KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bs CKII Trần Thị Hạnh Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ Người hướng dẫn
Trang 1KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bs CKII Trần Thị Hạnh Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Tất Thắng
TÓM TẮT
Mở đầu: Bệnh mụn trứng cá là bệnh rất phổ biến, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần
giúp các thầy thuốc Da Liễu có thêm số liệu về bệnh này để can thiệp, nâng cao sự hiểu biết, và có những hướng dẫn thích hợp cho người bệnh, hy vọng nhờ đó sẽ làm giảm tỉ lệ bệnh, giảm di chứng do bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ học sinh có Kiến thức - Thái độ - Thực hành về bệnh mụn trứng cá, tỉ lệ bệnh, và tác
động tâm lý liên quan đến người bệnh
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 405 học sinh lớp 10,11,12 bằng cách khám bệnh, phát bộ
câu hỏi điều tra, phỏng vấn dựa vào bảng câu hỏi
Kết quả: Tỉ lệ hiện mắc ở học sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm là 82,5% (nam 83,9%, nữ 81,7%)
69,4 % học sinh cho lối sống là nguyên nhân chính, kế đến là nhiễm trùng da (68,6 %), hormone (62,5 %), thực phẩm (52,3 %), stress (37,3 %), di truyền (18 %) Về yếu tố bộc phát 86,4 % cho là do kém vệ sinh da, 50,9 % do chế độ ăn, 47,2 % do mỹ phẩm, 44,2 % do thời tiết, 40,5 % do stress Xác định được một số yếu tố nguy cơ như lượng nước uống (OR=0,02), thói quen dùng mỹ phẩm (OR=2,12), Các yếu tố khác như chế độ
ăn, lối sống, vệ sinh da chưa cho thấy có ảnh hưởng đến bệnh Xác định sự khác biệt trong thực hành và thái
độ giữa nam và nữ như sự quan tâm đến bệnh (p=0,003), massage mặt (p=0,02),dùng sữa rửa mặt (p=0,001), dùng mỹ phẩm (p=0,001), lượng nước uống mỗi ngày (p=0,001), thức khuya (p=0,05), uống cà phê (p=0,001), uống rượu bia (p=0,001) Mụn trứng cá gây ảnh hưởng thiếu tự tin (p=0,01), buồn chán (p=0,048), xấu hổ (p=0,03) Ảnh hưởng ít nói nam nhiều hơn nữ (p=0,027)
Kết luận: Tỉ lệ hiện mắc bệnh mụn trứng cá ở học sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm là 82,5 % Kiến
thức sai về nguyên nhân, yếu tố bộc phát, cách điều trị bệnh còn phổ biến Tồn tại những thói quen chưa tốt như tự điều trị, nặn mụn, dùng mỹ phẩm, sử dụng bừa bãi kem trộn hoặc thuốc bôi có corticoid dẫn đến tác hại cho làn da Mụn trứng cá cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, việc học tập, mối quan hệ bạn bè và gia đình
ABSTRACT
KNOWLEDGE - ATTITUDE - PRACTICE ABOUT ACNES IN THE PUPILS OF CHAU VAN LIEM
SENIOR HIGH SCHOOL OF CAN THO CITY Tran Thi Hanh
Background: Acne is a common disease in teenagers and young adults This study was conducted to provide
physicians with a better understanding of the disease and to improve their advice to patients This is expected
to reduce its incidence, decrease its sequelae and improve the quality of life for those who suffer from acne
Objective: To evaluate the knowledge, attitude, and the practices of pupils of Chau Van Liem senior high
school in relation to acne To define the prevalence of acne, its related factors and its psychological impact
Method: A cross sectional descriptive study in 405 pupils in 10 th , 11 th , 12 th grades was carried out by means
of medical examination, and interviews based on questionnaires
Results: The prevalence of acne in Chau Van Liem senior high school pupils is 82,5% (83,9% boys, 81,7%
girls); 69,4% pupils think the way of living is the main cause, then skin infection (68,6%), hormone (62,5%), food (52,3%), stress (37,3%), genetic (18 %) About the trigger factos: 86,4 % pupils think acne is due to lack of hygiene, food (50,9%), cosmetics (47,2%), weather (44,2%), stress (40,5%) Some risk factors identified were the quantity of water drinking (OR=0,02), and the habit of using cosmetics (OR=2,12) We also identified the differences in practice and attitude between boys and girls: the concern about acne (p=0,003), facial massage (p=0,02), using facial milk (p=0,001, using cosmetics (p=0,001), water drinking (p=0,001), staying late at night (p=0,05), coffee (p=0,001), alcohol, beer drinking (p=0,001) Acne leads to lack of self-confidence (p=0,02), boredom (p=0,04), shame (p=0,03), and boys were less talkative than girls (p=0,02)
Trang 2Conclusion: The prevalence of acne in Chau Van Liem senior high school pupils is 82,5% Lack of
knowledge of the causes, trigger factors, and the method of treatment is still common Pupils still display bad habbits like acne squeezing, applying cosmetics, using mixed cream carelessly or applying corticoid-contained medicine which lead to harm for their skin Acne also affects the mental health, studying, family relationships, and friendships
MỞ ĐẦU
Bệnh mụn trứng cá là một bệnh lý tuyến bã
của da do rối loạn chức năng của bộ lông tuyến
bã (thường là di truyền) Sự tiết bã nhờn đọng
lại ở lỗ chân lông tạo ra mụn Bệnh rất phổ
biến, chiếm 17,97% trong tổng số bệnh da đến
khám tại bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh
năm 2006, chỉ đứng thứ hai sau bệnh chàm
Theo các tác giả nước ngoài, bệnh chiếm tỷ lệ
80% dân số thế giới(6,7,14) Bệnh thường gặp ở
lứa tuổi thanh thiếu niên, người lớn trẻ, nữ từ
10-17 tuổi, nam từ 14-19 tuổi, nhưng cũng gặp
ở người lớn(15) Những trường hợp mãn tính
thường để lại những sẹo xấu mất thẩm mỹ, ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống, người bệnh
mặc cảm tự ti khi giao tiếp trong xã hội, ảnh
hưởng đến chất lượng hiệu quả nghề nghiệp,
ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần, đôi khi trầm
cảm(1,9,11,14)
, Theo Saurat(14), khoảng 1,5% bệnh
nhân nam và 0,4% nữ diễn tiến bệnh kéo dài và
nặng nề với sự xuất hiện những sang thương
dạng cục, nang, mưng mủ, mãn tính, tái phát,
dai dẳng có thể tới trên 20 tuổi
Hiện nay ở nước ta, vẫn chưa có nghiên cứu
nào khảo sát kiến thức thái độ thực hành của
học sinh cấp III về bệnh mụn trứng cá, ước tính
tần suất và tác động tâm lý ảnh hưởng đến
người bệnh Một số bệnh nhân thường có thói
quen tự trị mụn bằng cách dùng kem hoặc mỹ
phẩm, tự mua thuốc, hoặc nặn mụn, đi massage
do đó làm bệnh nặng thêm và để sẹo mất thẩm
mỹ, ngoài ra có thể gây viêm da dị ứng, xạm da,
khô da, mụn trứng cá do thuốc và mỹ phẩm Vì
thế, việc nghiên cứu có hệ thống kiến thức, thái
độ, thực hành của bệnh nhân là điều cần thiết
giúp thầy thuốc chuyên khoa Da Liễu can thiệp,
nâng cao sự hiểu biết và có những hướng dẫn
thích hợp để bệnh nhân tự chăm sóc, bảo vệ da,
phòng tránh những biến chứng không tốt từ đó
làm giảm tỉ lệ bệnh, cải thiện chất lượng cuộc
sống, tăng cường hiệu quả học tập và làm việc
Mục tiêu
Tổng quát
Khảo sát tình trạng kiến thức, thực hành và
thái độ về bệnh mụn trứng cá, xác định tỉ lệ và
mức độ tác động tâm lý của bệnh ở học sinh
cấp III trường trung học phổ thông Châu Văn Liêm, Thành phố Cần Thơ
Chuyên biệt
- Xác định tỉ lệ lưu hành bệnh mụn trứng cá
ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
- Khảo sát mức độ kiến thức, tình trạng thực hành, và thái độ của học sinh về bệnh mụn trứng cá
- Xác định các mối liên quan giữa kiến thức, thực hành, thái độ và nguy cơ mắc bệnh
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố tâm lý đến người bệnh
Tổng quan tài liệu
Bệnh mụn trứng cá là một bệnh phổ biến, và gây buồn phiền(5,7) thường gặp ở nam và nữ ở lứa tuổi dậy thì, cũng có thể gặp ở người lớn và rất ít ở trẻ em, bệnh gặp ở khắp mọi lục địa, mọi chủng tộc Tùy tác giả, tùy địa phương tỉ lệ bệnh có khác nhau:
Ở Việt Nam, tỉ lệ bệnh mụn trứng cá chiếm 17,97 % tổng số bệnh đến khám tại Bệnh viện
Da Liễu TP Hồ chí Minh năm 2006 chỉ đứng hàng thứ hai sau bệnh chàm
- Theo các tác giả nước ngoài tỉ lệ lưu hành trọn đời bệnh mụn trứng cá được ước tính trên 85%(3,4); nhưng ở độ tuổi thanh thiếu niên chủ yếu dao động khoảng 85%
- Theo Klaus Degitz (Đức) có 80% dân số bị mụn trứng cá(2,6); nam và nữ tỉ lệ ngang nhau, bệnh khởi phát từ 10-14 tuổi và giảm lúc 20-25 tuổi Một số bệnh nhân, mụn trứng cá tồn tại tới 40-50 tuổi gọi là mụn trứng cá dai dẳng
Dạng lâm sàng sắp xếp từ dạng nhẹ với vài nhân trứng cá và rất ít sẩn mụn mủ viêm đôi khi được đặt tên là mụn trứng cá “sinh lý”, ngược lại với dạng nặng được gọi là mụn trứng cá
“lâm sàng”, cho tới sự hình thành tổn thương viêm nặng và áp xe trên mặt hay ngực, để lại di chứng sẹo xấu là gánh nặng tâm lý đối với người bệnh
Trang 3Các nghiên cứu liên quan:
- Theo Green.J.Sinclair R D: Những quan
niệm sai lầm tồn tại trong cộng đồng về những
yếu tố làm bộc phát mụn trứng cá thông thường
đặc biệt là stress, chế độ ăn, lối sống, vệ sinh cá
nhân thường được hiểu sai lầm như là những
yếu tố quan trọng
Ở nước ta, những bệnh nhân bị mụn trứng
cá, cũng có những nhận thức sai lầm về nguyên
nhân, diễn tiến, điều trị Họ cũng thường tự trị
trước khi đi đến bác sĩ chuyên khoa bằng nhiều
cách, trong đó quan trọng nhất là dùng mỹ
phẩm gồm kem dưỡng da như Cô gái tóc xù,
Thanh Thảo, Thanh Hiền, Cecily; kem trắng da
như Acnes, Pond’s, Hazeline…; kem trộn
(Cortibion pha trộn với kem hoặc một số thuốc
khác như kháng sinh, Aspirine, Vitamin )
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu
Tất cả học sinh lớp 10, 11, 12 đang học tại
trường trung học phổ thông Châu Văn Liêm,
Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ
Dân số nghiên cứu
Tất cả các học sinh nói trên thỏa mãn các
tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian từ tháng
10/2006 đến tháng 4/2007
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Là các học sinh nói trên đủ các điều kiện:
- Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đối tượng lớp 10 (15 tuổi), lớp 11(16
tuổi), lớp 12 (17 tuổi)
- Có mặt tại trường để được phỏng vấn,
khám bệnh và lập hồ sơ nghiên cứu cho học
sinh trong các lớp đã được chọn
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đối tượng không hợp tác nghiên cứu
- Đối tượng học không đúng tuổi
Cỡ mẫu
Tỉ lệ P chưa biết tuy nhiên mụn trứng cá là phổ biến, nên để có dự trù cỡ mẫu cao nhất lấy P= 50%
Phương pháp chọn mẫu
Bước 1: Chọn trường Trung học phổ thông
Châu Văn Liêm, Quận Ninh Kiều, Thành phố
Cần Thơ
Bước 2: Liên hệ với Ban Giám Hiệu nhà trường
xin bố trí thời gian thích hợp để tiến hành thu thập số liệu trên các đối tượng nghiên cứu
Bước 3: Lập danh sách dựa vào phương pháp
phân tầng, lấy mẫu ngẫu nhiên cụm
Bốc thăm ngẫu nhiên các lớp trong 3 khối
10, 11, 12 Lập danh sách đối tượng nghiên cứu
Phương pháp tiến hành
Phát bộ câu hỏi điều tra, giải thích, hướng dẫn học sinh hoàn thành các phần hành chánh (họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ)
Phỏng vấn trực tiếp học sinh dựa vào bảng câu hỏi có liên quan đến các biến số Riêng học sinh có bệnh mụn trứng cá được khám, chẩn đoán và làm bệnh án
Chụp hình những trường hợp điển hình Tiêu chuẩn chẩn đoán: Chẩn đoán bệnh trứng cá chủ yếu dựa vào lâm sàng là chính:
+ Tổn thương cơ bản
+ Vị trí chọn lọc: tổn thương đối xứng, thường tập trung ở mặt (trán, má, mũi, cằm), ngực, lưng, đôi khi ở vai cánh tay
Phân tích số liệu
Số liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 15.0 và Excell
KẾT QỦA NGHIÊN CỨU
Số trường hợp nghiên cứu
Có tất cả 405 học sinh tham gia nghiên cứu Tuổi của đối tượng được chọn ứng với lớp, lớp
10 (15 tuổi), lớp 11 (16 tuổi), lớp 12 (17 tuổi)
Trang 4121 (29.9%)
123 (30.4%) 161
Lớp 11 Lớp 12
Biểu đồ 1: Tỉ lệ phân bố học sinh theo lớp (tuổi)
Tỷ lệ mắc bệnh và giới tính
Bảng 1: Tỉ lệ học sinh mắc bệnh mụn trứng cá
theo giới tính
Giới
Chẩn đoán
Nam 120 (83,9) 23 (16,1)
Nữ 214 (81,7) 48 (18,1)
Tổng số (n=405) 334 (82,5) 71 (17,5)
χ2
= 0,32; p = 0,57 > 0,05
Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa tỉ lệ
học sinh mắc bệnh mụn trứng cá và giới tính
Bảng 2: Tuổi trung bình bị mụn trứng cá theo
giới tính
hợp
Tuổi trung
t = 1,79; p = 0,08 > 0,05 CI 95% (-0,08 – 0,63)
Nhận xét: Không có sự khác biệt về độ tuổi
trung bình giữa 2 giới
86.4%
79.7%
84.2%
83.1%
82%
83.9%
81.7%
76%
78%
80%
82%
84%
86%
88%
Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12 Trung bình
Nam Nữ
Biểu đồ 2: Tỉ lệ bệnh mụn trứng cá theo giới và
lớp (tuổi)
Kiến thức
Bảng 3: Kiến thức về nguyên nhân sinh bệnh
Nguyên
nhân
Tần số
(%)
Di truyền 73 (18) 332 (82) 405 (100)
Hormone 253 (62,5) 152 (37,5) 405 (100) Thực phẩm 212 (52,3) 193 (47,7) 405 (100) Stress 151 (37,3) 254 (62,7) 405 (100) Nhiễm trùng 278 (68,6) 127 (31,4) 405 (100) Lối sống 281 (69,4) 124 (30,6) 405 (100)
Nhận xét: Đa số học sinh nghĩ nguyên nhân
sinh bệnh mụn trứng cá là do lối sống (69,4%), tình trạng nhiễm trùng da (68,6%), kế đến là hormone (62,5%), thực phẩm (52,3%), stress (37,3%) di truyền (18%)
Bảng 4: Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng
Yếu tố ảnh hưởng
Tần số (%) Tần số (%) Tần số
Chế độ ăn 206 (50,9) 199 (49,1) 405
Kém vệ sinh da 350 (86,4) 55 (13,6) 405
Mỹ phẩm 191 (47,2) 214 (52,8) 405 Sữa rửa mặt 87 (21,5) 318 (78,5) 405 Thời tiết 179 (44,2) 226 (55,8) 405 Mùa trong năm 44 (10,9) 361 (89,1) 405 Tập thể dục đổ
mồ hôi 56 (13,8) 349 (86,2) 405 Stress 164 (40,5) 241 (59,5) 405 Thuốc lá 163 (40,2) 242 (59,8) 405
Cà phê 249 (61,5) 156 (38,5) 405 Rượu, bia 169 (41,7) 236 (58,3) 405
Ánh nắng 167 (41,2) 238 (58,8) 405
Nhận xét: Thứ tự các yếu tố ảnh hưởng theo
quan điểm của nhóm được nghiên cứu như sau:
Đa số nghĩ là kém vệ sinh da mặt có mối liên quan nhiều nhất, kế đến là bụi, cà phê, chế độ
ăn, mỹ phẩm
Bảng 5: Kiến thức về cách điều trị
Cách điều trị mụn trứng cá
Tần số (%)
Tần số
Thuốc bôi 211 (52,1) 194 (47,9) 405 Kháng sinh uống 76 (18,8) 329 (81,2) 405 Hormone 31 (7,7) 374 (92,3) 405 Ánh sáng 127 (31,4) 278 (68,6) 405 Quang động học 25 (6,2) 380 (93,8) 405 Phẫu thuật 96 (23,7) 309 (76,3) 405 Bào da 71 (17,5) 334 (82,5) 405 Tâm lý liệu pháp 100 (24,7) 305 (75,3) 405
Nhận xét: Đa số học sinh có kiến thức về cách
điều trị là dùng mỹ phẩm (80%), kế đến là thuốc bôi (52,1%)
Trang 59 (2.7%)
3 (0.7%)
125
(37.4%)
20 (6%)
177 (53%)
Không điều trị Thẩm mỹ viện
Tự trị Bác sĩ tư Bệnh viện Da Liễu
Nguồn thông tin về bệnh mụn trứng cá
22.4%
32.9%
5.9%
13.2%
17.6%
4.7%
3.3%
Ti vi, Radio Báo chí, Internet Trường học Cha mẹ người thân Bạn bè, Hàng xóm
Nv thẩm mỹ, Dược sỹ Bác sỹ
Biểu đồ 3: Nguồn thông tin bệnh mụn trứng cá
Thái độ
Bảng 6: Sự quan tâm về bệnh mụn trứng cá
theo giới
Giới
Quan tâm mụn trứng cá
Nam (n=120) 92 (76,7) 28 (23,3)
Nữ (n=214) 190 (88,8) 24 (11,2)
2
= 8,6; p = 0,003
Nhận xét: Có mối liên hệ giữa mức độ quan
tâm về mụn trứng cá với giới tính hoặc tỉ lệ
quan tâm về mụn trứng cá ở nữ cao hơn ở nam
Thực hành
Thói quen điều trị
Biểu đồ 4: Thói quen điều trị
Nhận xét: Có tới 53% học sinh bị mụn không
điều trị, 37,4% tự trị, chỉ có 6% tới Bác sĩ, 2,7%
tới Bệnh viện Da Liễu
Thói quen nặn mụn
Bảng 7: Liên hệ giữa thói quen nặn mụn và giới
Giới
Thói quen nặn mụn
Nam (n=143) 78 (54,5) 65 (45,5)
Nữ (n=262) 154 (58,8) 108 (41,2)
2
= 0,68; p=0,41
Nhận xét: Kiểm định 2 không có ý nghĩa thống kê chỉ ghi nhận tỉ lệ học sinh có thói quen không tốt là nặn mụn (57,3%) nhiều hơn học sinh không nặn mụn là (42,7%) Học sinh nam nặn mụn ít hơn học sinh nữ
Thói quen masage da mặt
Bảng 8: Mối liên hệ giữa thói quen massage da
mặt và giới tính
Giới
Thói quen massage da mặt
Tần số (%) Tần số (%)
Nam (n=143) 9 (6,3) 134 (93,7)
Nữ (n=262) 36 (13,7) 226 (86,3)
χ2
= 5,19; p=0,02
Nhận xét: Có mối liên hệ giữa thói quen
massage mặt và giới tính hoặc tỉ lệ massage mặt ở nam là thấp hơn ở nữ
Thói quen rửa mặt bằng sữa rửa mặt
Bảng 9: Mối liên hệ giữa thói quen rửa mặt
bằng sữa rửa mặt và giới tính
Giới
Thói quen dùng sữa rửa
mặt
Nam (n=143) 55 (38,5) 88 (61,5)
Nữ (n=262) 163 (62,2) 99 (37,8) Tổng số (n=405) 218 (53,8) 187 (46,2)
χ2
= 21; p = 0,001
Nhận xét: Có mối liên hệ giữa thói quen dùng
sữa rửa mặt và giới tính hoặc tỉ lệ với dùng sữa rửa mặt ở nam là thấp hơn ở nữ
Thói quen dùng mỹ phẩm
Một số mỹ phẩm được học sinh sử dụng:
Kem dưỡng da, trị mụn như Kem trộn (gồm cortibion trộn với thuốc tây hoặc với một số loại kem khác), Cô gái tóc xù, Thanh Thảo, Thanh Hiền, kem nghệ, Cecily, Acnes…
Kem trắng da, chống nắng như Acnes, Pond’s, Hazeline…
Trang 6Bảng 10: Thói quen dùng mỹ phẫm và giới tính
Giới
Thói quen dùng mỹ phẩm
Nam (n=143) 50 (35) 93 (65)
Nữ (n=262) 148 (56,5) 114 (43,5)
Tổng số (n=405) 198 (48,9) 207 (51,1)
χ2
= 17,15; p = 0,001
Nhận xét: Có mối liên hệ giữa dùng mỹ phẩm
với giới tính hoặc tỉ lệ dùng mỹ phẩm ở nữ cao
hơn ở nam (56,5% so với 35%)
Bảng 11: Thói quen dùng mỹ phẩm và bệnh
Thói quen dùng mỹ
phẩm
Chẩn đoán
bệnh Tần số
Có dùng (n=198) 174 (87,9) 24 (12,1)
Không dùng (n=207) 160 (77,3) 47 (22,7)
χ2
= 7,84; p = 0,01; OR=2,12; CI 95% (1,25 -
3,64)
Nhận xét: Có mối liên hệ giữa bệnh với dùng
mỹ phẩm hay nói cách khác học sinh có thói
quen dùng mỹ phẩm có nguy cơ bị bệnh cao
gấp 2,12 lần học sinh không dùng
Tỉ lệ học sinh sử dụng kem trộn và thuốc
bôi có chứa Corticoid
Bảng 12: Tỉ lệ học sinh sử dụng kem trộn và
thuốc bôi có chứa corticoid
Lối sống
Bảng 13: Mối liên quan giữa lối sống và giới
Tần số (%) Tần số (%)
Thức khuya 99 (69,2) 204 (77,9) 0,05
Cà phê 51 (35,7) 53 (20,2) 0,001
Rượu bia 18 (12,6) 6 (2,3) 0,001
Thuốc lá 2 (1,4) 0 (0) 0,12
Nhận xét: Ngoại trừ thuốc lá ra thì có mối liên
hệ giữa lối sống thức khuya, cà phê, rượu bia và
giới tính
Mối liên hệ giữa chế độ ăn thường xuyên và
bệnh
Bảng 14: Mối liên hệ giữa chế độ ăn thường
xuyên và bệnh
Chế độ ăn
P
(%)
Tsố (%)
Chất béo 194
(85,1)
140 (79,1)
34 (14,9)
37 (20,9) 0,12 Chất ngọt 149
(83,2)
185 (81,9)
30 (16,8)
41 (18,1) 0,72 Chất cay 66 (81,5) 268
(82,7)
15 (18,5)
56 (17,3) 0,79 Trái cây
nhiều đường
148 (83,1)
186 (81,9)
30 (16,9)
41 (18,1) 0,75 Trái cây ít
đường
240 (83,6) 94 (79,7)
47 (16,4)
24 (20,3) 0,34 Chocolate,
ca cao 72 (80)
262 (83,2) 18 (20)
53 (16,8) 0,49 Thịt nạc (80,4) 246 88 (88,9) 60
(19,6)
11 (11,1) 0,053 Rau, củ,
quả
297 (82,7) 37 (80,4)
62 (17,3) 9 (19,6) 0,7
Nhận xét: Sự khác biệt không có ý nghĩa thống
kê về chế độ ăn giữa hai nhóm
Lượng nước uống mỗi ngày
Bảng 15: Lượng nước uống trung bình theo
giới tính
Lượng nước uống trung bình/ngày
SD
Tổng số 405 (100) 1,70
t = 5,8; p = 0,001; CI 95% (0,26 đến 0,52)
Nhận xét: Lượng nước uống trung bình/ngày
của nam là 1,95 và nữ là 1,56 Sự khác biệt là 0,39 lít, cho thấy có sự khác biệt đáng kể về lượng nước uống trung bình/ngày giữa nam và
nữ, nam có khuynh hướng uống nước nhiều hơn
nữ, p=0,001<0,05
Bảng 16: Lượng nước uống trung bình theo
bệnh
(%)
Lượng nước uống trung bình/ngày
SD
Có bệnh 334 (82,5) 1,67 0,64 Không bệnh 71 (17,5) 1,87 0,79 Tổng số 405 (100) 1,70
t = 2,34; p = 0,02; CI 95% (-0,38 đến -0,03)
Nhận xét: Có sự khác biệt về lượng nước uống
trung bình/ngày giữa người bệnh và không bệnh
Trang 7hay nói cách khác nhóm không bệnh uống nhiều
nước hơn nhóm có bệnh 0,2 lít/ngày
Các chất kích thích (Trà, cà phê)
Bảng 17: Mối liên hệ giữa thói quen dùng chất
kích thích (trà, cà phê) và giới tính
Giới
Dùng chất kích thích
Tần số (%) Tần số (%)
Nam (n=143) 39 (27,3) 104 (72,7)
Nữ (n=262) 49 (18,7) 213 (81,3)
2
= 4; p = 0,05
Nhận xét: Có mối liên hệ giữa mức độ dùng
chất kích thích với giới tính hoặc tỉ lệ dùng chất
kích thích ở nam cao hơn ở nữ
Bảng 18: Mối liên hệ giữa dùng chất kích thích
(trà, cà phê) và bệnh
Dùng chất kích thích
Chẩn đoán
bệnh Tần số
(%)
Tần số (%)
Có dùng (n=88) 69 (78,4) 19 (21,6)
Không dùng (n=317) 265 (83,6) 52 (16,4)
2
= 1,28; p = 0,26
Nhận xét: Không có mối liên hệ giữa dùng chất
kích thích với bệnh
Ảnh hưởng của mụn trứng cá
Ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với bản
thân học sinh
56.7%
70.6%
23.3%
33.6%
16.7%
31.3%
0%0.5%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
Thiếu tự tin Buồn chán Xấu hổ Có ý định
tự tử
Nam Nữ
Biểu đồ 5: Ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với
bản thân học sinh
Nhận xét:
Ảnh hưởng thiếu tự tin: nữ (70,6%) nhiều
hơn nam (56,7%) với p=0,01
Ảnh hưởng buồn chán: nữ (33,6%) nhiều
hơn nam (23,3%) với p=0,05
Ảnh hưởng xấu hổ: nữ (31,3%) nhiều hơn nam (16,7%) với p=0,003
Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên mối liên
hệ giữa học sinh với bạn bè
28.3%
32.2%
22.5%
25.7%
18.3%
24.8%
4.2% 5.6%
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
Ngại tiếp xúc
Tránh chỗ đông người
Thiếu cởi mở
Khó kết bạn
Nam Nữ
Biểu đồ 6: Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên
mối liên hệ giữa học sinh với bạn bè
Nhận xét:
Ảnh hưởng ngại tiếp xúc: nữ (32,2%) nhiều hơn nam (28,3%) với p=0,46
Ảnh hưởng tránh chỗ đông người: nữ (25,7%) nhiều hơn nam (22,5%) với p=0,51 Ảnh hưởng thiếu cởi mở: nữ (24,8%) nhiều hơn nam (18,3%) với p=0,18
Ảnh hưởng khó kết bạn: nữ (5,6%) nhiều hơn nam (4,2%) với p=0,57
Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên mối liên
hệ giữa học sinh với gia đình
12.5%
5.6%
4.2% 5.1%
0%
2%
4%
6%
8%
10%
12%
14%
Ít nói Sống khép kín
Nam Nữ
Biểu đồ 7: Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên mối liên hệ giữa học sinh với gia đình
Nhận xét:
Ảnh hưởng ít nói: nam (12,5%) nhiều hơn
nữ (5,6%) với p = 0,03
Ảnh hưởng sống khép kín: nữ (5,1%) và nam (4,2%) gần như ngang nhau với p= 0,69
Trang 8Ảnh hưởng của mụn trứng cá trong việc
học tập của học sinh
15%
18.2%
12.5%
9.8%
0%
5%
10%
15%
20%
Thiếu tập trung Sao lãng
Nam Nữ
Biểu đồ 8: Ảnh hưởng của mụn trứng cá trong
việc học tập của học sinh
Nhận xét:
Ảnh hưởng thiếu tập trung: nữ (18,2%)
nhiều hơn nam (15%) với p=0,45
Ảnh hưởng sao lãng: nam (12,5%) nhiều
hơn nữ (9,8%) với p=0,45
BÀN LUẬN
Trong 405 trường hợp nghiên cứu, thì học
sinh nữ chiếm (64,6%) nhiều hơn nam (35,4%),
do trường này số lượng học sinh nữ đông hơn
học sinh nam Trong đó lớp 10 (30,4%), lớp 11
(29,9%), lớp 12 (39,8%)
Tỉ lệ mắc bệnh
Nghiên cứu này khẳng định mụn trứng cá là
một vấn đề phổ biến ở thanh thiếu niên, lứa tuổi
từ 15-17, ảnh hưởng đến 83,9% nam và 81,7 %
nữ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với
p = 0,57 Tần suất bệnh chung cho cả hai giới là
82,5% Tỉ lệ lưu hành này cũng phù hợp với các
tác giả khác như Saurat(14)
và Klaus Degit(6) là 80%, Julie C Harper(4) là 85-100% Một nghiên
cứu ở thiếu niên Úc cho thấy từ 13-15 tuổi
(77% nam; 79% nữ mắc bệnh), sự khác biệt về
tỉ lệ mụn trứng cá giữa hai giới là không đáng
kể; tuy nhiên theo nghiên cứu của M Kilkenny
trên thiếu niên Úc ở lứa tuổi 16-18 thì tỉ lệ nam
bị mụn cao hơn và thường nặng hơn
Tuổi
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là
16,09; thấp nhất là 15 tuổi, cao nhất là 17 tuổi
Trong nhóm học sinh bị mụn trứng cá, lứa
tuổi 16 (lớp 11) chiếm tỉ lệ cao nhất là (83,5%),
kế đến là lứa tuổi 15 (lớp 10) chiếm (82,1%),
thấp nhất là lứa tuổi 17 (lớp 12) chiếm (82%)
Tuổi trung bình bị bệnh của phái nữ là 13,26
không khác so với phái nam là 13,6 Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,08
Về kiến thức Kiến thức về nguyên nhân:
Đa số học sinh nghĩ nguyên nhân sinh bệnh mụn trứng cá là do lối sống (69,4%), kế đến là tình trạng nhiễm trùng da (68,6%), hormone (62,5%), thực phẩm (52,3%), stress (37,3%), di truyền (18%) Chỉ có 62,5% học sinh nhận biết đúng về nguyên nhân sinh bệnh mụn trứng cá là
do hormone và 18% là do di truyền Tương tự như nghiên cứu của Rigopoulos(12)
trên học sinh cấp hai Hy Lạp, 55,1% học sinh nghĩ nguyên nhân là do hormone, 5,7% là do di truyền, 31,9% là do stress, 14,9% là do nhiễm trùng Nhìn chung kiến thức về nguyên nhân còn thấp,
và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có bệnh và không bệnh
Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng:
Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến mụn trứng cá còn thấp, không có sự khác biệt giữa hai nhóm có và không có bệnh về hiểu biết vấn
đề này Đa số học sinh nghĩ kém vệ sinh da mặt
là yếu tố quan trọng nhất làm bộc phát mụn trứng cá (86,4%), kế đến là bụi (85,4%), cà phê (61,5%), chế độ ăn (50,9%), mỹ phẩm (47,2%), thời tiết (44,2%), rượu bia (41,7%), stress (40,5%), sữa rửa mặt (21,5%) Theo nghiên cứu của Rigopoulos(12)
62,3% học sinh cho yếu tố bộc phát là chế độ ăn; 42,4% cho là vệ sinh kém; 31,9% cho do stress
Về thái độ
Sự quan tâm về mụn trứng cá:
Tỉ lệ học sinh có quan tâm về mụn trứng cá
là 84,4% Có mối liên hệ giữa sự quan tâm về mụn trứng cá và giới tính Tỉ lệ có quan tâm về mụn trứng cá giữa hai phái chênh lệch tương đối rõ, nữ quan tâm về mụn trứng cá nhiều hơn nam Điều này cũng hợp lý, vì giới nữ thường chú trọng đến biểu hiện bên ngoài, và yêu cầu
về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội hiện nay được đặt ra cao hơn so với nam
Về thực hành Thói quen điều trị
Tuy tỉ lệ học sinh có quan tâm về bệnh là cao 84,4% nhưng ti lệ không điều trị cao tới 53%, tự trị là 37,4%, tới Bác sĩ tư là 6%, chỉ có 2,7% tới Bệnh viện Da Liễu
Trang 9Thói quen nặn mụn:
Học sinh có thói quen không tốt là nặn mụn
(57,3%), nhiều hơn học sinh không nặn mụn là
(42,7%), tỉ lệ học sinh nữ nặn mụn (58,8%),
nhiều hơn học sinh nam (54,5%) và sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê Đây là thói quen
thường gặp ở rất nhiều bệnh nhân mụn trứng cá
Khi tự ý nặn mụn nhất là trong giai đoạn các
tổn thương đang viêm nhiễm sẽ có nguy cơ làm
gia tăng và lan rộng tình trạng viêm nhiễm, có
thể gây nên những sẹo mụn tồn tại vĩnh viễn, và
những dát tăng sắc tố theo sau hiện tượng viêm
Điều này cho thấy những bệnh nhân mụn trứng
cá cần được tư vấn rằng nặn mụn không giải
quyết được vấn đề mà còn có nguy cơ để lại
những di chứng mất thẩm mỹ cho da
Thói quen massage mặt:
Tỉ lệ học sinh có thói quen massage mặt
trung bình (11,1%), trong đó nữ (13,7%) nhiều
hơn nam (6,3%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p=0,02 < 0,05 Tuy tỉ lệ này không cao
nhưng khi bị mụn nếu massage có thể làm tổn
thương lan tràn, da bị dị ứng và mụn nặng hơn
do sử dụng những sản phẩm không phù hợp
Thói quen rửa mặt bằng sữa rửa mặt:
Tỉ lệ học sinh có thói quen rửa mặt bằng sữa
rửa mặt trung bình là 53,8%; có mối liên hệ
giữa thói quen dùng sữa rửa mặt và giới tính, nữ
62,2% nhiều hơn so với nam (38,5%) Sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,001<0,05 Ở
đây sự khác biệt giữa hai nhóm có và không
bệnh về vấn đề sử dụng sữa rửa mặt không có ý
nghĩa thống kê, tuy nhiên cần có những nghiên
cứu sâu hơn để tìm hiểu về mối liên hệ này
Trước mắt nên chú ý giáo dục học sinh khi sử
dụng những sản phẩm này cần chú trọng đến
thành phần và tính sinh nhân trứng cá
Thói quen sử dụng mỹ phẩm (kem dưỡng
da, kem trị mụn , kem làm trắng da)
Tỉ lệ học sinh không dùng mỹ phẩm là
(51,1%), có dùng mỹ phẩm là (48,9%), trong đó
có (56,5%) là nữ (35%) là nam Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê với p=0,001<0,05 Sử dụng
mỹ phẩm không phù hợp cũng là một tác nhân
rất quan trọng gây ra phát ban mụn trứng cá
Có mối liên hệ giữa thói quen sử dụng mỹ
phẩm và giới tính, học sinh nữ dùng mỹ phẩm
nhiều hơn học sinh nam Thêm vào đó nghiên
cứu này cũng cho thấy có mối liên hệ giữa dùng
mỹ phẩm và bệnh hoặc người có thói quen sử
dụng mỹ phẩm có nguy cơ mắc bệnh mụn trứng
cá cao gấp 2,12 lần người không dùng 18,8%
có tiền sử sử dụng kem trộn và những sản phẩm bôi ngoài da có chứa corticoide để điều trị mụn trứng cá hoặc dưỡng da, theo Fitzpatrik(15)
, uống corticoide hoặc sử dụng kem có chứa corticoide bôi ngoài da, có thể gây phát ban mụn trứng cá do corticoide Việc tự điều trị mụn bằng nhiều loại thuốc bôi tự pha chế (kem trộn) thành phần chính là corticoide gây rất nhiều tác dụng phụ cho da như teo da, dãn mạch, rạn da, thay đổi sắc tố da, sinh mụn trứng
cá, lúc đầu sử dụng mụn giảm nhanh, sau đó mụn tái phát trở lại với tình trạng nặng nề hơn
và ngày càng lan rộng ra khỏi vị trí chọn lọc của tổn thương, bệnh nhân ở trong tình trạng lệ thuộc corticoide gây khó khăn trong điều trị
Lối sống:
Có mối liên hệ giữa lối sống (thức khuya, cà phê, rượu/bia) và giới tính, chưa thấy mối liên
hệ giữa thuốc lá và giới tính vì cỡ mẫu chưa đủ lớn Chưa thấy lối sống là yếu tố nguy cơ phát sinh phát sinh mụn trứng cá; 74,8 % học sinh thức khuya, 25,7% học sinh dùng chất kích thích (trà, cà phê) ở lứa tuổi này tỉ lệ học sinh
ưa thích và dùng chất kích thích thấp hơn so với không thích; 5,9% học sinh sử dụng rượu, bia; 0,5% học sinh sử dụng thuốc lá
Lượng nước uống(10)
Theo nhiều tác giả uống nhiều nước khoảng
2,5l-3l/ngày giúp cơ thể đào thải các chất nhờn,
chất thải và các độc tố, nước cũng giúp làm ẩm
da, bảo vệ các lỗ chân lông không bị các nút sừng Nước cũng giúp làm giảm stress,và mệt mỏi Khi cơ thể bị stress, có thể là nguyên nhân làm tăng sản xuất hormone từ tuyến thượng thận làm tăng androgens đưa đến tăng hoạt dộng của tuyến bã, nên uống ít nước mỗi ngày
dễ có nguy cơ bị mụn hơn Ở đây, lượng nước uống của đa số học sinh từ 1 đến 2 l/ngày chiếm (85,4%) Lượng nước uống trung bình là 1,7015; thấp hơn so với nhu cầu bình thường
Sự khác biệt về lượng nước uống trung bình giữa hai nhóm có (1,6656) và không có bệnh (1,8704) có ý nghĩa thống kê p=0,02 < 0,05
Về ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với học sinh:
Nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy có mối liên quan mạnh giữa mụn trứng cá và sức khoẻ tâm thần(1,7,13) Những số liệu trong nghiên cứu này cho thấy bệnh mụn trứng cá gây tác
Trang 10động tâm lý rất lớn ảnh hưởng đến bản thân
người bệnh, đến các mối quan hệ với bạn bè,
gia đình và học tập Mối quan hệ này phụ thuộc
vào giới tính, nữ dễ bị tác động của bệnh nhiều
hơn so với nam (phù hợp với nghiên cứu của
Aktan et al) Tác động nhiều nhất đến học sinh
là thiếu tự tin (nam: 56,7%; nữ: 70,6%), buồn
chán (nam: 22,3%; nữ: 33,6%), xấu hổ (nam :
16,7%; nữ: 31,3%), ngại tiếp xúc (nam: 28,3%;
nữ: 32,2%), tránh chỗ đông người (nam: 22,5%;
nữ: 25,7%), thiếu tập trung trong việc học tập
(nam: 15%; nữ: 18,2%; p=0,52) Theo
Rigopoulos và cộng sự(12), 48% học sinh cấp II
Hy Lạp cho rằng mụn trứng cá làm tổn hại đến
mối liên hệ cá nhân, 64,4% cho rằng mụn trứng
cá ảnh hưởng đến hình ảnh của họ Theo nghiên
cứu của Jancin B(5)
trên những thiếu niên Anh, 39% tránh đi đến trường vì xấu hổ, 55% cho
rằng mụn trứng cá làm cho họ không có bạn trai
hay gái, 35% khó kết bạn
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu cắt ngang phân tích trên
405 học sinh trường Trung học phổ thông Châu
Văn Liêm, Phường An Cư, Quận Ninh Kiều,
Thành phố Cần Thơ từ tháng 10/2006 đến
4/2007, chúng tôi rút ra kết luận như sau:
1 Tỉ lệ hiện mắc mụn trứng cá rất cao ở học
sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm là
82,5%; giới nam (83,9%), giới nữ (81,7%), sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê
2 Kiến thức sai về nguyên nhân và các yếu tố
bộc phát bệnh mụn trứng cá còn rất phổ biến
trong học sinh, 69,4% học sinh nghĩ lối sống là
nguyên nhân chính, kế đến là nhiễm trùng da,
hormone, thực phẩm, stress và di truyền Về
những yếu tố làm bộc phát, 86,4% cho là do
kém vệ sinh da mặt, 50,9% do chế độ ăn, 47,2%
do mỹ phẩm, 44,2% cho là do thời tiết, 41,7%
cho là do rượu bia, 40,5% cho là stress
3 Không có sự khác biệt giữa giới nam và nữ
về kiến thức, nhóm không bệnh cũng không có
kiến thức tốt hơn nhóm có bệnh về nguyên
nhân, các yếu tố ảnh hưởng, cách điều trị mụn
trứng cá
4 Trong học sinh còn tồn tại những thói quen
chưa tốt như nặn mụn, thói quen tự điều trị, thói
quen dùng mỹ phẩm (kem dưỡng da…), sữa rữa
mặt như là phương pháp điều trị mụn
5 Đặc biệt là vấn đề sử dụng bừa bãi kem trộn
hoặc những thuốc bôi có chứa corticoide dẫn
đến những tác hại không mong muốn cho làn
da, làm mất thẩm mỹ, ảnh hưởng lâu dài đến tâm lý người bệnh và chất lượng cuộc sống
6 Xác định được một số yếu tố nguy cơ như lượng nước uống (OR=0,02), thói quen dùng
mỹ phẩm (OR=2,12) Các yếu tố khác như chế
độ ăn, lối sống chưa cho thấy có ảnh hưởng đến mụn trứng cá
7 Xác định sự khác biệt trong thực hành và thái
độ giữa nam và nữ như massage mặt (p=0,02), dùng sữa rửa mặt (p=0,001), dùng mỹ phẩm (p=0,001), lượng nước uống mỗi ngày (p=0,001), thức khuya (p=0,05), uống cà phê (p=0,001), uống rượu bia (p=0,001), sự quan tâm đến bệnh (p=0,003), dùng chất kích thích (trà, cà phê) (p=0,05)
8 Thêm vào đó nghiên cứu này cũng mô tả được ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với bản thân học sinh (nữ thiếu tự tin, chán nản, xấu hỗ nhiều hơn nam), đối với mối liên hệ với bạn bè (không khác biệt giữa nam và nữ), mối liên hệ với gia đình (nam ít nói hơn, sống khép kín nam
nữ như nhau), đối với việc học tập (cả nam lẫn
nữ đều thiếu tập trung, sao lãng như nhau) Những kết luận này thực sự cần thiết cho các chương trình sức khỏe học đường phòng chống bệnh mụn trứng cá
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Aktans., et al (2000), “Anxiety, depression and nature of
acne vulgaris in adolescents”, Int J Dermatol; 39:354-7
2 Gollnick HP, Cunliffe WJ (2003), “Management of acne”,
J Am Acad Dermatol, 49: S1-S38
3 Harper J C (2004), “An update on the pathogenesis of
acne vulgaris”, Journal of the American Academy of Derma-
tology Online, V 51, Numero 1, pp 1-4
4 Harper J C., et al (2007), “Acne vulgaris”, emedicine,
S1-11
5 Jancin, B (2004), “Teens with acne cite shame, emba-
rassment about skin”, Skin and allergy News, January, p28
6 Klaus Degit., et al ( 2007), “Pathophysiology of acne”,
Journal of the German society of Dermatology, April, vol 5,
issue 4, pp 316-323
7 Lello.J., et al (1995), “Prevalence of acne vulgaris in
Auckland Senior high school students”, NZ Med J;
108:287-289 Lookingbill DP., et al (1985), “Tissue production of androgens
in woman with acne”, J Am Acad Dermatol; 12:148
8 Magin P., et al (2005), “A systemic review of the evidence
for myths and misconceptions in a acne management: diet,
face-washing and sunlight”, Fam Pract, 22:62-70
9 Mallon E., et al (1999), “the quality of life in acne: a
comparison with general medical conditions using generic questionaire”, Br J Dermatol,140(4): 672-6