Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi .... Với lĩnh vực phát triển nhận thức, chương trình mới coi t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thu Hiền
THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI Ở QUẬN
BÌNH TÂN TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thu Hiền
THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN LĨNH VỰC
TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI Ở QUẬN
BÌNH TÂN TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Giáo dục học (Mầm non)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ NGỌC CHÚC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở nghiên cứu nào khác
Học viên
Nguyễn Thu Hiền
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên của gia đình Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Quý Thầy Cô Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sài gòn, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập chương trình cao học tại trường Đại học Sư phạm Thành
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô trong hội đồng bảo vệ đề cương và hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thành tốt luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hiền
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
M Ở ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 M ục đích nghiên cứu 7
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7
5 Gi ả thuyết nghiên cứu 8
6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 Đóng góp của đề tài 9
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI 10
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 10
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 12
1.2 Lý lu ận về việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo d ục trẻ 5-6 tuổi 14
1.2.1 Các khái niệm công cụ của đề tài 14
1.2.2 Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 16
1.2.3 Mục tiêu giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 20
1.2.4 Những kỹ năng cơ bản cần phát triển cho trẻ trong lĩnh vực PTNT 20
1.2.5 Nội dung của lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi 20
1.2.6 Hình thức và phương pháp thực hiện lĩnh vực PTNT trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi 21
1.2.7 Xây dựng môi trường giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi 30
1.2.8 Đánh giá sự phát triển nhận thức của trẻ 5-6 tuổi 33
1.2.9 Tiêu chí đánh giá việc thực hiện lĩnh vực PTNT trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi của GVMN 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NH ẬN THỨC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ 5-6 TUỔI Ở QU ẬN BÌNH TÂN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36
Trang 62.1 Vài nét v ề địa bàn nghiên cứu và khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng 36
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 36
2.1.2 Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng 37
2.2 K ết quả nghiên cứu thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân 40
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi 40
2.2.2 Thực trạng thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi 49
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO D ỤC TRẺ 5-6 TUỔI Ở QUẬN BÌNH TÂN TP HCM 62
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 62
3.1.1 Cơ sở lý luận 62
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 63
3.2 M ột số biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân 63
3.2.1 Tập huấn giáo viên thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi 63
3.2.2 Hỗ trợ giáo viên về kỹ năng thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi 65
3.2.3 Tôn trọng sự tự do trong ý tưởng, trong cách làm của mỗi GV; động viên, khuyến khích, khen thưởng GV kịp thời 65
3.3 Kh ảo sát tính khả thi của một số biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện lĩnh v ực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân66 3.4 Th ử nghiệm một số biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện lĩnh vực phát triển nh ận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân 69
3.4.1 Mục đích thử nghiệm 69
3.4.2 Thời gian, phạm vi, đối tượng thử nghiệm 69
3.4.3 Điều kiện tiến hành thử nghiệm 70
3.4.4 Nội dung thử nghiệm 70
3.4.5 Tiêu chí đánh giá thử nghiệm 70
3.4.6 Tổ chức thử nghiệm 75
3.4.7 Phân tích kết quả thử nghiệm 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 85
PH Ụ LỤC 89
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Trường mầm non thực hiện quá trình giáo dục trẻ song song với quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Điều lệ trường mầm non mới nhất được Bộ GD và ĐT ban hành năm 2008 quy định rõ: “Trường mầm non tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
em từ 3 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành…” Như vậy, việc thực hiện chương trình giáo dục là việc nhất thiết các trường mầm non phải thực hiện GDMN nước ta đã trải qua hơn 60 năm hình thành và phát
triển, cùng với quá trình đó, chương trình GDMN cũng đã trải qua rất nhiều lần được xây dựng, chỉnh sửa, đổi mới cho phù hợp với yêu cầu mới của xã hội cũng như chuẩn bị đầy đủ
về thể chất và tâm lý cho trẻ vào học ở trường phổ thông
Từ năm học 2009-2010, Bộ GD và ĐT triển khai áp dụng Chương trình giáo dục mầm non mới Nội dung giáo dục của chương trình được xây dựng và cấu trúc theo các lĩnh vực: phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ; phát triển tình cảm –xã hội và phát triển thẩm mĩ Với lĩnh vực phát triển nhận thức, chương trình mới coi trọng việc tạo hứng thú cho trẻ trong các hoạt động nhận thức; chú ý việc phát triển các kỹ năng cho trẻ, chú ý phát triển tính sáng tạo, tạo cho trẻ cách học, cách suy nghĩ, cách tư duy; quan tâm hình thành và phát triển khả năng biểu đạt suy nghĩ của trẻ
Giáo dục mầm non có một ý nghĩa quan trọng đối với việc chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đi học cũng như tập cho trẻ làm quen với những sinh hoạt gần gũi với hoạt động học tập Để
có thể học tập tốt ở lớp 1, trẻ cần phải có sự rèn luyện về các thao tác trí tuệ, có sự hiểu biết
về bản thân, gia đình, môi trường xung quanh, các biểu tượng về thời gian, không gian đồng thời có kỹ năng thực hiện hoạt động trí óc như biết so sánh, phân tích, tổng hợp Vì vậy, việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo viên khi thực hiện chương trình giáo dục cho trẻ 5 tuổi
Tuy chương trình GDMN mới ra đời đã thay đổi tư duy của nhiều giáo viên mầm non,
nhưng trên thực tế, việc thực hiện chương trình này, đặc biệt là việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ 5 tuổi, vẫn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập Mỗi giáo viên đều thực hiện theo cách thức và quan điểm riêng của mình cho nên việc thực hiện chưa thật sự đi vào chiều sâu và đúng hướng Mặt khác, vẫn còn một số giáo viên MN chưa đầu tư suy nghĩ, tìm tòi, còn ngại đổi mới nên hiệu quả thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ 5 tuổi
Trang 9chưa cao Kết quả điều tra khảo sát EDI* năm 2011-2012 trên trẻ 5 tuổi cho thấy rằng một nửa số trẻ được khảo sát bị thiếu hụt ở ít nhất một lĩnh vực phát triển hoặc có nguy cơ bị thiếu hụt, trong số đó tỉ lệ bị thiếu hụt cao nhất là giao tiếp và hiểu biết chung, tỉ lệ cao thứ
ba là ngôn ngữ và phát triển nhận thức [4]
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng thực hiện việc giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non quận Bình Tân, thành phố
Hồ Chí Minh
2 M ục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non ở Quận Bình Tân, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân
* EDI là một công cụ đánh giá về mức độ sẵn sàng đi học của một nhóm trẻ (5 tuổi) trên năm lĩnh vực phát triển của trẻ bao gồm: lĩnh vực ngôn ngữ và nhận thức, giao tiếp và hiểu biết chung, phát triển tình cảm, năng lực xã hội, thể chất và tâm lý Trẻ thiếu hụt hoặc có nguy cơ thiếu hụt là
số trẻ nằm trong nhóm 10% hoặc 10%-25% điểm số thấp nhất
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi
Việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi
Trang 105 Gi ả thuyết nghiên cứu
Việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại Quận Bình Tân còn nhiều hạn chế như: việc xây dựng kế hoạch, việc tổ chức các hoạt động giáo dục nhận thức, việc xây dựng môi trường và việc đánh giá sự phát triển nhận thức của trẻ chưa đạt hiệu quả cao Nếu những biện pháp mà tác giả đề xuất được đưa vào triển khai thực hiện tốt trong các trường mầm non thì sẽ nâng cao được chất lượng thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
• Nghiên cứu việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi của giáo viên ở tháng 10,11,12/2012, 1, 2, 3 /2013
• Chỉ nghiên cứu các tiết học có thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức
• Việc áp dụng các biện pháp thực nghiệm chỉ dừng ở mức thử nghiệm bước đầu
- Về địa bàn nghiên cứu:
• Nghiên cứu thực trạng ở 4 trường mầm non Hương Sen, trường mầm non 19/5, trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Sen Hồng – Quận Bình Tân
• Chỉ tiến hành thử nghiệm ở trường mầm non Sen Hồng – Quận Bình Tân
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Tập hợp, thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp lý luận về việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non
- Đối tượng quan sát: Giáo viên, trẻ 5-6 tuổi
- Nội dung quan sát: Các tiết học thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức
- Đối tượng điều tra: Giáo viên dạy lớp 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại Quận Bình Tân
- Nội dung điều tra:
Trang 11 Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi
Tìm hiểu cách thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi của giáo viên
Tìm hiểu về khó khăn của giáo viên trong việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi
7.2.5 Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thử nghiệm một số biện pháp để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất trong đề tài nghiên cứu
Xử lý số liệu thu được bằng phần mềm SPSS for Windows 16.0
Trang 12C HƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN LĨNH VỰC PHÁT
5-6 TUỔI 1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhận thức là hoạt động đặc trưng, là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người Nhờ nhận thức mà con người làm chủ được tự nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ được bản thân Nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau thể hiện những mức
độ phản ánh khác nhau bao gồm cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng Vì là một thành phần không thể thiếu được trong tâm lý người và có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý người nên nhận thức được rất nhiều nhà tâm lý, giáo dục quan tâm nghiên cứu
Nghiên cứu về tri giác, J Piaget [32] cho rằng tri giác là một trường hợp riêng của những hành động cảm giác – vận động Tri giác cho thấy mặt tượng hình của nhận thức về hiện thực Cùng với hành động và thao tác, tri giác có vai trò quan trọng trong sự tiến hóa trí tuệ của trẻ em
Các nhà tâm lý V Kelera, K Koffa, M Vertdeimela [32] xem tri giác là những tổng thể với cấu trúc nhất định chứ không phải là sự kết hợp của các cảm giác đơn lẻ
Theo M Peuchlin [32], tri giác là một cơ chế điều chỉnh của hoạt động thích nghi Tri giác đem lại một tập hợp những thông tin chọn lọc và được cấu trúc tùy theo kinh nghiệm, nhu cầu của cơ thể trước một đối tượng nào đó
Nhà tâm lý học Liên Xô L X Vưgôtxki [32] thì cho rằng những thay đổi cơ bản trong sự phát triển tri giác xuất hiện liên quan với việc thay đổi trong cấu trúc tâm lý mới Điều này được nhà tâm lý giải thích là ban đầu tri giác của con người gắn liền với vận động
và các quá trình xúc cảm Cùng với sự phát triển của trẻ, những liên hệ cảm xúc đầu tiên của những xúc cảm mạnh và vận động bị phá vỡ và các mối liên hệ trung gian mới giữa tri giác
và trí nhớ được hình thành Trẻ tri giác dựa trên việc sửa đổi những kinh nghiệm cũ và những hình ảnh đã được hình thành trước đó Điều này làm xuất hiện các thuộc tính quan trọng của tri giác Và khi sự phát triển đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xuất hiện mối liên
hệ giữa tri giác và tư duy ngôn ngữ ở những quá trình tri giác trí tuệ, tạo nên một cấu trúc
Trang 13tâm lý mới Ở lứa tuổi mầm non tri giác liên quan chặt chẽ với tư duy cụ thể, còn ở tuổi thiếu niên thì bắt đầu có mối liên quan với tư duy trừu tượng
Dựa trên quan điểm phản xạ của I M Xêtrênốp và I P Palôv về các quá trình cảm xúc và những tư liệu nghiên cứu quá trình hình thành tri giác con người, các nhà tâm lý A
N Lêonchiev, V.G Ananhiev… [32] đưa ra luận điểm rằng quá trình tri giác gắn liền và phát triển cùng với các dạng hoạt động Các hoạt động này mang tính tích cực và trở thành những hành động khảo sát – định hướng
A Petrovxki trong cuốn “Tâm lý học đại cương” được xuất bản năm 1977 [31] đã cho rằng tri giác là “hành động đặc biệt hướng tới việc khảo sát đối tượng và xây dựng bản sao của đối tượng đó”
A V Đaparôjét, V P Zinchencô [32] nghiên cứu tri giác và hành động theo quan điểm di truyền học ở 2 khía cạnh: thứ nhất, các ông xác định sự phụ thuộc của tri giác vào tính chất hoạt động của chủ thể; thứ hai, xem quá trình tri giác như là hành động định hướng – khảo sát Hành động này thực hiện chức năng khảo sát đối tượng và tạo nên hình ảnh của đối tượng Nhờ các hình ảnh này mà chủ thể thực hiện điều khiển hành vi của mình
L A Vengher, M I Lixina, A G Ruxkaia… [32] và các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã chứng minh rằng trẻ em được sinh ra cùng với một loạt những phản ứng định hướng Những phản ứng này được thể hiện ra bên ngoài qua các vận động của các cơ quan nhận cảm và là tiền đề của các hành động định hướng sau này Tuy nhiên việc chuyển những phản ứng định hướng thành những hành động định hướng cần một quá trình lâu dài, phức tạp và được thực hiện trong suốt thời thơ ấu của trẻ
Như vậy, qua các nghiên cứu của mình các nhà tâm lý đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và quá trình phát triển của tri giác
Nghiên cứu về tư duy, J Watson [34] từ kết quả các thực nghiệm của mình đã quy tư duy về hành vi vận động ngầm ẩn, bao gồm phản ứng ngôn ngữ ẩn hoặc là các cử động Cùng với sự trưởng thành của trẻ, hành vi tư duy dần dần không được nghe thấy và nhìn thấy vì người lớn không cho trẻ nói to với chính mình Và ông kết luận tư duy là “kỹ xảo của cổ họng”, họng chính là bộ máy của tư duy
Các tác giả E Claparét, V Stécnơ, K Buler [31] vì xem tư duy và ngôn ngữ là một cho nên cho rằng tư duy chỉ phát triển khi đứa trẻ đã biết nói một cách mạch lạc Điều này
có nghĩa là tư duy chỉ phát triển sau khi đứa trẻ được 7-8 tuổi; trẻ ở lứa tuổi vườn trẻ và mẫu giáo được xem là tuổi phi logic và tiền tư duy Cùng quan điểm với các nhà tâm lý trên, J
Trang 14Piaget khẳng định trẻ em là một thực thể phi xã hội, chỉ “suy nghĩ về mình và theo quan điểm của mình” nên tư duy của trẻ là mơ hồ, không có logic Tư duy của trẻ sẽ chuyển sang trình độ của những thao tác logic trong quá trình sống và tiếp xúc với người lớn
I M Xêtsênốp [30] trong tác phẩm “Tuyển tập triết học và các tác phẩm tâm lý học”
đã chỉ ra nguồn gốc của tư duy là quan sát – nhận thức cảm tính về thế giới xung quanh Tuy nhiên đứa trẻ không quan sát một cách thụ động mà tác động tích cực vào đối tượng khi tri giác chúng Chính trong quá trình hành động với đồ vật trẻ học được cách đối chiếu, so sánh, phân tích các sự vật Như vậy, theo ông thì cơ sở để hình thành tư duy logic cao cấp chính là các hành động thực tiễn của trẻ Đây là quan niệm căn bản cho những nghiên cứu sau này của các nhà tâm lý về quá trình phát triển tư duy của trẻ em
K Buler, O Lipman , K Bôghen… [31] bằng các thực nghiệm của mình đã chứng minh được hình thức tư duy sơ khai của trẻ em có tính chất làm thử và hành động Dựa trên
cơ sở này, các nhà tâm lý đã xây dựng quan niệm về hai loại tư duy: tư duy hành động – với đặc trưng là trẻ sử dụng các thao tác với đồ vật, biến đổi vật bằng thể lực và không có khả năng suy luận logic, và tư duy lý luận…Chủ thể không cần đến hành động thực tiễn mà chủ yếu dựa vào ngôn ngữ với các phạm trù trừu tượng Quan niệm này cho thấy mối quan hệ mật thiết của tư duy không chỉ với ngôn ngữ mà cả với hành động thực tiễn
Ở Việt Nam có các tác giả nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến tri giác và tư duy như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ánh Tuyết…
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy [36] trong các nghiên cứu về tri giác đã kết luận tri giác không những chịu ảnh hưởng của các tác nhân kích thích mà còn bị chi phối bởi các nhân tố bên trong chủ thể như thái độ, nhu cầu, hứng thú, động cơ…
Tác giả Phạm Hoàng Gia [14] cho rằng trí thông minh chính là cốt lõi của tư duy Quá trình phát triển tư duy cũng chính là quá trình lĩnh hội các khái niệm và là cơ sở để tạo nên trí thông minh Ông cho rằng ở trẻ mẫu giáo trí thông minh được thể hiện trong các thao tác với đồ vật và trong chính các hoạt động của trẻ
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [14] qua các thực nghiệm về tính linh hoạt của tư duy đã
đi đến kết luận: hành động với đồ vật càng phong phú, đa dạng càng giúp trẻ tránh được sự hình thành kiểu tư duy giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa sau này Đống thời tác giả cũng
Trang 15nhận định độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non” Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người
Gần đây có một số tác giả nghiên cứu những vấn đề về hứng thú nhận thức, tính tích cực nhận thức của trẻ điển hình như tác giả Phạm Thị Ánh Hoa trong đề tài “Thực trạng tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trong trò chơi học tập ở một số trường mầm non tại Tp Hồ Chí Minh (2012)” đã nghiên cứu thực trạng tính tích cực nhận thức của trẻ
MG 4-5 tuổi ở một số trường mầm non tại tp Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến về tổ chức trò chơi học tập nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ; tác giả Nguyễn Trần Mỹ Lệ trong đề tài “Hứng thú nhận thức của trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học (2010)” đã chỉ ra được thực trạng hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non, trên cơ sở đó đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm nâng cao hứng thú nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học; tác giả Nguyễn Thị Phú Quý trong đề tài “Khảo sát sự phát triển nhận thức của trẻ 3-4 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh”
đã nghiên cứu sâu về mức độ nhận thức của trẻ 3-4 tuổi ở một số trường mầm non, trên cơ
sở đó, tác giả cũng đã đưa ra được một số biện pháp giúp phát triển nhận thức cho trẻ ở độ tuổi này; tác giả ĐàoViệt Cường qua đề tài “Tìm hiểu tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong trò chơi học tập ở một số trường trong TP.HCM (2008)” đã xây dựng
và thử nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức trong trò chơi học tập của trẻ
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tài liệu nào đi sâu vào nghiên cứu việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi
Trang 161.2 Lý lu ận về việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo d ục trẻ 5-6 tuổi
1.2.1.1 Khái ni ệm nhận thức
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái
hiện hiện thực vào trong tư duy của con người” [37, tr.9] Ở đây, nhận thức được xem là
quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình phản ánh đó
Hoạt động nhận thức của con người bao gồm 2 mức độ có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và chi phối lẫn nhau: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, giúp con người phản ánh những cái bên ngoài đang trực tiếp tác động lên giác quan của con người Nhận thức lý tính thể hiện ở mức độ cao hơn, đó là phản
ánh những cái bản chất bên trong, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng; bao gồm tư duy và tưởng tượng
Theo tác giả Trần Thị Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Nga [42, tr.5], “nhận thức là một quá
trình bên trong và là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí) Nhận thức có liên quan rất chặt chẽ với sự học và về bản chất, sự học là một quá trình nhận thức”
Khả năng nhận thức chính là khả năng suy nghĩ xuất phát từ nhu cầu muốn nhận biết thế giới khách quan của con người Trẻ em sinh ra với bản tính tò mò ham hiểu biết Ngay
từ nhỏ, trẻ đã có khả năng tìm hiểu, thử nghiệm, khám phá, cố gắng giải thích về bản thân mình và hiểu thế giới xung quanh
Khả năng nhận thức của trẻ được phát triển khi trẻ khám phá và thử nghiệm với môi trường vật chất, lĩnh hội các quá trình tư duy khoa học trong giải quyết vấn đề, suy luận, phỏng đoán và hình thành kiến thức về các sự vật và hiện tượng xung quanh [42, tr.18]
Giáo dục và phát triển nhận thức cho trẻ là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có định hướng, có kế hoạch của nhà GD đến trẻ nhằm hình thành cho trẻ một số biểu tượng đơn giản về thế giới xung quanh và phương thức hoạt động nhận thức sơ đẳng góp phần phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động nhận thức ở trẻ em [22,71]
1.2.1.2 Khái ni ệm chương trình giáo dục mầm non
Có nhiều cách hiểu khác nhau về chương trình giáo dục mầm non như chương trình
là bản kế hoạch cho phép trẻ được đạt tới những kết quả mong muốn; chương trình là nội
Trang 17dung giảng dạy của giáo viên; là những gì trẻ cùng giáo viên tạo ra, là những cái mà trẻ học được; chương trình là tất cả những gì diễn ra ở trên lớp trong suốt quá trình sinh hoạt của cô
và trẻ; chương trình là thời gian biểu; chương trình là mục đích, mục tiêu giáo dục…Có thể
hiểu chương trình giáo dục mầm non bao gồm mục tiêu giáo dục; nội dung phương pháp
và hình thức giáo dục trẻ, điều kiện thực hiện quá trình giáo dục trẻ và đánh giá quá trình giáo dục đó [21, tr.35]
Chương trình giáo dục mầm non phản ánh quá trình xã hội hóa đứa trẻ, phản ánh sự tích lũy kinh nghiệm sống thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động của trẻ theo kế hoạch đã vạch ra hoặc phát sinh Trong chương trình giáo dục trẻ, các hoạt động chủ đạo của trẻ giữ vai trò trung tâm [21]
Ngày nay, quan niệm về chương trình dạy học và giáo dục đang dần được thay thế
bằng quan niệm về chương trình đầy đủ Chương trình đầy đủ bao gồm: những mục đích
cuối cùng, các nội dung, những mục tiêu và năng lực cần phát triển ở trẻ em, các phương pháp sư phạm và cách thức đánh giá Nó trở thành một công cụ chỉ đạo hoạt động sư phạm của người giáo viên [21, tr.36]
* Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục mầm non [13]
- Chương trình hướng đến sự phát triển toàn diện của trẻ
- Chương trình tạo điều kiện cho trẻ phát triển liên tục
- Chương trình đảm bảo đáp ứng sự đa dạng của các vùng miền và các đối tượng trẻ
* Quan điểm trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non [13]
- Trẻ là người học tích cực (Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm)
- Trẻ học qua chơi
- Giáo viên giữ vai trò hỗ trợ trẻ trong việc học
1.2.1.3 Khái ni ệm Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
( theo từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên )
Chuẩn phát triển trẻ em là thể hiện sự mong đợi về những gì trẻ nên biết và có thể
làm được dưới tác động của giáo dục trong bối cảnh phát triển xã hội cụ thể [7]
Mục đích ban hành của bộ chuẩn trẻ 5 tuổi:
+ Hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em vào lớp 1
Trang 18+ Là cơ sở để cụ thể hóa mục tiêu, nội dung chăm sóc, giáo dục, lựa chọn và điều chỉnh hoạt động chăm sóc, giáo dục cho phù hợp với trẻ mẫu giáo 5 tuổi
Ngày 22/7/2010, Bộ GD-ĐT ban hành quy định về bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi kèm theo thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT Và chính thức được thực hiện từ ngày 06/9/2010 Bộ chuẩn gồm 28 chuẩn với 120 chỉ số, tập trung vào 4 lĩnh vực: phát triển nhận thức, tình cảm
xã hội, ngôn ngữ và sẵn sàng với việc học Trong đó, ở lĩnh vực phát triển nhận thức có 9 chuẩn và 39 chỉ số [phụ lục 9]
Mọi tác động giáo dục lên hoạt động nhận thức của trẻ chỉ có hiệu quả khi nhà giáo dục nắm vững những đặc điểm tâm lý nói chung và khả năng nhận thức nói riêng của trẻ theo từng lứa tuổi Việc giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cũng vậy, chỉ đạt hiệu quả khi nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lý và khả năng nhận thức của trẻ
ở độ tuổi này
1.2.2.1 C ảm giác – tri giác
Ở lứa tuổi MG lớn 5-6 tuổi cùng với sự hoàn thiện của các giác quan thì hoạt động nhận cảm của trẻ tiếp tục được hoàn thiện, độ nhạy cảm của các giác quan được nâng cao, việc phân tích các thuộc tính của sự vật hiện tượng xung quanh hiệu quả hơn trước Hệ thống tín hiệu thứ hai tham gia tích cực hơn vào quá trình phân tích làm cho cảm giác trở nên chính xác, cụ thể hơn và đồng thời làm cho cảm giác có tính “tự giác” Cùng với cảm giác, tri giác của trẻ cũng phát triển mạnh Chính độ nhạy cảm cao của các giác quan, cũng như sự phối hợp hoạt động hài hòa, linh hoạt , mềm dẻo của chúng giúp cho các quá trình nhận thức của trẻ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả Trẻ MG 5-6 tuổi rất ham học hỏi, tìm tòi, thích quan sát, tìm hiểu thế giới xung quanh và đặc biệt hứng thú với việc khám phá những điều mới lạ Khi phạm vi tiếp xúc với thế giới xung quanh ngày càng được mở rộng thì vốn hiểu biết của trẻ càng được phong phú và sâu sắc hơn dẫn tới nhu cầu nhận thức ngày càng cao hơn Trẻ MG 5-6 tuổi không thỏa mãn với những hiểu biết về bên ngoài của các sự vật hiện tượng xung quanh mà chúng bắt đầu muốn khám phá, muốn tìm kiếm những dấu hiệu, bản chất bên trong và mối liên hệ của các sự vật hiện tượng Đây là một điều kiện thuận lợi để các nhà giáo dục thực hiện nhiệm vụ giáo dục nhận thức cho trẻ
Trang 191.2.2.2 Chú ý
Ở lứa tuổi MG, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế và đặc điểm này còn kéo dài tới tuổi MG lớn Trẻ thường chú ý tới những đối tượng khi đối tượng đó gây ra một kích thích mạnh, hoặc một sự ngạc nhiên, nhất là tạo cho trẻ một sự hứng thú
Tuy nhiên, đến giữa tuổi MG, cùng với sự phát triển của tính chủ định và ý thức thì khả năng chú ý của trẻ đã có sự thay đổi cơ bản: trẻ bắt đầu điều khiển chú ý của mình vào những đối tượng nhất định, tức chú ý có chủ định dần hình thành và phát triển mạnh
Theo A.V.Đaparôjet: “Khả năng chú ý ở trẻ 5-6 tuổi có thể kéo dài từ 35-50 phút
nếu đối tượng đó hấp dẫn, có nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ” [12, tr.74]
Chú ý có chủ định được phát triển trong quá trình giáo dục Nó được hình thành và phát triển mạnh với những loại kích thích mới, một trong số đó là kích thích bởi ngôn ngữ nói tác động từ bên ngoài
Trẻ MG 5-6 tuổi đặc biệt nhạy cảm với ngôn ngữ nói Trẻ hướng sự chú ý của mình tới những đặc điểm của lời nói như giọng điệu, ngữ điệu, cách phát âm Giọng điệu có ý nghĩa kích thích sự chú ý ở độ chính xác, tỉ mỉ Trẻ nhận ra được thái độ, tình cảm (thiện cảm, thân thương, trìu mến hay thờ ơ, lạnh lùng, bực bội ) của người lớn, bạn bè xung quanh
Một biểu hiện phát triển mới nữa là trẻ có thể phân phối sự chú ý của mình ở nhiều đối tượng cùng lúc (từ 2-5 đối tượng) Tuy nhiên khả năng phân phối sự chú ý này chưa bền vững, dễ dao động, đặc biệt là trong những hoạt động quan sát qua tranh ảnh, mô hình Chú
ý là một đặc điểm tâm lý vô cùng quan trọng đối với hoạt động trí tuệ của trẻ “Không chú ý vào một việc gì có chủ định hoặc không điều khiển được chú ý thì kết quả nhận thức sẽ hết sức hạn chế Vì vậy khi tổ chức hoạt động trí tuệ cho trẻ, trước hết cần giáo dục năng lực điều khiển chú ý, năng lực chú ý có chủ định bền vững” [51]
Cuối tuổi MG, việc rèn luyện chú ý có chủ định giúp trẻ chú ý vào những vấn đề trẻ không thật sự hứng thú sẽ rất cần thiết cho sự tiếp thu kiến thức của trẻ Nếu không chú ý có chủ định, trẻ sẽ không đặt cho mình nhiệm vụ chú ý cụ thể, sự nhận thức sẽ phân tán, trẻ không thể tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống, đầy đủ Trong hoạt động học tập, để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, chú ý có chủ định giúp trẻ phát hiện nhanh vấn đề, từ đó kích thích hứng thú nhận thức của trẻ phát triển
Trang 20Ngoài ra cuối tuổi MG bắt đầu hình thành trí nhớ logic Trẻ ghi nhớ cái gì đó có ý nghĩa tốt hơn những cái không có ý nghĩa và vì thế trẻ MG lớn không phải chỉ có ghi nhớ máy móc mà còn có khả năng ghi nhớ ý nghĩa Đến giai đoạn này thì trí nhớ có chủ định được phát triển trên nền tảng vững chắc hơn Từ chỗ trẻ chưa biết đặt một nhiệm vụ ghi nhớ nào cả, dần chuyển sang ghi nhớ có chủ định, có mục đích
1.2.2.4 Tư duy
Cùng với sự mở rộng phạm vi hiểu biết của mình, trong hoạt động trí tuệ của trẻ MG lớn có sự thay đổi, tư duy trực quan hình tượng của trẻ phát triển mạnh và chiếm ưu thế Đây là loại tư duy, trong đó nhiệm vụ nhận thức được thực hiện bằng các thao tác tư duy với các hình ảnh, biểu tượng ở trong đầu Nhờ kiểu tư duy này, trẻ có thể lĩnh hội được những khái niệm đơn giản, những thao tác logic đơn giản bằng hình ảnh Nhưng trong thực tế, những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng mà trẻ cần tìm hiểu lại bị che dấu không thể hình dung được bằng hình ảnh Loại tư duy này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ Cho nên, cuối tuổi MG lớn xuất hiện kiểu tư duy trực quan
sơ đồ Đây chính là một dạng của tư duy trực quan – hình tượng nhưng ở mức độ cao hơn
Ở đây, hình tượng không còn là hình ảnh thực của sự vật mà đã được giảm bớt những chi tiết mang tính cụ thể (trừu tượng hóa), chỉ giữ lại những nét chủ yếu mang tính khái quát Kiểu tư duy này giúp trẻ phản ánh mối liên hệ giữa hình ảnh sự vật và sự tồn tại khách quan của sự vật trong không gian, tạo cho trẻ khả năng phản ánh mối liên hệ tồn tại khách quan,
Trang 21không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của trẻ Chính sự phản ánh những mối liên hệ khách quan này là điều kiện cần thiết để trẻ lĩnh hội tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ để đạt tới tri thức khái quát Trẻ 5-6 tuổi có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng khi nhìn sơ đồ, biết cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật Tư duy trực quan sơ đồ giúp trẻ lĩnh hội những tri thức mang tính khái quát và đây chính là một bước phát triển đáng kể trong tư duy của trẻ 5-6 tuổi Đặc biệt, ở cuối tuổi MG lớn đã có mầm mống của tư duy logic, do đó trẻ
có thể lĩnh hội được những khái niệm khoa học đơn giản (tiền khoa học)
1.2.2.5 Ngôn ng ữ
Lứa tuổi MG là thời kỳ mà ngôn ngữ của trẻ phát triển với một tốc độ rất nhanh cả về
số lượng và chất lượng Trẻ MG lớn nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ
đẻ Trẻ tích lũy được hàng nghìn từ tích cực không những chỉ về danh từ, động từ mà cả các đại từ, tính từ và quan hệ từ Trẻ đã có kỹ năng kết hợp các từ trong hầu hết các mẫu câu theo quy tắc ngữ pháp tiếng mẹ đẻ Trong khi sử dụng ngôn ngữ, trẻ 5-6 tuổi đã bắt đầu hiểu nghĩa của các từ, biết sử dụng tiếng mẹ đẻ để diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ và từng bước thể hiện các sắc thái xúc cảm phù hợp trong lời nói
Lứa tuổi MG lớn, việc sử dụng ngôn ngữ tình huống của trẻ dần mất đi nhờ vốn từ phong phú và khả năng diễn đạt của trẻ ngày càng cải thiện, trẻ tích cực sử dụng ngôn ngữ - ngữ cảnh Kiểu ngôn ngữ này đòi hỏi trẻ phải nói sao cho người khác có thể hình dung ra được những điều chúng muốn nói, muốn mô tả mà không phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể trước mắt Trẻ 5-6 tuổi có nhu cầu hiểu biết nên thường hay đặt câu hỏi “Vì sao?” và mong muốn người lớn giải thích Mặt khác, trẻ cũng có nhu cầu giải thích cho người lớn và các bạn cùng tuổi hiểu được những ý nghĩ của mình Bên cạnh đó khả năng giải thích bằng ngôn ngữ cũng đang được phát triển trong độ tuổi MG lớn Kiểu ngôn ngữ này đòi hỏi trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủ yếu và những mối quan hệ, liên hệ giữa các sự vật hiện tượng một cách hợp lý để người nghe có thể hiểu và chấp nhận Như vậy, có thể nói rằng, ngôn ngữ mạch lạc của trẻ MG lớn thể hiện trình độ phát triển tương đối cao không những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy Muốn cho ngôn ngữ được mạch lạc thì những điều trẻ định nói cần phải được rõ ràng ngay từ trong đầu, tức là cần có tư duy hỗ trợ Mặt khác, chính ngôn ngữ mạch lạc lại là phương tiện làm cho tư duy của trẻ phát triển lên một chất lượng mới, đó là
Trang 22việc nảy sinh các yếu tố của tư duy logic và nhờ đó sẽ thúc đẩy toàn bộ sự phát triển của trẻ 5-6 tuổi lên một trình độ mới cao hơn
Bước sang tuổi mẫu giáo lớn, tự ý thức được xác định rõ ràng cho phép trẻ thực hiện các hành động một cách chủ định hơn, nhờ đó trẻ MG lớn trở thành những chủ thể có năng lực, có những sáng kiến, có khả năng tư duy và giao tiếp với mọi người theo một cách riêng
- Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh
- Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có chủ định
- Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau
- Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng các cách khác nhau (bằng hành động, hình ảnh, lời nói ) với ngôn ngữ nói là chủ yếu
- Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh và một số khái niệm sơ đẳng về toán
Trong chương trình GDMN, kỹ năng tư duy (quan sát, so sánh, phân loại, dự đoán),
kỹ năng chú ý và ghi nhớ là những kỹ năng quan trọng đối với trẻ mẫu giáo Chúng ta cần
giúp trẻ chú ý đến những kỹ năng quan trọng như: chăm chú lắng nghe, trả lời các câu hỏi
và làm theo yêu cầu và nhận ra những điều đúng (hoặc sai) Điều này có nghĩa, trẻ em cần
có kỹ năng tập trung chú ý, bỏ qua những tác động ở xung quanh Ngoài ra, kỹ năng ghi nhớ cũng rất quan trọng và chúng ta cần phải giúp trẻ có kỹ năng lưu giữ, nhớ lại và sử dụng thông tin một cách thích hợp [4]
Cùng với tính tò mò, khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng và sự quyết tâm, những kỹ năng này cho phép trẻ xác định và giải quyết vấn đề
Khi trẻ tư duy trừu tượng và logic, trẻ có thể xác định các cách giải quyết khác nhau cho một vấn đề
Đây là tất cả các kỹ năng quan trọng, chúng ta cần trang bị cho trẻ để trẻ học tập hiệu quả và thành công trong tương lai
Trang 23- Các bộ phận của cơ thể con người
- Đồ vật
- Động vật và thực vật
- Một số hiện tượng tự nhiên
Làm quen với một số khái niệm sơ đẳng về toán bao gồm các nội dung:
- Nhận biết vị trí trong không gian và định hướng thời gian
Khám phá xã hội bao gồm các nội dung:
- Bản thân, gia đình, trường mầm non, cộng đồng
- Một số nghề trong xã hội
- Danh lam thắng cảnh, các ngày lễ hội, sự kiện văn hóa
Tương ứng với từng nội dung của lĩnh vực PTNT là những kết quả mong đợi khi thực hiện những nội dung này Đây vừa là những mong đợi vừa là những mục tiêu mà GV cần
hướng đến khi tổ chức các hoạt động GD PTNT cho trẻ [phụ lục 8]
1.2.6.1 Các hình th ức tổ chức hoạt động giáo dục nhận thức trong chương trình giáo d ục trẻ 5-6 tuổi
Hình thức tổ chức là loại hình hoạt động giáo viên sử dụng để giúp trẻ lĩnh hội kiến
thức, đạt được mục tiêu giáo dục Chương trình GDMN hướng dẫn GVMN tổ chức hoạt động giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ dưới hình thức:
Hoạt động học
Hoạt động chơi
Hoạt động theo ý thích của trẻ
Hoạt động ngoài trời, tham quan
Ngoài ra, các hoạt động phát triển nhận thức được tiến hành trong các chủ đề thích hợp đối với từng độ tuổi Nội dung GD phát triển nhận thức cho trẻ được tích hợp trong các hoạt động GD phát triển thể chất, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mĩ một cách thích hợp
Trang 24Hình thức dạy học ở trường mầm non rất phong phú, bao gồm dạy học trên tiết học, học thông qua chơi, tham quan, học thông qua hình thức lao động, học trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, học ở mọi lúc mọi nơi Các hình thức này có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học Giáo viên có thể lựa chọn hình thức dạy học phù hợp với mục đích và nội dung dạy học, phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ ở từng giai đoạn lứa tuổi
Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi xin được phép đi sâu nghiên cứu về hoạt động PTNT dưới hình thức tiết học
Tiết học là hình thức tổ chức dạy học diễn ra vào thời điểm nhất định (vào buổi sáng sau giờ điểm danh, trò chuyện đầu ngày) trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ Tiết học được tổ chức với một nhóm trẻ cùng giai đoạn lứa tuổi, có chung một mức độ phát triển tâm – sinh lý [38, tr.90]
Trong các hình thức dạy học mầm non, tiết học là hình thức dạy học cơ bản nhất, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học
Tiết học được tổ chức hàng ngày vào thời gian nhất định Mỗi ngày tiến hành một đến hai tiết, tùy thuộc vào kế hoạch chăm sóc – giáo dục trẻ hàng ngày Nội dung và phương pháp dạy học được tiến hành trên hình thức tiết học do nhà giáo dục thiết kế căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non hiện hành, căn cứ vào đặc điểm nhận thức, vốn hiểu biết của trẻ ở từng giai đoạn lứa tuổi và căn cứ vào môi trường sống của trẻ ở từng vùng, miền, địa phương
Thời gian tiến hành tiết học do nhà giáo dục xác định sao cho phù hợp với mục đích, nội dung bài học, phù hợp với khả năng chú ý có chủ định của trẻ
Trên tiết học diễn ra quá trình phối hợp hoạt động giữa cô giáo và trẻ, trong đó, cô giáo đóng vai trò là người tổ chức, định hướng, dẫn dắt hoạt động nhận thức của trẻ Trẻ có vai trò vừa là khách thể (khi trẻ chịu sự tác động, hướng dẫn của cô giáo), vừa là chủ thể (khi trẻ tham gia tích cực vào quá trình nhận thức) nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành thái độ đúng đắn đối với cuộc sống
Tiết học tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn so với quỹ thời gian trong mỗi ngày, nhưng dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, trẻ có thể lĩnh hội khối lượng tri thức, kỹ năng tương đối lớn, chính xác, có hệ thống và liên tục Những tri thức này là cơ sở, là phương tiện để trẻ tham gia hoạt động trải nghiệm ở các hình thức dạy học khác Thông qua hình thức tiết học, nhà giáo dục có thể tác động phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ, nhu cầu,
Trang 25hứng thú nhận thức cho trẻ một cách có kế hoạch và hiệu quả nhất Tiết học còn góp phần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để trẻ tham gia học tập tốt ở trường tiểu học
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh [39, tr.91], để tổ chức tiết học, giáo viên cần triển khai qua ba giai đoạn:
* Giai đoạn chuẩn bị: Chuẩn bị giáo án tổ chức tiết học (hay còn gọi là kế hoạch), trong đó giáo viên cần xác định nội dung dạy học (đề tài, ví dụ: “Một số phương tiện giao thông đường bộ”), đối tượng trẻ, xác định mục đích, yêu cầu của tiết học, địa điểm, không gian, thời gian và phương pháp tổ chức thực hiện Giáo viên chuẩn bị đầy đủ phương tiện trực quan, đồ dùng cần thiết để tiến hành tiết học
* Tiến hành tiết học: Tùy vào nội dung dạy học mà mỗi tiết học được tiến hành theo các cách khác nhau, nhưng nhìn chung tiết học được tiến hành theo quy trình ba bước:
- Ổn định trẻ, tạo tình huống gây hứng thú nhận thức cho trẻ: Bước này diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (1-2 phút), cô giáo lựa chọn nội dung hoạt động hấp dẫn để ổn định trẻ (có thể sử dụng trò chơi ngắn, vui nhộn; hoặc sử dụng câu đố hay sử dụng các tình huống khác tùy vào tâm lý lứa tuổi trẻ ở từng giai đoạn) Sau khi ổn định trẻ, cô giáo sử dụng các thủ thuật sư phạm khác nhau để dẫn dắt trẻ đến với nội dung dạy học
- Tổ chức các hoạt động nhận thức trên tiết học: Tùy vào nội dung dạy học, vào đặc điểm nhận thức và vốn kinh nghiệm của trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi, giáo viên thiết kế các hoạt động trải nghiệm cho trẻ tham gia nhằm lĩnh hội tri thức và kỹ năng mới, củng cố, rèn luyện, hệ thống hóa tri thức, hình thành kỹ năng sống cho trẻ Đây là phần trọng tâm, cơ bản nhất trong tiết học, có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện mục đích, nội dung dạy học Bước này chiếm phần lớn thời gian của tiết học Đây là thời điểm thể hiện rõ sự phối hợp hoạt động giữa cô giáo với trẻ, trong đó cần chú trọng việc phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của trẻ
- Kết thúc tiết học: Bước này diễn ra trong thời gian ngắn, cô giáo trò chuyện với trẻ
về nội dung diễn ra trên tiết học nhằm hệ thống hóa tri thức, kỹ năng đã học, đồng thời tạo cảm xúc tích cực cho trẻ và giáo dục trẻ có thái độ đúng đắn
Giới thiệu cấu trúc giáo án (còn gọi là kế hoạch) tổ chức tiết học
Nội dung tiết học:……
Đối tượng trẻ:……
Số lượng trẻ:……
Thời gian thực hiện:……
Trang 26Đánh giá kết quả của tiết học
1.2.6.2 Phương pháp phát triển nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi
Để thực hiện GD PTNT cho trẻ, chúng ta cần xác định các phương pháp GV có thể
hỗ trợ sự PTNT của trẻ Cho dù ở nội dung giáo dục phát triển nhận thức nào đi nữa, GV cũng cần giúp trẻ phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề Khả năng xác định và giải quyết vấn đề là một phần vô cùng quan trọng trong PTNT và có liên quan tới việc sử dụng nhiều
kỹ năng tư duy khác nhau [4]
GV có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề bằng nhiều cách như:
Khi trẻ gặp khó khăn trong việc thực hiện một việc nào đó, hãy yêu cầu trẻ nói về những gì trẻ có thể làm để giải quyết khó khăn này
Hỏi ý kiến và yêu cầu trẻ giải thích ý tưởng của mình
Khuyến khích trẻ đưa ra dự đoán dựa trên kinh nghiệm của chúng
Khuyến khích trẻ để lập kế hoạch trước khi thực hiện một hoạt động
Để trẻ tự giải quyết một số vấn đề của bản thân
Để trẻ trải nghiệm những hậu quả của một số lựa chọn, hành động và ý tưởng của chúng đưa ra
Tạo cơ hội cho trẻ chơi và thử nghiệm, khám phá và thực hiện ý tưởng
Tạo cơ hội để trẻ tự khám phá về một chủ đề yêu thích
Yêu cầu trẻ dự đoán những gì sẽ xảy ra tiếp theo trong một câu chuyện hay câu tiếp theo của bài thơ
Đưa ra cách giải quyết cho mỗi tình huống hoặc hoặc cách chứng minh cho một vấn
Trang 27Trẻ có thể học và sử dụng toán qua các hoạt động và các sự kiện diễn ra hàng ngày xung quanh trẻ Điều quan trọng là giáo viên cần quan sát, lắng nghe, phát hiện những cơ hội giúp trẻ học toán Có 3 nhóm phương pháp chính để PTNT cho trẻ thông qua làm quen với toán đó là:
- Ý nghĩa: Có tác dụng nhận biết các thuộc tính, đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng + Trình bày các vật mẫu như: gắn các hình học lên bảng; đặt một vật to bên cạnh vật nhỏ;
Bộ con giống, bộ tranh ảnh, bộ que tính…
+ Sử dụng hành động mẫu: Sử dụng phương pháp này để dạy trẻ: đếm, so sánh, đo lường…Ví dụ: Khi dạy trẻ đếm, đo lường,…lần đầu tiên giáo viên vừa làm mẫu, vừa dùng lời giải thích; hoặc hành động so sánh số lượng các nhóm đối tượng Ví dụ: Dùng tay xếp các vật từ trái qua phải của 1 nhóm thành hàng Đặt mỗi vật của nhóm này chồng lên hay xếp dưới một đối tượng của nhóm kia, xếp từ trái sang phải Nhận xét mối quan hệ về số lượng của 2 nhóm vật: nhóm nào nhiều hơn (ít hơn) hay bằng nhau
- Ý nghĩa:
+ Bổ sung, minh họa cho phương pháp dạy học trực quan
+ Giúp trẻ nhận biết những đặc điểm bên trong của đối tượng mà trẻ nhỏ không thể nhận biết được chúng bằng các giác quan
+ Góp phần phát triển tư duy logic, phát triển ngôn ngữ
- Các biện pháp:
+ Lời diễn giảng, hướng dẫn, giảng giải
+ Câu hỏi: Đóng vai trò đặc biệt trong quá trình làm cho trẻ làm quen với Toán
- Câu hỏi dựa trên sự tri giác và trí nhớ tái tạo của trẻ VD: Cô gắn hình gì lên bảng, trên bàn cô có gì? Có mấy bông hoa?
- Câu hỏi tái tạo có nhận thức: nhằm giúp trẻ củng cố những kiến thức sâu sắc hơn VD: Hoa này sẽ là mấy bông nếu nở thêm hai bông nữa?
- Câu hỏi sáng tạo có nhận thức: VD: Làm thế nào để biết đó là hình vuông và đó là hình chữ nhật?
+ Đàm thoại: là phương pháp dạy học sử dụng tới hệ thống câu hỏi của giáo viên và câu trả
lời của trẻ
Trang 28 Phương pháp thực hành: Luyện tập, trò chơi, tình huống có vấn đề, các vật dụng định
hướng
- Luyện tập: là việc vận dụng các kiến thức và hành động nhằm củng cố và giúp trẻ có những kỹ năng và kiến thức cho trẻ Các bài tập cho trẻ mẫu giáo thường hướng vào luyện
kĩ năng tư duy như: so sánh, khái quát hóa…
Ví dụ: Hình vuông và hình chữ nhật có điểm gì khác nhau và giống nhau Tất cả những vật này có gì khác nhau, giống nhau?
- Trò chơi: trò chơi vận động, đóng vai, học tập đều được sử dụng với mục đích củng cố, ứng dụng những kiến thức, kỹ năng toán học của trẻ
Ví dụ: Trò chơi “Sinh nhật búp bê Li Li”, khi tham gia trò chơi, trẻ có thể so sánh các bạn của các nhóm khác nhau đến dự sinh nhật của búp bê, so sánh số lượng quả, bánh, kẹo với nhau…
- Tình huống có vấn đề: là một hoàn cảnh có mâu thuẫn và trẻ phải suy nghĩ tích cực để giải quyết mâu thuẫn đó
Ví dụ: tại sao 7 vật xếp hàng ngang lại có số lượng ít hơn 8 vật xếp gần nhau trong một hình tròn
- Sử dụng các vật giúp định hướng: sử dụng các vật phát ra âm thanh hay các vật đặt sẵn ở một vị trí nhất định để giúp trẻ xác định vị trí của các đối tượng khác nhau trong không gian
- Phương pháp sử dụng hoạt động tạo hình (vẽ, nặn, xé, dán)
Ví dụ: ghép các hình chữ nhật và hình tam giác thành chiếc thuyền, trẻ có thể học về các hình học, về vị trí trong không gian
Dạy trẻ khám phá khoa học có liên quan đến việc sử dụng các phương pháp và kiến thức cơ bản về thế giới tự nhiên và nhân tạo Trẻ có thể học khoa học tốt nhất khi có cơ hội khám phá và trải nghiệm Chính vì vậy, trẻ cần được khuyến khích: quan sát sự vật, đặt các câu hỏi, nêu ý kiến của mình về những gì trẻ thấy trong môi trường sống
- Là quá trình, cách thức tổ chức cho trẻ quan sát của giáo viên
- Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát theo đối tượng:
+ Vật thật
+ Các đồ vật, sự vật trong tranh, ảnh, mô hình, băng hình
Trang 29+ Các hiện tượng thiên nhiên
- Cách tổ chức quan sát có thể theo nhóm lớn, theo nhóm nhỏ (4-6 trẻ) hoặc quan sát cá nhân (mỗi trẻ một đối tượng)
- Quan sát có thể tổ chức trong tiết học, hoạt động ngoài trời, tham quan và sinh hoạt hằng ngày
- Không nên cho trẻ quan sát nhiều đồ vật cùng một lúc vì dễ làm phân tán chú ý
- Để trẻ tự quan sát, trao đổi, chia sẻ, bộc lộ cảm xúc, thông tin với nhau sau khi giao nhiệm vụ quan sát cho trẻ
- Giáo viên cần hướng sự tập trung chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát và đặt câu hỏi
về các đặc điểm mà trẻ cần phát hiện
- Khi hướng dẫn trẻ quan sát, giáo viên cần đưa ra các tình huống có vấn đề để trẻ suy nghĩ và tìm cách giải quyết và duy trì hứng thú, chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát
Ví dụ: Không biết con cá vàng này thích ăn gì nhất nhỉ? Làm thế nào để biết bây giờ?
- Tùy từng đối tượng quan sát, giáo viên có thể kết hợp cho trẻ phân biệt, so sánh
Ví dụ: Mắt con cá với mắt của chúng mình có giống nhau không? Khác nhau ở chỗ nào?
- Khi trẻ đưa ra các phương án giải quyết, giáo viên tổ chức cho trẻ được trải nghiệm
Ví dụ: Trẻ tự tay thả thức ăn cho cá và quan sát xem cá ăn cái gì
- Cho trẻ thực hiện một số hành động, vận động đơn giản nhằm mô phỏng đối tượng quan sát
Ví dụ: Trẻ dùng tay hoặc miệng mô phỏng động tác đớp mồi của con cá
- Tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi được thiết kế các phần mềm trên máy tính
Ví dụ: Trò chơi tìm vật cùng loại, tìm thức ăn cho các con vật,…
Trang 30 Phương pháp đàm thoại
- Xây dựng hệ thống câu hỏi kích thích hứng thú, trí tò mò, hoạt động tư duy của trẻ
- Câu hỏi ngắn gọn, rõ ý và phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ
- Chuẩn bị các đồ dùng trực quan hoặc các mẩu chuyện, bài thơ, bài hát để minh họa
- Dự kiến câu trả lời đúng và lường trước các tình huống xảy ra
- Nội dung về thiên nhiên, về mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người
- Sử dụng giọng đọc, kể truyền cảm, kết hợp với cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ
- Khuyến khích trẻ sáng tác thơ, truyện, câu đố, bài hát về đối tượng được khám phá
- Gợi ý cho trẻ khi trẻ khó đoán được câu đố
- Trò chơi học tập:
Ví dụ: +Chơi với dây và ròng rọc để chuyển hộp đất lên từ bể cát
+Nam châm: đặt ôtô trên giấy, cho nam châm dưới mặt giấy- điều chỉnh nam châm, ôtô sẽ di chuyển
Ví dụ: Tìm hiểu quá trình phát triển của cây từ hạt
Ví dụ: Trẻ tạo thành hình bông hoa, con trâu, con bướm,…từ các nguyên liệu thiên nhiên (lá, cánh hoa, vỏ trứng, cát, hạt, vỏ ốc…) hoặc từ vật liệu khác (đất nặn, màu nước, phấn…)
Những điều GV cần chú ý khi dạy trẻ khám phá khoa học:
• Lựa chọn nội dung đơn giản, cụ thể và gần gũi với trẻ
• Sử dụng học liệu tự nhiên và nhân tạo
• Tạo cho trẻ môi trường hoạt động hấp dẫn
• Cho trẻ khám phá và nhận ra những nét đặc trưng của sự vật, hiện tượng bằng cách
sử dụng tất cả các giác quan
• Cho trẻ quan sát, phân loại, phỏng đoán sự vật và hiện tượng
Trang 31• Dành thời gian cho trẻ tự khám phá và chia sẻ ý kiến của mình
• Cho phép trẻ được thực hiện những công việc phục vụ bản thân
• Yêu cầu trẻ chia sẻ lẫn nhau, học cách dàn xếp mâu thuẫn, thỏa hiệp
• Giám sát trẻ hoạt động, tương tác với trẻ, sử dụng câu hỏi gợi mở…
• Khích lệ trẻ suy nghĩ về những gì chúng nhìn thấy, đang làm, phát triển những suy nghĩ, ý tưởng và quan tâm đến môi trường xung quanh
Để dạy trẻ khám phá xã hội, GV sử dụng các phương pháp tương tự như dạy trẻ làm quen với toán và khám phá khoa học như:
- Là quá trình, cách thức tổ chức cho trẻ quan sát của giáo viên
- Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát theo đối tượng:
+ Vật thật
+ Các đồ vật, sự vật trong tranh, ảnh, mô hình, băng hình
+ Các hiện tượng thiên nhiên
- Cách tổ chức quan sát có thể theo nhóm lớn, theo nhóm nhỏ (4-6 trẻ) hoặc quan sát cá nhân (mỗi trẻ một đối tượng)
- Quan sát có thể tổ chức trong tiết học, hoạt động ngoài trời, tham quan và sinh hoạt hằng ngày
- Không nên cho trẻ quan sát nhiều đồ vật cùng một lúc vì dễ làm phân tán chú ý
- Để trẻ tự quan sát, trao đổi, chia sẻ, bộc lộ cảm xúc, thông tin với nhau sau khi giao nhiệm vụ quan sát cho trẻ
- Giáo viên cần hướng sự tập trung chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát và đặt câu hỏi
Trang 32- Sau khi đọc sách cho trẻ nghe, giáo viên có thể đàm thoại hoặc giải thích về nội dung
mà trẻ được nghe
- Tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi được thiết kế các phần mềm trên máy tính
Ví dụ: xem video clip chủ đề về ngày tết
- Xây dựng hệ thống câu hỏi kích thích hứng thú, trí tò mò, hoạt động tư duy của trẻ
- Câu hỏi ngắn gọn, rõ ý và phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ
- Chuẩn bị các đồ dùng trực quan hoặc các mẩu chuyện, bài thơ, bài hát để minh họa
- Dự kiến câu trả lời đúng và lường trước các tình huống xảy ra
- Nội dung về thiên nhiên, về mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người
- Sử dụng giọng đọc, kể truyền cảm, kết hợp với cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ
- Khuyến khích trẻ tự sáng tác thơ, truyện, câu đố, bài hát về đối tượng được khám phá
- Gợi ý cho trẻ khi trẻ khó đoán được câu đố
- Trò chơi học tập
- Trò chơi vận động
- Đóng vai ông bà, bố mẹ, con, cháu…, trẻ có hiểu biết về gia đình
- Đóng vai cô bán hàng, công nhân, thợ xây, bác sĩ… trẻ có hiểu biết về các ngành nghề
Môi trường giáo dục là người giáo viên thứ hai tổ chức và hướng dẫn trẻ chơi, trẻ hoạt động để nhận thức và phát triển Bởi môi trường hoạt động vừa để thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giao tiếp, nhận thức, nhu cầu hoạt động cùng nhau của trẻ, vừa tạo cơ hội cho trẻ được chơi và hoạt động theo sở thích, tích cực, độc lập, sáng tạo vận dụng những kỹ năng
đã được học vào các hoạt động khác nhau, nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề, các tình huống trong quá trình hoạt động Còn đối với giáo viên, việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp sẽ là phương tiện, là điều kiện tác động đến sự phát triển phù hợp với từng trẻ và từng lứa tuổi
Xây dựng môi trường giáo dục PTNT cho trẻ gồm 3 nội dung chính: Xây dựng môi trường cho trẻ học toán, xây dựng môi trường cho trẻ khám phá khoa học và xây dựng môi trường cho trẻ khám phá xã hội
Trang 331.2.7.1 Xây d ựng môi trường cho trẻ học toán
Cơ hội học toán có thể nảy sinh khi các khu vực hoạt động của trẻ được sắp xếp phù hợp và linh hoạt để khích lệ sự lựa chọn của trẻ, khuyến khích sử dụng đồ dùng và các vật liệu, khuyến khích trẻ tham gia và tương tác với các trẻ khác Các khu vực hoạt động có ảnh hưởng đến việc học toán bao gồm: góc đóng vai, góc đọc sách, góc lắp ráp, góc xây dựng, góc thiên nhiên, góc khoa học, góc tạo hình, góc âm nhạc Các góc chơi phải gọn gàng, có chỗ cất các đồ dùng thích hợp và hấp dẫn các chú ý của trẻ bằng cách sắp xếp thích hợp Đồ dùng đồ chơi nên đa dạng, phong phú về mẫu mã, chất liệu Cần cân nhắc suy nghĩ xem những đồ dùng đồ chơi trong các góc có tiềm năng phục vụ cho việc học toán như thế nào
Có thể thấy, các nguyên vật liệu mở luôn cung cấp những cơ hội tuyệt vời cho trẻ làm quen với toán Ở khu vực chơi đóng vai có thể bao gồm các hộp đựng đồ ăn và các loại chén, bát và dụng cụ nhà bếp với các loại hình dạng và kích thước khác nhau như các rổ, rá, xoong, nồi, búp bê…
Trong sách và các loại tranh ảnh nên có cả chữ số, hình dạng và các dạng xếp hình mẫu Sách truyện và thơ nên chọn loại có phần lặp lại để trẻ có cơ hội khám phá, suy đoán Các đồ chơi lắp ráp nhỏ như lego, hạt, con giống, các vật liệu tự nhiên cho trẻ cơ hội đề phân loại, khám phá tạo dãy mẫu về số lượng, hình dạng, kích thước và định hướng Chơi với các mảnh ghép hình khác nhau cũng giúp trẻ học các khái niệm toán ngoài việc có các khối khác nhau về hình dạng và kích thước
Các vật liệu để nặn như đất sét, bột nhão, cung cấp cơ hội để học về khối lượng, cân nặng, độ dày, hình dáng và kích thước Các loại cây có kích thước khác nhau cho trẻ cơ hội
đo và ghi lại vào biểu đồ sự tăng trưởng của cây Các đồ dùng để viết cung cấp cho trẻ
những cơ hội làm quen với toán
1.2.7.2 Xây d ựng môi trường cho trẻ khám phá khoa học
Để cung cấp những cơ hội khám phá khoa học cho trẻ, giáo viên cần tạo cho trẻ môi trường hoạt động khoa học phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi, các nguyên vật liệu khác nhau và đảm bảo an toàn Đồng thời, giáo viên cũng cần bố trí, sắp xếp các khu vực hoạt động sao cho kích thích trẻ hoạt động và dành phần lớn thời gian cho trẻ tự học qua chơi vì trẻ nhỏ học chủ yếu qua chơi, qua tự mày mò, khám phá Trong các trường lớp mẫu giáo, khu vực khoa học nên có:
Các đồ dùng, đồ chơi được sản xuất hàng loạt, như: Kính phóng đại (chẳng hạn kính lúp), cân, nam châm, gương; tranh, ảnh về các con vật hoặc cây, lá, hoa, quả ; sách về các
Trang 34hoạt động khoa học dành cho trẻ nhỏ; bàn chơi nước: chai trong suốt, dụng cụ chứa nước, các vật chìm hoặc nổi trong nước…; bể cá
Các nguyên vật liệu tự nhiên: Lá, hoa, quả ; các vỏ trai sò, đất đá, cát sỏi, nước và các bộ sưu tập : lá, hoa, côn trùng ; các con vật nuôi: chim, thỏ…; cây, các hạt giống và bình gieo hạt
Bố trí, sắp xếp ở các góc khám phá khoa học sao cho kích thích hứng thú, tăng cường
sử dụng các giác quan của trẻ và lôi cuốn trẻ tham gia hoạt động một cách tích cực
1.2.7.3 Xây d ựng môi trường cho trẻ khám phá xã hội
Để xây dựng môi trường cho trẻ khám phá xã hội, giáo viên cần đặc biệt lưu ý đến các góc đóng vai Trong góc hoạt động cần có nhiều đồ chơi, cô giáo khuyến khích trẻ chơi
và có thể đóng 1 vai để cùng chơi với trẻ Khuyến khích trẻ trò chuyện giao tiếp giữa các vai khi chơi, nêu ra các tình huống giả bộ, chia sẻ ý tưởng, trao đổi thỏa thuận với bạn để giúp phát triển ngôn ngữ và phát triển kỹ năng giao tiếp cũng như cách ứng xử xã hội cho trẻ Trò chơi này còn tạo ra cơ hội giúp trẻ thể hiện, trải nghiệm các cảm xúc, thái độ của con người
Đối với các chủ đề về khám phá xã hội, giáo viên cần trang bị nhiều tranh ảnh, sưu tầm các đoạn video để trẻ có cơ hội quan sát và tìm hiểu Việc tổ chức các hoạt động khám phá xã hội thông qua hình thức giao lưu với người thật, việc thật, tham quan, dã ngoại cần được tăng cường để giúp trẻ mở rộng vốn sống và mạnh dạn, tự tin hơn
Các học liệu phục vụ cho hoạt động khám phá xã hội của trẻ gồm có:
- Trang phục - Vật liệu nghệ thuật
- Các vật dụng trong gia đình - Vải vụn để may
- Các vật dụng lễ hội (trống, cờ, quạt ) - Hình ảnh
- Túi xách và ví - Tiền (giả vờ)
Trang 351.2.8 Đánh giá sự phát triển nhận thức của trẻ 5-6 tuổi
Cần phải theo dõi và đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi để điều chỉnh các phương pháp, điều kiện giáo dục, kế hoạch giáo dục, trên cơ sở đó, giúp trẻ đạt được các chỉ số giáo dục – kết quả mong đợi trong giáo dục
Để theo dõi và đánh giá sự phát triển của trẻ, chúng ta sử dụng bộ công cụ kiểm tra,
gọi tắt là bộ công cụ Bộ công cụ theo dõi sự phát triển của trẻ bao gồm: các phương pháp theo dõi sự phát triển của trẻ; các phương tiện sử dụng trong các phương pháp theo dõi (bao gồm đồ dùng, đồ chơi, học liệu có liên quan ); bảng theo dõi sự phát triển của lớp/ nhóm, cá nhân [47, tr.22]
Theo tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ công cụ đánh giá sự phát triển trẻ em 5 tuổi [47],
bộ công cụ được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc sau:
- Bộ công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ theo hệ thống các chỉ số của từng lĩnh vực (trong bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi)
- Phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ hoàn toàn dựa vào các phương pháp đánh giá được thực hiện trong chương trình giáo dục mầm non
- Việc xác định phương pháp đánh giá phụ thuộc vào minh chứng từng chỉ số
8 bước xây dựng bộ công cụ theo dõi sự phát triển của trẻ 5 tuổi
- Bước 1: Lựa chọn các chỉ số cần theo dõi
- Bước 2: Tìm hiểu minh chứng của chỉ số đã chọn
- Bước 3: Lựa chọn phương pháp phù hợp với chỉ số, minh chứng, kinh nghiệm và tần suất sử dụng của giáo viên
- Bước 4: Xác định phương tiện thực hiện phù hợp với chỉ số, minh chứng, phương pháp, điều kiện cơ sở vật chất của lớp học
- Bước 5: Xác định cách thực hiện (hoạt động của cô, hoạt động của trẻ)
Trang 36- Bước 6: Xác định thời gian thực hiện trên 1 trẻ, trên tổng số trẻ của nhóm/lớp
- Bước 7: Thử công cụ trên 3-5 trẻ, gồm trẻ kém, khá, giỏi
- Bước 8: Sửa và hoàn chỉnh công cụ
7 bước sử dụng bộ công cụ
- Bước 1: Chuẩn bị thời gian, không gian và các phương tiện đo
- Bước 2: Chuẩn bị bảng ghi kết quả theo lớp/ nhóm (bảng 2) và theo từng cá nhân
- Bước 3: Tiến hành đo trên trẻ theo cách thực hiện đã xây dựng ở trên
- Bước 4: Đánh giá kết quả đạt được trên trẻ
- Bước 5: Ghi kết quả
- Bước 6: Thống kê kết quả
- Bước 7: Điều chỉnh kế hoạch giáo dục
Xử lý kết quả đánh giá
Sau khi theo dõi đánh giá GV sẽ biết được sự phát triển của mỗi trẻ đạt được ở mức
độ nào Trên cơ sở kết quả trẻ đạt được giáo viên phải tìm ra nguyên nhân để đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợp với trẻ giúp cho trẻ đạt được các chỉ số của chuẩn
- Tiêu chí 1: Hiểu biết mục tiêu PTNT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Tiêu chí 2: Hiểu biết các nội dung PTNT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Tiêu chí 3: Hiểu biết các kết quả mong đợi ở lĩnh vực giáo dục PTNT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Tiêu chí 4: Hiểu biết các chỉ số đánh giá sự PTNT ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.2.9.2 Các tiêu chí v ề kỹ năng sư phạm
- Tiêu chí 1: Biết lập kế hoạch dạy học PTNT
Trang 37- Tiêu chí 2: Biết tổ chức các hoạt động dạy học PTNT cho trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ và biết tổ chức môi trường giáo dục PTNT phù hợp với điều kiện của nhóm/lớp
- Tiêu chí 3: Biết quan sát, đánh giá sự PTNT của trẻ
Tiểu kết chương 1
Giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non đã được quy định trong chương trình giáo dục mầm non Giáo dục PTNT cho trẻ là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có định hướng, có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ nhằm hình thành cho trẻ một số biểu tượng đơn giản về thế giới xung quanh và phương thức hoạt động nhận thức sơ đẳng góp phần phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động nhận thức ở trẻ
Có 3 nội dung chính về lĩnh vực PTNT trong chương trình GDMN đó là làm quen với toán, khám phá khoa học và khám phá xã hội Vì vậy, nghiên cứu việc thực hiện lĩnh vực PTNT trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi là nghiên cứu việc PTNT cho trẻ thông qua 3 nội dung này
Việc thực hiện lĩnh vực PTNT trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi chỉ đạt hiệu quả khi GVMN nắm vững được mục tiêu, nội dung, kết quả mong đợi được quy định cụ thể trong chương trình Ngoài ra, để việc đánh giá sự PTNT của trẻ có hiệu quả, GV phải nắm vững những chỉ số trong bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ở lĩnh vực này Bên cạnh đó, GV cần phải có các kỹ năng như: xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động giáo dục PTNT, xây dựng môi trường hoạt động và đánh giá sự PTNT của trẻ Các kỹ năng này không tách rời nhau mà hỗ trợ lẫn nhau, kỹ năng này là tiền đề cho kỹ năng kia phát triển Chính vì vậy, để thực hiện tốt lĩnh vực PTNT, GV cần được bồi dưỡng và hoàn thiện cả bốn kỹ năng này
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN LĨNH VỰC PHÁT
5-6 TUỔI Ở QUẬN BÌNH TÂN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Vài nét v ề địa bàn nghiên cứu và khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng
Quận Bình Tân được hình thành từ việc tách huyện Bình Chánh cũ thành huyện Bình Chánh mới và quận Bình Tân theo nghị định 130/2003/NĐ-CP ngày 5/11/2003 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Sau 10 năm hình thành và phát triển, hiện nay GDMN quận Bình Tân có 12 trường MN công lập, 30 trường dân lập – tư thục và 70 nhóm lớp MN 112 trường, nhóm lớp phân bố đều trên 10 phường của quận Tuy nhiên trong đó, có phường Bình Hưng Hòa không có trường MN công lập nào
Trong hệ thống 12 trường MN Công lập, trường MN Hương Sen được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia, là trường được đầu tư về cơ sở vật chất và bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên cho đội ngũ, là trường chọn để thực hiện thí điểm các chuyên đề của Ngành MN trong Quận Ngoài ra, các trường mầm non 19/5, mầm non Hoa Hồng, mầm non Sen Hồng là những trường tiên tiến cấp Thành phố nhiều năm liền, có chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tốt, được phụ huynh rất tin tưởng
Năm học 2011-2012 các trường bắt đầu thực hiện chuyển đổi việc xây dựng kế hoạch
GD lấy chủ đề là hình thức tổ chức thực hiện nội dung chương trình sang đưa nội dung chương trình vào các hình thức GD khác trong chế độ sinh hoạt hằng ngày, ngoài chủ đề Đây cũng là cách thức giúp nâng cao chất lượng trong thực hiện chương trình GDMN với phương châm đảm bảo cho trẻ phát triển tốt nhất Song song đó, các trường và nhóm - lớp đẩy mạnh công tác phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân - béo phì, tăng cường mua sắm trang thiết bị – đồ dùng, đồ chơi trong lớp và ngoài trời giúp bé tham gia hoạt động tích cực, nhằm phát triển tốt thể lực và phát triển trí thông minh
Tồn tại cơ bản của GDMN của quận hiện nay là trường lớp vẫn còn thiếu so với nhu cầu học tập của con em và so với yêu cầu hiện đại hóa nhà trường Quy hoạch trường lớp đã
có và quận tập trung rất quyết liệt, nhưng tiến độ xây dựng trường lớp vẫn chưa đáp ứng kịp tốc độ tăng dân số cơ học Hiện vẫn còn GV chưa tạo cơ hội cho trẻ tự khám phá, thử nghiệm
Trang 39Các trường MN chủ động, tích cực trong việc đầu tư cho cơ sở vật chất và đội ngũ ở đơn vị mình, thực hiện ngày càng tốt cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
MN Các trường MN công lập được quan tâm về chuyên môn và lực lượng GV
Tuy nhiên, đội ngũ GVMN chưa được quan tâm về các mặt đời sống, chỉ quan tâm bồi dưỡng về chuyên môn Việc bồi dưỡng này chỉ tập trung một số GV nổi trội, nòng cốt
dẫn đến sự không đồng đều trong đội ngũ
2.1.2.1 M ục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở Quận Bình Tân – TP Hồ Chí Minh và tìm hiểu một số nguyên nhân của thực trạng
2.1.2.2 Khách th ể nghiên cứu
- 30 giáo viên trực tiếp giảng dạy trẻ 5-6 tuổi ở 4 trường Mầm non Hương Sen, Mầm non 19/5, Mầm non Hoa Hồng và Mầm non Sen Hồng là khách thể nghiên cứu chính của đề tài
- 40 trẻ và 8 CBQL ở 4 trường Mầm non Hương Sen, Mầm non 19/5, Mầm non Hoa Hồng và Mầm non Sen Hồng là khách thể nghiên cứu bổ trợ của đề tài
2.1.2.3 Nhi ệm vụ và nội dung nghiên cứu
- Khảo sát chất lượng thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi của GVMN thông qua chương trình giáo dục tháng 10, 11, 12/2012 và tháng
1, 2, 3/2013
- Bước đầu tìm hiểu một số nguyên nhân của thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi
2.1.2 4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó phương pháp quan sát và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chủ đạo, còn lại các phương pháp khác như phương pháp phỏng vấn, phương pháp nghiên cứu hồ sơ giáo dục của giáo viên mầm non và sản phẩm hoạt động của trẻ là phương pháp bổ sung, hỗ trợ
Trang 40Chúng tôi tiến hành dự giờ 30 tiết học phát triển nhận thức (bao gồm hoạt động làm quen với toán, khám phá khoa học và khám phá xã hội)
- Làm quen với toán bao gồm các đề tài:
Nhận biết tên khối cầu, khối trụ
Đo độ dài của đối tượng Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật Nhận biết các chữ số và đếm trong phạm vi 5,6 Nhận biết các chữ số và đếm trong phạm vi 7
Đo độ dài các vật, so sánh và diễn đạt kết quả đo Tách các số lượng bằng các cách khác nhau Xác định trong ngoài của 1 vật so với vật khác Đếm và nhận biết các chữ số, số lượng trong phạm vi 9
Đo dung tích các vật, so sánh và diễn đạt kết quả đo
- Khám phá khoa học bao gồm các đề tài:
Thí nghiệm trồng củ hành, củ tỏi bằng nước
Thí nghiệm sự bốc hơi của nước
Thí nghiệm quá trình phát triển của cây đậu
Quan sát hoa mai
Quan sát một số loại rau
- Khám phá xã hội bao gồm các đề tài:
Quan sát bạn trai, bạn gái
Quan sát bảng nội quy của trường
Trò chuyện với cô làm vườn
Mời cô giáo đến lớp
Mời ông già Noel đến lớp
Mời cô cấp dưỡng đến lớp
Mời cô y sĩ đến lớp