Ban giám hiệu nhà trường và các nhà quản lý giáo dục phải là những cá nhân tiên phong trong việc vận động giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá; khuyến khích việc g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được nghiên cứu và thu thập từ thực tiễn và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Bùi Thị Triệu Phúc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
1 Trường ĐH Sư Phạm Thành Phó Hồ Chí Minh
2 Phòng Sau Đại Học
3 Khoa Tâm Lý−Giáo Dục
4 Các thầy cô đã giảng dạy khóa 22 ngành Quản lý giáo dục
5 Sở GD-ĐT Bình Dương và Lãnh đạo trường THPT Trịnh Hoài Đức
6 Cán bộ quản lý và giáo viên tiếng Anh cùng học sinh ở các trường THPT Trịnh Hoài Đức, Tây Nam, Bình Phú, Dĩ An, Lê Lợi
Tôi đặc biệt gửi lời tri ân đến PGS.TS Đoàn Văn Điều, người đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh luận văn
Trân trọngcảm ơn!
Bình Dương, tháng 09 năm 2013
Bùi Thị Triệu Phúc
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
M Ở ĐẦU 5
1 Lý do ch ọn đề tài 5
2 M ục đích của đề tài nghiên cứu 6
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 6
4 Gi ả thuyết khoa học 6
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GI ẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 10
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Ngoài nước 10
1.1.2 Trong nước 10
1.2 M ột số khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Qu ản lý 12
1.2.2 Gi ảng dạy 12
1.2.3 Qu ản lý giảng dạy 13
1.2.4 Qu ản lý việc đổi mới hoạt dộng giảng dạy tiếng Anh 13
1.3 Lý lu ận về quản lý việc đổi mới hoạt dộng giảng dạy tiếng Anh 13
1.3.1 Qu ản lý giảng dạy Tiếng Anh 13
1.3.2 Xu th ế đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh 19
1.3.3 Qu ản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh 20
1 4 Đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động học tập của học sinh THPT 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GIẢNG D ẠY TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI BÌNH DƯƠNG 32
2.1 M ột số đặc điểm về tình hình phát triển GD&ĐT tại tỉnh Bình Dương 32
2.1.1 Quy mô trường lớp và học sinh 32
2.1.2 Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý 32
2.1.3 Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật 32
Trang 62.2 Th ể thức và phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 B ảng hỏi 36
2.2.2 M ẫu khảo sát 37
2.3 Th ực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở các trường Trung H ọc Phổ Thông tại Bình Dương (theo đánh giá của CBQL và GV) 40
2.3.1 Tính c ần thiết của thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở các trường Trung Học Phổ Thông tại Bình Dương 40
2.3.2 Tính kh ả thi của thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở các trường Trung Học Phổ Thông tại Bình Dương 49
2.4 Th ực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở các trường Trung H ọc Phổ Thông tại Bình Dương (theo đánh giá của học sinh) 61
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý đổi mới HĐGD môn tiếng Anh ở các trường THPT tại Bình Dương 71
2.5.1 Nh ững việc đã làm được 71
2.5.2 Nh ững mặt hạn chế 73
2.5.3 Nguyên nhân c ủa những hạn chế 73
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG T ẠI BÌNH DƯƠNG 77
3.1 Cơ sở để đề xuất biện pháp 77
3.1.1 Cơ sở lý luận 77
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 78
3.2 Các bi ện pháp quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở các trường THPT t ại Bình Dương 79
3.2.1 Đối với cán bộ quản lý 79
3.2.2 Đối với giáo viên 84
3.3 K ết quả khảo sát về tính cần thiết, khả thi của các biện pháp 86
3.3.1 Tính c ần thiết 87
3.3.2 Tính kh ả thi 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PH Ụ LỤC 99
Trang 7ngữ tiếng Anh Có thể nói Tiếng Anh là một trong những công cụ tồn tại trong thời
kỳ hội nhập dành cho mọi công dân Chính vì vậy việc học và biết sử dụng một ngoại
ngữ đang trở thành nhu cầu cần thiết đối với người lao động, nhất là đối vơi học sinh, sinh viên − những người có tri thức và tay nghề cao trong tương lai
Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ nói chung,
tiếng Anh nói riêng ở nước ta còn nhiều bất cập so với nhu cầu của xã hội HS, SV chưa đủ năng lực sử dụng tiếng Anh làm phương tiện học tập, nghiên cứu, tra cứu tài
liệu và giao tiếp Những năm gần đây, môn Tiếng Anh dần trở thành một trong những môn học bắt buộc đối với học sinh trung học phổ thông và là môn thi chính thức trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông Điều này phần nào cho chúng ta thấy sự quan tâm đầu tư của các nhà quản lý giáo dục đối với việc dạy và học bộ môn Tiếng Anh ở bậc trung học Mặc dù vậy, một thực tế là chất lượng dạy học môn Ngoại ngữ trong trường phổ thông còn thấp (nếu không nói là quá thấp), chưa đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ hội nhập
Kinh nghiệm giảng dạy Tiếng Anh trung học phổ thông trong 10 năm cho chúng tôi thấy rằng nhiều học sinh trung học phổ thông rơi vào tình trạng “mù” ngoại
ngữ, mặc dù đã được học môn này từ 3 đến 7 năm Biểu hiện của học sinh yếu kém
về môn tiếng Anh phổ biến nhất là vốn từ nghèo nàn, không nắm được ngữ pháp, phát âm không chuẩn, kỹ năng tạo lập văn bản (nói, viết) chưa đạt yêu cầu và yếu
nhất là kỹ năng nghe
Hiện tại, vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh không chỉ dành cho giáo viên mà còn đặt lên vai các nhà quản lý giáo dục Mỗi giáo viên phải ý thức đổi
Trang 8không phù hợp trong phong cách giảng dạy Thêm vào đó, quản lý tốt công tác giảng
dạy Tiếng Anh ở các trường phổ thông cũng vô cùng quan trọng bởi điều này ảnh hưởng lớn đến sự thành công của cả thầy lẫn trò trong việc dạy và học bộ môn này Ban giám hiệu nhà trường và các nhà quản lý giáo dục phải là những cá nhân tiên phong trong việc vận động giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá; khuyến khích việc giảng dạy Tiếng Anh theo phương pháp giao tiếp, lấy học sinh làm trung tâm; tạo điều kiện để giáo viên Tiếng Anh có thể làm việc tốt trong điều
kiện và bối cảnh đại phương, đồng thời tạo môi trường học Tiếng Anh hiệu quả cho
học sinh
Từ năm học 2011−2012 Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương đã mạnh dạn cho
học sinh kiểm tra kỹ năng nghe hiểu (1.5 điểm) trong kỳ thi học kỳ của khối 10 Sang năm 2012−2013 đã cho thi thí điểm thêm kỹ năng nói (1.5 điểm) của khối lớp 10 tại hai trường THPT Trịnh Hoài Đức và THPT chuyên Hùng Vương Điều này là minh
chứng cụ thể cho việc thay đổi cách kiểm tra đánh giá ở bộ môn này
Chính vì những thực tế nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu :
“Th ực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy Tiếng Anh ở các trường Trung học
ph ổ thông tại Bình Dương”
2 Mục đích của đề tài nghiên cứu
Đánh giá thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy Tiếng Anh ở một số trường THPT tại Bình Dương để đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này theo hướng nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể: Công tác quản lý hoạt động giảng dạy Tiếng Anh bậc THPT 3.2 Đối tượng : thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy Tiếng Anh
lớp 11 ở các trường THPT tại Bình Dương
4 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý đổi mới giảng dạy Tiếng Anh ở các trường THPT tại Bình Dương được thực hiện tương đối tốt ở một số mặt Khi khảo sát đúng thực trạng của việc
Trang 9quản lý đổi mới HĐGD tiếng Anh ở các trường THPT tại Bình Dương sẽ đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động nêu trên có kết quả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Khái quát hóa các tài liệu, các kết quả công trình nghiên cứu để làm cơ
sở lý luận cho đề tài nghiên cứu 5.2 Khảo sát thực trạng quản lý đổi mới giảng dạy Tiếng Anh ở các trường THPT tại Bình Dương
5.3 Đề xuất các biện pháp để cải tiến thực trạng quản lý đổi mới hoạt động
giảng dạy Tiếng Anh ở các trường THPT tại Bình Dương
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
6.1 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy Tiếng Anh lớp 11 trong 2 năm học 2010-2011 và 2011−2012 ở các trường THPT công lập tại Bình Dương
6.2 Địa bàn nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở một số trường THPT tại Bình Dương Cụ thể là:
- Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Thị xã Thuận An
- Trường THPT Tây Nam – Huyện Bến Cát
- Trường THPT Dĩ An - Huyện Dĩ An
- Trường THPT Lê Lợi - Huyện Tân Uyên
- Trường THPT Bình Phú – Thành phố Thủ Dầu Một
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm hệ thống- cấu trúc
Vận dụng quan điển hệ thống cấu trúc vào đề tài này có thể nghiên cứu quản lý giảng dạy Tiếng Anh trong mối quan hệ với quản lý hoạt động dạy học nói chung ở trường THPT
Trang 10Nghiên cứu quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh cần nghiên cứu các hoạt động quản lý cụ thể như: Quản lý việc xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học; Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên; Quản lý việc chuẩn bị kế hoạch bài giảng của giáo viên; Quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy của giáo viên; Quản lý phương pháp, phương tiện dạy học; Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn; Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên; Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; Quản lý các điều kiện đảm bảo hoạt động dạy học
Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh được nghiên cứu trong mối liên hệ chặc chẽ với nhau, không có giải pháp nào hoàn toàn biệt lập mà chúng nằm trong một chỉnh thể thống nhất
7.1.2 Quan điểm lịch sử-logic
Vận dụng quan điểm lịch sử-logic vào đề tài này để có thể nghiên cứu thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh trong quá trình phát triển của nó, trong phạm vi thời gian, không gian và điều kiện cụ thể Từ đó thấy được mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của việc quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh, đồng thời giúp người nghiên cứu điều tra, thu thập số liệu chính xác đúng với mục đích nghiên cứu vá trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài này, có thể nghiên cứu và đánh giá công tác quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh phải đặt trong điều kiện cụ thể của từng trường Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh phải dựa trên các điều kiện thực tiễn về nhân lực, về khả năng và điều kiện thực hiện để đưa ra các giải pháp quản lý mang tính khả thi
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân loại, phân tích, tổng hợp những tài liệu lý luận về các nội dung có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Trang 11Các phiếu hỏi được xây dựng chi tiết, cẩn thận, và được tiến hành trên các đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh để thu thập dữ liệu (Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài)
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Chúng tôi nghiên cứu các quyết định quản lý, các kế hoạch năm học theo học
kỳ, tháng, tuần của các trường và của tổ bộ môn Ngoại Ngữ Căn cứ vào các tài liệu này để có các số liệu đánh giá thực trạng quản lý giảng dạy
7.2.4 Phương pháp toán thống kê
Kết quả các phiếu hỏi được thống kê bằng phần mềm SPSS
Trang 12C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ngoài nước
V ề phương pháp dạy học, Xôcrát (496−339 trước CN) cho rằng để nâng cao
hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng định, tự phát triển tri thức mới mẻ, phù hợp với chân lý Khổng tử (551−479 trước CN) quan
niệm phương pháp dạy học là cách gợi mở, đi từ xa đến gần, từ đơn giản đến phức
tạp nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, phải hình thành nề nếp, thói quen trong học tập Loại hình nhà trường mới ra đời và cuối thế kỷ XIX xuất hiện ở Anh năm 1889 do bác sĩ Reddie đề xướng, sau trở thành “Hội liên hiệp quốc tế các nhà trường mới” đưa ra 30 đặc điểm của nhà trường mới Một trong những đặc điểm
đó là “Việc giảng dạy cần dựa vào sự hoạt động cá nhân và hứng thú của trẻ (dùng phương pháp tích cực và tự do để trẻ tiếp nhận tri thức)” [18, tr.131−132] John Dewey (1859−1925) cho rằng khuyết điểm nghiêm trong nhất của phương pháp dạy
học thời đó nằm trong sự “ly dị giữa hiểu biết và việc áp dụng những hiểu biết này”[4, tr.190] Cuốn tài liệu “Teaching English”, Nxb đại học Oxford (1995) của
Adrian Doff là một trong những nghiên cứu về kinh nghiệm giảng dạy Tiếng Anh được ứng dụng nhiều trong thực tiễn
V ề quản lý hoạt động dạy học, P.V Zimin, M.I Konđakôp, N.I Saxerđôtôp đi
sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý nhà trường [26]
1.1.2 Trong nước
Dạy và học là một trong những hoạt động trọng tâm của nhà trường Do tính
chất quyết định của nó đối với sự thành bại của nhà trường nên việc QL hoạt động
dạy học đóng vai trò rất quan trọng trong công tác QL nhà trường Đối với môn ngoại
Trang 13ngữ, các trường phổ thông của Việt Nam tập trung vào tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung và tiếng Pháp, trong đó tiếng Anh chiếm hơn 90% số lượng học sinh theo học Đây là môn học có nhiều tiết học trong tuần (3 tiết/tuần), là một trong ba môn thi tốt nghiệp THPT bắt buộc Bên cạnh đó, ngành giáo dục cũng đã đầu tư rất lớn về CSVC, thiết bị dạy học ngoại ngữ, biên soạn lại nội dung chương trình cho phù hợp
với tình hình xã hội mới Điều đó chứng tỏ Nhà nước rất quan tâm, chú trọng đến bộ môn ngoại ngữ Đối với học sinh, sinh viên Việt Nam, ngoại ngữ có một ý nghĩa đặc
biệt vì nước ta đang trong bối cảnh hợp tác, quan hệ, hội nhập quốc tế ngày càng rộng
mở Biết ngoại ngữ không những để vượt qua các kỳ thi bắt buộc, để đáp ứng yêu cầu
tất yếu của lao động có kỹ thuật cao với các quy trình công nghệ thường xuyên được
đổi mới, mà còn là một năng lực cần thiết đối với người Việt Nam hiện đại
Ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học bắt đầu được quan tâm từ thập
kỷ 90 của thế kỷ trước và được bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai rộng rãi thông qua chương trình bồi dưỡng thường xuyên từ chu kỳ 1997 – 2000 cho tất cả các giáo viên trung học phổ thông trong phạm vi cả nước.Bên cạnh các tài liệu biên soạn của
Bộ Giáo dục và Đào tạo phục vụ cho công tác bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên, có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu, biên soạn các tài liệu về phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học như:
− “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” – Tác giả Phan Trọng Ngọ
− “Phương pháp giáo dục tích cực”- Tác giả Nguyễn Kỳ
− “Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả” – Tác giả Lê Nguyên Long
− “Dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động” – Tác giả: Lê Thị Hoài Châu,
Nguyễn Văn Vĩnh, trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh
V ề phương pháp dạy học, Tác giả Phan Trọng Ngọ sắp xếp các phương pháp
dạy học theo thứ tự tăng dần tính độc lập, chủ động của người học, tăng dần sự quan tâm đến nhu cầu của người học Theo đó, nhóm các phương pháp dạy học tích cực được xếp ở vị trí cao nhất [17, tr 185-186]
V ề quản lý giáo dục, Bùi Minh Hiền đề ra 20 công việc phát triển nhà trường
theo mục tiêu xây dựng nhà trường hiệu quả mà người hiệu trưởng cần bao quát,
Trang 14mới về phương pháp dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác” [7, tr.229] Chỉ đạo,
quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên là một trong những công
việc cụ thể của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà trường [21, tr.35−36]
Các tài liệu biên soạn về đổi mới quản lý giáo dục trong đó có quản lý đổi mới phương pháp dạy học cũng mới được quan tâm trong thời gian gần đây với các tài liệu biên soạn phục vụ cho các dự án phát triển tiểu học, dự án phát triển THCS, dự
án phát triển THPT (Srem), chương trình đào tạo bồi dưỡng Hiệu trưởng trường THPT liên kết Việt Nam – Singapore, Tài liệu chỉ đạo chuyên môn trung học phổ thông - Bộ GD&ĐT Một số luận văn cao học cũng đã nghiên cứu về PPDH trong các môn học và đổi mới quản lý PPDH, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu
về thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở các trường THPT tại tỉnh Bình Dương
1.2 M ột số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn Nghiên cứu về quản lý sẽ giúp cho con người có đưỡc những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối với các
hoạt động quản lý
Dưới góc độ khoa học, khái niệm “quản lý” có nhiều cách tiếp cận khác nhau
Với ý nghĩa thông thường, phổ biến theo từ điển tiếng Việt thì quản lý có thể hiểu là
hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu
nhất định đã đề ra [27]
1.2.2 Giảng dạy
Giảng dạy là một hoạt động chuyên biệt do giáo viên đảm nhận nhằm giúp học sinh lĩnh hội nền văn hóa-xã hội, phát triển tâm lý thông qua tái tạo nền văn hóa đó
Trang 15Sự tái tạo nền văn hóa đó phải dựa trên cơ sở tính tích cực hoạt động của học sinh Như vậy khi tiến hành hoạt động giảng dạy người giáo viên không nhằm phát triển chính mình mà nhằm tổ chức, tái tạo nền văn hóa-xã hội, nhằm tạo ra cái mới trong nhân cách học sinh Để tiến hành hoạt động giảng dạy có hiệu quả thì cái cốt lõi trong
giảng dạy là:
- Phải tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học của học sinh
- Làm cho các em vừa có ý thức về đối tượng cần lĩnh hội vừa biết cách chiếm lĩnh đối tượng đó
- Giáo viên phải có trình độ tổ chức và điều khiển hoạt động học
1.2.3 Quản lý giảng dạy
Quản lý giảng dạy là quá trình tác động có kế hoạch, có chủ đích, hợp quy luật
của nhà quản lý giáo dục đến hoạt động dạy của người giáo viên nhằm đạt được các
mục tiêu dạy học Nói cách khác, quản lý giảng dạy là quá trình thực hiệc các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động dạy của giáo viên để đạt được
mục tiêu giáo dục đã đề ra
1.2.4 Quản lý việc đổi mới hoạt dộng giảng dạy tiếng Anh
Đây là việc quản lý giảng dạy Tiếng Anh theo hướng lấy học sinh làm trung tâm (learner−centred teaching), nhấn mạnh vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình
học tập, lấy việc hình thành năng lực tự học của học sinh làm mục tiêu chính Đối với môn Tiếng Anh, ngoài việc áp dụng chuẩn kiến thức kỹ năng như yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nhà quản lý còn phải lấy việc sử dụng Tiếng Anh trong giao
tiếp thực tế làm thước đo chất lượng và hiệu quả giảng dạy của giáo viên Ngoài ra, lãnh đạo nhà trường còn phải đánh giá được năng lực sử dụng Tiếng Anh của giáo
viên đang công tác và giáo viên mới tuyển dụng để làm cơ sở cho việc bố trí công tác
1.3 Lý luận về quản lý việc đổi mới hoạt dộng giảng dạy tiếng Anh
1.3.1 Quản lý giảng dạy Tiếng Anh
1.3.1 1 Chủ thể quản lý giảng dạy Tiếng Anh
Trang 16Điều 54 (Luật giáo dục-số38/25/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005) quy định:“Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường,
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.” [14]
Điều 19 (Điều lệ trường trung học –Ban hành kèm theo thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/03/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục dục và Đào tạo)
quy định lần lượt tại điểm đ và i như sau:
− “Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác,
kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ
luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký
hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;”
− “Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành;
thực hiện công khai đối với nhà trường;”
• Các Phó hi ệu trưởng
Cũng theo điểu lệ này, có thể hiểu rằng trong việc quản lý giảng dạy Tiếng Anh, P.HT phụ trách chuyên môn chịu trách nhiệm về toàn bộ HĐGD bô môn, cũng như việc hoạch định, điều khiển, giám sát, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu, chương trình, đổi mới PPGD, đào tạo GV
• T ổ trưởng chuyên môn
Căn cứ vào quy định của Điều lệ trường THPT ban hành kèm theo thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/03/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục dục và Đào tạo)
về nhiệm vụ của TCM và của TTCM, có thể nói rằng, trong việc quản lý đổi mới HĐGD, TTCM có nhiệm vụ:
− Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hoạt động của tổ (KH năm học,
KH tháng, KH tuần, KH dạy học, thao giảng, kiểm tra, ôn thi; KH bồi dưỡng đội ngũ, sinh hoạt chuyên đề, KH thực tế, giao lưu, …); hướng dẫn giáo viên xây dựng các KHCN tương ứng với nhiệm vụ của họ
− Quản lý hoạt động dạy học, giáo dục: Quản lý thực hiện chương trình dạy
học, gioá dục theo quy định; quản lý việc soạn bài của GV, quản lý việc dạy học trên
lớp, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả họ tập của HS, quản lý dạy thêm học
Trang 17thêm, công tác ngạoi kháo học tập, phố hợp quản lý các hoạt động GDNGLL, quản lý
hồ sơ TCM
− Xây dựng và phát triển đội ngũ: Phân công giảng dạy, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV: bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ, bồi dưỡng theo chuyên đề, bồi dưỡng qua dự giờ, thăm lớp, qua hội giảng, qua tổ chức giao lưu, nghiên cứu khoa học, viết SKKN, qua tự học; tham gia kiểm tra đánhgiá, xếp loại GV hàng năm theo quy định
1.3.1.2 Nội dung quản lý giảng dạy Tiếng Anh
Quản lý hoạt động dạy−học là một trong những nội dung quản lý nhà trường
phổ thông Để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học, đòi
hỏi đầu tiên đối với người giáo viên là thay đổi nhận thức và thay đổi cách viết mục tiêu bài dạy Công việc này đòi hỏi sự nổ lực không chỉ với các giáo viên mà còn là
sự thách thức với cả các nhà quản lý giáo dục Chính vì vậy, biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng có vai trò đặc biệt vì nó tác đông trực tiếp đến đội ngũ giáo viên, yếu tố quyết định chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường
Qu ản lý giảng dạy môn Tiếng Anh là thực hiện 4 chức năng quản lý nêu trên lên đối tượng quản lý là quá trình dạy học môn Tiếng Anh bao gồm các công tác quản lý: quản lý thực hiện chương trình giảng dạy theo quy định; quản lý việc soạn bài của giáo viên; qu ản lý việc giảng dạy trên lớp; quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả
h ọc tập của học sinh; quản lý các điều kiện phục vụ giảng dạy bộ môn này; quản lý
d ạy thêm, học thêm, công tác ngoại khóa, sinh hoạt chuyên đề của môn Tiếng Anh
Việc quản lý hoạt động giảng dạy Tiếng Anh tập trung và những
vấn đề sau:
− Quản lý hoạt động của tổ Tiếng Anh
− Quản lý việc xây dựng kế hoạch giảng dạy Tiếng Anh
− Quản lý việc tổ chức giảng dạy Tiếng Anh
− Quản lý việc đổi mới trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Tiếng Anh
Trang 18Về đội ngũ: Giáo viên dạy Tiếng Anh THPT là những giáo viên được đào tạo
chuyên môn nghiệp vụ đạt trình độ cử nhân trở lên
V ề chương trình: Thực hiện chương trình dạy học theo SGK do Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành
Về công tác chuẩn bị giờ lên lớp: Giáo viên có kế hoạch giảng dạy, giáo án
được soạn chính xác, rõ ràng về nội dung, phong phú về phương pháp, chuẩn bị
những đồ dùng dạy học cần thiết
Gi ờ dạy trên lớp của giáo viên: Tạo điều kiện cho giáo viên lên lớp có hiệu quả;
dự giờ, thăm lớp
Ch ỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy học: Xây dựng chương trình đào
tạo bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy; triển khai việc ứng dụng CNTT trong dạy học; phát động phong trào thi đua dạy tốt, trong đó nhấn mạnh tiêu chí đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp
dạy học tích cực; hỗ trợ tối đa các phương tiện dạy học phục vụ việc đổi mới phương pháp
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh: Kiểm tra, đánh giá phải
thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng Lấy kết quả kiểm tra đánh giá để
làm cơ sở điều chỉnh các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
1.3.1.3 Bản chất của dạy học môn Tiếng Anh
Bản chất của việc dạy học nói chung và dạy học Tiếng Anh nói riêng được hiểu
là sự biến đổi năng lực vốn có của người học với một số đặc điểm đáng chú ý như sau:
- Dạy học Tiếng Anh không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho HS sự hiểu biết kiến thức về ngôn ngữ mà c̣òn phải giúp HS sử dụng nó làm công cụ nghiên cứu các chuyên môn khác và phương tiện giao tiếp
- Hoạt động dạy học Tiếng Anh chỉ làm thay đổi chủ thể chứ không tác động vào khách thể (không sáng tạo, nghiên cứu ra cái gì mới vào môn ngoại ngữ được học) như các môn học khác Chính vì vậy, việc học tiếng Anh đòi hỏi phải có sự đam
mê (passion) ở người học mới có thể học tốt được
Trang 191.3.1.4 Hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh ở bậc THPT
• V ị trí, vai trò của môn Tiếng Anh trong chương trình giáo dục THPT
Tiếng Anh, với tư cách là một ngoại ngữ, là môn văn hoá cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục THPT, là một bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông Môn Tiếng Anh ở trường THPT cung cấp cho HS một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế mà không lo rào cản
về ngôn ngữ Do đặc trưng riêng, môn Tiếng Anh ở trường THPT góp phần phát triển
tư duy (trước hết là tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy học Tiếng Việt, góp
phần đổi mới PPGD, lồng ghép và chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác ở trường THPT Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn Tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của HS, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường THPT
• M ục tiêu
Dự án Dạy và học tiếng Anh trong hệ thống GD quốc dân, giai đoạn 2009-2020
của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra mục tiêu: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học tiếng Anh trong hệ thống GD quốc dân, triển khai chương trình ở các cấp học, trình độ đào
tạo nhắm đến năm 2015 đạt bước chuyển biến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng
tiếng Anh của nguồn nhân lực; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, CĐ, ĐH có năng lực sử dụng tiếng Anh độc lập, tự tin trong giao tiếp, học
tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa văn hóa, làm sao biến tiếng Anh trở thành thế mạnh của nguồn nhân lực Việt Nam, phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.”
Trang 20− Có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hoá và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh; biết tự hào, yêu quý, tôn trọng nền văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc mình
Mục tiêu cụ thể là hết bậc THPT, học sinh có khả năng sử dụng những kiến thức
Tiếng Anh đã học trong phạm vi chương trình để giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các
dạng nghe, nói, đọc, viết
Nôi dung chương trình được biên soạn theo các chủ điểm (theme) lặp lại, mở
rộng từ lớp 6 đến lớp 12 Dưới hệ thống các chủ điểm là chủ đề (topic) Hệ thống chủ điểm và chủ đề là cơ sở hình thành và phát triển các khả năng ngôn ngữ Các khả năng ngôn ngữ được hình thành và phát triển dong song với việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ: ngữ âm, từ ngữ và ngữ pháp.[23], [24], [25]
Tiếp nối chương trình từ lớp 6 đến lớp 9, chương trình Tiếng Anh THPT vẫn
gồm 6 chủ điểm (SGK) Điểm khác biệt là chương trình chuẩn có 16 chủ đề, chương trình nâng cao có 17 chủ đề
N ội dung giảng dạy Tiếng Anh THPT bao gồm:
− Rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh Kỹ năng giao tiếp là mục tiêu
của quá trình dạy học; kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp
− Cung cấp những tri thức về văn hóa
− Bồi dưỡng tư tưởng đạo đức
Trang 211.3.1.5 Các nguyên tắc giảng dạy tiếng Anh
Những năm 70 của thế kỷ trước, các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nhìn nhận ngôn
ngữ dưới góc độ là một công cụ giao tiếp chứ không đơn thuần chỉ là những quy tắc văn phạm Điều này ảnh hưởng rất lớn đến viêc điều chỉnh phương pháp dạy học Ngoại ngữ nói chung và dạy Tiếng Anh nói riêng Kết quả của trào lưu này là việc hàng loạt phương pháp giảng dạy mới ra đời, trong đó có Communicative language teaching (CLT) mà biểu hiện rõ nhất của phương pháp này là dạy học lấy người học làm trung tâm (Learner-centered Education) và dạy học theo phương pháp giao việc (Task-based language teaching)
David Nunan (2003) cho rằng muốn thành công trong việc giảng dạy Tiếng Anh người giáo viên phải làm được ba việc sau: Tập trung vào người học (nguyên tắc lấy người học làm trung tâm); tự sáng tạo ra phương pháp phù hợp với hoàn cảnh; và xây dựng giờ dạy dựa trên các bước pre-task, task sau cùng là follow-up activities [28, tr.58]
1.3.2 Xu thế đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh
1.3.2.1 Khái niệm về đổi mới hoạt động giảng dạy
Đổi mới các HĐGD là đưa các phương pháp giảng dạy mới, các hình thức truyền thụ khiến thức mới vào quá trình dạy học trên cơ sở giữ gìn và phát huy tính tích cực của HĐGD truyền thống nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS và nâng cao chất lượng giảng dạy
1.3.2.2 Xu thế đổi mới hoạt động giảng dạy trong giai đoạn hiện nay
Xuất phát từ đặc điểm hoạt động học của HS, từ nhiệm vụ dạy học và tử đặc điểm của hoạt động dạy học trong giai đoạn hiện nay, HĐGD thay đổi theo ba hướng chính sau đây:
− Tích c ực hoá HĐDH: Phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập và sáng
tạo nhận thức ở người học Kiểu dạy học thích hợp là dạy học nêu vấn đề với nhiều mức độ, cung bậc khác nhau, và áp dụng các phương pháp tương ứng
Trang 22Hay nói cách khác là lấy hoạt động nhận thức của HS làm trung tâm của quá trình dạy học
− Cá bi ệt hoá HĐDH: Phát huy cao nhất khả năng và trình độ của từng người
học Kiểu dạy học tích hợp − dạy học chương trình hoá Hình thức dạy học phù hợp là tự học có hướng dẫn Tài liệu hướng dẫn tự học có thể là tài liệu in hay tài liệu điện tử nhằm tăng cường bồi dưỡng cho người học ý thức, thói quen và phương pháp tự học
− Công ngh ệ hoá HĐDH: Ứng dụng các thành tựu của khoa học vào việc giảng
dạy, đặc biệt là công nghệ thông tin với các phần mềm chuyên dụng, ứng
dụng cho cả đào tạo giáp mặt và đào tạo không giáp mặt, góp phần nâng cao
hiệu quả của HĐDH
1.3.3 Quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh
1.3.3.1 Khái niệm quản lý việc đổi mới hoạt dộng giảng dạy tiếng Anh
Đây là việc quản lý giảng dạy Tiếng Anh theo hướng lấy học sinh làm trung tâm (learner−centred teaching), nhấn mạnh vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình
học tập, lấy việc hình thành năng lực tự học của học sinh làm mục tiêu chính Đối với môn Tiếng Anh, ngoài việc áp dụng chuẩn kiến thức kỹ năng như yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nhà quản lý còn phải lấy việc sử dụng Tiếng Anh trong giao
tiếp thực tế làm thước đo chất lượng và hiệu quả giảng dạy của giáo viên Ngoài ra, lãnh đạo nhà trường còn phải đánh giá được năng lực sử dụng Tiếng Anh của giáo viên đang công tác và giáo viên mới tuyển dụng để làm cơ sở cho việc bố trí công tác
Luật Giáo Dục Việt Nam năm 2005 có ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tri thức, sức khoẻ thẫm mỹ và nghề nghiệp, năng động, sáng tạo; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [14, tr.1]
Muốn được như vậy thì một trong những điều kiện đầu tiên nhằm giúp con người Việt Nam nắm bắt và cập nhật trí tuệ nhân loại trong xu thế hội nhập toàn cầu
là việc thông thạo ít nhất một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ, cụ thể ở đây là tiếng Anh
Trang 23− một trong những ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới Từ đó có thể
thấy rõ ràng rằng nhiệm vụ của công tác quản lý việc đổi mới hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh ở trường THPT là nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để thực hiện tốt vai trò quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở trường THPT, người CBQL cần phải nắm vững yêu cầu về quy trình đổi mới HĐGD, cần có sự quan tâm đúng mức và luôn đặt vấn đề đổi mới HĐGD trong sự
phối hợp với các hoạt động khác trong nhà trường BGH cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến kinh nghiệm về việc đổi mớ phương pháp cũng như hình
thức giảng dạy dù lớn hay nhỏ của mỗi giáo viên Thêm vào đó, người CBQL cũng
cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm giúp mỗi giáo viên nắm vững cách vận
dụng cũng như phối hợp các PPDH, hình thức DH một cách nhuần nhuyễn và phù
hợp nội dung bài học cũng như tâm sinh lý lứa tuổi HS mình đang giảng dạy và điều
kiện dạy học tại đại phương mình công tác Tóm lại, vấn đề quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh ở trường THPT đòi hỏi người CBQL phải:
− Luôn có ý thức coi vấn đề đổi mới HĐGD là một mục tiêu quản lý, là một bộ
phận của kế hoạch học kỳ, năm học
− Nắm bắt và phổ biến kịp thời đến GV những thông tư, chỉ thị của các cấp quản
lý về việc đổi mới HĐGD, thường xuyên cử GV đi tập huấn các chương trình bồi dưỡng GV về đổi mới HĐGD tiếng Anh trong và ngoài nước, các chương trình liên
kết đào tạo GV về PPGD mới (Ví dụ như chương trình Tailored Professional
Development Programme for Vietnamese Teacher Trainers of English do Bộ Giáo
Dục Việt Nam liên kết với Singapore tổ chức)
− Thường xuyên tổ chức những chuyên để về đổi mới HĐGD, thao giảng trong phạm vi nhà trường, cụm trường để GV có thể trao đổi kinh nghiệm, học hỏi những cái hay, cái mới từ bạn bè đồng nghiệp Ngoài ra, có thể tổ chức nghiên cứu khoa học
về nội dung đổi mới HĐGD cho toàn thể GV trong trường
Trang 24− Có ý thức coi việc đổi mới HĐGD là một trong những tiêu chí đánh giá giờ dạy, nhằm có biện pháp phù hợp trong việc kiểm tra, đánh giá cũng như có kế hoạch giúp đỡ giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới HĐGD.
− Quan tâm và có sự đầu tư phù hợp và kịp thời đối với vấn đề trang bị các phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm hỗ trợ cho hoạt động đổi mới HĐGD của
GV trên lớp
1.3.3 2 Nội dung quản lý việc đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh
• Qu ản lý việc xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung dạy học môn tiếng Anh
Tiếng Anh được đưa vào chương trình giáo dục THPT nhằm đạt được ba mục đích: Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, nâng cao trình độ văn hoá, và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức Cả ba mục đích đều quan trọng, có mối quan hệ mật thiết
với nhau Mục đích giao tiếp là quan trọng nhất, hai mục đích kia phải luôn luôn gắn
với mục đích thứ nhất Điều này có nghĩa, sau khi hoàn thành chương trình, HS phải
có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh, sử dụng được vốn từ được học để hỗ trợ cho
việc học tập các môn học khác, phát triển trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp sau này
− V ề kiến thức: Sau khi học xong chương trình THPT, HS nắm được kiến thức
cơ bản và tương đối hệ thống về tiếng Anh thực hành hiện đại, phù hợp với lứa
tuổi; có sự hiểu biết khái quát ban đầu về văn hoá của một số nườc sử dụng
tiếng Anh
− V ề kỹ năng: HS có kỹ năng cơ bản sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao
tiếp ở mức độ đơn giản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết Cụ thể như sau:
Nghe (Listening): Nghe hiểu được nội dung chính và nội dung chi tiết
các đoạn hội thoại có độ dài 180-200 từ trong phạm vi các nội dung chủ điểm
đã học trong chương trình; Hiểu được các văn bản ở tốc độ gần tự nhiên ;
Nhận biết được quan điểm và thái độ người nói
Nói (Speaking): Hỏi-đáp, trình bày về các nội dung liên quan đến các
chủ điểm có trong chương trình.Thực hiện một số chức năng giao tiếp cơ bản:
Trang 25bày t ỏ sự hài lòng và không hài lòng, tán thành và phản đối, bày tỏ quan điểm, nói và đáp lại lời khen, lời cảm ơn theo đặc điểm của nền văn hóa khác nhau, làm quen, so sánh, đối chiếu tương phản …
Đọc (Reading): Đọc hiểu được nội dung chính và nội dung chi tiết các
văn bản với độ dài khoảng hơn 300 từ, xoay quanh các chủ điểm có trong chương trình.Phát triển kĩ năng từ vựng : sử dụng từ điển, ngữ cảnh, từ đồng
nghĩa, trái nghĩa Nhận biết các thành tố ngữ pháp, liên kết văn bản
Viết (Writing): Viết có gợi ý ( không theo mẫu) đoạn văn có độ dài
khoảng 130-150 từ về nội dung liên quan đến các chủ điểm đã học hoặc để
phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân và xã giao đơn giản
− V ề thái độ, tình cảm: Học tiếng Anh giúp HS có thái độ và tình cảm
đúng đắn vói đất nước, con người, nền văn hoá, ngôn ngữ của đất nước đang
học tiếng, trên cơ sở đó bồi dưỡng, phát triển thái độ, tình cảm tốt đẹp, biết tự hào,yêu quý, tôn trọng ngôn ngữ và văn hoá của dân tôc mình Bước đầu có nhu cầu tìm hiểu, biết cách tự học để nắm vững, sử dụng tiếng nước ngoài trong học tập cũng như trong đời sống Xây dựng và phát triển ý thức, năng lực làm việc trong cộng đồng thông qua các hoạt động ngôn ngữ
Để QL tốt hoạt động này, người hiệu trưởng cần chú ý các nội dung sau:
− Căn cứ vào mục tiêu chung của ngành, vào tình hình cụ thể của nhà trường, đặc điểm HS và địa phương, hiệu trưởng phải định hướng và chỉ đạo GV xây dựng mục tiêu dạy học
− Kiểm tra việc xây dựng mục tiêu dạy học của GV, thể hiện qua kế hoạch giảng dạy năm học và kế hoạch bài học (lesson plan)
− Quản lý nội dung bài dạy của GV để kiểm tra sự chính xác, khoa học của nội dung dạy học
− Đối chiếu mục tiêu mà GV xây dựng với mục tiêu được yêu cầu của bộ môn tiếng Anh và nội dung từng bài học để có sự điều chỉnh hợp lý
• Qu ản lý việc thực hiện chương trình và sách giáo khoa tiếng Anh THPT
Trang 26Chương trình môn tiếng Anh bậc THPT được xây dựng theo sáu chủ điểm, lặp lại có mở rộng từ lớp 10 đến lớp 12 với những định hướng cơ bản sau:
− Kỹ năng giao tiếp là mục tiêu của quá trình học, kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp
− HS là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của quá trình dạy học, còn GV là
người tổ chức, hướng dẫn quá trình dạy học
− Nội dung dạy học được lựa chọn và trình bày theo hệ thống chủ điểm, vừa đảm bảo tính giao tiếp cao, vừa đảm bảo tính cơ bản, chính xác và hiện đại của ngôn ngữ
− Chương trình là cơ sở cho việc biên soạn SGK, quản lý quá trình dạy học, kiểm tra kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp, đánh giá kết quả học tập và chất lượng giảng dạy
Để QL tốt việc thực hiện chương trình tiếng Anh THPT, người hiệu trưởng cần làm các việc sau:
− Với xu hướng phân cấp mạnh cho các trường tự chủ hiện nay, hiệu trưởng cần căn cứ vào tình hình cụ thể của nhà trường để định hướng cho GV xây dựng chương trình cho phù hợp nhưng phải đảm bảo tiến độ giảng dạy và kế hoạch giảng dạy chung
− QL việc thực hiện chương trình là QL việc thực hiện đúng, đủ các bài, đủ số giờ quy định của môn học (theo kế hoạch của nhà trường); dạy học đúng tiến độ, kiểm tra đánh giá đúng thời gian quy định của GV Vì vậy, hiệu trưởng phải thường xuyên theo dõi việc soạn bài, lên lớp, tiến độ thực hiện chương trình dạy học của GV
để có sự điều tiết phù hợp
• Ch ỉ đạo, quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh THPT
Việc đổi mới PPGD môn tiếng Anh ở trường THPT là một quá trình, trong đó khâu đầu tiên là xây dựng kế hoạch Nếu thiếu tính kế hoạch, quá trình này sẽ khó đạt hiệu quả cao Khi xây dựng kế hoạch đổi mới PPDG môn tiếng Anh người CBQL cần dựa trên những cơ sở sau:
Trang 27Để hình thành và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua luyện tập các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng…cần quán triệt các nguyên tắc về phương pháp dạy học cơ bản sau:
− GV tổ chức và hướng dẫn HS tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp và nhóm GV cần kết hợp hài hòa các phương pháp
và kỹ thuật dạy học, sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy học và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú học tập cho HS GV cần sử dụng tiếng Việt một cách hợp lý và
có hiệu quả trong quá trình dạy học
− Với tư cách là người cố vấn, GV phải tạo điều kiện tối đa cho quá trình giao tiếp giữa HS với nhau; giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho HS
− Dạy học theo phương pháp gợi mở: GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm ra lời giải đáp hoặc con đường đi của mình
− HS là chủ thể của hoạt động học tập: Tham gia học tập và hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và với tinh thần hợp tác cao
− Động viên tất cả kiến thức có sẵn về văn hóa, xã hội cũng như ngôn ngữ của
HS trong quá trình luyện tập
− Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product) mà còn chú trọng cả quá trình (process) luyện tập và phương pháp học tập
− Quán triệt tinh thần dạy học tích cực, phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong mỗi tiết học, lấy đó làm một trong những tiêu chí đánh giá, phân
loại GV
− Thường xuyên dự giờ, thăm lớp để kiểm tra việc sử dụng các phương pháp
Trang 28• Qu ản lý công tác bồi dưỡng thường xuyên năng lực sư phạm và năng lực sử
d ụng ngôn ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm và năng lực sử dụng tiếng Anh cho
GV dạy tiếng Anh là một việc làm vô cùng cần thiết của hiệu trưởng Nội dung bồi dưỡng bao gồm cập nhật kiến thức, hướng dẫn cải tiến phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp mới vào dạy học, kỹ năng sử dụng phương tiện CNTT & TT, nâng cao khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh…nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Các hoạt động bồi dưỡng gồm:
− Tổ chức dự giờ thăm lớp và rút kinh nghiệm giảng dạy nhằm giúp GV có cơ hội trao đổi chuyên môn, học hỏi lẫn nhau
− Thực hiện chuyên đề, hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học cũng như các lớp tập huấn kỹ năng sử dụng CNTT & TT
− Tổ chức thi viết sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp hữu ích nhằm giúp GV tổng kết rút kinh nghiệm quá trình giảng dạy của mình, đồng thời giúp cho các GV khác tham khảo, học hỏi, đóng góp ý kiến Đây cũng là bước đầu để họ quen dần với công tác nghiên cứu khoa học
− Tổ chức CLB nói tiếng Anh cho GV, nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiếng Anh khi sinh hoạt tổ / họp tổ chuyên môn
• Qu ản lý việc sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học tiếng Anh
Việc đổi mới HĐGD tiếng Anh chỉ phát huy hiệu quả khi GV có kiến thức chuyên môn vững vàng và được trang bị các phương tiện trợ giảng như thiết bị dạy học, thiết bị nghe nhìn Nếu được sử dụng hiệu quả, chúng sẽ giúp HS có hứng thú,
dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ qua đó giúp GV chuyển tải được nội dung đến HS một cách
có hiệu quả nhất Tuy nhiên, cần tránh tư tưởng sử dụng chúng chỉ để thay cho phương pháp giảng dạy truyền thống nhằm tiết kiệm thời gian và công sức giảng bài
Để phát huy hiệu quả việc sử dụng phương tiện và thiết bị dạy học trong dạy học tiếng Anh, hiệu trưởng cần làm các việc sau:
− Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ dạy học tiếng Anh (phòng Lab, máy cassette, projector, máy chiếu đa vật thể…)
Trang 29− Ban hành các quy định, động viên, khuyến khích GV sử dụng phương tiện dạy học, đặc biệt các phương tiện CNTT & TT
− Tăng cường phát động, khuyến khích GV tự làm đồ dùng dạy học
− Chỉ đạo các hoạt động trao đổi kinh nghiệm về sự dụng các phương tiện dạy học trong GV
• Định hướng xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh cho học sinh
Nhiều công trình nghiên cứu về học ngoại ngữ nhận thấy rằng, để học ngoại
ngữ hiệu quả phải đáp ứng ba điều kiện: tiếp xúc, sử dụng và động cơ Chính vì vậy, nhà trường phổ thông, nơi thiếu điều kiện tự nhiên để cho HS tiếp xúc, phải có môi trường sử dụng tiếng Anh để tạo cơ hội cho HS sử dụng tiếng Anh Hoạt động ngoại khoá là một hình thức tổ chức dạy học, là một dạng hoạt động của HS tiến hành ngoài
giờ lên lớp chính thức, ngoài phạm vi quy định của chương trình bộ môn nhằm hỗ trợ cho chương trình chính khoá, góp phần hoàn thiện và phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của HS Trong những năm qua, hoạt động giáo dục NGLL được đưa vào chương trình phổ thông nhưng việc tổ chức các hoạt động NGLL cho từng bộ môn nói chung, môn tiếng Anh nói riêng, chưa được chú trọng Thiết nghĩ, tổ chức thường xuyên các hoạt động NGLL cho môn tiếng Anh sẽ giúp
HS cơ hội sử dụng tiếng Anh hiệu quả, thiết thực hơn
Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Anh, người CBQL phải thay đổi sự mất cân đối giữa sự lĩnh hội và sử dụng ngôn ngữ bằng các phương pháp sau:
− Khuyến khích GV tiếng Anh tăng cường tổ chức các trò chơi, các hoạt động
sử dụng ngôn ngữ trong giờ dạy của mình Việc này đòi hỏi phải có sự đồng thuận và nhất trí trong nhà trường vì nó có thể sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình dạy học của GV khác
− Chỉ đạo tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, chuyên đề với mục đích tạo cơ hội sử dụng tiếng Anh cho HS (như tổ chức thi hùng biện bằng tiếng Anh, diễn kịch, trò chơi, thi hát các bài hát tiếng Anh, tổ chức các CLB nói tiếng Anh trong nhà trường)
Trang 30− Tạo ra môi trường sử dụng tiếng Anh thực tế hàng ngày chẳng hạn như các thông báo, khẩu hiệu của nhà trường, bảng tên, tên của các phòng ban trong nhà trường được viết bằng hai thứ tiếng
− Định hướng tổ chức các hoạt động NGLL môn tiếng Anh
• Qu ản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tiếng Anh
Kiểm tra, đánh giá là một trong những hoạt động quan trọng trong hoạt động dạy học của nhà trường Kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, hiệu quả không chỉ đánh giá đúng năng lực thực sự của HS để từ đó có những điều chỉnh kịp thời mà còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy động cơ, thái độ tích cực và sáng tạo của HS Ngoài ra, việc kiểm tra, đánh giá trong hoạt động QL cũng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức và công tác QL của tổ chức
Với xu thế đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá theo tinh thần “lấy người học làm trung tâm” hiện nay, GV cần phối hợp cách đánh giá truyền thống bên cạnh áp dụng những phương pháp đánh giá đa dạng khác Có thể phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá theo phương pháp định lượng (quantitative assessment) với các hình thức như kiểm tra thông qua các hoạt động giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết), kiểm tra thông qua các thành phần ngôn ngữ ( ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ) và hình thức kiểm tra
theo phương pháp chất lượng (qualitative assessment) với các hình thức như điểm
sách (critical reviews) bằng cách yêu cầu học sinh phân tích, bình luận một đề tài
dưới dạng bài viết (essay) hoặc trình bày trước lớp (presentation); báo cáo (reports)
bằng cách viết thu hoạch về một vấn đề quan sát
Để QL tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tiếng Anh ở trường THPT hiện nay, hiệu trưởng phải làm các việc sau:
− Tổ chức cho GV học tập nắm vững quy chế đánh giá học sinh THPT Giám sát
chặt chẽ quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
− Quản lý, giám sát việc ra đề, mức độ đề kiểm tra của GV đảm bảo khách quan, công bằng trong đánh giá HS
− Chỉ đạo thực hiện tốt việc cho điểm, vào điểm, tính điểm của giáo viên Trong đó đảm bảo: ra đề kiểm tra chính xác, đúng yêu cầu; coi kiểm tra nghiêm túc,
Trang 31trung thực, khách quan, chấm kiểm tra đúng đáp án, biểu điểm, thời gian; trả bài kiểm tra công khai, minh bạch, tính điểm tổng kết chính xác Quản lý đánh giá kết quả học
tập và rèn luyện của HS bằng phần mềm
quản lý
− Xây dựng tiêu chí thi đua, khen thưởng trong dạy học và thực hiện thường xuyên, kịp thời nhằm động viên khuyến khích GV và HS
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý và hoạt động học tập của học sinh THPT
Ở lứa tuổi THPT, các em đã đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức
[16, tr.36] Nhà trường phổ thông là môi trường học tập mới của các em Ở môi trường mới này, hoạt động học tập của các em khác và phức tạp hơn nhiều so với tuổi thiếu niên, đòi hỏi các em phải tích cực và nỗ lực nhiều Điều này thể hiện ở nội dung
học tập ngày một nhiều, hoạt động học tập đi sâu vào những tri thức cơ bản, những quy luật của những bộ môn khoa học Phương pháp của giáo viên cũng có nhiều thay đổi Chính vì vậy, hoạt đông học tập đòi hỏi các em phải có tính năng động, độc lập
và sáng tạo ở mức độ cao hơn, đòi hỏi các em phải phát riển tư duy lý luận Thái độ
và ý thức của các em đối với việc học tập ngày càng phát triển Nhu cầu tri thức của các em tăng lên một cách rõ rệt Thái độ của các em đối với môn học có lựa chọn hơn Các em hiểu được rằng vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo là điều kiện cần thiết để các em bước vào cuộc sống tương lai
Ở nhà trường, học tập vẫn là chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì cao hơn lứa tuổi thiếu niên Lứa tuổi này đòi hỏi tính tự giác và độc lập hơn Trong giai đoạn này, nhà trường có vị trí quan trọng, đây là nơi không chỉ trang bị tri thức mà còn tác động hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho mỗi học sinh
Đặc điểm hoạt động học tập
Học tập vẫn là hoạt động chủ đạo của học sinh THPT Với những yêu cầu cao hơn về tính tích cực và độc lập trí tuệ Muốn lĩnh hội được sâu sắc môn học phải có trình độ tư duy Đòi hỏi phải có tính năng động và độc lập ở lứa tuổi này
Trang 32Thái độ đối với việc học tập cũng có sự thay đổi Thái độ tự ý thức về việc học tập cho tương lai được nâng cao Học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm của tương lai của mình Có thái độ lựa chọn đối với từng môn học và đôi khi chỉ chăm chỉ học những môn được cho là quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai
Ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập đã trở nên xác định và thể hiện rõ ràng hơn, học sinh thường có hứng thú ổn định đối với một môn khoa học hay lĩnh vực nào đó Điều này kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri
thức trong lĩnh vực tương ứng
TI ỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã và đang cố gắng từng bước nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh Một trong số những nỗ lực đó đó là dự án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” với mục tiêu đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm bồi dưỡng năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực trong trong giao tiếp, học tập và làm việc, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH hoá đất nước
Đổi mới HĐGD tiếng Anh ở bậc THPT là nhu cầu có thật và cấp thiết trước những yêu cầu mới mà xã hội đặt ra cho ngành GD nói chung và với bộ môn tiếng Anh nói riêng
QL đổi mới HĐGD tiếng Anh ở trường THPT gồm có quản lý việc xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung dạy học môn tiếng Anh, quản lý việc thực hiện chương trình và sách giáo khoa tiếng Anh theo đường hướng mới, chỉ đạo, quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học bô môn , quản lý công tác bồi dưỡng thường xuyên năng lực sư phạm và năng lực sử dụng ngôn ngữ cho giáo viên tiếng Anh, quản lý việc sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học tiếng Anh, định hướng xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh cho học sinh, quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tiếng Anh ở trường THPT
Trang 33Sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của người CBQL đối với việc đổi mới HĐGD tiếng Anh dẽ mang lại hiệu quả tích cực trong việc dạy học bộ môn, nhằm đáp ứng yêu cầu giao lưu, hội nhập với thế giới và theo kịp đà tăng trưởng, phát triển của xã hội
Trang 34C HƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TẠI BÌNH DƯƠNG
2.1 Một số đặc điểm về tình hình phát triển GD&ĐT tại tỉnh Bình Dương
2.1.1 Quy mô trường lớp và học sinh
Năm học 2012-2012 toàn tỉnh có 31 trường THPT, trong đó có 26 trường công
lập, 5 trường ngoài công lập với 20.973 HS Đến Năm học 2012-2013 toàn tỉnh có 32 trường THPT, trong đó có 26 trường công lập, 6 trường ngoài công lập với tổng số
HS là 21.531 HS tăng 558 HS so với năm học 2011-2012 Số HS ngoài công lập là
798 HS chiếm 37,1% Số trường THPT đạt chuẩn Quốc gia là 8 trường
2.1.2 Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
Năm học 2011-2012 tổng số giáo viên THPT là 1.389 GV, đạt chuẩn trở lên 1.355 GV chiếm 97,66% (trong đó có 52 GV trên chuẩn chiếm 3,74%), chưa đạt chuẩn 34 GV chiếm 2,45% Số cán bộ quản lý (HT, PHT) là 84 người, trong đó có 9 CBQL trên chuẩn chiếm 10,7% (nguồn từ Sở GDĐT cung cấp)
Năm học 2012-2013 tổng số giáo viên THPT là 1.431 GV, đạt chuẩn trở lên 1.410 GV chiếm 99,22% (trong đó có 114 GV trên chuẩn chiếm 8,02%), chưa đạt chuẩn 21 GV chiếm 1,48% Số cán bộ quản lý (HT, PHT) là 86 người, trong đó có 9 CBQL trên chuẩn chiếm 10,5%, 71 CBQL đã được bồi dưỡng quản lý giáo dục
THPT (trong đó có 8 có trình độ QLGD là đại học và trên đại học) (nguồn từ Sở
GDĐT cung cấp)
2.1.3 Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật
Tất cả các trường THPT trong tỉnh đều có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, trường lớp khang trang, phòng học được xây dựng kiên cố, các trường đều có khuôn viên rộng rãi, sân tập thể dục cho HS, một số trường đã có nhà thể thao đa năng thuận
lợi cho việc tập luyện TDTT Các trường đều được trang bị ở mức cho phép tối thiểu
về thiết bị và phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học Đa số các trường đều có phòng nghe nhìn, có phòng vi tính với 40-60 máy, các phòng chức năng như: phòng thực
Trang 35hành các bộ môn Vật lý, Hóa học và Sinh học, phòng thư viện, phòng máy nối mạng ADSL cho GV khai thác, sử dụng, phục vụ cho giảng dạy Ngoài ra mỗi phòng học đều có trang bị hệ thống âm thanh để phục vụ cho công tác giảng dạy môn tiếng Anh
có hiệu quả hơn
2.1.4 Về chất lượng giáo dục
* Năm học 2009-2010
Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục có công văn chỉ đạo và hướng dẫn các trường
thực hiện chương trình theo kế hoạch thời gian 37 tuần (học sớm một tuần trước khai
giảng) Tiếp tục tăng cường giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm
mỹ, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục trật tự an toàn giao thông và giáo dục pháp luật, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc; có biện pháp hữu hiệu trong việc phòng chống các
tệ nạn xã hội, tội phạm, ma túy, HIV/AIDS; các trường trung học cơ sở giảng dạy chương trình tự chọn môn theo chủ đề nâng cao và bám sát dạy tin học và nghề phổ thông; các trường trung học phổ thông phân ban thực hiện đầy đủ chương trình theo quy định của Bộ; củng cố và giữ vững 100% huyện, thị xã đạt chuẩn phổ cập giáo
dục THCS, thực hiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông ở những nơi có điều kiện Đến 2010 có 47/89 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc trung học, đạt tỷ lệ 52,8%
V ề học lực: Cấp THPT: Xếp loại giỏi: 5% (tăng 0,6%), khá: 25,7% (giảm
0,4%), trung bình: 50,2% (giảm 0,2%), yếu: 17,6% (giảm 0,4%), kém: 1,5% (tăng 0,4%)
V ề hạnh kiểm: Xếp loại tốt: 75,1% (tăng 3,4%), khá: 21% (giảm 3,1%), trung
bình: 3,4% (giảm 0,4%), yếu: 0,5% (tăng 0,1%)
* Năm học 2010-2011
Ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Dương tiếp tục thực hiện chương trình theo kế hoạch thời gian 37 tuần (học sớm một tuần so với ngày khai giảng) Tiếp tục tăng cường giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục trật tự an toàn giao thông và giáo dục pháp luật, giáo dục bản
Trang 36tội phạm, ma túy, HIV/AIDS; các trường trung học cơ sở giảng dạy chương trình tự
chọn môn theo chủ đề nâng cao và bám sát dạy tin học và nghề phổ thông; các trường trung học phổ thông phân ban thực hiện đầy đủ chương trình theo quy định của Bộ;
củng cố và giữ vững 100% huyện, thị xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS, thực hiện
phổ cập giáo dục phổ thông ở những nơi có điều kiện Đến nay có 72/91 xã, phường,
thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc trung học, đạt tỷ lệ 79,1%
V ề học lực: Xếp loại giỏi: 4,87% (giảm 0,13%), khá: 26,65% (tăng 0,95%),
trung bình: 50,85% (tăng 0,65%), yếu: 16,71% (giảm 0,89%), kém: 0,92% (giảm 0,58%)
V ề hạnh kiểm: Xếp loại tốt: 75,12% (tăng 0,02%), khá: 19,98% (giảm
1,02%), trung bình: 4,45% (tăng 1,05%), yếu: 0,45% (giảm 0,05%)
* Năm học 2011-2012
Các trường nghiêm túc triển khai thực hiện hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy
học của Bộ GDĐT đối với chương trình THCS, chương trình chuẩn THPT Các trường THCS và THPT trên địa bàn tỉnh chỉ đạo các tổ bộ môn điều chỉnh phân phối chương trình chi tiết, phù hợp với điều kiện của từng trường, đảm bảo các nguyên tắc quy định
của Bộ GDĐT Tăng cường chỉ đạo công tác đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá học sinh Củng cố và giữ vững 100% huyện, thị xã đạt chuẩn phổ cập giáo
dục THCS, thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục phổ thông, đến nay có 88/91 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc trung học, đạt tỷ lệ 96,7% theo tiêu chí của tỉnh (đạt 100% huyện, thị xã đạt chuẩn phổ cập bậc trung học)
Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm năm học 2011-2012
V ề tỉ lệ tốt nghiệp
Năm học 2009-2010: (không tính số thí sinh tự do) đạt tỷ lệ 87,75% (tăng
9,44% so với cùng kỳ năm học 2008-2009)
Năm học 2010-2011: (không tính số thí sinh tự do) đạt tỷ lệ 90,7% (tăng 3%
Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém THPT 20.973 76,8% 19,7% 2,8% 0,7% 6,3% 29,3% 48,1% 15,6% 0,7%
+1,42% +2,65% -2,43% -1,34% -0,3%
Cấp học Tổng số học sinh Hạnh kiểm Học lực
So với năm học 2010-2011
(Tăng +, giảm -) +2,47% -0,84% -1,65% +0,02%
Trang 37so với cùng kỳ năm học trước)
Năm học 2011-2012: (không tính số thí sinh tự do) đạt tỷ lệ 99% (tăng 8,3% so
với năm học trước)
Năm học 2012-2013: (không tính số thí sinh tự do) đạt tỷ lệ 99.72% (tăng
0.72% so với năm học trước)
Tính đến năm học 2012-2013, tuy bị áp lực về gia tăng dân số nhập cư, song các địa phương đều đã chủ động và cơ bản giải quyết có chỗ học tập cho con em nhân dân, đảm bảo qui mô phát triển trường lớp theo kế hoạch
Chất lượng giáo dục tiếp tục chuyển biến tích cực thể hiện qua kết quả thi tốt nghiệp THPT và bổ túc THPT tăng cao, kết quả trúng tuyển vào các trường đại học và cao đẳng
Đội ngũ giáo viên có nhiều cố gắng trong nâng cao trình độ, nhờ vậy tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng tăng, đồng thời nhiều giáo viên cũng đã được đứng chân vào hàng ngũ của Đảng
Việc xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, việc đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy
học, các chế độ chính sách cho cán bộ, giáo viên, các đề án trường tạo nguồn, chất lượng cao, phát triển trường chuyên tiếp tục được các địa phương, sở ngành và tỉnh quan tâm giải quyết
Công tác xã hội hóa giáo dục tiếp tục có những đóng góp lớn, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Bên cạnh những thành tựu cơ bản trên, ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Dương vẫn còn gặp phải một số hạn chế sau:
Mặc dù mạng lưới trường lớp luôn được quan tâm xây dựng thêm, song do sự gia tăng học sinh quá nhanh nên để đảm bảo có chỗ học, nhiều nơi đã phải giải quyết
bằng cách giảm lớp 2 buổi hoặc tăng sĩ số lớp lên trên 45 học sinh, chính điều này đã làm chất lượng giáo dục có ảnh hưởng, nhất là chất lượng mũi nhọn
Đội ngũ cán bộ quản lý một số nơi chưa chủ động, kiên quyết trong công tác
quản lý, tình trạng dạy thêm học thêm tại một vài nơi chưa được quản lý chặt chẽ, công tác thỉnh thị báo cáo không được chấp hành tốt, kể cả những việc mang tính đột xuất
Trang 38nhất định, nhưng vẫn còn hạn chế về xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp Một vài trường học chưa đảm bảo xây dựng đủ nhà vệ sinh sạch cho học sinh sử dụng
Việc sử dụng các trang thiết bị dạy học một số nơi chưa đạt hiệu quả, còn để lãng phí; công tác quản lý tài sản, thiết bị, thực hiện sổ sách…chưa thực hiện tốt
2.2 Thể thức và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh tại các trường THPT ở Bình Dương, chúng tôi đã lấy ý kiến bằng phiếu trưng cầu ý kiến
với 3 nhóm khách thể:
− Nhóm CBQL: gồm 22 CBQL (HT, PHT, TTCM),
− Nhóm GV: gồm20 GV đang giảng dạy môn tiếng Anh
− Nhóm HS: gồm 512 HS của 4 trường THPT tại Bình Dương
2.2.1 Bảng hỏi
Để khảo sát thực trạng quản lý đổi mới HĐGD tiếng Anh ở trường THPT tại Bình Dương, chúng tôi sử dụng phiếu hỏi với hai lĩnh vực chính là đổi mới HĐGD và
quản lí việc đổi mới HĐGD (Xem phần phụ lục) Các câu hỏi được soạn theo 04 nội
dung lớn của nghiên cứu Đó là:
– Quản lý giảng dạy tiếng Anh – Bản chất của dạy học môn tiếng Anh – Quản lý đổi mới HĐGD
– Quản lý đổi mới HĐGD tiếng Anh Các nội dung được đưa ra khảo sát ở tính cần thiết và tính khả thi Mỗi câu hỏi được đo theo 3 mức độ của tính cần thiết và tính khả thi:
– Mức 1: Ứng với khồng cần / không tốt – Mức 2: Ứng với cần thiết / tốt
– Mức 3: Ứng với rất cần thiết / rất tốt Người trả lời chọn một lựa chọn mà họ thấy phù hợp với mình
Quy định các mức đánh giá:
– Rất cần: không có không được - Rất tốt: từ 70% đến 100%
Trang 39– Cần thiết: có lúc không cần - Tốt: từ 50% đến 70%
– Không cần: hoàn toàn không cần - Không tốt: dưới 49%
Phiếu hỏi được thăm dò trên ba đối tượng là CBQL, GV và HS Nội dung phiếu hỏi của GV và CBQL là giống nhau Chỉ có phiếu hỏi HS có khác bởi có
những vấn đề liên quan đến việc đổi mới HĐGD tiếng Anh và QL việc đổi mới HĐGD học sinh không biết nên chúng tôi không hỏi Mẫu khảo sát của HS là để chúng tôi đánh giá kết quả thực hiện việc giảng dạy tiếng Anh của GV và công tác
THPT Lê Lợi (Huyện Tân Uyên) 7 16,7
THPT Tây Nam (Huyện Bến Cát) 7 16,7
Trang 40Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn của CBQL và GV trong mẫu khảo sát
Qua biểu đồ 2.1, chúng tôi nhận thấy:
Gần 100% GV đều đạt chuẩn về trình độ, tức là đã tốt nghiệp đại học (Điều 77,
Luật giáo dục 2005 quy định trình độ chuẩn được đào tạo của GV THPT là có bằng
tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm) Chỉ có 1 trường hợp GV không trả lời câu hỏi về trình độ chuyên môn Tuy nhiên, trình độ trên chuẩn của CBQL là 1/22 (4,54%), của GV là 2/20 (10%) Đây là con số còn khá thấp so vời yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và so với mục tiêu là đến năm 2015 có 20% CBQL và GV có trình độ đào
tạo trên chuẩn của ngành giáo dục Bình Dương
Biểu đồ 2.2 Thâm niên công tác của CBQL và GV trong mẫu khảo sát (%)
0 20 40 60 80 100
Cử nhân Thạc Sỹ Tiến Sỹ
>25 năm