Phương pháp kiểm tra, đánh giá giúp cho chúng ta biết được thực trạng quá trình và kết quả học tập của sinh viên, có thông tin ngược để điều chỉnh cách dạy, cách học, giúp thúc đẩy ý thứ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG NAI
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG NAI
Chuyên ngành : Qu ản lý giáo dục
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGÔ ĐÌNH QUA
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được nghiên cứu và thu thập từ thực tiễn và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Tác giả luận văn Nguyễn Quý Nguyệt Cầm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
M ỤC LỤC 2
DANH M ỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 M ục đích nghiên cứu 8
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 8
4 Ph ạm vi nghiên cứu 8
5 Gi ả thuyết khoa học 8
6 Nhi ệm vụ nghiên cứu 9
7 Phương pháp luận nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 12
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.2 Nh ững khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 16
1.2.1 Qu ản lý 16
1.2.2 Ki ểm tra 17
1.2.3 Đánh giá 17
1.2.4 Ki ểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh 18
1.2.5 Qu ản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh 27
1.2.6 Các c ấp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục cao đẳng, đại h ọc 28
1.3 Lý lu ận về công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Tiếng Anh 29
1.3.1 Ch ủ thể quản lý của công tác quản lý kiểm tra, đánh giá 29
1.3.2 M ục tiêu quản lý 30
1.3.3 N ội dung quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai 30
1.3.4 Ch ức năng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Tiếng Anh 30
1.3.5 Phương pháp quản lý 33
1.3.6 Bi ện pháp quản lý 35
1.3.7 Phương tiện quản lý 35
1.3.8 K ết quả quản lý 35
1.3.9 Các y ếu tố ảnh hưởng quản lý kiểm tra, đánh giá 35
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
H ỌC TẬP MÔN TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊNTRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ
ĐỒNG NAI 37
2.1 Khái quát v ề Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai 37
2.1.1 Đặc điểm tình hình 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường 38
2.1.3 Đội ngũ cán bộ, giảng viên 39
2.1.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học t ập môn Tiếng Anh 40
2.2 Nh ững quy định về đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh và cách thực hiện41 2.2.1 Quy định đánh giá 41
2.2.2 Cách th ức thực hiện 44
2.3 Th ực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh c ủa sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai xét theo các chức năng quản lý 45
2.3.1 Ch ức năng kế hoạch hóa 45
2.3.2 Ch ức năng tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch 47
2.3.3 Ch ức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch 50
2.4 Th ực trạng quản lý việc xây dựng và sử dụng công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả h ọc tập môn Tiếng Anh 52
2.5 Th ực trạng quản lý công tác giáo vụ liên quan đến việc KT, ĐG kết quả học tập môn Ti ếng Anh 58
2.6 Th ực trạng quản lý việc thực hiện kế hoạch dạy học của giáo viên 59
2.7 Đánh giá chung 60
2.8 Nguyên nhân c ủa thực trạng 61
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ K ẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG NAI 65
3.1 Cơ sở của việc đề xuất các biện pháp 65
3.1.1 Cơ sở pháp lý 65
3.1.2 Cơ sở lý luận 66
3.1.3 Cơ sở thực tiễn 66
3.2 N ội dung các biện pháp và cách thức thực hiện 66
3.2.1 Nhóm bi ện pháp 1: Nhóm biện pháp liên quan đến chức năng xây dựng kế hoạch66 3.2.2 Nhóm bi ện pháp 2: Đổi mới tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá k ết quả học tập nói chung và kết quả học Tiếng Anh nói riêng của sinh viên 70 3.2.3 Nhóm bi ện pháp 3: Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nói chung và kết quả học Tiếng Anh nói riêng của sinh
Trang 6viên 80
KẾT LUẬN 84
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 87
PH Ụ LỤC 91
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Điểm kiểm tra thường xuyên Đkttx
Trang 8tạo trung cấp Qui mô đào tạo cao đẳng ngày một tăng, nếu như năm 2007 mới chỉ có
97 sinh viên cao đẳng điều dưỡng chính qui thì đến nay tổng số sinh viên cao đẳng toàn trường là 1776/ 5229 (tổng 6 năm) sinh viên đặc biệt đã có 03 khóa cao đẳng điều dưỡng tốt nghiệp ra trường
Sinh viên được học các môn chuyên ngành như: Kỹ thuật điều dưỡng, Sức khoẻ sinh sản, Điều dưỡng nhi, Bào chế, Quản lý dược, … Ngoài những môn chuyên ngành, Tiếng Anh luôn được xem là môn học thiết yếu để đáp ứng nhu cầu học tập, tra cứu sách y khoa (nguồn tài liệu y khoa bằng Tiếng Anh rất phong phú, đa dạng và
rất cần thiết), giao tiếp và nhu cầu giao lưu quốc tế Đồng thời, đó cũng là hành trang cho sinh viên khi ra trường có thể làm việc ở các cơ sở quốc tế Tuy nhiên, đối với sinh viên, một số không thích học Tiếng Anh, một số không thấy được tầm quan
trọng của việc học Tiếng Anh, số khác lại coi Tiếng Anh là môn học đối phó, có
những sinh viên lại được học ngoại ngữ khác trước khi vào trường… Nhằm kích thích việc học tốt môn Tiếng Anh, đồng thời biết được chính xác trình độ, kỹ năng và thái độ học tập của sinh viên, để giáo viên giúp sinh viên tiến bộ, việc kiểm tra, đánh giá là rất quan trọng Đó là phương pháp cực kỳ hữu hiệu để hỗ trợ các nhóm phương pháp dạy học ở đại học của giáo viên Phương pháp kiểm tra, đánh giá giúp cho chúng ta biết được thực trạng quá trình và kết quả học tập của sinh viên, có thông tin ngược để điều chỉnh cách dạy, cách học, giúp thúc đẩy ý thức, tinh thần để sinh viên
học tập hăng say hơn, ngoài ra còn giúp cho việc kiểm định chất lượng giáo dục đào
tạo, làm cho chất lượng đào tạo ngày càng tăng Với tầm quan trọng như vậy, nhưng
Trang 9việc kiểm tra đánh giá lại được các giáo viên thực hiện tuỳ theo điều kiện của bản thân, khả năng lớp học, môn học, không có sự thống nhất giữa các giáo viên dạy các môn học Mỗi giáo viên kiểm tra và đánh giá bằng những công cụ khác nhau do đó không đảm bảo được tính khách quan, công bằng Chính vì vậy, môn Tiếng Anh rất
cần sự đánh giá đúng về các kỹ năng như: nghe, nói, đọc, viết Việc kiểm tra, đánh giá đúng sẽ giúp sinh viên khắc phục mặt yếu, tích cực phát huy thế mạnh của mình, giáo viên cũng sẽ nhờ vào đó mà có phương pháp giảng dạy phù hợp hơn
Đánh giá chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học ở nước ta đang trở thành vấn
đề được xã hội và toàn ngành giáo dục quan tâm Quản lý kiểm tra, đánh giá tốt sẽ giúp cho nhà trường đánh giá được thực trạng quá trình học tập của sinh viên và cách
thức dạy học của giáo viên từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn, phù hợp với yêu
cầu phát triển xã hội, với thực tiễn giáo dục đất nước; giúp cho nhà trường điều
chỉnh, bổ sung, hoàn thiện từ các chủ trương lớn đến các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục Do đó, chuẩn hoá hoạt động kiểm tra, đánh giá
là một nhu cầu đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập Trước thực tế đó, đổi mới quản lý kiểm tra, đánh giá nói chung đã và đang được Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm chỉ đạo Vì vậy, nghiên cứu quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh để đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp, khả thi nhằm cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá cho phù hợp với bối cảnh, đặc điểm phát triển của giáo dục nước nhà, đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong giai đoạn tới là vấn đề quan trọng và cấp thiết
Tóm lại, quản lý việc kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Anh tại Trường Cao đẳng
Y tế Đồng Nai là việc rất cần phải được nghiên cứu Với tư cách là người quản lý bộ môn Tiếng Anh của Trường, tôi thấy đề tài này là một vấn đề rất cần thiết, chưa được nghiên cứu trước đây và đề tài hướng tới việc xác định thực trạng, giải quyết các vấn
đề còn tồn tại đã nêu trên, nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn Tiếng Anh
Đó là lý do tôi chọn tên đề tài: “Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai”
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Xác định được thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn
Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai Trên cơ sở đó đề xuất các
biện pháp cụ thể nhằm góp phần cải thiện công tác quản lý việc kiểm tra đánh giá môn Tiếng Anh nói riêng và các môn học khác nói chung
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
- Đối tượng nghiên cứu: thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
5 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai có thể đạt được thành tựu ở các mặt: Chủ
thể quản lý đã nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập nên đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá vào đầu mỗi năm học; đầu tư trang thiết bị, máy móc, phần mềm chọn câu trắc nghiệm, phần mềm chấm điểm và vào điểm phục vụ các kì thi để đánh giá kết quả học tập của sinh viên một cách chính xác, khách quan; đã chỉ đạo giáo viên thực hiện kiểm tra, đánh giá theo quy định đánh giá
của trường đề ra (số 278/CĐYT-ĐT); đã tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cho giáo viên
Đồng thời công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh còn một số hạn chế ở những khâu như: kiểm tra, đánh giá công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh; kiểm tra, đánh giá chất lượng đề kiểm tra, đề thi; tổ chức, chỉ đạo các hoạt động chuyên đề, thảo luận trao đổi kinh nghiệm về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; dự giờ, đánh giá tiết học có kiểm tra, đánh giá; quản lý
Trang 11phần mềm, phương tiện, trang thiết bị
Những tồn tại hạn chế trên có thể do:
- Khó khăn về đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý (số lượng, chất lượng)
- Biện pháp quản lý còn chồng chéo giữa các chủ thể quản lý, thiếu tính khoa
học, logic
- Một số giáo viên và sinh viên chưa nhận thức tầm quan trọng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
7 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài thực hiện dựa trên 3 quan điểm:
7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Đề tài nghiên cứu cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, từ đó đề
ra một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo Ngoài ra, theo quan điểm này thì thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh được xem như một hệ thống với các yếu tố hợp thành như: chủ thể, mục tiêu, nội dung, đối tượng, khách thể, phương pháp, biện pháp và kết quả quản lý
7 1.2 Quan điểm thực tiễn
Đề tài xuất phát từ thực tiễn công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai nhằm tìm
kiếm một số giải pháp quản lý góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
7 1.3 Quan điểm lịch sử- logic
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi đối tượng là thực trạng quản lý việc kiểm tra,
Trang 12đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai Đặc điểm về quá trình hình thành và phát triển của trường khác với những trường khác: tiền thân là Trường Trung cấp Y tế được nâng cấp lên Cao đẳng mới được 6 năm Ngoài ra quan điểm này còn được thể hiện ở trật tự sắp xếp của các phần trong đề cương nghiên cứu cũng như luận văn
7 2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7 2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2.1.1 Phân tích, t ổng hợp lý thuyết
Phân tích và tổng hợp các lý thuyết về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nói chung và kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh nói riêng để có tài liệu
viết chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
7.2.1.2 Phân lo ại, hệ thống hóa lý thuyết
Phân loại, hệ thống hóa các lý thuyết nói trên theo phạm vi không gian (trong nước, ngoài nước) và thời gian (từ trước đến nay) để có tài liệu viết phần Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong chương 1 của luận văn
7 2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
7.2.2.1 M ục đích điều tra
Mục đích của việc điều tra là nhằm thu thập các số liệu để chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu của đề tài
7.2.2.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng của phương pháp điều tra là các chủ thể, đối tượng quản lý có liên quan đến đề tài
7.2.2.3 N ội dung điều tra
Nội dung điều tra: thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai thông qua việc thực
hiện các chức năng, nội dung, biện pháp quản lý của các chủ thể quản lý
7.2.2.4 Th ời gian điều tra
Thời gian dự kiến thực hiện phương pháp điều tra: tháng 3, tháng 4 năm 2013
Trang 137 2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
7.2.3.1 M ục đích quan sát
Mục đích của việc quan sát là nhằm thu thập các số liệu để chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu của đề tài
7.2.3.2 N ội dung quan sát
Nội dung quan sát gồm: các hoạt động của chủ thể và đối tượng quản lý có liên quan đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
7.2.3.3 Thời gian dự kiến quan sát
Thời gian dự kiến quan sát: học kì I, học kì II năm học 2012-2013
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm
Kinh nghiệm của các chủ thể và đối tượng quản lý về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai sẽ được tổng kết làm cơ sở để đề xuất một số biện pháp quản lý mới
7 2.5 Phương pháp thống kê toán học
Các phép toán thống kê dự kiến sử dụng trong đề tài gồm thống kê mô tả (tính trung bình, tỉ lệ phần trăm) và thống kê suy diễn (các phép kiểm nghiệm thống kê)
Trang 14ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục Việt Nam đã ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển 4000 năm lịch sử phát triển của dân tộc Sau ngày giải phóng miền Nam 1975, hệ thống giáo dục đại học thống nhất trong cả nước phát triển theo mô hình đào tạo theo niên chế của Liên Xô cũ với quy trình đào tạo bậc học từ 4 đến 6 năm theo hướng chuyên sâu, đào tạo tiến sĩ theo hai bậc phó tiến sĩ và tiến sĩ Từ năm 1987 đến nay, với công cuộc đổi mới giáo dục đại học, việc thiết kế chương trình đào tạo được đổi mới theo hướng: trong chương trình đào tạo bậc đại học, phần giáo dục đại cương được chú ý và phần giáo dục chuyên nghiệp được thiết kế theo diện rộng, thêm bậc cao học
và chỉ còn một bậc đào tạo tiến sĩ [25], [31]
Kiểm tra, đánh giá được xem là công cụ quan trọng chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người Việt Nam theo mục tiêu giáo dục Thấy được tầm quan trọng đó nên từ những năm 90 của thế kỉ
XX đã có rất nhiều những nhà giáo dục tâm huyết Việt Nam nghiên cứu về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới kiểm tra, đánh giá nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học [25], [31]
Năm 1999, Bộ Giáo dục và Đào tạo có văn bản chính thức qui định về kiểm tra
và thi học phần đại học, cao đẳng Theo Quy chế 04/1999 của Bộ Giáo dục & Đào tạo được ký ngày 11 tháng 02 năm 1999, giáo viên chỉ có thể đánh giá được kiến thức
và phương pháp tư duy bằng bài kiểm tra định kỳ sau mỗi học trình 15 tiết, tức là cho kiểm tra và chấm bài thi chứ không tổ chức cho sinh viên học theo nhóm và đánh giá theo nhóm [2], [25]
Đến năm 2001, giáo dục Việt Nam thay đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ Công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng thay đổi Ngày 30 tháng 07 năm 2001, Bộ GD & ĐT ra quyết định số 31/2001/QĐ-BGD&ĐT về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại
Trang 15học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ do Thứ trưởng Trần Văn Nhung ký ban hành Quy chế này không khác biệt lắm so với Quy chế 04/1999, một số khác biệt nhỏ đó là Hiệu trưởng được quyền quy định số kỳ thi kết thúc học phần nhưng không quá hai lần, quy định thời gian ôn thi và quy định tỉ trọng của điểm kiểm tra
thường kỳ trong điểm thi kết thúc học phần [3], [25]
Từ khi Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục ra đời năm 2003, công tác đánh giá học lực sinh viên được chú trọng hơn và được các cấp lãnh đạo, nhà giáo dục quan tâm nhiều hơn, việc ứng dụng phương pháp thi trắc nghiệm khách quan được triển khai rộng khắp từ tuyển sinh đại học (đầu vào) đến các đề thi học kỳ và thi tốt nghiệp (đầu ra) [25]
Đến 26 tháng 06 năm 2006, Bộ GD & ĐT lại ban hành Quy chế về đào tạo lần thứ ba, Quy chế 25/2006 Qua đó, Thứ trưởng Bành Tiến Long mong muốn thay đổi
cơ bản phương pháp đánh giá kết quả học tập của các sinh viên theo hướng chuẩn hóa
và đánh giá trong suốt quá trình học tập, sử dụng nhiều phương pháp đa dạng, khoa học và hiện đại Vì vậy, các trường đại học sẽ được thành lập các đơn vị khảo thí và kiểm định chất lượng độc lập để tách rời khâu dạy với khâu thi, khâu kiểm tra, đánh giá nhằm khắc phục những mặt tiêu cực trong quá trình dạy và học Theo Quy chế này thì giáo viên đề xuất hình thức thi kết thúc học phần, còn Hiệu trưởng quyết định Nhờ vậy mà cách thức tổ chức thi, hình thức thi sẽ được áp dụng một cách linh hoạt
và đánh giá sát thực kết quả học tập của từng môn học [7], [25], [31]
Sự khác biệt lớn nhất về đánh giá kết quả học tập cho một môn học trong Quy chế 25/2006 này là điểm học phần (điểm tổng hợp đánh giá học phần) bao gồm: 1) điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; 2) điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; 3) điểm đánh giá phần thực hành; 4) điểm chuyên cần; 5) điểm thi giữa học phần; 6) điểm tiểu luận và 7) điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và phải có trọng số không dưới 50% của điểm học phần Như đã nói, việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ
phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần Như vậy, Quy chế 25 để mở khả năng
Trang 16cho các giáo viên đánh giá kỹ năng, thái độ của sinh viên [7], [14], [15] , [25]
Từ năm 2007 đến nay, Bộ GD & ĐT cho áp dụng Quy chế 43/2007 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Nhìn chung, Quy chế này là
sự kết hợp của các quy chế trước với nhau Điểm học phần được tính bằng 02 cách:
hoặc căn cứ vào một phần như quy định trong Quy chế 04/1999 và 31/2001 hoặc gồm
tất cả các điểm đánh giá bộ phận như quy định trong Quy chế 25/2006 Khác với Quy
chế 25, Quy chế 43/2007 quy định kỳ thi phụ được tổ chức nếu có điều kiện Sự khác
biệt nổi bật trong Quy chế này là cách tính điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần (đảm bảo đánh giá được cả phần nổi và phần chìm) Trong đó, điểm đánh giá bộ phận
và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá
bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng Điểm học phần hoàn chỉnh sau
đó chuyển thành điểm chữ Do đó, từ năm 2007, những sinh viên được đào tạo theo tín chỉ sẽ có điểm học phần là điểm chữ Phương pháp đánh giá thành quả học tập
gồm: một là đánh giá thường xuyên (formative assessment) – đó là các câu hỏi ngắn ngay tại lớp, các bài kiểm tra ngắn Hai là đánh giá tổng kết (summative assessment) – yêu cầu phải kiểm tra cả phần đã được thuyết giảng ở lớp là phần nổi cùng với phần sinh viên tự đọc trong thời gian học tập thuộc phần chìm [9], [25], [28], [31], [38]
Ở các nước khác, thường qui trình kiểm tra đánh giá được tiến hành như sau: xác định mục tiêu chương trình đào tạo; xây dựng chiến lược, kế hoạch và phương pháp giảng dạy; thiết kế việc kiểm tra đánh giá dựa vào các mục tiêu đã đề ra Các
mục tiêu đó thường bao gồm các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ Theo đó, các đánh giá thường được tiến hành theo các dạng sau: đánh giá đầu vào, đánh giá quá trình và đánh giá đầu ra theo các hình thức khác nhau [15]
Giáo dục của Mỹ là điển hình của học chế tín chỉ Tính mềm dẻo được phát huy triệt để Đánh giá kết quả học tập được tính bằng điểm trung bình chung với
trọng số là số lượng tín chỉ của các môđun.Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với mỗi môđun ở các trường đại học Mỹ được thực hiện liên tục trong cả quá trình giảng dạy môđun đó, do đó thời gian dành để thi hết môn thường chỉ có một
tuần Giáo chức quy định khối lượng tài liệu học tập và tham khảo mà sinh viên phải
Trang 17đọc với một môđun và cách ra đề thi cho môđun đó dựa vào yêu cầu của môn học và
khối lượng tài liệu quy định (chứ không phải dựa vào những điều mà giảng viên đã trình bày ở lớp), cũng có quyền kiểm tra việc chuẩn bị ngoài giờ học Trong đó,
“phần nổi” là thời lượng học tập ở lớp, và “phần chìm” là thời lượng chuẩn bị cá nhân Đối với chương trình ban đầu của bậc học cử nhân, sinh viên sẽ có hai kỳ thi:
giữa kỳ và cuối kỳ Sinh viên được giao rất nhiều bài tập nhóm, tiểu luận hay các bài
kiểm tra nhỏ rải rác Thông thường, bài kiểm tra chiếm khoảng 5% trong tổng số điểm, điểm danh 10% [31], [49]
Qua quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy vấn đề quản lý kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập cũng được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều bậc học khác nhau như THPT, CĐ, ĐH Theo 2 hình thức: Nghiên cứu thực trạng (để từ đó xác định nguyên nhân, đề ra giải pháp), hoặc nghiên cứu thực trạng và giải pháp Ví dụ:
- Năm 2009, bài viết của Nguyễn Thái Vũ trong Hội thảo khoa học – Khoa Kỹ thuật Tàu thuỷ Đại học Nha Trang về “Thực trạng hệ thống đánh giá kết quả học tập
và biện pháp nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên”
- Năm 2010, luận văn thạc sỹ của Hoàng Văn Vân về “Dạy tiếng Anh không chuyên ở các trường đại học Việt Nam”
- Năm 2011, luận án tiến sĩ của Cấn Thị Thanh Hương với đề tài “Nghiên cứu
quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam”
- Năm 2011, luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Hà Anh về “Biện pháp quản lý
hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội”
- Năm 2011, luận văn thạc sỹ của Lê Thị Thu Liễu và Huỳnh Xuân Nhựt về
“Thực trạng đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học, cao đẳng”
- Năm 2012, bài viết của Nguyễn Kim Dung trong tạp chí Khoa học Đại học
Sư phạm Tp.HCM vể “Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở một
số trường trung học phổ thông tại Tp.HCM”
- Năm 2012, bài viết của Phạm Thị Minh Hải trong Tạp chí Khoa học Đại học
Sư phạm Tp.HCM về “Thi trắc nghiệm trong đánh giá, kiểm tra kết quả logic học – góc nhìn từ thực tiễn trường Đại học Luật Tp.HCM”
- Năm 2012, luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Thanh Thuý về “Thực trạng và giải
Trang 18pháp đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá môn tiếng Anh tin học của sinh viên trường đại học Phạm Văn Đồng”
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai, để từ
đó tìm ra giải pháp quản lý kiểm tra, đánh giá hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Anh nói riêng và chất lượng đào tạo ở Nhà trường nói chung
1.2 Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
Giáo dục và quản lý giáo dục tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng
xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục Ở khái niệm về quản lý giáo dục Trần Kiểm đã đưa ra hai nhóm khái niệm tương ứng : một, cho quản lý nền/ hệ thống giáo dục (quản lý vĩ mô) và một, cho một
quản lý nhà trường (quản lý vi mô) [22]
Trong đó, quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định là tác động của hệ thống
có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quy trình giáo dục, của sự phát triển thể
lực và tâm lý trẻ em [22]
Qu ản lý trường học là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý vĩ
mô Quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ
thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và
Trang 19ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành
những mục tiêu dự kiến [22]
Tóm lại, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sự phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất
1.2.2 Kiểm tra
Theo Phạm Viết Vượng, kiểm tra là phương pháp khảo sát, thu thập thông tin
về quá trình và kết quả học tập của sinh viên, nhằm tìm ra hiện trạng chất lượng dạy học để có những biện pháp điều chỉnh
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [28]
Theo tác giả Trần Tuyết Oanh: “Trong giáo dục, kiểm tra là thu thập những dữ liệu, những thông tin, chứng cứ làm cơ sở cho đánh giá Kiểm tra luôn gắn liền với đánh giá, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau”
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra là thu thập dữ liệu, chứng cứ, xem xét lại công việc thực tế để đánh giá, nhận xét và điều chỉnh
1.2.3 Đánh giá
Đánh giá nhằm đưa ra những nhận định về những vấn đề mà người học gặp phải
và cung cấp cho họ những phản hồi tích cực Mặt khác, đánh giá bao gồm cả việc xem xét tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập như: chương trình khung, mục tiêu chương trình học, phương pháp giảng dạy [46]
Đánh giá là xem xét mức độ thích đáng giữa toàn bộ các thông tin và toàn bộ các tiêu chuẩn tương ứng với mục tiêu đã định, nhằm đưa ra một quyết định [28]
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải
Trang 20thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính [30]
1.2.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin từ
hoạt động học tập của người học, so sánh với mục tiêu đề ra nhằm xác nhận kết quả
học tập của người học sau một giai đoạn học tập và cung cấp thông tin phản hồi giúp
cải thiện việc dạy và học [21]
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là quá trình thu thập, xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu đã xác định nhằm tạo cơ sở cho
những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân sinh viên
để giúp họ học tập tiến bộ hơn Như vậy, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho sinh viên sau một giai đoạn học
t ập, các mục tiêu này thể hiện ở từng môn học cụ thể [28]
Đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh là việc đưa ra những kết luận nhận định, nhận xét trình độ Tiếng Anh của sinh viên Muốn đánh giá kết quả học tập của
sinh viên thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, xem xét lại toàn bộ công việc học tập môn Tiếng Anh của họ, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập nói chung và kết quả học tập môn Tiếng Anh nói riêng là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh giá
1.2.4.1 Phân lo ại kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Tương ứng với 2 mục đích thì kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được phân thành 2 loại:
- Ki ểm tra, đánh giá quá trình (formavie assessment) nhằm cung cấp thông tin
phản hồi liên tục từ hoạt động học của người học để điều chỉnh quá trình dạy - học từ khi bắt đầu và trong suốt quá trình dạy - học để phát hiện những sai sót trong việc học
Trang 21tập và lên kế hoạch can thiệp để giúp sinh viên sửa chữa đồng thời lựa chọn các biện pháp hỗ trợ trong những môn học gặp khó khăn [21], [35], [38]
- Ki ểm tra, đánh giá tổng kết (summative assessment) nhằm cung cấp thông tin
phản hồi cho SV về kết quả học tập các môn học và thành tích tổng thể toàn khoá
học KT, ĐG đánh giá tổng kết ghi nhận trình độ của người học tại từng giai đoạn cụ
thể được tiến hành định kỳ sau một khoảng thời gian hoặc sau khi kết thúc một phần,
một chương của môn, hay sau khi kết thúc môn học, khoá học, làm căn cứ để xếp
loại, công nhận sinh viên tốt nghiệp [22], [49], [39]
Trong quá trình dạy - học, 2 loại kiểm tra, đánh giá này không loại trừ nhau mà
bổ sung, hỗ trợ cho nhau Vì vậy, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập phải bao gồm
kiểm tra, đánh giá quá trình và kiểm tra, đánh giá tổng kết [21]
1.2.4.2 M ục đích của kiểm tra, đánh giá [11]
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh kiến thức,
kỹ năng, vận dụng của người học Kiểm tra, đánh giá là hai công việc được tiến hành theo trình tự nhất định hoặc đan xen lẫn nhau nhằm khảo sát, xem xét về cả định lượng và định tính kết quả học tập, đánh giá mức độ chiếm lĩnh nội dung học vấn của sinh viên Bởi vậy, cần phải xác định “thước đo” và chuẩn đánh giá một cách khoa học, khách quan
Đối với sinh viên, nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá
có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng Qua kết quả kiểm tra, sinh viên tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có phương pháp tự mình ôn tập, củng cố bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống thao tác tư duy của chính mình
Đối với giáo viên, kết quả kiểm tra, đánh giá giúp mỗi giáo viên tự đánh giá quá trình giảng dạy của mình Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình về trình độ học vấn, về phương pháp giảng dạy
Đối với các cấp quản lý, lãnh đạo nhà trường thì kiểm tra, đánh giá là biện pháp để đánh giá kết quả đào tạo về cả định lượng và định tính Đó là cơ sở để xây dựng đội ngũ giáo viên, về vấn đề đối mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ
Trang 22chức hoạt động dạy học, v.v…
1.2.4.3 Các nguyên t ắc đánh giá
- Đánh giá phải đảm bảo tính khách quan: đánh giá đảm bảo tính khách quan
là yêu cầu cơ bản trong đánh giá Đánh giá khách quan trong giáo dục là sự phản ánh chính xác kết quả của hoạt động giáo dục như nó tồn tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đã đề ra [28], [38]
Đánh giá đảm bảo tính khách quan có ý nghĩa quan trọng vì: trước hết đó là yêu cầu của xã hội đối với chất lượng giáo dục, sau đó đánh giá khách quan còn tạo
ra các yếu tố tâm lý tích cực cho đối tượng được đánh giá, động viên đối tượng được đánh giá vươn lên [28], [38]
- Đánh giá đảm bảo tính toàn diện: đòi hỏi phải đánh giá đầy đủ các mặt, các
khía cạnh cần đánh giá theo yêu cầu, mục đích của giáo dục Trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên về khối lượng và chất lượng chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng thuộc về các môn học; về kết quả phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, ý thức, thái độ …trong đó, chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức Đánh giá toàn diện cho phép xem xét đối tượng được đánh giá một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, tránh sự đánh giá phiến diện [28], [38]
- Đánh giá đảm bảo tính hệ thống: đòi hỏi phải tiến hành đánh giá liên tục và
đều đặn theo kế hoạch nhất định Đánh giá có hệ thống sẽ giúp cho việc thu thập thông tin đầy đủ, rõ ràng, tạo cơ sở để đánh giá một cách toàn diện, giúp cung cấp cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đầy đủ những thông tin để điều chỉnh kịp thời các hoạt động giáo dục [28], [38]
- Đánh giá đảm bảo tính phát triển: đòi hỏi đánh giá phải tạo ra động lực để
thúc đẩy đối tượng được đánh giá vươn lên Có tác dụng thúc đẩy các mặt tốt, hạn
chế mặt tiêu cực Trân trọng sự cố gắng của người học, đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của họ Cần đảm bảo tính công khai trong đánh giá [28], [38]
- Đánh giá đảm bảo tính dân chủ, công bằng trước tập thể sinh viên nhằm đảm
bảo rằng những sinh viên thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và
thể hiện cùng một nỗ lực trong học tập sẽ thu được những kết quả như nhau Một số
Trang 23quy tắc thực hiện nguyên tắc công bằng [38]:
+ Giúp mỗi sinh viên có thể tích cực vận dụng phát triển kiến thức và kĩ năng
đã học
+ Hình thức các bài tập, bài kiểm tra là quen thuộc với sinh viên
+ Ngôn ngữ sử dụng để kiểm tra rõ ràng đơn giản không mang hàm ý đánh đố sinh viên
+ Việc chấm điểm hay ghi nhận xét kết quả phản ánh đúng khả năng của sinh viên
Có như vậy, việc đánh giá sẽ đạt được độ tin cậy cao, chuẩn mực hơn, giúp cho sinh viên nhận ra những điểm yếu của mình một cách nhanh chóng và kịp thời cải thiện, sửa chữa
- Đánh giá đảm bảo tính công khai: khi đánh giá sinh viên cần phải được biết
các yêu cầu, các tiêu chuẩn đánh giá mà các em sẽ thực hiện Đồng thời sinh viên cũng cần được biết cách tiến hành các nhiệm vụ ấy để đạt được tốt hơn các tiêu chí và yêu cầu đã định [38]
- Đánh giá đảm bảo tính giáo dục: việc đánh giá nhất thiết phải góp phần vào
việc nâng cao ý thức học tập cho sinh viên Thông qua đánh giá sinh viên nhận ra được sự tiến bộ của mình từ đó cố gắng hơn trong môn học [38]
1.2.4.4 Công c ụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
- Đánh giá chuyên cần: là điểm điều kiện để các bạn sinh viên được tham gia
kì thi lần 1 Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì sinh viên nghỉ quá 20% số
tiết học thì sẽ không được thi môn đó Giáo viên đánh giá chuyên cần dựa vào số buổi tham gia lớp và tinh thần tham gia của sinh viên trong tiết học và các giờ thảo luận
Việc sinh viên đi học chuyên cần là cần thiết để tiếp thu những kiến thức cơ bản từ giáo viên Trên cơ sở đó, sinh viên tự nghiên cứu và trình bày ý kiến của mình trong các buổi thảo luận Vì vậy, việc đánh giá tính chuyên cần sẽ tạo điều kiện cho sinh viên nắm được những nội dung cơ bản của môn học và định hướng tự nghiên cứu [37]
- Ki ểm tra trắc nghiệm hay còn gọi là trắc nghiệm khách quan (objective test):
là công cụ để khảo sát trình độ học tập của học sinh, có 4 đặc điểm cơ bản: tính tin
Trang 24+ Tính giá trị: một bài trắc nghiệm có giá trị khi nó đáp ứng được mục đích đề ra
Nếu mục đích nhằm đo lường trình độ tiếp thu khối lượng kiến thức của sinh viên về một môn học thì những điểm số từ bài trắc nghiệm của sinh viên phải phản ánh đúng khả năng lĩnh hội của sinh viên về môn học đó Tùy mục đích khảo sát khác nhau mà có những loại giá trị khác nhau của trắc nghiệm: giá trị nội dung, giá trị chương trình, giá trị mục tiêu và giá trị tiên đoán [33]
+ Độ khó của câu trắc nghiệm: Độ khó cao thể hiện ở số người thực hiện ít, ngược lại, mọi người đều làm được thì độ khó thấp [27]
+ Độ phân biệt: một bài trắc nghiệm tốt thể hiện ở dộ phân cách hợp lý, tức là phân biệt được sinh viên giỏi, khá, trung bình hay yếu, kém [27]
- Ki ểm tra tự luận: là công cụ để khảo sát tính chuyên cần của học sinh vì có
thể sử dụng ngay trong lúc giảng, ngoài ra còn khảo sát kỹ năng viết, suy luận, diễn
giải Tuy nhiên, kiểm tra tự luận thường đòi hỏi nhiều thời gian để viết bài cũng như
chấm bài Kiểm tra viết thường có 2 loại: luận đề và câu hỏi ngắn Luận đề có thời gian kiểm tra dài, đầu đề là câu hỏi về một vấn đề lớn, dàn bài thường gồm mở đề, thân bài và kết luận Loại câu hỏi ngắn có thời gian trả lời mỗi câu là 15 đến 20 phút,
học sinh được yêu cầu trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm, không cần viết nhập đề, kết
luận, các ý chính được gạch đầu dòng [33]
- Ki ểm tra nghe: là dạng bài kiểm tra kỹ năng nghe của sinh viên trong các
môn học ngoại ngữ Kiểm tra nghe thường có các phương tiện hỗ trợ giáo viên như: máy cát-xét, máy vi tính và loa, hoặc phòng Lab [42]
- Ki ểm tra nói, vấn đáp: thời gian kiểm tra rất linh động, có thể là đầu buổi học
(kiểm tra bài cũ), đang lúc giảng bài (đặt câu hỏi liên quan đến kiến thức cũ hay để phát hiện tình hình kiến thức của sinh viên), cuối bài học và trước khi thực hành thí nghiệm (củng cố bài học), hoặc kiểm tra định kỳ và cuối kỳ Kiểm tra vấn đáp gồm:
Trang 25kiểm tra cá nhân, kiểm tra đồng loạt và kiểm tra phối hợp Bài kiểm tra nói trong các môn ngoại ngữ có thể là một bài hội thoại sắm vai, một vở kịch ngắn, hoặc một bài thuyết trình [33], [48]
- Bài t ập nhóm, thảo luận nhóm: là phương pháp thu thập thông tin về một chủ
đề được xác định từ cuộc thảo luận giữa các thành viên có cùng một đặc điểm hoặc kinh nghiệm Cuộc thảo luận được dẫn dắt bởi một người điều hành sao cho các thành viên cùng tham gia vào cuộc thảo luận sôi nổi và tự nhiên Đặc điểm của công
cụ này là chủ đề thảo luận tập trung trong phạm vi hẹp, các thành viên có cùng đặc điểm hay kinh nghiệm Cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiều sinh viên Qua thảo
luận nhóm, các em sẽ hình thành kĩ năng làm việc nhóm, đặc biệt là tính năng động [43]
1.2.4.5 Quy trình c ủa việc đánh giá kết quả học tập [27], [28]
Đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn vì nó mang tính tổng hợp nhiều yếu tố Vì vậy để đánh giá chính xác một sinh viên, một lớp, hay một khóa học, điều đầu tiên người giáo viên phải làm là xây dựng quy trình, lựa chọn một phương pháp cũng như thu thập các thông tin cần thiết cho việc đánh giá
Quy trình ĐG kết quả học tập gồm 5 bước, được trình bày ở hình 1.1
Trình bày các tiêu chuẩn đánh giá
Thu thập các thông tin đánh giá
Đối chiếu các tiêu chuẩn với các thông tin
đã thu thập
Kết luận và đưa ra những quyết định
Xác định mục đích đánh giá
Trang 26Hình 1.1 Quy trình đánh giá kết quả học tập
Quy trình đánh giá kết quả học tập gồm 5 bước:
Bước 1: Xác định mục đích đánh giá
Vấn đề xác định mục đích đánh giá đòi hỏi phải xác định được đánh giá để làm gì? Kết quả đánh giá sẽ được sử dụng như thế nào? Ai sử dụng kết quả đánh giá này? Xác định xem quyết định nào sẽ được đưa ra Xác định cho được các lượng thông tin cần thiết qua các đợt thực nghiệm sư phạm, nghiên cứu chọn các mẫu thực nghiệm sư phạm thích hợp
Bước 2: Trình bày các tiêu chuẩn đánh giá
Trong giai đoạn này cần chỉ rõ mục tiêu đánh giá: các tình huống được đánh giá và các biến số; các mức độ đạt được mục tiêu và mức độ dao động của các biến
số Đánh giá sẽ càng có giá trị khi các tiêu chuẩn, đều rõ ràng, thích đáng tức là có thể đánh giá được đúng những gì cần đánh giá
Việc thông báo cho tất cả học viên được đánh giá để tạo ra sự thống nhất giữa người được đánh giá và người đánh giá
Bước 3: Thu thập các thông tin đánh giá
Đây là giai đoạn phức tạp nên cần chú trọng giai đoạn này Trên cơ sở mục đích, mục tiêu đã được xác định, cần thu thập các thông tin thích đáng Tùy theo quyết định đưa ra và những tiêu chí đã được công nhận để xác định những thông tin cần thu thập, những tình huống để đánh giá và những công cụ cần thiết Áp dụng các phương pháp và quy trình thích hợp cho việc thu thập thông tin qua thực nghiệm sự phạm, phương pháp xử lí, phân tích số liệu và giải thích các số liệu đó
Bước 4: Đối chiếu các tiêu chuẩn với các thông tin đã thu thập
Việc đối chiếu tiêu chuẩn với thông tin thu được cần lưu ý đến tỉ trọng giữa các tiêu chí Cần thận trọng đối với những nhận định có tính khái quát để tránh sự lạm dụng trong khái quát hóa các thông tin Việc đối chiếu các tiêu chuẩn với các thông tin sẽ đưa đến một hoặc nhiều kết luận
Bước 5: Kết luận và đưa ra những quyết định
Nhận xét kết quả thu thập: Thông qua kết quả của điểm số, các số liệu thu thập
Trang 27được qua thực nghiệm sư phạm để từ đó đánh giá xem vấn đề đưa ra (được thực nghiệm) là quá dễ hay quá khó? Có phù hợp với sinh viên hay không? Từ đó cần phải điều chỉnh, bổ sung vần đề nào, phần nào, bài học nào? Dựa trên số liệu thu thập đó người điều tra đi đến kết luận là cần phải thay đổi, hoàn thiện, phương pháp dạy học
của mình như thế nào để chất lượng học tập của sinh viên được nâng cao Như vậy,
với tư cách kiểm tra đánh giá theo phương pháp trắc nghiệm khách quan, thông qua các đợt thực nghiệm sư phạm, cụ thể là các kết quả thu thập được, chúng ta có cơ sở
để đánh giá tương đối chính xác và đi đến những kết luận cụ thể Hình thành những kết luận cuối cùng một cách thật chính xác trước khi quyết định công bố kết luận đánh giá
Quyết định để cải tiến, hoàn thiện nội dung đào tạo:
- Quyết định có liên quan đến cá nhân: xác định nhu cầu của mỗi người học, đánh giá sinh viên với mục đích tuyển chọn hay phân loại, làm cho sinh viên hiểu được khả năng của họ so với yêu cầu chung
- Quyết định về mặt hành chính: đánh giá hệ thống tổ chức của nhà trường, của thầy giáo và quy trình thực hiện
1.2.4 6 Nội dung đánh giá kết quả học tập
Đánh giá kiến thức: Theo Bloom, mục tiêu giáo dục ở lĩnh vực nhận thức
được chia làm 6 phạm trù chính yếu sau đây [24], [38]:
- Biết: là sự nhớ lại, hồi phục lại các nội dung kiến thức đã học, đã tiếp cận trước đó Nhận biết được thể hiện bằng số lượng kiến thức sinh viên đã tích lũy được bằng trí nhớ của bản thân
- Thông hiểu: là sự nắm vững bản chất các vấn đề học tập, biết rõ nguồn gốc phát sinh, quy luật phát triển, các dấu hiệu đặc trưng của các hiện tượng nghiên cứu Khi thông hiểu sinh viên có thể giải thích được các vấn đề, có thể đưa ra được các định nghĩa riêng
- Vận dụng: là khả năng áp dụng kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề thực tế, để làm một công việc cụ thể, đó là quá trình chuyển hóa kiến thức thành kỹ năng hoạt động, vận dụng làm cho kiến thức trở nên vững chắc hơn
- Phân tích: là thao tác chia nhỏ vấn đề, đi sâu vào từng khía cách, từng phương
Trang 28Đánh giá kỹ năng: là đánh giá khả năng thực hiện có kết quả hoạt động trên
cơ sở tri thức có được Đánh giá thể hiện các mức độ sau [24], [38]:
- Làm theo mẫu: là quan sát bắt chước, phỏng theo nguyên bản cách làm của người hướng dẫn để tạo ra sản phẩm
- Thao tác hóa là mức độ thực hiện công việc theo đúng các yêu cầu bằng trí nhớ của bản thân
- Chính xác hóa là mức độ làm việc tự tin, có sự kiểm soát của ý thức, không cần sự hỗ trợ của người khác
- Liên kết là sự phối hợp, điều chỉnh, phát triển các thao tác, đáp ứng các mục tiêu, để hoàn thành tốt công việc đang làm
- Tự động hóa là mức độ thuần thục, kỹ xảo, tạo ra được sản phẩm, không cần
có sự tham gia của ý thức ở cấp độ chung nhất
Đánh giá thái độ: Thái độ là nét đặc trưng tâm lý cá nhân, là ý thức của cuộc
sống, là khâu trung gian giữa nhận thức và hành vi, mang mầu sắc tình cảm Đánh giá thái độ giúp sinh viên hình thành hệ thống thái độ tích cực với thực tiễn cuộc sống Các mức độ đánh giá như sau [24], [38]:
- Tiếp nhận: là chú ý lắng nghe, theo dõi những ý kiến chỉ dẫn, những tác động của nhà giáo dục
- Phản hồi: là những đáp lại tức thì trước những tác động của nhà giáo dục, biểu hiện bằng sự đồng tình, phân vân hay phản đối
- Xác định giá trị là quá trình phân tích, cân nhắc các giá trị, suy nghĩ nội tâm nên làm gì và làm như thế nào trước những yêu cầu, những tình huống đang xảy ra
Trang 29- Khái niệm hóa là quá trình phát triển hệ thống các giá trị, hình thành tri thức, hiểu biết, quyết định tuân theo một định hướng
- Chủ thể hóa: là quá trình hình thành ý thức, hành vi, niềm tin, có hệ thống, ổn định, bền vững, trở thành triết lý cuộc sống của con người
1.2.5 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh
Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu kiểm tra, đánh giá đã đề ra Nói cách khác, quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh là tổng thể các công việc của cán bộ quản lý, giáo viên dạy Tiếng Anh và người học, bao gồm việc
đề ra cơ chế, chính sách, đề ra các giải pháp thực hiện, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra để thực hiện một cách tốt nhất tất cả các khâu trong quá trình KT, ĐG nhằm đánh giá chính xác kết quả học tập của người học và giúp cải thiện việc dạy và học Tiếng Anh [21]
Các yếu tố của quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh bao gồm: quá trình kiểm tra, đánh giá; chủ thể quản lý là người lãnh đạo – Hiệu trưởng, Hiệu phó, Trưởng phòng Đào tạo (đề ra cơ chế, chính sách, quy chế, quy định về kiểm tra, đánh giá) và cán bộ quản lý chuyên trách – Trưởng phòng Đào tạo, Trưởng phòng Khảo thí, Trưởng bộ môn Ngoại Ngữ - Tin học (vừa quản lý nhưng cũng vừa thực hiện trực tiếp); đối tượng bị quản lý gồm: cán bộ quản lý chuyên trách , giáo viên, người học, ); môi trường và điều kiện của quản lý kiểm tra, đánh giá: xã hội, trường đại học, trang thiết bị, thời gian, không gian, kinh phí Đồng thời, quản lý kiểm tra, đánh giá có mối quan hệ ràng buộc với các chức năng quản lý khác như: quản lý chương trình đào tạo, quản lý hoạt động dạy học, quản lý nhân sự, quản lý tài chính [21]
Hiệu quả của quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học chính là
hiệu quả của quá trình kiểm tra, đánh giá bao gồm hiệu quả của từng khâu Để quản
lý kiểm tra, đánh giá đạt hiệu quả cần có sự tác động của nhiều nhân tố, đó là: trách nhiệm của giáo viên, cán bộ quản lý, người học; nghiệp vụ của cán bộ; chính sách,
Trang 30quy định, hướng dẫn, sự chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra của các cấp quản lý Ngoài ra,
bối cảnh xã hội cũng có ảnh hưởng nhất định tới quản lý kiểm tra, đánh giá Nhà quản
lý cần quan tâm đầy đủ đến các nhân tố đó [21]
1.2.6 Các cấp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục cao đẳng, đại học
Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục cao đẳng, đại học thường gồm 4 cấp, được trình bày trong hình 1.2
Các nguyên t ắc, chính sách, quy ch ế
Công nh ận và khen thưởng
Phát tri ển
cán b ộ Văn hoá khoa/ b ộ môn
Thi ết kế chương trình Đổi mới và phát tri ển
Các th ủ tục
Trang 31Cấp 4
Theo hình 1.2, cấp 1, 2 và 3 là các cấp quản lý thuộc trường chịu trách nhiệm quản lý kiểm tra, đánh giá trong phạm vi của trường Cấp 4 là cấp quản lý nhà nước, thông thường là Bộ Giáo dục và Đào tạo, chịu trách nhiệm quản lý ở tầm vĩ mô trong phạm vi toàn bộ hệ thống giáo dục đại học
Cấp 1: Những người thực hiện trực tiếp, bao gồm giáo viên và sinh viên với các công việc rất cụ thể Để thực hiện những công việc của mình, giáo viên và sinh viên phải tuân thủ nghiêm túc những quy định, quy chế của các cấp có thẩm quyền
Cấp 2: Khoa/ bộ môn quản lý trực tiếp và hỗ trợ quan trọng đối với các hoạt động ở cấp 1 Cấp này gồm 5 bộ phận: Văn hoá khoa/ bộ môn, Thiết kế chương trình, Đổi mới và phát triển, Phát triển cán bộ, Các thủ tục
Cấp 3: Nhà trường là cấp quản lý cao nhất trong trường đại học, cao đẳng Ở
cấp này, vai trò cá nhân của người đứng đầu rất quan trọng Cấp này gồm 3 bộ phận: Các nguyên tắc, chính sách và quy chế, Nguồn lực và kinh phí, Sự công nhận và khen thưởng
Cấp 4: Quản lý nhà nước quản lý kiểm tra, đánh giá chủ yếu thông qua việc ban hành các chính sách, quy chế, và giám sát việc thực hiện các quy định đó Cấp này gồm 2 bộ phận: Chính sách và Giám sát thực hiện Việc phân cấp như trên chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào điều kiện, trình độ, văn hóa của mỗi quốc gia cũng như của mỗi trường đại học Tuy nhiên, việc liên kết các bộ phận và các cấp
phải đảm bảo hệ thống thực hiện đầy đủ 4 chức năng quản lý, đồng thời quản lý tốt
tất cả các khâu trong quá trình kiểm tra, đánh giá [21]
1.3 Lý luận về công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Tiếng Anh
1.3.1 Chủ thể quản lý của công tác quản lý kiểm tra, đánh giá
Các chủ thể quản lý của công tác quản lý kiểm tra, đánh giá gồm:
Thứ nhất là Hiệu trưởng: quản lý chung
Hình 1.2 Sự phân cấp quản lý KT, ĐG kết quả học tập trong giáo
dục Cao đẳng, Đại học [21]
Trang 32Thứ hai là Hiệu phó: quản lý việc soạn thảo công cụ kiểm tra, đánh giá
Thứ ba là Trưởng Phòng Đào tạo: lập kế hoạch, quản lý việc tổ chức, thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá của giáo viên, quản lý việc thực hiện kế hoạch dạy học,
quản lý chung việc chấm điểm, vào điểm và lưu điểm, quản lý kết quả học tập của sinh viên, quản lý phần mềm quản lý điểm
Thứ tư là Phó Phòng Đào tạo (kiêm Trưởng Ban Khảo thí): quản lý Phòng
Khảo thí, thực hiện soạn thảo và in ấn đề thi, quản lý việc chấm điểm, vào điểm và lưu điểm thi, quản lý phần mềm trắc nghiệm và phần mềm chấm điểm tự động
Thứ năm là Trưởng khoa Khoa học cơ bản và Trưởng bộ môn Ngoại ngữ - Tin
học: quản lý việc soạn thảo công cụ kiểm tra, đánh giá từ giáo viên bộ môn, quản lý
việc chấm điểm, vào điểm và lưu điểm của giáo viên bộ môn, quản lý kết quả học
tập, thi lại và học lại môn Tiếng Anh của sinh viên
1.3.2 Mục tiêu quản lý
Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên nhằm xác định được kết quả của hoạt động dạy học của bộ môn này Dựa vào đó để phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
1.3.3 Nội dung quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
Việc quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai bao gồm những nội dung sau:
- Quản lý việc soạn thảo công cụ kiểm tra, đánh giá (soạn đề thi, xây dựng ngân hàng câu hỏi, chọn đề thi)
- Quản lý việc tổ chức, thực hiện công tác kiểm tra kết quả học tập
- Quản lý việc chấm điểm, vào điểm và lưu điểm của giáo viên
- Quản lý kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên: điểm thi, kiểm tra; danh sách sinh viên thi lại, học lại môn Tiếng Anh
- Quản lý việc thực hiện kế hoạch dạy học của giáo viên
1.3.4 Chức năng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Tiếng Anh
Trang 331.3.4.1 Ch ức năng hoạch định (Kế hoạch hoá - Planning)
Là chức năng cơ bản nhất, chức năng này định hướng toàn bộ các hoạt động
của qúa trình quản lý, là cơ sở để nhà quản lý huy động tối đa các nguồn lực phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu, là căn cứ để kiểm tra, đánh giá qúa trình thực hiện
mục tiêu và là căn cứ để kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ của tổ chức
của đơn vị mình
Đối với trường cao đẳng, đại học, Hiệu trưởng là người trực tiếp chỉ đạo lập kế
hoạch “quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập” Trưởng Phòng Đào tạo lên kế
hoạch Khoa chủ động đề xuất cách thức thực hiện, thời gian thực hiện và thành phần tham gia thực hiện kế hoạch đã đề ra [24]
Để việc chỉ đạo lập kế hoạch được khả thi phải đặc biệt quan tâm tới nhân tố
thực thi kế hoạch, đó là đội ngũ cán bộ, giảng viên và sinh viên trong Nhà trường Đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, cần phải lập kế hoạch bằng văn bản,
gồm các yếu tố sau [1]:
- Dự báo tình hình nhân sự trong bộ môn mỗi học kỳ
- Dự báo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: đề bạt nhân sự nào cần được học tập nâng cao trình độ cho phù hợp với tình hình thực tế
- Dự báo tình hình học tập của sinh viên thông qua kết quả đầu vào
- Dự báo chất lượng học tập của sinh viên dựa vào trường sinh viên học khi tốt nghiệp trung học
- Xác định mục tiêu giảng dạy, mục tiêu kiểm tra, đánh giá môn học
- Xác định mục tiêu học tập cho sinh viên thông qua tập bài giảng của giáo viên
- Dựa vào các dự báo và việc xác định rõ mục tiêu như trên chủ thể quản lý lập
kế hoạch quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của sinh viên
Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai Nội dung kế hoạch quản lý gồm: mục tiêu quản lý; các nội dung quản lý (quản lý việc xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá; quản lý việc
tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá; quản lý kết quả của công tác kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập môn Tiếng Anh); biện pháp quản lý; người thực hiện
1.3.4.2 Ch ức năng tổ chức (Organizing)
Trang 341.3.4.3 Ch ức năng chỉ đạo (Leading)
Chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo một định hướng nhất định, liên kết động viên người dưới quyền hoàn thành nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức
Chủ thể quản lý chỉ đạo cho đối tượng quản lý thực hiện các nội dung công
việc đã được đưa vào kế hoạch
Dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng, Phòng Đào tạo lên kế hoạch, các khoa triển khai kế hoạch cụ thể đến từng khoa, từng bộ môn và từng cá nhân Trong việc tổ
chức chỉ đạo thực hiện phải phân định trách nhiệm rõ ràng, thời gian hoàn thành, đồng thời phải hỗ trợ phương tiện, cơ sở vật chất để họ có thể thực hiện tốt kế hoạch
đã đề ra
Trong quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch, bên cạnh những quy định mang tính chất hành chính thì Phòng Đào tạo phải biết khơi gợi sự nhiệt tình, sự đam mê và sáng tạo của từng cá nhân, bộ phận bằng những cuộc hội thảo khoa học với chủ đề
“Đổi mới phương pháp dạy học”, “Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá” ; luôn
chú ý tới các mâu thuẫn, tới những khó khăn xuất hiện ở nội bộ, cũng như những tác động bên ngoài để điều chỉnh hoặc bổ sung kế hoạch cho phù hợp; tìm được những tình huống tối ưu trước những tình huống xấu, giảm thiểu những tác động ảnh hưởng gây tác hại đến sự phát triển của Nhà trường [24]
1.3.4.4 Ch ức năng kiểm tra – đánh giá (Controlling)
Chức năng này đòi hỏi chủ thể quản lý phải theo dõi, giám sát quá trình hoạt động từ đó tiến hành đôn đốc, uốn nắn, điều chỉnh cho phù hợp để đạt được mục tiêu
đã định
Chủ thể quản lý kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đã được xây dựng
Công tác ki ểm tra cần đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau [24]:
Xây dựng chuẩn thực hiện: Tiêu chuẩn là cơ sở để đo lường kết quả (ví dụ như
Trang 35chuẩn đánh giá giảng viên, chuẩn đánh giá sinh viên, chuẩn một bài kiểm tra cuối kì, chuẩn câu hỏi tự luận,…) và cần phải xác định rõ chuẩn để thực hiện Trong công tác
quản lý của Phòng Đào tạo, thực hiện chức năng chỉ đạo kiểm tra thường sử dụng các
biện pháp đo lường như: Dự giờ, quan sát, nghiên cứu so sánh…
Công tác đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn [24]:
Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn: Là cơ sở để đánh giá
những công việc cụ thể có phù hợp với chuẩn không; nếu phù hợp thì đạt mức nào và
tuỳ theo mức độ mà có những kế hoạch tiếp theo để phát huy nhân tố tích cực, điều
chỉnh các biện pháp chỉ đạo hay xử lý các vi phạm
Trong công tác kiểm tra-đánh giá, nếu có chênh lệch thì điều chỉnh hoạt động; trong trường hợp cần thiết thì điều chỉnh mục tiêu; nếu việc thực hiện đạt kết quả
thấp, chưa đạt tiêu chuẩn, mục tiêu đề ra thì Phòng Đào tạo cần xác định rõ nguyên nhân và chỉ đạo điều chỉnh, sửa chữa uốn nắn kịp thời Sau khi điều chỉnh phải đo lường lại kết quả và đánh giá mức độ sửa chữa thực tế
1.3.5 Phương pháp quản lý
Thông qua kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, cán bộ quản lý, giáo viên có thể làm căn cứ để đánh giá bởi vì kết quả học tập của sinh viên chính là
kết quả giảng dạy của giáo viên và cũng nhờ có kết quả kiểm tra, đánh giá học tập
của sinh viên mà điều chỉnh quá trính dạy học Mặt khác, thông qua việc kiểm tra nghiêm túc, đánh giá công bằng và khách quan giúp người dạy điều chỉnh hoạt động
dạy của mình, kích thích tính tự giác học tập của người học Để quản lý tốt cần phải
tiến hành theo các phương pháp sau:
1.3.5.1 Phương pháp hành chánh
Phương pháp này được Ban Giám hiệu sử dụng để:
- Ra các mệnh lệnh bằng văn bản dựa trên thẩm quyền đã được quy định trong các văn bản pháp quy
- Kiểm tra kế hoạch kiểm tra đánh giá của Phòng Đào tạo, Bộ môn Ngoại Ngữ
- Tin học thông qua các văn bản đầu năm học, định kỳ
- Thu thập thông tin từ các bảng điểm, các báo cáo bằng văn bản để đánh giá,
Trang 36phát hiện những yếu tố tích cực, đo chính xác mức độ sai lệch nhằm điều chỉnh cách
dạy, cách kiểm tra, đánh giá cho phù hợp
Đây là phương pháp quan trọng nhất, nó giúp cho các cán bộ quản lý thực hiện
tốt các kế hoạch đã đề ra Nhờ vào phương pháp này, các cán bộ quản lý có thể:
- Lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá từ đầu học kỳ
- Thông báo, truyền đạt mệnh lệnh cho cấp dưới thực hiện
- Hướng dẫn, động viên, giúp đỡ nhân viên thực hiện mệnh lệnh
- Tổ chức, xếp lịch dự giờ giảng giáo viên, đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá
- Quản lý kế hoạch kiểm tra của giáo viên; kế hoạch kiểm tra giữa học kỳ, cuối
học kỳ và hết năm học; yêu cầu chấm, trả bài đúng thời hạn, có sửa chữa hướng dẫn cho người học; phân công bộ máy quản lý tổng hợp tình hình kiểm tra đánh giá kết
quả học tập theo định kỳ [24]
- Quản lý hoạt động học thông qua phản ánh của đội ngũ người dạy về kết quả
học tập rèn luyện của người học [24]
- Thông qua việc tổ chức các kỳ thi để đánh giá đúng thực chất kết quả học tập
của người học, từ đó có kế hoạch phụ đạo cho người học yếu kém về học lực, phát
hiện và bồi dưỡng kịp thời những người học có năng khiếu [24]
- Dự giờ thăm lớp, kiểm tra hướng dẫn thực hiện kế hoạch bài học
- Tổ chức chuyên đề về việc dạy các môn học theo chuyên ngành
- Tổ chức thao giảng, hội thi tạo điều kiện cho người dạy có điều kiện học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau
- Tạo điều kiện về tinh thần, vật chất, tài chính cho người dạy tự học, tự bồi dưỡng, tham dự các lớp bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên đề về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trang 37- Tổ chức cho giáo viên học tập nắm vững quy định về kiểm tra, thi, ghi điểm,
cộng điểm, đánh giá, xếp loại học lực của học sinh
- Tổ chức kiểm tra, thi đúng quy chế
- Quy định giáo viên chấm bài, trả bài đúng thời hạn, có nhận xét chung cho toàn lớp và lời phê riêng cho từng bài kiểm tra, khi trả bài cần yêu cầu sinh viên tự
sửa lỗi trong bài kiểm tra
- Quy định giáo viên thực hiện đúng việc ghi điểm, sửa chữa điểm trong sổ điểm, chế độ bảo quản, lưu trữ sổ điểm lớp, việc ghi điểm, ghi nhận xét vào học bạ
của sinh viên Đây là công việc đòi hỏi chính xác và nghiêm túc, cần quy định trách nhiệm rõ ràng
1.3.7 Phương tiện quản lý
Các phương tiện được các cán bộ quản lý và giáo viên sử dụng gồm:
Kết quả của công tác quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh
của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai được thể hiện ở khả năng thực sự về
môn học ấy của chính sinh viên
1.3.9 Các yếu tố ảnh hưởng quản lý kiểm tra, đánh giá
1.3.9.1 Các y ếu tố tích cực
- Giảng dạy theo mục tiêu bài học
Trang 38- Sinh viên học tập tích cực, tham gia góp ý, xây dựng bài
- Sinh viên đi học chuyên cần, có tinh thần tự học, tự giác cao
- Khả năng truyền đạt của giáo viên tốt
- Khả năng truyền đạt của sinh viên tốt
- Thời gian tổ chức kiểm tra, đánh giá phù hợp
- Nội dung kiểm tra, đánh giá theo đúng với mục tiêu bài học
- Nội dung kiểm tra, đánh giá phù hợp với trình độ sinh viên
- Hình thức kiểm tra, đánh giá
1.3.9.2 Các y ếu tố tiêu cực
- Giáo viên không ôn tập trước khi thi, kiểm tra
- Sau kiểm tra sinh viên không được sửa bài
- Sinh viên không nghiêm túc: quay cóp, hỏi bài trong khi làm bài kiểm tra
- Thời gian kiểm tra, đánh giá không phù hợp
- Nội dung kiểm tra, đánh giá không phù hợp với trình độ sinh viên
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊNTRƯỜNG
CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG NAI 2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
2.1.1 Đặc điểm tình hình
Tháng 10 năm 1977 Trường Trung cấp Y tế Đồng Nai được Ủy ban Nhân dân
tỉnh Đồng Nai ký quyết định thành lập với nhiệm vụ đào tạo y sĩ đa khoa, điều dưỡng, hộ sinh, dược sĩ trung cấp cho tỉnh Đồng Nai và các tỉnh lân cận Từ ngày 01/02/2007 theo Quyết định số 662/QĐ-BGD&ĐT , Trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
Trên 35 năm hoạt động Trường đã đào tạo được cho tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà
Rịa Vũng Tàu và các tỉnh trong khu vực hơn 25.000 cán bộ y tế Riêng quy mô đào
tạo của Nhà trường từ năm 2007 đến nay được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Quy mô đào tạo của Nhà trường từ năm 2007 đến nay
Trang 40đáp ứng nhu cầu đào tạo theo năng lực Quy mô đào tạo tăng hàng năm, hiện tại trung bình 3.500 HSSV/năm Đội ngũ cán bộ giảng viên phát triển về trình độ và số lượng, tin học hóa công tác học tập và giảng dạy, học sinh sinh viên ra trường đa số được các cơ sở y tế trong và ngoài tỉnh sử dụng Nhiệm vụ đào tạo luôn được hoàn thành
tốt và được cấp trên đánh giá cao
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường
2.1.2.1 Ban Giám hiệu
Đứng đầu Nhà trường là Hiệu trưởng Hiệu trưởng là người đại diện toàn diện cho Nhà trường trước xã hội và pháp luật, là người có thẩm quyền cao nhất trong Nhà trường, là người có trách nhiệm đề ra đường lối, chủ trương lớn về phát triển mọi mặt
- Phòng Đào tạo: có chức năng tham mưu cho Hiệu trưởng về mặt tổ chức đào
tạo, tiến hành tổ chức thực hiện công tác giảng dạy và học tập đối với tất cả các hệ đào tạo chính quy, từ kế hoạch tổng thể đến thời khoá biểu hàng tuần Phối hợp với các trưởng khoa trong việc huy động, bố trí lực lượng giảng viên Tiến hành tốt các công việc từ tuyển sinh đến kiểm tra, thi cử, tốt nghiệp Quản lý các hồ sơ, cơ sở dữ
liệu về đào tạo của Trường Cung cấp các nhận xét, kết quả học tập của sinh viên Theo dõi tình hình giảng dạy của giáo viên, giúp Ban Giám hiệu thực hiện đầy đủ chế
độ thù lao, khen thưởng đối với người dạy Phối hợp với Phòng Công tác học sinh sinh viên trong việc tính điểm rèn luyện Phối hợp với Phòng Tài chính kế toán theo dõi việc thu học phí, lệ phí