Nghiên cứu sự thay đổi, công tác quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trường đại học hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý sự thay đổi chư
Trang 1Võ Thị Huyền
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2Võ Thị Huyền
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG THỊ NHỊ HÀ Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Thị Nhị Hà
Kết quả trình bày trong luận văn được thu thập được trong quá trình nghiên cứu
là trung thực, chưa từng được ai công bố trước đây
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Võ Thị Huyền
Trang 4Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hoàng Thị Nhị Hà đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn có giai đoạn không được thuận lợi nhưng Cô đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi tháo gỡ được khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Quản lý giáo dục Khóa 23 (2012 – 2014) – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích
về Quản lý trong giáo dục làm cơ sở cho tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin cảm ơn đến tất cả quý Thầy Cô công tác tại Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ trong việc tham gia trả lời bảng khảo sát cũng như góp ý về những thiếu sót trong bảng khảo sát Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo – Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố
Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin của luận văn
Đặc biệt, xin cảm ơn PGS.TS Đặng Xuân Hải, Trường Đại học Giáo dục – ĐH Quốc gia Hà Nội và TS Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Học viện Quản lý giáo dục đã cung cấp cho tôi những tài liệu quý báu và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tp.HCM, tháng 10 năm 2012
Học viên
Võ Thị Huyền
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI CHUƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ 8
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 8
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 9
1.2 Một số khái niệm có liên quan đến quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Các chức năng của quản lý 13
1.2.3 Thay đổi và thay đổi chương trình đào tạo 15
1.2.4 Phát triển 17
1.2.5 Chương trình đào tạo 18
1.2.6 Quản lý sự thay đổi 19
1.3 Thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 20
1.3.1 Đặc điểm chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 20
1.3.2 Những tác nhân gây ra sự thay đổi chương trình đào tạo 22
1.3.3 Đặc trưng của sự thay đổi chương trình đào tạo 24
1.3.4 Phản ứng của cán bộ viên chức nhà trường đối với sự thay đổi 25
1.3.5 Các nguyên tắc thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 26
1.3.6 Nội dung thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 26
Trang 6hệ thống tín chỉ 29
1.4.2 Nguyên tắc quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo 30
1.4.3 Nội dung quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 32
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo 39
1.5.1 Sự đồng thuận và ủng hộ của các lực lượng liên quan 39
1.5.2 Truyền thông tốt cho sự thay đổi 40
1.5.3 Chiến lược đúng đắn cho sự thay đổi 41
1.5.4 Đảm bảo có đủ nguồn lực cho quá trình thay đổi 41
1.5.5 Năng lực quản lý sự thay đổi của nhà quản lý 42
Tiểu kết chương 1 43
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 44
2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu 44
2.1.1 Khái quát chung về trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 44
2.1.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 48
2.2 Thực trạng thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 49
2.2.1 Thực trạng nhận thức và thái độ đối với sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 49
2.2.2 Thực trạng quá trình thực hiện sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 58
Trang 7Chí Minh 68
2.3.1 Thực trạng hoạch định sự thay đổi chương trình đào tạo ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 68
2.3.2 Thực trạng tổ chức thực hiện sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 72
2.3.3 Thực trạng đánh giá và củng cố sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 76
2.3.4 Thực trạng khẳng định và tạo động lực cho sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 80
2.3.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 82
2.3.6 Những rào cản đối với công tác quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 83
Tiểu kết chương 2 87
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 88
3.1 Chủ trương của Đảng, Chính phủ và Bộ Giáo dục – Đào tạo về xây dựng và phát triển chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 88
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 90
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống – cấu trúc 90
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 90
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính lịch sử 91
Trang 8thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố
Hồ Chí Minh 91
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên của trường về sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 92
3.3.2 Xây dựng kế hoạch quản lý sự thay đổi chương trình đào theo hệ thống tín chỉ của nhà trường 94
3.3.3 Tăng cường truyền thông cho sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 99
3.3.4 Hỗ trợ nguồn lực và bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giảng viên 101
3.3.5 Nâng cao năng lực quản lý sự thay đổi cho đội ngũ CBQL 104
3.3.6 Phát hiện và giải quyết kịp thời sự phản kháng của cán bộ viên chức đối với sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ 107
3.3.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 110
3.4 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 111
3.4.1 Khảo sát mức độ cần thiết của các biện pháp 111
3.4.2 Khảo sát mức độ khả thi của các biện pháp 113
Tiểu kết chương 3 115
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC
Trang 10Bảng 2.1 Quy mô đào tạo của trường ĐHSP TDTT TPHCM 2009-2014 47
Bảng 2.2 Đánh giá CBVC về sự cần thiết thay đổi CTĐT theo HTTC 50
Bảng 2.3 Nhận thức về mục đích thay đổi CTĐT theo HTTC của CBVC 51
Bảng 2.4 Phản ứng tâm lý của CBVC đối với sự thay đổi CTĐT theo HTTC 54
Bảng 2.5 Thực trạng cách thức tham gia vào quá trình thay đổi CTĐT 55
Bảng 2.6 Mối liên hệ giữa độ tuổi và thái độ đối với sự thay đổi CTĐT 57
Bảng 2.7 Thực trạng quá trình thực hiện sự thay đổi CTĐT 59
Bảng 2.8 Đánh giá của CBVC về kết quả thực hiện sự thay đổi CTĐT 63
Bảng 2.9 Thực trạng công tác hoạch định sự thay đổi CTĐT 68
Bảng 2.10 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện sự thay đổi CTĐT 72
Bảng 2.11 Thực trạng đánh giá và củng cố kết quả sự thay đổi CTĐT theo HTTC 77
Bảng 2.12 Thực trạng khẳng định và tạo động lực cho sự thay đổi CTĐT 80
Bảng 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 111
Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất 113
Trang 11Biểu đồ 2.2 Nhận thức về mục đích thay đổi CTĐT theo HTTC 52
Biểu đồ 2.3 Phản ứng tâm lý của CBVC đối với sự thay đổi 54
Biểu đồ 2.4 Cách thức tham gia thực hiện thay đổi CTĐT của CBVC 56
Biểu đồ 2.5 Thực trạng công tác hoạch định sự thay đổi CTĐT 71
Biểu đồ 3.1 So sánh về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 114
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã khẳng định: giới tự nhiên, xã hội và tư duy đều trong quá trình vận động và phát triển không ngừng Bản chất khách quan của các quá trình hiện thực đòi hỏi chúng ta muốn phản ánh đúng hiện thực khách quan, cần phải có quan điểm phát triển Quan điểm phát triển yêu cầu khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động và phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng Do đó, một nhà quản lý muốn đưa tổ chức của mình ngày càng phát triển thì công việc quan trọng và đầu tiên đó là phải quản lý sự thay đổi
Chúng ta đang sống trong Thế kỷ 21, kỷ nguyên mà nền kinh tế - xã hội thế
giới luôn thay đổi với tốc độ chóng mặt do sự phát triển như vũ bão của cuộc cách
mạng Khoa học - Công nghệ Chính điều này đã đặt ra cho giáo dục yêu cầu phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ xã hội Quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta đã và đang đặt ra những yêu cầu mới về nội dung và chương trình đào tạo (CTĐT) ở các bậc học, ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục
quốc dân Thông báo số 242-TB/TW kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết TW2 (Khóa VIII) và phương hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo đến
năm 2020 đã chỉ rõ: “Chương trình, giáo trình chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp” [13] Thực
hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội Đảng
lần thứ XI đã đề ra phương hướng: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao ch ất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp d ạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại” [13] Do đó, phát
triển giáo dục theo hướng hiện đại trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá của Việt Nam và quản lý những sự thay đổi diễn ra trong giáo dục đang trở thành một yêu
cầu cấp thiết
Đối với Giáo dục Đại học Việt Nam, thay đổi lớn nhất trong thời gian qua chính là sự chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang hệ thống tín chỉ Tín
Trang 13chỉ là một phương thức đào tạo tỏ ra có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống, và việc chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ được coi là một tất yếu khách quan của giáo dục đại học Việt Nam Việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang hệ thống tín chỉ đòi hỏi phải chuyển đổi đồng bộ tất cả các yếu tố của quá trình dạy học, trong đó việc đổi mới chương trình đào tạo nhằm đảm bảo tính linh hoạt, đáp ứng nhu cầu của xã hội và phát huy tính chủ động của người học là yếu tố quan trọng Trong giai đoạn từ năm 1987 đến nay, việc chuyển đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã được thực hiện ở nhiều trường đại học, cao đẳng trên cả nước Một số trường đã đạt được những thành quả đáng kể, song vẫn còn không ít trường thực hiện việc chuyển đổi mang tính hình thức, chưa đạt được các yêu cầu cơ bản của phương thức đào tạo theo tín chỉ Các trường gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ do thiếu đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên môn và lực lượng giảng viên cơ hữu chưa đạt chuẩn Mặt khác, do nhận thức về chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ của đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên viên, giảng viên của các trường chưa thực sự đồng bộ
Thực hiện chỉ đạo chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2011 –
2012 trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu tiến hành chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Đến nay, trường đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhà trường đã gặp phải một số rào cản xuất phát từ nhận thức của đội ngũ giáo viên và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý
Nghiên cứu sự thay đổi, công tác quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trường đại học hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một việc làm quan trọng và cần thiết nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu trong thời gian qua
Trang 14Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng quản lý sự
thay đổi chương trình đào tạo ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao TP
Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian tới
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo trong nhà trường
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh có thể đã đạt được một số thành tựu trong việc xây dựng kế hoạch thay đổi và tổ chức thực hiện
sự thay đổi nhưng còn hạn chế ở việc đánh giá, củng cố, tạo động lực cho sự thay đổi và chậm trễ trong việc khắc phục các rào cản gặp phải trong quá trình quản lý
sự thay đổi Nếu đề xuất một số biện pháp quản lý mang tính khả thi sẽ giúp quản
lý thành công sự thay đổi chương trình đào tạo phù hợp với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho nhà trường trong thời gian tới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15- Đề xuất một số biện pháp quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí
Minh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 2011-2014 Cụ thể:
- Đối tượng khảo sát: cán bộ quản lý, giảng viên và chuyên viên
- Ph ạm vi nghiên cứu: Thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo
theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2014
- N ội dung nghiên cứu: Thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo
theo hệ thống tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1 Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống cấu trúc:
Mọi sự vật trong tự nhiên- xã hội đều tồn tại dưới dạng hệ thống với các yếu
tố hợp thành với nhau Hệ thống không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ với các
hệ thống khác và các thành tố trong cùng hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vận dụng hệ thống quan điểm này vào đề tài chúng tôi nhận thấy việc quản
lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh là một thành tố của hệ thống công tác quản lý trường đại học Đồng thời, cần xem xét hoạt động quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh một cách khách quan, toàn diện với không chỉ các hoạt động khác trong nhà trường, mà còn phải xem xét trong mối quan hệ với tất cả các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến hiệu quả sự thay đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ
Trang 16Theo quan điểm này, chúng tôi nhận thấy quản lý sự thay đổi phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ bao gồm các nội dung sau: quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo, quản lý sự thay đổi phương pháp dạy học, quản lý sự thay đổi cách xây dựng kế hoạch, phương thức kiểm tra, đánh giá, … Quản lý sự thay đổi phương thức đào tạo có thể diễn ra trong tất cả các nội dung trên và có mối quan hệ biện chứng với nhiều hoạt động khác nhau trong nhà trường
- Quan điểm thực tiễn: Việc nghiên cứu đề tài xuất phát từ những khó khăn, cản trở gặp phải trong quá trình quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả khảo sát sẽ là cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý sự thay đổi phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường
- Quan điểm lịch sử- logic: Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện đổi mới giáo dục của Việt Nam qua các giai đoạn ảnh hưởng đến đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang hệ thống tín chỉ trong giai đoạn 1987-2014 Nghiên cứu thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, để có căn cứ xây dựng phiếu điều tra, thu thập số liệu chính xác và trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết về: quản lý, quản lý sự thay đổi, quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
- Phân loại, hệ thống hóa lý thuyết: quản lý, quản lý nhà trường, quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học
Trang 17+ Đối tượng khảo sát: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra đối với CBQL, giảng viên và chuyên viên (114 người) của trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh + Nội dung khảo sát: Thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ
+ Công cụ khảo sát: Sử dụng mẫu phiếu điều tra
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Đề tài tiến hành nghiên cứu sản phẩm của công tác quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ của ban lãnh đạo: kế hoạch thay đổi; kỷ yếu hội thảo chuyển đổi chương trình; bản tổng kết đánh giá kế hoạch thay đổi chương trình, biên bản họp hội đồng khoa học thẩm định và thông qua chương trình đào tạo
7.2.3 Phương pháp thống kê
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu thập được từ việc khảo sát bằng phiếu hỏi đối với cán bộ viên chức của trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
- Tổng hợp và hệ thống hóa lý luận về sự thay đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ, đặc biệt là các đặc điểm của chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ và các vấn đề lý luận về quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
- Vận dụng được lý luận về quản lý sự thay đổi trong việc quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong giai đoạn hiện nay
- Khảo sát và đánh giá được thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay
Trang 18- Xác định được các rào cản, các bất cập khi triển khai thực hiện sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ hiện nay của trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh và phân tích được các nguyên nhân của các bất cập trong thực trạng
- Đề xuất các biện pháp quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ và có khả năng ứng dụng trong thực tiễn nhằm giúp nhà trường triển khai các yếu tố tích cực của chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ một cách có hiệu quả, tiến tới chuyển đổi thành công sang phương thức đào tạo theo theo hệ
thống tín chỉ
được bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ
thống tín chỉ
Chương 2: Thực trạng quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ
thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số biện pháp quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI CHUƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Vấn đề quản lý sự thay đổi nói chung, trong giáo dục và nhà trường nói riêng
đã được nhiều tác giả đề cập đến trong thời gian qua như:
- Trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh,
2006, R.Heller đã nghiên cứu và chỉ ra tính cấp thiết của sự thay đổi trong tổ chức, các bước quản lý sự thay đổi trong tổ chức Tác giả đã đề cập một cách tỉ mỉ cách đón đầu các xu thế thay đổi để tồn tại và đi trước một bước so với các đối thủ Nội dung cuốn sách cũng giải thích rõ ràng các kỹ năng để hoạch định và thực hiện sự thay đổi, giúp các nhà quản lý đạt hiệu quả cao nhất Ngoài ra, cuốn sách cũng đưa
ra những lời khuyên thực tế hướng dẫn cách khai thác năng lực nhân viên hiệu quả nhất bằng cách sử dụng những điểm mạnh và lôi kéo họ tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình thay đổi
- Cuốn cẩm nang kinh doanh “Quản lý sự thay đổi và chuyển tiếp” của trường đại học Harvard, XNB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tổng hợp những thông tin cần thiết về việc quản lý thay đổi trong các tổ chức Từ những tình huống kinh doanh thực tế, cuốn sách chỉ ra cách giải quyết những biến động do thay đổi gây ra, cách thực hiện thành công quá trình thay đổi và giảm thiểu những thiệt hại
có thể xảy ra, cách động viên và khuyến khích mọi người vượt qua giai đoạn thay đổi…Cuốn sách đem lại những lời khuyên thiết yếu giúp các nhà quản lý điều khiển tổ chức đi đúng hướng
Đối với vấn đề thay đổi CTĐT cũng có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu có:
- Cuốn “Cải cách và phát triển chương trình đào tạo kỹ thuật theo phương pháp tiếp cận CDIO” Cuốn sách này là công trình nghiên cứu của Ban sáng lập
Trang 20CDIO, được Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh mua bản quyền và dịch ra tiếng Việt Cuốn sách giới thiệu một phương pháp luận mới cho các ngành kỹ thuật bậc đại học nói riêng, vào cho nền giáo dục đại học và sau đại học ở Việt Nam nói chung để xây dựng và phát triển CTĐT Nội dung quyển sách lần lượt trình bày 12 tiêu chuẩn của Đề xướng CDIO và các nội dung của Đề cương CDIO, trong đó cũng trình bày nhiều dẫn chứng và vì dụ về cách thức áp dụng Đề xướng này ở các trường đại học thành viên của hiệp hội CDIO
- Báo cáo của các Đoàn Khảo sát Thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa
Kỳ đệ trình cho Quỹ Giáo dục Việt Nam mang tên “Những quan sát về giáo dục đại học trong các Ngành Công nghệ Thông tin, Kỹ thuật Điện - Điện tử - Viễn thông
và Vật lý” cũng đã đề cập đến vấn đề quản lý sự thay đổi trong cải cách giáo dục ở Việt Nam và nêu tình huống thay đổi ở cấp CTĐT
- Hai tác giả: Jon Wiles và Joseph Bondi (2005) với cuốn sách: “Xây dựng chương trình học-Hướng dẫn thực hành” Các tác giả đề cập đến xây dựng chương trình học của các bậc học phổ thông và hướng dẫn cụ thể về xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, thời lượng và cách triển khai thực hành trong quá trình xây dựng chương trình học
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, lãnh đạo và quản lý sự thay đổi là một vấn đề khá mới mẻ nhưng cũng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
- Đặng Xuân Hải có bài viết: “Vận dụng lý thuyết Quản lý sự thay đổi để chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học trong các trường đại học trong giai đoạn hiện nay”, bài đăng trên tạp chí Giáo dục số 3/2005 Bài viết trình bày một quy trình chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở vận dụng các giai đoạn của lý thuyết quản lý sự thay đổi
- Trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”, sách bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục của dự án đào tạo giáo viên THCS, Đặng Xuân Hải đã nghiên cứu và cụ thể hóa các bước của quá trình quản lý sự thay đổi với 11 bước cụ thể để áp dụng trong lĩnh vực giáo dục
Trang 21- Nguyễn Anh Thuấn, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đã nghiên cứu và cho ví dụ cụ thể về việc quản lý sự thay đổi trong quá trình chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường trong giai đoạn hiện nay theo 11 bước cụ thể
- Cuốn “Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trong bối cảnh thay đổi” của Đặng Xuân Hải và Nguyễn Sỹ Thư bao quát nhiều thông tin khoa học quản lý và gợi mở tư duy hữu ích cho những người quan tâm đến quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trong công việc phải đối mặt với “các thay đổi” của công cuộc đổi mới ngành giáo dục hiện nay Cuốn sách hướng dẫn việc mô tả chi tiết vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để thực hiện quy trình quản lý sự thay đổi trong nhà trường, đặc biệt đi sâu vào việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ở các trường phổ thông và chuyển đổi sang quy trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trường đại học
- Nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam do tác giả Phan Văn Nhân làm chủ nhiệm với đề tài “Quản lý sự thay đổi trong giáo dục trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam” Đề tài đã xây dựng những cơ sở lý luận về quản lý sự thay đổi trong giáo dục trung học chuyên nghiệp của Việt Nam và đề xuất những giải pháp quản lý sự thay đổi của hiệu trưởng trường trung cấp chuyên nghiệp trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
- Tác giả Đầu Thị Thu với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2012:
“Biện pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường THPT khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam” Đề tài này nghiên cứu thực trạng lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường THPT khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, trên cơ sở đó xây dựng hệ thống biện pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Vấn đề thay đổi CTĐT cũng được quan tâm nghiên cứu như:
- Bộ Giáo dục – Đào tạo đã công bố dự thảo “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” vào tháng 04 năm 2014 Đề án bao gồm các phần, mục sau:
Phần thứ nhất Mục tiêu đề án
Trang 22Phần thứ hai Phạm vi đề án
Phần thứ ba Nội dung đề án
1 Cơ sở đề xuất định hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa
2 Định hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa
3 Nhiệm vụ, giải pháp
4 Tổ chức thực hiện đề án
Phần thứ tư Kiến nghị
- Trần Khánh Đức với cuốn “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế
kỷ XXI” Tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận và đi sâu phân tích phát triển chương trình giáo dục hiện đại bao gồm: khái niệm, cách tiếp cận chương trình, phân loại CTĐT, quy trình xây dựng CTĐT, phát triển CTĐT liên thông theo học chế tín chỉ
ở bậc đại học, đồng thời tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về phát triển nội dung và chương trình
- Bùi Minh Hiền trong cuốn “Quản lý Giáo dục” đã trình bày vấn đề đổi mới trong quản lý chất lượng giáo dục: cần hoàn thiện đánh giá chất lượng giáo dục
"trọng tâm là quản lý quá trình dạy và học, gắn quá trình dạy học của nhà trường và
cơ sở giáo dục với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội, làm cho người học thích ứng được với thị trường sức lao động luôn biến đổi và có tính năng động cao" [25]
- Các đề tài và công trình nghiên cứu về tiêu chuẩn và phát triển chương trình đào tạo trong GDNN như: Tiếp cận đào tạo theo năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề (Nguyễn Đức Trí, 1995); Tiêu chuẩn trong GD chuyên nghiệp (Hoàng Ngọc Vinh, 2005); Một số xu thế đào tạo kĩ thuật viên ở một số nước trên thế giới (Nguyễn Minh Đường, 2005); Phát triển chương trình GDTCCN theo định hướng thị trường (Nguyễn Thị Hoàng Yến, 2005-2006) Những tài liệu
và kết quả nghiên cứu trên đã góp phần chỉ ra những cơ sở lý luận, nội dung, cách thức và những điều kiện để thực hiện quản lý sự thay đổi trong giáo dục nói chung
và những nội dung cơ bản của thay đổi CTĐT Tuy nhiên chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu về quản lý sự thay đổi CTĐT theo HTTC nói chung và ở một trường
đại học cụ thể nói riêng Vì vậy, đề tài “Thực trạng quản lý sự thay đổi chương
Trang 23trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh” tiếp tục đi vào nghiên cứu để hệ thống hóa những khái
niệm cơ bản, cách thức và nội dung quản lý sự thay đổi CTĐT theo HTTC ở các trường đại học, đánh giá thực trạng quản lý sự thay đổi CTĐT theo HTTC để có cơ
sở đề xuất các biện pháp trên cơ sở vận dụng lý thuyết về quản lý sự thay đổi
tạo theo hệ thống tín chỉ
1.2 1 Quản lý
Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau Nhiều người cho rằng: Tiếp cận trong quản lý là đường lối xem xét hệ thống quản lý, là cách thức xâm nhập vào hệ thống quản lý, là đường lối để xử lý các vấn đề quản lý Có nhiều tác giả theo những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý:
F.W.Taylor là nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, xuất phát từ nhu cầu khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [33]
Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A.Fayon thì: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) của nó” [30] Với góc độ điều khiển học, A.I.Berg cho rằng: “Quản lý là quá trình chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ sự tác động
vào các phần tử biến thiên của nó” [15]
Nhà toán học A.N Kolmogorov cho rằng: “Quản lý là gia công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống” [26]
Trang 24Như vậy, có thể nói: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đốí tượng được
ổn định và làm cho đối tượng phát triển tới mục tiêu đã định
Bản chất của quản lý là hoạt động của thủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định theo một quá trình phân công của lao động quản lý theo hướng chuyên môn hoá và hợp tác của đối tượng quản lý Quản lý gắn liền với hoạt động thu thập, xử lý nguồn thông tin về đối tượng quản lý; với cơ sở nguồn lực; hiệu quả tác động, quản lý là khả năng giải quyết và thực hiện các nhiệm vụ quản lý trong những tác động ngoại vi, các yếu tố của hệ thống một cách nhanh chóng, đúng đắn, sát hợp và đảm bảo hiệu quả trong phạm vi quản
lý, tầm hạn quản lý, tầm hạn kiểm soát
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi sử dụng quan điểm về quản lý của Harold Koontz: “Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt mục đích chung của nhóm Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22]
1.2.2 Các chức năng của quản lý
Quản lý có 4 chức năng cơ bản có liên quan mật thiết với nhau bao gồm: lập
kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển và kiểm tra đánh giá
- Lập kế hoạch: là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạt động
và các điều kiện đảm bảo để thực hiện được các mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lý và nó bao gồm những nội dung chính sau:
+ Xác định chức năng, nhiệm vụ và các công việc của tổ chức
+ Dự báo, đánh giá xu hướng phát triển của tổ chức
+ Đề ra mục tiêu, các chương trình hành động
+ Lập kế hoạch cho các chương trình hành động để thực hiện các mục tiêu + Xác định những điều kiện đảm bảo để thực hiện các mục tiêu
Trang 25+ Xây dựng các cách thức thực hiện để đạt các mục tiêu
- Tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các cơ cấu nhóm, bộ phận và các thành viên, để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Tổ chức bao gồm những nội dung chính sau:
+ Xây dựng các cơ cấu, nhóm, bộ phận trong một tổ chức
+ Phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho nhóm, bộ phận và các thành viên trong một tổ chức
+ Xác định các yêu cầu và mục tiêu cần đạt của các nhóm, bộ phận và các thành viên trong một tổ chức
+ Xây dựng mô hình hợp tác, liên kết giữa nhóm, bộ phận và các thành viên trong một tổ chức
- Lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển: là quá trình chủ thể quản lý tác động đến nhóm, bộ phận và các thành viên làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức Lãnh đạo bao gồm những nội dung chính sau :
+ Kích thích động viên nhóm, bộ phận và các thành viên của tổ chức bằng những công cụ và biện pháp khác nhau
+ Đảm bảo thông tin hai chiều thường xuyên giữa chủ thể quản lý với các nhóm, bộ phận và các thành viên trong một tổ chức
+ Bảo đảm sự hợp tác giữa các nhóm, bộ phận và các thành viên trong một tổ chức
- Kiểm tra, đánh giá: là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá
và xử lý những kết quả của các nhóm, bộ phận và các thành viên trong một tổ chức Kiểm tra bao gồm những nội dung chính sau:
+ Xây dựng định mức và tiêu chuẩn của những nhiệm vụ và công việc của các nhóm, bộ phận và các thành viên trong một tổ chức
+ Xây dựng các chỉ số, phương pháp và kế hoạch đánh giá
+ Rút kinh nghiệm và điểu chỉnh
Trang 261.2.3 Thay đổi và thay đổi chương trình đào tạo
Sự thay đổi là khởi nguồn từ những khuynh hướng của đời sống xã hội nhằm
vào sự nhất thời, tính mới và tính đa dạng Trong thời đại ngày nay, những thay đổi
diễn ra nhanh chóng Do đó, việc quản lý sự thay đổi ngày càng trở nên khó khăn hơn, song cũng có khoa học hơn và có hiệu quả hơn Các thay đổi có thể xảy ra do những nguyên nhân khác nhau như kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ hay pháp luật và cũng có thể là kết quả của sự kết hợp những nguyên nhân đó Nhưng cho dù là do nguyên nhân nào thì nhà quản lý đều phải có trách nhiệm nhận thức được sự phát triển và những nguyên nhân trong chính phạm vi công việc quản lý của mình Việc nhận thức, là hết sức cần thiết nhằm đạt được những mục tiêu tổ chức đặt ra Để ý thức rõ ràng về nguyên nhân sự thay đổi, trước hết cần làm sáng
tỏ và phân biệt được sự “thay đổi” với sự “phát triển”
Thay đổi là hình thức tồn tại phổ biến nhất của tất cả các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, nó bao hàm mọi sự vận động và sự tác động qua lại, sự chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác Trong triết học, biến đổi luôn luôn đối lập với sự ổn định tương đối của những đặc tính, cơ cấu hoặc của những quy luật tồn tại của các sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, bản thân cơ cấu, những đặc tính và quy luật là kết quả của những tác động qua lại, bị chi phối bởi những mối liên hệ khác nhau của các sự vật và hiện tượng, do đó sự thay đổi xét cho cùng nó được sản sinh ra bởi sự biến đổi của vật chất Nhưng không phải bất
kỳ sự thay đổi nào cũng dẫn đến sự phát triển Trong thực tế, chúng ta thường phạm phải những sai lầm nghiêm trọng khi cố gắng thử thay đổi nhưng chưa được chuẩn bị những điều kiện đảm bảo cho những thách thức khi thay đổi Và do đó, thay đổi không hẳn dẫn đến sự phát triển, mà đôi khi còn có thể trở thành vật cản, kìm hãm sự phát triển tổ chức
Theo Mampuru: “Thay đổi là một hiện tượng có ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của cuộc sống của một người, đại diện cho cuộc đấu tranh giữa những gì đã có
và những gì được mong muốn” [52]
Trang 27Theo Carlopio: “Thay đổi có thể được mô tả như việc thông qua một sự đổi mới, mà mục tiêu cuối cùng là cải thiện kết quả thông qua một sự thay đổi thực hành” [50]
Nói một cách tổng quát, thay đổi là quá trình vận động do ảnh hưởng, tác động qua lại của sự vật, hiện tượng, của các yếu tố bên trong và bên ngoài; thay đổi
là thuộc tính chung của bất kì sự vật hiện tượng nào
Trong bối cảnh giáo dục, thay đổi có nghĩa là hiệu trưởng các trường được tiếp xúc các quy định mới, nhằm điều khiển sự tăng trưởng, phát triển công nghệ và thay đổi trong lực lượng lao động Thay đổi có cả hai khía cạnh kỹ thuật và con người Nó bắt đầu và kết thúc với đồng loạt cá nhân trong nhà trường để làm cho các trường học đạt hiệu quả Trong ngắn hạn, thay đổi đề cập đến một kế hoạch, quy trình hệ thống bị ảnh hưởng bởi các cá nhân, và cần có thời gian để trở thành hiện thực
Thay đổi không đơn thuần là chướng ngại vật nhất thời hay một vấn đề cần được giải quyết ngay để có thể sớm quay lại với trạng thái ban đầu Trái lại, thay đổi diễn ra mọi lúc, không một tổ chức nào có thể đứng yên, bỏ qua mọi sự thay đổi
Thay đổi được hiểu ở các mức độ khác nhau, bao gồm:
- Cải tiến: là tăng lên hay giảm đi những yếu tố nào đó của sự vật để cho phù hợp hơn; không phải là sự thay đổi về bản chất
- Đổi mới: là thay cái cũ bằng cái mới; làm nảy sinh sự vật mới; còn được hiểu là cách tân; là sự thay đổi về bản chất của sự vật
- Cải cách: là vứt bỏ cái cũ, bất hợp lý của sự vật thành cái mới có thể phù hợp với tình hình khách quan; là sự thay đổi về bản chất nhưng toàn diện và triệt để hơn
so với đổi mới
- Cách mạng: là sự thay đổi trọng đại, biến đổi tận gốc; là sự thay đổi căn bản Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi đi vào nghiên cứu sự thay đổi CTĐT ở cấp độ cải tiến Như vậy, chúng tôi quan niệm: Thay đổi CTĐT theo HTTC được hiểu là sự tăng lên hay giảm đi một số yếu tố của CTĐT hiện hành để
Trang 28tạo ra một CTĐT phù hợp hơn với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Về mục tiêu, nội dung chương trình phải đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực Đồng thời đảm bảo tính linh hoạt của chương trình phù hợp yêu cầu người học, tạo điều kiện tối đa cho người học đạt chuẩn nghề nghiệp
1.2.4 Phát triển
Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời Mọi quá trình phát triển đều có sự khởi đầu và sự kết thúc Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi
vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn tới cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển Xét từ phương diện xã hội học, phát triển là sự thay đổi hợp quy luật, có phương hướng không đảo ngược được, được đặc trưng bởi sự chuyển biến chất lượng, bởi sự chuyển sang trình độ tổ chức mới Quá trình phát triển là không thuần nhất mang tính một chiều, mà trong một chừng mực và giai đoạn nhất định, sự phát triển có thể có khuynh hướng phát triển đi xuống tạm thời Đối với mỗi nhà trường, sự phát triển là một quá trình, trong đó diễn ra những thay đổi quan trọng về lượng và về chất trong mỗi thành tố riêng biệt của nhà trường và trong từng thành tố của quá trình đào tạo Không phải mọi thay đổi trong nhà trường đều là sự phát triển, mà chỉ có những thay đổi khi có một số
sự vật, hiện tượng này được thay thế bằng một số sự vật hiện tượng khác có trình
độ cao hơn, như: đào tạo theo chỉ tiêu được thay thế bằng đào tạo theo nhu cầu; đào tạo theo môn học, niên chế được thay thế bằng đào tạo theo học chế tín chỉ; đào tạo theo môn học được thay thế bằng đào tạo theo mô đun và năng lực thực hiện Đó là quá trình thay đổi và phát triển tiến bộ, hoặc ngược lại, sự thay đổi trong nhà trường lại được thay thế bởi các sự vật, hiện tượng ở trình độ thấp hơn – đó là sự phát triển thoái bộ
Tóm lại, có thể thấy giữa sự thay đổi và sự phát triển có mối quan hệ biện
chứng, hữu cơ Thay đổi là nhằm phát triển, đồng thời phát triển là dẫn tới những thay đổi Thay đổi là mục tiêu của phát triển, còn phát triển là động lực của thay đổi Tuy nhiên, không phải mọi thay đổi đều dẫn tới phát triển, còn mọi sự phát
Trang 29triển đều dẫn tới thay đổi Nhà trường là một tổ chức nằm trong một hệ thống kinh
tế - xã hội, mà hệ thống đó đang trong quá trình vận động từ một cơ chế quản lý kinh tế - xã hội cũ sang một cơ chế quản lý kinh tế - xã hội mới; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, các trường không muốn bị thoái bộ thì không còn con đường nào khác là người hiệu trưởng, người đại diện cho nhà trường phải nhanh chóng nắm bắt được những xu thế, những điều kiện và những thách thức của
sự phát triển để đề xướng và tổ chức quản lý những thay đổi phù hợp tạo sự phát triển mới cho nhà trường
1.2.5 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là gì? Đó là câu hỏi khiến nhiều nhà giáo dục học trên thế giới lưu tâm Thuật ngữ “curriculum” (CTĐT) có nguồn gốc từ thời La Mã, chỉ
con đường hình bầu dục trong trường đua ngựa, nó có nghĩa là “con đường mòn”; sau này thuật ngữ “curriculum” được sử dụng với nghĩa “chương trình đào tạo” trong giáo dục Bản chất thiếu nhất quán của thuật ngữ “curriculum” đã tạo ra rất nhiều cách hiểu về nó tuỳ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau
Theo Paul A Boot: “Chương trình là những mục tiêu và nội dung mà nhà trường cung cấp cho sinh viên” [10]
Theo Wentling: “CTĐT là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khoá đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất
cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ [16]
Theo từ điển Giáo dục học, khái niệm CTĐT được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo” [25]
Trang 30Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài sử dụng quan điểm về CTĐT được quy định trong Luật giáo dục đại học 2012: “CTĐT trình độ cao đẳng, đại học gồm: mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; nội dung đào tạo, phương pháp đánh giá đối với mỗi môn học và ngành học, trình độ đào tạo; bảo đảm yêu cầu liên thông giữa các trình độ và với các chương trình đào tạo khác” [39] Theo đó, nội hàm của khái niệm CTĐT mà đề tài nghiên cứu bao gồm:
- Chương trình chi tiết: là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khoá đào tạo phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn khoá đào tạo
và cho từng môn học; được các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chưong trình khung đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Đề cương môn học: là bản tóm tắt nội dung môn học nhằm đưa ra mục tiêu, các nội dung cơ bản của môn học, cách thức kiểm tra – đánh giá môn học và kế hoạch hành động nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra Đề cương môn học là một hợp đồng bất thành văn giữa GV và sinh viên, được hội đồng khoa học khoa và nhà trường tổ chức nghiệm thu và công bố rộng rãi trong CTĐT
- Giáo trình: giáo trình giáo dục đại học cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng quy định trong CTĐT đối với mỗi môn học, ngành học bảo đảm mục
tiêu của các trình độ đào tạo của giáo dục đại học
1.2.6 Quản lý sự thay đổi
Hiện nhiều có tác giả, xuất phát từ những mục tiêu, đối tượng và các lĩnh vực khác nhau nên có những cách tiếp cận nghiên cứu và đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý sự thay đổi
Khi xem xét dưới góc độ khoa học quản lý: Quản lý sự thay đổi là quá trình tổ chức và quản lý hướng tới việc chỉnh sửa cái cũ để thích ứng với những cái mới nhằm tạo ra kết quả tốt hơn, lựa chọn những thay đổi làm sao cho công việc có hiệu quả hơn, tận dụng khả năng để làm cho sự thay đổi phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của chúng ta
Trang 31Theo Prosci: “Quản lý sự thay đổi là sự ứng dụng một quá trình có cấu trúc
và thiết lập những công cụ cho những người dẫn dắt sự thay đổi để đạt được những kết quả mong muốn” [51]
Theo Đặng Xuân Hải: “Quản lý sự thay đổi thực chất là xác định trạng thái phải thay đổi và trạng thái mong muốn sau thay đổi, xác định khoảng cách giữa chúng và tìm lộ trình đi đến trạng thái mong đợi” [22] Tuy nhiên, trong quản lý sự thay đổi, nguyên tắc phù hợp thích ứng và kế thừa phát triển rất được coi trọng
“Quản lý sự thay đổi thực chất là kế hoạch hóa và chỉ đạo triển khai sự thay đổi để đạt được mục tiêu đề ra cho sự thay đổi đó mà không gây ra sự xáo trộn nếu không thật sự cần thiết” [22] Trong quá trình quản lý sự thay đổi người quản lý cần phải quyết định xem mình muốn đạt được điều gì và nên thực hiện sự thay đổi đó bằng cách nào Tuy nhiên, trước khi ra quyết định, họ cần phải hiểu rõ nội dung và đặc điểm của sự thay đổi, vì sự thay đổi luôn luôn phải cụ thể, không có sự thay đổi chung chung
Quản lý thay đổi trong giáo dục nói chung và nhà trường nói riêng thực chất là quá trình duy trì “cân bằng động” giữa yêu cầu của kinh tế - xã hội với chuẩn đầu
ra của sản phẩm đào tạo của các nhà trường khi yêu cầu của kinh tế - xã hội luôn thay đổi
Trên cơ sở những khái niệm trên, căn cứ vào đối tượng và khách thể nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan niệm rằng: Quản lý sự thay đổi CTĐT từ CTĐT theo hình thức niên chế sang CTĐT theo HTTC là một quá trình tổ chức, lãnh đạo các hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm chuyển đổi CTĐT theo hình thức niên chế sang một CTĐT theo HTTC nhằm đạt được những mục tiêu phát triển của nhà trường
1.3 Thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
1.3.1 Đặc điểm chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 được Chính
phủ phê duyệt đã khẳng định: “…xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục đại học
Trang 32chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ…” [9] Cho đến nay, nhiều trường đại học
và cao đẳng trên toàn quốc đã và đang chuyển đổi từ kiểu đào tạo niên chế sang
kiểu đào tạo theo tín chỉ với nhiều mức độ khác nhau Để chuyển sang đào tạo theo
hệ thống tín chỉ, điều đầu tiên các trường cần thực hiện đó là chuyển đổi sang CTĐT theo HTTC Chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ có một số đặc trưng sau đây:
- Đặc điểm về khối lượng tín chỉ: CTĐT cử nhân có khoảng 120 - 140 tín chỉ
- Đặc điểm về khung chương trình: khung chương trình thể hiện bản chất của
học chế tín chỉ, xác định rõ: thời gian học trên lớp, thời gian học trong phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành ở hiện trường và thời gian tự đọc sách, nghiên cứu, làm bài tập, chuẩn bị xê-mi-na ở nhà
- Lựa chọn môn học: ngoài các môn bắt buộc, trong CTĐT có nhiều môn học cho sinh viên lựa chọn và đảm bảo có người dạy khi đã đưa các môn học này vào chương trình
Như vậy, số môn học mà nhà trường tổ chức giảng dạy cho một CTĐT sẽ có
tổng số tín chỉ lớn hơn số tín chỉ quy định mà một sinh viên phải tích luỹ để hoàn thành chương trình đó Như thế, với sự hướng dẫn của giảng viên cố vấn học tập, sinh viên có thể xây dựng được kế hoạch học tập phù hợp với riêng mình
- Linh hoạt: tạo điều kiện thuận lợi cho người học lựa chọn, đăng ký môn học
sớm, đúng hoặc trễ theo kế hoạch giảng dạy hệ thông tín chỉ của trường, để sinh viên chọn lựa bố trí kế hoạch học tập cá nhân phù hợp với điều kiện và khả năng
của mình
So với CTĐT theo hình thức niên chế, CTĐT theo HTTC có một số đặc điểm
mới được đánh giá là mang tính ưu việt cao hơn Đề tài khái quát một số điểm khác nhau cơ bản giữa hai CTĐT như sau:
Trang 33Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa CTĐT theo niên chế và CTĐT theo HTTC
CTĐT theo hình thức niên chế CTĐT theo HTTC
Th ời gian học tập của SV được xác định
b ằng thời lượng SV phải lên lớp, thực
hành, th ực tập, …
Kh ối lượng làm việc của SV được xác định bằng
th ời lượng SV phải lên lớp, thực hành, thực tập và
th ời gian cần thiết để tự nghiên cứu, tự học Được thiết kế theo cấu trúc môn học và
theo m ục tiêu đào tạo của ngành
Được thiết kế theo cấu trúc mô đun và đáp ứng
kh ả năng liên thông, lắp ghép giữa các ngành Được thiết kế để cho cùng một đầu ra
(VD: C ử nhân/kỹ sư)
Được thiết kế để có thể có hơn một đầu ra (VD:
C ử nhân/kỹ sư thiên về thực hành / nghiên cứu) Chương trình ĐH (phổ biến) có khoảng
hướng đáp ứng yêu cầu của ngành đào
t ạo
Các môn h ọc cơ bản được xây dựng theo hướng đáp ứng yêu cầu của nhóm ngành đào tạo
Có rất ít môn học tự chọn Có nhiều môn học tự chọn
Các môn h ọc được xây dựng chủ yếu dựa
trên năng lực của đội ngũ GV
Các môn h ọc được xây dựng theo hướng đáp ứng yêu c ầu xã hội và thị trường lao động, đáp ứng yêu c ầu quốc tế hóa trong sử dụng lao động
Nhìn vào Bảng 1.1 có thể nhận thấy: CTĐT theo HTTC có nhiều ưu điểm so với CTĐT theo niên chế Tuy nhiên, để các trường thực hiện chuyển đổi từ CTĐT theo niên chế sang CTĐT theo hệ thống tín chỉ chúng ta thấy có một khoảng cách khá xa Khoảng cách này cần được phân tích trong điều kiện cụ thể của từng trường khi các trường thực hiện thay đổi sang CTĐT theo HTTC
1.3.2 Những tác nhân gây ra sự thay đổi chương trình đào tạo
Do sự phát triển không ngừng của điều kiện kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là sự phát triển công nghệ, các CTĐT của một trường chịu áp lực
Trang 34đáng kể để thay đổi từ tình hình hiện tại của nó Các tác nhân gây ra sự thay đổi CTĐT bao gồm:
* Môi trường xã hội – chính trị
Thay đổi CTĐT trong các trường đại học phản ánh những thay đổi trong xã hội nói chung Nhiều thay đổi xã hội có thể có một tác động đáng kể vào CTĐT Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi giáo dục có chức năng chính trị - xã hội và một trong những tính chất quan trọng của giáo dục đó là tính chính trị Điều này đã buộc các trường phải thay đổi CTĐT, định hướng đối tượng và sản phẩm đào tạo như một cách để cố gắng đáp ứng nhu cầu của xã hội Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đang ra sức đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, giáo dục đại học vì vậy phải tập trung thay đổi trong việc giảng dạy các môn khoa học theo định hướng của con người xã hội chủ nghĩa
* Môi trường kinh tế
Những thay đổi kinh tế có ảnh hưởng quan trọng về giáo dục của một quốc gia Những thay đổi này ảnh hưởng đến CTĐT để cung cấp đủ nguồn nhân lực có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu của địa phương và xã hội toàn cầu Nó tạo ra nhu cầu lớn hơn cho năng lực cơ bản và định hướng nghề Quá trình toàn cầu hoá, việc chuyển sang kinh tế thị trường và kinh tế tri thức phát triển đa dạng đòi hỏi nguồn nhân lực phải có khả năng thích ứng và chuyển đổi cao Giáo dục không chỉ đào tạo những công dân phục vụ đất nước trong thời kỳ mới mà phải tiến tới đào tạo những công dân toàn cầu
Từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam trải qua một quá trình chuyển đổi cơ cấu
từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa và nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, nguồn nhân lực hiện nay đang thiếu rất nhiều các năng lực cơ bản cần thiết để đáp ứng những thách thức do những thay đổi cơ cấu kinh tế mới Việc thay đổi CTĐT theo HTTC nhằm góp phần khắc phục hạn chế này
Trang 35* Môi trường công nghệ
Thay đổi công nghệ dẫn đến những thay đổi trong các giá trị và chuẩn mực của xã hội và do đó gây áp lực lớn về chương trình giảng dạy Những thay đổi này chứng minh cho một thực tế rằng các nền tảng công nghệ mà sản phẩm và dịch vụ được xây dựng ngày càng phức tạp Quy trình công việc được tổ chức lại và kiến thức mới liên tục được giới thiệu Điều này làm xuất hiện yêu cầu có những năng lực mới, khả năng sử dụng các nguồn lực và thông tin mang tính xây dựng, khả năng hiểu các hệ thống và công nghệ cũng như sự linh hoạt để đối phó với sự thay đổi tại nơi làm việc Thực tế hiện nay, Việt Nam đã gia nhập vào nền kinh tế quốc
tế, trở thành một phần của nền kinh tế toàn cầu có nghĩa là các doanh nghiệp phải thích ứng với những thay đổi cơ cấu cần thiết Tất cả những thay đổi này cần phải đánh giá liên tục để đảm bảo rằng các chương trình đào tạo và nội dung của các đối tượng được cung cấp trong các trường học có thực sự phù hợp và trang bị cho học viên phải đối mặt với những thách thức tại nơi làm việc
Như vậy, mọi thay đổi đều nảy sinh dưới tác động của những tiến bộ khoa học
và công nghệ, các tác nhân xã hội và các yếu tố kinh tế Giáo dục luôn cần đảm bảo mối “cân bằng động” với sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định, do đó giáo dục phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội luôn thay đổi Nếu chúng ta quan niệm rằng đào tạo cũng là một loại hình dịch vụ trong đó sản phẩm
là những con người đáp ứng được những yêu cầu về nhân lực có trình độ cao của
xã hội thì rõ ràng việc thay đổi CTĐT theo HTTC hiện nay là một yêu cầu cấp bách
1.3.3 Đặc trưng của sự thay đổi chương trình đào tạo
Liên tục: Thay đổi CTĐT diễn ra liên tục trong nhà trường nhằm đáp ứng nhu cầu luôn biến động không ngừng của xã hội đối với nguồn nhân lực Đây là một
trong đặc đỉểm quan trọng mà các trường cần quán triệt trong quá trình tổ chức, lãnh đạo sự thay đổi CTĐT
Phức tạp: Thay đổi CTĐT cũng đồng thời là sự phức tạp, làm cho công việc
và các mối quan hệ công tác bị xáo trộn, có thể gây ra những “phiền phức” nhất
Trang 36định, không mong muốn, song cũng có thể thúc đẩy tiến trình hoàn thiện và phát triển nhà trường Tính hai mặt (tích và tiêu cực) của thay đổi CTĐT cũng chính là tính phức tạp của nó
Chưa được thử nghiệm: Khó có ai có thể mô tả một cách chắc chắn việc thay đổi CTĐT sẽ diễn ra như thế nào vì lẽ mọi thay đổi đều chưa hề được thử nghiệm trong những điều kiện cụ thể nào đó Chính vì vậy thông tin phản hồi đóng vai trò
vô cùng quan trọng vì nó góp phần kịp thời điều chỉnh những sai lầm và bổ sung những những yếu tố tích cực trong quá trình quản lý sự thay đổi CTĐT
Khó quản lý: Do những đặc trưng nêu trên, nhất là do tính phức tạp của nó mà
sự thay đổi CTĐT trong nhà trường không dễ quản lý Những khó khăn liên quan đến mọi phương diện như: nguồn gốc, bản chất và hệ quả của các thay đổi CTĐT đòi hỏi người hiệu trưởng thường xuyên xử lý những tình huống phát sinh
1.3.4 Phản ứng của cán bộ viên chức nhà trường đối với sự thay đổi
Thay đổi là một quá trình diễn ra liên tục và phức tạp do đó khi đối mặt với sự
thay đổi, CBVC nhà trường sẽ có những phản ứng tâm lý khác nhau
- Cam kết tham gia vào các hoạt động thay đổi: Một số CBVC có biểu hiện tham gia tích cực vào tiến trình thay đổi của nhà trường
- Từ chối sự thay đổi: Một số CBVC sẽ có biểu hiện không chấp nhận khi có
sự thay đổi diễn ra trong nhà trường
- Kháng cự với những thay đổi: dù biết là sự thay đổi sẽ diễn ra nhưng một bộ phận cán bộ, giáo viên nhà trường sẽ chống đối bằng nhiều cách, ví dụ:
+ Căn cứ vào những sự kiện đã và đang diễn ra trong nhà trường và xã hội để bảo vệ những quan điểm và lợi ích của mình
+ Căn cứ vào niềm tin và kinh nghiệm của bản thân, cho rằng sự thay đổi đã
và đang diễn ra trong trường là không đúng và sẽ thất bại
+ Căn cứ vào hệ thống giá trị của bản thân từ đó cho rằng thay đổi là mang đến nhiều bất tiện và không mang lại lợi ích gì cho bản thân và nhà trường
Trang 37- Thăm dò khi sự thay đổi diễn ra: Một số cán bộ, giáo viên có biểu hiện đứng ngoài sự thay đổi, quan sát xem sự thay đổi ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân và
tổ chức như thế nào
1.3.5 Các nguyên tắc thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Việc thay đổi CTĐT từ CTĐT theo niên chế sang CTĐT theo HTTC cần tuân theo các nguyên tắc sau:
- Dùng đơn vị đo lường là đơn vị tín chỉ để thay thay cho đơn vị học trình Số tín chỉ của mỗi học phần tối thiểu là 2, tối đa là 5;
- Chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ phải đảm bảo mục tiêu, nội dung, khối lượng kiến thức, kỹ năng đối với mỗi khối kiến thức, mỗi học phần như yêu cầu của chương trình đào tạo theo niên chế;
- Đảm bảo cơ cấu các khối kiến thức trong mỗi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ phải đạt tương đương với chương trình đào tạo theo niên chế;
- Cấu trúc mỗi học phần theo hướng giảm thời lượng giảng lý thuyết, tăng thời lượng thảo luận, thực hành, thực nghiệm, thực tập, kết quả tự học, tự nghiên cứu được kiểm tra, đánh giá và tích luỹ vào kết quả cuối cùng của học phần
1.3.6 Nội dung thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Thay đổi CTĐT hiện nay đã trở thành mong muốn cho những thay đổi trong
hệ thống xã hội nói chung Quá trình thay đổi CTĐT bao gồm một các nội dung cơ bản sau đây:
1.3.6.1 Phân tích bối cảnh và xác định nhu cầu đào tạo
Chương trình giảng dạy là một trong những thành phần của tổ chức phải theo kịp với sự thay đổi Đó là, bản thân CTĐT chịu ảnh hưởng thường xuyên một cách trực tiếp và gián tiếp áp lực từ xã hội Áp lực từ các thay đổi của bối cảnh trong nước và cộng đồng quốc tế nhấn mạnh nhu cầu to lớn phải thay đổi giáo dục vì lợi ích của xã hội và thị trường lao động để cạnh tranh với thị trường thế giới
CTĐT theo HTTC cần được xây dựng phù hợp với đặc điểm về thể chế chính trị, và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia, những yêu cầu và xu hưóng phát triển của thời đại, đồng thời
Trang 38phải thể hiện sự tiếp tục, kế thừa và phát triển các CTĐT đã có Do đó cần phân tích bối cảnh và nhu cầu đào tạo làm cơ sở để xây dựng mục tiêu và thiết kế nội dung CTĐT
Phân tích bối cảnh là một tính năng quan trọng của phát triển CTĐT Trước khi một chương trình được thiết kế, các nhu cầu của người học và xã hội phải được xác định chắc chắn Phân tích thị trường giáo dục sẽ cung cấp thông tin về kỹ năng cần thiết và các xu hướng công nghiệp trên việc làm Do đó, các bên liên quan nên cùng tham gia vào việc phát triển CTĐT Những thành phần này nên bao gồm sinh viên hiện tại và cựu sinh viên, các viện nghiên cứu, cơ quan chuyên môn, các học viên, và các nhà sử dụng lao động
1.3.6 2 Rà soát và điều chỉnh mục tiêu đào tạo
Dựa trên những thông tin thu được từ kết quả khảo sát nhu cầu về nguồn nhân
lực hiện tại, đồng thời dựa vào nguồn lực hiện tại và tương lai của nhà trường, phòng Đào tạo sẽ phối hợp với các khoa chức năng rà soát lại mục tiêu đào tạo Trên cơ sở mục tiêu đào tạo chung GV sẽ xác định mục tiêu cụ thể của các môn học, bài học trong CTĐT
Mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu đào tạo đại học nói riêng không chỉ dừng ở việc trang bị hệ thống kiến thức đơn thuần, hình thành kỹ năng hành nghề
mà còn cần phát triển các phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy cũng như sự hình thành và phát triển thái độ, phẩm chất, ý thức nghề nghiệp của sinh viên trong quá trình đào tạo
1.3.6 3 Thiết kế chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Căn cứ vào chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, CTĐT được cấu trúc lại đảm bảo tính chất cơ bản, hiện đại, cập nhật, thực tiễn, khoa học, có chú ý tới thực tế của cơ sở giáo dục và đủ điều kiện liên thông Việc thay đổi cấu trúc CTĐT theo hệ thống tín chỉ cần thực hiện các công việc sau:
- Xác định số tín chỉ cho từng CTĐT cụ thể
Trang 39Xác định khối lượng kiến thức của mỗi CTĐT mà sinh viên cần tích lũy đủ để được công nhận tốt nghiệp Số tín chỉ quy định này không kể khối kiến thức giáo dục Quốc phòng và Thể chất
- Xác định số tín chỉ cho các khối kiến thức, bao gồm: khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp
- Xác định những môn học thuộc khối kiến thức bắt buộc và những môn thuộc khối kiến thức tự chọn
- Chuyển đổi số đơn vị học trình sang đơn vị tín chỉ Thông thường, 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ Sau khi chuyển đổi, nếu số lượng tín chỉ của một học phần nào đó không là số nguyên thì có thể tăng, giảm thời lượng của học phần đó nhằm đạt được số lượng tín chỉ nguyên hoặc có thể loại bỏ học phần đó Ngoài ra, cũng có thể ghép một số học phần có số lượng tín chỉ không nguyên và
có nội dung gần với nhau thành học phần mới có số lượng tín chỉ nguyên
Các CTĐT sau khi được chuyển đổi phù hợp với HTTC phải được trình bày đúng theo mẫu quy định của từng trường
1.3.6 4 Rà soát và điều chỉnh nội dung đào tạo
Nội dung đào tạo là một thành phần cơ bản của chương trình đào tạo, bao gồm
hệ thống các kiến thức, kỹ năng và các chuẩn mực thái độ, đạo đức được phản ánh trong các môn học, phần học và các hoạt động giáo dục tương ứng với các cấp, bậc học và loại hình đào tạo Trong đào tạo theo tín chỉ, nội dung đào tạo được quy định rõ trong đề cương chi tiết môn học và được cụ thể hóa trong giáo trình giảng dạy Vì vậy, sau khi đã tiến hành chuyển đổi CTĐT, các trường phải tiến hành xây dựng đề cương môn học và viết giáo trình theo chương trình đào tạo đã chuyển đổi
1.3.6 5 Đánh giá chương trình đào tạo
Bản thiết kế CTĐT cần được tổ chức thử nghiệm và đánh giá tính hợp lý và khả thi của nó Việc đánh giá chương trình cần được thực hiện trên cơ sở kết quả thử nghiệm và lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, chuyên gia giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên và học sinh, các tầng lớp xã hội khác như phụ huynh học sinh, người sử dụng lao động
Trang 40Việc đánh giá CTĐT nhằm mục đích phát hiện xem CTĐT được thiết kế, phát triển và thực hiện có tạo ra hay không những sản phẩm, kết quả mong muốn Đánh giá giúp xác định các điểm mạnh, điểm yếu hoặc những hạn chế của chương trình trước khi thực hiện chính thức, đại trà hoặc để xác định kết quả, hiệu quả một thời gian tổ chức thực hiện chương trình Đánh giá CTĐT cần tập trung vào các điểm sau:
- Mục đích mà chương trình học được lên kế hoạch;
- Mức độ đảo đảm tính liên tục của quá trình học tập;
- Tính định hướng, các mối quan hệ và trọng tâm rõ ràng để người học theo đuổi và tập trung các nỗ lực, cố gắng;
- Quá trình đánh giá nên gắn liền với quá trình thực hiện CTĐT để thường xuyên xem xét và cập nhật
1.4 Quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
1.4.1 Vai trò của công tác quản lý sự thay đổi chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Chúng ta đang sống trong giai đoạn lịch sử mà những đổi thay về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội diễn ra nhanh chóng hơn bao giờ hết và chúng có tác động
to lớn đến hệ thống giáo dục nói chung, các trường đại học nói riêng mà việc thay đổi CTĐT chính là một minh chứng cụ thể cho sự tác động đó Các nhà quản lý giáo dục không thể cưỡng lại được những thay đổi đó, cũng không thể bỏ qua chúng Vấn đề là có thể và cần kiểm soát những thay đổi đó sao cho có hiệu quả nhất và tìm kiếm những nguồn lợi từ bối cảnh do những thay đổi đó tạo ra Để giảm thiểu những tác động tiêu cực mà sự thay đổi đã tạo ra cho tổ chức, các nhà quản lý cần thực hiện quản lý sự thay đổi
Quản lý sự thay đổi được xác định như một tập hợp toàn diện các quy trình cho việc ra quyết định, lập kế hoạch, thực hiện và các bước đánh giá quá trình thay đổi Để phát triển, không còn con đường nào khác là bắt đầu từ chính con người Một nền giáo dục tốt là một nền giáo dục phong phú, gần cuộc sống, luôn thích ứng với những đòi hỏi của cuộc sống Giáo dục thay đổi đòi hỏi chúng ta phải chủ động