1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện các biện pháp huy động vốn đầy tư trực tiếp từ nước ngoài

74 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế nhiều thành phần ,có những đóng góp đáng kể vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đổi mới công nghệ , nâng cao n

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN FDI VÀ KHU

CÔNG NGHIỆP

TIẾP(FDI)

1.1.1 Hoạt động đầu tư và vốn đầu tư 1

1.1.2 Đầu tư nước ngoài 1

1.1.3 Đầu tư nước ngoài trực tiếp 2

1.1.4 Những lợi thế của FDI đối với nước nhận đầu tư 4

1.1.5 Những hạn chế của FDI đối với nước nhận đầu tư 6

1.2 KHU CÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ NGHIỆP CNH-HĐH 8

1.2.1 Sự hình thành khu công nghiệp 8

1.2.2 Khu công nghiệp và các hình thức của khu công nghiệp 9

1.2.2.1 Khu chế xuất 9

1.2.2.2 Khu sản xuất hàng thay thế nhập khẩu 10

1.2.2.3 Khu công nghiệp 10

1.2.2.4 Khu công nghệ cao 10

1.2.2.5 Khu vực kinh tế tự do 10

1.2.2.6 Khu mậu dịch tự do 11

1.2.2.7 Đặc khu kinh tế 11

1.2.3 Vai trò của các khu công nghiệp đối với sự nghiệp CNH-HĐH 11

1.3 KINH NGHIỆM HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI TẠI MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP Ở CHÂU Á 12

1.3.1 Khu công nghệ cao Tân Trúc- Đài Loan 12

1.3.2 Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến - Trung Quốc 13

1.3.3 Khu công nghiệp Map Ta Phut - Thai Lan 15

1.3.4 Khu công nghiệp Masan - Hàn Quốc 16

1.3.5 Bài học kinh nghiệm 17

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA 18

2.2 THỰC TRẠNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 24

2.2.1 Tình hình quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp 24

2.2.1.1 Tình hình quy hoạch các khu công nghiệp .24

2.2.1.2 Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp 26

Trang 3

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

2.2.1.3 Vai trò của các khu công nghiệp trong việc xây dựng Tỉnh Đồng Nai

và phát triển kinh tế vùng 29

2.3 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRONG THỜI GIAN QUA TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 30

2.3.1 Khái quát chung 30

2.3.2 Tình hình huy động vốn FDI 31

2.3.2.1 Tình hình thực hiện dự án đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp Tỉnh Đồng Nai (Phân theo khu vực) 33

2.3.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh và hiệu qủa kinh doanh của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp Tỉnh Đồng Nai 35

2.4 NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG ,ƯU ĐIỂM VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VIỆC HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI 36

2.4.1 Nguyên nhân thành công 36

2.4.2 Những ưu điểm trong việc huy động nguồn vốn FDI 37

2.4.3 Một số hạn chế đối với nguồn vốn FDI 40

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 3.1 MỤC TIÊU HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 42

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC THU HÚT NGUỒN VỐN FDI 43

3.2.1 Đa dạng hóa các nguồn vốn và phương thức huy động vốn FDI 43

3.2.2 Đổi mới phương thức quản lý vốn đầu tư nước ngoài 44

3.2.3 Hoạch định đầu tư giữa nguồn vốn FDI và các nguồn vốn khác trên địa bàn Tỉnh 45

3.2.4 Cần đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp FDI ở các khu công nghiệp 46

3.2.5 Cải thiện môi trường đầu tư thúc đẩy thu hút FDI vào các khu công nghiệp Đồng Nai 47

3.2.5.1 Hoàn thiện khung pháp lý 47

3.2.5.2 Điều chỉnh các chính sách 48

3.2.5.2.1 Chính sách tài chính tiền tệ 49

3.2.5.2.2 Chính sách đất đai 52

3.2.6 Xây dựng và phát triển các hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế của các khu công nghiệp 53 3.3 CÁC GIẢI PHÁP HỖ TRỢ NHẰM THU HÚT NGUỒN VỐN FDI 55

3.3.1 Cải cách thể chế hành chính 55

3.3.2 Nâng cao năng lực đối tác của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai 57

3.3.3 Nâng cao năng lực cán bộ Việt nam để đối tác nước ngoài 59

Trang 4

3.3.4 Nâng cao vai trò đàm phán quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa

bàn Tỉnh 60

KẾT LUẬN

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ được nhìn nhận là nguồn

cung cấp vốn , mà còn là nguồn cung cấp công nghệ , bí quyết kỹ thuật , trình độ

quản lý và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế Đây là những nhân tố cơ bản đảm

bảo duy trì sự phát triển bền vững ở mỗi nước ,đặc biệt là ở các nước đang phát

triển Chính vì nhận thức được ý nghĩa này ngày càng rõ ràng nên mỗi nước đều cố

gắng tạo môi trường đầu tư hấp dẫn hơn để thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp

từ bên ngoài Do đó cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài càng trở nên gay gắt

Các nước huy động nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài hiện nay không

chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện khung pháp luật cũng như thể chế trong nước theo

hướng mở cửa tự do hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài , mà trên thế giới đang hình

thành rõ nét hơn xu hướng đàm phán và ký kết các thỏa thuận đơn phương và đa

phương nhằm tự do hóa đầu tư nước ngoài

Chính sách đổi mới kinh tế của Nhà nước đã được đề ra hơn 10 năm qua ,

trong đó chính sách thu hút vốn nước ngoài là một trong những lĩnh vực quan trọng

góp phần tạo cho nền kinh tế đạt được những thành tựu vượt bậc , 5 năm liền tăng

trưởng GDP , hàng năm tăng bình quân 8% ,lạm phát đã được kiềm chế từ 3 con số

xuống còn 2 con số và một con số

Tỉnh Đồng Nai cùng với TP.HCM, Hà Nội là một trong những nơi thu hút

được nhiều nguồn vốn nước ngoài ở nhiều dạng khác nhau , nhưng vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng lớn nhất đã tham gia tạo nên GDP chiếm tỷ

trọng ngày càng cao Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ khi thực hiện Luật Đầu

tư nước ngoài (năm 1987) đã góp phần tích cực đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế

của Đồng Nai Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của

nền kinh tế nhiều thành phần ,có những đóng góp đáng kể vào sự chuyển dịch cơ

cấu kinh tế , đổi mới công nghệ , nâng cao năng lực sản xuất , sử dụng có hiệu quả

nguồn lực ,phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với xu thế với

tăng cường hội nhập vào kinh tế thế giới

Việc xây dựng , quản lý các KCN của Tỉnh trong thời gian qua đã nhanh

chóng tập trung vào các KCN một khối lượng lớn tiền vốn từ các công ty nước

ngoài đầu tư trực tiếp trên địa bàn Tỉnh , sử dụng nhiều lao động và ngày càng sản

xuất một khối lượng lớn sản phẩm xuất khẩu góp phần quan trọng cho công cuộc

phát triển kinh tế- xã hội của Tỉnh Đồng Nai đã lựa chọn được định hướng phát

triển đúng đắn ,phát huy lợi thế so sánh của Tỉnh , phát huy nội lực trong điều kiện

tiến hành đổi mới và tham gia hội nhập, do đó đã tạo ra được thế và lực mới , với

quy mô kinh tế tăng 3 lần trong 10 năm (trong khi cả nước chỉ tăng được 2 lần)

Trang 5

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

Tích lũy được kinh nghiệm trong quá trình mở cửa , thu hút vốn bên ngoài và

đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học công

nghệ , đẩy mạnh tiếp thị , tỷ lệ xuất khẩu/GDP đạt mức 118% GDP, cao nhất cả

nước hơn cả miền Đông Nam Bộ (47% GDP), địa bàn KTTĐPN (50% GDP) và

cũng hơn cả Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu là nơi có sản xuất dầu khí lớn (115% GDP)

Song những năm gần đây , đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói

chung cũng như vào Đồng Nai nói riêng đang có xu hướng chững lại và có biểu

hiện giảm sút , điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng và phát triển

kinh tế của Tỉnh trong những năm tới

Vì lẽ đó , tác giả luận án mạnh dạn chọn đề tài :" Hoàn thiện các biện pháp

huy động vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ở các khu công nghiệp Tỉnh Đồng Nai

' để làm đối tượng nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là qua thực trạng về tình hình đầu tư nước

ngoài trực tiếp tại các khu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai để làm rõ các

vấn đề lý luận , thực tiễn và nêu ra các giải pháp cho vấn đề huy động vốn FDI cho

các khu công nghiệp

Phạm vi nghiên cứu

Tác giả chỉ nghiên cứu về tình hình huy động vốn đầu tư trực tiếp từ nước

ngoài trên địa bàn các khu công nghiệp Tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được quán triệt và vận dụng trong luận án này là :

phương pháp duy vật biện chứng , phương pháp diễn dịch quy nạp, phương pháp

tổng hợp, phương pháp thống kê…

Để nhằm cho các lập luận có tính thuyết phục , tác giả luận án còn sử dụng

các kinh nghiệm rút ra từ các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài

nước cùng các số liệu do các cơ quan hữu trách cung cấp

Nội dung của luận án , ngoài phần mở đầu và kết luận ,được thể hiện chủ

yếu ở 3 chương :

Chương I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN FDI VÀ KHU CÔNG

NGHIỆP

Chương II : THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA

NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

ĐỒNG NAI

Chương III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN FDI VÀO CÁC KHU

CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

Toàn bộ luận án có khối lượng 60 trang đánh máy, 20 biểu cùng 1 danh mục

tài liệu tham khảo,và một bảng phụ lục

Trang 6

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN

VỐN FDI VÀ KHU CÔNG NGHIỆP

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

TRỰC TIẾP (FDI)

1.1.1 Hoạt động đầu tư và vốn đầu tư

Bất kỳ quốc gia nào muốn đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ,

quốc gia đó đều phải cần có một lượng vốn lớn để tham gia vào các hoạt động đầu

Hoạt động đầu tư , trước hết được hiểu là hoạt động kinh tế tổng hợp được

tiến hành bằng cách huy động các nguồn vốn bỏ vào lĩnh vực khai thác ,chế biến

sản phẩm hoặc dịch vụ trong một thời gian nhất định Số vốn đó phải tham gia vào

nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích thu hồi vốn , tạo ra lợi

nhuận đối với nhà đầu tư và mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước Hoạt

động đầu tư theo nghĩa rộng còn bao gồm các hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực

phi kinh tế , hoặc được coi là không sinh lợi trước mắt và trực tiếp như hoạt động

đầu tư vào con người , các mục tiêu phúc lợi công cộng …

Vốn bỏ vào các hoạt động đầu tư được coi là vốn đầu tư , trong quá trình đầu

tư vốn đầu tư thể hiện ở nhiều dạng khác nhau :

- Tiền tệ các loại : ngoại tệ , nội tệ , kể cả vàng bạc và đá qúy

- Tài sản hữu hình : nhà xưởng máy móc thiết bị , tài nguyên , khoáng sản

đất đai tài sản vô hình : bằng phát minh sáng chế , bí quyết công nghệ ,

sức lao động …

- Các phương tiện đầu tư đặc biệt khác như : cổ phiếu , hối phiếu…

Trong điều kiện toàn cầu hóa , tự do hóa đời sống kinh tế được đẩy mạnh

như ngày nay thì nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến và có

vai trò rất quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới , đặc biệt là các nước đang

phát triển Đối với các nước này do ở điểm xuất phát đi lên sản xuất lớn còn thấp ,

kỹ thuật thấp kém , tốc độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc , đang rất cần

vốn để đầu tư , thì không thể chỉ trông chờ vào nguồn vốn trong nước mà phải coi

trọng việc thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ

nước ngoài được khẳng định như là một nguyên tắc tất yếu trong việc xây dựng và

phát triển kinh tế của mỗi nước , mặc dù về lâu dài thì vốn đầu tư trong nước vẫn

giữ vai trò quyết định

1.1.2 Đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là sự chuyển dịch vốn đầu tư từ quốc gia này sang quốc

gia khác nhằm đạt được lợi nhuận đối với các chủ đầu tư và thực hiện lợi ích kinh

tế xã hội đối với các nước tiếp nhận đầu tư

Trang 7

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

Hiện nay, có rất nhiều quốc gia trên thế giới , nhiều tổ chức tài chính quốc

tế như: IMF , WB , ADB…và nhiều công ty đang nắm giữ một lượng vốn rất lớn có

nhu cầu đầu tư ra nước ngoài Bên cạnh đó , bối cảnh thế giới trong thời đại hiện

nay đã hình thành nên những nền tảng cơ bản tạo cơ hội cho hoạt động đầu tư ra

nước ngoài ngày càng phổ biến , nhất là ở các nước công nghiệp phát triển Các

nước này tìm thấy lẫn nhau những lợi thế mà nước mình không có , hoặc có nhưng

không lợi thế bằng , và chính đầu tư nước ngoài là cầu nối để các nhà đầu tư khai

thác triệt để lợi thế so sánh , đồng thời nó cũng có vai trò thúc đẩy quá trình phát

triển kinh tế của các nước trên thế giới

Trong xu hướng phát triển của quá trình hội nhập quốc tế , đầu tư quốc tế

không chỉ diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển mà còn diễn ra giữa các nước

phát triển và các nước đang phát triển Chính các nước phát triển đã nhận thấy

tiềm năng sinh lời của vốn đầu tư tại các nước đang phát triển và vì vậy đầu tư

quốc tế vào các nước đang phát triển ngày càng tăng dần theo thời gian Đây là

điều kiện rất thuận lợi đối với các nước đang phát triển cần vốn để đẩy mạnh đầu

Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OECD) thì nguồn vốn đầu tư

nước ngoài bao gồm những hình thức sau đây:

• Tài trợ phát triển chính thức (Official Development Finance - ODF) Nguồn vốn

này bao gồm: viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistant -

ODA) và các hình thức ODF khác đa phương hoặc song phương ODA chiếm tỉ

trọng chủ yếu trong nguồn ODF

• Tín dụng từ các ngân hàng thương mại

• Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI), viện trợ không

hoàn lại của các tổ chức chính phủ , liên chính phủ và phi chính phủ (NGOs) và

một số nguồn tài trợ tư nhân khác

Mỗi hình thức đều có những ưu thế riêng trong từng điều kiện cụ thể của mỗi

quốc gia Tuy nhiên, hình thức FDI là hình thức đầu tư tỏ ra có hiệu quả nhất Xu

hướng ngày nay cho thấy sự gia tăng mạnh của FDI cả về khối lượng tuyệt đối lẫn

tỉ trọng trong tổng số nguồn vốn đầu tư quốc tế Việc sử dụng có hiệu quả nguồn

vốn FDI vào các quốc gia Châu Á (NICs và ASEAN) là một bằng chứng đầy thuyết

phục về tính ưu việt của hình thức FDI

1.1.3 Đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư góp

một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ cho phép và họ

trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư

Khác với loại hình ODF (mà chủ yếu là ODA) là nguồn tài trợ chính thức có

thể cho không hoặc vay ưu đãi , FDI có những đặc trưng sau đây:

- FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư , mà bên cạnh đó còn có

cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, năng lực marketing, năng lực quản lý …

Bởi lẽ muốn kiếm được lợi nhuận, các nhà đầu tư phải không ngừng cải tiến kỹ

thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường

Trang 8

- Việc tiếp nhận FDI không làm gia tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư, mà

trái lại nước tiếp nhận FDI còn có điều kiện để phát huy tiềm năng trong nước dựa

vào các nguồn FDI này

- Chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia, chiếm 90% khối

lượng FDI trên toàn thế giới Phần còn lại không đáng kể của FDI thuộc về các nhà

nước và các tổ chức quốc tế khác

- FDI được thực hiện dưới nhiều hình thức

+ Bỏ 100% vốn để xây dựng xí nghiệp mới ( Enterprise with one hundred

per cent Foreign owned capital) Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của các

nhà đầu tư nước ngoài lập tại nước tiếp nhận đầu tư ,họ tự tổ chức quản lý và chịu

trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình Hình thức đầu tư này có

đặc điểm :

♦ Doanh nghiệp được lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn ,

mang tư cách pháp nhân của nước tiếp nhận đầu tư

♦ Vốn pháp định của doanh nghiệp ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư ;

trừ trường hợp đầu tư vào những vùng kinh tế khó khăn tỷ lệ này có thể thấp đến

20% vốn pháp định

♦ Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định ,tăng vốn

pháp định phải xin phép

+ Mua lại toàn bộ hoặc một phần xí nghiệp của nước chủ nhà đang hoạt

động

+ Cùng góp vốn với đối tác của nước chủ nhà với những tỉ lệ khác nhau để

thành lập xí nghiệp liên doanh

+ Bỏ vốn xây dựng các công trình, sau đó chuyển giao lại cho nước chủ nhà

theo thỏa thuận giữa hai bên (hình thức BOT và các hình thức tương tự khác) , thực

chất đây là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước tiếp

nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngòai để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng

trong một thời hạn nhất định ; hết thời hạn , nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao

không bồi hoàn công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư

♦ Đối với hình thức Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (

Build-Transfer-Operate :BTO) thì sau khi xây dựng xong công trình kết cấu hạ tầng , nhà

đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư Ngược

lại Chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh

công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp

♦ Đối với hình thức Xây dựng –Chuyển giao ( Build- Transfer : BT) thì

sau khi xây dựng xong các công trình kết cấu hạ tầng , nhà đầu tư nước ngòai sẽ

chuyển giao công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư

Nhìn chung các hình thức BOT, BTO, BT đều có chung những đặc điểm sau:

♦ Chỉ được ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

♦ Đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nước tiếp nhận đầu tư như : xây dựng

đường, cầu , cảng , sân bay , các công trình điện ,nước ,

Trang 9

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

♦ Được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ nước tiếp nhận đầu tư về tiền

thuê đất , thuế các loại , thời gian đầu tư dài tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư

nước ngoài thu hồi vốn và có lời hợp lý

♦ Hết thời hạn hoạt động của giấy phép chủ đầu tư phải chuyển giao

không bồi hoàn công trình cho nước tiếp nhận đầu tư trong tình trạng hoạt động

bình thường

Mỗi hình thức FDI đều có những ưu thế và nhược điểm riêng Tùy thuộc

vào mục đích và yêu cầu của nước đầu tư lẫn nước tiếp nhận đầu tư để chọn lựa

hình thức thích hợp Song nhìn chung hình thức liên doanh tỏ ra là hình thức được

ưa chuộng hơn hết

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới trong những năm qua đã gia tăng

với tốc độ đáng kể Sau đây là bảng số liệu minh họa về tình hình FDI trên thế giới

Tốc độ tăng (%)

Nguồn: Global Development Finance - World Bank Book 1997

Qua bảng trên ta thấy nhịp độ đầu tư nước ngoài trực tiếp trên toàn thế giới

giai đoạn 1990-1996 tăng khá nhanh, bình quân hàng năm tăng trên 32% Có thể

nói FDI đã trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và

lưu thông như hiện nay Không một quốc gia nào trên thế giới lại không cần đến

nguồn đầu tư nước ngoài trực tiếp vì đây là nguồn lực quốc tế cần khai thác triệt để

để hội nhập vào nền kinh tế thế giới FDI mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia

kể cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư Đặc biệt đối với các nước đang phát triển,

trong đó có Việt nam thì việc tiếp nhận FDI là một lợi thế hiển nhiên mà thời đại

dành cho các nước này

1.1.4 Những lợi thế của FDI đối với nước nhận đầu tư

*Một là, FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt

về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư , đặc biệt là các nước kém phát triển

Hầu hết các nước kém phát triển Đều rơi vào cái “vòng lẩn quẩn” đó là: thu

nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậu quả là lại thu nhập

thấp Tình trạng lẩn quẩn này chính là điểm “nút” khó khăn nhất mà các nước này

phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại Nhiều nước

lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được

điểm đột phá chính xác và mắc xích của một “vòng luẩn quẩn” này Trở ngại lớn

Trang 10

nhất để thực hiện được điều đó đối với các nước kém phát triển đó là vốn đầu tư và

kỹ thuật Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công

nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động … từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích

lũy cho sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ

trông chờ vào tích lũy nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi mà sẽ tụt hậu trong sự phát

triển của thế giới Do đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần đột phá

cái “vòng lẩn quẩn” đó

Đặc biệt FDI là một nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà

không gây nợ cho nước nhận đầu tư Không như vốn vay, nước đầu tư chỉ nhận

được phần lợi nhuận thích đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả Hơn

nữa, luồng vốn này còn lợi thế hơn vốn vay ở chỗ: thời hạn trả nợ vốn vay thường

cố định và đôi khi quá ngắn so với một số vốn đầu tư , còn thời hạn của FDI thì

linh hoạt hơn

Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” (Two-gap-model) của Cherery và

Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: Tiết kiệm

không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư, được gọi là “lỗ hổng tiết kiệm” (Saving-gap)

Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt

động nhập khẩu – được gọi là “lỗ hổng thương mại” (Trade-gap) Hầu hết ở các

nước kém phát triển, hai “lỗ hổng” trên rất lớn, vì vậy FDI còn là một nguồn quan

trọng không chỉ để bổ sung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt về

ngoại tệ nói riêng Bởi vì FDI góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng

khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty

nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ phục vụ cho FDI

*Hai là, lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện

đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nước đi trước

Đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với các nước nhận đầu

tư FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật trong các nước nhận đầu tư , góp phần

tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi giá thành của sản phẩm v à xuất

khẩu, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là các nghề đòi hỏi hàm lượng

công nghệ cao Vì thế nó có tác dụng lớn đối với quá trình công nghiệp hóa,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư

FDI đem lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật

cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua những chương trình đào tạo và

quá trình vừa học vừa làm FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng

đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào

các công ty liên doanh với nước ngoài

Thực tiễn cho thấy, hầu hết các nước thu hút FDI đã cải thiện đáng kể trình

độ kỹ thuật công nghệ của mình Chẳng hạn như, đầu những năm 60, Hàn Quốc

còn kém về lắp ráp xe hơi, nhưng nhờ tiếp nhận đầu tư của Mỹ, Nhật và một số

nước khác mà năm 1993, họ đã trở thành nước sản suất ôtô lớn thứ 7 trên thế giới

Trang 11

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

*Ba là, lợi ích về tạo ra công ăn việc làm Thực ra đây là một tác động kép:

tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao

động Từ đó tạo điều kiện tăng tích lũy trong nước

FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm thông qua việc

cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài FDI còn tạo ra những

cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng

hóa dịch vụ từ các nhà sản suất trong nước, hoặc thuê họ thông qua những hợp

đồng gia công chế biến Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích

cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng lao động như nghành may

mặc, điện tử, chế biến Chẳng hạn như công ty máy tính của Mỹ sản xuất ổ đĩa đã

làm tăng việc làm ở khu vực Băng cốc (Thai Lan) từ 5.000 lên đến 20.000 người

trong năm1988 Hoặc ở Xingapo trong năm 1989, các công ty có vốn nước ngoài

chiếm 70% lao động có việc làm trong khu chế biến

Tuy nhiên sự đóng góp của FDI đối với việc làm trong các nước nhận đầu tư

phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và khả năng kỹ thuật của nước đó

*Bốn là, thông qua FDI, các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường

thế giới

Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí sản xuất

có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường

nước ngoài Trong khi đó, thông qua FDI, các nước này có thể tiếp cận thị trường

thế giới Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực

hiện, mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những

hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ về chất lượng, kiểu

dáng của sản phẩm và việc giữ đúng thời hạn…

Từ sự phân tích trên, có thể kết luận rằng việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển

nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng, vốn

nước ngoài dù quan trọng đến đâu cũng không thể đóng vai trò quyết định sự phát

triển của một quốc gia Mặt khác, FDI cũng có những mặt trái của nó Đây là vấn

đề được xem xét đầy đủ trong quá trình thu hút FDI Nếu không lợi ích thu được sẽ

không bù lại được những thiệt hại mà nó gây ra Nhiều công trình nghiên cứu cũng

như thực tiễn thu hút FDI trên thế giới và ở Việt Nam đã chỉ ra: FDI có không ít

mặt hạn chế của nó Vì vậy, ở đây xin bàn tiếp về những mặt trái của FDI đối với

các nước nhận đầu tư nói chung và đối với Việt Nam nói riêng

1.1.5 Những hạn chế của FDI đối với nước nhận đầu tư

*Một là, chi phí của việc thu hút FDI

Để thu hút FDI, nước nhận đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà

đầu tư như là: giảm thuế, miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các

dự án đầu tư nước ngoài Hoặc việc trả tiền của họ cho việc thuê đất, nhà xưởng và

một số dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước Hay trong

một số lĩnh vực họ được nhà nước bảo hộ thuế quan Và như vậy, đôi khi lợi ích của

nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được

Trang 12

*Hai là, các nhà đầu tư thường tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các

nhân tố đầu vào

Các nhà đầu tư nước ngoài thường tính giá cao cho những nguyên vật liệu,

bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập về để thực hiện đầu tư Việc làm

này đã mang lại nhiều ích lợi cho nhà đầu tư, chẳng hạn như: trốn được thuế của

nước chủ nhà đánh vào các lợi nhuận cao của nhà đầu tư, hoặc để giấu số lợi nhuận

thực tế mà họ kiếm được từ đó sẽ hạn chế các nhà cạnh tranh sáp nhập vào thị

trường Ngược lại, điều này lại gây ra chi phí sản xuất cao ở các nước chủ nhà và

các nước chủ nhà phải mua hàng hóa cho đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao

hơn

Tuy nhiên, việc tính giá cao đó thường xảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông

tin, trình độ kiểm soát, quản lý chuyên môn yếu; hoặc chính sách của nước đó còn

nhiều khe hở khiến các nhà đầu tư có thể lợi dụng được

*Ba là, các nước đầu tư thường chuyển giao công nghệ và kỹ thuật lạc hậu

vào nước họ đầu tư Điều này có thể giải thích là: Dưới sự tác động của cách mạng

khoa học kỹ thuật, cho nên máy móc, công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu, vì

vậy họ thường chuyển giao những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư

để đổi mới sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm của chính nước họ Vào giai

đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ sử dụng nhiều

lao động Tuy nhiên sau một thời gian phát triển, giá lao động sẽ tăng lên, kết quả

là giá thành sản phẩm cao Vì vậy họ muốn thay công nghệ này bằng những công

nghệ có hàm lượng công nghệ cao để hạ giá thành sản phẩm

Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây ra nhiều thiệt hại cho nước nhận

đầu tư như là: Rất khó tính được giá trị thực của máy móc chuyển giao, do đó

nước đầu tư thường bị thiệt hại về việc chia lợi nhuận Gây tổn hại đến môi

trường Chất lượng sản phẩm thấp chi phí sản xuất cao, và do đó sản phẩm của

nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới

Thực tiễn cho thấy tình hình chuyển giao công nghệ của các nước đang phát

triển còn là vấn đề gay cấn Ví dụ, theo báo cáo của Ngân hàng phát triển thì 70%

thiết bị mà các nước Châu Mỹ La Tinh nhập khẩu từ các nước tư bản phát triển là

công nghệ lạc hậu Cũng tương tự , các trường hợp chuyển giao công nghệ ở

ASEAN lúc đầu chưa có kinh nghiệm kiểm soát nên cũng đã bị nhiều thiệt thòi

Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công nghệ,

pháp luật về bảo vệ môi trường và khả năng tiếp nhận công nghệ của nước nhận

đầu tư Chẳng hạn như Mêhico có1.800 nhà máy lắp ráp sản phẩm của công ty

xuyên quốc gia của Mỹ Một số những nhà máy này được chuyển sang Mêhicô là

để tránh những quy định chặt chẽ về môi trường ở Mỹ và lợi dụng những khe hở

trong luật môi trường ở Mêhicô

*Bốn là, sản xuất hàng hóa không thích hợp

Các nhà đầu tư còn bị chỉ trích là sản xuất và bán những hàng hóa không

thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi lại là những hàng hóa có

hại cho sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường Ví dụ như khuyến khích sử

Trang 13

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

dụng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy

thay thế xà phòng…

*Năm là, những mặt trái khác

Trong số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động tình báo,

gây rối an ninh, chính trị Trường hợp Chính phủ Xanvađo Agienđê ở Chilê bị lật

đổ năm 1973 là một ví dụ về sự can thiệp của công ty xuyên quốc gia ITT và việc

chính phủ Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của Chilê

Mục đích của nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi có lợi

nhất Vì thế nhiều khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa

các vùng, giữa vùng nông thôn và thành thị Sự mất cân đối này có thể gây nên bất

ổn về chính trị

Hoặc FDI cũng có thể ảnh hưởng xấu về mặt xã hội Những người dân bản

xứ làm thuê cho các nhà đầu tư có thể bị mua chuộc, biến chất, thay đổi quan điểm,

lối sống và nguy hiểm hơn họ có thể phản bội tổ quốc Các tệ nạn xã hội có thể

cũng gia tăng cùng với FDI, như nạn mại dâm, nạn nghiện hút…

Những mặt trái của FDI không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản

của nó mà chỉ lưu ý rằng không nên hy vọng quá nhiều vào FDI và cần phải những

chính sách hợp lý, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy những mặt tích

cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI Bởi vì mức độ thiệt hại mà FDI gây ra

cho chủ nhà nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ

quản ly ình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư ù, tr

1.2 KHU CÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ NGHIỆP

CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA (CNH-HĐH)

1.2.1 Sự hình thành khu công nghiệp

Vào năm 1896 ở Trafford Park , Manchester tại Anh Quốc , một khu công

nghiệp do một doanh nghiệp tư nhân làm chủ đầu tư đã được thành lập, đây là khu

công nghiệp đầu tiên trên thế giới và không lâu sau đó ,năm 1899 tại nước Mỹ khu

công nghiệp Clearing – Chicago cũng đã được thành lập Cho đến thập niên 40

của thế kỷ thứ 20 , Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về các khu công nghiệp với số

lượng là 33 khu công nghiệp (KCN)

Đến những năm 1950-1960, các khu CN đã thực sự bùng nổ : ở Mỹ năm

1959 có 1.000 KCN , năm 1965 có 1.117 KCN , năm 1970 là 2.000 KCN ; trong khi

đó tại Anh Quốc vào năm 1959 có 55 KCN, ở Pháp vào năm 1963 có 230 KCN ,

tại Puecto Rico cũng có 30 KCN vào năm 1963

Riêng ở châu Á , vào năm 1951 tại Singapore , công ty phát triển và quản lý

KCN Jorong - công ty nhà nước về xây dựng đã chính thức khai trương và đi vào

họat động Đây là một khu công nghiệp đầu tiên ở các nước đang phát triển tại

châu Á Ở Malaysia khu công nghiệp được bắt đầu xây dựng vào năm 1954 nhưng

mãi đến giữa những năm 90 số khu công nghiệp ở nước này đã lên đến 139 KCN

Ở Aán Độ năm 1966 có 283 KCN và đến năm 1979 có 705 KCN Sau đó hàng loạt

các khu công nghiệp ở các nước lân cận đã được ra đời như KCN Thẩm Quyến ở

Trang 14

Trung Quốc , KCN Kualalampua, Clac ở Philippines :4.400 ha, Subic :200 ha ,

bangpakong ở Thailand :650 ha, Giacacta ở Indonesia :320 ha

Thật vậy , đã từ lâu người ta coi KCN như là một động lực của chính sách

công nghiệp , song không phải nước nào cũng đạt được sự thành công đó Vào năm

1988 , theo World Bank, ở châu Á số lượng khu công nghiệp được đánh giá là

không thành công vào khoảng 50% với những lý do sau :

- Không thu hút được các nhà đầu tư

- Trị giá xây dựng ban đầu quá cao

- Việc làm nghèo nàn

- Xây dựng quá nhiều các tiện nghi đi trước nhu cầu

- Dựa quá nhiều vào nguồn trợ cấp của nhà nước

Từ những năm 1960 Liên hiệp quốc bắt đầu nghiên cứu và tổ chức các hội

thảo về khu công nghiệp với tư cách là một công cụ phát triển Thời kỳ 1977-1990

World Bank đã tích cực hỗ trợ cho các dự án về KCN và khu chế xuất (KCX) ở một

số nước đang phát triển , nhưng họ thường gắn với việc tư nhân quản lý như là một

điều kiện của sự hỗ trợ này Tuy vậy đại bộ phận các khu công nghiệp ở châu Á

đều do nhà nước quản lý và điều hành Cho đến nay do tính ưu việc của nó ,KCN

đã phát triển trên toàn thế giới và mang lại hiệu quả to lớn về mặt phát triển công

nghiệp , tăng GDP , tăng xuất khẩu ,tăng thu nhập và việc làm , tăng thu cho ngân

sách Kinh nghiệm của các KCN thành công thường là phải có vị trí phù hợp,gần

vùng đô thị chính ,nhân công rẻ, giao thông thuận lợi ,điện ,thoát nước, và các dịch

vụ tốt , bộ máy hành chính gọn nhẹ, có hiệu quả, các cơ sở vật chất khác phải phù

hợp với nhu cầu các nhà đầu tư và lượng công nhân trong khu công nghiệp

1.2.2 Khu công nghiệp và các hình thức của khu công nghiệp

Ở các nước đang phát triển , tuy có nhu cầu lớn về vốn và công nghệ nhưng

do trình độ kỹ thuật ,trình độ quản lý ,điều hành ,cơ sở hạ tầng còn hạn chế nên

việc tiếp nhận các yếu tố về vốn , trình độ kỹ thuật , trình độ quản lý chưa thể

diễn ra trên quy mô rộng toàn quốc mà chỉ có thể lựa chọn bố trí ở một số vùng

lãnh thổ có những điều kiện thuận lợi nhất định

Tùy vào điều kiện kinh tế xã hội ,địa lý cũng như chính sách kinh tế của

từng quốc gia , từng khu vực mà chính phủ mỗi nước lựa chọn mô hình kinh tế cho

phù hợp với quốc gia của mình Theo chương trình môi trường liên hiệp quốc xếp

các loại hình khu công nghiệp trên thế giới thuộc loại bất động sản công nghiệp

bao gồm :

- Khu chế xuất (Export Processing Zones); Khu sản xuất hàng thay thế nhập khẩu

(Import Processing Zones); Khu công nghiệp ( Industrial Processing Zones ); Khu

công nghệ cao ( High –Tech Industrial Zones ); Khu vực kinh tế tự do (Free

Economic Zone –FEZ); Khu mậu dịch tự do (Free Trade Zone –FTZ); Đặc khu

kinh tế

1.2.2.1 Khu chế xuất ( Export Processing Zones : EPZ )

Đây là loại đặc khu kinh tế có diện tích tương đối nhỏ , có hàng rào phân

cách về địa lý trong một quốc gia , không có dân cư sinh sống nhằm thu hút các

Trang 15

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và các dịch vụ cho sản xuất hàng

xuất khẩu Khu chế xuất được hưởng nhiều ưu đãi ; nhất là ưu đãi về thuế và thủ

tục hải quan , song đòi hỏi phải xuất khẩu gần như toàn bộ sản phẩm Khu chế

xuất do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập

1.2.2.2 Khu sản xuất hàng thay thế nhập khẩu ( Import Processing Zones IPZ )

Đây là hình thức được áp dụng chủ yếu ở các nước Đông Á và Đông Nam Á

nhằm phục vụ cho chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu Tại khu

vực này chủ yếu thu hút các ngành công nghiệp chế tạo , sản xuất các mặt hàng

thay thế nhập khẩu và chế biến các nguyên liệu thô trong nước

1.2.2.3 Khu công nghiệp ( Industrial Processing Zones )

Là hình thức tổng hợp của EPZ và IPZ đã nêu ở trên , các khu công nghiệp

này có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của các nước trong khối

ASEAN hiện nay vì nó vừa kích thích xu hướng sản xuất hướng ra xuất khẩu , vừa

động viên phát triển sản xuất thay thế hàng nhập khẩu và chế biến nguyên liệu thô

trong nước Nơi đây thu hút các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp

và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp , có ranh giới địa lý xác định ,

không có dân cư sinh sống , do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định

thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất

Theo quy chế khu công nghiệp của Chính phủ Việt nam thì khu công

nghiệp và khu chế xuất có những điểm giống và khác biệt như sau :

*KCN và khu chế xuất đều sản xuất hàng công nghiệp , phần lớn là hàng

tiêu dùng , áp dụng cơ chế quản lý đơn giản , thuận tiện , trong khu không có dân

cư sinh sống

*Khu chế xuất có đặc điểm khác với khu công nghiệp là khu chế xuất xuất

khẩu 100% sản phẩm , trong khi đó sản phẩm được sản xuất từ khu công nghiệp

được sử dụng một phần thị trường trong nước

Quan hệ giữa khu chế xuất với thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương ,

do đó không tranh chấp với sản xuất trong nước, không ảnh hưởng đến quỹ ngoại tệ

của Nhà nước Trong quan hệ này, không coi KCX là một thị trường khép kín, chỉ

dành xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài mà KCX còn có mối quan hệ hữu cơ với

thị trường trong nước, thúc đẩy sản xuất trong nước cùng phát triển thông qua việc

mua nguyên vật liệu, bán thành phẩm từ thị trường nội địa vào KCX nhằm tăng

hàm lượng quốc gia của sản phẩm sản xuất tại Việt Nam

1.2.2.4 Khu công nghệ cao (High-Tech Industrial Zone)

Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị

hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triển khai khoa

học - công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do

Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghệ

cao có thể có doanh nghiệp chế xuất

Trang 16

1.2.2.5 Khu vực kinh tế tự do (Free Economic Zone - FEZ)

Khu vực kinh tế tự do thường có không gian địa lý rộng lớn hơn EPZ hay

IPZ, đồng thời các loại hình kinh tế cũng bao gồm nhiều loại hình phong phú hơn

Bên cạnh công nghiệp chế tạo, FEZ còn có các hoạt động tài chính, thương mại

vận tải… Khu vực kinh tế tự do đã được Trung Quốc áp dụng để thử nghiệm mô

hình kinh tế thị trường mở ở nước này

Khác với KCN, KCX là những khu vực không có dân cư sinh sống, còn khu

kinh tế tự do có diện tích lên đến hàng chục hàng trăm Km2 với dân số hàng triệu

người, tức là ngang với qui mô của một huyện hoặc một tỉnh

1.2.2.6 Khu mậu dịch tự do (Free Trade Zone FTZ)

Loại hình này thường được áp dụng cho các thành phố có diện tích tương đối

nhỏ nhưng có vị trí địa lý đặc biệt Trước đây FTZ thường chỉ có chức năng phát

triển quan hệ thương mại tự do với các nước khác nhưng hiện nay các hoạt động

khác như tài chính, bảo hiểm, vận tải, nghiên cứu và phát triển (R & D) cũng đã trở

thành các chức năng quan trọng của nó

1.2.2.7 Đặc khu kinh tế

Là một khu vực địa lý nhất định, có dân cư sinh sống, được Chính phủ dành

cho những qui chế đặc biệt so với các vùng khác của đất nước Quy chế này bao

gồm các điều khoản ưu đãi về thuế, về chế độ hải quan, về giá thuê đất, về sử

dụng cơ sở hạ tầng và ngoại tệ, về cung cấp lao động …

Khác với các mô hình khác, đặc điểm của đặc khu kinh tế là mặc dù vẫn có

một ranh giới hành chính, nhưng sự phát triển của khu vực không bị giới hạn bởi

ranh giới này Việc phát triển đặc khu tạo điều kiện cho việc tăng cường mối quan

hệ kinh tế với các vùng khác của quốc gia và đồng thời phát huy tối đa các tác

động tích cực về đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực Mô

hình đặc khu kinh tế có một cơ cấu kinh tế đa ngành dựa vào một cấu trúc đô thị

hiện đại với các dịch vụ cơ sở hạ tầng phát triển Các nước phát triển tận dụng các

điều kiện thuận lợi của đặc khu kinh tế để thực hiện chuyển giao công nghệ, tăng

hiệu quả đầu tư , tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá

1.2.3 Vai trò của khu công nghiệp đối với sự nghiệp CNH-HĐH

Thứ nhất: KCN tạo ra công ăn việc làm Theo kết quả điều tra của Ngân hàng Thế

giới, đến nay tổng số việc làm chỉ tính riêng trong các KCX đã lên tới 4-5 triệu chỗ

(con số này tăng nhanh so với giữa thập kỷ 80 là 500.000 chỗ), trong đó Châu Á là

nơi tạo ra nhiều việc làm nhất, chiếm tới 76,59% tổng số chỗ

Thứ hai: KCN góp phần đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu ngoại tệ do việc phát triển

sản xuất hàng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu Ở một số nước , KCN đã góp

phần đáng kể cho việc đẩy mạnh xuất khẩu Ví dụ như Malaixia: giá trị xuất khẩu

từ KCN chiếm 30% trong tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế biến, ở Mêhico

là 50% và giá trị mới tạo ra ở các KCN nói chung vào khoảng 25% Trong đó có

tới 70% là chi phí về lao động , 30% còn lại là chi phí về thuê nhà, tiện nghi giao

thông và dịch vụ … Vì thế thu nhập ròng về ngoại tệ từ KCN chỉ khoảng 15-20%

Trang 17

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

giá trị xuất khẩu Tuy nhiên đó cũng là một con số đáng kể đối với những nước

đang khan hiếm ngoại tệ

Thứ ba: KCN là một công cụ quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài

KCN với những ưu đãi đặc biệt so với sản xuất trong nước đã trở thành môi

trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó giúp cho nước chủ nhà có thêm

vốn đầu tư, tiếp cận kỹ thuật và công nghệ mới, học được phương cách quản lý

hiện đại Theo Ngân hàng Thế giới, các dự án thực hiện trong KCN hầu hết do các

nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực hiện (khoảng 43%

các dự án do đầu tư trong nước thực hiện, 24% do liên doanh với nước ngoài và

33% do các nhà đầu tư thực hiện) Do vậy KCN đã đóng góp đáng kể trong việc

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Ví dụ ở Đài Loan và Malaixia, trong

những năm đầu phát triển, KCN đã thu hút khoảng 60% số vốn FDI

Thứ tư: phát triển KCN còn tạo ra sự tác động trở lại đối với phát triển trong nước

thông qua việc KCN sử dụng vật liệu trong nước, thực hiện lắp ráp và chế biến lại

cho KCN

Ở một số nước có lợi thế , tỷ lệ này khá cao Ví dụ như ở Hàn Quốc tỷ lệ

này tăng từ 3% năm 1971 lên 34% năm 1979 duy trì từ đó đến nay Tuy nhiên ở

một số nước, mối liên hệ này không phát triển, như ở Malaixia, tỷ lệ vật liệu trong

nước cung cấp cho KCN chỉ khoảng 2,9% (từ năm 1980 đến năm 1982)

Thông qua dịch vụ lắp ráp và chế biến sản phẩm cho KCN , số lao động

tăng đáng kể Ở Hàn Quốc năm 1985, số lao động này chiếm tới 25,7% Trong đó

đặc biệt là dịch vụ, dệt may, số lao động chiếm tới 61% trong tổng số lao động của

ngành

1.3 KINH NGHIỆM HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC

NGOÀI TẠI MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP Ở CHÂU Á

1.3.1 Khu công nghệ cao Tân Trúc – Đài Loan

Khu công nghệ cao Tân Trúc – Đài Loan được khôi phục từ năm 1980 do ủy

ban khoa học Đài Loan tổ chức triển khai với diện tích 2.100 ha Với ý thức học

hỏi từ mô hình KCN silicon của Mỹ , Đài Loan đã sớm thành công với khu công

nghiệp Tân Trúc Đến 1995 KCN Tân Trúc có 180 công ty với 42.257 người làm

việc với cơ cấu nhân lực : 31% có bằng đại học trở lên, trong đó có 521 người có

bằng tiến sĩ Lượng trao đổi hàng hoá năm 1995 đạt 857.234 tấn , trong đó xuất

khẩu 600.000 tấn , tổng doanh thu năm 1995 đạt 11 tỷ USD bằng 3,6% thu nhập nội

địa của Đài Loan KCN Tân trúc rất chú trọng đến việc phát triển công nghệ ,

khuyến khích sáng chế mới và đưa vào áp dụng với quy mô lớn , trong khoảng thời

gian từ 1991-1995 đã có 637 sáng chế của các công ty nội địa và 745 sáng chế của

các công ty nước ngoài đã được đưa vào sử dụng , đặc biệt là các sáng chế trong

lĩnh vực mạch tích hợp và các thiết bị ngoại vi tính , đây cũng là hai lĩnh vực công

nghệ được ưu tiên tại đây Trong năm 1995 , doanh thu của 2 lĩnh vực này chiếm

đến 90% doanh thu của toàn khu

Trang 18

Đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu phát triển : Nguồn nhân lực cung cấp

cho Tân Trúc chủ yếu từ hai trường đại học Tân Hoa và Giao Thông , mỗi năm

6.000 người Ngân sách nhà nước chi cho đào tạo từ 50-100% kinh phí , phần còn

lại do công ty tài trợ

Viện nghiên cứu công nghệ ITRT là nơi xuất phát các công trình nghiên cứu

cho khu Năm 1995 nguồn thu của viện đạt 534 triệu USD, trong đó 11% từ các

hợp đồng dịch vụ , các công ty tại khu Tân Trúc hàng năm chi cho nghiên cứu phát

triển khoảng 31 triệu USD

Khi các công ty muốn tham gia đầu tư vào khu công nghiệp Tân Trúc ,sẽ

được quy định rõ ràng : công ty nào đầu tư vào khu phải theo lĩnh vực công nghệ

định hướng , đầu tư cho nghiên cứu hàng năm không dưới 5% doanh thu , riêng

công ty nước ngoài trong 3 năm phải nội địa hóa 50% nhân viên kỹ thuật Tuy

nhiên các công ty trong khu được ưu đãi nhiều về tài chính như : miễn thuế nhập

khẩu thiết bị , thuế lợi tức tối đa 20% thuế lợi tức chuyển ra nước ngoài 2%, đối

với những công ty làm ăn tốt chính phủ có thể đầu tư vốn đến 44%

Xét về cơ cấu vốn đầu tư tại Tân Trúc : đa phần là vốn đầu tư của tư nhân

trong nước , cụ thể năm 1994 tư nhân trong nước 77%, nhà nước 10%, nước ngoài

13% ;năm 1995 tư nhân trong nước 87,9% ; nước ngoài 10,4% ; Hoa Kiều 1,7%

Đây là mô hình KCN phát triển theo hướng chuyên môn hóa công nghệ mũi

nhọn mà Đài Loan có thể vươn tới

1.3.2 Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến –Trung Quốc

Là một trong năm đặc khu kinh tế được thành lập từ năm 1980 và cùng nằm

ở bờ biển phía đông nam Trung Quốc ,Thẩm Quyến được đánh giá là một trong các

KCN thành công nhất Cũng như các đặc khu kinh tế khác , việc quyết định thành

lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến là nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài , thu hút

công nghệ , kỹ thuật cao và nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hóa sản phẩm

Theo quy hoạch , đặc khu Thẩm Quyến được phát triển qua 3 giai đoạn :

1 Giai đoạn 1 : 1980-1985 : Khai phá , san lấp mặt bằng , xây dựng cơ sở hạ tầng

2 Giai đoạn 2 : 1986-2000 : Đây là giai đoạn thu hút vốn đầu tư nước ngoài để

hình thành và phát triển đặc khu

3 Giai đoạn 3 : sau năm 2000 : Hoàn thiện , nâng cấp và phát triển

Qua 16 năm, từ một thị trấn nhỏ bé , kém phát triển , đời sống nhân dân khó

khăn , Thẩm Quyến ngày nay là một thành phố hiện đại có 3,6 triệu dân với những

thành tựu kinh tế to lớn đã được xếp thứ nhất trong 616 đô thị của Trung Quốc

.Những thành tựu này được thể hiện qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế cụ thể như

sau :

Tốc độ tăng GDP bình quân từ 1979-1996 là 34,3%/ năm , trong đó riêng

công nghiệp tăng 53,7%/ năm , tài sản cố định tăng 45%/ năm

Đến hết năm 1996, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có 18.349 dự án đầu tư

vào Thẩm Quyến được ký kết với số vốn đăng ký trên 23 tỷ USD trong đó đã thực

hiện được 11,9 tỷ , và hiện đang có gần 14.000 xí nghiệp do nước ngoài đầu tư vốn

đang hoạt động , phần lớn các sản phẩm của các xí nhiệp này là để xuất khẩu

Trang 19

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân 48,3%/ năm Tới nay , Thẩm

Quyến xuất khẩu trên 2.000 mặt hàng khác nhau , trên 60% số sản phẩm sản xuất

đã được xuất đi trên 70 nước trên thế giới Năm 1996 , tổng kim ngạch xuất nhập

khẩu là 39,1 tỷ USD ( chiếm 20% tổng kim ngạch của cả nước ) , trong đó xuất

khẩu đạt 21,2 tỷ USD Riêng các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu

17,9 tỷ USD

Cùng với sự phát triển của đặc khu, các hoạt động tài chính – tín dụng cũng

phát triển rất nhanh Tới nay đã có 15 ngân hàng thương mại , một sở giao dịch

chứng khoán , 15 công ty tài chính , 9 công ty chứng khoán , 6 công ty quản lý đầu

tư vốn , 7 công ty bảo hiểm và 54 tổ chức tài chính ; ngân hàng nước ngoài tạo ra

giá trị GDP bằng 1/8 của cả thành phố

Những kinh nghiệm tổ chức xây dựng đặc khu và huy động vốn :

Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến được xây dựng hoàn toàn dựa vào chương

trình quy hoạch và nguồn vốn của thành phố Uûy ban quy hoạch và xây dựng

thành phố ( với hơn 100 chuyên gia từ trong và ngoài nước ) cùng với các chuyên

gia của Thẩm Quyến lập quy hoạch cho thành phố Sau đó lại cho triển khai thiết

kế quy hoạch chi tiết các hạng mục về cơ sở hạ tầng Trong quá trình triển khai xây

dựng , các ngành cung cấp điện , nước, điện thoại … chịu sự chỉ đạo của chính

quyền thành phố , theo nguyên tắc : “ thống nhất quy hoạch , thống nhất trưng thu

đất , thống nhất quản lý thi công , thống nhất sử dụng vốn “ , thực hiện triển khai

xây dựng đồng bộ , khai thác xây dựng từng phần , đầu tư thu lợi từng phần

Việc xây dựng các công trình ở Thẩm Quyến được thực hiện chủ yếu bằng

phương pháp đấu thầu Theo qui định của Thành phố , thì các nhà đầu tư phải tự bỏ

vốn xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở trong phạm vi đất đai của mình , thành

phố chỉ lo vốn xây dựng hạ tầng bên ngoài hàng rào

Việc bán quyền sử dụng đất cũng tiến hành theo phương thức đấu giá cho

thời gian sử dụng ( thường là từ 30- 50 năm ) và thu tiền ngay cho cả thời gian thuê

đã tạo ra nguồn thu rất quan trọng để thực hiện đầu tư vào các công trình hạ tầng

cơ sở đặc khu

Một biện pháp khác để tạo vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng là huy động vốn

ứng trước của những người sẽ sử dụng các công trình hoặc sẽ được hưởng lợi trực

tiếp từ công trình , khá nhiều công trình đã được xây dựng bằng biện pháp này mà

ngân sách thành phố không phải chi tiền

Về quản lý đất đai

Chính quyền thành phố Thẩm Quyến được giao toàn quyền quyết định việc

cho thuê và bán quyền sử dụng đất (kể cả quyết định giá bán) và bất cứ ai dùng đất

đều phải trả tiền, kể cả chính phủ và cơ quan nhà nước khác

Giá bán quyền sử dụng đất được thực hiện theo nguyên tắc Nhà nước chỉ thu

đủ chi phí (san lấp và xây dựng hạ tầng cơ sở ), không đặt mục tiêu kiếm lời từ đất

Giá đất được quy định theo ngành nghề Ngoài việc trả tiền mua quyền sử dụng

đất, hàng năm người thuê còn phải nộp phí sử dụng đất Theo quy định hiện nay,

toàn bộ tiền thu từ thuế đất và chi phí sử dụng đất được dành cho địa phương 60%,

Trang 20

trung ương 40% Trên thực tế, hầu hết (80%) phần dành cho TW lại quay trở lại để

đầu tư cơ sở hạ tầng cho địa phương

Chính sách thuế

Được áp dụng đối với các loại thuế lợi tức, thuế tiêu dùng và thuế giá trị gia

tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu Nói chung các loại thuế trên đều

áp dụng có ưu đãi trong đặc khu Ví dụ: thuế lợi tức trong đặc khu là 15%, thấp hơn

nhiều so với nội địa là 33%, ngoài ra còn có chế độ miễn giảm tùy theo ngành

nghề, tỷ trọng hàng xuất nhập khẩu, thời hạn hoạt động của dự án

Về vấn đề lao động

Đến cuối năm 1996 ở Thẩm Quyến có 3,6 triệu dân , trong đó chỉ có 1,03

triệu là có hộ khẩu chính thức ,còn lại là tạm trú , việc tuyển dụng lao động được

tiến hành như sau : các công ty cần lao động gửi nhu cầu ( kèm theo các tiêu chuẩn

và yêu cầu chi tiết ) tới sở lao động để tổng hợp và gửi nhu cầu đó đi các địa

phương trong toàn quốc để tuyển dụng Khi được tuyển dụng thì được cấp thẻ vào

đặc khu để làm việc , được bố trí nhà ở tập thể

Nguyên nhân thành công trong xây dựng đặc khu kinh tế Thẩm Quyến

Về khách quan

Thẩm Quyến có vị trí địa lý thuận lợi , có lực lượng Hoa kiều hùng mạnh ở

ngay bên cạnh , tuyệt đại đa số vốn đầu tư vào Thẩm Quyến là của người Hoa kiều

ở Hồng Kông ; bên cạnh đó Trung Quốc có lực lượng nhân công rẻ và có thị trường

tiêu thụ rộng lớn , việc trung Quốc thành lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến là một

cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài thâm nhập và khai thác thị trường lý tưởng này

Về chủ quan

Do các nguyên nhân cơ bản sau :

• Sự quyết tâm cao của nhà nước , trung ương và địa phương trong việc xây

dựng đặc khu

• Mạnh dạn trao quyền tự chủ cho chính quyền địa phương cả về chương

trình xây dựng và quản lý đặc khu

• Coi trọng công tác nghiên cứu ,xác định chiến lược riêng phù hợp

• Xây dựng được một môi trường đầu tư tốt, cơ sở hạ tầng hết sức thuận lợi

, kể cả hạ tầng cứng ( đường sá , điện nước , thông tin liên lạc , trường

học , bệnh viện ) và cơ sở hạ tầng mềm ( trật tự ,trị an ninh tốt , pháp

luật – chế độ chính sách ổn định , hoàn chỉnh , có ưu đãi , bộ máy quản lý

có trình độ , có trách nhiệm , thủ tục đơn giản …)

Đặc khu không chỉ hướng ra bên ngoài , mà còn duy trì chặt chẽ quan hệ với

các địa phương khác ở trong nước để phát triển Tới nay đã có 48 văn phòng đại

diện của các tỉnh ,thành phố đặt tại đặc khu , có gần 1500 dự án với tổng vốn đầu

tư trên 15 tỷ nhân dân tệ ( khoảng 2 tỷ USD ) từ các địa phương vào đặc khu

Trang 21

Chương I : Những vấn đề chung về nguồn vốn FDI và Khu công nghiệp

1.3.3 Khu công nghiệp Map Ta Phut ( Thailand )

Map Ta Phut , một trong những khu công nghiệp được đánh giá là thành

công nhất trong số hơn 20 KCN tại khu vực bờ biển phía đông đã có những nét hấp

dẫn đó

Nằm cách Bangkok 200 km nhưng con đường dẫn đến KCN Map Ta Phut lại

rất thuận tiện Từ xa lộ 13 , rẽ vào theo bảng chỉ dẫn ven đường là con đường trải

nhựa rộng có 4 làn xe Đây là con đường chính dài hơn 5 km chạy xuyên suốt khu

công nghiệp ra tận bờ biển Cắt ngang con đường này là hàng chục con đường trải

nhựa phẳng lì khác tỏa ra , len lỏi khắp khu Có lẽ muốn phát triển bất cứ KCN

nào , đường sá thuận tiện phải là yếu tố hàng đầu

Ngoài hệ thống giao thông thuận tiện , ở đây còn có hệ thống cấp nước

,công suất hơn 5.100 m3 / ngày với hệ thống thanh lọc được kiểm soát hoàn toàn

bằng máy tính Từ KCN này, một tuyến đường sắt chạy ra hòa nhập trực tiếp vào

hệ thống đường sắt quốc gia Cũng tương tự như vậy , mạch điện thoại hơn 5.000

số từ đây có thể gọi được khắp nơi trên thế giới Đáng nói nhất là hệ thống cảng

nước sâu , do phát huy lợi thế nằm cạnh biển , những người quản lý Map Ta Phut

đã xây dựng một cầu cảng cho phép tàu 50.000 tấn được cập bến ,ngay cạnh cảng

là hệ thống nhà kho , đường sắt , bốc dỡ hàng hoá hoàn chỉnh

Cơ sở hạ tầng như một tấm áo khoác là yếu tố đầu tiên để KCN gây chú ý

đối với các nhà đầu tư Ở khu công nghiệp Map Ta Phut , các nhà đầu tư được ưu

đãi về tài chính cao nhất Ngoài ra để “lấy lòng” các doanh nghiệp triệt để ,nhiều

ưu tiên còn được tạo thêm cho các nhà đầu tư đến đây : được quyền sở hữu đất ,

được đem người thân đến Thailand , được quyền đem chuyên gia và nhân viên kỹ

thuật vào làm việc

Vừa có vẻ bề ngoài hấp dẫn , vừa biết mời chào , đó chính là điều làm cho

KCN Map Ta Phut cuốn hút các nhà đầu tư Nếu vài năm trước , chọn Map Ta Phút

làm địa điểm đóng đô chỉ là vài nhà máy sản xuất hóa chất chuyên gây ô nhiễm thì

hiện nay toàn bộ diện tích hơn 900 ha đã được bít kín bởi các nhà máy lọc dầu ,

phân bón ,luyện thép ,… thuộc 46 công ty từ đủ các nước , trong đó có Mỹ, Nhật ,

Hàn Quốc

1.3.4 Khu công nghiệp Masan ở Korea ( Hàn Quốc )

KCN Masan được thành lập năm 1971, đến năm 1979 KCN này đã thu hút

được 94 nhà đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư lên đến 114,6 triệu USD ,

tạo ra hơn 31 nghìn việc làm cho người dân địa phương Hơn một nữa vốn đầu tư

đã được đầu tư vào các ngành công nghiệp điện ,điện tử trong khi đó ngành dệt lại

chiếm một tỷ lệ rất nhỏ ( ít hơn 2% ) , hơn 90% các nhà đầu tư nước ngoài trong

KCN này đến từ Nhật Bản trong khi đó có 8% là các công ty của Mỹ

Năm 1971 khi KCN bắt đầu đi vào hoạt động , các công ty trong nước chỉ

cung cấp 3,3% nguyên vật liệu và các dịch vụ cho các doanh nghiệp nước ngoài

Sau 4 năm hoạt động tỷ lệ này đã tăng dần lên 25% và đạt đến 44% vào cuối năm

1995.Kết qủa là giá trị nội địa tăng thêm từ 28% năm 1971 lên 52% năm 1979

Trang 22

Chính phủ của Hàn Quốc đã rất thành công trong việc xây dựng các mối

quan hệ hậu cần cho các doanh nghiệp nước ngoài ở trong KCN với các nhà sản

xuất trong nước nhằm biến các nhà sản xuất trong nước thành các công ty cung cấp

các hàng hoá trung gian , cung cấp nguyên liệu , ngược lại các công ty nước ngoài

trong KCN sẽ trợ giúp cho các doanh nghiệp trong nước về mặt kỹ thuật

Việc chuyển giao công nghệ rất hiếm khi xảy ra ,bởi vì theo ước tính chỉ có

khoản từ 3.000-4.000 nhân công được theo dự các khóa học đặc biệt ở tại các KCN

hay ở nước ngoài ( phần lớn là ở Nhật ) và sau đó hơn một nửa trong số họ đã rời

bỏ các doanh nghiệp nước ngoài trong KCN để về làm việc cho các doanh nghiệp

sản xuất hàng điện -điện tử trong nước ở ngoài KCN

1.3.5 Bài học kinh nghiệm

Một số KCN ở Châu Á thành công là do :

- Sự nhận thức đúng đắn của Chính phủ về việc phát triển nền kinh tế theo cơ

chế hướng ngoại dựa vào phát triển công nghiệp

- Biết đánh giá đúng tình hình và kiên trì thực hiện các chính sách lớn

- Mạnh dạn giao quyền cho các cấp Tỉnh , Thành phố

- Thực hiện nhất quán các chính sách đầu tư

- Đa dạng hóa các hình thức đầu tư nước ngoài, các mô hình kinh tế

- Làm phong phú hóa các hình thức huy động vốn xây dựng cơ sở hạ tầng

- Tổ chức quản lý một cách hợp lý và có hiệu quả các chính sách ưu đãi về tài

chính

- Môi trường trong sạch tại các KCN

Trang 23

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA

NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

Tỉnh Đồng Nai nằm trong địa bàn phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam ,

có vị trí kinh tế hết sức quan trọng Trong chiến lược " ổn định và phát triển kinh

tế xã hội đến năm 2000 " được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng

Cộng Sản Việt Nam thông qua năm 1991 đã nêu rõ nhiệm vụ phát triển của các

vùng kinh tế trọng điểm Tiếp theo đó , trong văn kiện Đại hội VIII cũng như "

Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010 ",

" Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Miền Đông Nam Bộ " và " Quy hoạch tổng

thể kinh tế xã hội vùng trọng điểm phía Nam " đã được Thủ Tướng Chính Phủ

thông qua và đề cập đến quy hoạch phát triển của tỉnh Đồng Nai nói chung và đặc

biệt là xây dựng các khu công nghiệp tập trung của Tỉnh

2.1 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH

ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA

Thực hiện chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước , với những lợi

thế của địa phương , trong nhiều năm qua Tỉnh Đồng Nai đã đạt được những kết

qủa đáng khích lệ trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài ( FDI)

Nguồn vốn FDI bắt đầu vào Đồng Nai từ năm 1989 nhưng giai đọan 1989-1991 số

dự án không đáng kể và thực tế họat động sản xuất kinh doanh của FDI bắt đầu từ

năm 1991

Đến nay tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Đồng

ai được thể hiện qua các thông số sau :

N

Giấy phép và vốn đầu tư ( đến tháng 5/1999 )

Tổng số giấy phép đầu tư được cấp : 280 giấy phép , vốn đăng ký: 4.788

triệu USD, trong đó :

• Tổng số giấy phép còn hiệu lực : 240, với số vốn đăng ký: 4.426 triệu

USD Trong đó :

- Giấy phép Bộ Kế Hoạch và Đầu tư cấp : 200, vốn đăng ký: 4.256,6 triệu

USD

- Giấy phép do UBND tỉnh cấp: 17 , vốn đăng ký 51.3 triệu USD

- Giấy phép ban quản lý KCN cấp: 24 , vốn đăng ký : 118,1 triệu USD

• Tổng số giấy phép bị thu hồi: 40 giấy phép với số vốn đăng ký 362,8

triệu USD

Trang 24

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Hình thức đầu tư

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh : 3 giấy phép ( 30 triệu USD )

* Doanh nghiệp liên doanh : 71 giấy phép ( 1.159 triệu USD )

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài :166 giấy phép ( 3.237 triệu USD),

chưa có hình thức BOT, BT, BTO

Ngành nghề đầu tư

Biểu 2.12 : Cơ cấu ngành nghề đầu tư trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai năm 1999

Có 22 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Đồng Nai , trong đó có 5 nước và

vùng lãnh thổ dẫn đầu là :

• Đài Loan : 78 giấy phép ( 976,7 triệu USD )

• Hàn Quốc : 37 giấy phép ( 755,42 triệu USD )

• Nhật Bản : 27 giấy phép ( 739,62 triệu USD )

• Malaysia : 8 giấy phép ( 613,48 triệu USD )

• Mỹ : 9 giấy phép ( 319,44 triệu USD )

Địa bàn đầu tư

Chủ yếu tập trung tại thành phố Biên Hòa ,với các huyện như : Long Thành ,

Thống Nhất , Nhơn Trạch Trong đó 71% số dự án , 77% vốn đầu tư tập trung chủ

yếu vào các KCN đã và đang quy hoạch Thu hút nhiều dự án vẫn là các khu công

nghiệp

Biểu 2.13 : Số dự án và vốn đầu tư nước ngoài phân theo khu vực

Đến tháng 5/1999, số vốn thực hiện là gần 1.700 triệu USD, đạt gần 38,4%

so với vốn đăng ký

Đã có 161 đơn vị đang sản xuất kinh doanh , 29 dự án đang xây lắp Số còn

lại đang làm thủ tục xây dựng hoặc không triển khai thực hiện

Trang 25

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Khu vực đầu tư nước ngoài tăng trưởng khá và chiếm tỷ trọng kinh tế ngày

càng lớn Năm 1998 đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 20% trong cơ cấu kinh tế

của tỉnh , 64,7% trong cơ cấu vốn đầu tư phát triển , 88 % kim ngạch xuất nhập

khẩu trên toàn địa bàn

Tổng số lao động đã tuyển dụng hơn 71.500 người , trong đó lao động nữ

46.800 người, đã thành lập được 102 tổ chức công đoàn , 7 doanh nghiệp có tổ chức

Đảng , 3 doanh nghiệp có tổ chức đoàn thanh niên

Các lĩnh vực thu hút vốn

Nhìn chung đến cuối năm 1999 các dự án được cấp phép đầu tư trên địa bàn

Tỉnh Đồng Nai chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp , chế biến nông sản

thực phẩm , chế biến lâm sản ,dệt da may mặc , cơ khí - chế tạo , lắp ráp- sữa chữa,

nhựa , sơn , phân bón , hóa chất , vật liệu xây dựng … Trong đó ngành công nghiệp

là ngành có số giấy phép cùng với số vốn đầu tư cao nhất (221 giấy phép ;

4.061.586.000 USD ) chiếm tỷ lệ 92% số giấy phép đăng ký ( 221/240 ) và với số

vốn chiếm tỷ lệ 91,76% so với tổng số vốn được đăng ký theo giấy phép Các

ngành về dệt, da , may mặc có số dự án đầu tư cao nhất 52 dự án với số vốn là

1.396.935 ( 1.000 ) USD , kế đến là ngành cơ khí chế tạo , lắp ráp - sữa chữa với

44 giấy phép cùng với 747.269.000 USD chiếm tỷ trọng 18.39% số vốn đầu tư vào

ngành công nghiệp và bằng 16,88% tổng số vốn đầu tư trên địa bàn bàn Tỉnh

Đồng Nai Trong khi đó , các lĩnh vực về nông nghiệp , lâm nghiệp , thương mại và

dịch vụ thì tình hình thu hút vốn FDI hầu như chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ : ngành

nông nghiệp , cho đến tháng 4/1999 chỉ có 10 dự án trong tổng số 240 dự án đầu tư

vào ngành này với số vốn đầu tư là 34.481.000 USD , chiếm tỷ trọng 7,79% tổng số

vốn đầu tư , cũng như đối với ngành lâm nghiệp chỉ có 2 trong tổng số 240 dự án

với số vốn 14.491.000 USD , chiếm tỷ lệ 3,27% ; ngành thương mại và dịch vụ có 4

dự án với số vốn 110.129.000 USD chiếm tỷ lệ 2,49%.Nhìn chung , các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh đã thu hút được một số lĩnh vực nhất định trong ngành

công nghiệp trong thời gian qua mà đỉnh cao của nó là vào năm 1997 số dự án thu

hút được lá 47 /211 dự án Trong năm này các dự án thu hút đầu tư đều tăng lên ở

tất cả các lĩnh vực ; như dệt da may mặc từ 7 dự án trong năm 1996 với số vốn đầu

tư 117.225.000 USD đã tăng lên 13 dự án với tổng vốn đầu tư là 222.627.000 USD,

hay lĩnh vực nhựa ,sơn, hóa chất từ 10 dự án với tổng vốn đầu tư 111.825.000 USD

đã tăng lên 14 dự án với tổng số vốn 135.736.000 USD trong năm 1997 Ngay cả

một số lĩnh vực như nông nghiệp trong năm 1997 cũng có số vốn dự án tăng lên

đáng kể từ không có dự án đầu tư trong năm 1996 đã tăng lên 4 dự án trong năm

1997 với số vốn đầu tư là 9.576.000 USD

Qua năm 1998 và đến 4 tháng đầu năm 1999 tình hình thu hút đầu tư nước

ngoài trên địa bàn Tỉnh có phần chựng lại , số dự án đầu tư vào ngành công nghiệp

đã suy giảm một cách đáng kể từ 47 dự án trong năm 1997 , sang 1998 chỉ còn có

17 dự án với số vốn đầu tư là 77.230.000 USD chỉ bằng 13,27 % so với năm 1997

và chiếm 1,9 % so với tổng số vốn đầu tư vào ngành công nghiệp trong suốt

khoảng thời gian tứ 1991 đến tháng 4/1999 Sự suy giảm vốn đầu tư trong năm

Trang 26

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

1998 được thể hiện ở tất cả các lĩnh vực như chế biến , dệt da may mặc, cơ khí chế

tạo lắp ráp ,nhựa sơn ,phân bón hóa chất …

Tình hình đầu tư nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai suy giảm trong thời

gian qua là do các nguyên nhân sau :

• Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính các nước trong khu vực

Châu Á

Trong khoảng thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng tiền tệ các nước bị khủng

hoảng áp dụng các chính sách thắt chặt tiền tệ , giảm thiểu việc đầu tư ra nước

ngoài Đồng tiền các nước bị mất giá , đã kích thích việc chuyển dòng chảy từ đầu

tư ra nước ngoài thành đầu tư trong nước có lợi hơn Các nước đang chiếm tỷ trọng

cao đầu tư tại Đồng Nai như Hàn Quốc Nhật Bản , các nước Asean …lại chính là

các nước đang bị khủng hoảng tài chính nặng nề nhất , nên Đồng Nai ít nhiều đã bị

ảnh hưởng Sự mất giá đồng tiền ở các nước bị khủng hoảng tiền tệ , khiến cho giá

thành sản phẩm sản xuất tại các nước này có sức cạnh tranh mạnh hơn so với các

sản phẩm cùng loại được sản xuất tại Việt Nam , đồng thời kích thích việc nhập

khẩu hàng hóa vào Việt Nam

Các nước ít hoặc không bị ảnh hưởng khủng hoảng tiền tệ , tạm thời đứng

ngoài xem xét , chờ đợi diễn biến trước khi quyết định có đầu tư vào Việt Nam hay

không

♦ Sự cạnh tranh trong việc thu hút vốn nước ngoài giữa các nước trên

thế giới nói chung và khu vực Đồng Nai nói riêng ngày càng gay gắt , trong đó

Việt Nam đang gặp nhiều bất lợi vì các lý do như :

- Luật pháp kinh tế của Việt Nam chưa ổn định , thủ tục hành chính còn nặng nề

hơn các nước trong khu vực

- Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật , dịch vụ còn nhiều khó khăn , chưa đồng bộ

- Giá cả điện , nước , viễn thông , tiền thuê đất … còn khá cao

- Năng suất lao động thấp

- Đồng tiền chưa có khả năng chuyển đổi được , thị trường tài chính chỉ mới phôi

thai

Nói chung ưu thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước trong khu vực đang

ngày càng giảm một cách tương đối , chủ yếu do các nước trong vùng ngày càng có

những chính sách ưu đãi hơn để thu hút đầu tư

• Sự bảo hoà về thị trường đối với một số sản phẩm

Thời kỳ đầu mở cửa , hầu hết mục tiêu đều cần thiết , quỹ đất đai còn rộng

rãi nên việc thu hút dự án ít hạn chế Sau hơn 10 thực hiện , số lượng dự án tương

đối khá , một số ngành nghề đã bảo hòa , chính sách của Nhà nước trong việc thu

hút vốn đầu tư đã bắt đầu có định hướng có chọn lọc ( ưu tiên xuất khẩu , công

nghệ kỹ thuật cao …Một khi có sự chọn lọc dự án vì mục tiêu chiến lược lâu dài , sẽ

hạn chế một số dự án trước đây được cho phép Mặc khác , khi đầu tư vào Việt

Nam, nhiều nhà đầu tư đã rất quan tâm đến thị trường Việt Nam , do đó khi thị

trường một số loại sản phẩm có dấu hiệu bảo hoà , tất yếu sẽ giảm sút các dự án

mới cùng mục tiêu sản phẩm nói trên

Trang 27

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

• Các nguyên nhân do chính sách đầu tư

Chính sách, pháp luật của Nhà nước hay thay đổi và chưa ổn định , thể

hiện ở các mặt :

* Chính sách mặt hàng một số sản phẩm chưa nhất quán

* Chính sách thuế chưa ổn định

* Chính sách ngoại hối còn cứng nhắc và kém tính hỗ trợ cho doanh

nghiệp

Biểu 2.14 : Các lĩnh vực thu hút vốn FDI trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Đơn vị tính : Số giấy phép/Vốn đầu tư (1.000 USD)

Dệt da may mặc 27/ 1.040.156 7/ 17.255 13/ 222.627 5/ 16.897 52/1.396.935

Cơ khí , chế tạo, lắp ráp,

Nguồn : Báo cáo tình hình thực hiện FDI ( Ban quản lý KCN Đồng Nai )

Bên cạnh đó một số chính sách về thị thực nhập cảnh , thủ tục hải quan tuy

đã có những nổ lực cải thiện tình hình nhưng vẫn còn nặng nề và nhiều lời than

phiền từ doanh nghiệp vốn nước ngoài ……

Các hình thức thu hút vốn

Các hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua trên địa bàn

Tỉnh Đồng Nai chỉ tập trung vào các hình thức như : hợp đồng hợp tác kinh doanh

(HĐHTKD ), Công ty liên doanh (CTLD), Công ty 100% vốn nước ngoài , trong đó

hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 69% ( 166 trên 240 dự án đầu tư ) trong đó

năm 1997 là năm có số dự án đầu tư vào cao nhất 37 trong tổng số 166 ( chiếm

22,28% tổng số dự án đầu tư theo hình thức này, kế đến là hình thức liên doanh

chiếm 29,58% ( 71 trong tổng số 240 dự án ) Những năm đầu ( thời kỳ 1991-1995 )

hình thức đầu tư bằng doanh nghiệp liên doanh chiếm tỷ trọng khá phổ biến

41/128 dự án , chiếm tỷ trọng 32% , việc tham gia trong các dự án đầu tư nước

ngoài về phía đối tác của Việt Nam trong thời gian vừa qua chủ yếu là các doanh

nghiệp quốc doanh , các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hầu như chưa có Điều

này cho thấy khu vực tư nhân tham gia vào liên doanh với đối tác nước ngoài trên

Trang 28

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

địa bàn Tỉnh Đồng Nai còn rất yếu kém cả về mặt vốn , kỹ thuật lẫn kinh nghiệm

làm ăn với đối tác nước ngoài Những năm gần đây ( từ 1996-1999 ) hình thức đầu

tư doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đang trở nên phổ biến hơn do chính sách

đối xử công bằng giữa doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước

ngoài , cụ thể năm từ năm 1996-tháng 4/1999 có 30 xí nghiệp liên doanh đầu tư

vào KCN , nhưng có đến 80 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tư , chiếm tỷ

lệ hơn gấp đôi các xí nghiệp liên doanh ( 2,66 lần )

B iểu 2.15: Các hình thức thu hút vốn trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai (Đvt: Cái)

Nguồn : Báo cáo tình hình thực hiện Vốn FDI Tỉnh Đồng Nai , 1999

Kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI

trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Đến nay , mặc dù tình hình thu hút vốn đầu tư bước ngoài trên phạm vi Tỉnh

chựng lại từ năm 1998 vì cả nước đã có sự sút giảm chung nên Đồng Nai cũng

không thể thoát khỏi sự ảnh hưởng , nhưng nhìn chung tình hình sản xuất kinh

doanh của cá doanh nghiệp FDI trong suốt khoảng thời gian từ 1995-1998 và đến

đầu tháng 4/1999 rất khả quan cụ thể giá trị sản lượng công nghiệp ( GTSLCN )

liên tục tăng từ 4.547 tỷ đồng năm 1996 lên đến 6.170 tỷ đồng trong năm 1997 và

7.650 tỷ đồng năm 1998 riêng 4 tháng đầu năm 1999 GTSLCN thực hiện đã gần

bằng 40% trong năm 1998 Trong khi đó doanh thu của các doanh nghiệp FDI cũng

liên tục tăng ; năm 1997 doanh thu tăng 250% ( 1.250/500) ; giá trị hàng xuất khẩu

tăng 4.15 lần , thu thuế ( không tính thuế XNK) tăng 1.54 lần (đạt 307,318 tỷ đồng

) so với năm 1996, năm1998 GTSLCN tăng 123,9%, doanh thu tăng 1.096 lần ( đạt

1.370 tirệu USD ) ; giá trị hàng xuất khẩu 138,8% đạt 750 triệu USD; thu thuế tăng

1.36 lần khi so sánh với năm 1997 Trong 4 tháng đầu năm 1999 tình hình sản

xuất của các doanh nghiệp FDI cũng đạt được ở mức của năm 1998 như GTSLCN

quý I /1999 đạt 2.900 tỷ đồng bằng 37,9% năm 1998, doanh thu đạt 600 triệu USD

bằng 43,79%; giá trị xuất khẩu đạt 280 Triệu USD bằng 37,3% năm 1998 …

Biểu 2.16 : Tình hình SXKD và hiệu quả của các doanh nghiệp FDI trên địa

bàn Tỉnh Đồng Nai (ĐVT: GTSLCN : Tỷ đồng; Doanh thu : Triệu USD; Giá trị

XK : Triệu USD; Thu thuế : Tỷ đồng)

Trang 29

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Thuế XNK)

Lao động đã tuyển

dụng (người)

Nguồn : Báo cáo tình hình thực hiện vốn FDI tại các KCN Tỉnh đồng Nai 1999

2.2 THỰC TRẠNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

ĐỒNG NAI

2.2.1 Tình hình quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp

2.2.1.1 Tình hình quy hoạch và thành lập các KCN

* Trước ngày 30/4/1975

Khu công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai ra đời sớm nhất cả nước Khu kỹ nghệ

Biên Hòa ( mà nay gọi là khu công nghiệp Biên Hòa 1 ) được thành lập ngày

21/5/1963 trên diện tích 511 ha, được đặt tại nơi có vị trí thuận lợi cho phát triển

công nghiệp Khi xây dựng khu kỹ nghệ Biên Hòa , vấn đề về cơ sở hạ tầng đã

được chú trọng Các nhà máy trong khu kỹ nghệ được cung cấp điện đầy đủ , được

thủy cục Sài Gòn cung cấp bình quân 25.000 m3/ ngày ,có thủy đài 8.500 m3 ( 1/3

lượng nước cung cấp ) và hệ thống ống cung cấp cho từng nhà máy Hệ thống

đường nội khu dài 15 km nhựa và 10 km sỏi đỏ Hệ thống thoát nước mưa , nước

thải đã được thiết kế nhưng không có hệ thống xử lý nước thải , hệ thống thông tin

chưa được bảo đảm Ngoài ra còn có trung tâm dịch vụ bao gồm : ngân hàng , kỹ

thuật công nghệ , maketing, câu lạc bộ …,có cư xá cho công nhân ,có bệnh xá,

trường tiểu học , viện định chuẩn

* Từ sau ngày 30/4/1975

Tính đến ngày 30/4/1975 khu kỹ nghệ Biên Hoà có 95 nhà máy , xí nghiệp

được thành lập , trong đó có 62 nhà máy đã đi vào hoạt động ,26 đang được xây

dựng , 7 đang thiết kế ; 86% đất đai trong khu kỹ nghệ được sang nhượng hoặc cho

thuê , số công nhân là 20.000 người Tuy vậy nó vẫn còn có một số nhược điểm là

xây dựng không theo quy hoạch tổng thể , do đó nhà máy thực phẩm lại được xây

dựng cạnh nhà máy ắc quy , nhà máy đường cạnh nhà máy hoá chất ,… Khí thải thì

chưa được xử lý , toàn khu không có xử lý nước thải và chất thải rắn nên đã gây tác

động rất xấu đến môi trường trong khu và xung quanh

Sau 30/4/1975 khu công nghiệp được Bộ và Tỉnh Đồng Nai quản lý Do

quản lý theo cơ chế bao cấp nên phát sinh nhiều nhược điểm : đất đai bị dân cư lấn

chiếm ( 150/ 511 ha với 5.000 dân ), đất trong hàng rào nhà máy cũng bị sử dụng

tùy tiện , sai mục đích ,lãng phí; ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng , không

ai giám sát Thông tin liên lạc cũ nát, hệ thống giao thông , chiếu sáng bị hư hại

hoàn toàn Các nhà máy chỉ chăm lo trong hàng rào , cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào

không ai quản lý , bị sử dụng bừa bãi , nhanh chóng xuống cấp , cấp nước bị thất

thoát đến 60%

Ngày 15/12/1990 được sự đồng ý của HĐBT , Tỉnh Đồng Nai đã thành lập

lại Sonadezi ( công ty phát triển khu công nghiệp Biên Hòa ) và khu công nghiệp

Biên Hòa và đây là thời gian làm cho KCN Biên Hòa có chủ trở lại Sau khi được

Trang 30

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

chỉnh trang , quy hoạch lại , khu công nghiệp Biên Hòa I chỉ còn 380/ 511 ha

Bằng nguồn vốn ngân sách cấp 8,3 tỷ đồng , công ty đã cải tạo nâng cấp 10.044 km

đường nội khu , mương thoát nước , đèn nhà bảo vệ khu công nghiệp ; xây dựng

mạng lưới thông tin 520 số bằng vốn vay Bằng vốn do các do các nhà máy đóng

góp hàng năm ( 400 đồng /m2/ năm ) , trong vòng 3 năm : 1992,1993,1994 công ty

đã thu được 3 tỷ đồng và dùng số tiền này để duy tu , bảo dưỡng đường , thoát

nước , cây xanh , bảo vệ KCN Do vậy KCN Biên Hòa I đã có nhiều thay đổi , có

thêm 4 doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài và 4 doanh nghiệp liên doanh giữa

Việt nam với nước ngoài thuê đất trong khu công nghiệp Riêng môi trường vẫn

chưa được cải tạo nhiều , chủ yếu là vẫn do các nhà máy tự làm , với 22.238 công

nhân hàng năm ,các doanh nghiệp trong khu công nghiệp nộp cho ngân sách

khoảng từ 200 đến 300 tỷ đồng Đây là khu công nghiệp tập trung có nhiều doanh

nghiệp nhà nước nhất ( 56 doanh nghiệp ) trong đó có 40 doanh nghiệp lớn , 7

doanh nghiệp trung bình , 9 doanh nghiệp còn đang thua lỗ

Ngoài việc cải tạo , nâng cấp khu công nghiệp cũ , ngay từ đầu năm 1988

Tỉnh Đồng Nai đã có những dự định thành lập những khu công nghiệp mới Ngày

24/11/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã giao đất với diện tích 376 ha của khu quân sự

Long bình cho tỉnh để thành lập khu công nghiệp Biên hòa II Ngày 7/9/1992 giấy

phép đầu tiên đã được cấp cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành

lập trong khu công nghiệp này Cho đến tháng 10/1997 tỉnh Đồng Nai đã có 17

KCN đã được quy hoạch , 8 KCN đã được Chính Phủ phê duyệt Khu công nghiệp

Biên hòa II đã cơ bản cho thuê hết 100% diện tích , khu công nghiệp Gò Dầu và

Nhơn Trạch đã thu hút được nhiều vốn đầu tư và 3 khu công nghiệp này đang dẫn

đầu về thu hút vốn đầu tư so với 45 khu công nghiệp trong cả nước ( cao hơn cả khu

chế xuất Tân Thuận )

Biểu 2.17 : So sánh một số chỉ tiêu giữa KCX Tân Thuận và KCN Biên Hòa II

Nguồn : Chương trình phát triển kinh tế đối ngïoại Tỉnh Đồng Nai đến năm 2010

Trong năm 1996 chủ tịch UBND Tỉnh Đồng Nai có quyết định số 4.451

(ngày 10/9/1996 ) về việc quản lý quy hoạch tổng thể và đầu tư xây dựng các KCN

trên địa bàn tỉnh , với tổng diện tích là 7.508 ha , gồm 13 khu công nghiệp : KCN

Biên Hòa 2 (400 ha) ,Amata ( 760 ha ) , Loteco ( 100 ha) , Tam phước (380 ha ), An

Phước ( 800 ha ), Gò Dầu (356 ha ) , Nhơn trạch ( 2.700 ha ), Long khánh ( 100 ha ),

Trang 31

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Sông Mây ( 850 ha ), Hố Nai (570 ha ), Bàu Xéo (215 ha ) , Thạnh Phú ( 177 ha ),

Xuân Lộc ( 100 ha )

Trong năm 1997 , có 3 dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập

KCN, gồm Nhơn Trạch 1 ( Tuy Hạ A mở rộng ), Nhơn trạch 2, Nhơn Trạch 3 Như

vậy , tại thời điểm này đã có 7 KCN được thành lập , với tổng diện tích là 1.928 ha

,gồm Biên Hoà 2 ( 365 ha ), Amata ( 129 ha ), Loteco (100 ha ), Gò Dầu (186 ha)

Nhơn Trạch 1 (430 ha), Nhơn Trạch 2 ( 350 ha ), Nhơn Trạch 3 ( 368 ha )

Đến năm 1998 , tiếp tục quy hoạch 6 KCN khác , có tổng diện tích 692 ha

,gồm KCN Thạnh Phú ( 177 ha ), Long khánh ( 100 ha ) , Xuân Lộc ( 100 ha ) ,

Định Quán (50 ha ) , Tân Phú ( 50 ha ) và Bào Xéo ( 215 ha ) Hai KCN : Sông

Mây và Hố Nai cũng đã được thành lập trong thời gian này

Trong năm 1999, Ban quản lý tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch 5 khu công

nghiệp , chuyển tiếp từ năm 1998 sang , gồm KCN Bào Xéo , Tân Phú , Định Quán

, Xuân Lộc , Thạnh Phú Ban quản lý đã lập tờ trình trình Uûy ban nhân dân Tỉnh ra

quyết định phê duyệt quy hoạch chung KCN Xuân Lộc , Định Quán và Tân Phú

Trừ KCN Bào Xéo , tất cả các khu công nghiệp này đã được quyết định phê duyệt

quy hoạch

Như vậy đến nay , toàn Tỉnh Đồng Nai đã quy hoạch chung xong 17 KCN ,

với tổng diện tích là 8.112 ha , gồm :

Biểu 2.18 : Tình hình quy hoạch các KCN trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Nguồn : Báo cáo của ban quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai

2.2.1.2 Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng KCN

Năm 1996 , tổng vốn thực hiện đầu tư hạ tầng của các khu công nghiệp đạt

được 35,5 triệu USD Tổng diện tích đã cho thuê là 468 ha , có 20,6 km đường giao

thông nội bộ ; 24,5 km đường cống thoát nước mưa ; tổng đài KCN Biên Hòa 712

Trang 32

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

số ( chủ yếu là ở KCN Biên Hòa 2 và KCN Gò Dầu ) Một số công trình khác như

: cấp nước , cấp điện , xử lý nước thải … mới chỉ bắt đầu tiến hành thi công hoặc

đang trong quá trình tiến hành lập dự án xây dựng

Năm 1997, tổng vốn thực hiện đầu tư hạ tầng của các KCN đạt được 56 triệu

USD Tổng diện tích đã cho thuê là 570 ha Trong năm này , tổng đài điện thoại

KCN Biên Hòa 2 và KCN Gò Dầu được bàn giao cho bưu điện Long Bình quản lý

Năm 1998, Tổng vốn xây dựng hạ tầng trong các KCN đã đạt được 65 triệu

USD

Hiện nay , tại 9 KCN Đồng Nai , tổng vốn xây dựng hạ tầng trong các KCN đã

thực hiện gần 66 triệu USD , đã cho thuê 660 ha , chiếm hơn 39% diện tích dùng

cho thuê (1.708,5 ha) gồm :

Biểu 2.19 : Diện tích đất đang được cho thuê ở các KCN địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Nguồn : Báo cáo vùng kinh tế ( ban quản lý các KCN Đồng Nai 1999 )

Như vậy, các công trình hạ tầng chủ yếu đã có trong các khu công nghiệp

gồm:

• 41,7 km đường giao thông và thoát nước mưa

• 4 trạm biến áp 110 KV/ 22 KV , với tổng công suất 176 MVA, trong đó :

Biểu 2.20 : Công suất của các trạm biến áp trong các KCN Tỉnh Đồng Nai

Nguồn : Báo cáo vùng kinh tế, Ban quản lý các KCN Đồng Nai 1999

♦ 1 máy phát điện công suất 3,2 MVA tại Loteco

♦ nhà máy khai thác và xử lý nước ngầm , có tổng công suất 15.000 m3/ngày tại

các KCN Nhơn Trạch 1, 2 , 3

♦ Công trình xử lý nước thải có tổng công suất 6.500 m3/ ngày

♦ Hệ thống thoát nước của công ty Xây Dựng Công Nghiệp tại KCN Nhơn Trạch

2 đã xây dựng được 2,6 km , trong tổng chiều dài 3 km theo quy hoạch

Trang 33

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Cho đến quý tư năm 1999, việc xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp vẫn

đảm bảo đúng tiến độ thi công , xây dựng các hạng mục hạ tầng kịp thời gọi vốn

đầu tư và phục vụ hoạt động sản xuất công nghiệp Các KCN như : Biên Hòa ,

Loteco, Amata , Gò Dầu cơ bản đã hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng Các khu công nghiệp

còn lại đang tích cực vừa xây dựng hạ tầng vừa tiếp thị gọi vốn đầu tư , các KCN

mới thành lập triển khai thực hiện quy chế khu công nghiệp , cụ thể :

♦ KCN Amata , Biên Hòa 2, Gò Dầu

Hầu hết các KCN này đã lắp đặt xong trạm 110 KV / 22 KV –40 MVA, đưa

vào vận hành 2 trạm biến áp nhỏ 110 KV / 15KV –2.600 KVA Đang xây dựng 1

nhà máy phát điện công suất 110 MW Hệ thống đường dây điện 22 KV với chiều

dài 9 km,15 km Đảm bảo đủ điện cung cấp cho sản xuất

- Hoàn chỉnh hệ thống cấp nước công suất 2.000 m3/ngày với hệ thống đường

ống chiều dài 5 km , đảm bảo đủ nước cho sản xuất

- Đường giao thông , cống nước thải , thông tin cũng đã hoàn chỉnh , đáp ứng

yêu cầu trong KCN

- Nhà máy xử lý nước thải có công xuất 1.000 m3/ ngày và 4.000 m3/ngày của

KCN Amata và KCN Biên Hòa đã được đưa vào hoạt động từ cuối tháng 5/1999

Cơ sở hạ tầng nhìn chung đảm bảo sẵn sàng tiếp nhận các dự án đầu tư mới

Nhìn chung đây là các khu công nghiệp có chất lượng các công trình hạ tầng tốt ,

tuy nhiên do giá cho thuê lại đất cao nên đang gặp khó khăn về thu hút vốn đầu tư

vào KCN

• KCN Loteco

Đây là KCN duy nhất của Tỉnh Đồng Nai có Khu chế Xuất nằm trong KCN(30

ha )

- Trạm điện công suất 3,2 MVA với hệ thống lưới điện có tổng chiều dài là 9,5

km đã hoàn chỉnh , đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất

- Hệ thống đường ống cấp nước đã hoàn chỉnh đảm bảo đáp ứng nhu cầu trong

KCN

- Đã hoàn chỉnh hệ thống đường giao thông nội khu

- Hệ thống thoát nước nước mưa , nước thải cũng đã hoàn chỉnh

- Hệ thống xử lý nước thải được xây dựng đồng bộ với các hạng mục hạ tầng

khác Đặc biệt KCN Loteco là KCN đầu tiên của Tỉnh Đồng Nai có nhà máy

xử lý nước thải với công suất 1.500 m3 /ngày đã hoàn thành và đang đưa vào

sử dụng

- Thông tin đảm bảo tốt

Việc xây dựng hạ tầng đến nay đã hoàn thành đồng bộ các công trình hạ tầng ,

đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu cho các hoạt động công nghiệp trong KCN

Đây là KCN mà các công trình hạ tầng được đánh giá thuộc loại tốt , hoàn thiện

Giá cho thuê lại đất cao Hiện tại diện tích đã cho thuê còn ít , năm 2.000 gặp

nhiều khó khăn cho việc gọi vốn đầu tư

Trang 34

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

• KCN Nhơn Trạch 1,2,3

Hiện nay, cơ sở hạ tầng trong KCN 1 đảm bảo đáp ứng tốt cho thông tin cũng

như hoạt động sản xuất công nghiệp , cụ thể một số công trình trong khu đã được

xây dựng xong như :

- Trạm điện 110 KV / 22 KV giai đoạn 1 có công suất 56 MVA ( trạm điện này

cung cấp đủ điện cho cả 3 KCN Nhơn trạch 1,2,3 ), giai đoạn 2 được triển khai xây

dựng vào năm 1999 để nâng công suất lên 80 MVA

- Nhà máy nước đợt 1 với công suất 4.500 m3 / ngày, cuối năm 1998 đưa vào sử

dụng giai đoạn 2 nâng công suất lên 10.000 m3 /ngày đêm , giai đoạn 3 sẽ được

hoàn thành vào năm 2.000 nâng tổng công suất của nhà máy lên 15.000 m3 / ngày

đêm

- Đã tiến hành triển khai khảo sát , thiết kế hệ thống xử lý nước thải với công

suất 12.000 m3 /ngày Hệ thống này đã triển khai xây dựng giai đoạn 1 công suất

4.000 m3/ ngày , giai đoạn 2 của dự án này sẽ hoàn thành vào đầu năm 2.001

- Còn đối với KCN Nhơn Trạch 2 , đây là KCN mới được Thủ Tướng Chính phủ

phê duyệt giữa năm 1997 và hiện nay đang tích cực triển khai xây dựng cơ sở hạ

tầng , tuy nhiên , công ty kinh doanh hạ tầng tại KCN này đang gặp khó khăn trong

vấn đề giải phóng mặt bằng

- KCN Nhơn Trạch 3 cũng đang tiến hành xây dựng các cơ sở hạ tầng như xây

dựng đường điện ,đường ống nước

• KCN Sông Mây , Hố Nai

Đang thực hiện giao đất và triển khai xây dựng các công trình hạ tầng

Riêng KCN Hố Nai , hiện nay các công trình hạ tầng đang bắt đầu triển khai

xây dựng và đã đầu tư 1.1 triệu USD xây dựng hạ tầng , đây là KCN có điều kiện

thuận lợi là gần lưới điện 110 KV và nhà máy nước Long Bình

2.2.1.3 Vai trò của các khu công nghiệp trong việc xây dựng Tỉnh Đồng Nai và

phát triển kinh tế vùng

Các khu công nghiệp Đồng Nai có quy mô diện tích từ 100 đến khoảng 400

ha Các KCN được bố trí ở những địa điểm hợp lý , đảm bảo việc tận dụng và phát

triển các hạ tầng kỹ thuật ngoài KCN như đường giao thông , sân bay , bến cảng ,

bưu điện , các khu dân cư , trường học … Các KCN đảm bảo môi trường , không

những tồn tại 50 năm mà còn lâu hơn, có thể hàng trăm năm trở lên

Một số các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động , sử dụng công nghệ tiên

tiến ,những tập đoàn kinh tế lớn đã xuất hiện ở KCN Đồng Nai

Sự phát triển KCN đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ;

phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp ( như Vedan, Proconco,

Cargill ) ; song song đó là phát triển ngành sản xuất thuốc cho nông nghiệp ( như

Rhône Poulenc ) ; phát triển nông nghiệp ,do các KCN cung cấp khoảng 1,2 triệu

tấn thức ăn gia súc,cá tôm tạo điều kiện phát triển công nghiệp chăn nuôi , phát

triển các vùng chuyên canh bắp, đậu …

Trang 35

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Các KCN kích thích phát triển các ngành sản xuất vật liệu xây dựng như cát

, sỏi , đá , gạch …; giao thông vận tải , phát triển cảng Đồng Nai ; Gò Dầu , phát

triển ngành chế biến , cơ khí , điện điện tử , hóa chất ( như các tập đoàn Shell ,

Mobil , Mitsui ); phát triển lưới điện ,phát triển cung cấp nước ,phát triển toàn diện

các loại hình dịch vụ ……

Các KCN với các cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng nâng cao chất lượng

như việc cung cấp điện nước giao thông , thông tin, xử lý chất thải , các dịch vụ tư

vấn đầu tư xây dựng , cung cấp lao động , xuất nhập khẩu , đời sống … Góp phần

tạo điều kiện thuận lợi cho cho các doanh nghiệp hoạt động trong KCN hạ giá

thành sản phẩm

Các KCN là khâu mở đường cho việc mở rộng và phát triển các khu đô thị ,

có thể lấy ví dụ là các KCN Gò Dầu , Vedan của huyện Long Thành phát triển

nhanh chóng đã biến xã Phước Thái nghèo nàn lạc hậu trở thành xã phát triển văn

hoá và đời sống với tốc độ cao , các khu dân cư tập trung nhanh chóng được hình

thành

Các KCN Biên Hòa 1,2, Amata ,Loteco phát triển là áp lực lớn làm mở rộng

thành phố , dân số nhanh chóng tăng lên gần 500 ngàn người Các KCN đó được

lấp đầy khả năng thành phố Biên Hòa có trên một triệu dân , tạo nên sức mạnh

mới về mọi mặt cho thành phố này 9 KCN ở Đồng Nai góp phần lớn làm thay đổi

bộ mặt của Tỉnh Các KCN phát triển có xu hướng thu hút mạnh vốn các doanh

nghiệp trong cũng như ngoài nước , ngày càng hạn chế việc phát triển các nhà máy

đan xen trong các khu dân cư

Các KCN sử dụng nhiều lao động góp phần to lớn vào việc giải quyết công

ăn việc làm cho nhân dân Có thể thấy rõ điều đó bằng các con số lao động ở các

khu công nghiệp : năm 1995 có số lao động là 8.000 người , năm 1996 có gần

21.000 người , năm 1997 có hơn 32.000 người ,, năm 1998 có 47.000 người , đến

nay đã có hơn 81.000 người

Các KCN phát triển đẩy mạnh tốc độ phát triển ngành giáo dục đào tạo

Hiện tại có hàng chục trường đào tạo nghề , trung tâm dịch vụ việc làm , trung tâm

dạy vi tính , ngoại ngữ , nhiều lớp đào tạo trung cấp , đại học ban ngày , ban đêm …

Song song đó , nó cũng thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ đào tạo cán bộ , huấn

luyện kỹ thuật hình thành đội ngũ công nhân công nghiệp ; chuyển giao công tác

quản lý do người Việt nam đảm nhận

Các KCN ngày càng đóng góp nhiều cho ngân sách : tuy mới cho thuê 39%

diện tích đất ở 9 KCN, nhưng con số đóng góp cho ngân sách thật khả quan : nộp

ngân sách năm 1995 là 12,2 triệu USD ; năm 1996 là 21 triệu USD; năm 1997 là 21

triệu USD , năm 1998 là 25,2 triệu USD ; 10 tháng đầu năm 1999 ước nộp là 39

triệu USD

Tuy các KCN ở Đồng Nai mới bước đầu phát triển nhưng cho thấy vai trò

ngày càng quan trọng trong việc thực hiện CNH, HĐH nền kinh tế , đảm bảo môi

trường , góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh Đồng Nai và

góp phần thúc đẩy kinh tế vùng

Trang 36

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

2.3 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC

NGOÀI ( FDI) VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRONG THỜI GIAN QUA

TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

2.3.1 Khái quát chung

Năm 1991 , vốn đăng ký đạt 351,38 triệu USD , trong đó do dự án Vedan –

Việt Nam ( 279 triệu USD ) được cấp phép Năm 1992 chỉ đạt 173,7 triệu USD

Đỉnh cao thu hút các dự án tại Đồng Nai là năm 1995 với 51 dự án , vốn đăng ký

1.376 triệu USD

Năm 1996 , tổng vốn đăng ký đầu tư vào các KCN trong năm là 2.358 triệu

USD , tổng vốn thực hiện đạt 573 triệu USD ( bằng 24 % tổng vốn đăng ký ) với

121 dự án

Thời điểm năm 1997 , tổng vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trong năm

là 956 triệu USD Như vậy với 150 dự án , tổng vốn đăng ký tính đến cuối năm

1997 là 3.252 triệu USD , trong đó có 133 dự án có vốn đầu tư nước ngoài , có tổng

vốn đăng ký là 3.094 triệu USD , đạt tỷ lệ 75% so với tổng số vốn nước ngoài đầu

tư vào tỉnh Đồng Nai , cũng tại thời điểm này , đã có 86 dự án đi vào hoạt động

với tổng vốn đăng ký 1.962 triệu USD , đạt 60% tổng vốn đầu tư đăng ký vào các

KCN

Trong năm 1998 , tổng vốn đầu tư vào các KCN là 234 triệu USD , bằng

24% so với năm 1997, trong đó vốn đầu tư mới là 81,2 triệu USD bằng 14% so với

năm 1997 ( 579 triệu USD ) ; vốn điều chỉnh là 152,7 triệu USD bằng 40% so với

năm 1997 ( 377 triệu USD )

Tính đến nay , kết quả đầu tư vào 10 KCN tại Đồng Nai có 199 dự án với tổng

số vốn đăng ký là 4.023 triêäu USD ,trong đó :

- 176 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 3.800,17 triệu

USD chiếm tỷ lệ 94,46% tổng số vốn đăng ký vào các KCN trên địa bàn Tỉnh

trong đó có 146 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ 75,36% cùng với

30 công ty liên doanh với số vốn đầu tư 768,34 triệu USD chiếm tỷ lệ 19% , bên

cạnh đó còn có 2 hợp đồng hợp tác kinh doanh tại KCN Biên Hoà 2 với số vốn đầu

tư 12,460 triệu USD chiếm tỷ lệ 0,3% trong tổng số vốn đầu tư vào KCN, cụ thể

như sau:

Biểu 2.21: Cơ cấu loại hình kinh doanh các KCN trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Stt Loại hình kinh doanh Số dự án Vốn đăng ký

Trang 37

Chương II : Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các khu công

nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

2.3.2 Tình hình huy động vốn FDI

Hiện nay , có trên 150 dự án đã hoạt động , với vốn đầu tư hơn 3.800 triệu

USD, chiếm tỷ lệ gần 77% so với tổng vốn đăng ký ; 11 dự án đang xây dựng với

tổng vốn đăng ký là 53,3 triệu USD ; 35 dự án chưa triển khai xây dựng với vốn

đăng ký là 887,24 triệu USD

Một số ngành nghề chủ yếu có vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp

Tỉnh Đồng Nai tính đến nay như sau :

Biểu 2.22 : Tổng hợp các dự án đầu tư nước ngoài vào các KCN trên địa bàn

Tỉnh Đồng Nai phân chia theo ngành kinh doanh

Stt Ngành kinh doanh Số dự

án

Vốn đăng ký (Triệu USD )

Tỷ lệ%/tổng vốn đầu tư

1 Cơ khí luyện kim + các sản phẩm từ

kim loại 45 284,4 0,08

2 Linh kiện điện , điện tử 18 445,6 0,13

3 Hóa chất , cao su ,nhựa 46 171 0,03

4 Sợi ,dệt ,may mặc ,giầy, dép 39 1.254 0,37

5 Chế biến thực phẩm, thức ăn gia súc 11 265,4 0,07

6 Các ngành nghề khác 19 1379,77

Tổng số 178 3.800,17

Nguồn : Báo cáo của Ban quản lý các KCN Tỉnh Đồng Nai ( 1999 )

Nhìn chung , các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các KCN trên địa bàn

Tỉnh Đồng Nai chủ yếu tập trung vào các ngành như cơ khí luyện kim, lắp ráp linh

kiện điện , điện tử ; hóa chất ,cao su, nhựa; các ngành về sợi ,dệt, may mặc , giầy

dép; chế biến thực phẩm , thức ăn gia súc Trong các ngành nghề đầu tư vào các

KCN thì ngành hóa chất ,cao su nhựa và ngành cơ khí luyện kim là có số dự án cao

nhất , 2 ngành này chủ yếu tập trung tại các KCN Biên Hoà 2 , Gò Dầu Ở KCN

Gò Dầu trong số 14 dự án đầu tư nước ngoài đầu tư vào đây thì đã có 8 dự án đầu

tư vào ngành phân bón , hóa chất chứng tỏ đây là KCN thu hút một lượng lớn nhu

cầu vốn cho việc phát triển ngành hóa chất , thể hiện là việc đầu tư của một số

công ty nước ngoài như công ty Vedan Việt Nam với số vốn đầu tư hơn 300 triệu

USD, hay công ty Hoá chất VLG chuyên sản xuất hoá chất DOP và các công ty

khác như : Công ty phân bón hoá chất Việt Nhật , Công ty hóa chất Shell -Việt

Nam, công ty UIC Việt Nam ( sản xuất các loại chất tẩy rửa LAS và SLS/ SLES)

Trong khi đó ở KCN Biên Hoà 2 , các doanh nghiệp sản xuất hóa chất gồm có :

Công ty Nippon Paint ; đây là công ty 100% vốn đầu tư của Nhật tại Đồng Nai với

số vốn đầu tư hơn 19 triệu USD, hay công ty Technopia Việt Nam chuyên sản xuất

thuốc sát trùng v v

Ngành cơ khí , luyện kim được tập trung tại 2 KCN Biên Hoà 2 và KCN Hố

Nai Ở KCN Biên Hoà 2 , số lượng các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này

chiếm đến 30% tổng số dự án đầu tư vào KCN này , và chiếm 60% trên tổng số dự

án đầu tư vào các KCN trên địa bàn Tỉnh Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư

Ngày đăng: 02/12/2015, 10:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức thích hợp. Song nhìn chung hình thức liên doanh tỏ ra là hình thức được - hoàn thiện các biện pháp huy động vốn đầy tư trực tiếp từ nước ngoài
Hình th ức thích hợp. Song nhìn chung hình thức liên doanh tỏ ra là hình thức được (Trang 9)
Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 69% ( 166 trên 240 dự án đầu tư ) trong đó - hoàn thiện các biện pháp huy động vốn đầy tư trực tiếp từ nước ngoài
Hình th ức 100% vốn nước ngoài chiếm 69% ( 166 trên 240 dự án đầu tư ) trong đó (Trang 27)
Hình thức đầu tư  91-95  1996  1997  1998  4/1999  Tổng - hoàn thiện các biện pháp huy động vốn đầy tư trực tiếp từ nước ngoài
Hình th ức đầu tư 91-95 1996 1997 1998 4/1999 Tổng (Trang 28)
Hình thức đầu tư - hoàn thiện các biện pháp huy động vốn đầy tư trực tiếp từ nước ngoài
Hình th ức đầu tư (Trang 39)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w