HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hồng Yến Phương THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG MỚI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN TH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hồng Yến Phương
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG MỚI TẠI CÁC TRƯỜNG
MẦM NON QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hồng Yến Phương
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG MỚI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN TUẤN LỘ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi Các số
li ệu và kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học
nào khác
Tác gi ả Nguy ễn Hồng Yến Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình dài học tập và nghiên cứu, hoàn thành luận văn, lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Tp.HCM đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý giá liên quan đến chuyên ngành mà tôi theo học
Tiếp đến, tôi xin gởi lời cảm ơn các thầy cô thuộc Tổ Mầm non – Phòng Giáo dục & Đào tạo Quận 5, những cán bộ quản lý cũng như giáo viên các trường Mầm non trong quận đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thực hiện công tác khảo sát thực trạng của đề tài
Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn các anh chị, các bạn đồng nghiệp trong lớp
vì đã luôn hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình tôi học tập
tại trường
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Trần Tuấn Lộ - người thầy đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài vì nếu không có thầy, tôi không thể hoàn thành luận văn này
Với nỗ lực riêng của bản thân, tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình nhưng chắc chắn, những vấn đề tôi trình bày trong luận văn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Vì thế, tôi kính mong quý thầy cô, các anh chị, bạn bè đồng nghiệp sẽ đóng góp thêm ý kiến để tôi chỉnh sửa những khiếm khuyết mà tôi vướng phải
Trân trọng !
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2012
Nguyễn Hồng Yến Phương
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
CÁC CH Ữ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do ch ọn đề tài 7
2 M ục đích nghiên cứu 8
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 8
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu 9
5 Gi ả thuyết nghiên cứu 9
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9
7 Gi ới hạn phạm vi nghiên cứu 11
8 C ấu trúc luận văn 11
9 K ế hoạch nghiên cứu 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG MỚI 13
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 13
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước 13
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước 14
1.2 M ột số khái niệm 16
1.2.1 Khái niệm Quản lý 16
1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục 17
1.2.3 Khái niệm Quản lý trường học 20
1.2.4 Khái niệm Chương trình giáo dục 21
1.2.5 Khái niệm Chương trình giáo dục Mầm non 22
1.2.6 Khái niệm Chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới 23
1.3 M ột số vấn đề lý luận về quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới 25
1.3.1 Lý luận về chương trình 25
1.3.2 Lý luận về quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới 34
1.4 Nh ững yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý việc thực hiện chương trình giáo d ục trẻ mẫu giáo theo hướng mới 36
Trang 61.4.1 Những yếu tố khách quan 36 1.4.2 Những yếu tố chủ quan 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG MỚI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 5 TP.HCM 38
2.1 Th ực trạng việc thực hiện chương trình giáo dục Mầm non mới tại Tp.HCM qua báo cáo c ủa Phòng Mầm non - Sở Giáo dục và Đào tạo Tp.HCM 38 2.2 Th ực trạng việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới
t ại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM qua điều tra của tác giả luận văn 39
2.2.1 Quy mô trường, lớp, giáo viên, học sinh của Tp.HCM 39 2.2.2 Quy mô trường, lớp, giáo viên, học sinh mẫu giáo tại các trường Mầm non Quận
5 Tp.HCM 402.2.3 Chất lượng và hiệu quả việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 41 2.2.4 Những bất cập, hạn chế trong việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 42
2.3 Th ực trạng công tác quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 43
2.3.1 Quản lý giáo viên hiểu rõ mục tiêu giáo dục để thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 44 2.3.2 Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch giáo dục trẻ mẫu theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 48 2.3.3 Quản lý các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 52 2.3.4 Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 61 2.3.5 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 63 2.3.6 Khái quát ưu điểm và hạn chế của thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 67
2.4 Nguyên nhân c ủa thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ
m ẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 68
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 682.4.2 Nguyên nhân chủ quan 69
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG MỚI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 5 TP.HCM 71
Trang 73.1 Cơ sở đề xuất biện pháp quản lý 71
3.1.1 Cơ sở lý luận (đã trình bày ở chương 1) 71
3.1.2 Cơ sở pháp lý (những văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục, của Sở Giáo dục) 71
3.1.3 Cơ sở thực tiễn (đã trình bày ở chương 2) 72
3.2 M ột số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc thực hiện chương trình giáo d ục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 72
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, GV về tầm quan trọng của việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 73
3.2.2 Biện pháp 2: Đổi mới xây dựng kế hoạch, chỉ đạo việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 74
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục trong việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 76
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 77
3.2.5 Biện pháp 5: Tổ chức thi đua, khen thưởng GV trong quá trình thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM 78
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất 79
3.3 Kh ảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PH Ụ LỤC 90
Trang 8CÁC CH Ữ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CBQL : Cán b ộ quản lý CTGD : Chương trình giáo dục GDMN : Giáo d ục Mầm non
QLGD : Qu ản lý giáo dục Tp.HCM : Thành ph ố Hồ Chí Minh
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục Mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân và
là bậc học đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành và phát triển nhân cách của con người
Vì thế, giống như hầu hết các quốc gia trên thế giới, nước Việt Nam chúng ta xác định GDMN có vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người
Với quá trình hình thành và phát triển hơn 60 năm, GDMN ngày nay đã có những biến chuyển không ngừng về quy mô, về chất lượng, góp công vào sự phát triển giáo dục chung của đất nước Trong những thay đổi mạnh mẽ ấy, chúng ta không thể không nhắc đến sự thay đổi của chương trình GDMN Năm học 2012 – 2013, chương trình GDMN mới được ban hành theo Thông tư số 17 của Bộ GD-ĐT ngày 29 – 7 – 2009 được đưa vào thực hiện đại trà trên toàn quốc sau 3 năm thí điểm ở 48 trường Mầm non thuộc 20 tỉnh thành trong cả nước
“Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát t riển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.” [1, tr.3]
Như Bùi Minh Hiền nhận định: “Trong lịch sử giáo dục nước ta, giáo dục luôn phải đương đầu liên tục với sự biến đổi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục luôn phải thích ứng với những yêu cầu đòi hỏi khác nhau của từng giai đoạn phát triển xã hội”
[19, tr.254] Thực vậy, khi cơ hội, phương tiện để trẻ Mầm non tiếp xúc với thế giới xung quanh ngày càng rộng mở thông qua sự phát triển của công nghệ, truyền thông thì nhu cầu khám phá, tìm hiểu, tiếp nhận tri thức cũng như năng lực tự nhận thức của bản thân trẻ ngày càng tăng Cùng với sự phát triển của thời đại, để phù hợp với xu thế phát triển của xã hội,
sự ra đời của chương trình GDMN mới nói riêng chứng minh sự đổi mới của chương trình giáo dục (CTGD) các cấp học nói chung Bên cạnh đó, nhu cầu và sự phát triển của trẻ em trong mỗi giai đoạn xã hội sẽ khác nhau và cần phải có CTGD thích hợp với sự thay đổi đó nhằm phát triển tất cả các năng lực ở trẻ
Trang 10Hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo (3 - 5 tuổi) không phải là hoạt động
học tập mà là hoạt động vui chơi với phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” vì “trong hoạt động vui chơi, trẻ thực sự là một chủ thể hoạt động tích cực, trẻ vận dụng các ấn tượng, kinh nghiệm đã có để thực hiện ý đồ chơi, nhờ thế mà nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển” [3, tr.150] Việc học tập, lĩnh hội tri thức của trẻ mẫu giáo thông qua
hoạt động chơi đòi hỏi một quá trình tổ chức linh hoạt, mềm dẻo dựa trên một CTGD phù hợp với độ tuổi Chương trình GDMN mới giúp trẻ tự tin, chủ động hơn trong giao tiếp, tích cực hơn trong các hoạt động giáo dục và hình thành cho trẻ những kỹ năng sống phù hợp với khả năng trẻ Trên hết, chương trình GDMN mới tương thích với yêu cầu giáo dục con người trong thời đại mới Vì thế, theo chỉ đạo chung, chương trình GDMN mới được triển khai thực hiện tại tất cả các trường Mầm non trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu ứng dụng chương trình GDMN mới, đặc biệt là với lứa tuổi mẫu giáo, ngoài những thay đổi tích cực ở đa số trẻ mẫu giáo, các cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên (GV) còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế nhất định
GDMN của Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) luôn là một trong những đơn vị đi đầu trong ngành GDMN của cả nước, ngay cả khi chương trình GDMN mới ra đời, Tp.HCM cũng là đơn vị tiên phong từ quá trình thí điểm chương trình cho đến lúc áp dụng đại trà và
đã đạt được những thành công đáng kể Bên cạnh đó, Tp.HCM cũng gặp không ít khó khăn,
bất cập trong việc thực hiện chương trình GDMN nói chung, CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới nói riêng Để có nhận định rõ ràng, chính xác hơn về vấn đề này, người nghiên
cứu chọn đề tài: “Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM” để làm nội dung nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới
Trang 113.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
Khảo sát, nghiên cứu thực trạng quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM
5 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM đã có một số ưu điểm như quản lý triển khai kế hoạch thực hiện đồng bộ giữa các bộ phận trong trường; CBQL xây dựng được chương trình khung chi tiết nhưng vẫn còn một số hạn chế như áp đặt trong việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới, chỉ đạo thực hiện chương trình chưa linh hoạt, chưa phù hợp với đặc điểm riêng của lớp
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp thì có thể nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý này
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
Quan điểm hệ thống cấu trúc
Xem xét đối tượng nghiên cứu như một bộ phận của hệ thống, vận động và phát triển trong một hệ thống chung Vận dụng vào đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu thấy rằng việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của trẻ Do đó, quản lý tốt việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới sẽ giúp người quản lý nâng cao hiệu quả quản lý đồng thời nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới
Quan điểm lịch sử - logic
Xem xét vấn đề nghiên cứu trong một quá trình phát triển lâu dài của nó từ quá khứ đến hiện tại, từ đó phát hiện ra mối liên hệ của vấn đề
Trang 12Quan điểm thực tiễn
Cơ sở lý luận sẽ được chứng minh thông qua các sự kiện và hoạt động thực tiễn, do đó cần phải khảo sát thực trạng để làm sáng tỏ lý luận Qua khảo sát thực trạng sẽ phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu trong quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới
và nguyên nhân của nó để từ đó đề xuất các biện pháp
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa tài liệu lý luận liên quan đến việc quản
lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới từ các văn bản như thông tư 17/2009/TT - BGDĐT, giáo trình Mầm non, sách chuyên ngành, tạp chí khoa học, website
Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hệ thống câu hỏi tìm hiểu nhận thức của một số hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong việc quản lý thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới Đề tài sử dụng 02
bộ phiếu:
Bộ phiếu 1: Phiếu khảo sát thực trạng dành cho CBQL (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng)
và GV các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM
Bộ phiếu 2: Phiếu khảo nghiệm các biện pháp quản lý dành cho CBQL và GV các
trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM
Trang 13Xử lý số liệu, thông tin đã điều tra bằng phần mềm SPSS
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng ở một số trường Mầm non công lập tại Quận 5 Tp.HCM Số lượng trường thực hiện khảo sát gồm 10 trường:
Trường Mầm non Họa Mi 1
Trường Mầm non Họa Mi 2
Trường Mầm non Họa Mi 3
Trường Mầm non Sơn Ca
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới tại các trường Mầm non Quận 5 Tp.HCM
K ết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
9 Kế hoạch nghiên cứu
Tháng 1/2013: Xây dựng và bảo vệ đề cương
Từ tháng 2/2013 đến tháng 8/2013: Thu thập, xử lý thông tin và viết luận văn
Tháng 9/2013: Hoàn thiện và nộp luận văn
Trang 15C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG
MỚI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 L ịch sử nghiên cứu ngoài nước
Từ trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giáo dục nói chung, GDMN nói riêng đã có một vị trí nhất định trong đời sống xã hội tuy vẫn còn phát triển trong lòng hệ thống triết học Nhưng phải đến khoảng giữa thế kỉ XVII đến thể kỉ XIX, giáo dục học nói chung, trong đó có GDMN nói riêng mới tách ra khỏi triết học để trở thành một ngành khoa học tương đối độc lập Bước chuyển biến lớn lao này của giáo dục học trước hết gắn chặt với tên tuổi của nhà
sư phạm vĩ đại người Tiệp Khắc J.A.Coomenxki (1952 – 1670) vì ông đã có công hệ thống hóa và phát triển những tri thức giáo dục con người nói chung và trẻ em lứa tuổi mầm non nói riêng đáp ứng được những đòi hỏi của giáo dục và dạy học theo hệ thống thời bấy giờ Chính ông đã đưa ra quan điểm về sự cần thiết phải giáo dục và dạy học theo hệ thống, theo
kế hoạch cho trẻ em lứa tuổi mầm non Trong công trình nghiên cứu “Trường lòng mẹ”, ông nhấn mạnh mục tiêu của giáo dục mầm non cần cho trẻ lĩnh hội những biểu tượng sơ đẳng
về môi trường xung quanh, hình thành cơ sở tình cảm đạo đức ban đầu của trẻ, chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông
Tư tưởng giáo dục trẻ em được tiếp tục phát triển trong các công trình nghiên cứu của một số nhà sư phạm nổi tiếng khác Và đến giữa thể kỉ XIX, học thuyết Mac-Angwghen mang tính khoa học và tính cách mạng cao đã vạch ra được những quy luật khách quan của
sự vận động xã hội và sự hình thành nhân cách đã mở ra những khả năng thực tế của việc cải biến xã hội và con người Lúc này, giáo dục học trong đó có GDMN đã trở thành một ngành khoa học thực sự Cùng với việc tích lũy, kế thừa các thành tựu của khoa học giáo dục và vận dụng các thành tựu và phương pháp hiện đại của các ngành khoa học tự nhiên và
xã hội vào việc nghiên cứu GDMN
GMMN đã dựa trên nền tảng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Leenin
để phát triển thành một ngành khoa học mang tính lí luận, có khả năng giải thích, dự đoán
và cải tạo thực tiễn GDMN Trong sự phát triển của mình, GDMN luôn luôn bổ sung và hoàn thiện các quan điểm, các lý thuyết phù hợp với đòi hỏi và yêu cầu của xã hội
Trang 16Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, có tính kế thừa thì ngày nay, xu hướng GDMN trên thế giới và cụ thể hơn là trong khu vực có nhiều sự thay đổi Hiện tại, các nước phương Tây giáo dục trẻ theo xu hướng “Lấy trẻ làm trung tâm, hướng vào đứa trẻ, vì lợi ích của chính bản thân trẻ”, trẻ được tự do lựa chọn góc chơi, tự do hoạt động theo hứng thú của mình và trẻ có nhiều cơ hội để trải nghiệm, thực hành, khám phá thế giới quanh trẻ Đặc biệt, các nhà giáo dục phương Tây quan tâm đến sự phát triển về nhận thức của trẻ hơn là việc dạy trẻ kĩ năng đọc – viết, tính toán Về cơ bản, trẻ học thông qua chơi là phương châm chính của các nước phương Tây
Trong khi đó, GDMN của một số nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương lại có xu hướng giáo dục tích hợp theo chủ đề dựa trên nguyên tắc “hướng vào đứa trẻ” và GV tổ chức hoạt động dựa trên hứng thú, nhu cầu của trẻ Chương trình GDMN tại các nước này được xây dựng trên quan điểm tích hợp théo chủ đề gần gũi với cuộc sống thực của trẻ Với mục tiêu hướng đến việc hình thành các năng lực chung nhằm giúp trẻ giải quyết những tình huống, hoàn cảnh có ý nghĩa với trẻ trong cuộc sống chứ không nhằm hình thành những kiến thức, kĩ năng đơn lẻ
GDMN sẽ còn phát triển theo những hướng khác nhau trong tương lai còn trong hiện tại, GDMN phần nào đã đáp ứng được nhu cầu giáo dục cũng như phát triển được ở trẻ những yếu tố đầu tiên trên con đường hình thành nhân cách Hòa chung với dòng chảy của thời đại, GDMN Việt Nam cũng xây dựng chương trình giống sự một số nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương
1.1.2 L ịch sử nghiên cứu trong nước
Trước Cách mạng tháng Tám, GDMN không được coi là trách nhiệm của Nhà nước, không được coi là công việc chung của xã hội Sau Cách mạng tháng Tám, cùng với các bậc học khác, GDMN bắt đầu được Nhà nước quan tâm, xây dựng Hiến pháp năm 1946 ghi rõ:
“Nhà nước bảo vệ quyền lợi của những bà mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ
đẻ, các nhà trẻ và vườn trẻ”
Năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám, ở ngoại thành Hà Nội có một số lớp mẫu giáo được mở thí điểm Sau đó, nhiều địa phương đã tổ chức các lớp học cho trẻ mẫu giáo nhưng chưa có một chương trình và nội dung thống nhất giữa các lớp học này Đến tháng 7/1950, Bộ Giáo dục đã ký nghị định thành lập Ban mẫu giáo Trung ương để nghiên cứu, xây dựng chương trình, phương pháp giáo dục, đào tạo cán bộ và tổ chức xây dựng phong
Trang 17Thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1965 – 1975, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến và công tác chỉ đạo ngành học, ngày 19/1/1966 Chính phủ đã ra Nghị định về nhiệm vụ, quyền hạn
tổ chức bộ máy Giáo dục, trong đó quy định thành lập Vụ Mẫu giáo là một trong 4 ngành học thuộc Bộ Giáo dục gồm mẫu giáo, phổ thông, sư phạm, bổ túc văn hóa
“Đến năm 1987, Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em nhập vào Bộ Giáo dục Từ đó, ngành GDMN bao gồm hệ thống nhà trẻ và trường mẫu giáo được hợp nhất làm một, do Bộ Giáo dục thống nhất quản lý và chỉ đạo” [3, tr.27]
Sau năm 1975, các nhà trẻ, trường mẫu giáo được xây dựng và phát triển mạnh trên cả nước Việt Nam Cùng với việc chỉ đạo phát triển về quy mô, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ cũng được chú trọng hơn Đây là thời kỳ mở đầu cho việc phát triển công tác nghiên cứu, công tác đào tạo phục vụ cho nhiệm vụ trung tâm phát triển của GDMN
Công tác nghiên cứu khoa học nuôi dạy trẻ được đẩy mạnh trong giai đoạn này gồm các nghiên cứu ban đầu về khoa học chăm sóc giáo dục trẻ trên các mặt tâm sinh lý, chăm sóc nuôi dưỡng, phát triển ngôn ngữ Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ được xây dựng với các nội dung, phương pháp và cơ sở vật chất phù hợp sự phát triển tâm sinh lý của trẻ Những nghiên cứu cải cách mẫu giáo từ năm 1978 đến 1986 được mở rộng thêm sang lĩnh vực sức khỏe, dinh dưỡng và gắn kết với thực nghiệm trên trẻ
Khi Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp, GDMN đã đứng trước nhiều thử thách lớn Trong 5 năm cuối những năm 1980, hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo tan rã; trường, lớp, cơ sở vật chất tiêu điều, thậm chí một số tỉnh không còn nhà trẻ, mẫu giáo và GDMN lâm vào tình thế
bị động
Việc chủ động xây dựng các chiến lược phát triển GDMN qua các giai đoạn 1991 –
2000, 2001 – 2010, xây dựng các dự án, chương trình kế hoạch GDMN trong chiến lược phát triển giáo dục thể hiện một bước tiến mới trong công tác quản lý, chỉ đạo phát triển GDMN của Bộ Giáo dục Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010, được Thủ
tướng Chính phủ đã phê duyệt với các mục tiêu GDMN là: “Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt nông thông và những vùng khó khăn, tăng cường cá hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho các gia đình”
Đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và nâng cao hơn nữa chất lượng GDMN trong giai đoạn mới, tháng 11 năm 2005, Chính phủ đã quyết định “Đề án phát triển GDMN
Trang 18giai đoạn 2006 – 2015” với mục tiêu chung như sau: “Phát triển GDMN tạo bước chuyển
cơ bản, vững chắc và toàn diện đáp ứng nhu cầu nâng cao công tác chăm sóc giáo dục trẻ; củng cố mở rộng mạng lưới cơ sở GDMN” [30, tr.13] Trong yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp GDMN, đề án nêu rõ: “Xây dựng và triển khai chương trình GDMN mới theo hướng tích hợp các nội dung chăm sóc, giáo dục theo chủ điểm, tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là hoạt động vui chơi phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi
và yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ” [30, tr.14]
Qua hơn 60 năm phát triển dưới sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Giáo dục, GDMN không ngừng được củng cố, phát triển và đạt được những thành công đáng kể Hiện nay,
chương trình GDMN mới đang ở trong giai đoạn đầu thực hiện đại trà trên cả nước nhưng cũng đã đạt được những kết quả tốt đẹp nhất định
Chương trình GDMN mới ra đời cho đến thời điểm này được 4 năm và mới được chỉ đạo triển khai thực hiện đại trà 1 năm nên những công trình nghiên cứu về việc quản lý thực hiện chương trình GDMN mới nói chung, CTGD mẫu giáo nói riêng chưa nhiều Theo tìm hiểu của người nghiên cứu, hiện nay mới chỉ có 1 công trình nghiên cứu là luận văn thạc sĩ
giáo dục học, năm 2012 với đề tài "Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình GDMN mới tại các trường Mầm non Quận Tân Bình" của tác giả Bùi Mỹ Liên Chắc chắn, luận văn
này cũng đạt được một giá trị nhất định trong công tác nghiên cứu nhằm phát triển chất lượng quản lý GDMN Quận Tân Bình
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Khái ni ệm Quản lý
Khái niệm "Quản lý" là một khái niệm rất chung, tổng quát Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý Riêng về quản lý xã hội, người ta chia ra ba lĩnh vực quản lý cơ bản tương ứng với ba loại hình hoạt động chủ yếu của con người: quản lý sản xuất, quản lý kinh tế; quản lý xã hội – chính trị và quản lý đời sống tinh thần Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến loại quản lý thứ ba và cũng chỉ tập trung vào dạng quản lý giáo dục Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu:
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Quản lý tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
C.Mac đã khẳng định: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà
Trang 19những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng"
[35, tr.12]
Theo F.W.Taylor người đưa ra học thuyết quản lý thì: "Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và
rẻ nhất”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý là những tác động có định hướng, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định"
Trần Kiểm cho rằng: "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [20, tr.8]
Phạm Thị Châu thì khái quát như sau: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lí đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định” [2, tr.6]
Trong quá trình phát triển lý luận quản lý, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý do các nhà nghiên cứu lý luận đưa ra:
"Quản lý được hiểu là việc bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới"
"Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội"
Từ các khái niệm quản lý khác nhau, có thể hiểu một cách khái quát khái niệm quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức phối hợp hoạt động để đạt được mục đích đã đề ra
1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận của quản lý xã hội, giống như khái niệm quản lý, QLGD cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau, dưới đây là một số ý kiến đại diện:
Trang 20Theo Phạm Minh Châu thì: “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến” [2, tr.7]
Phạm Minh Hạc cho rằng: "Quản lý nhà trường, QLGD là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ chức được hoạt động dạy học thì mới quản lý được giáo dục tức là cụ thể hoá đừơng lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [10]
Theo tác giả Trần Kiểm: "Giáo dục và QLGD là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục
là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục" Ở khái niệm về QLGD ông đã đưa ra hai nhóm khái niệm tương ứng:
một, cho quản lý nền/ hệ thống giáo dục (quản lý vĩ mô) và một, cho một quản lý nhà trường (quản lý vi mô)
Đối với cấp vĩ mô ông cho rằng "QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục"
"QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến với mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động".[20, tr.37]
Đối với cấp vi mô ông cho rằng: "QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường" [20, tr.38]
QLGD có 4 chức năng quan trọng đó là: chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức
và chức năng kiểm tra đánh giá
1.2.2.1 Chức năng kế hoạch hóa
Trang 21Lập kế hoạch là chức năng cơ bản của quá trình QLGD Căn cứ vào quá trình phát triển của tổ chức, tiềm năng đã có, người quản lý vạch rõ mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục và hệ thống các phương pháp, biện pháp nhằm thúc đẩy các thành viên trong đơn vị giáo dục thực hiện mục tiêu đã đề ra
Kế hoạch hóa là tổ chức và lãnh đạo công việc theo một kế hoạch Khi thực hiện chức
năng này, tác giả Phạm Thị Châu giải nghĩa rằng đó là khi “người quản lý mọi hoạt động giáo dục vào công tác kế hoạch với việc xây dựng mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định những điều kiện và phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định cho cả hệ thống quản lý” [2, tr.13]
Việc lập kế hoạch trong tổ chức có một tầm quan trọng to lớn Kế hoạch sẽ giúp người quản lý có được cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn và thấy được sự tác động qua lại giữa các
bộ phận trong tổ chức Hơn hết là ứng phó với thay đổi và chi phối của các nhân tố bên trong ngoài nhà trường như: những thay đổi về số lượng, chất lượng liên quan đến GV, HS; những tác động của hội nhập kinh tế thị trường; những mặt tích cực và tiêu cực của xã hội…bằng cách điều chỉnh những tình huống phát sinh, đảm bảo hướng vào mục tiêu đã định
1.2.2.2 Chức năng tổ chức
Tổ chức được hiểu theo 2 góc độ:
Góc độ thứ nhất: Tổ chức là sắp xếp, điều khiển người bị quản lý thực hiện nhiệm vụ, công tác giáo dục để đạt tới một mục đích chung
Góc độ thứ 2: Tổ chức là một tập hợp các cá nhân cùng thực hiện một mục tiêu chung
Để cho mọi người làm việc cùng với nhau một cách hòa hợp nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu đã định trước, người quản lý cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhân sự với việc phân bổ hợp lý vị trí, nhiệm vụ phù hợp với khả năng của từng thành viên Đó chính là chức năng tổ chức trong quản lý
Tổ chức chặt chẽ cho phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào việc thực hiện mục tiêu chung, hoạt động của bộ máy sẽ đạt hiệu quả cao nhất
Trang 22Người quản lý sẽ thể hiện năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của mình rõ nhất qua việc thực hiện chức năng này Sau khi tiến hành lập kế hoạch, xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý thì người quản lý sẽ sử dụng quyền lực quản lý của mình để điều khiển tổ chức hoạt động, biến kế hoạch thành hiện thực
1.2.2.4 Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng không thể thiếu của người quản lý nhằm đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống Chức năng kiểm tra này xuyên suốt quá trình quản lý gồm các việc: xây dựng các tiêu chuẩn; đo đạc, so sánh kết quả với mục tiêu ban đầu; phát hiện sai sót và tìm ra nguyên nhân sai sót và sử dụng các biện pháp điều chỉnh, khắc phục những sai sót đó
Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể trong hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo – giáo dục thế hệ trẻ theo mục tiêu của nhà trường thông qua 4 chức năng quản lý
1.2.3 Khái niệm Quản lý trường học
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính chất nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Nhà trường được thành lập theo qui hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục Trường học
là cơ quan hành chính Nhà nước đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội Do đó quản lý trường học vừa có tính chất Nhà nước vừa có tính chất xã hội Nhà nước và xã hội cùng chăm lo xây dựng và quản lý nhà trường Quản lý nhà nước các cấp phải nhằm mục đích tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trường học, nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [10]
Theo Trần Kiểm: "Quản lý trường học chính là QLGD ở cấp vi mô, là những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, các tổ chức, các lực lượng
xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường" [20]
Trang 23Mục đích của quản lý trường học là đưa nhà trường từ trạng thái đang có lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục và tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người có tri thức, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội Nội dung quản lý trường học bao gồm:
Quản lý người dạy: quản lý việc thiết kế kế hoạch bài học, quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên, phân công giảng dạy, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Quản lý người học: quản lý học sinh, quản lý hoạt động trên lớp và ngoài giờ lên lớp Quản lý cơ sở vật chất, môi trường học tập: quản lý trường sở, quản lý phương tiện dạy học, quản lý thư viện
Tóm lại, quản lý trường học là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục
vụ cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước"
1.2.4 Khái niệm Chương trình giáo dục
CTGD là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó thể hiện các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập và các cách đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được mục tiêu đã
đề ra [dẫn theo Nguyễn Hữu Châu, 2005]
Luật Giáo dục Việt Nam được ban hành năm 2005 đã đề cập: “CTGD thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo.” [6]
Theo Vũ Thị Ngân thì “CTGD là văn kiện do nhà nước ban hành trong đó quy định mục đích, yêu cầu chuẩn và cần đạt ở mỗi lứa tuổi, những khối lượng nội dung và tính chất của các kiến thức, kĩ năng trong từng lĩnh vực phát triển, trong các hoạt động, các chủ đề
và được sắp xếp, phân phối theo thời gian nhất định.” [24, tr.31]
Nhóm tác giả Lê Thị Thu Hương thuộc viện nghiên cứu GDMN thống nhất rằng chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo
Trang 24dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, các cách đánh giá kết quả nhằm đạt được mục tiêu học tập
đã đề ra
Như vậy, CTGD bao gồm nội dung dạy học, nội dung các hoạt động giáo dục, cách tổ chức quá trình dạy học và giáo dục trong nhà trường Tóm lại, CTGD là văn bản thể hiện đầy đủ mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục phù hợp với từng đối tượng được giáo dục
1.2.5 Khái niệm Chương trình giáo dục Mầm non
Có nhiều cách hiểu về chương trình GDMN như: chương trình là bản kế hoạch cho phép trẻ đạt được những kết quả mong muốn; chương tình là nội dung giảng dạy của giáo viên, là những gì trẻ cùng giáo viên tạo ra, là những cái mà trẻ học được; chương trình là tất
cả những gì diễn ra ở trên lớp trong suốt quá trình sinh hoạt của cô và trẻ; chương trình là thời gian biểu; chương trình là mục đích, mục tiêu giáo dục…[12, tr.105]
Theo định nghĩa về “Chương trình giáo dục” của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1998) thì có thể hiểu chương trình GDMN chính là chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, trong đó quy định cụ thể về mục đích, nội dung, nhiệm vụ và cả phương pháp cho từng môn học, bài học
Nhóm nghiên cứu đánh giá chương trình GDMN thí điểm do Lê Thị Thu Hương làm
chủ nhiệm đề tài (2009) lại cho rằng: “Chương trình GDMN là đề cương về kế hoạch hành động sư phạm gồm những thành phần cơ bản cấu thành có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau được thể hiện trong một khoảng thời gian xác định, trong đó bao gồm: Mục tiêu giáo dục, phạm vi và mức độ, nội dung giáo dục trẻ, các phương pháp, các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và cách thức đánh giá kết quả giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu giáo d ục đã đặt ra”
“ Có thể hiểu chương trình GDMN bao gồm mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp
và hình thức giáo dục trẻ, điều kiện thực hiện chương trình giáo dục trẻ và đánh giá quá trình giáo dục đó
Chương trình GDMN phản ánh quá trình xã hội hóa đứa trẻ, phản ánh sự tích lũy kinh nghiệm sống thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động của trẻ theo kế hoạch
đã vạch ra hoặc phát sinh.” [12, tr.105]
Trang 25Và, không giống như những chương trình giáo dục của các bậc học các, tính ổn định của chương trình GDMN không mang tính ổn định cao Cụ thể, chương trình GDMN gồm
có chương trình khung được hoạch định chung cho một độ tuổi nào đó và chương trình chi tiết được thực hiện một cách linh hoạt tùy vào đặc điểm của từng vùng, miền khác nhau Hiện nay, chương trình GDMN bao gồm các nội dung dạy học, các kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo cụ thể mà GV cần hình thành và phát triển cho trẻ Những nội dung trong chương trình chính là căn cứ để CBQL giám sát công tác giáo dục của GV và cũng là cơ sở để GV thực hiện quá trình dạy học cho trẻ
Chương trình GDMN hiện hành gồm chương trình giáo dục nhà trẻ (trẻ từ 3 – 36 tháng tuổi) và chương trình giáo dục mẫu giáo (trẻ từ 36 – 52 tháng tuổi)
1.2.6 Khái niệm Chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới
Các chương trình chăm sóc giáo dục trẻ Mầm non bao gồm nhà trẻ và mẫu giáo được
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trước đây vào năm 1994 - 1995 có những hạn chế, bất cập
về nội dung cũng như phương pháp giáo dục Nội dung và hoạt động học tập còn nặng về cung cấp kiến thức một cách riêng lẻ và chưa coi trọng việc hình thành, phát triển các năng lực và kỹ năng sống cho trẻ Sự đổi mới của CTGD các cấp học, đặc biệt ở tiểu học đòi hỏi GDMN – bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân – phải đổi mới, tạo ra sự tiếp nối có hiệu quả, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp 1 Hơn nữa, trong xu thế phát triển chung của xã hội về kinh tế, về giáo dục… thì nhu cầu và sự phát triển của trẻ em cũng đã có những thay đổi nên cần có CTGD phù hợp hơn
Chương trình GDMN mới gồm CTGD nhà trẻ và CTGD mẫu giáo đã kế thừa được những thành quả của GDMN qua các giai đoạn, những giá trị tốt đẹp của các chương trình GDMN đã có trong và ngoài nước, đồng thời đã thể hiện được những định hướng đổi mới của GDMN, hướng tới sự phát triển của GDMN trong tương lai
Quá trình xây dựng chương trình GDMN mới được nghiên cứu công phu, khoa học, có
sự kết hợp đồng bộ giữa cơ quan nghiên cứu, cơ quan chỉ đạo và cơ sở đào tạo GV cũng như các trường Mầm non thông qua việc xây dựng bản dự thảo và tổ chức 17 hội thảo quốc gia, tập hợp gần 2000 lượt ý kiến của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý và các chuyên gia giáo dục Chương trình GDMN mới cũng trải qua một quá trình thực nghiệm chặt chẽ từ lúc triển khai nghiên cứu một số đề tài đổi mới, biên soạn dự thảo chương trình, tổ chức thẩm định chương trình trước khi triển khai thí điểm đến tổ chức thực hiện thí điểm và tổ chức thẩm định lần cuối chuẩn bị ban hành chính thức
Trang 26Chương trình GDMN mới được xây dựng dựa trên những quan điểm sau đây:
“ Chương trình GDMN được xây dựng trên quan điểm tích hợp theo chủ đề Chương trình chú trọng hình thành cho trẻ những năng lực chung, hướng tới sự phát triển toàn diện của trẻ cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm đạo đức, thẩm mỹ
Chương trình GDMN lấy trẻ làm trung tâm, tạo điều kiện cho trẻ phát triển liên tục Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, tạo cơ hội cho trẻ hoạt động tích cực, sáng tạo trong các hoạt động của trẻ
Chương trình GDMN chú trọng đến hoạt động chủ đạo, coi hoạt động giao lưu xúc cảm trực tiếp với người lớn của trẻ hàu nhi, hoạt động với đồ vật của trẻ ấu nhi và hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo là hoạt động trung tâm của chương trình GDMN
Chương trình GDMN phù hợp với nhu cầu, hứng thú và đặc điểm lứa tuổi cũng như đặc điểm cá nhân của từng trẻ
Chương trình GDMN đảm bảo đáp ứng sự đa dạng của các vùng miền và các đối tượng trẻ.” [12, tr.115]
Một trong những ưu điểm nổi bật của chương trình GDMN mới là chương trình xác định hoạt động chủ đạo của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau phù hợp với lý thuyết hoạt động của tâm lý học, trên cơ sở đó nêu được nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục thích hợp Thông qua việc tổ chức các hoạt động “chơi mà học, học bằng chơi”, trẻ sẽ được tự tìm tòi khám phá trong những điều kiện khác nhau và phát triển những năng lực tiềm ẩn của mình
Thêm vào đó, chương trình GDMN đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức, tính hệ thống giữa các độ tuổi và giữa chương trình GDMN với CTGD tiểu học Nội dung giáo dục của chương trình GDMN giúp trẻ phát triển toàn diện, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để trẻ thích nghi với hoạt động học tập ở tiểu học.
Hiện nay, chương trình GDMN mới là một chương trình khung cấp quốc gia, phù hợp với từng độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo Chương trình khung là những chuẩn mực chung nhất
về một CTGD, chưa chi tiết và cụ thể hóa, mang tính mở cao bởi giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nên cũng rất khác nhau giữa các vùng miền Không thể áp dụng một chương trình GDMN cứng nhắc cho tất cả các vùng miền, các đối tượng, các điều kiện Bên cạnh đó, vì chương trình GDMN mới có tính mở nên cho phép GV phát huy được tính chủ động, khả năng sáng tạo trong quá trình thực hiện các hoạt
Trang 27động giáo dục, chăm sóc trẻ, phù hợp với năng lực của trẻ và tình hình thực tiễn của địa phương
Như vậy, khi bàn luận về chương trình GDMN mới cũng chính là đang bàn luận về CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới vì giáo dục mẫu giáo và giáo dục nhà trẻ là hai thành phần cấu tạo nên chương trình GDMN mới
1.3 Một số vấn đề lý luận về quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới
1.3.1 Lý luận về chương trình
Quan điểm sư phạm tích hợp cho rằng tích hợp không chỉ là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau mà là sự đan xen các đối tượng hay các bộ phận của một đối tượng vào nhau, tạo thành một chỉnh thể Trong đó không những các giá trị của từng bộ phận được bảo tồn và phát triển, mà đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn của toàn bộ cái chỉnh thể đó được nhân lên
Sự phát triển của trẻ mẫu giáo bao gồm nhiều lĩnh vực phát triển của trẻ có liên quan chặt chẽ với nhau Sự phát triển ở lĩnh vực này có ảnh hưởng đến lĩnh vực khác và tất cả các lĩnh vực cần phải được tác động, phát triển một cách đồng thời theo quan điểm sư phạm tích hợp Vì vậy, việc tổ chức nội dung trong chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo các chủ đề
là xu thế tất yếu, xuất phát từ bản chất của giáo dục trẻ mẫu giáo, phù hợp với sự phát triển
và đặc điểm học của trẻ mẫu giáo
Giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới trong trường mầm non theo hướng tích hợp thể hiện ở những định hướng sau:
“Hoạt động vui chơi, học tập và các nhiệm vụ lao động phù hợp với trẻ được lồng ghép v ới các hình thức khác nhau để triển khai khám phá chủ đề Logic xây dựng các chủ
đề không xuất phát từ sự phân chia kiến thức theo môn học, mà xuất phát từ sự hình thành thu ộc tính tâm lý, những năng lực chung của con người, những kỹ năng sống phù hợp, nhằm phát tri ển nhân cách toàn diện của trẻ trên các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm
và k ỹ năng xã hội, thẩm mĩ
N ội dung giáo dục được thiết kế theo các chủ đề trọng tâm, xuất phát từ bản thân trẻ,
m ối quan hệ qua lại giữa trẻ với môi trường văn hóa – xã hội trong gia đình và thế giới tự nhiên – xã h ội quen thuộc gần gũi, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ Nội dung giáo
d ục qua các chủ đề của từng độ tuổi được phát triển và mở rộng dần từ nhà trẻ lên mẫu giáo
Trang 28Cho phép giáo viên linh ho ạt trong việc xác định, lựa chọn và tổ chức các hoạt động phong phú, giúp tr ẻ hứng thú tìm hiểu khám phá theo nhiều cách khác nhau Lồng ghép, đan cài các hoạt động, chuyển tải nội dung giáo dục đến trẻ một cách đồng bộ và thống
nh ất, nhằm phả triển một mặt nào đó hoặc củng cố mọi mặt phát triển của trẻ Trong đó,
ho ạt động chơi là chủ đạo tác động đến sự phát triển của trẻ một cách toàn diện, phù hợp
v ới điều kiện cụ thể của lớp, theo một chế độ sinh hoạt thích hợp
Khuy ến khích giáo viên áp dụng, phối hợp các phương pháp giáo dục dạy và học khác nhau m ột cách sáng tạo Tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học
b ằng cách tổ chức môi trường cho trẻ được tăng cường hoạt động, xây dựng các góc hoạt động phù hợp, trên cở sở để tích cực hóa hoạt động tư duy của trẻ thông qua các trò chơi,
tr ải nghiệm thí nghiệm, quan sát, gợi suy nghĩ phát hiện vấn đề bằng các câu hỏi mở, động não, th ể hiện qua các hoạt động âm nhạc, tạo hình, khuyến khích trẻ biểu đạt những suy nghĩ, giải quyết vấn đề bằng lời nói và phát triển nhân cách trẻ một cách toàn diện
Khuy ến khích giáo viên tận dụng các điều kiện, tình huống, các nguyên vật liệu thiên nhiên và tái s ử dụng thích hợp, để hướng dẫn trẻ tìm hiểu, khám phá và làm ra các sản
ph ẩm mới mang tính sáng tạo
Nh ấn mạng vào việc đánh giá thường xuyên hoạt động giáo dục và dạy học dựa vào các m ục tiêu và các kết quả mong đợi đề ra trong từng chủ đề để có sự điều chỉnh nội dung, phương pháp tổ chức các hoạt động thích hợp cho trẻ [33 , tr.5]
Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ban hành ngày 25 tháng 07 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định rõ về chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo [1, tr.34] như sau:
1.3.1.1 Mục tiêu (phát triển 5 mặt: thể chất; nhận thức; ngôn ngữ; tình cảm, kỹ năng
xã hội và thẩm mĩ)
CTGD mẫu giáo nhằm giúp trẻ em từ 3 đến 6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học
Phát triển thể chất
Khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi
Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế
Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian
Trang 29Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay
Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống đối với
sức khoẻ
Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm bảo sự an toàn của bản thân
Phát triển nhận thức
Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh
Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có
Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày
Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ,
điệu bộ…)
Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống hàng ngày
Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện
Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với
độ tuổi
Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết
Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội
Có ý thức về bản thân
Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh
Có một số phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lực
Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ
Thực hiện một số qui tắc, qui định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi
Phát triển thẩm mĩ
Trang 30Có khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác phẩm nghệ thuật
Có khả năng thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc,
tạo hình
Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật
Nội dung (nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe; giáo dục)
Nuôi d ưỡng và chăm sóc sức khoẻ
Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp
Tập luyện các kĩ năng vận động cơ bản và phát triển các tố chất trong
vận động
Tập các cử động bàn tay, ngón tay và sử dụng một số đồ dùng, dụng cụ
Giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ
Nhận biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và ích lợi của chúng đối với sức khỏe
Tập làm một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt
Giữ gìn sức khoẻ và an toàn
Một số hiện tượng tự nhiên
Làm quen với một số khái niệm sơ đẳng về toán
Tập hợp, số lượng, số thứ tự và đếm
Xếp tương ứng
So sánh, sắp xếp theo qui tắc
Đo lường
Trang 31Định hướng trong không gian và định hướng thời gian
Khá m phá xã hội
Bản thân, gia đình, họ hàng và cộng đồng
Trường mầm non
Một số nghề phổ biến
Danh lam, thắng cảnh và các ngày lễ, hội
Giáo dục phát triển ngôn ngữ
Nghe
Nghe các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động và các từ
biểu cảm, từ khái quát
Nghe lời nói trong giao tiếp hằng ngày
Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi
Nói
Phát âm rõ các tiếng trong tiếng Việt
Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các loại câu khác nhau
Sử dụng đúng từ ngữ và câu trong giao tiếp hằng ngày Trả lời và đặt câu hỏi
Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện
Lễ phép, chủ động và tự tin trong giao tiếp
Làm quen với việc đọc, viết
Làm quen với cách sử dụng sách, bút
Làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống
Làm quen với chữ viết, với việc đọc sách
Giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội
Phát triển tình cảm
Ý thức về bản thân
Nhận biết và thể hiện cảm xúc, tình cảm với con người, sự vật và hiện tượng xung quanh
Phát triển kỹ năng xã hội
Hành vi và quy tắc ứng xử xã hội trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi
Quan tâm bảo vệ môi trường
Trang 32Thể hiện sự sáng tạo khi tham gia các hoạt động nghệ thuật (âm nhạc, tạo hình)
1.3.1.3 Các hoạt động giáo dục, hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục
Trò chơi dân gian
Trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại
Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân
Đây là các hoạt động nhằm hình thành một số nền nếp, thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ
Hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục
Theo mục đích và nội dung giáo dục, có các hình thức:
Tổ chức hoạt động có chủ định của GV và theo ý thích của trẻ
Trang 33Tổ chức lễ, hội: Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự kiện quan trọng trong năm liên quan đến trẻ có ý nghĩa giáo dục và mang lại niềm vui cho trẻ (Tết Trung thu, Ngày hội đến trường, Tết cổ truyền, sinh nhật của trẻ, Ngày hội của các bà, các mẹ, các cô, các bạn gái (8.3), Tết thiếu nhi (ngày 1/6), Ngày ra trường )
Theo vị trí không gian, có các hình thức:
Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm
Phương pháp thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi: Trẻ sử dụng và phối hợp các giác quan, làm theo sự chỉ dẫn của giáo viên, hành động đối với các đồ vật, đồ chơi (cầm, nắm,
sờ, đóng mở, xếp chồng, xếp cạnh nhau, xâu vào nhau ) để phát triển giác quan và rèn luyện thao tác tư duy
Phương pháp dùng trò chơi: sử dụng các loại trò chơi với các yếu tố chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải quyết nhiệm vụ nhận thức, nhiệm
vụ giáo dục đặt ra
Phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra
Phương pháp luyện tập: Trẻ thực hành lặp đi lặp lại các động tác, lời nói, cử chỉ, điệu
bộ theo yêu cầu của GV nhằm củng cố kiến thức và kỹ năng đã được thu nhận
Nhóm phương pháp trực quan - minh họa (quan sát, làm mẫu, minh hoạ)
Phương pháp này cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh); hành động mẫu; hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn (phim vô tuyến, đài, máy ghi âm, điện thoại, vi tính) thông qua sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm tăng cường vốn hiểu biết, phát triển tư duy và ngôn ngữ của trẻ
Trang 34Nhóm phương pháp dùng lời nói
Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (đàm thoại, trò chuyện, kể chuyện, giải thích) nhằm truyền đạt và giúp trẻ thu nhận thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng, bộc
lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh và sự kiện bằng lời nói Lời nói, câu hỏi của GV cần ngắn gọn, cụ thể, gần với kinh nghiệm sống của trẻ
Nhóm phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ
Phương pháp dùng cử chỉ điệu bộ kết hợp với lời nói thích hợp để khuyến khích và ủng hộ trẻ hoạt động nhằm khơi gợi niềm vui, tạo niềm tin, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình hoạt động
Nhóm phương pháp nêu gương - đánh giá
Nêu gương: Sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ Biểu dương trẻ là chính, nhưng không lạm dụng
Đánh giá: Thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi, cử chỉ của trẻ Từ đó đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình huống hoặc hoàn cảnh cụ thể Không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm - sinh lý của trẻ
1.3.1.4 Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Trẻ em 5 tuổi là trẻ em từ 60 tháng đến 72 tháng tuổi và đây là một trong những lứa tuổi mầm non Ở tuổi này, các quá trình tâm lý của trẻ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt, trẻ rất thích khám phá, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh mình và bước đầu hình thành, củng cố những kỹ năng sống Năm 2010, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 7 năm 2010 quy định về bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi như một thước đo kết quả giáo dục và định hướng GV trong quá trình giáo dục trẻ 5 tuổi
Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là cơ sở để xây dựng bộ công cụ theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi
Trang 35Ngoài ra, Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là căn cứ để xây dựng chương trình, tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em
5 tuổi nhằm nâng cao nhận thức về sự phát triển của trẻ em Trên cơ sở đó tạo sự thống nhất trong chăm sóc, giáo dục trẻ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi gồm 4 lĩnh vực, 28 chuẩn, 120 chỉ số
Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi được trình bày theo cấu trúc sau: Lĩnh vực phát triển bao gồm các chuẩn, chuẩn bao gồm các chỉ số Trong đó, lĩnh vực phát triển là phạm vi phát triển cụ thể của trẻ, chuẩn là những mong đợi mà trẻ em 5 tuổi biết và có thể làm được và
chỉ số là sự cụ thể hóa của chuẩn, mô tả những hành vi hay kỹ năng của trẻ
b) Nội dung
Các chuẩn thuộc lĩnh vực phát triển thể chất
Chuẩn 1 Trẻ có thể kiểm soát và phối hợp vận động các nhóm cơ lớn (gồm 4
Chuẩn 6 Trẻ có hiểu biết và thực hành an toàn cá nhân (gồm 6 chỉ số)
Điều 6 Các chuẩn thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội
Chuẩn 7 Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân (gồm 4 chỉ số)
Chuẩn 8 Trẻ tin tưởng vào khả năng của bản thân (gồm 4 chỉ số)
Chuẩn 9 Trẻ biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc (gồm 7 chỉ số)
Chuẩn 10 Trẻ có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn (gồm 6
chỉ số)
Chuẩn 11 Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh (gồm 5 chỉ số)
Chuẩn 12 Trẻ có các hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội (gồm 5 chỉ số)
Chuẩn 13 Trẻ thể hiện sự tôn trọng người khác (gồm 3 chỉ số)
Điều 7 Các chuẩn thuộc lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp
Chuẩn 14 Trẻ nghe hiểu lời nói (gồm 4 chỉ số)
Trang 36Chuẩn 15 Trẻ biết sử dụng lời nói để giao tiếp
Chuẩn 16 Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường trong giao tiếp (gồm 6
chỉ số)
Chuẩn 17 Trẻ thể hiện hứng thú đối với việc đọc (gồm 3 chỉ số)
Chuẩn 18 Trẻ thể hiện một số hành vi ban đầu của việc đọc (gồm 4 chỉ số)
Chuẩn 19 Trẻ thể hiện một số hiểu biết ban đầu về việc viết (gồm 6 chỉ số)
Điều 8 Các chuẩn thuộc lĩnh vực phát triển nhận thức
Chuẩn 20 Trẻ thể hiện một số hiểu biết về môi trường tự nhiên (gồm 4
chỉ số)
Chuẩn 21 Trẻ thể hiện một số hiểu biết về môi trường xã hội (gồm 3 chỉ số)
Chuẩn 22 Trẻ thể hiện một số hiểu biết về âm nhạc và tạo hình (gồm 5
chỉ số)
Chuẩn 23 Trẻ có một số hiểu biết về số, số đếm và đo (gồm 3 chỉ số)
Chuẩn 24 Trẻ nhận biết về một số hình hình học và định hướng trong không gian (gồm 2 chỉ số)
Chuẩn 25 Trẻ có một số nhận biết ban đầu về thời gian (gồm 3 chỉ số)
Chuẩn 26 Trẻ tò mò và ham hiểu biết (gồm 2 chỉ số)
Chuẩn 27 Trẻ thể hiện khả năng suy luận (gồm 3 chỉ số)
Chuẩn 28 Trẻ thể hiện khả năng sáng tạo (gồm 3 chỉ số)
1.3.2 Lý luận về quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới
1.3.2.1 Quản lý kế hoạch thực hiện chương trình
Kế hoạch là chương trình hành động đã được sắp xếp theo một logic hợp lý Nhiệm vụ cốt yếu của người quản lý là làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức vì kế hoạch là cơ sở để thống nhất mọi hoạt động của các thành viên trong
nhà trường
Quản lý kế hoạch thực hiện chương trình là hiệu trưởng quản lý việc xây dựng mục tiêu, CTGD của GV và xác định từng bước thực hiện mục tiêu đó với những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định
Công tác quản lý kế hoạch thực hiện chương trình phải đuợc xây dựng thành kế hoạch
cụ thể với mục tiêu là hiệu trưởng và GV phải thống nhất về quan điểm, nội dung, phương
Trang 37những của hiệu trưởng mà còn của cả tổ chức vào những kết quả mong đợi sẽ đạt được ở trẻ
Nội dung của kế hoạch là những công việc chăm sóc – giáo dục chi tiết mà GV sẽ trực tiếp tiến hành trong quá trình giáo dục trẻ
Kế hoạch phải có những biện pháp cụ thể; cần đề ra những yêu cầu đối với giáo viên;
có kiểm tra, đánh giá về sự chủ động thực hiện kế hoạch giáo dục của GV theo tiến độ đã được định sẵn
1.3.2.2 Quản lý tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình
Theo một định nghĩa thì “Tổ chức là một nhóm người có chuyên môn sâu làm việc cùng nhau để thực hiện một nhiệm vụ chung” Như vậy, tổ chức trong trường Mầm non chính là tập thể CBQL - GV có chuyên môn vững vàng về GDMN Trong việc quản lý tổ chức, hiệu trưởng cần xác định cơ cấu của tổ chức phải gắn với mục tiêu giáo dục Việc sắp xếp GV, đặt ra các tổ chuyên môn, các nhóm, đội… phải thích hợp nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của năm học Ngoài ra, xây dựng cơ cấu tổ chức để quản lý phải đảm bảo nguyên tắc chuyên môn hóa, cân đối và đặt ra tiêu chuẩn để giúp cho GV đánh giá và tự đánh giá công việc của mình đồng thời, căn cứ vào tiêu chuẩn, người lãnh đạo có thể sắp xếp nhân lực một cách hợp lý
Hoạt động chỉ đạo, điều khiển của người hiệu trưởng rất cần thiết trong suốt quá trình thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới, giúp cho kế hoạch giáo dục được GV thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Hiệu trưởng cần đề ra những công việc cụ thể trong công tác thực hiện chuyên môn, hướng dẫn việc thực hiện giải quyết những khó khăn, vướng mắc, uốn nắn, điều chỉnh những sai lệch Hiệu trưởng có thể sử dụng “quyền lực quản lý” để tác động đến GV một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ
1.3.2.3 Quản lý kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình
Kiểm tra là công việc xuyên suốt trong quá trình quản lý, mục đích cuối cùng của kiểm tra là điều chỉnh quyết định quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý đã đề ra Trong quản lý việc thực hiện chương trình GDMN theo hướng mới phải có sự kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm theo tháng, theo học kỳ và theo năm học để tạo được hiệu quả cao trong công tác giáo dục Hiệu trưởng cần nắm được kế hoạch giáo dục cụ thể của độ tuổi trẻ mẫu giáo Theo dõi các hoạt động thông qua báo cáo và kiểm tra thực tế để kịp thời nhắc nhở uốn nắn cũng như có những khen thưởng và động viên những gương điển hình Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục của GV hay còn gọi là kiểm tra chuyên môn được thể hiện qua các công việc như: kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, giáo án, hồ sơ sổ sách của giáo
Trang 38viên, kiểm tra sự điều chỉnh hoạt động của GV trong quá trình thực hiện thực tế Ngoài ra, hiệu trưởng phả kiểm tra, nhận xét GV theo các tiêu chuẩn đánh giá đã được ngành quy đinh
và thường xuyên kiểm tra đột xuất bên cạnh việc kiểm tra theo kế hoạch
1.3.2.4 Q uản lý cơ sở vật chất để thực hiện chương trình
Để thực hiện tốt CTGD trẻ Mầm non nói chung, GV cần sử dụng đa dạng các loại học
cụ trong giờ dạy, bên cạnh đó, diện tích phòng ốc, các loại bàn ghế, đồ chơi… phải phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ Như vậy, việc quản lý cơ sở vật chất để thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới của hiệu trưởng là không thể thiếu Hiệu trưởng cần có sự rà soát cơ sở vật chất phục vụ cho việc giáo dục trẻ trong trường mình quản lý, thanh lý những đồ dùng
hư hỏng, cũ kỹ đồng thời có kế hoạch sửa chữa, nâng cấp những đồ dùng còn có thể sử dụng Bên cạnh đó, hiệu trưởng cần tích cực khai thác các nguồn vốn để trang bị những đồ dùng hiện đại, phù hợp với sự phát triển công nghệ nhằm phục vụ cho việc giáo dục của giáo viên
1.4 Nh ững yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý việc thực hiện chương trình
giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng mới
1.4.1 Những yếu tố khách quan
Công tác quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới chịu tác động của những yếu tố khách quan sau:
Tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin trong xu hướng toàn cầu hóa
Điều kiện cơ sở vật chất riêng của đơn vị
Nhận thức của phụ huynh về việc sinh hoạt, học tập của trẻ tại trường mầm non
Sĩ số trẻ trong một lớp mẫu giáo
Mức độ nhận thức, khả năng tiếp thu của trẻ mẫu giáo
Trình độ nhận thức của người dân về bậc GDMN
1.4.2 Những yếu tố chủ quan
Ngoài những yếu tố khách quan, công tác quản lý việc thực hiện CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới còn chịu ảnh hưởng từ những yếu tố chủ quan:
Năng lực quản lý, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý
Khả năng, trình độ, chất lượng tay nghề của GV mẫu giáo
Sự hiểu biết của CBQL và GV về chương trình GDMN
Trang 39Ti ểu kết chương 1
Ngoài những nội dung cơ bản về công tác quản lý, chương 1 chủ yếu đề cập đến chương trình GDMN, trong đó nhấn mạnh đến CTGD trẻ mẫu giáo theo hướng mới với mục đích làm rõ những khái niệm, giúp người đọc tăng thêm hiểu biết và có thể phân biệt được chương trình GDMN cũ với chương trình GDMN mới
Bên cạnh đó, chương 1 cũng giới thiệu ngắn gọn về bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi được kết hợp với nội dung chương trình giáo dục trẻ 5 tuổi để làm thước đo sự phát triển của trẻ
Tóm lại, trong chương 1, chúng tôi đã trình bày những lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng ở chương tiếp theo
Trang 40C HƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO THEO HƯỚNG MỚI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 5 TP.HCM
2.1 Thực trạng việc thực hiện chương trình giáo dục Mầm non mới tại Tp.HCM qua báo cáo của Phòng Mầm non - Sở Giáo dục và Đào tạo Tp.HCM
Theo báo cáo tổng kết năm học 2012 – 2013, số 2458/BC-GDĐT-MN của Phòng Mầm non, Sở Giáo dục và Đào tạo Tp.HCM ngày 05 tháng 08 năm 2012 thì năm học 2012 – 2013 là năm học thứ 4 Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình GDMN mới đại trà, Phòng GDMN – Sở Giáo dục và Đào tạo Tp.HCM đã tổ chức thực hiện các công tác sau:
Tiếp tục cho GV kết hợp bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi với chương trình GDMN qua việc bổ sung, cụ thể hóa một số mục tiêu và nội dung giáo dục trong chương trình chưa có hoặc không thể hiện rõ Đồng thời, thực hiện việc đánh giá sự phát triển trẻ em 5 tuổi
Tuyên truyền cho cha mẹ và cộng đồng về ích lợi của bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi trong việc theo dõi sự phát triển của trẻ
Thực hiện ngân hàng các hoạt động giáo dục sáng tạo theo các lĩnh vực của bộ chuẩn trẻ phát triển 5 tuổi
Đổi mới trang thiết bị giáo dục theo hướng khuyến khích trẻ học tích cực và đa dạng Tham mưu với một số công ty đồ chơi định hướng thực hiện một số đồ dùng đồ chơi tăng cường vận động đa dạng, có tác dụng thực hiện được nhiều vận động cơ bản
Đổi mới tổ chức hoạt động lễ hội, tăng cường các hoạt động tham quan dã ngoại, học ngoài trời nâng cao giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
Đổi mới hoạt động của ban chất lượng thành phố với hình thức chia thành cụm thực hiện các chuyên đề, tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn cho các Quận huyện
Tập huấn công tác “Phòng ngừa, ứng phó, giảm nhẹ thảm họa thiên tai”, đưa nội
dung giáo dục “Tài nguyên, biển, hải đảo” vào nội dung chương trình GDMN và nghe báo
báo thực tế của một số trường Mầm non trong thành phố
Tập huấn chương trình tái sử dụng túi nilon cho các quận, huyện
Củng cố các chuyên đề đã thực hiện như “Xây dựng môi trường thân thiện để nâng cao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần cho trẻ”; “Đánh giá GV tổ chức hoạt