1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số biện pháp lãnh đạo nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn tại trường THPT nguyễn hữu cảnh

46 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

được Trung ương Đoàn tặng bằng khen và cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu khối Trunghọc phổ thông.Trên tinh thần đổi mới phương pháp và nội dung nhằm nâng cao chất lượnghoạt động của các tổ chu

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH

Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH

Người thực hiện: PHẠM NGỌC LƯ

Lĩnh vực nghiên cứu:

- Quản lý giáo dục: 

- Phương pháp dạy học bộ môn: 

- Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN

 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2012- 2013

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

8 Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị cao nhất: Cử nhân

- Năm nhận bằng: 1992

- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy

- Số năm có kinh nghiệm: 17 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

+ Năm học 2007 – 2008: Giáo dục lịch sử truyền thống cho đoàn viên – thanh niênhọc sinh thông qua mô hình “ Mỗi tuần : một nhân vật – một sự kiện”

+ Năm học 2008 – 2009: Công tác giáo dục tuyên truyền, phòng ngừa, ngăn chặn

tệ nạn xã hội và phòng chống ma tuý trong học đường

+ Năm học 2009 – 2010: Xây dựng phòng học trực tuyến để nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục ( chung đề tài với Thầy Phan Quang Vinh và Cô Nguyễn Thị Minh Huệ)

+ Năm học 2010 – 2011: Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm trahoạt động sư phạm của giáo viên tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

+ Năm học 2011 – 2012: Một số biện pháp lãnh đạo nhằm nâng cao chất lượng giờdạy của giáo viên tại Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 3

Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ:

“Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã

hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành” “Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”

Từng nhà trường phổ thông đã quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới giáo dục

do Đảng đề ra Mỗi tập thể, mỗi cá nhân đều có những trăn trở, những kế hoạch,những công việc để hướng vào sự đổi mới đó, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiềusâu, đạt hiệu quả đích thực Tuy nhiên, mỗi nơi, mỗi lúc, các đơn vị có những cáchlàm khác nhau Trong công cuộc đổi mới này, vai trò người thầy chính là tâmđiểm

Suy cho cùng, nhân tố cốt lõi có vai trò quyết định việc đổi mới đó là ngườithầy giáo đang trực tiếp giảng dạy ở các tổ chuyên môn Và các tổ chuyên mônmới thực sự là môi trường cốt lõi cho người thầy đổi mới Hay nói cách khác, sinhhoạt tổ chuyên môn phải đổi mới thì mới thực sự có môi trường cho giáo viên đổimới phương pháp dạy học, giáo dục

Trang 4

Trong dòng chảy của công cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy, các tổchuyên môn ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh đã nỗ lực phấn đấu để nâng caochất lượng hoạt động để đáp ứng với tình hình mới, thực hiện tốt nhiệm vụ đã đượcĐảng, Nhà nước và nhân dân giao phó

Trong những năm qua, được sự quan tâm của các ban ngành lãnh đạo củaTỉnh và Thành phố Biên Hoà, của Sở Giáo dục – Đào Tạo Đồng Nai cộng với sự

nỗ lực của tập thể sư phạm nhà trường, trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh đã cónhững bước tiến mạnh mẽ, duy trì được sự ổn định về chất lượng giáo dục, hàngnăm có tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp và trúng tuyển vào các trường đại học thuộcdiện cao Tập thể giáo viên nhiệt tình năng động, tích cực đổi mới, cải tiến phươngpháp giảng dạy, ứng dụng có hiệu quả CNTT vào quản lý và giảng dạy

Định hướng từ 2010 đến 2015, Trường sẽ xây dựng, mở rộng đạt chuẩn quốcgia với quy mô 30 lớp và 1300 học sinh nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con emnhân dân trong thành phố Biên Hoà và các khu vực lân cận

Tình hình đội ngũ của trường:

STT Đơn vị - Tổ chuyên môn Số lượng Đạt chuẩn Trên chuẩn

Trang 5

được Trung ương Đoàn tặng bằng khen và cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu khối Trunghọc phổ thông.

Trên tinh thần đổi mới phương pháp và nội dung nhằm nâng cao chất lượnghoạt động của các tổ chuyên môn trong trường, bản thân tôi đã cố gắng cùng cácthầy cô khác trong lãnh đạo nhà trường tìm tòi, nghiên cứu, học tập, vận dụng:

“Một số biện pháp lãnh đạo nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ chuyên môn tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh” đạt hiệu quả thiết thực.

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận:

Vai trò, vị trí của tổ chuyên môn trong nhà trường nói chung và trong hoạtđộng dạy và học nói riêng là vô cùng quan trọng Mọi chủ trương đổi mới sựnghiệp giáo dục sẽ được thực thi chính trong môi trường của tổ chuyên môn Ở đó,những chủ trương đổi mới, nội dung đổi mới sẽ được bàn bạc thực hiện Tổ chuyênmôn là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống bộ máy quản lý giáo dục, nơi mà người thầy

sẽ thể hiện vai trò của nhà giáo để bàn bạc những vấn đề liên quan đến nghềnghiệp của mình, đặcc biệt là bàn bạc, đề xuất những vấn đề liên quan trọng yếuđến công việc giảng dạy trên lớp Đổi mới phương pháp dạy học suy cho cùng làthay đổi cách thức hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh nhằm đưanhững hoạt động này sang một trạng thái mới có chất lượng và hiệu quả hơn Để

có công cuộc đổi mới toàn diện từ phía người thầy, thì điều cốt lõi là hoạt động của

tổ chuyên môn cũng phải đổi mới để thực hiện tốt những mục tiêu đào tạo

1.1 Quan điểm đổi mới và nội dung đổi mới hoạt động của tổ chuyên môn:

Tổ chuyên môn là cấp quản lý giáo dục nhỏ nhất, là đơn vị cơ sở nhỏ nhấttrực tiếp thực thi mọi nhiệm vụ giáo dục

Trang 6

Để mọi chủ trương đổi mới, chủ trương nâng cao chất lượng giáo dục của đấtnước, của ngành, của nhà trường thành công thì hoạt động của tổ chuyên mônchính là yếu tố quyết định Vì vậy cần phải làm cho sáng tỏ ý nghĩa của vấn đề:

- Tính cấp thiết của đổi mới hoạt động của tổ chuyên môn:

+ Một mặt, làm cho tập thể giáo viên thống nhất nhận thức đây là yêu cầu của

sự nghiệp đổi mới giáo dục, là hạt nhân của việc thực hiện chương trình, là điềukiện trực tiếp để nâng cao chất lượng giáo dục

+ Mặt khác, cần coi đây là thách thức đội ngũ nhà giáo mà tập thể giáo viêntrong từng tổ chuyên môn cần phải đáp ứng, nhưng đồng thời cũng là cơ hội pháttriển của mỗi giáo viên và của mỗi nhà trường

- Những định hướng cơ bản:

+ Phát huy vai trò của người thầy trong hoạt động dạy học

+ Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của giáo viên

+ Bồi dưỡng kỹ năng làm việc theo nhóm, tiếp cận vấn đề ở nhiều góc độkhác nhau ở tổ chuyên môn Tăng cường tổ chức các hoạt động cá thể phối hợp vớihoạt động hợp tác trong công tác khoa học sư phạm

+ Bồi dưỡng năng lực quản lý hoạt động giáo dục của Tổ trưởng, tổ phó,nhóm trưởng ở các tổ chuyên môn

+ Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức khoa học sư phạm vào thực tiễngiảng dạy và tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh

+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

1.2 Hình thức tổ chức:

- Tăng cường nghiên cứu trao đổi, thảo luận trong Tổ, nhóm chuyên môn vàvận dụng giải quyết từng vấn đề theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Trang 7

- Phi hành chính hóa hoạt động của tổ chuyên môn Sinh hoạt của tổ chuyênmôn chủ yếu là sinh hoạt về chuyên môn, bàn bạc thấu đáo những vấn đề liên quanđến chuyên môn, phục vụ trực tiếp cho giờ dạy của giáo viên và việc học của họcsinh.

- Tổ chức các đợt học tập xen kẽ, lồng ghép vào các đợt sinh hoạt chuyênmôn, rèn luyện tay nghề hàng tuần, hàng tháng trong tổ, nhóm chuyên môn hoặccác kỳ hội giảng, thi giáo viên giỏi các cấp

- Tổ chức các hoạt động chuyên đề, các nội dung chuyên đề về đổi mớiphương pháp hoạt động của tổ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, phương pháphọc tập, phương pháp giáo dục

1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Chức năng, vai trò của tổ chuyên môn là vô cùng quan trọng trong việc thựchiện nhiệm vụ giáo dục của Đảng và Nhà nước Đề tài này không bàn đến tất cả mọi vấn đề liên quan đến tổ chuyên môn mà chỉ đề cập đến một số vấn đề trong lãnh đạo một số vấn đề nhằm giúp tổ chuyên môn trong việc nâng caochất lượng hoạt động

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác nâng cao chất lượng giờ dạy tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh:

2.1.1 Thuận lợi:

- Tập thể giáo viên đa phần là trẻ, nhiệt tình

- Bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, dễ tương tác trong công việc

- Giũa lãnh đạo và giáo viên, nhân viên có không khí thân mật, hoà đồng

- Các kế hoạch, công việc của nhà trường được giáo viên chấp hành thực hiệnnghiêm túc

Trang 8

- Trường duy trì hoạt động kiểm tra chung các môn Toán, Ngữ văn, Vật lý,Hoá học, Tiếng Anh với hình thức chung đề, chung giờ, kiểm tra theo khối lớp chứkhông kiểm tra tại lớp, mỗi phòng chỉ 24 em xếp theo tên ABC…Đây là hình thứcvừa nhằm đánh giá học sinh khách quan, vừa hạn chế được tiêu cực trong dạy thêm– học thêm.

- 100% giáo viên đạt chuẩn, kiến thức chuyên môn được đảm bảo trong quátrình dạy học

- Được sự hỗ trợ của các ban ngành đoàn thể trong việc xây dựng tập thể nhàtrường

2.1 2 Khó khăn:

- Giáo viên một số môn còn ít nên nhiều lúc không có giáo viên cùng chuyênngành dự giờ đánh giá lẫn nhau (môn GDCD, KTCN, KTNN, Giáo dục Quốcphòng – An ninh)

- Còn nhiều tổ chuyên môn ghép nên việc dự giờ, trao đổi kinh nghiệm, đánhgiá giờ dạy có khó khăn

- Ban kiểm tra nội bộ nhà trường chưa được đào tạo nghiệp vụ kiểm tra,thanh tra nên làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, truyền đạt cách làm kiểu cầmtay chỉ việc

- Cơ sở vật chất của nhà trường chưa đầy đủ, số phòng ốc còn hạn chế nênviệc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp giảng dạy cònchưa đồng bộ, thiếu không gian để triển khai

2.2 Những biện pháp, giải pháp đã thực hiện:

2.2.1 Lập kế hoạch chỉ đạo hoạt động:

- Trên cở sở kế hoạch năm học của Bộ giáo dục – Đào tạo, của Sở Giáo dục

và Đào tạo, kế hoạch năm học của nhà trường, kế hoạch đổi mới phương pháp dạy

Trang 9

học phải được chuyển hóa thành các hoạt động của tuần, của tháng của học kỳ,năm học.

- Lãnh đạo xây dựng kế hoạch chuyên môn của nhà trường, của tổ chuyênmôn

2.2.2 Lãnh đạo Tổ, nhóm chuyên môn chú trọng tất cả các khâu trong quy trình hoạt động:

- Xác định những yêu cầu đổi mới hoạt động của Tổ chuyên môn

- Cải tiến chế độ hội họp:

- Bàn bạc, xây dựng thiết kế giáo án mẫu theo hướng đổi mới

- Bàn bạc xây dựng một số đề cương bài giảng nhằm hỗ trợ cho việc đổi mớiphương pháp giảng dạy

- Cử giáo viên dạy điểm, tập thể dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm, so sánh vớibài dạy trước đó để thấy mặt tiến bộ và hạn chế

2.2.3 Lãnh đạo Tổ, nhóm chuyên môn nâng cao chất lượng họp bàn về chuyên môn:

- Trước đây, các Tổ, nhóm chuyên môn mỗi khi hội họp thường tốn khá nhiềuthời lượng cho công tác hành chính:

+ Triển khai các thông báo của Bộ, Ngành, của Hiệu trưởng…

+ Triển khai các công việc hành chính mà giáo viên phải thực hiện…+ Triển khai những công việc trùng lặp với nội dung mà hiệu trưởng triểnkhai trong họp hội đồng sư phạm toàn trường…

Vì những lý do như trên, iệc họp Tổ, nhóm chuyên môn không hoặc ít đi sâuvào bàn bạc những vấn đề mà chuyên môn cần, dẫn đến việc họp Tổ chuyên mônnhiều khi rất hình thức, tốn thời gian

Trang 10

- Để cải tiến tình trang trên, lãnh đạo nhà trường đã lãnh đạo các tổ trưởng,nhóm trưởng đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt cuyên môn:

+ Nhà trường xếp lịch họp tổ chuyên môn vào thời khoá biểu cố địnhnhằm tạo điều kiện về thời gian cho tổ trưởng tiến hành họp tổ Mỗi tháng,

Tổ, nhóm chuyên môn họp tối thiểu hai lần theo quy định

+ Xác định nội dung họp Tổ chuyên môn là dành thời lượng chính bànbạc những vấn đề của chuyên môn

+ Khi họp tổ, Tổ trưởng cần thông báo trước những nội dung sẽ bànbạc để mọi giáo viên trong tổ chuẩn bị ý kiến thể luận

+ Chú trọng bàn bạc những vấn đề mà tổ chuyên môn cần tháo gỡ: bàikhó dạy, những vấn đề cần thay đổi trong cách dạy, cách kiểm tra

+ Chú trọng bàn bạc những vấn đề phát sinh trong quá trình dạy họcnhằm tìm giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề

+ Bàn bạc việc thực hiện các chuyên đề của tổ chuyên môn sao chohiệu quản nhất…

Sau hai năm thực hiện, các Tổ, nhóm chuyên môn đã đổi thay cơ bản trongsinh hoạt chuyên môn Từ chỗ họp tổ chuyên môn còn nặng về hình thức, hànhchính thì bây giờ họp tổ, nhóm chuyên môn đã trở thành nơi mọi người bàn bạc,chia sẽ, góp ý về chuyên môn, tạo bước chuyển đúng hướng cho quá trình đổi mới

2.2.4 Lãnh đạo Tổ chuyên môn đổi mới cách tổ chức lớp học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học:

- Một trong những những nhân tố tạo động lực cho tính tích cực, chủ độngcủa học sinh trong quá trình học tập đó là nội dung học tập phải phù hợp với trình

độ, năng khiếu và sở thích của học sinh

- Hoạt động dạy - học sẽ đạt hiệu quả cao nếu người học cảm thấy hứng thú

và say mê trong quá trình học tập Nguồn gốc của trạng thái hứng thú này không

Trang 11

phải bẩm sinh mà nó xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau bao gồm năng khiếu, sựphù hợp của nội dung chương trình và phương pháp dạy – học đối với khả năngtiếp thu của học sinh (tính vừa sức), tài năng và nghệ thuật của người giáo viêntrong quá trình giảng dạy.

- Việc tổ chức các lớp học đòi hỏi phải đảm bảo sao cho bài giảng của thầykhông quá khó và cũng không quá dễ - phù hợp với năng khiếu, năng lực tiếp thucủa tất cả học sinh trong lớp nhằm tạo hứng thú, động lực thúc đẩy học sinh tíchcực, chủ động trong quá trình học tập

- Để học sinh khá giỏi có điều kiện phát triển năng khiếu của minh và cácđối tượng học sinh khác có thể tiếp thu được nội dung bài học với phương phápthích hợp với khả năng của mình các giáo viên nên tổ chức lớp học với từng nộidung dạy học, phương pháp dạy học được phân thành nhiều mức độ từ cao đếnthấp tương ứng với khả năng của từng đối tượng học sinh từ giỏi đến yếu kém

2.2.5 Lãnh đạo Tổ chuyên môn chú trọng bàn bạc tìm giải pháp cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu:

- Phần lớn học sinh trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh có mức độ học tậptrung bình và khá, khả năng tự học của học sinh còn nhiều hạn chế Từ đó dẫn đếnviệc dạy học của giáo viên và việc nâng cao chất lượng dạy học bị ảnh hưởng rấtlớn Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng hoạt độngchuyên môn, các tổ chuyên môn cần bàn bạc, thảo luận để xây dựng giải phápnhằm giúp các em nâng cao dần khả năng tự học để “tự cứu mình” trong quá trìnhđổi mới phương pháp giảng dạy cũng như quá trình nâng cao chất lượng giáo dục

- Như ta đã biết, tự học là một quá trình có thể thực hiện ở mọi nơi (tronghoặc ngoài lớp học), trong đó, người học hứng thú, tự giác, tích cực, tự lực, tựmình chiếm lĩnh tri thức, tìm tòi khám phá thông qua các hoạt động trí tuệ và thựchành để đạt mục đích dưới sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của người dạy

Trang 12

Tự học của học sinh không có nghĩa là học sinh chỉ làm việc tự giác với sáchgiáo khoa mà giáo viên phải cho bài tập, câu hỏi, đề tài nghiên cứu, thảo luận…yêucầu học sinh phải thực hiện trong thời gian bao lâu, sau đó yêu cầu học sinh trìnhbày trước lớp Giáo viên chỉnh sửa, giải đáp, kết luận Đó chính là nội dung phảihọc, phải thi nhưng thay vì thầy thuyết trình cho học sinh trên lớp thì bắt buộc họcsinh phải tự nghiên cứu, tự học có sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên.

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học cũng như giảm tải chương trình ởmột số môn học, đòi hỏi cao ở tính tích cực, độc lập, sự năng động của người học,

kĩ năng làm việc theo nhóm, thảo luận, thuyết trình cũng như kĩ năng tự học, tựnghiên cứu tạo điều kiện hình thành tính linh hoạt, tính tự chủ của học sinh trongquá trình học tập

- Những giải pháp thực hiện hướng dẫn tự học cho học sinh:

Hướng dẫn học sinh tự học, dạy cách học cho học sinh là nhiệm vụ quantrọng, có tính cấp thiết trong việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học củachúng ta hiện nay Các tổ chuyên môn nghiên cứu việc hướng dẫn học sinh tự họccũng là nhằm đóng góp một hướng đi, một cách làm vào nhiệm vụ đổi mới phươngpháp dạy học nói chung và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường, của tổchuyên môn nói riêng

Vậy cách dạy tự học là dạy cách thức đi đến nội dung thông qua dạy nhữngnội dung cụ thể Trước tiên, cần tập trung phát triển trí tuệ của người học, dành cho

họ nhiều cơ hội làm việc ở trong và ngoài lớp Sử dụng phương pháp dạy học tìnhhuống, trong đó học sinh phải tự học, tự nghiên cứu, tự “làm ra” sản phẩm, giáoviên tổ chức thảo luận để đánh giá Tổ chức được hình thức này sẽ tăng cường chohọc sinh năng lực tìm tòi, tự nghiên cứu cũng như kĩ năng nói, viết, phương pháptranh luận khoa học

Tạo cơ hội tối đa cho học sinh được làm việc cá nhân hoặc theo nhóm ở trênlớp hay ngoài lớp một cách tích cực, chủ động với các nguồn kiến thức Nguyên

Trang 13

tắc cần tuân thủ là: cái gì học sinh có thể tự làm được, không quá khó khăn thì tạo

cơ hội cho các em làm, giáo viên không làm thay, nói thay, suy nghĩ thay Nếugiáo viên có yêu cầu cụ thể, mức độ phù hợp, với các phương tiện dạy học cầnthiết, cách đặt vấn đề khơi gợi được sự hứng thú của người học thì học sinh sẵnsàng làm việc một cách có hiệu quả

Cần giảm thiểu tối đa việc truyền thụ, cung cấp tri thức làm sẵn cho học sinhtheo lối giảng giải, ghi chép

Nên tăng cường tối đa việc hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo cho học sinh chủđộng, tích cực tư duy trong quá trình lĩnh hội trí thức Sử dụng linh hoạt mọiphương pháp dạy học, mọi hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học trong

sự phối hợp chặt chẽ với nhau để tạo cơ hội cho người học hình thành, rèn luyệnphương pháp tự học, tự thu nhận tri thức một cách hệ thống và có tư duy phân tích,tổng hợp, phát triển năng lực cá nhân, tăng cường tính chủ động, tự chủ của sinhviên trong quá trình học tập

Công việc giao cho học sinh phải luôn được đa dạng hóa: khi thì làm việcvới sách giáo khoa, khi thì làm việc với đề cương bài giảng ( hiện các tổ đã triểnkhai đề cương bài giảng các môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân…), khi thìlàm việc với sách tham khảo, sách bài tập, khi thì yêu cầu đọc và ghi lại thắc mắc,khi thì trao đổi thảo luận, khi thì thuyết trình trước lớp,…Giáo viên cần lưu ý đặt racác nhiệm vụ với những yêu cầu có tính khám phá, tìm tòi Như thế sẽ kích thíchhọc sinh làm việc - tự học hứng thú hơn

Phải tuyệt đối coi trọng những suy nghĩ của học sinh, có cách đối xử thânthiện với những ý sai của học sinh để động viên khuyến khích các em làm việc.Tuy nhiên, tùy theo tình hình cụ thể, đôi lúc cũng cần có những cú hích vào lòng tự

ái của người học ở mức độ có thể tạo ra động lực một cách thú vị Điều này phụthuộc nhiều vào nghệ thuật dạy học của từng giáo viên

Trang 14

Tổ chức dạy học với nhiều hình thức khác nhau: cá nhân, nhóm, cả lớp…với

sự đa dạng trong cách đánh giá Tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào quátrình nhận xét, đánh giá kết quả học tập lẫn nhau

Quá trình hướng dẫn tự học cho học sinh có thể thực hiện qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Thiết kế bài dạy theo hướng dạy cách học, tự học Thực chất

là giáo viên thiết kế nhiệm vụ, hoạt động Cụ thể là xây dựng hệ thống các câu hỏi,bài tập, cung cấp các nguồn tài liệu tham khảo, phương tiện cần thiết cho hoạtđộng, đưa ra những yêu cầu, chỉ dẫn cụ thể, rõ ràng những gì người học cần phảilàm, tiêu chuẩn đánh giá kết quả công việc mà người học sẽ làm

+ Giai đoạn 2: Học Sinh – người học tự học, tự nghiên cứu tài liệu, ghi lại

những thắc mắc, những câu hỏi cụ thể tùy nội dung nghiên cứu Tùy theo tính chất của bài học mà giai đoạn này có thể thực hiện ở lớp hay ở nhà.

+ Giai đoạn 3: Nhận xét, tự kiểm tra, đánh giá kết quả Cách tiến hành có

thể cho đại diện nhóm hoặc cá nhân báo cáo kết quả Học sinh tự nhận xét, đánhgiá, đặt câu hỏi tranh luận những vấn đề chưa rõ, sau đó giáo viên nhận xét, đánhgiá, chốt lại những vấn đề chính

Một số biện pháp hỗ trợ hướng dẫn tự học có hiệu quả:

- Tập huấn cho học sinh sử dụng tốt việc trình bày nội dung học bằng bàitrình chiếu PowerPoint để các em có thể tự trình bày ý kiến, hiểu biết của mình vềbài học Đến nay, hầu hết các tập thể học sinh lớp đều sử dụng thành thạo máytính, máy chiếu để trình bày trong lúc thảo luận nhóm, lúc thuyết trình các chuyên

đề theo yêu cầu của giáo viên Từ đó nâng cao tính tự tin, tính chủ động, tính sángtạo cho học sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ tự học do giáo viên giao cho, giúpgiờ học sinh động, có hiệu quả, giảm hoạt động của thầy, tăng hoạt động của trò

- Tập huấn cho học sinh sử dụng email và sử dụng hệ thống mạng nội bộ củatrường nhc.edu.vn để trao đổi tài liệu học tập Nhà trường đã cấp gần 600 địa chỉmail cho học sinh khối 10 và 3 lớp khối 11 để các em trao đổi tài liệu, phân công

Trang 15

công việc thực hiện nhiệm vụ mà giáo viên bộ môn yêu cầu Các tài liệu học tậpđược các em chia sẻ kịp thời, giúp giáo viên thực hiện thành công việc tăng cườnghoạt động học tập của học sinh trong thiết kế bài giảng của minh.

2.2.6 Tổ chức các đợt thi Giáo viên giỏi cấp trường, các đợt thao giảng điểm theo tinh thần đổi mới phương pháp:

- Nhà trường đã mời các giáo viên có kinh nghiệm, có uy tín chuyên môntrong Tỉnh làm giám khảo để qua các đợt thi giáo viên giỏi, thao giảng những thầy

cô này sẽ tư vấn, thúc đẩy đội ngũ giáo viên của trường phát triển Trong năm, nhàtrường đã cấp kinh phí để mời 8 lượt các thầy cô ở các trường lân cận về làm giámkhảo, về trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với giáo viên và kinh nghiệm học bài, làmbài với học sinh của trường để qua đó đội ngũ giáo viên của trường học hỏi thêmnhiều kinh nghiệm

- Trong năm, tổ chức thi giáo viên giỏi cấp trường chia làm hai lần để khôngquá tải trong mỗi lượt thi và các giờ dạy được giáo viên chuẩn bị chu đáo, đượcban giám khảo đánh giá sâu sát hơn

- Hàng tuần, các tổ chuyên môn dự giờ, rút kinh nghiệm thường xuyên, liêntục để nâng cao chất lượng giờ dạy, trao đổi những kinh nghiệm hay trong tổnhóm

- Các tiết dạy của những giáo viên có kinh nghiệm, có uy tín chuyên mônđược các đồng nghiệp và đặc biệt là các giáo viên trẻ thường xuyên dự giờ để họchỏi kinh nghiệm Hoạt động này được lãnh đạo nhà trường quy định và khuyếnkhích, tạo được không khí học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sôi nổi, liên tục

2.2.7 Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng đổi mới:

2.2.7.1 Cải tiến cách kiểm tra đánh giá:

- Nhà trường tiến hành cải tổ việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của họcsinh trên định hướng theo chỉ đạo của Bộ, chỉ đạo của Sở Giáo dục và đào tạo

Trang 16

- Quy trình tiến hành kiểm tra được thống nhất trong tập thể hội đồng sưphạm Các bài kiểm tra các môn được nhà trường lên lịch từ đầu học kỳ Nội dungcác bài kiểm tra được Tổ, nhóm chuyên môn thống nhất kỹ trước mỗi tuần Các cánhân ra đề xây dựng ma trận, kiểm tra chéo ma trận, thống nhất ma trận.

- Đề kiểm tra là phương tiện đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khihọc xong một chủ đề, một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình của mộtlớp học, một cấp học Lãnh đạo nhà trường đã yêu cầu các tổ chuyên môn triểnkhai việc ra đề kiểm tra theo đúng quy trình Để ra được một đề kiểm tra đạt yêucầu cần đảm bảo được quy trình theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định mục tiêu, phạm vi, mô tả yêu cầu cần đạt của nội dung kiểm tra theo các cấp độ (từ dễ đến khó).

Các tổ chuyên môn phải căn cứ vào hệ thống các chuẩn kiến thức, kỹ năngđược qui định trong Chương trình GDPT của môn học để mô tả yêu cầu cần đạttheo các cấp độ của tư duy Đó là các kiến thức khoa học và cả phương pháp nhậnthức chúng, các kỹ năng và khả năng vận dụng vào thực tế, những thái độ, tìnhcảm đối với khoa học và xã hội

- Cấp độ 1: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ nhận biết

hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt ở mức độ bắt chước làm được một việc đãhọc, có thái độ tiếp nhận HS học xếp loại lực yếu dễ dàng đạt được điểm tối đatrong phần này

Nội dung thể hiện ở việc quan sát và nhớ lại thông tin, nhận biết được thời gian,địa điểm và sự kiện, nhận biết được các ý chính, nắm được chủ đề nội dung

Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 1 có thể quy về nhóm động từ: nhận

biết được, nêu được, phát biểu được, viết được, liệt kê được, thuật lại được, nhận dạng được, chỉ ra được,

- Cấp độ 2: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ thông hiểu

hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt được ở mức độ làm được chính xác một việc

Trang 17

đã học, có thái độ đúng mực Học sinh xếp loại học lực trung bình dễ dàng đạtđược điểm tối đa trong phần này.

Nội dung thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa, chuyểntải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu, so sánh, đối chiếutương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên nhân, dự đoáncác hệ quả

Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 2 có thể quy về nhóm động từ: hiểu

được, trình bày được, mô tả được, diễn giải được,

- Cấp độ 3: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng cơ

bản, những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đãhọc đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp, có thái độ tintưởng Học sinh xếp loại học lực khá dễ dàng đạt được điểm tối đa trong phần này Nội dung thể hiện ở việc sử dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, kháiniệm và lý thuyết đã học trong những tình huống khác, giải quyết vấn đề bằngnhững kỹ năng hoặc kiến thức đã học

Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 3 có thể quy về nhóm động từ: vận dụng

được, giải thích được, giải được bài tập, làm được

- Cấp độ 4: Đó là những câu hỏi về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng nâng cao,

những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đã học vàvốn hiểu biết của bản thân học sinh đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phântích, tổng hợp và có dấu hiệu của sự sáng tạo, có thái độ tin tưởng Học sinh xếploại học lực giỏi dễ dàng đạt được điểm tối đa trong phần này

Nội dung thể hiện ở việc phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý,các bộ phận cấu thành, thể hiện ở việc sử dụng những gì đã học để tạo ra những cáimới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã học từ nhiều lĩnhvực khác nhau, dự đoán, rút ra các kết luận, thể hiện ở việc so sánh và phân biệtcác kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm, đưa ra

Trang 18

quan điểm lựa chọn trên cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của chứng cứ, nhận

ra tính chủ quan, có dấu hiệu của sự sáng tạo

Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 4 có thể quy về nhóm động từ: phân

tích được, so sánh được, giải thích được, giải được bài tập, suy luận được, thiết kế được

Bước 2: Xây dựng nội dung ma trận cho đề kiểm tra.

- Tổ chuyên môn (hoặc người ra đề) căn cứ vào sự mô tả yêu cầu nội dungcần kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong phạm vi cần kiểm tra trongchương trình giáo dục phổ thông ở bước 1 để đưa vào ma trận

- Căn cứ vào mục tiêu kiểm tra, đối tượng học sinh và tỉ lệ lượng kiến thức,

kỹ năng ở các cấp độ để quyết định điểm số và thời gian kiểm tra cho mỗi cấp độsao cho đảm bảo phân hóa được các đối tượng học sinh trong quá trình đánh giá.Tránh ra nhiều các câu hỏi quá dễ ( học sinh nào cũng làm được), những câu hỏiquá khó (không học sinh nào làm được)

- Căn cứ vào điểm số, thời gian kiểm tra để quyết định số câu hỏi cần kiểmtra cho mỗi cấp độ Số lượng câu hỏi và thời gian phụ thuộc vào đối tượng HS vàchất lượng câu hỏi

- Mỗi một phương án kiểm tra (chẳng hạn như tự luận, trắc nghiệm kháchquan, hay phối hợp tự luận với trắc nghiệm khách quan) thì xây dựng được mộtkhung ma trận đề kiểm tra

Bước 3: Biên soạn thư viện câu hỏi và ra đề kiểm tra theo khung ma trận kiến thức, kỹ năng

Tùy theo đặc trưng của môn học mà tổ chức biên soạn câu hỏi dạng tự luậnhay trắc nghiệm giáo viên cần căn cứ vào lượng kiến thức, kỹ năng trong câu hỏi,mức độ tư duy cũng như độ khó của câu hỏi (so với học sinh trung bình) để xácđịnh thời gian thực hiện trung bình của câu hỏi

Trang 19

- Căn cứ vào khung ma trận đề kiểm tra và số lượng các dạng câu hỏi ở cáccấp độ khác nhau được chọn ở bước 2 người ra đề tuyển lựa câu hỏi trong Thưviện câu hỏi.

- Ứng với mỗi phương án và mỗi cách tuyển lựa ta có một đề kiểm tra NếuThư viện càng nhiều câu hỏi thì ta thu được nhiều bài kiểm tra có chất lượng tươngđương Khi ra đề cần tránh kiểm tra quá nhiều nội dung trong một thời lượng quáít

Bước 4: Xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra

- Căn cứ vào đề kiểm tra và ma trận đề kiểm tra để xây dựng đáp án và biểuđiểm Tùy theo dạng đề và loại hình mà quy định điểm cho mỗi câu hỏi Đối vớicâu tự luận, căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra để chia thành các ýcho thích hợp

- Thang điểm là 10 điểm cho toàn bài, mỗi ý hoặc câu hỏi có thể có giá trịđiểm nhỏ nhất là 0,25 điểm Có thể có thang điểm khác nhưng khi chấm xong đềuphải qui đổi ra thang 10 điểm

- Cần chú ý đến nguyên tắc làm tròn số khi cho điểm toàn bài Thang đánhgiá gồm 11 bậc: 0, 1, 2, , 10 điểm (có thể có điểm thập phân được làm tròn tớimột chữ số sau dấu phẩy) theo quy chế: 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12năm 2011 của Bộ GDĐT)

Bước 5: Thẩm định và niêm phong đề kiểm tra, đáp án

- Tùy theo tính chất và mục tiêu kiểm tra mà có tổ chức đọc rà soát hoặcthẩm định đề kiểm tra, đáp án

- Hoàn thiện, niêm phong và bảo quản đề kiểm tra, đáp án

Việc đọc phản biện, thẩm định, niêm phong, bảo quản đề kiểm tra phải tuân theocác qui định hiện hành về thi cử

- Trong năm học 2012 – 2013, lãnh đạo nhà trường duy trì hình thức kiểmtra tập trung các môn Toán, Vật Lý, Hóa học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Anh văn

Sau đây là một vài dẫn chứng về biên soạn đề kiểm tra:

Trang 20

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI ĐỀ KIỂM TRA BÀI SỐ 5 NGỮ VĂN KHỐI 11 TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH Năm học: 2012 - 2013

Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian giao đề)

I MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:

- Nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng được qui định trong chương trình Ngữ văn lớp 11 học kì II.

- Đánh giá việc học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học viết một bài văn ngắn về nghị luận văn học, viết một bài văn nghị luận xã hội

- Cụ thể: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng các đơn vị kiến thức:

+ Tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, ý nghĩa của 3 văn bản: Lưu biệt khi xuất dương

(Phan Bội Châu), Hầu Trời (Tản Đà), Vội vàng (Xuân Diệu).

+ Biết vận dụng kiến thức văn học để viết bài văn nghị luận văn học ngắn: Lưu biệt khi

xuất dương (Phan Bội Châu), Hầu Trời (Tản Đà), Vội vàng (Xuân Diệu).

+ Vận dụng kiến thức, kĩ năng làm văn nghị luận viết một bài văn nghị luận về một hiện

1.1 Lưu biệt khi xuất dương

(Phan Bội Châu);

1.2 Hầu Trời (Tản Đà);

1.3 Vội vàng (Xuân Diệu).

-Học sinh nhận biết, tái hiện những nét chính về hoàn

cảnh sáng tác, xuất xứ, ý nghĩa văn bản ( ghi nhớ) của

một trong ba văn bản trên.

2.Làm văn: Nghị luận văn

học -Vận dụng kiến thức, kĩ năng, thao tác làm văn viết mộtbài nghị luận văn học ngắn phân tích một đoạn thơ

(khoảng 4 câu) của một trong 3 văn bản: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu); Hầu Trời (Tản Đà); Vội vàng (Xuân Diệu).

3.Làm văn: Nghị luận xã

hội

-Biết huy động các kiến thức và những trải nghiệm của bản thân để viết bài văn nghị luận bàn về một hiện tượng đời sống

Trang 21

KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA Mức độ

Chủ đề

1 Đọc văn Học sinh nhận biết,

tái hiện những nét chính về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, ý

nghĩa văn bản ( ghi nhớ) của một trong

ba văn bản: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu);

Hầu Trời (Tản Đà);

Vội vàng (Xuân Diệu).

2 đ

2.Làm văn: Nghị

luận văn học

1.1.Lưu biệt khi

xuất dương (Phan

5 đ Tổng số câu, số

10 đ

Trang 22

IV BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA:

Trình bày hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa văn bản “Lưu biệt khi xuất dương”

-Phan Bội Châu

Câu 2 (3đ):

Cảm nhận của anh (chị ) về đoạn thơ sau:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si".

(“Vội vàng” – Xuân Diệu)

Câu 3 (5đ):

Suy nghĩ của Anh (chị) về “bệnh thành tích” ” trong xã hội hiện nay

V HƯỚNG DẪN CHẤM, BIỂU ĐIỂM:

Câu 1 dương” - Phan Bội Châu. Trình bày hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa văn bản “Lưu biệt khi xuất Điểm 2.0

- Năm 1905, trước lúc lên đường sang Nhật Bản, Phan Bội Châu làm bài thơ

“Lưu biệt khi xuất dương” để từ giã bạn bè, đồng chí.

- Bằng giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, “Lưu biệt khi xuất

dương” đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng

những năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi

trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước.

1.0

1.0

Câu 2 Cảm nhận của anh (chị ) về đoạn thơ sau:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si".

(“Vội vàng” – Xuân Diệu)

3.0

Trang 23

a Yêu cầu chung về kĩ năng:

- Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học về một đoạn thơ.

- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.

- Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ; trình bày bài rõ

ràng

b Yêu cầu về nội dung:

- Học sinh có thể trình bày cảm nhận theo nhiều cách khác nhau, song cần

đảm bảo những vấn đề trọng tâm sau:

- Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng

thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời tha thiết “Vội vàng” bộc lộ niềm khao khát sống

mãnh liệt, sống hết mình của Xuân Diệu

- Đoạn thơ “của ong bướm…tình si” bộc lộ cảm nhận theo một cách riêng của

Xuân Diệu về thiên nhiên

- Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu gợi lên vừa gần gũi, thân

quen vừa quyến rũ, đầy tình tứ Các giác quan được huy động từ nhiều góc độ

để cảm nhận vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời

lúc xuân sang

- Điệp ngữ "này đây" kết hợp với liệt kê làm nhịp thơ trở nên dồn dập, chỉ sự

ngạc nhiên, như một tiếng reo, vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say

trước “của ong bướm “tuần tháng mật”, hoa của đồng nội xanh “rì”, lá của

cành tơ “phơ phất”, của yến anh là khúc tình “si”; thể hiện sự phong phú bất

tận của thiên nhiên Cảnh vật trong thơ trở nên cuộn trào sức sống

- Cách ngắt nhịp đầy linh hoạt, biến hoá (3/2/3 và 3/5) Hình ảnh, những

khung cảnh được miêu tả thật cụ thể: tuần tháng mật, đồng nội xanh rì tất cả

1.25

0.5

0.25

Câu 3 Suy nghĩ của Anh (chị) về “bệnh thành tích” ” trong xã hội hiện nay. 5.0

a Yêu cầu về kĩ năng

Biết cách viết bài văn về nghị luận xã hội Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát;

không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b Yêu cầu về kiến thức

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng luận điểm phải rõ ràng, lí lẽ

- Thành tích là điều tốt đẹp đáng khích lệ, nhưng chạy theo thành tích bằng

mọi cách, mọi thủ đoạn bất chấp hậu quả thì lại là hiện tượng tiêu cực đáng

phê phán Đó là “bệnh thành tích”.

* Biểu hiện:

- Trong nhà trường: nhiều người sẵn sàng ngụy tạo ra thành tích, coi nhẹ chất

lượng giảng dạy, học tập, chỉ chú trọng vào tỉ lệ học sinh khá giỏi hoặc tỉ lệ

tốt nghiệp và tạo ra “thành tích ảo”.

- Ở từng cá nhân: thái độ đối phó trong học tập và làm việc Học vì điểm hơn

0.25 0.25

1.0

Ngày đăng: 02/12/2015, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w