tích cực từ phía nhà nước nguồn vốn từ ngân sách các bang và liên bang chủ yếu giành cho cơ sở hạ tầng

- Hầu hết các KCN đều có vị trí thích hợp, giao thong thuận tiện, mặt bằng

mở rộng, giá thuê đất không cao, phần lớn nằm ở ngoại vi thành phố, có thể tránh ô

Trang 37

nhiễm môi trường cho những trung tâm dân cư đông đúc mà vẫn tiếp cận nơi cung cấp lao động

- Quan tâm thích đáng đến hạ tầng xã hội như nhà ở cho người lao động, chợ, trường học, bệnh viện, khu vui chơi, nhất là những điều kiện sinh hoạt cho chuyên gia nước ngoài

- Bên cạnh những ưu điểm trên, Malaixia có cơ chế quản lý các KCN chưa được thích hợp Bộ máy quản lý cồng kềnh, mỗi tiểu bang đều có một ban quản lý riêng nhưng không được phép giải quyết mọi việc, họ chỉ tập hợp các vấn đề rồi kiến nghị lên ban quản lý trung ương xử lý Chính vì vậy nhiều vụ việc không được giải quyết kịp thời

1.3.4 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam

Từ sau đổi mới (1986) nước ta quan tâm và chuẩn bị mọi mặt để TCLTCN,

do đó, đến năm 1991 KCN đầu tiên ra đời, đó là KCX Tân Thuận, sau đó hang loạt các KCN ra đời trên cả nước Năm 2009 có 228 KCN phân bố ở 56/63 tỉnh thành

1.4 Tiểu kết chương 1

Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng là một yêu cầu cấp bách đối với nước ta hiện nay để phát triển bền vững về mọi mặt: kinh tế - xã hội - môi trường

KCN là một hình thức TCLT công nghiệp đem lại hiệu quả cao nhất cho cả nước nói chung, Đồng Nai nói riêng trong thời điểm hiện nay

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức phát triển các KCN Trong đó, các nhân tố bên trong đóng vai trò nòng cốt quyết định, các nhân tố bên ngoài có vai trò to lớn, thúc đẩy các KCN hình thành và phát triển mạnh

Trang 38

Chương 2: HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2000 – 2010

2.1 Khái quát tỉnh Đồng Nai

Tỉnh Đồng Nai nằm trong VKTTĐPN, thuộc Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên là 5.862,37 km2 (chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích

tự nhiên vùng Đông Nam Bộ)

Về ranh giới hành chính, Đồng Nai giáp các tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Đồng Nai

có hệ thống giao thông thuỷ bộ, đường sắt nối liền với các địa phương khác trong cả

nước, có sân bay quân sự Biên Hòa, là địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên

Hiện nay tỉnh Đồng Nai có tất cả là 11 đơn vị hành chính gồm thành phố Biên Hoà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh, thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành, Nhơn Thạch, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú, Cẩm Mỹ, Trảng Bom

Đồng Nai có địa hình trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ Nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, có 82% đất có độ dốc <80, 10% đất có độ dốc <150, 8% đất có độ dốc >150 Trong đó đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng thấp ngập nước quanh năm; đất đen, nâu, xám, hầu hết có độ dốc <80, đất đỏ có độ dốc hầu hết <150, riêng đất tầng mỏng và đất đá bọt có độ dốc cao

Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, nhiệt độ cao nhất khoảng 30,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82% Trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa tương đối lớn, trung bình năm 1 700 – 1 800 mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thời tiết nắng, nóng, độ ẩm thấp, có khi xuống dưới 70%

Trang 39

Tài nguyên thiên nhiên đa dạng: đất feralit trên đá badan, đất xám,…có thể phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu; tài nguyên rừng, khoáng sản tương đối phong phú là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển nhiều ngành công nghiệp, tài nguyên du lịch cũng rất đa dạng, nhiều tuyến điểm du lịch đã và đang được hình thành như tuyến du lịch sông Đồng Nai - cù lao Phố - Bửu Long, tuyến

du lịch Sông Mây - Trị An, tuyến du lịch thác Mai - suối Mơ, rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên, tuyến du lịch Long Thành – cù lao Ông Cồn… Du lịch Đồng Nai chủ yếu hướng về tiềm năng văn hoá, lịch sử, sinh thái, dã ngoại

Về kinh tế: Sau 10 năm, quy mô kinh tế của tỉnh năm 2010 đạt 36 202 tỉ đồng, đã tăng gấp 3 lần năm 2000 (13 067 tỉ đồng), tích luỹ được hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục phát triển ở giai đoạn tới Tỉnh đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn, đó là điều kiện cần thiết để thực hiện việc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Sự tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp từ 52% năm 2000 lên 57,2% năm 2010 thể hiện năng lực sản xuất công nghiệp của tỉnh đã được mở rộng lên nhiều lần cả

về quy mô và ngành, nghề Đi kèm với năng lực đó là đội ngũ công nhân, lãnh đạo quản lý được trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Đây là một lợi thế lớn, cùng với việc tiếp tục thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tỉnh có thể dựa vào những năng lực sản xuất hiện có để thực hiện những mục tiêu chiến lược trong giai đoạn tới

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLT KCN tỉnh Đồng Nai

2.2.1 Nhóm nhân tố bên trong

2.2.1.1 Vị trí địa lý

Đồng Nai nằm từ 10022’B đến 11035’B và 106044’15” Đ đến 107034’10”Đ

Phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây và tây bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía đông và đông nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía tây nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 40

Đồng Nai được coi là bản lề chiến lược, là cửa ngõ của trục động lực phát triển VKTTĐPN: Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Bà Rịa Vũng Tàu, có quốc

lộ trực tiếp đến các đô thị trong khu vực, đường sắt xuyên Việt qua địa bàn Đồng Nai dài 85 km, gần sân bay Tân Sơn Nhất, và đặc biệt tỉnh còn có định hướng phát triển sân bay quốc tế Long Thành nối liền các trung tâm thương mại cả nước, khu vực và quốc tế qua đường hàng không, bến cảng Thị Vải đủ để giao thương với tàu

15 – 20 ngàn tấn Với vị trí này, Đồng Nai như nút giao thông, giao lưu văn hóa trong VKTTĐPN Đây là một nguồn lực hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp nói riêng của tỉnh

Ngày đăng: 02/12/2015, 13:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích các loại rừng của Đồng Nai năm 2010 - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.1 Diện tích các loại rừng của Đồng Nai năm 2010 (Trang 44)
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng đất KCN tỉnh Đồng Nai GĐ 2000 - 2010  Stt  Chỉ tiêu  2000  2002  2004  2006  2008  2010 - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất KCN tỉnh Đồng Nai GĐ 2000 - 2010 Stt Chỉ tiêu 2000 2002 2004 2006 2008 2010 (Trang 65)
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất tại các KCN tỉnh Đồng Nai năm 2010 - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng đất tại các KCN tỉnh Đồng Nai năm 2010 (Trang 66)
Bảng 2.4: Lao động trong các KCN tỉnh Đồng Nai qua các năm - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.4 Lao động trong các KCN tỉnh Đồng Nai qua các năm (Trang 68)
Bảng 2.5 : Tổng hợp tình hình thu hút vốn đầu tư xây dựng và phát triển KCN - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.5 Tổng hợp tình hình thu hút vốn đầu tư xây dựng và phát triển KCN (Trang 79)
Bảng 3.1: Quy hoạch phát triển các KCN tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 3.1 Quy hoạch phát triển các KCN tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 (Trang 105)
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành công nghiệp - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành công nghiệp (Trang 118)
Bảng 3.4: Cơ cấu các ngành công nghiệp chủ yếu trong các KCN - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
Bảng 3.4 Cơ cấu các ngành công nghiệp chủ yếu trong các KCN (Trang 119)
BẢNG 2: CĂN CỨ PHÁP LÝ 30 KCN ĐỒNG NAI - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
BẢNG 2 CĂN CỨ PHÁP LÝ 30 KCN ĐỒNG NAI (Trang 147)
BẢNG 3: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG, CHO THUÊ ĐẤT CÁC KHU CÔNG NGHIỆP - Tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở tỉnh đồng nai
BẢNG 3 TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG, CHO THUÊ ĐẤT CÁC KHU CÔNG NGHIỆP (Trang 152)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w