1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh

120 3K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 830,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

38 C hương 2 : THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3, TP HCM .... Giả thuyết khoa học Công tác quản lý đổi mới P

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đặng Thị Mẫn

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành p hố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đặng Thị Mẫn

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS TRẦN THỊ HƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 3

Chân thành cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu cùng giáo viên các trường Mầm non ở Quận 3, TP HCM đã giúp đỡ, cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn

Chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các anh chị học viên lớp cao học Quản lý giáo dục khóa 21 đã chia sẻ, hỗ trợ và động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Thành phố Hồ chí Minh, tháng 3/2013

Tác giả luận văn Đặng Thị Mẫn

Trang 4

M ỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

C hương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu ngoài nước 6

1.1.2 Khái quát lịch sử nghiên cứu trong nước 7

1.2 Những vấn đề chung về GDMN 9

1.2.1 Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 9

1.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của bậc giáo dục mầm non 9

1.2.3 Quá trình giáo dục mầm non 10

1.2.4 Yêu cầu phát triển Giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay 12

1.3 Đổi mới phương pháp giáo dục mầm non 15

1.3.1 Khái niệm đổi mới phương pháp giáo dục mầm non 15

1.3.2 Mối liên hệ của PPGD và các thành tố khác trong CTGDMN 16

1.3.3 Khái quát hệ thống PPGDMN 17

1.3.4 Cơ sở khoa học của việc đổi mới PPGDMN 18

1.3.5 Định hướng đổi mới PPGDMN theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 21

1.3.6 Một số PPGDMN theo hướng đổi mới 22

1.3.7 Sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học và ứng dụng CNTT để đổi mới PPGDMN 25

1.4 Quản lý đổi mới phương pháp giáo dục mầm non 27

1.4.1 Một số khái niệm cơ bản 27

1.4.2 Các chức năng quản lý trường mầm non 31

1.4.3 Nội dung quản lý đổi mới PPGDMN 34

Trang 5

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38

C hương 2 : THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3, TP HCM 39

2.1 Khái quát chung về giáo dục mầm non Quận 3 TP HCM 39

2.1.1 Về quy mô, cơ cấu trường lớp, đội ngũ CBQL, GV 39

2.1.2 Về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non 42

2.2 Thực trạng đổi mới PPGD ở các trường mầm non Quận 3 44

2.2.1 Vài nét về mẫu khảo sát và cách thức xử lý số liệu 44

2.2.2 Thực trạng nhận thức của đội ngũ về đổi mới PPGDMN 45

2.2.3 Thực trạng việc thực hiện đổi mới PPGDMN ở các trường MN Quận 3 50 2.3 Thực trạng quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3 62

2.3.1 Xây dựng kế hoạch đổi mới PPGDMN 62

2.3.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện đổi mới PPGD ở các trường MN Quận 3 65

2.3.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đổi mới PPGDMN 70

2.3.4 Quản lý các điều kiện tổ chức thực hiện đổi mới PPGDMN 74

2.4 Nguyên nhân của thực trạng quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường MN Quận 3, TP HCM 76

2.4.1 Nguyên nhân của những ưu điểm 77

2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 79

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 81

C hương 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3, TP HCM 82

3.1 Cơ sở xác lập các biện pháp 82

3.1.1 Yêu cầu phát triển GDMN ở Quận 3, TP HCM giai đoạn 2005 - 2020 82 3.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý đổi mới PPGDMN theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 83

3.2 Các biện pháp quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM 84

Trang 6

3.2.1 Nâng cao nhận thức về đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực

của trẻ cho CBQL, GV trường MN 84

3.2.2 Tăng cường công tác xây dựng kế hoạch đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 86

3.2.3 Tăng cường tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 87

3.2.4 Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 89

3.2.5 Tăng cường các điều kiện thực hiện đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 90

3.3 Khảo nghiệm về tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp 91

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 102

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý CNTT : Công nghệ thông tin CSGD : Chăm sóc Giáo dục CSVC : Cơ sở vật chất

CTGD : Chương trình giáo dục CTGDMN : Chương trình giáo dục mầm non ĐLTC : Độ lệch tiêu chuẩn

PPDH : Phương pháp dạy học PPGD : Phương pháp giáo dục PPGDMN : Phương pháp giáo dục mầm non PTKT : Phương tiện kỹ thuật

QLGD : Quản lý giáo dục TBDH : Thiết bị dạy học TBGD : Thiết bị gíao dục

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 : Quy mô trường lớp mầm non ở Quận 3 40

Bảng 2.2 : Số liệu trẻ mầm non Quận 3 40

Bảng 2.3 : Số liệu trẻ 5 tuổi 41

Bảng 2.4 : Số liệu CBQL -GV mầm non Quận 3 41

Bảng 2.5 : Bảng phân bổ phiếu khảo sát 44

Bảng 2.6 : Qui ước mức độ đồng ý/thực hiện/hiệu quả/ảnh hưởng 45

Bảng 2.7 : Qui ước mức độ cần thiết và khả thi 45

Bảng 2.8 : Thực trạng nhận thức của đội ngũ về đổi mới PPGDMN 46

Bảng 2.9 : Thực trạng thiết kế kế hoạch HĐGD theo hướng đổi mới PPGD 50

Bảng 2.10 : Thực trạng sử dụng các PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 55

Bảng 2.11 : Thực trạng sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học và ứng dụng CNTT 58

Bảng 2.12 : Thực trạng xây dựng kế hoạch đổi mới PPGDMN 62

Bảng 2.13 : Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện đổi mới PPGDMN 65

Bảng 2.14 : Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đổi mới PPGDMN 70 Bảng 2.15 : Thực trạng đảm bảo các điều kiện tổ chức thực hiện đổi mới PPGDMN 74

Bảng 2.16 : Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới PPGDMN 76

Bảng 3.1 : Tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM 91

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ 21 là thế kỷ của nền văn minh trí tuệ Sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục, tạo ra

sự đổi mới và phát triển giáo dục ở quy mô toàn cầu “Giáo dục chính là chìa khóa

để tiến đến một thế giới tốt đẹp hơn, vai trò của giáo dục là sự thức tỉnh tiềm năng của con người, giáo dục là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để tiến vào tương lai, ” [1]

Giáo dục mầm non, là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng bậc học GDMN Các quyết định của Thủ

tướng chính phủ về GDMN như Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg Đề án "Phát

triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015", Quyết định số 239/QĐ-TTg về

Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015” mở

ra nhiều cơ hội phát triển bậc học, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non

Trước yêu cầu đổi mới của giáo dục, GDMN đã và đang đổi mới nội dung, PPGD để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ Bộ GD&ĐT

đã ban hành “Chương trình Giáo dục mầm non” theo Thông tư số 17/2009/ BGD&ĐT Chương trình đã tiếp thu những tinh hoa của CTGDMN trong và ngòai nước Tư tưởng cốt lõi của chương trình được thể hiện một cách nhất quán theo các quan điểm: quán triệt mục tiêu GD mầm non trong giai đọan mới ; tiếp cận họat động nhân cách và phát triển; GD hướng vào trẻ, phát huy tính tích cực của trẻ, lấy trẻ làm trung tâm và quan điểm tích hợp

TT-Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới giáo dục nói chung, GDMN nói riêng, đổi mới quản lý GD được xem là giải pháp đột phá trong chiến lược phát triển giáo dục 2009 - 2020 Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng

về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đã

Trang 10

nhấn mạnh: “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và CBQL

giáo d ục”, đặc biệt “tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, nhất là công tác thanh tra chuyên môn và q uản lý chất lượng GD…” [3, tr.2] Đổi mới công tác

quản lý giáo dục mầm non đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ, trong đó có quản lý đổi mới PPGD - một bộ phận của quản lý chuyên môn trong GDMN

Trong những năm qua, Quận 3, TP HCM là một trong những đơn vị đi đầu trong việc triển khai áp dụng CTGDMN và đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ UBND thành phố HCM cũng đã dành tỷ lệ ngân sách cao, đầu tư vào các dự án lớn để phát triển GDMN của thành phố trong đó có Quận 3 Các dự án bao gồm: chương trình kiên cố hóa trường lớp đầu tư xây dựng một số trường mầm non, bồi dưỡng nâng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho GV, tổ chức tập huấn chương trình cho đội ngũ Tuy nhiên, việc thực hiện CTGDMN nói chung và việc đổi mới PPGD nói riêng ở Quận 3 chưa đồng bộ, công tác quản lý đổi mới PPGD theo quan điểm đổi mới trong CTGDMN còn nhiều bất cập, khó khăn lúng túng, chưa mang lại hiệu quả thực tế như mong đợi , đòi hỏi phải có những biện pháp quản lý đổi mới PPGD mầm non

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:

Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non

Q uận 3, TP HCM”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới PPGD ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM nhằm góp phần cải tiến công tác quản lý trong lĩnh vực này

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động giáo dục ở các

trường mầm non Quận 3, TP HCM

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý đổi mới PPGD ở các trường

mầm non Quận 3, TP HCM

Trang 11

4 Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM có thể đã đạt được một số kết quả như: đội ngũ CBQL, GV đã nhận thức được sự cần thiết phải thực hiện đổi mới PPGDMN;

đã có kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá thực hiện hoạt động đổi mới PPGD theo CTGDMN Tuy nhiên, việc thực hiện các nội dung trong quy trình quản

lý trên chưa đồng bộ, thiếu chiều sâu, còn nhiều hạn chế và bất cập Khi đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý đổi mới PPGD ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM thì sẽ có cơ sở thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới PPGD cần

thiết và khả thi ở các trường này

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đổi mới quản lý PPGD ở trường mầm non

5.2 Khảo sát thực trạng quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM

6 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp quản

lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ trong việc thực hiện CTGDMN

- Đề tài tập trung khảo sát thực trạng quản lý đổi mới PPGD tại 10 trường

MN trên tổng số 22 trường MN công lập (bao gồm cả các trường tự chủ tài chính)

Quận 3, TP HCM

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7 1 Phương pháp luận nghiên cứu

7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc

Khi nghiên cứu PPGDMN, chúng tôi tiếp cận PPGDMN tồn tại như một thành tố trong hệ thống cấu trúc của CTGDMN Các thành tố cấu trúc CTGDMN không tồn tại riêng lẻ mà chúng có mối quan hệ biện chứng, tương tác, chi phối,

Trang 12

phụ thuộc và thúc đẩy sự phát triển của nhau Mục tiêu qui định nội dung, nội dung qui định phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện so với mục tiêu đề ra nhằm điều chỉnh kế hoạch thực hiện cho phù hợp Cho nên quản lý đổi mới PPGDMN cần phải chú ý đến mối quan hệ có tính quy luật này

Quá trình quản lý đổi mới PPGDMN chịu tác động bởi: người dạy, người học, môi trường GD, các điều kiện thực hiện.Vì vậy, cần nghiên cứu, hiểu rõ vị trí, chức năng của từng yếu tố, cách thức hoạt động, tác động qua lại giữa các các yếu tố này

7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic

Đổi mới PPGDMN và quản lý đổi mới PPGDMN được nghiên cứu trong quá trình phát triển, kế thừa những kinh nghiệm đã có trong quá trình giáo dục mầm non Quản lý đổi mới PPGDMN phải tuân theo một trình tự chặt chẽ, phải xuất phát

từ việc đổi mới các thành tố cấu trúc trong CTGDMN, bắt đầu từ đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, vai trò của GV, vai trò của trẻ, các điều kiện đảm bảo thực hiện chương trình và thực hiện tốt các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ

đạo, kiểm tra Quản lý đổi mới PPGDMN là quá trình lâu dài không thể nóng vội hoặc

chủ quan duy ý chí

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Quản lý đổi mới PPGDMN phải phù hợp với thực tiễn GD của địa phương

và trường MN Kết quả nghiên cứu phải nhằm góp phần cải tiến công tác quản lý của đơn vị, nâng cao chất lượng đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có nhân cách toàn diện, năng động, sáng tạo, thích nghi với sự thay đổi

7 2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp hệ thống hóa những vấn đề lý luận trong các tài liệu, văn

bản, công trình nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 13

- Mục đích: Khảo sát thực trạng quản lý đổi mới PPGDMN ở các trường MN

Quận 3, TP HCM; khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống biện pháp quản lý đề xuất

- Đối tượng điều tra: CBQL, chuyên viên phụ trách mầm non- Phòng Giáo

dục và Đào tạo Quận 3; Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Tổ trưởng, Tổ phó chuyên môn cùng với GV các trường được chọn khảo sát

7.2.2 2 Phương pháp quan sát

- Mục đích: Thu thập thông tin hỗ trợ cho các nội dung khảo sát của đề tài

nghiên cứu

- Đối tượng quan sát: quan sát các HĐGD của GV và trẻ; quan sát các hoạt

động quản lý đổi mới PPGD ở trường MN Quận 3, TP HCM

7.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu sản phẩm của CBQL các trường MN như: kế hoạch, các văn bản chỉ đạo, báo cáo sơ, tổng kết, biên bản họp chuyên môn để đánh giá thực trạng

quản lý đổi mới PPGD ở trường MN Quận 3, TP HCM

7.2.2.4 P hương pháp phỏng vấn

Trao đổi, phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giáo viên có nhiều kinh nghiệm

trong GDMN nhằm thu thập thêm thông tin cho vấn đề nghiên cứu

7.2.3 P hương pháp thống kê toán học

Sử dụng chương trình SPSS (Statistical Package for Social Sciences) nhằm

tổng hợp và xử lý kết quả từ cuộc điều tra

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Khái quát l ịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới, từ lâu, đã có nhiều nhà giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu

về giáo dục mầm non và PPGDMN

Vào thời cổ đại, Khổng Tử đã có phương pháp giáo dục: học là phải luyện

tập thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng, ”Học mà

cứ thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thoả thích hay sao?”; học

phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc nhỏ “tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”

Với phương pháp này ông muốn những nhà GD phải thường xuyên tổ chức luyện tập cho trẻ trong quá trình GD con người [20, tr.23]

J.A.Cômenxki (1592-1670) được coi là “ Ông tổ của nền giáo dục cận đại”,

là người đặt nền móng cho khoa học giáo dục nói chung và Giáo dục học mầm non nói riêng Một trong những tư tưởng GD tiên tiến của ông là “giáo dục phải phù hợp với tự nhiên” Sự phù hợp với quy luật của tự nhiên ở trẻ em thể hiện ở các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi, ứng với mỗi thời kỳ, trẻ em có đặc điểm phát triển riêng về tâm sinh lý, vì thế cần có nội dung và PPGD cho từng lứa tuổi ấy Một điểm nổi bật và có giá trị sâu sắc trong quan điểm giáo dục trẻ của J.A.Cômenxki rằng: “trò chơi là hoạt động trung tâm của trẻ mẫu giáo, là hình thức hoạt động cần thiết phù hợp với bản chất và khuynh hướng tự nhiên của trẻ ” [13]

Nhà giáo dục nổi tiếng của nền giáo dục cổ điển - Ph Phơ Bách ( 1852) đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ mẫu giáo Theo ông, con người có 4 bản năng: hoạt động, nhận thức, văn học và tôn giáo Vì vậy, mục đích của GD là làm rõ những cái ban đầu thượng đế đặt sẵn trong

Trang 15

mỗi con người và GD có nhiệm vụ phát triển cái vốn sẵn có trong con người Từ đó ông đưa ra nguyên tắc GD tự do, yêu cầu nhà giáo dục phải đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của trẻ trong hoạt động và giao tiếp Ông đề cao PPGD thông qua tổ chức

hoạt động vui chơi Quan điểm của ông: “ trò chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ

mẫu giáo và cần phải giáo dục trẻ thông qua trò chơi ”[13]

M Montessori ( 1870-1952), nhà giáo dục người Ý, tiếp tục đi theo tư tưởng GD của Ph Phơ Bách Triết lý GD của M Montessori là: “Mỗi đứa trẻ là một người trưởng thành Chúng sinh ra đều có tiềm năng để học Học là tự nhiên đúng với thời điểm phát triển của trẻ Không có quyền dạy hơn hoặc thấp hơn, giáo viên không có quyền lựa chọn chương trình dạy mà để trẻ tự lựa chọn" Điểm mấu chốt trong quan điểm GD của bà là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đứa trẻ phát triển thông qua trò chơi, thông qua việc rèn luyện giác quan đặc biệt là xúc giác Bản chất của phương pháp GD Montessori chính là họat động tự do của trẻ trong môi trường được chuẩn bị sẵn với sự hướng dẫn trực tiếp rất hạn chế của GV Phương pháp dạy trẻ học trực tiếp qua học cụ và các trẻ khác GV được đào tạo để dạy từng trẻ một hoăc một nhóm nhỏ [31]

1.1.2 Khái quát lịch sử nghiên cứu trong nước

Phương pháp giáo dục MN được đề cập khá cụ thể trong các sách, giáo trình

về chăm sóc, giáo dục MN, trong đó có một số sách phổ biến như: “Giáo dục học

mẫu giáo” (A.I Xỏrôkina, 1977), “Giáo dục học mầm non” của nhóm tác giả Đào

Thanh Âm (chủ biên) - Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (1997) và một

số tài liệu tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về PPGDMN

Phân tích những thay đổi về PPGDMN liên quan đến từng lọai chương trình, tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2008) đã nêu những điểm khác nhau về PPGD theo từng giai đọan phát triển CTGDMN của Việt Nam từ những năm 70-80 của thập kỷ

trước đến nay Xuất hiện đầu tiên là Chương trình mẫu giáo cải tiến, đến Chương

trình chỉnh lý nhà trẻ và Chương trình cải cách mẫu giáo, cho đến Chương trình giáo dục mầm non hiện nay Song song với những CT này là những nội dung,

phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục thay đổi theo từng lọai CT [12]

Trang 16

Tác giả Đinh Thị Kim Thoa (2008) đã đề cập đến PPGDMN của Chương

trình giáo dục mầm non hiện hành với những điểm chính là: PPGD đảm bảo phù

hợp với lứa tuổi mẫu giáo, trẻ được “học bằng chơi, chơi mà học” [24]

Nhìn chung những tài liệu này chỉ ra rằng PPGDMN được quy định trong từng lọai CTGDMN theo từng giai đọan lịch sử khác nhau và do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành

Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu, giáo trình, luận văn có liên quan đến vấn đề quản lý giáo dục mầm non trong đó có kể đến quản lý

đổi mới PPGDMN, tiêu biểu như: “Một số vấn đề về quản lý trường MN” của Đinh Văn Vang, “Quản lý Giáo dục mầm non” của Phạm Thị Châu Luận văn Thạc sĩ

QLGD: “Biện pháp quản lý việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non ở các trường mầm non thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang” của Nguyễn Vĩnh Tòan Luận

văn Thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục: “Ảnh hưởng của

chương trình giáo dục mầm non hiện hành đến phương pháp và hình thức tổ chức

d ạy học của giáo viên mầm non thành phố Phan Thiết” của Nguyễn Thị Kim

Hồng

Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã nêu lên các vấn đề chung về quản lý CTGDMN trong đó có đề cập đến việc quản lý đổi mới PPGDMN, tổ chức thực hiện đầy đủ nội dung chương trình theo qui định, coi trọng tất cả HĐGD trẻ và phải quán triệt quan điểm GD trẻ qua trò chơi Điểm chung nổi bật của các công

trình nghiên cứu kể trên đều cho rằng đổi mới chương trình, nội dung, PPGDMN là

nhiệm vụ quan trọng để nâng chất lượng GDMN trong giai đoạn hiện nay, các biện pháp quản lý đổi mới PPGDMN có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng CSGD trẻ của bậc học Cho nên tìm ra các biện pháp quản lý , nâng cao chất lượng CSGD trẻ được coi là nhiệm vụ trọng tâm của trường MN Đây cũng chính mối quan tâm chung của những người làm công tác nghiên cứu GD, quản lý GD và quản lý trường MN

Tại Quận 3, TP Hồ chí Minh, ngoài những văn bản, chỉ thị, đề án mang tính chủ trương, đường lối phát triển GDMN của quận, của thành phố, chưa có tác giả

Trang 17

nào nghiên cứu về quản lý đổi mới PPGD ở các trường MN Quận 3, TP HCM Vì vậy, để quản lý đổi mới PPGDMN đáp ứng theo yêu cầu của đổi mới CTGDMN và phù hợp với điều kiện thực tiễn các trường MN tại Quận 3, TP HCM, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý đổi mới PPGDMN, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý đổi mới PPGD ở các trường MN Quận 3, TP HCM

1.2 Những vấn đề chung về GDMN

1.2.1 Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Giáo dục mầm non là một bậc giáo dục mở đầu trong hệ thống giáo dục

quốc dân Việt Nam, là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi

người: ”Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt

nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam ” [8] GDMN có vị trí quan trọng là:

- Hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới phát triển toàn diện Tuổi mầm non, đặc biệt là thời kỳ tuổi mẫu giáo, nhân cách của trẻ bắt đầu được hình thành, những nét tính cách được hình thành trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển nhân cách ở giai đoạn sau

- Giáo dục mầm non còn góp phần chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ vào học phổ thông Giáo dục mầm non là khâu mở đầu của quá trình giáo dục liên tục, những kiến thức, kỹ năng mà trẻ tích lũy được từ quá trình giáo dục mầm non

sẽ là cơ sở nền tảng để trẻ học ở giai đoạn tiếp theo

1.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của bậc giáo dục mầm non

* Mục tiêu chung của bậc giáo dục mầm non:

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.[4]

Trang 18

* Nhiệm vụ của bậc giáo dục mầm non:

- Thu hút ngày càng đông đảo trẻ em ở lứa tuổi dưới 6 tuổi vào các loại hình chăm sóc - giáo dục thích hợp, trong đó nhà trẻ, trường mẫu giáo giữ vai trò nòng cốt

- Thực hiện nội dung giáo dục toàn diện và ngày càng nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ theo mục tiêu, kế hoạch đào tạo

- Tuyên truyền và hướng dẫn công tác nuôi dạy trẻ khoa học cho các bậc cha

mẹ, ủng hộ những tập quán tốt, bài trừ những tập quán phản khoa học trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ ở gia đình và cộng đồng Góp phần cùng các lực lượng xã hội khác quan tâm thích đáng đến những trẻ bị thiệt thòi

- Kết hợp chặt chẽ cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình với phong trào nuôi con khỏe, dạy con ngoan, xây dựng gia đình văn hóa mới góp phần đảm bảo hạnh phúc gia đình và tăng năng suất lao động xã hội [1]

Các nhiệm vụ trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, thực hiện nhiệm vụ này sẽ là tiền đề cho việc thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo và ngược lại

1.2.3 Quá trình giáo dục mầm non

Quá trình GDMN chính là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có ý thức, có kế họach từ phía nhà giáo dục đến trẻ em ở lứa tuổi mầm non nhằm hình thành và phát triển cơ sở ban đầu của nhân cách trẻ Quá trình sư phạm này mang tính tòan vẹn, tổng thể, được tổ chức một cách có ý thức có kế họach trên cơ sở những kinh nghiệm và lí luận về GDMN Trong quá trình tác động sư phạm lẫn nhau giữa nhà giáo dục và trẻ em trên bình diện cá nhân cũng như tập thể, tạo thành quan hệ xã hội đặc biệt được gọi là quan hệ giáo dục Nhờ sự giúp đỡ từ phía nhà giáo dục , trẻ em tự giác, tích cực, sáng tạo chiếm lĩnh những kinh nghiệm lịch sử

xã hội

Như vậy, quá trình GDMN là một quá trình có tính chất xã hội hình thành

con người, được tổ chức một cách có mục đích có kế họach, căn cứ vào mục đích và điều kiện do xã hội qui định, được thực hiện thông qua họat động hợp tác cùng

Trang 19

- Mục tiêu GDMN là những dự kiến về kết quả đạt được trong quá trình GDMN trong một thời gian nhất định (trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi)

- Nội dung GDMN chính là bộ phận chọn lọc của kinh nghiệm xã hội và của nền văn hóa của lòai người

- Phương pháp GDMN là cách thức, con đường họat động hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GDMN

- Phương tiện GDMN là những công cụ được GV và trẻ sử dụng trong quá trình GDMN

- Nhà giáo dục (GV, tập thể sư phạm, cha mẹ trẻ) giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình giáo dục

- Người được giáo dục (trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi) là đối tượng chịu sự tác động giáo dục của nhà giáo dục đồng thời là chủ thể tích cực của họat động và tự giáo dục

- Điều kiện giáo dục gồm có điều kiện bên trong như đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ GV mầm non, cơ sở vật chất của trường MN và điều kiện bên ngòai như hòan cảnh kinh tế xã hội, chính trị của đất nước, hòan cảnh tự nhiên, môi trường xung quanh cơ sở MN

- Kết quả GDMN là mức độ phát triển nhân cách trẻ MN đạt được sau một quá trình giáo dục trẻ, đây chính là thước đo đánh gía mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non

Trong quá trình GDMN, trẻ em vừa là chủ thể vừa là khách thể Trẻ luôn được coi là trung tâm của quá trình giáo dục, giáo dục xuất phát từ lợi ích của trẻ và

Trang 20

và kích thích trẻ tham gia vào các họat động tìm tòi khám phá thế giới xung quanh

Trẻ chủ động tích cực tham gia vào các họat động, trải nghiệm các tình huống trong cuộc sống và làm giàu vốn kinh nghiệm của mình Cả trẻ và giáo viên đều tham gia vào việc họach định các kế họach họat động theo nhu cầu, hứng thú và sự phát triển của chính trẻ

1.2.4 Yêu cầu phát triển Giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay

1.2.4.1.Quan điểm chỉ đạo

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp GDMN, đã có nhiều chỉ thị, quyết định, đề án được ban hành để phát triển GDMN như Luật Giáo dục 2005; các quyết định của Thủ tướng chính về GDMN như Quyết định số 161/ 2002/QĐ-TTg

về “Một số chính sách phát triển Giáo dục mầm non”, Quyết định TTg Đề án "Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015", Quyết định số 239/QĐ-TTg về “Đề án phổ cập Giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn

số149/2006/QĐ-2010-2015” mở ra nhiều cơ hội phát triển bậc học, nâng cao chất lượng CSGD trẻ

MN Đề án “Phát triển GDMN giai đoạn 2006-2015” xác định quan điểm chỉ đạo phát triển GDMN trong bối cảnh phát triển kinh tế- xã hội của đất nước hiện nay

như sau:“Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,

đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam Việc chăm lo phát triển giáo dục MN là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

và sự quản lý của Nhà nước…”.[8]

1.2.4.2 Yêu cầu phát triển GDMN trong giai đọan hiện nay

- Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư phát triển giáo dục mầm non; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, đẩy mạnh công tác xã hội hoá; nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục mầm non ở các vùng

Trang 21

có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng

xa, hải đảo, biên giới

- Việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non phải được thực hiện với sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Coi trọng và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc phụ huynh, cha mẹ của trẻ nhằm thực hiện đa dạng hoá phương thức chăm sóc, giáo dục trẻ em

- Từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non theo nguyên tắc bảo đảm đồng bộ, phù hợp, tiên tiến, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp một, góp phần tích cực, thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục [8]

1.2.4.3 Xu hướng đổi mới giáo dục mầm non ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới để phù hợp với xu hướng GDMN chung trên thế giới, trong khu vực và đồng thời đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của GDMN trong nước , GDMN đã tiến hành đổi mới theo xu hướng tích hợp

- Quan điểm tích hợp trong GDMN được hiểu như là một cách tiếp cận, một

phương cách hợp lí liên kết, xâm nhập, đan xen những quá trình sư phạm tạo thành một thể thống nhất, tác động đồng bộ đến trẻ em như một chỉnh thể tòan vẹn Nhờ

đó hiệu quả GD được nâng lên

- Quan điểm tích hợp được thể hiện trước hết là ở mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cơ bản: chăm sóc và GD trẻ Khi thực hiện hai nhiệm vụ này cần lồng ghép, đan xen chúng với nhau Chính mối liên hệ khăng khít giữa các mặt GD tạo ra những điều kiện tối ưu cho sự phát triển tòan diện nhân cách trẻ em

- Việc tích hợp, lồng ghép, đan xen các họat động của trẻ vào nhau theo các chủ đề gần gũi, quen thuộc trên cơ sở lấy họat động chủ đạo của trẻ mầm non làm họat động “công cụ ” giúp trẻ tiếp thu kinh nghiệm xã hội ở nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực khác nhau, đó là những kinh nghiệm tích hợp cần thiết cho trẻ trong cuộc sống thực và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một

Trang 22

+ Chương trình GD tích hợp theo chủ đề ở bậc học MN không có sự phân chia thành các môn học riêng biệt như ở phổ thông mà chúng được đan xen, lồng ghép, tích hợp vào nhau theo các chủ đề trên cơ sở lấy một họat động chủ đạo để tích hợp các họat động khác

- Chương trình GD tích hợp theo chủ đề nhấn mạnh việc kết hợp các lĩnh vực (các nội dung GD) theo các chủ đề, chủ điểm gần gũi với trẻ

- Trong tổ chức các HĐGD theo chủ đề:

+ Trẻ và GV cùng nhau tham gia khám phá, cùng học, cùng chơi, cùng giải quyết các vấn đề và cùng nhau đi tới những kết luận cụ thể GV giử vai trò tổ chức hướng dẫn, trợ giúp trẻ trong các họat động của trẻ nhằm phát huy tính tích cực của trẻ, tạo cơ hội thuận lợi cho trẻ được họat động theo nhu cầu, hứng thú riêng của trẻ

+ GV quan tâm đến tiềm năng phát triển của trẻ hơn là tạo các cơ hội tương ứng ở mức độ phát triển hiện tại của trẻ GV chủ động sáng tạo trong việc tổ chức HĐGD trẻ ở trường (GV lập kế họach, thiết kế môi trường họat động cho trẻ, lựa chọn và vận dụng phương pháp, biện pháp, hình thức giáo dục )

- Giáo dục tích hợp theo chủ đề hướng đến việc:

+ Tăng cường cho trẻ khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan trên

cơ sở đó phát triển ngôn ngữ, tư duy và óc tưởng tượng của trẻ

+ Quan tâm đến các đặc điểm cá nhân trẻ, cá biệt hóa trong công tác GD trẻ

ở trường MN

+ Tăng cường tổ chức các họat động cá nhân, theo nhóm nhỏ, nhóm vừa

Vận dụng các hình thức tổ chức HĐGD linh họat và mềm dẻo phù hợp khả năng thực của trẻ cũng như các đặc điểm vùng miền, địa phương

Trang 23

+ Tạo cơ hội và điều kiện cho trẻ được trãi nghiệm, được họat động và lĩnh

hội theo nhiều cách, đặc biệt lưu ý đến việc” trẻ học như thế nào hơn là trẻ học cái

gì” Không tách rời giữa học với chơi, GV sử dụng nhiều PPGD khác nhau, phát huy tính tích cực, tìm tòi khám phá của trẻ

1.3 Đổi mới phương pháp giáo dục mầm non

1.3.1 Khái niệm đổi mới phương pháp giáo dục mầm non

* Phương pháp giáo dục mầm non

Thuật ngữ phương pháp (method) xuất phát từ tiếng hy lạp (metodos) có nghĩa là con đường, cách thức vận động của sự vật, hiện tượng Vấn đề về phương pháp được vận dụng khá nhiều trong triết học Theo cách tiếp cận phương pháp của

G Heghen (1770-1831) thì muốn dạy nội dung gì phải có phương pháp đó, do đó ”

cách dạy phải luôn phù hợp với nội dung dạy học” Còn theo cách tiếp cận của C

Mác (1818-1883) thì “ muốn đạt hiệu quả cao trong dạy học phải trả lời được câu hỏi: phương pháp nào là tối ưu nhất để chuyển tải nội dung dạy học đến người học? Phương tiện nào là tốt nhất?” Vì vậy có thể nói phương pháp dạy học là hình

thức vận động của một họat động đặc thù: họat động dạy học [18, tr 143-145] Có

thể hiểu khái niệm phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học

sinh, trong đó giáo viên giữ vai trò chủ đạo và học sinh giữ vai trò tích cực chủ động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học [15]

Ở bậc học Mầm non, dạy học thông qua giáo dục và dạy học không thể tách

rời khỏi giáo dục cho nên thuật ngữ phương pháp giáo dục mầm non bao gồm

phương pháp dạy học và giáo dục mầm non Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa:

“ Phương pháp giáo dục mầm non được hiểu là cách thức, con đường họat động hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục

đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non” [13] Phương pháp giáo dục mầm non chính là công

cụ để tổ chức các họat động giáo dục và nó được quyết định bởi mục tiêu và nội dung giáo dục trẻ ở trường mầm non

* Đổi mới phương pháp giáo dục mầm non

Trang 24

Tự điển tiếng Việt giải thích từ “đổi mới ” là biến đổi, thay đổi, và có tiến bộ

nhiều hơn trước (innovate, renovate) Như vậy, nội hàm của khái niệm đổi mới bao

gồm hai nét nghĩa: thay đổi và có tiến bộ nhiều hơn cái cũ Hiểu một cách nôm na đổi mới là những tác động mới, sự thay đổi cái cũ, cái lạc hậu bằng những cái mới hơn, hiện đại hơn

Đổi mới PPGDMN là đổi mới cách thức họat động phối hợp thống nhất giữa

nhà giáo dục và trẻ MN trong hoạt động giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của trẻ MN

Đổi mới PPGDMN là phải làm sao giúp trẻ mầm non phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn

bị cho trẻ em vào lớp một

1.3.2 Mối liên hệ của PPGD và các thành tố khác trong CTGDMN

Theo các cách tiếp cận hệ thống cấu trúc, CTGDMN là một tổng thể gồm nhiều thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, các điều kiện thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện Trong đó phương pháp GDMN chính là công cụ để tổ chức các hoạt động GD và được quyết định bởi mục tiêu, nội dung

GD Các PPGD trẻ phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ cho nên khi xác định PPGD cần xuất phát từ tính chất hoạt động của trẻ hơn là tính chất hoạt động của GV Đây chính là cơ sở lí luận định hướng chỉ đạo quan niệm mới về GD lấy trẻ làm trung tâm GV là người tổ chức hướng dẫn trẻ, tạo cơ hội, tạo những tình huống, những thách thức mới, tạo cảm giác tin tưởng và kích thích trẻ tham gia vào các hoạt động tìm tòi khám phá thế giới xung quanh Còn trẻ chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động trải nghiệm các tình huống trong cuộc sống và làm giàu vốn kinh nghiệm của mình

Cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa GV và trẻ nhằm

thực hiện mục tiêu GD đã đặt ra gọi là biện pháp GD Phương pháp gíao dục trẻ có

mối quan hệ mật thiết với biện pháp GD và cả hai đều được quy định bằng hoạt động hợp tác cùng nhau giữa nhà GD và trẻ nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra ở độ

Trang 25

tuổi MN Tuy nhiên, phương pháp mang tính khái quát chung còn biện pháp mang tính cụ thể

Bên cạnh đó, PPGD trẻ cũng có mối quan hệ mật thiết với phương tiện GD -

đó là những công cụ được GV và trẻ sử dụng trong hoạt động GD, nhờ có phương tiện GD hổ trợ, PPGD sẽ đạt được hiệu quả cao

1.3.3 Khái quát h ệ thống PPGDMN

1.3.3 1 Nhóm phương pháp tác động bằng tình cảm, khích lệ

Dùng cử chỉ vỗ về, vuốt ve gần gũi cùng với những điệu bộ, nét mặt, lời nói

âu yếm để tạo cho trẻ những cảm xúc an toàn, tin cậy, thoả mãn nhu cầu giao tiếp, gắn bó, tiếp xúc với người thân và môi trường xung quanh

1.3.3.2 Nhóm phương pháp dùng lời nói (trò chuyện, kể chuyện, giải thích)

Sử dụng lời nói, lời kể diễn cảm, câu hỏi gợi mở phối hợp cùng với các cử

chỉ, điệu bộ phù hợp nhằm khuyến khích trẻ tiếp xúc với đồ vật và giao tiếp với người xung quanh; bộc lộ ý muốn, chia sẻ những cảm xúc với người khác bằng lời nói và hành động cụ thể Lời nói của GV vừa giúp trẻ khả năng nghe và hiểu người khác nói và đồng thời cùng dạy trẻ nói cho người khác hiểu ý của mình Ngôn ngữ vừa là phương tiện để giao tiếp đồng thời vừa là cơ sở cho mọi chức năng trí tuệ cao cấp và nó ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của trẻ Lời nói và câu hỏi của người lớn cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với kinh nghiệm của trẻ Đối với trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ dùng tiếng mẹ đẻ khi giao tiếp là chủ yếu Hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào văn hóa giao tiếp của GV, mức độ biểu cảm của ngôn ngữ và độ hiểu biết của trẻ

1.3.3.3 Nhóm phương pháp trực quan - minh họa

Dùng phương tiện trực quan (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, phim ảnh), hành động mẫu (lời nói và cử chỉ) cho trẻ quan sát, rèn luyện sự nhạy cảm của các giác

quan, thoả mãn nhu cầu tiếp nhận các thông tin từ thế giới bên ngoài Phương tiện

trực quan và hành động mẫu cần sử dụng đúng lúc và kết hợp với lời nói với các minh hoạ phù hợp

Trang 26

Phương pháp trực quan bao gồm phương pháp quan sát kết hợp với nghe , cầm, nắm, sờ, ngửi, nếm và phương pháp trình bày trực quan (làm mẫu, minh họa), nó được thể hiện bằng cách như trình bày đồ vật thật, tranh ảnh, vật mẫu, phim ảnh, các phương tiện kỹ thuật Điều kiện thực hiện: phải có đồ dùng, đồ vật

trực quan Có thể kết hợp với phương pháp dùng lời

1.3.3.4 Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm

- Hành động, thao tác với đồ vật, đồ chơi là tổ chức cho trẻ thao tác trực tiếp

với đồ chơi, đồ vật dưới sự hướng dẫn của giáo viên (sờ mó, cầm nắm, lắc, mở đóng, xếp cạnh nhau, xếp chồng lên nhau) để tiếp nhận thông tin, nhận thức và hình thành các hành vi, kỹ năng

- Trò chơi là sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản thích hợp để kích

thích trẻ hoạt động, mở rộng hiểu biết về môi trường xung quanh và phát triển lời nói

và vận động phù hợp

- Luyện tập là tổ chức cho trẻ thực hiện lặp đi lặp lại các câu nói, động tác,

hành vi, cử chỉ, điệu bộ phù hợp với yêu cầu nội dung giáo dục và hứng thú của trẻ Lời nói của cô cần hướng đến giúp trẻ dễ dàng thực hiện các hành động, động tác luyện tập

1.3.3 5 Nhóm phương pháp đánh giá, nêu gương

Ở lứa tuổi nhỏ, người lớn khen, nêu gương, tỏ thái độ đồng tình, khích lệ những việc làm, hành vi, lời nói tốt của trẻ là chủ yếu, có thể tỏ thái độ không đồng tình, nhắc nhở khi cần thiết nhưng cần nhẹ nhàng, khéo léo

Giáo viên phối hợp các phương pháp tạo ra sức mạnh tổng hợp tác động đến các mặt phát triển của trẻ, khuyến khích trẻ sử dụng các giác quan (nghe, nhìn, sờ …), sử dụng lời nói và tích cực hoạt động để phát triển; tăng cường giao tiếp, hướng dẫn cá nhân bằng lời nói, cử chỉ và hành động; chú trọng sử dụng phương pháp tác động bằng tình cảm và thực hành Giáo viên luôn là tấm gương cho trẻ noi theo [ 4, tr22]

1.3.4 Cơ sở khoa học của việc đổi mới PPGDMN

1.3.4.1 Cơ sở lý luận của việc đổi mới PPGDMN

Trang 27

Theo cách tiếp cận hệ thống cấu trúc, CTGDMN là một tổng thể gồm nhiều thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, đánh giá kết quả thực hiện cho đến các điều kiện thực hiện Do đó, khi CT giáo dục thay đổi thì tất yếu các yếu tố của CT cũng thay đổi theo Việc đổi mới CTGDMN hiện nay đã tiếp cận theo quan điểm phát triển: theo cách tiếp cận này thì CT là một quá trình trong đó dạy học thúc đẩy sự phát triển Trẻ là một chủ thể tham gia vào quá trình họat động nhận thức và phát triển Giáo dục hướng tới phát huy tối đa mọi tiềm năng của con người, đáp ứng nhu cầu và hứng thú của người học Cách tiếp cận này có những điểm giống với cách tiếp cận phù hợp với sự phát triển và cách tiếp cận dạy học hướng vào trẻ Theo cách tiếp cận này thì mối quan tâm hàng đầu là phát triển sự hiểu biết của người học, chú trọng vào việc dạy cách học hơn là việc truyền thụ kiến thức; chú trọng đến cá nhân người học hơn là vào tập thể Thực chất chú trọng đến người học chính là chú trọng đến nhu cầu và hứng thú của người học [19, tr110-

111] Theo đó, cách tiếp cận này có cách thiết kế CT, nội dung GD theo các họat động

Trong GDMN cách tiếp cận phát triển rất phù hợp với bậc học này vì nó phát huy tính chủ động, chú ý đến phát triển nhân cách đứa trẻ Cách tiếp cận này làm thay đổi mối quan hệ của cô và trẻ, cô không còn đóng vai trò quyết định áp đặt nữa

và trẻ luôn được khuyến khích, tạo cơ hội tự điều chỉnh, hòan thiện nhân cách Bên cạnh đó một số quan niệm, cách tiếp cận khác như cách tiếp cận phù hợp với sự phát triển, tiếp cận tích hợp, tiếp cận dạy học hướng vào trẻ cũng là những cách tiếp cận phù hợp với việc xây dựng CT giáo dục cho bậc học này

Tóm lại CTGDMN được xây dựng theo cách tiếp cận nào, quan niệm nào thì

sẽ tác động, ảnh hưởng đến phương pháp giáo dục theo cách tiếp cận, quan niệm đó CTGDMN hiện hành đã thay đổi so với các CT mầm non, CT mầm non cải cách trước đó và tiếp cận phát triển là một trong các cách tiếp cận được vận dụng để thực hiện đổi mới các hình thức tổ chức, các HĐGD, PPGD trẻ trong CTGDMN hiện nay Vì vậy đổi mới PPGDMN là tất yếu để phù hợp với yêu cầu đổi mới CTGDMN hiện nay

Trang 28

1.3.4 2 Cơ sở thực tiễn của việc đổi mới PPGDMN

Xuất hiện đầu tiên là chương trình mẫu giáo cải tiến, đến chương trình chỉnh

lý nhà trẻ và chương trình cải cách mẫu giáo, cho đến chương trình giáo dục mầm

non hiện nay Cùng với sự thay đổi của những CT này, nội dung, phương pháp, hình

thức tổ chức dạy học cũng thay đổi theo từng lọai CT

Chương trình mẫu giáo cải tiến được xây dựng từ những năm 70 đến đầu những năm 80 Ưu điểm của CT này là nội dung được cấu trúc theo hai phương thức giáo dục và giáo dưỡng CT được xây dựng nhằm khắc phục tình trạng “phổ thông hóa” trong giáo dục mẫu giáo Đi đôi với CT này là PPGD mang nặng tính áp đặt từ phía GV, GV chú trọng việc dùng lời mô tả, chưa biết dùng trò chơi như một PPGD có hiệu quả [12]

Chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền GD Đông Âu và Liên Xô cũ, Chưong trình chỉnh lý nhà trẻ và CT cải cách mẫu giáo được xây dựng vào những năm đầu thập niên 90- thế kỷ XX Nội dung của CT đề cập đến hai mặt: chăm sóc sức khỏe và giáo dục phát triển Nội dung “giáo dục phát triển” được tổ chức theo các hoạt động

cơ bản của trẻ ở trường mầm non Trong đó, hoạt động học tập bao gồm một số môn học, mỗi môn học được xây dựng theo một logic riêng, đảm bảo tính hệ thống liên tục kế thừa trong nhiệm vụ, nội dung GD trẻ giữa các lớp, lứa tuổi PPGD được hướng dẫn gợi ý rất cụ thể Đây vừa là ưu điểm nhưng cũng vừa là nhược điểm của CT Vì chính sự hướng dẫn cụ thể đó dẫn đến tình trạng áp dụng một cách đồng loạt, máy móc trong cả nước mà không tính đến đặc điểm riêng điều kiện thực tiễn địa phương vùng miền cũng như đặc điểm phát triển, tâm sinh lý khác nhau của trẻ, hạn chế sự chủ động sáng tạo của GV Còn trẻ, chủ yếu ghi nhớ, nhắc lại và làm theo mà chưa thực sự khám phá, tìm tòi, trãi nghiệm để nhận thức và phát triển [12]

Trước yêu cầu đổi mới GDMN, trong đó có đổi mới CT, để hội nhập với GDMN của các nước trong khu vực và trên thế giới, từ năm 1996 đã có nhiều công trình nghiên cứu cấp Bộ do Vụ GDMN và Trung tâm nghiên cứu chiến lược và

chương trình giáo dục mầm non thực hiện Kết quả các nghiên cứu này là “Chương

trình đổi mới hình thức chăm sóc giáo dục trẻ” ra đời Đây là chương trình cải cách

Trang 29

GD được đổi mới hình thức tổ chức theo hướng GD trẻ tích hợp theo chủ đề, chủ điểm chứ không phân chia theo môn học trước đây Ưu điểm của CT này là khuyến khích GV áp dụng sáng tạo các PPGD khác nhau nhất là các phương pháp thực hành, trải nghiệm, trò chơi Chú ý phát huy tính tích cực của trẻ Coi trọng việc thiết kế và tổ chức môi trường giáo dục cho trẻ hoạt động Cho nên CT bước đầu phù hợp với trẻ và điều kiện thực tế của từng vùng miền, giúp GVMN bước đầu biết cách phát triển và tổ chức CT phù hợp với sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, do chưa hiểu rõ bản chất của GD tích hợp nên cách thức thực hiện của GV chưa phù hợp, GV vẫn còn phụ thuộc nhiều vào tài liệu hướng dẫn

Trước thực trạng trên, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo soạn thảo CTGDMN mới mang

tính chất là chương trình khung Chương trình giáo dục mầm non chính thức được ban hành theo Thông tư số 17/2009/BGD-ĐT của Bộ GD&ĐT và tổ chức thực hiện từ đầu

năm học 2009- 2010 cho đến nay “ Chương trình này được xây dựng theo quan điểm

GD tích hợp, lấy trẻ làm trung tâm đảm bảo nguyên tắc đồng tâm phát triển, tạo điều kiện cho mỗi trẻ họat động tích cực đáp ứng nhu cầu và hứng thú của trẻ trong quá trình chăm sóc, giáo dục” [12] Đây là CT khung có độ mở cho phép GV được linh

họat, chủ động, sáng tạo trong việc vận dụng PPGD phát huy tính tích cực chủ động của trẻ

Qua đó nhận thấy CT giáo dục là yếu tố tác động đến việc lựa chọn PPGD, việc đổi mới CTGDMN, các lọai CT giáo dục khác nhau đều tác động khác nhau đến PPGD Vì vậy đổi mới PPGDMN là tất yếu để phù hợp với yêu cầu đổi mới CTGDMN hiện nay

1.3.5 Định hướng đổi mới PPGDMN theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ

Một số định hướng cơ bản đổi mới PPGDMN như sau:

- Đổi mới PPGDMN góp phần thực hiện đổi mới mục tiêu GDMN, đặt cơ sở nền tảng ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ đồng thời nhằm phát triển tiềm năng và các năng lực cần thiết cho cuộc sống của trẻ và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một

Trang 30

- Đổi mới PPGDMN hướng tới tích cực hóa hoạt động GD trẻ, tạo cơ hội cho trẻ khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan trên cơ sở đó phát triển ngôn ngữ và tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo Tạo cho trẻ cơ hội tự phát hiện, tự lĩnh hội

và tự giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ đúng lúc của GV

- Đổi mới PPGDMN là coi trọng tổ chức mội trường cho trẻ hoạt động, tạo điều kiện cho trẻ gần gũi với thiên nhiên, cuộc sống, tăng cường sự giao tiếp của trẻ

- Đổi mới PPGDMN là tổ chức các họat động đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ

- Đổi mới PPGDMN là quá trình chuyển đổi từ nhận thức coi GV là trung tâm sang coi trẻ là trung tâm của hoạt động còn GV thực sự là người hướng dẫn, tạo

cơ hội, gợi mở cho trẻ tìm tòi, khám phá giúp trẻ hứng thú và chủ động sáng tạo tham gia hoạt động theo nhu cầu, hứng thú của bản thân

- Đổi mới PPGDMN là ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học

- Đổi mới PPGDMN phải kế thừa và phát triển những thành tựu về PPGDMN ở trong nước và trên thế giới Chọn lọc và vận dụng những kinh nghiệm tiên tiến về đổi mới PPGDMN của nước ngoài phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam

1.3.6 Một số PPGDMN theo hướng đổi mới

Việc lựa chọn các phương pháp và tổ chức các hoạt động GD nhằm thực hiện mục tiêu, nội dung GDMN phụ thuộc vào đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân trẻ MN Để thực hiện CTGDMN hiện nay, các phương pháp thường sử dụng như sau: [4]

- Phương pháp trực quan (quan sát kết hợp với các giác quan)

- Phương pháp dùng lời nói (đàm thoại, trò chuyện, kể )

- Phương pháp thực hành trải nghiệm (thực hành, luyện tập, sử dụng trò chơi, làm thí nghiệm đơn giản)

- Phương pháp nêu tình huống có vấn đề

- Phương pháp động viên khuyến khích

- Phương pháp nêu gương- đánh giá

Trang 31

Trong quá trình thực hiện, các PPGD thường được sử dụng phối hợp với nhau trong một thể thống nhất

Trong thực tiễn GD trẻ MN hiện nay, GV thường kết hợp nhóm phương pháp

trực quan, dùng lời và thực hành, trải nghiệm với nhau để GD trẻ Điều này hòan

tòan phù hởp với đặc điểm lứa tuổi MN và đặc điểm cá nhân của trẻ em Việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng của trẻ sẽ tốt hơn khi đồng thời chúng vừa được nhìn, nghe, nói vừa được tham gia trực tiếp với sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh, tìm ra những tính chất và đặc điểm của các sự vật và hiện tượng quen thuộc ấy, gỉai thích được phần nào sự liên hệ qua lại giữa chúng với nhau và trong một chừng mực nào

đó còn có thể biến đổi chúng Sự kết hợp các phương pháp như trên giúp trẻ không những chỉ được nhìn cô làm, được nghe cô nói mà còn trực tiếp được tham gia vào họat động cùng cô giáo và các bạn, được tìm kiếm và lựa chọn các cách thực hiện nhiệm vụ đuợc giao theo khả năng của mình Chính điều này, một mặt có sức cuốn

hút với trẻ, tạo hứng thú, duy trì hứng thú và giúp trẻ dễ dàng hiểu và lĩnh hội được nhiệm vụ góp phần tích cực hóa quá trình nhận thức của trẻ trong quá trình làm quen, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội kiến thức

* N ội dung và cách thức tiến hành

Giáo viên kết hợp phương pháp bằng lời nói ( trao đổi, đưa ra các câu hỏi, câu đố, lời đề nghị, lời gợi ý, đọc thơ, ca dao, đồng dao ) với phương pháp trực quan (cho trẻ được khám phá thế giới xung quang bằng các giác quan: quan sát, cầm, nắm, sờ, ngữi, nếm cùng với phương pháp thực tiễn (cho trẻ thực hành, được làm, được nói và trình bày cho cô và các bạn hiểu ý đồ của mình trong các tình huống khác nhau ) trong tổ chức các họat động giáo dục trẻ ở trường mầm non Ví

dụ, khi tổ chức cho trẻ chơi, GV có thể sử dụng kết hợp các phương pháp trực quan, lời nói với thực tiễn để lôi cuốn và kích thích trẻ đến với trò chơi Cùng với việc bố trí, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi trên giá, kệ, mảng tường trong trạng thái mở để kích thích ý tưởng chơi của trẻ, cô còn dùng những câu hỏi mang tính gợi mở, các lời đề nghị hoặc gợi ý hoặc tạo tình huống cho trẻ chơi cho trẻ tập làm, tập chơi thử cùng cô, cùng các bạn để tạo cho trẻ hứng thú chơi

Trang 32

* Yêu cầu thực hiện

Việc GV sử dụng kết hợp các phương pháp dùng lời, trực quan và thực hành

để tổ chức quá trình HĐGD ở trường mầm non cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính trực quan, tính thực tiễn, học đi đôi với hành

- Lời nói của GV cần ngắn gọn, dễ hiểu, có hình ảnh “nhà sư phạm cần phải biết tính toán, điều chỉnh lời nói của mình”

- Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất bổ sung lẫn nhau nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

- Đảm bảo tính cụ thể và tính thường xuyên, tính hệ thống, phát huy tích tích cực của trẻ trong các họat động

- GV tổ chức môi trường cho trẻ họat động, tạo điều kiện cho trẻ gần gũi thiên nhiên, cuộc sống, tăng cường sự giao tiếp của trẻ

- GV chú trọng xây dựng các mối quan hệ giữa cô - trẻ, trẻ - trẻ và trẻ - người lớn khác để trẻ học hỏi và phát triển nhân cách

- GV biết khai thác họat động chủ đạo ở từng độ tuổi, nhất là họat động vui

chơi để giáo dục trẻ “Khi chơi cũng là dịp tốt nhất để trẻ phát triển thăm dò thế

giới xung quanh , qua đó mà kích thích tính tò mò, óc quan sát, năng lực phán đoán, tư duy Trong trò chơi các em rất cần tìm hiểu tính chất của các vật: hình dạng, kích thước, màu sắc cũng như chức năng và phương thức sử dụng chúng để làm giàu vốn biểu tượng Những tình huống nảy sinh trong trò chơi buộc đứa trẻ phải động não suy nghĩ, nhanh trí tìm ra cách tháo gỡ Đó chính là cơ hội để trẻ được rèn luyện trí tuệ, nảy sinh nhiều sáng kiến, tạo tiền đề cho những họat động sáng tạo sau này” [27 tr.173]

- GV biết tạo ra các cơ hội để trẻ khám phá, thử nghiệm phát triển trí tuệ Tự khám phá có lợi cho việc học, nó cho phép trẻ phát hiện các đặc tính và các mối quan hệ qua thử- sai

- GV chú trọng dạy trẻ cách học (khám phá, trải nghiệm, suy nghĩ, nêu ý tưởng, tự giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm) Trẻ em là những người tham gia tích

Trang 33

cực vào sự phát triển của bản thân chúng vào việc học và phát triển liên quan đến cấu trúc nhận thức của trẻ Các kĩ năng- cơ sở của cấu trúc nhận thức sẽ được tăng cường lên cùng với thực hành Do đó trẻ em cần được trải nghiệm khám phá, tò mò, giao tiếp bắt chước GV tạo cơ hội cho trẻ học bằng thực hành, giải quyết vấn đề, phát triển ngôn ngữ và các kĩ năng giao tiếp Tóm lại cần chú trọng vào việc trẻ học như thế nào chứ không phải là học cái gì [12]

- GV tôn trọng cách học và năng lục riêng của trẻ, dưa trên khả năng lĩnh hội của trẻ Giáo viên phải thiết kế bài học linh hoạt và đa dạng theo trình độ riêng của từng trẻ tránh kiểu GD đồng loạt, rập khuôn, áp đặt từ phía người lớn Tăng cường hợp tác, chia sẻ giữa GV và trẻ và giữa trẻ với nhau

- GV hướng dẫn trẻ thực hành, vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ thông qua các bài tập, tình huống có thực hoặc do GV tạo ra

- GV hình thành nề nếp học tập tích cực, chủ động cho trẻ: tích cực mạnh dạn nêu ý kiến, đặt câu hỏi, tôn trọng và hợp tác với bạn

- GV khuyến khích trẻ tham gia họat động để trẻ có nhiều cơ hội khám phá,

tự do thể hiện cảm xúc, bày tỏ ý kiến và trí tưởng tượng phong phú

- GV coi trọng quá trình làm ra sản phẩm chứ không đánh giá sản phẩm của trẻ, để trẻ tự làm ra sản phẩm không can thiệp nhiều vào sản phẩm của trẻ

- GV kích thích trẻ suy nghĩ thông qua hệ thống câu hỏi mở, khích lệ trẻ suy nghĩ, chia sẽ ý kiến và đặt câu hỏi, tăng cường các họat động trải nghiệm, khám phá, tham quan

- GV giúp trẻ tiếp cận cử chỉ mẫu mực của GV và người lớn để thúc đẩy họat động tích cực ở trẻ, hình thành các kĩ năng xã hội cho trẻ

- GV đổi mới phương pháp đánh giá trẻ theo độ tuổi

1.3.7 Sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học và ứng dụng CNTT để đổi mới PPGDMN

Thiết bị, phương tiện dạy học là những công cụ được GV và trẻ sử dụng trong hoạt động GD, nhờ có hỗ trợ của phương tiện dạy học việc đổi mới PPGDMN

sẽ đạt hiệu quả cao Đặc điểm tư duy chủ đạo của trẻ mầm non là tư duy trực quan

Trang 34

hình ảnh và tưởng tượng Để tác động tốt kích thích sự phát triển của đặc điểm tư duy này, đòi hỏi mọi hoạt động của trẻ đều cần gắn với đồ dùng, đồ chơi trực quan

để trẻ có thể tiếp nhận được hình ảnh, qua đó tưởng tượng biểu tượng

Đồ dùng dạy học với các chức năng: Truyền thụ tri thức, hình thành kỹ năng, phát triển hứng thú học tập và tổ chức điều khiển quá trình dạy học sẽ hỗ trợ rất lớn vào việc phát triển toàn diện của trẻ Để cho trẻ được tích cực tham gia vào hoạt động, việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học là hết sức cần thiết

Đồ dùng dạy học là những phương tiện vật chất giúp cho cô và trẻ tổ chức hợp lý có hiệu quả nhằm thực hiện chương trình dạy học Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, thiết bị đồ dùng dạy học là một trong những điều kiện cơ bản không thể thiếu để cô và trẻ đạt được mục tiêu hoạt động đề

ra Hơn nữa đồ dùng dạy học tạo điều kiện trực tiếp cho trẻ huy động các giác quan, các năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao khả năng

tự tìm tòi, phát hiện, kích thích các nhu cầu khám phá của trẻ, rèn luyện kỹ năng học tập và thực hành của trẻ Lúc này, giáo viên chỉ đóng vai trò là người gợi mở, dẫn dắt và giải đáp những thắc mắc không thể tự trả lời của trẻ Thiết

bị đồ dùng dạy học là vật chất hữu hình tưởng như là vô tri vô giác nhưng dưới

sự điều khiển của giáo viên, thiết bị đồ dùng dạy học thể hiện khả năng sư phạm của nó: Tạo điều kiện giúp trẻ dễ tiếp nhận, ghi sâu hơn và đầy đủ, phong phú hơn những biểu tượng, tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn làm cho giờ học sinh động, hiệu quả hơn Do đó, việc giáo dục trẻ mầm non không thể nào không gắn với đồ dùng dạy học

Bên cạnh các đồ dùng, đồ chơi được cấp phát, việc làm đồ dùng dạy học cũng là chuẩn bị cho tiết dạy, nhưng với điều kiện lớp bán trú, không có thời gian cho việc làm đồ dùng dạy học ở lớp thì vấn đề sử dụng hiệu quả đồ dùng , tránh việc “dạy chay, dạy suông” là vấn đề tối ưu cần được quan tâm và thực hiện tốt Do đó:

- GV có đầy đủ các điều kiện về CSVC,TBDH để đổi mới PPGDMN

Trang 35

- GV cần sử dụng đúng chức năng, mục đích sử dụng đồ dùng, sử dụng đồ dùng đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ sử dụng của đồ dùng; Phối hợp những đồ dùng được cấp phát để tạo thêm hiệu quả sử dụng mới cho đồ dùng

- GV tạo môi trường GD, làm nhiều đồ dùng đồ chơi, chuẩn bị nhiều nguyên vật liệu mở cho trẻ hoạt động

- GV làm nhiều đồ dùng đồ chơi phù hợp với chủ đề họat động; tận dụng hiệu quả môi trường lớp học

- GV sử dụng các TBDH, PTKT (Tranh ảnh, mô hình; thí nghiệm; máy vi tính, máy chiếu, tivi, thiết bị hỗ trợ; các phần mềm: Kidsmart, Happykid, apple, bảng tương tác điện tử )

- GV xây dựng mối quan hệ với gia đình trẻ và cộng đồng tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện đổi mới PPGD

- GV ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp CSGD trẻ

1.4 Quản lý đổi mới phương pháp giáo dục mầm non

1.4.1 Một số khái niệm cơ bản

1.4.1.1 Quản lý trường mầm non

* Quản lý

Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải

là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Xung quanh thuật ngữ quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa khái niệm này:

Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó

Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì

sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt

Trang 36

W Taylor Người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động khai thác tối đa thời gian lao

động nhằm tăng năng suất lao động, đã nêu “Quản lý là biết được chính xác

điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công vi ệc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [10]

Quan niệm của nhà lý luận quản lý kinh tế người pháp H Fayon đã nêu

“Qu ản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và

ki ểm tra” [10]

Theo từ điển Tiếng Việt (2000): “Quản lý là trông nom, xếp đặt công việc

trong cơ quan, xí nghiệp” [25, tr.827]

Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng có chủ đích, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định [21,tr.88]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có định hướng có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định [17, tr.7 ]

Từ các cách định nghĩa trên ta thấy: Quản lý dù nhìn ở góc độ nào thì nó cũng là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung Quá trình tác động này được vận hành trong một môi

trường xác định

Vậy khái niệm quản lý được hiểu: Quản lý là một hoạt động có mục đích,

có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý

để tạo nên sự phát triển và đạt được mục tiêu chung

* Quản lí giáo dục

QLGD được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng

xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Có

Trang 37

những khái niệm khác nhau về QLGD nhưng cơ bản đều thống nhất về nội dung, bản chất…

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: QLGD là tổ chức các hoạt động dạy học Có

tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước [11]

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất” [23, tr.2]

Theo từ điển Giáo dục học: “Quản lý GD (nghĩa hẹp) chủ yếu là quản lý

GD thế hệ trẻ, GD nhà trường, GD trong hệ thống GD quốc dân” [26]

Những khái niệm trên tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể hiểu: Quản

lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa HĐGD ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định

* Quản lý nhà trường

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [11]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: Quản lý giáo dục (nói riêng quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất

Như vậy: Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong nhà trường

Trang 38

nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của nhà trường để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho nhà trường vận hành (hoạt động) có hiệu quả

* Quản lý trường mầm non

Quản lý trường MN là khâu cơ bản của hệ thống quản lý ngành học Quản lý trường MN vừa mang tính đặc thù chung của quản lý trường học, vừa thể hiện nét riêng do đặc điểm của hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ MN qui định

Theo tác giả Phạm Thị Châu “Quản lý trường mầm non là quá trình tác động

có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng (chủ thể quản lý) đến tập thể cán bộ giáo viên để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và thực hiện mục tiêu chung của giáo dục mầm non” [6]

Từ khái niệm trên cho thấy thực chất của công tác quản lý trường MN là quản lý quá trình CSGD trẻ, đảm bảo cho quá trình này vận hành thuận lợi và đạt hiệu quả mong muốn

Chủ thể quản lý trường MN chính là bộ máy quản lý trường MN gồm: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, hội đồng thi đua khen thưởng, hội đồng tư vấn, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và đoàn thể trong nhà trường, nhà trẻ

Đối tượng quản lý chính của trường MN là quá trình chăm sóc giáo dục trẻ do đội ngũ CBQL, GV, nhân viên và trẻ tiến hành

Hệ thống mục tiêu quản lý trường MN bao gồm: huy động trẻ trong độ tuổi đến trường; đảm bảo chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và GD trẻ theo mục tiêu đào tạo; xây dựng và phát triển tập thể sư phạm về số lượng và chất lượng; xây dựng, sử dụng và bảo quản tốt CSVC-TBGD phục vụ cho yêu cầu CSGD trẻ; xây dựng các mối quan hệ của trường MN với gia đình trẻ và xã hội

1.4.1.2 Quản lý đổi mới phương pháp giáo dục mầm non

PPGDMN là công cụ để tổ chức các họat động giáo dục là hạt nhân trong việc thực hiện chương trình GDMN Vì vậy, quản lý PPGDMN là khâu quan trọng

Trang 39

trong quản lý giáo dục về mặt chuyên môn cho trẻ mầm non Theo logic này, có thể dựa vào khái niệm QLGD và quản lý GDMN để đưa ra định nghĩa về quản lý đổi

mới PPGDMN như sau: Quản lý đổi mới PPGDMN là tác động có chủ đích của

chủ thể quản lý trường mầm non đến hoạt động đổi mới PPGDMN (cách thức, con đường họat động hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ) nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục mầm non

Quản lý đổi mới phương pháp giáo dục mầm non là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm của người hiệu trưởng trường mầm non Trước hết, hiệu trưởng cần nắm vững thế nào là đổi mới phương pháp giáo dục mầm non và làm cho giáo viên

hiểu rằng việc đổi mới phương pháp giáo dục mầm non không phải là sự thay thế

các phương pháp giáo dục mầm non truyền thống bằng các phương pháp giáo dục mầm non mới mà là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của trẻ

1.4.2 Các chức năng quản lý trường mầm non

1.4.2.1 Vai trò, nhiệm vụ của hiệu trưởng trường mầm non

Hiệu trưởng là người đại diện cho nhà trường về mặt pháp lý, có trách nhiệm cao nhất về hành chính và chuyên môn Hiệu trưởng giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức quản lý, điều hành các họat động chăm sóc giáo dục trẻ cũng như các

họat động chung của nhà trường: “Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là người chịu

trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ em của nhà trường, nhà trẻ” [5]

Nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường mầm non :

- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội

Trang 40

đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;

- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với GV, nhân viên theo quy định;

- Quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường, nhà trẻ;

- Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;

- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia các HĐGD 2 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách

ưu đãi theo quy định;

- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị -

xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, GD trẻ;

- Thực hiện xã hội hoá GD, phát huy vai trò nhà trường đối với cộng đồng [5]

1.4.2.2 Chức năng quản lý trường mầm non

Chức năng quản lý là một thể thống nhất hoạt động tất yếu của chủ thể quản

lý nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng quản lý, nhưng về cơ

bản thì quản lý trường MN có 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

- đánh giá

- Chức năng lập kế hoạch: là chức năng đầu tiên có vai trò quan trọng là xác định phương hướng họat động và phát triển của trường MN, đây được coi là chức

năng hạt nhân, quan trọng của quá trình quản lý trường MN

Lập kế hoạch là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu Muốn có được bản kế hoạch phù hợp, khoa học và mang tính khả thi phải thực hiện tốt chức năng dự báo Khi dự báo phải biết rõ thực lực của mình, đó là việc xác định nhu cầu và các mục tiêu mà nhà trường MN cần đạt tới trên cơ sở phân tích sư phạm và căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên về chỉ thị và nhiệm vụ

Ngày đăng: 02/12/2015, 10:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số liệu trẻ mầm non  Quận 3 - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.2 Số liệu trẻ mầm non Quận 3 (Trang 48)
Bảng 2.1:  Quy mô trường lớp mầm non ở Quận 3 - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.1 Quy mô trường lớp mầm non ở Quận 3 (Trang 48)
Bảng 2.3: Số liệu trẻ 5 tuổi - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.3 Số liệu trẻ 5 tuổi (Trang 49)
Bảng 2.4:  Số liệu CBQL -GV mầm non  Quận 3 - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.4 Số liệu CBQL -GV mầm non Quận 3 (Trang 49)
Bảng 2.5:  Bảng phân bổ phiếu khảo sát - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.5 Bảng phân bổ phiếu khảo sát (Trang 52)
Bảng 2.7: Qui ước mức độ cần thiết và khả thi - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.7 Qui ước mức độ cần thiết và khả thi (Trang 53)
Bảng 2.6:  Qui ước mức độ đồng ý/thực hiện/hiệu quả/ảnh hưởng - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.6 Qui ước mức độ đồng ý/thực hiện/hiệu quả/ảnh hưởng (Trang 53)
Bảng 2.8: Thực trạng nhận thức của đội ngũ về đổi mới PPGDMN - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.8 Thực trạng nhận thức của đội ngũ về đổi mới PPGDMN (Trang 54)
Bảng 2.10: Thực trạng sử dụng các PPGD theo hướng phát huy tính tích cực - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.10 Thực trạng sử dụng các PPGD theo hướng phát huy tính tích cực (Trang 63)
Bảng 2.11:  Thực trạng sử dụng thiết bị, phương tiện  dạy học và ứng dụng - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.11 Thực trạng sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học và ứng dụng (Trang 66)
Bảng 2.14: Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đổi mới - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.14 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đổi mới (Trang 78)
Bảng 2.15: Thực trạng đảm bảo các điều kiện tổ chức thực hiện đổi mới - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.15 Thực trạng đảm bảo các điều kiện tổ chức thực hiện đổi mới (Trang 82)
Bảng 2.16: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới PPGDMN - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 2.16 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới PPGDMN (Trang 84)
Bảng 3.1. Tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý đổi mới PPGD  theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Bảng 3.1. Tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý đổi mới PPGD theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ ở các trường mầm non Quận 3, TP HCM (Trang 99)
Hình thành các kỹ năng xã hội cho trẻ. - thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục ở các trường mầm non quận 3 thành phố hồ chí minh
Hình th ành các kỹ năng xã hội cho trẻ (Trang 113)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w