1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ

11 1,3K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 607,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bs CKII Trần Thị Hạnh Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ Người hướng dẫn

Trang 1

KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bs CKII Trần Thị Hạnh Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ

Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Tất Thắng

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh mụn trứng cá là bệnh rất phổ biến, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần

giúp các thầy thuốc Da Liễu có thêm số liệu về bệnh này để can thiệp, nâng cao sự hiểu biết, và có những hướng dẫn thích hợp cho người bệnh, hy vọng nhờ đó sẽ làm giảm tỉ lệ bệnh, giảm di chứng do bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ học sinh có Kiến thức - Thái độ - Thực hành về bệnh mụn trứng cá, tỉ lệ bệnh, và tác

động tâm lý liên quan đến người bệnh

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 405 học sinh lớp 10,11,12 bằng cách khám bệnh, phát bộ

câu hỏi điều tra, phỏng vấn dựa vào bảng câu hỏi

Kết quả: Tỉ lệ hiện mắc ở học sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm là 82,5% (nam 83,9%, nữ 81,7%)

69,4 % học sinh cho lối sống là nguyên nhân chính, kế đến là nhiễm trùng da (68,6 %), hormone (62,5 %), thực phẩm (52,3 %), stress (37,3 %), di truyền (18 %) Về yếu tố bộc phát 86,4 % cho là do kém vệ sinh da, 50,9 % do chế độ ăn, 47,2 % do mỹ phẩm, 44,2 % do thời tiết, 40,5 % do stress Xác định được một số yếu tố nguy cơ như lượng nước uống (OR=0,02), thói quen dùng mỹ phẩm (OR=2,12), Các yếu tố khác như chế độ

ăn, lối sống, vệ sinh da chưa cho thấy có ảnh hưởng đến bệnh Xác định sự khác biệt trong thực hành và thái

độ giữa nam và nữ như sự quan tâm đến bệnh (p=0,003), massage mặt (p=0,02),dùng sữa rửa mặt (p=0,001), dùng mỹ phẩm (p=0,001), lượng nước uống mỗi ngày (p=0,001), thức khuya (p=0,05), uống cà phê (p=0,001), uống rượu bia (p=0,001) Mụn trứng cá gây ảnh hưởng thiếu tự tin (p=0,01), buồn chán (p=0,048), xấu hổ (p=0,03) Ảnh hưởng ít nói nam nhiều hơn nữ (p=0,027)

Kết luận: Tỉ lệ hiện mắc bệnh mụn trứng cá ở học sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm là 82,5 % Kiến

thức sai về nguyên nhân, yếu tố bộc phát, cách điều trị bệnh còn phổ biến Tồn tại những thói quen chưa tốt như tự điều trị, nặn mụn, dùng mỹ phẩm, sử dụng bừa bãi kem trộn hoặc thuốc bôi có corticoid dẫn đến tác hại cho làn da Mụn trứng cá cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, việc học tập, mối quan hệ bạn bè và gia đình

ABSTRACT

KNOWLEDGE - ATTITUDE - PRACTICE ABOUT ACNES IN THE PUPILS OF CHAU VAN LIEM

SENIOR HIGH SCHOOL OF CAN THO CITY Tran Thi Hanh

Background: Acne is a common disease in teenagers and young adults This study was conducted to provide

physicians with a better understanding of the disease and to improve their advice to patients This is expected

to reduce its incidence, decrease its sequelae and improve the quality of life for those who suffer from acne

Objective: To evaluate the knowledge, attitude, and the practices of pupils of Chau Van Liem senior high

school in relation to acne To define the prevalence of acne, its related factors and its psychological impact

Method: A cross sectional descriptive study in 405 pupils in 10 th , 11 th , 12 th grades was carried out by means

of medical examination, and interviews based on questionnaires

Results: The prevalence of acne in Chau Van Liem senior high school pupils is 82,5% (83,9% boys, 81,7%

girls); 69,4% pupils think the way of living is the main cause, then skin infection (68,6%), hormone (62,5%), food (52,3%), stress (37,3%), genetic (18 %) About the trigger factos: 86,4 % pupils think acne is due to lack of hygiene, food (50,9%), cosmetics (47,2%), weather (44,2%), stress (40,5%) Some risk factors identified were the quantity of water drinking (OR=0,02), and the habit of using cosmetics (OR=2,12) We also identified the differences in practice and attitude between boys and girls: the concern about acne (p=0,003), facial massage (p=0,02), using facial milk (p=0,001, using cosmetics (p=0,001), water drinking (p=0,001), staying late at night (p=0,05), coffee (p=0,001), alcohol, beer drinking (p=0,001) Acne leads to lack of self-confidence (p=0,02), boredom (p=0,04), shame (p=0,03), and boys were less talkative than girls (p=0,02)

Trang 2

Conclusion: The prevalence of acne in Chau Van Liem senior high school pupils is 82,5% Lack of

knowledge of the causes, trigger factors, and the method of treatment is still common Pupils still display bad habbits like acne squeezing, applying cosmetics, using mixed cream carelessly or applying corticoid-contained medicine which lead to harm for their skin Acne also affects the mental health, studying, family relationships, and friendships

MỞ ĐẦU

Bệnh mụn trứng cá là một bệnh lý tuyến bã

của da do rối loạn chức năng của bộ lông tuyến

bã (thường là di truyền) Sự tiết bã nhờn đọng

lại ở lỗ chân lông tạo ra mụn Bệnh rất phổ

biến, chiếm 17,97% trong tổng số bệnh da đến

khám tại bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh

năm 2006, chỉ đứng thứ hai sau bệnh chàm

Theo các tác giả nước ngoài, bệnh chiếm tỷ lệ

80% dân số thế giới(6,7,14) Bệnh thường gặp ở

lứa tuổi thanh thiếu niên, người lớn trẻ, nữ từ

10-17 tuổi, nam từ 14-19 tuổi, nhưng cũng gặp

ở người lớn(15) Những trường hợp mãn tính

thường để lại những sẹo xấu mất thẩm mỹ, ảnh

hưởng đến chất lượng cuộc sống, người bệnh

mặc cảm tự ti khi giao tiếp trong xã hội, ảnh

hưởng đến chất lượng hiệu quả nghề nghiệp,

ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần, đôi khi trầm

cảm(1,9,11,14)

, Theo Saurat(14), khoảng 1,5% bệnh

nhân nam và 0,4% nữ diễn tiến bệnh kéo dài và

nặng nề với sự xuất hiện những sang thương

dạng cục, nang, mưng mủ, mãn tính, tái phát,

dai dẳng có thể tới trên 20 tuổi

Hiện nay ở nước ta, vẫn chưa có nghiên cứu

nào khảo sát kiến thức thái độ thực hành của

học sinh cấp III về bệnh mụn trứng cá, ước tính

tần suất và tác động tâm lý ảnh hưởng đến

người bệnh Một số bệnh nhân thường có thói

quen tự trị mụn bằng cách dùng kem hoặc mỹ

phẩm, tự mua thuốc, hoặc nặn mụn, đi massage

do đó làm bệnh nặng thêm và để sẹo mất thẩm

mỹ, ngoài ra có thể gây viêm da dị ứng, xạm da,

khô da, mụn trứng cá do thuốc và mỹ phẩm Vì

thế, việc nghiên cứu có hệ thống kiến thức, thái

độ, thực hành của bệnh nhân là điều cần thiết

giúp thầy thuốc chuyên khoa Da Liễu can thiệp,

nâng cao sự hiểu biết và có những hướng dẫn

thích hợp để bệnh nhân tự chăm sóc, bảo vệ da,

phòng tránh những biến chứng không tốt từ đó

làm giảm tỉ lệ bệnh, cải thiện chất lượng cuộc

sống, tăng cường hiệu quả học tập và làm việc

Mục tiêu

Tổng quát

Khảo sát tình trạng kiến thức, thực hành và

thái độ về bệnh mụn trứng cá, xác định tỉ lệ và

mức độ tác động tâm lý của bệnh ở học sinh

cấp III trường trung học phổ thông Châu Văn Liêm, Thành phố Cần Thơ

Chuyên biệt

- Xác định tỉ lệ lưu hành bệnh mụn trứng cá

ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông

- Khảo sát mức độ kiến thức, tình trạng thực hành, và thái độ của học sinh về bệnh mụn trứng cá

- Xác định các mối liên quan giữa kiến thức, thực hành, thái độ và nguy cơ mắc bệnh

- Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu

tố tâm lý đến người bệnh

Tổng quan tài liệu

Bệnh mụn trứng cá là một bệnh phổ biến, và gây buồn phiền(5,7) thường gặp ở nam và nữ ở lứa tuổi dậy thì, cũng có thể gặp ở người lớn và rất ít ở trẻ em, bệnh gặp ở khắp mọi lục địa, mọi chủng tộc Tùy tác giả, tùy địa phương tỉ lệ bệnh có khác nhau:

Ở Việt Nam, tỉ lệ bệnh mụn trứng cá chiếm 17,97 % tổng số bệnh đến khám tại Bệnh viện

Da Liễu TP Hồ chí Minh năm 2006 chỉ đứng hàng thứ hai sau bệnh chàm

- Theo các tác giả nước ngoài tỉ lệ lưu hành trọn đời bệnh mụn trứng cá được ước tính trên 85%(3,4); nhưng ở độ tuổi thanh thiếu niên chủ yếu dao động khoảng 85%

- Theo Klaus Degitz (Đức) có 80% dân số bị mụn trứng cá(2,6); nam và nữ tỉ lệ ngang nhau, bệnh khởi phát từ 10-14 tuổi và giảm lúc 20-25 tuổi Một số bệnh nhân, mụn trứng cá tồn tại tới 40-50 tuổi gọi là mụn trứng cá dai dẳng

Dạng lâm sàng sắp xếp từ dạng nhẹ với vài nhân trứng cá và rất ít sẩn mụn mủ viêm đôi khi được đặt tên là mụn trứng cá “sinh lý”, ngược lại với dạng nặng được gọi là mụn trứng cá

“lâm sàng”, cho tới sự hình thành tổn thương viêm nặng và áp xe trên mặt hay ngực, để lại di chứng sẹo xấu là gánh nặng tâm lý đối với người bệnh

Trang 3

Các nghiên cứu liên quan:

- Theo Green.J.Sinclair R D: Những quan

niệm sai lầm tồn tại trong cộng đồng về những

yếu tố làm bộc phát mụn trứng cá thông thường

đặc biệt là stress, chế độ ăn, lối sống, vệ sinh cá

nhân thường được hiểu sai lầm như là những

yếu tố quan trọng

Ở nước ta, những bệnh nhân bị mụn trứng

cá, cũng có những nhận thức sai lầm về nguyên

nhân, diễn tiến, điều trị Họ cũng thường tự trị

trước khi đi đến bác sĩ chuyên khoa bằng nhiều

cách, trong đó quan trọng nhất là dùng mỹ

phẩm gồm kem dưỡng da như Cô gái tóc xù,

Thanh Thảo, Thanh Hiền, Cecily; kem trắng da

như Acnes, Pond’s, Hazeline…; kem trộn

(Cortibion pha trộn với kem hoặc một số thuốc

khác như kháng sinh, Aspirine, Vitamin )

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu

Tất cả học sinh lớp 10, 11, 12 đang học tại

trường trung học phổ thông Châu Văn Liêm,

Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ

Dân số nghiên cứu

Tất cả các học sinh nói trên thỏa mãn các

tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian từ tháng

10/2006 đến tháng 4/2007

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Là các học sinh nói trên đủ các điều kiện:

- Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu

- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

- Đối tượng lớp 10 (15 tuổi), lớp 11(16

tuổi), lớp 12 (17 tuổi)

- Có mặt tại trường để được phỏng vấn,

khám bệnh và lập hồ sơ nghiên cứu cho học

sinh trong các lớp đã được chọn

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Đối tượng không hợp tác nghiên cứu

- Đối tượng học không đúng tuổi

Cỡ mẫu

Tỉ lệ P chưa biết tuy nhiên mụn trứng cá là phổ biến, nên để có dự trù cỡ mẫu cao nhất lấy P= 50%

Phương pháp chọn mẫu

Bước 1: Chọn trường Trung học phổ thông

Châu Văn Liêm, Quận Ninh Kiều, Thành phố

Cần Thơ

Bước 2: Liên hệ với Ban Giám Hiệu nhà trường

xin bố trí thời gian thích hợp để tiến hành thu thập số liệu trên các đối tượng nghiên cứu

Bước 3: Lập danh sách dựa vào phương pháp

phân tầng, lấy mẫu ngẫu nhiên cụm

Bốc thăm ngẫu nhiên các lớp trong 3 khối

10, 11, 12 Lập danh sách đối tượng nghiên cứu

Phương pháp tiến hành

Phát bộ câu hỏi điều tra, giải thích, hướng dẫn học sinh hoàn thành các phần hành chánh (họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ)

Phỏng vấn trực tiếp học sinh dựa vào bảng câu hỏi có liên quan đến các biến số Riêng học sinh có bệnh mụn trứng cá được khám, chẩn đoán và làm bệnh án

Chụp hình những trường hợp điển hình Tiêu chuẩn chẩn đoán: Chẩn đoán bệnh trứng cá chủ yếu dựa vào lâm sàng là chính:

+ Tổn thương cơ bản

+ Vị trí chọn lọc: tổn thương đối xứng, thường tập trung ở mặt (trán, má, mũi, cằm), ngực, lưng, đôi khi ở vai cánh tay

Phân tích số liệu

Số liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 15.0 và Excell

KẾT QỦA NGHIÊN CỨU

Số trường hợp nghiên cứu

Có tất cả 405 học sinh tham gia nghiên cứu Tuổi của đối tượng được chọn ứng với lớp, lớp

10 (15 tuổi), lớp 11 (16 tuổi), lớp 12 (17 tuổi)

Trang 4

121 (29.9%)

123 (30.4%) 161

Lớp 11 Lớp 12

Biểu đồ 1: Tỉ lệ phân bố học sinh theo lớp (tuổi)

Tỷ lệ mắc bệnh và giới tính

Bảng 1: Tỉ lệ học sinh mắc bệnh mụn trứng cá

theo giới tính

Giới

Chẩn đoán

Nam 120 (83,9) 23 (16,1)

Nữ 214 (81,7) 48 (18,1)

Tổng số (n=405) 334 (82,5) 71 (17,5)

χ2

= 0,32; p = 0,57 > 0,05

Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa tỉ lệ

học sinh mắc bệnh mụn trứng cá và giới tính

Bảng 2: Tuổi trung bình bị mụn trứng cá theo

giới tính

hợp

Tuổi trung

t = 1,79; p = 0,08 > 0,05 CI 95% (-0,08 – 0,63)

Nhận xét: Không có sự khác biệt về độ tuổi

trung bình giữa 2 giới

86.4%

79.7%

84.2%

83.1%

82%

83.9%

81.7%

76%

78%

80%

82%

84%

86%

88%

Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12 Trung bình

Nam Nữ

Biểu đồ 2: Tỉ lệ bệnh mụn trứng cá theo giới và

lớp (tuổi)

Kiến thức

Bảng 3: Kiến thức về nguyên nhân sinh bệnh

Nguyên

nhân

Tần số

(%)

Di truyền 73 (18) 332 (82) 405 (100)

Hormone 253 (62,5) 152 (37,5) 405 (100) Thực phẩm 212 (52,3) 193 (47,7) 405 (100) Stress 151 (37,3) 254 (62,7) 405 (100) Nhiễm trùng 278 (68,6) 127 (31,4) 405 (100) Lối sống 281 (69,4) 124 (30,6) 405 (100)

Nhận xét: Đa số học sinh nghĩ nguyên nhân

sinh bệnh mụn trứng cá là do lối sống (69,4%), tình trạng nhiễm trùng da (68,6%), kế đến là hormone (62,5%), thực phẩm (52,3%), stress (37,3%) di truyền (18%)

Bảng 4: Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng

Yếu tố ảnh hưởng

Tần số (%) Tần số (%) Tần số

Chế độ ăn 206 (50,9) 199 (49,1) 405

Kém vệ sinh da 350 (86,4) 55 (13,6) 405

Mỹ phẩm 191 (47,2) 214 (52,8) 405 Sữa rửa mặt 87 (21,5) 318 (78,5) 405 Thời tiết 179 (44,2) 226 (55,8) 405 Mùa trong năm 44 (10,9) 361 (89,1) 405 Tập thể dục đổ

mồ hôi 56 (13,8) 349 (86,2) 405 Stress 164 (40,5) 241 (59,5) 405 Thuốc lá 163 (40,2) 242 (59,8) 405

Cà phê 249 (61,5) 156 (38,5) 405 Rượu, bia 169 (41,7) 236 (58,3) 405

Ánh nắng 167 (41,2) 238 (58,8) 405

Nhận xét: Thứ tự các yếu tố ảnh hưởng theo

quan điểm của nhóm được nghiên cứu như sau:

Đa số nghĩ là kém vệ sinh da mặt có mối liên quan nhiều nhất, kế đến là bụi, cà phê, chế độ

ăn, mỹ phẩm

Bảng 5: Kiến thức về cách điều trị

Cách điều trị mụn trứng cá

Tần số (%)

Tần số

Thuốc bôi 211 (52,1) 194 (47,9) 405 Kháng sinh uống 76 (18,8) 329 (81,2) 405 Hormone 31 (7,7) 374 (92,3) 405 Ánh sáng 127 (31,4) 278 (68,6) 405 Quang động học 25 (6,2) 380 (93,8) 405 Phẫu thuật 96 (23,7) 309 (76,3) 405 Bào da 71 (17,5) 334 (82,5) 405 Tâm lý liệu pháp 100 (24,7) 305 (75,3) 405

Nhận xét: Đa số học sinh có kiến thức về cách

điều trị là dùng mỹ phẩm (80%), kế đến là thuốc bôi (52,1%)

Trang 5

9 (2.7%)

3 (0.7%)

125

(37.4%)

20 (6%)

177 (53%)

Không điều trị Thẩm mỹ viện

Tự trị Bác sĩ tư Bệnh viện Da Liễu

Nguồn thông tin về bệnh mụn trứng cá

22.4%

32.9%

5.9%

13.2%

17.6%

4.7%

3.3%

Ti vi, Radio Báo chí, Internet Trường học Cha mẹ người thân Bạn bè, Hàng xóm

Nv thẩm mỹ, Dược sỹ Bác sỹ

Biểu đồ 3: Nguồn thông tin bệnh mụn trứng cá

Thái độ

Bảng 6: Sự quan tâm về bệnh mụn trứng cá

theo giới

Giới

Quan tâm mụn trứng cá

Nam (n=120) 92 (76,7) 28 (23,3)

Nữ (n=214) 190 (88,8) 24 (11,2)

2

= 8,6; p = 0,003

Nhận xét: Có mối liên hệ giữa mức độ quan

tâm về mụn trứng cá với giới tính hoặc tỉ lệ

quan tâm về mụn trứng cá ở nữ cao hơn ở nam

Thực hành

Thói quen điều trị

Biểu đồ 4: Thói quen điều trị

Nhận xét: Có tới 53% học sinh bị mụn không

điều trị, 37,4% tự trị, chỉ có 6% tới Bác sĩ, 2,7%

tới Bệnh viện Da Liễu

Thói quen nặn mụn

Bảng 7: Liên hệ giữa thói quen nặn mụn và giới

Giới

Thói quen nặn mụn

Nam (n=143) 78 (54,5) 65 (45,5)

Nữ (n=262) 154 (58,8) 108 (41,2)

2

= 0,68; p=0,41

Nhận xét: Kiểm định 2 không có ý nghĩa thống kê chỉ ghi nhận tỉ lệ học sinh có thói quen không tốt là nặn mụn (57,3%) nhiều hơn học sinh không nặn mụn là (42,7%) Học sinh nam nặn mụn ít hơn học sinh nữ

Thói quen masage da mặt

Bảng 8: Mối liên hệ giữa thói quen massage da

mặt và giới tính

Giới

Thói quen massage da mặt

Tần số (%) Tần số (%)

Nam (n=143) 9 (6,3) 134 (93,7)

Nữ (n=262) 36 (13,7) 226 (86,3)

χ2

= 5,19; p=0,02

Nhận xét: Có mối liên hệ giữa thói quen

massage mặt và giới tính hoặc tỉ lệ massage mặt ở nam là thấp hơn ở nữ

Thói quen rửa mặt bằng sữa rửa mặt

Bảng 9: Mối liên hệ giữa thói quen rửa mặt

bằng sữa rửa mặt và giới tính

Giới

Thói quen dùng sữa rửa

mặt

Nam (n=143) 55 (38,5) 88 (61,5)

Nữ (n=262) 163 (62,2) 99 (37,8) Tổng số (n=405) 218 (53,8) 187 (46,2)

χ2

= 21; p = 0,001

Nhận xét: Có mối liên hệ giữa thói quen dùng

sữa rửa mặt và giới tính hoặc tỉ lệ với dùng sữa rửa mặt ở nam là thấp hơn ở nữ

Thói quen dùng mỹ phẩm

Một số mỹ phẩm được học sinh sử dụng:

Kem dưỡng da, trị mụn như Kem trộn (gồm cortibion trộn với thuốc tây hoặc với một số loại kem khác), Cô gái tóc xù, Thanh Thảo, Thanh Hiền, kem nghệ, Cecily, Acnes…

Kem trắng da, chống nắng như Acnes, Pond’s, Hazeline…

Trang 6

Bảng 10: Thói quen dùng mỹ phẫm và giới tính

Giới

Thói quen dùng mỹ phẩm

Nam (n=143) 50 (35) 93 (65)

Nữ (n=262) 148 (56,5) 114 (43,5)

Tổng số (n=405) 198 (48,9) 207 (51,1)

χ2

= 17,15; p = 0,001

Nhận xét: Có mối liên hệ giữa dùng mỹ phẩm

với giới tính hoặc tỉ lệ dùng mỹ phẩm ở nữ cao

hơn ở nam (56,5% so với 35%)

Bảng 11: Thói quen dùng mỹ phẩm và bệnh

Thói quen dùng mỹ

phẩm

Chẩn đoán

bệnh Tần số

Có dùng (n=198) 174 (87,9) 24 (12,1)

Không dùng (n=207) 160 (77,3) 47 (22,7)

χ2

= 7,84; p = 0,01; OR=2,12; CI 95% (1,25 -

3,64)

Nhận xét: Có mối liên hệ giữa bệnh với dùng

mỹ phẩm hay nói cách khác học sinh có thói

quen dùng mỹ phẩm có nguy cơ bị bệnh cao

gấp 2,12 lần học sinh không dùng

Tỉ lệ học sinh sử dụng kem trộn và thuốc

bôi có chứa Corticoid

Bảng 12: Tỉ lệ học sinh sử dụng kem trộn và

thuốc bôi có chứa corticoid

Lối sống

Bảng 13: Mối liên quan giữa lối sống và giới

Tần số (%) Tần số (%)

Thức khuya 99 (69,2) 204 (77,9) 0,05

Cà phê 51 (35,7) 53 (20,2) 0,001

Rượu bia 18 (12,6) 6 (2,3) 0,001

Thuốc lá 2 (1,4) 0 (0) 0,12

Nhận xét: Ngoại trừ thuốc lá ra thì có mối liên

hệ giữa lối sống thức khuya, cà phê, rượu bia và

giới tính

Mối liên hệ giữa chế độ ăn thường xuyên và

bệnh

Bảng 14: Mối liên hệ giữa chế độ ăn thường

xuyên và bệnh

Chế độ ăn

P

(%)

Tsố (%)

Chất béo 194

(85,1)

140 (79,1)

34 (14,9)

37 (20,9) 0,12 Chất ngọt 149

(83,2)

185 (81,9)

30 (16,8)

41 (18,1) 0,72 Chất cay 66 (81,5) 268

(82,7)

15 (18,5)

56 (17,3) 0,79 Trái cây

nhiều đường

148 (83,1)

186 (81,9)

30 (16,9)

41 (18,1) 0,75 Trái cây ít

đường

240 (83,6) 94 (79,7)

47 (16,4)

24 (20,3) 0,34 Chocolate,

ca cao 72 (80)

262 (83,2) 18 (20)

53 (16,8) 0,49 Thịt nạc (80,4) 246 88 (88,9) 60

(19,6)

11 (11,1) 0,053 Rau, củ,

quả

297 (82,7) 37 (80,4)

62 (17,3) 9 (19,6) 0,7

Nhận xét: Sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê về chế độ ăn giữa hai nhóm

Lượng nước uống mỗi ngày

Bảng 15: Lượng nước uống trung bình theo

giới tính

Lượng nước uống trung bình/ngày

SD

Tổng số 405 (100) 1,70

t = 5,8; p = 0,001; CI 95% (0,26 đến 0,52)

Nhận xét: Lượng nước uống trung bình/ngày

của nam là 1,95 và nữ là 1,56 Sự khác biệt là 0,39 lít, cho thấy có sự khác biệt đáng kể về lượng nước uống trung bình/ngày giữa nam và

nữ, nam có khuynh hướng uống nước nhiều hơn

nữ, p=0,001<0,05

Bảng 16: Lượng nước uống trung bình theo

bệnh

(%)

Lượng nước uống trung bình/ngày

SD

Có bệnh 334 (82,5) 1,67 0,64 Không bệnh 71 (17,5) 1,87 0,79 Tổng số 405 (100) 1,70

t = 2,34; p = 0,02; CI 95% (-0,38 đến -0,03)

Nhận xét: Có sự khác biệt về lượng nước uống

trung bình/ngày giữa người bệnh và không bệnh

Trang 7

hay nói cách khác nhóm không bệnh uống nhiều

nước hơn nhóm có bệnh 0,2 lít/ngày

Các chất kích thích (Trà, cà phê)

Bảng 17: Mối liên hệ giữa thói quen dùng chất

kích thích (trà, cà phê) và giới tính

Giới

Dùng chất kích thích

Tần số (%) Tần số (%)

Nam (n=143) 39 (27,3) 104 (72,7)

Nữ (n=262) 49 (18,7) 213 (81,3)

2

= 4; p = 0,05

Nhận xét: Có mối liên hệ giữa mức độ dùng

chất kích thích với giới tính hoặc tỉ lệ dùng chất

kích thích ở nam cao hơn ở nữ

Bảng 18: Mối liên hệ giữa dùng chất kích thích

(trà, cà phê) và bệnh

Dùng chất kích thích

Chẩn đoán

bệnh Tần số

(%)

Tần số (%)

Có dùng (n=88) 69 (78,4) 19 (21,6)

Không dùng (n=317) 265 (83,6) 52 (16,4)

2

= 1,28; p = 0,26

Nhận xét: Không có mối liên hệ giữa dùng chất

kích thích với bệnh

Ảnh hưởng của mụn trứng cá

Ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với bản

thân học sinh

56.7%

70.6%

23.3%

33.6%

16.7%

31.3%

0%0.5%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

Thiếu tự tin Buồn chán Xấu hổ Có ý định

tự tử

Nam Nữ

Biểu đồ 5: Ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với

bản thân học sinh

Nhận xét:

Ảnh hưởng thiếu tự tin: nữ (70,6%) nhiều

hơn nam (56,7%) với p=0,01

Ảnh hưởng buồn chán: nữ (33,6%) nhiều

hơn nam (23,3%) với p=0,05

Ảnh hưởng xấu hổ: nữ (31,3%) nhiều hơn nam (16,7%) với p=0,003

Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên mối liên

hệ giữa học sinh với bạn bè

28.3%

32.2%

22.5%

25.7%

18.3%

24.8%

4.2% 5.6%

0%

5%

10%

15%

20%

25%

30%

35%

Ngại tiếp xúc

Tránh chỗ đông người

Thiếu cởi mở

Khó kết bạn

Nam Nữ

Biểu đồ 6: Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên

mối liên hệ giữa học sinh với bạn bè

Nhận xét:

Ảnh hưởng ngại tiếp xúc: nữ (32,2%) nhiều hơn nam (28,3%) với p=0,46

Ảnh hưởng tránh chỗ đông người: nữ (25,7%) nhiều hơn nam (22,5%) với p=0,51 Ảnh hưởng thiếu cởi mở: nữ (24,8%) nhiều hơn nam (18,3%) với p=0,18

Ảnh hưởng khó kết bạn: nữ (5,6%) nhiều hơn nam (4,2%) với p=0,57

Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên mối liên

hệ giữa học sinh với gia đình

12.5%

5.6%

4.2% 5.1%

0%

2%

4%

6%

8%

10%

12%

14%

Ít nói Sống khép kín

Nam Nữ

Biểu đồ 7: Ảnh hưởng của mụn trứng cá trên mối liên hệ giữa học sinh với gia đình

Nhận xét:

Ảnh hưởng ít nói: nam (12,5%) nhiều hơn

nữ (5,6%) với p = 0,03

Ảnh hưởng sống khép kín: nữ (5,1%) và nam (4,2%) gần như ngang nhau với p= 0,69

Trang 8

Ảnh hưởng của mụn trứng cá trong việc

học tập của học sinh

15%

18.2%

12.5%

9.8%

0%

5%

10%

15%

20%

Thiếu tập trung Sao lãng

Nam Nữ

Biểu đồ 8: Ảnh hưởng của mụn trứng cá trong

việc học tập của học sinh

Nhận xét:

Ảnh hưởng thiếu tập trung: nữ (18,2%)

nhiều hơn nam (15%) với p=0,45

Ảnh hưởng sao lãng: nam (12,5%) nhiều

hơn nữ (9,8%) với p=0,45

BÀN LUẬN

Trong 405 trường hợp nghiên cứu, thì học

sinh nữ chiếm (64,6%) nhiều hơn nam (35,4%),

do trường này số lượng học sinh nữ đông hơn

học sinh nam Trong đó lớp 10 (30,4%), lớp 11

(29,9%), lớp 12 (39,8%)

Tỉ lệ mắc bệnh

Nghiên cứu này khẳng định mụn trứng cá là

một vấn đề phổ biến ở thanh thiếu niên, lứa tuổi

từ 15-17, ảnh hưởng đến 83,9% nam và 81,7 %

nữ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với

p = 0,57 Tần suất bệnh chung cho cả hai giới là

82,5% Tỉ lệ lưu hành này cũng phù hợp với các

tác giả khác như Saurat(14)

và Klaus Degit(6) là 80%, Julie C Harper(4) là 85-100% Một nghiên

cứu ở thiếu niên Úc cho thấy từ 13-15 tuổi

(77% nam; 79% nữ mắc bệnh), sự khác biệt về

tỉ lệ mụn trứng cá giữa hai giới là không đáng

kể; tuy nhiên theo nghiên cứu của M Kilkenny

trên thiếu niên Úc ở lứa tuổi 16-18 thì tỉ lệ nam

bị mụn cao hơn và thường nặng hơn

Tuổi

Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là

16,09; thấp nhất là 15 tuổi, cao nhất là 17 tuổi

Trong nhóm học sinh bị mụn trứng cá, lứa

tuổi 16 (lớp 11) chiếm tỉ lệ cao nhất là (83,5%),

kế đến là lứa tuổi 15 (lớp 10) chiếm (82,1%),

thấp nhất là lứa tuổi 17 (lớp 12) chiếm (82%)

Tuổi trung bình bị bệnh của phái nữ là 13,26

không khác so với phái nam là 13,6 Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,08

Về kiến thức Kiến thức về nguyên nhân:

Đa số học sinh nghĩ nguyên nhân sinh bệnh mụn trứng cá là do lối sống (69,4%), kế đến là tình trạng nhiễm trùng da (68,6%), hormone (62,5%), thực phẩm (52,3%), stress (37,3%), di truyền (18%) Chỉ có 62,5% học sinh nhận biết đúng về nguyên nhân sinh bệnh mụn trứng cá là

do hormone và 18% là do di truyền Tương tự như nghiên cứu của Rigopoulos(12)

trên học sinh cấp hai Hy Lạp, 55,1% học sinh nghĩ nguyên nhân là do hormone, 5,7% là do di truyền, 31,9% là do stress, 14,9% là do nhiễm trùng Nhìn chung kiến thức về nguyên nhân còn thấp,

và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có bệnh và không bệnh

Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng:

Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến mụn trứng cá còn thấp, không có sự khác biệt giữa hai nhóm có và không có bệnh về hiểu biết vấn

đề này Đa số học sinh nghĩ kém vệ sinh da mặt

là yếu tố quan trọng nhất làm bộc phát mụn trứng cá (86,4%), kế đến là bụi (85,4%), cà phê (61,5%), chế độ ăn (50,9%), mỹ phẩm (47,2%), thời tiết (44,2%), rượu bia (41,7%), stress (40,5%), sữa rửa mặt (21,5%) Theo nghiên cứu của Rigopoulos(12)

62,3% học sinh cho yếu tố bộc phát là chế độ ăn; 42,4% cho là vệ sinh kém; 31,9% cho do stress

Về thái độ

Sự quan tâm về mụn trứng cá:

Tỉ lệ học sinh có quan tâm về mụn trứng cá

là 84,4% Có mối liên hệ giữa sự quan tâm về mụn trứng cá và giới tính Tỉ lệ có quan tâm về mụn trứng cá giữa hai phái chênh lệch tương đối rõ, nữ quan tâm về mụn trứng cá nhiều hơn nam Điều này cũng hợp lý, vì giới nữ thường chú trọng đến biểu hiện bên ngoài, và yêu cầu

về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội hiện nay được đặt ra cao hơn so với nam

Về thực hành Thói quen điều trị

Tuy tỉ lệ học sinh có quan tâm về bệnh là cao 84,4% nhưng ti lệ không điều trị cao tới 53%, tự trị là 37,4%, tới Bác sĩ tư là 6%, chỉ có 2,7% tới Bệnh viện Da Liễu

Trang 9

Thói quen nặn mụn:

Học sinh có thói quen không tốt là nặn mụn

(57,3%), nhiều hơn học sinh không nặn mụn là

(42,7%), tỉ lệ học sinh nữ nặn mụn (58,8%),

nhiều hơn học sinh nam (54,5%) và sự khác biệt

không có ý nghĩa thống kê Đây là thói quen

thường gặp ở rất nhiều bệnh nhân mụn trứng cá

Khi tự ý nặn mụn nhất là trong giai đoạn các

tổn thương đang viêm nhiễm sẽ có nguy cơ làm

gia tăng và lan rộng tình trạng viêm nhiễm, có

thể gây nên những sẹo mụn tồn tại vĩnh viễn, và

những dát tăng sắc tố theo sau hiện tượng viêm

Điều này cho thấy những bệnh nhân mụn trứng

cá cần được tư vấn rằng nặn mụn không giải

quyết được vấn đề mà còn có nguy cơ để lại

những di chứng mất thẩm mỹ cho da

Thói quen massage mặt:

Tỉ lệ học sinh có thói quen massage mặt

trung bình (11,1%), trong đó nữ (13,7%) nhiều

hơn nam (6,3%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p=0,02 < 0,05 Tuy tỉ lệ này không cao

nhưng khi bị mụn nếu massage có thể làm tổn

thương lan tràn, da bị dị ứng và mụn nặng hơn

do sử dụng những sản phẩm không phù hợp

Thói quen rửa mặt bằng sữa rửa mặt:

Tỉ lệ học sinh có thói quen rửa mặt bằng sữa

rửa mặt trung bình là 53,8%; có mối liên hệ

giữa thói quen dùng sữa rửa mặt và giới tính, nữ

62,2% nhiều hơn so với nam (38,5%) Sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,001<0,05 Ở

đây sự khác biệt giữa hai nhóm có và không

bệnh về vấn đề sử dụng sữa rửa mặt không có ý

nghĩa thống kê, tuy nhiên cần có những nghiên

cứu sâu hơn để tìm hiểu về mối liên hệ này

Trước mắt nên chú ý giáo dục học sinh khi sử

dụng những sản phẩm này cần chú trọng đến

thành phần và tính sinh nhân trứng cá

Thói quen sử dụng mỹ phẩm (kem dưỡng

da, kem trị mụn , kem làm trắng da)

Tỉ lệ học sinh không dùng mỹ phẩm là

(51,1%), có dùng mỹ phẩm là (48,9%), trong đó

có (56,5%) là nữ (35%) là nam Sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê với p=0,001<0,05 Sử dụng

mỹ phẩm không phù hợp cũng là một tác nhân

rất quan trọng gây ra phát ban mụn trứng cá

Có mối liên hệ giữa thói quen sử dụng mỹ

phẩm và giới tính, học sinh nữ dùng mỹ phẩm

nhiều hơn học sinh nam Thêm vào đó nghiên

cứu này cũng cho thấy có mối liên hệ giữa dùng

mỹ phẩm và bệnh hoặc người có thói quen sử

dụng mỹ phẩm có nguy cơ mắc bệnh mụn trứng

cá cao gấp 2,12 lần người không dùng 18,8%

có tiền sử sử dụng kem trộn và những sản phẩm bôi ngoài da có chứa corticoide để điều trị mụn trứng cá hoặc dưỡng da, theo Fitzpatrik(15)

, uống corticoide hoặc sử dụng kem có chứa corticoide bôi ngoài da, có thể gây phát ban mụn trứng cá do corticoide Việc tự điều trị mụn bằng nhiều loại thuốc bôi tự pha chế (kem trộn) thành phần chính là corticoide gây rất nhiều tác dụng phụ cho da như teo da, dãn mạch, rạn da, thay đổi sắc tố da, sinh mụn trứng

cá, lúc đầu sử dụng mụn giảm nhanh, sau đó mụn tái phát trở lại với tình trạng nặng nề hơn

và ngày càng lan rộng ra khỏi vị trí chọn lọc của tổn thương, bệnh nhân ở trong tình trạng lệ thuộc corticoide gây khó khăn trong điều trị

Lối sống:

Có mối liên hệ giữa lối sống (thức khuya, cà phê, rượu/bia) và giới tính, chưa thấy mối liên

hệ giữa thuốc lá và giới tính vì cỡ mẫu chưa đủ lớn Chưa thấy lối sống là yếu tố nguy cơ phát sinh phát sinh mụn trứng cá; 74,8 % học sinh thức khuya, 25,7% học sinh dùng chất kích thích (trà, cà phê) ở lứa tuổi này tỉ lệ học sinh

ưa thích và dùng chất kích thích thấp hơn so với không thích; 5,9% học sinh sử dụng rượu, bia; 0,5% học sinh sử dụng thuốc lá

Lượng nước uống(10)

Theo nhiều tác giả uống nhiều nước khoảng

2,5l-3l/ngày giúp cơ thể đào thải các chất nhờn,

chất thải và các độc tố, nước cũng giúp làm ẩm

da, bảo vệ các lỗ chân lông không bị các nút sừng Nước cũng giúp làm giảm stress,và mệt mỏi Khi cơ thể bị stress, có thể là nguyên nhân làm tăng sản xuất hormone từ tuyến thượng thận làm tăng androgens đưa đến tăng hoạt dộng của tuyến bã, nên uống ít nước mỗi ngày

dễ có nguy cơ bị mụn hơn Ở đây, lượng nước uống của đa số học sinh từ 1 đến 2 l/ngày chiếm (85,4%) Lượng nước uống trung bình là 1,7015; thấp hơn so với nhu cầu bình thường

Sự khác biệt về lượng nước uống trung bình giữa hai nhóm có (1,6656) và không có bệnh (1,8704) có ý nghĩa thống kê p=0,02 < 0,05

Về ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với học sinh:

Nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy có mối liên quan mạnh giữa mụn trứng cá và sức khoẻ tâm thần(1,7,13) Những số liệu trong nghiên cứu này cho thấy bệnh mụn trứng cá gây tác

Trang 10

động tâm lý rất lớn ảnh hưởng đến bản thân

người bệnh, đến các mối quan hệ với bạn bè,

gia đình và học tập Mối quan hệ này phụ thuộc

vào giới tính, nữ dễ bị tác động của bệnh nhiều

hơn so với nam (phù hợp với nghiên cứu của

Aktan et al) Tác động nhiều nhất đến học sinh

là thiếu tự tin (nam: 56,7%; nữ: 70,6%), buồn

chán (nam: 22,3%; nữ: 33,6%), xấu hổ (nam :

16,7%; nữ: 31,3%), ngại tiếp xúc (nam: 28,3%;

nữ: 32,2%), tránh chỗ đông người (nam: 22,5%;

nữ: 25,7%), thiếu tập trung trong việc học tập

(nam: 15%; nữ: 18,2%; p=0,52) Theo

Rigopoulos và cộng sự(12), 48% học sinh cấp II

Hy Lạp cho rằng mụn trứng cá làm tổn hại đến

mối liên hệ cá nhân, 64,4% cho rằng mụn trứng

cá ảnh hưởng đến hình ảnh của họ Theo nghiên

cứu của Jancin B(5)

trên những thiếu niên Anh, 39% tránh đi đến trường vì xấu hổ, 55% cho

rằng mụn trứng cá làm cho họ không có bạn trai

hay gái, 35% khó kết bạn

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu cắt ngang phân tích trên

405 học sinh trường Trung học phổ thông Châu

Văn Liêm, Phường An Cư, Quận Ninh Kiều,

Thành phố Cần Thơ từ tháng 10/2006 đến

4/2007, chúng tôi rút ra kết luận như sau:

1 Tỉ lệ hiện mắc mụn trứng cá rất cao ở học

sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm là

82,5%; giới nam (83,9%), giới nữ (81,7%), sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê

2 Kiến thức sai về nguyên nhân và các yếu tố

bộc phát bệnh mụn trứng cá còn rất phổ biến

trong học sinh, 69,4% học sinh nghĩ lối sống là

nguyên nhân chính, kế đến là nhiễm trùng da,

hormone, thực phẩm, stress và di truyền Về

những yếu tố làm bộc phát, 86,4% cho là do

kém vệ sinh da mặt, 50,9% do chế độ ăn, 47,2%

do mỹ phẩm, 44,2% cho là do thời tiết, 41,7%

cho là do rượu bia, 40,5% cho là stress

3 Không có sự khác biệt giữa giới nam và nữ

về kiến thức, nhóm không bệnh cũng không có

kiến thức tốt hơn nhóm có bệnh về nguyên

nhân, các yếu tố ảnh hưởng, cách điều trị mụn

trứng cá

4 Trong học sinh còn tồn tại những thói quen

chưa tốt như nặn mụn, thói quen tự điều trị, thói

quen dùng mỹ phẩm (kem dưỡng da…), sữa rữa

mặt như là phương pháp điều trị mụn

5 Đặc biệt là vấn đề sử dụng bừa bãi kem trộn

hoặc những thuốc bôi có chứa corticoide dẫn

đến những tác hại không mong muốn cho làn

da, làm mất thẩm mỹ, ảnh hưởng lâu dài đến tâm lý người bệnh và chất lượng cuộc sống

6 Xác định được một số yếu tố nguy cơ như lượng nước uống (OR=0,02), thói quen dùng

mỹ phẩm (OR=2,12) Các yếu tố khác như chế

độ ăn, lối sống chưa cho thấy có ảnh hưởng đến mụn trứng cá

7 Xác định sự khác biệt trong thực hành và thái

độ giữa nam và nữ như massage mặt (p=0,02), dùng sữa rửa mặt (p=0,001), dùng mỹ phẩm (p=0,001), lượng nước uống mỗi ngày (p=0,001), thức khuya (p=0,05), uống cà phê (p=0,001), uống rượu bia (p=0,001), sự quan tâm đến bệnh (p=0,003), dùng chất kích thích (trà, cà phê) (p=0,05)

8 Thêm vào đó nghiên cứu này cũng mô tả được ảnh hưởng của mụn trứng cá đối với bản thân học sinh (nữ thiếu tự tin, chán nản, xấu hỗ nhiều hơn nam), đối với mối liên hệ với bạn bè (không khác biệt giữa nam và nữ), mối liên hệ với gia đình (nam ít nói hơn, sống khép kín nam

nữ như nhau), đối với việc học tập (cả nam lẫn

nữ đều thiếu tập trung, sao lãng như nhau) Những kết luận này thực sự cần thiết cho các chương trình sức khỏe học đường phòng chống bệnh mụn trứng cá

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aktans., et al (2000), “Anxiety, depression and nature of

acne vulgaris in adolescents”, Int J Dermatol; 39:354-7

2 Gollnick HP, Cunliffe WJ (2003), “Management of acne”,

J Am Acad Dermatol, 49: S1-S38

3 Harper J C (2004), “An update on the pathogenesis of

acne vulgaris”, Journal of the American Academy of Derma-

tology Online, V 51, Numero 1, pp 1-4

4 Harper J C., et al (2007), “Acne vulgaris”, emedicine,

S1-11

5 Jancin, B (2004), “Teens with acne cite shame, emba-

rassment about skin”, Skin and allergy News, January, p28

6 Klaus Degit., et al ( 2007), “Pathophysiology of acne”,

Journal of the German society of Dermatology, April, vol 5,

issue 4, pp 316-323

7 Lello.J., et al (1995), “Prevalence of acne vulgaris in

Auckland Senior high school students”, NZ Med J;

108:287-289 Lookingbill DP., et al (1985), “Tissue production of androgens

in woman with acne”, J Am Acad Dermatol; 12:148

8 Magin P., et al (2005), “A systemic review of the evidence

for myths and misconceptions in a acne management: diet,

face-washing and sunlight”, Fam Pract, 22:62-70

9 Mallon E., et al (1999), “the quality of life in acne: a

comparison with general medical conditions using generic questionaire”, Br J Dermatol,140(4): 672-6

Ngày đăng: 02/12/2015, 13:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỉ lệ học sinh mắc bệnh mụn trứng cá - KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 1 Tỉ lệ học sinh mắc bệnh mụn trứng cá (Trang 4)
Bảng 3: Kiến thức về nguyên nhân sinh bệnh - KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 3 Kiến thức về nguyên nhân sinh bệnh (Trang 4)
Bảng 4: Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng - KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 4 Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng (Trang 4)
Bảng 7: Liên hệ giữa thói quen nặn mụn và giới - KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 7 Liên hệ giữa thói quen nặn mụn và giới (Trang 5)
Bảng 17: Mối liên hệ giữa thói quen dùng chất - KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 17 Mối liên hệ giữa thói quen dùng chất (Trang 7)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w