1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu ca từ của nhạc sĩ trẻ (qua các ca khúc tiếng việt được yêu thích trên trang mạng mp3 zing vn trong năm 2012)

341 366 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 341
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mối quan hệ giữa ca từ với thơ ca và âm nhạc; vai trò, chức năng và đặc trưng của ca từ; hình tượng ca từ và các phương thức xây dựng hình tượng ca từ; tính khuynh hướng trong ca từ; tín

Trang 1

Nguy ễn Ngọc Hồng Quyên

TRÊN TRANG M ẠNG MP3.ZING.VN TRONG NĂM 2012)

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

Nguy ễn Ngọc Hồng Quyên

TRÊN TRANG M ẠNG MP3.ZING.VN TRONG NĂM 2012)

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Hoàng đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn quý thầy cô đã hết lòng giảng dạy chúng tôi trong bốn năm đại học và hai năm cao học vừa qua Đặc biệt, xin gửi lời tri ân đến PGS TS Dư Ngọc Ngân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

và tác giả Chân thành cảm ơn nhạc sĩ Hoàng Huy Long đã góp một số ý kiến về chuyên môn cho luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành các môn học trong chương trình cao học và hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Lời cảm ơn

Mục lục

Quy ước trình bày chú nguồn

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 10

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ TRẺ ĐƯỢC KHẢO SÁT 10

1.1 Khái quát về ca từ trong ca khúc 10

1.1.1 Khái niệm “ca từ”, “ca khúc” 10

1.1.2 Vai trò của ca từ 10

1.1.3 Tính chất của ca từ 12

1.2 Quan hệ giữa ca từ với âm nhạc và với thơ ca 15

1.2.1 Quan hệ giữa ca từ với âm nhạc 16

1.2.2 Quan hệ giữa ca từ với thơ ca 17

1.3 Hình tượng ca từ và các phương thức xây dựng hình tượng ca từ 19

1.3.1 Hình tượng ca từ 19

1.3.2 Các phương thức xây dựng hình tượng ca từ 20

1.4 Tổng quan về các ca khúc của nhạc sĩ trẻ được khảo sát 23

1.5 Tiểu kết 29

Chương 2 31

CA TỪ CỦA NHẠC SĨ TRẺ XÉT Ở CÁC BÌNH DIỆN NGỮ ÂM, TỪ

Trang 5

VỰNG – NGỮ NGHĨA, CÚ PHÁP 31

2.1 Đặc điểm ngữ âm trong ca từ của nhạc sĩ trẻ 31

2.1.1 Sự chi phối của âm nhạc đối với ngữ âm của ca từ 31

2.1.2 Các biện pháp tu từ ngữ âm 36

2.2 Đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa trong ca từ của nhạc sĩ trẻ 39

2.2.1 Một số vấn đề về dùng từ 39

2.2.2 Đặc điểm tu từ từ vựng – ngữ nghĩa 48

2.3 Đặc điểm cú pháp trong ca từ của nhạc sĩ trẻ 69

2.3.1 Đặc điểm cấu tạo cú pháp 69

2.3.2 Đặc điểm tu từ cú pháp 75

2.4 Tiểu kết 84

Chương 3 86

CA TỪ CỦA NHẠC SĨ TRẺ XÉT Ở CẤP ĐỘ VĂN BẢN 86

3.1 Về tên ca khúc 86

3.1.1 Mối quan hệ giữa tên ca khúc và nội dung ca khúc 86

3.1.2 Đặc điểm của tên ca khúc 89

3.2 Cấu trúc văn bản ca khúc 93

3.3 Tiểu kết 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY CHÚ NGUỒN

số thứ tự của tài liệu trong danh mục Tài liệu tham khảo, số trang (nếu có)

Ví dụ: [22, 126]

- Nguồn ngữ liệu được ghi trong ngoặc tròn ( ), theo thứ tự lần lượt là: số thứ tự của

ngữ liệu trong Phụ lục 4, số trang

Ví dụ: (201, 124)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi con người Các ca khúc nhạc trẻ cũng vậy, nó là sản phẩm của những con người “trẻ”, đối tượng phục

vụ của nó cũng là những con người “trẻ” và nó chắc chắn có những điểm riêng Với

vị trí, tầm quan trọng như vậy, cộng với những nét riêng biệt mà nó có, các ca khúc nhạc trẻ hiện nay xứng đáng trở thành một đối tượng để nghiên cứu, tìm hiểu

Một ca khúc bao giờ cũng có hai phần: phần lời (ca từ) và phần nhạc Mỗi phần đều có vị trí, vai trò riêng và chúng làm nên sức hấp dẫn cũng như giá trị của một ca khúc Nói đến vị trí của ca từ trong ca khúc thì ta có thể nói: Thông qua ca

từ, người nghe bình thường mới hiểu một cách cụ thể, tường tận những gì mà nhạc

sĩ muốn gửi gắm, chuyển tải Tuy nhiên, thực tế hoạt động âm nhạc hiện nay cho thấy, các nhà sản xuất, ca sĩ, nhạc sĩ trẻ đang có xu hướng ít chú trọng vào phần lời của ca khúc mà dường như tập trung vào phần nhạc và những phần phụ họa (như nhảy múa, trang phục, bối cảnh trên sân khấu hay MV (music video – phim ảnh cho một bản nhạc)

Ca từ trong ca khúc của các nhạc sĩ trẻ có thể coi là một vấn đề thời sự, bởi cùng một hiện tượng là lời bài hát nhưng lại tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, phê phán có, bảo vệ có, trung hòa có Chúng ta dễ dàng quan sát được điều này trên các trang báo in, các trang mạng, các cuộc thảo luận trên đài phát thanh, đài truyền hình, v.v…

Trước thực tế này, chúng tôi chọn “Tìm hiểu ca từ của nhạc sĩ trẻ (Qua các

ca khúc tiếng Việt được yêu thích trên trang mạng mp3.zing.vn trong năm 2012)”

làm đề tài nghiên cứu Chúng tôi mong muốn sẽ chỉ ra được những đặc điểm nổi bật

về ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ trẻ, thấy được cái gì làm nên bản thân nó và phân biệt nó với những cái khác Chúng tôi cũng hi vọng đây sẽ là một cơ sở để có cái nhìn chính xác về ca từ trong các ca khúc hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Trang 8

Vấn đề ca từ trong ca khúc không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, giới chuyên môn mà còn của đông đảo xã hội bởi vì âm nhạc là một món ăn tinh thần không thể thiếu và rất gần gũi, thiết thân với mỗi người Kết quả của sự quan tâm này là một số sách - chuyên luận, một số lượng lớn bài viết và các cuộc trao đổi, thảo luận trên các phương tiện thông tin đại chúng

Đã có nhiều bài viết với những ý kiến khác nhau về ca từ trong các ca khúc hiện nay, tuy nhiên đó là những cái nhìn văn hóa - xã hội, có khi mang tính chủ quan của người viết Bên cạnh đó, cũng đã xuất hiện những công trình, bài viết nghiên cứu ca từ theo hướng ngôn ngữ học nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài (nghiên cứu về ca từ Trịnh Công Sơn chẳng hạn)

Về sách, theo chúng tôi biết, sớm nhất trong nước là cuốn Ca từ trong âm

nhạc Việt Nam của Dương Viết Á, Nxb Âm nhạc, 2005 Cuốn sách gồm ba phần

mối quan hệ giữa ca từ với thơ ca và âm nhạc; vai trò, chức năng và đặc trưng của

ca từ; hình tượng ca từ và các phương thức xây dựng hình tượng ca từ; tính khuynh hướng trong ca từ; tính dân tộc trong ca từ; chủ thể cảm xúc trong ca từ; tên gọi tác phẩm; hệ thống từ ngữ đóng vai trò phụ trong ca khúc (mà tác giả gọi là “lời dẫn giải”); từ ngữ trong ca từ; và soạn lời mới theo các làn điệu dân ca Phần ba là ca từ tuyển chọn Đây là cuốn sách trình bày những vấn đề chung mang tính lí thuyết về

ca từ

Tiếp đó là cuốn Trịnh Công Sơn – ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật

của Bùi Vĩnh Phúc, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008 Cuốn sách đã nghiên cứu ca từ của một tác giả cụ thể - Trịnh Công Sơn Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu thế giới nghệ thuật của Trịnh Công Sơn, tác giả còn dành hẳn một chương để nói về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ Ca từ Trịnh Công Sơn trước hết là những bài thơ Những bài thơ này được làm mới bằng nhiều biện pháp ngôn ngữ: dùng từ mới lạ, sử dụng những biện pháp tu từ (nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, câu hỏi tu từ), tỉnh lược, bỏ lửng, cấu trúc đối xứng

Gần đây nhất là Nguyễn Thị Bích Hạnh với cuốn Biểu tượng ngôn ngữ trong

Trang 9

ca từ của Trịnh Công Sơn, Nxb Khoa học xã hội, 2009 Ở công trình này, tác giả

nghiên cứu hệ thống biểu tượng bằng ngôn ngữ trong ca từ Trịnh Công Sơn dưới góc độ văn hóa học và ngữ nghĩa học để tìm ra những lớp ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng

Về luận văn, năm 2007 có luận văn thạc sĩ Đặc điểm phong cách ngôn ngữ

trong ca từ của Trịnh Công Sơn của Bùi Thị Minh Thuỳ, Đại học Quốc gia Thành

phố Hồ Chí Minh Luận văn nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ vào trong lời ca, cụ thể là cách sử dụng các phương tiện ngữ âm, từ vựng, cú pháp trong ca từ của Trịnh Công Sơn Qua đó, tác giả luận văn xác định đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhạc sĩ này

điểm ngôn ngữ của ca từ cải lương của tác giả Đỗ Quốc Dũng, Đại học Quốc gia

Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của ca từ cải lương ở các mặt: ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và cú pháp Ngoài ra, luận văn còn

hệ thống hóa một số khái niệm của cải lương và đề ra hai phương pháp cơ bản trong việc tổ chức, xây dựng ca từ, đó là phương pháp sáng tác dựa theo quy tắc của luật bằng - trắc và phương pháp thay đổi trật tự âm tiết của ca từ

Cũng trong năm 2010, có luận văn thạc sĩ của Trần Thị Mỹ Liên, Đại học Sư

phạm TP Hồ Chí Minh: Ẩn dụ trong ca từ Trịnh Công Sơn dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận và luận văn thạc sĩ của Hàn Thị Thu Hường, Đại học Thái Nguyên: Phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn Ở luận văn thứ nhất, tác giả

vận dụng những lý thuyết về ẩn dụ tri nhận để tìm hiểu những ý niệm về tình yêu và cuộc đời trong ca từ Trịnh Công Sơn, từ đó đưa ra những nhận định về đặc điểm ngôn ngữ, về thế giới quan và nhân sinh quan của ông Ở luận văn thứ hai, tác giả tập trung xem xét phương thức so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn ở sự thể hiện và vai trò của nó, cụ thể là tác giả đã làm rõ các kiểu cấu trúc so sánh, đặc điểm của các yếu tố trong cấu trúc so sánh và vai trò của phương thức so sánh trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong ca từ của Trịnh Công Sơn

Trang 10

Như vậy, luận văn nghiên cứu về ngôn ngữ của ca từ chưa thật sự nhiều, chỉ

có một công trình nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của ca từ cải lương, một công trình tìm hiểu đặc điểm phong cách ngôn ngữ trong ca từ của một tác giả cụ thể và

theo lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận hay tập trung vào phương thức so sánh

bài phát biểu của một số cá nhân trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà nhiều nhất là trên các trang mạng Bài đăng trên tạp chí chuyên ngành là: “Ca từ trong ca

khúc hiện nay đôi điều suy nghĩ” của Phạm Văn Tình (2003), Ngôn ngữ và đời sống, số 1 và 2 Trong bài viết này, tác giả nhìn nhận ca từ trong ca khúc hiện nay

các ấn phẩm xuất bản năm 2002) ở ba phương diện: chủ đề, cấu tứ, lời ca cụ thể và phân tích theo kiểu một chiều – chỉ có khuyết điểm mà không có ưu điểm, chỉ có phủ nhận mà không có khẳng định Tuy nhiên, chúng tôi cũng học hỏi, kế thừa một

số ý kiến và sự phân tích những khuyết điểm của ca từ trong các ca khúc đương thời Những bài viết, bài phát biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng như:

ca từ trong ca khúc nhạc trẻ”, “Đôi lời gửi các nhạc sĩ trẻ của một nhà văn yêu nhạc”, “Nhạc sĩ Trần Tiến: Viết để cho người ta bay…”, “Thơ và ca từ”, v.v… nhìn

đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong các ca khúc hiện nay

Tóm lại, cho đến nay, công trình nghiên cứu về ca từ dưới góc độ ngôn ngữ học còn thưa thớt và chưa có một công trình nào nghiên cứu ca từ của nhạc sĩ trẻ theo hướng ngôn ngữ học Xuất phát từ quan niệm tiếp cận đối tượng một cách khoa học sẽ đem lại một kết quả đáng tin cậy, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích ngữ

Trang 11

liệu, từ đó tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong ca từ của nhạc sĩ trẻ Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ca từ của nhạc sĩ trẻ Đó là 377 ca từ

trong năm 2012 được chọn lọc theo các tiêu chí mà chúng tôi sẽ trình bày rõ ở mục tiếp theo (4 Nguồn ngữ liệu và phạm vi nghiên cứu)

3.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là: khảo sát, phân tích nguồn ngữ liệu để làm rõ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ trẻ hiện nay, cụ thể là đặc điểm về ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp và văn bản ở những nét cơ bản và nổi bật nhất, qua đó đưa ra những nhận xét bước đầu về việc sử dụng ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ trẻ ở Việt Nam hiện nay

4 Nguồn ngữ liệu và phạm vi nghiên cứu

4.1 N guồn ngữ liệu

Ở trang mạng http://mp3.zing.vn có mục “Nhạc Hot Việt” Trong năm 2012

có các ca khúc được xếp hạng “hot” theo từng tháng của năm Cụ thể là ở các mục:

“Nhạc Hot Việt Tháng …/2012 – Various Artists” viet-hot/IWZ9Z0C8.html)

(http://mp3.zing.vn/chu-de/nhac-Một ca khúc được xếp hạng “hot” trong tháng là ca khúc nhận được nhiều

luận văn này, chúng tôi xin được sử dụng cụm từ “được yêu thích” thay cho từ

“hot” – từ tiếng nước ngoài

Trong năm 2012 có tổng cộng 592 ca khúc được yêu thích, số lượng ca

+ Tháng 1: 44 + Tháng 2: 57 + Tháng 3: 43

+ Tháng 7: 49 + Tháng 8: 46 + Tháng 9: 43

Trang 12

+ Tháng 4: 43 + Tháng 5: 44 + Tháng 6: 44

+ Tháng 10: 63 + Tháng 11: 59 + Tháng 12: 57 Tuy nhiên, có hiện tượng lặp lại một số ca khúc ở danh sách của các tháng do

một ca khúc có thể được yêu thích trong nhiều tháng Số lượng các ca khúc lặp lại

là 71 Bởi vậy, tổng số ca khúc sẽ là: tổng các ca khúc của các tháng trừ đi số lượng các ca khúc lặp lại: 592 – 71 = 521

Cá biệt, có trường hợp hai ca khúc có tên hoàn toàn khác nhau mặc dù nội dung hoàn toàn giống nhau và cùng tác giả! Đó là trường hợp của ca khúc “Không

ai tuyệt vời như em” (trong danh sách Nhạc Hot Việt Tháng 4/2012, Bằng Cường thể hiện) và “Hãy để anh được yêu” (trong danh sách Nhạc Hot Việt Tháng 5/2012, Minh Tuấn thể hiện) đều là của tác giả Lương Ngọc Quý Bởi vậy, chúng tôi chỉ tính đến ca khúc xuất hiện trước – “Không ai tuyệt vời như em”

Trong tổng số ca khúc được yêu thích đó, chúng tôi chỉ khảo sát các ca

khúc của các nhạc sĩ trẻ Cụm từ “nhạc sĩ trẻ” ở đây được chúng tôi hiểu theo

cách thông thường và đơn giản là “nhạc sĩ trẻ về tuổi đời” Chúng tôi căn cứ vào Điều 1, Luật Thanh niên 2005 để giới hạn cái gọi là “trẻ về tuổi đời”: “là công dân

từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”; tức là chúng tôi chỉ khảo sát các ca khúc của

những người có độ tuổi từ 16 đến 30 tính theo mốc 2012 có năm sinh tương ứng là

từ 1982 đến 1996 (xem Phụ lục 5: Danh sách nhạc sĩ và số lượng ca khúc của từng nhạc sĩ được khảo sát) Nói cách khác, chúng tôi không khảo sát ca khúc của tác giả

có năm sinh dưới 1982 và trên 1996

Ngoài ra, chúng tôi không khảo sát các ca khúc có phần lời hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài, ca khúc nhạc ngoại lời Việt, ca khúc có tác giả khuyết danh

Số lượng ca khúc nằm ngoài phạm vi khảo sát theo hai tiêu chí vừa nêu là

144

Trang 13

Lấy tổng số ca khúc trừ đi số lượng ca khúc nằm ngoài phạm vi khảo sát, số

ca khúc được khảo sát là: 521 – 144 = 377

Như vậy, nguồn ngữ liệu của chúng tôi gồm 377 ca khúc của các nhạc sĩ trẻ

Các ca từ được lấy từ các ca khúc theo nguồn trên, được chúng tôi ghi lại và trình

4.2 P hạm vi nghiên cứu:

Ở đề tài “Tìm hiểu ca từ của nhạc sĩ trẻ (Qua các ca khúc tiếng Việt được yêu thích trên trang mạng mp3.zing.vn trong năm 2012)” này, chúng tôi tìm hiểu

đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ trẻ ở cả bốn phương diện: ngữ

âm, từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp và văn bản

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng các thủ pháp, thao tác và phương

- Thủ pháp thống kê, phân loại:

Dựa trên nguồn ngữ liệu đã nêu, chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại theo các đặc điểm ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp và văn bản Việc thống kê sẽ cho ra những số liệu cụ thể, từ đó có thể rút ra được những kết luận về đặc điểm ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp và văn bản trong ca từ của nhạc sĩ trẻ

- Thao tác phân tích - tổng hợp:

Sau khi thống kê, phân loại theo vấn đề, chúng tôi sử dụng thao tác phân tích

để thấy được cách sử dụng các yếu tố, đơn vị ngữ âm, từ vựng, cú pháp, văn bản, các biện pháp tu từ ở các cấp độ Sau khi phân tích, chúng tôi tổng hợp các đặc điểm tìm được thành các luận điểm chính của luận văn

- Phương pháp miêu tả:

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để giải thích, làm rõ các luận điểm, các

ví dụ minh họa trong luận văn Việc miêu tả sẽ làm rõ các đặc điểm trong cách sử dụng ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ trẻ

- Thủ pháp so sánh đối chiếu:

Trang 14

Chúng tôi so sánh, đối chiếu cách sử dụng ngôn ngữ ở các cấp độ trong ca từ của nhạc sĩ trẻ với cách sử dụng ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ lớn tuổi, tập trung

ở những điểm nổi bật Qua đó, chúng tôi tìm ra những điểm chung và riêng trong cách sử dụng ngôn ngữ của các nhạc sĩ trẻ và các nhạc sĩ lớn tuổi

6 Ý nghĩa của luận văn

- Về phương diện lý thuyết

tài và trình bày ở chương 1

pháp và văn bản

- Về phương diện thực tiễn

lĩnh vực hoạt động có nhiều tác động đến tầng lớp thanh niên và tài liệu tham khảo cho các nhạc sĩ trẻ, các nhạc sĩ mới vào nghề

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có ba chương

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và tổng quan về các ca khúc của nhạc sĩ trẻ được khảo sát

Trong chương này, chúng tôi nêu lên những vấn đề lý thuyết làm cơ sở và định hướng cho việc khảo sát, nghiên cứu, đồng thời chúng tôi cũng trình bày sơ

lược một số đặc điểm chung của các ca khúc của nhạc sĩ trẻ mà chúng tôi khảo sát

Về cơ sở lý thuyết, chúng tôi tập trung làm rõ các nội dung: khái quát về ca từ trong

Trang 15

thức xây dựng hình tượng ca từ Cuối cùng, ở mục tổng quan về các ca khúc của nhạc sĩ trẻ được khảo sát, chúng tôi trình bày một số đặc điểm chung của các ca khúc khảo sát có liên quan đến những phần nghiên cứu về ngôn ngữ của ca từ ở hai chương tiếp theo

Chương 2 Ca từ của nhạc sĩ trẻ xét ở các bình diện ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp

Trong chương này, chúng tôi lần lượt tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong ca khúc của nhạc sĩ trẻ ở ba cấp độ: ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa và cú pháp

và các biện pháp tu từ ở các cấp độ, qua đó rút ra những ưu điểm cũng như hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ ở ba cấp độ trên trong ca từ của nhạc sĩ trẻ

Chương 3 Ca từ của nhạc sĩ trẻ xét ở cấp độ văn bản

Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ trẻ ở cấp độ cao hơn – cấp độ văn bản Trong đó, chúng tôi tập trung khảo sát về tên ca khúc và cấu trúc văn bản ca khúc

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN

VỀ CÁC CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ TRẺ ĐƯỢC KHẢO SÁT

1.1 Khái quát về ca từ trong ca khúc

1.1.1 Khái niệm “ca từ”, “ca khúc”

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “ca từ” là “lời của bài hát” [22, 127]

Theo Dương Viết Á, ca từ “bao gồm toàn bộ phần ngôn ngữ văn học trong

âm nhạc bắt đầu từ cái nhỏ nhất: tên gọi tác phẩm, tiêu đề…, cho đến cái lớn nhất: kịch bản của nhạc cảnh, nhạc kịch…, và dừng lại ở thể thơ được phổ nhạc” [1, 13]

Thuật ngữ “ca từ” chúng tôi sử dụng ở luận văn này có nghĩa là “toàn bộ phần lời được tác giả viết ra trong ca khúc, kể cả tên ca khúc”

Trong các ca khúc mà chúng tôi khảo sát có một số bài có phần gọi là “Rap”

và phần “lời nói” Phần “Rap” được nhạc sĩ viết ra hẳn hoi nên chúng tôi coi đó là đối tượng khảo sát như những phần lời khác của ca khúc Còn phần “lời nói” là phần thêm vào, là những xúc cảm nhất thời của người thể hiện – ca sĩ và nó tùy thuộc vào người thể hiện Phần “lời nói” ở đây có thể là một vài tiếng, có thể là một hay một vài phát ngôn, cũng có thể là đoạn đối thoại Chúng tôi trình bày phần “lời

nói” ở trong ngoặc đơn – “( )” và không xem chúng là ca từ để khảo sát

cục và giai điệu hoàn chỉnh” [22, 126] Đã gọi là “ca khúc” thì phải có hai phần: phần lời và phần nhạc Hai phần này có mối quan hệ gắn bó với nhau, tuy nhiên, chúng tôi chỉ khảo sát phần lời mà không khảo sát phần nhạc Và phần lời được

khảo sát ở đề tài này chính là “ca từ” mà chúng tôi đã giới hạn ở trên

1.1.2 Vai trò của ca từ

Dương Viết Á trong cuốn Ca từ trong âm nhạc Việt Nam [1, 37] đã đúc kết:

“Ngôn ngữ âm nhạc vốn mang tính biểu hiện, mà nhẹ về miêu tả, tạo hình Nói cách khác, ngôn ngữ âm nhạc mang tính ước lệ cao” Muốn hiểu được âm nhạc, chúng ta

Trang 17

phải có một quá trình học hỏi, làm quen Trong khi đó, ca từ lại dễ dàng được tiếp thu, lĩnh hội hơn bởi chất liệu của nó là ngôn ngữ - một loại phương tiện giao tiếp phổ biến và có nhiều ưu thế Ngôn ngữ “có khả năng thể hiện đầy đủ và chính xác tất cả những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc mà con người muốn thể hiện” [8, 11] Quả vậy, nghe một bản nhạc không lời, người nghe bình thường khó lòng lĩnh hội nội dung của nó một cách rõ ràng, cụ thể; còn với một bản nhạc có lời - một ca khúc thì

được nội dung mà nhạc sĩ muốn chuyển tải qua ca khúc Như vậy, nhờ ca từ, nội dung ca khúc như được cộng thêm tính cụ thể, tính trực tiếp và cả sức truyền cảm

“Ca từ làm nhiệm vụ như người hướng dẫn, mở đường, “phiên dịch”, kể cả dẫn giải cho người thưởng thức”; “ca từ như đôi cánh nâng hình tượng âm nhạc bay cao hơn,

xa hơn” [1, 37 - 38] Chính vì vậy mà nhạc hát dễ tìm được sự chia sẻ hơn nhạc không lời

Ví dụ: Những tác phẩm nhạc không lời như bản Giao hưởng số 1, Giao hưởng số 2; bản Xônát số 1, Xônát số 2 thường có sự tranh cãi về nội dung cụ thể

của chúng Còn những tác phẩm nhạc có lời thì nội dung của chúng không có gì

phải bàn cãi, chẳng hạn như ca khúc Năm anh em trên một chiếc xe tăng, nói về

năm con người khác nhau nhưng đều dũng cảm, có tinh thần đoàn kết và cùng chung chí hướng

Tuy nhiên, ca từ “ngoài phần đem lại cũng có phần lấy bớt […], ca từ sẽ hạn chế sức gợi mở của âm nhạc” [1, 39] Như đã nói ở trên, âm nhạc vốn mang tính biểu hiện Một bản nhạc không lời sẽ gợi lên trong lòng người nghe sự tưởng tượng

và rung cảm; nó khác nhau ở mỗi người Trong khi đó, nhạc có lời, với tính cụ thể,

rõ ràng đã xác định và xây dựng sẵn trong đầu óc người nghe những gì cần thấy và cần cảm nhận; trí tưởng tượng của họ đã bị giới hạn, bị thu hẹp Đó là chưa kể trường hợp ca từ thiếu chất thơ, thiếu tính nghệ thuật hay thậm chí là yếu kém, mắc lỗi về ngôn ngữ, thì không những gây khó khăn cho việc tiếp nhận nội dung ca khúc

mà còn không tác động được đến tình cảm của người nghe

“Trong mối quan hệ hữu cơ với âm nhạc, muốn làm tròn chức năng đôi cánh

Trang 18

và người bạn đường trung thành, ca từ phải nâng mình lên cho đạt tới mức trở thành một bộ phận không thể tách rời của hình tượng âm nhạc; nói cách khác, ca từ cũng phải xây dựng được hình tượng bằng ngôn ngữ Tất nhiên đó không thể là ngôn ngữ thông thường, mà phải là ngôn ngữ có tính nghệ thuật, ngôn ngữ thơ ca” [1, 42]

Như vậy, ở mức độ lí tưởng, ngôn ngữ ca từ cũng chính là ngôn ngữ thơ ca

Trên đây là vai trò “hướng nội” của ca từ Ra ngoài khuôn khổ một ca khúc thì ca từ có vai trò gì?

Nếu ca từ đạt đến trình độ “là ngôn ngữ có tính nghệ thuật, ngôn ngữ thơ ca” như đã nói thì nó đã thực hiện được vai trò xã hội của mình Nghệ thuật là cái đẹp Nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng đem cái đẹp đến cho cuộc sống, đem lại những rung động thẩm mĩ, khoái cảm thẩm mĩ, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người

Ca từ cũng như thơ ca được xây dựng trên cái nền của hiện thực cuộc sống nhưng đến lượt mình, nó lại làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn Ở đó là cả một thế giới với tất cả sự phong phú, sâu sắc mà cũng nhiều mới mẻ, sáng tạo Ở đó, con người có thể tìm thấy nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, có thể cảm nhận được vô vàn cung bậc cảm xúc Ca từ Trịnh Công Sơn là một minh chứng Những hình tượng nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn thật đa dạng, mới lạ và sinh

động: quán đợi, bóng xuân, phiến môi, nụ đời, hoa muối, cơn lửa đỏ, v.v… Đến với

ca từ Trịnh Công Sơn là đến với những niềm vui và cả nỗi đau, đến với rất nhiều

trạng thái, cảm giác, xúc cảm: bơ vơ, hoạn nạn, mong manh, tiều tụy, mộng mị, đam

mê, đau thương, sầu, xót xa, tuyệt vọng, ngọt ngào, nồng nàn, v.v…

Trang 19

không quá tồi […] là có thể phổ nhạc được; có như vậy, nhạc sĩ mới phô bày được hết tài nghệ và bản lĩnh nghệ thuật của mình” Hay “người nghe ca khúc, hợp xướng […] chủ yếu là nghe nhạc, chứ không ai chú ý đến lời ca, vì đây là âm nhạc chứ không phải là văn chương!” [1, 68]

Một tác phẩm nghệ thuật là một chỉnh thể thống nhất của các yếu tố Giá trị

và nội dung của nó được tạo nên bởi giá trị và nội dung của từng bộ phận Nếu ca từ

“dở” thì sẽ làm giảm giá trị của ca khúc Nội dung tư tưởng của một ca khúc là nội dung tư tưởng của phần nhạc và phần lời gộp lại Bên cạnh đó, việc thưởng thức, tiếp nhận một tác phẩm là một quá trình cảm thụ toàn bộ tác phẩm Với một ca khúc, người nghe bình thường khi lần đầu tiên tiếp xúc với tác phẩm sẽ đón nhận toàn bộ tác phẩm, cả nhạc lẫn lời Bởi vậy, không thể phủ nhận nội dung tư tưởng – tính khuynh hướng của ca từ

Như vậy, chúng tôi thống nhất với quan điểm của Dương Viết Á, đó là ca từ

có tính khuynh hướng và tính khuynh hướng của ca từ chính là nội dung tư tưởng của ca từ

Ca từ phản ánh hiện thực cuộc sống một cách tích cực, năng động và sáng tạo; nó luôn bao hàm một thái độ, một cách đánh giá chủ quan của người soạn ca từ Bởi vì người soạn ca từ là một con người cụ thể, sống trong một xã hội cụ thể, với những nỗi niềm riêng, sở thích, quan điểm, tâm lí riêng, v.v…; trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, tác giả thể hiện cái chủ quan của mình vào tác phẩm, vào ca từ Tác phẩm bao giờ cũng in đậm dấu ấn của con người tác giả [1, 73] Như vậy, tính khuynh hướng - nội dung tư tưởng của ca từ là sự phản ánh hiện thực cuộc sống, là cách đánh giá, thái độ, tình cảm đối với hiện thực của người soạn ca từ; tính khuynh hướng của ca từ có được là nhờ tư tưởng chủ quan của chủ thể sáng tạo, do chủ thể sáng tạo quyết định

Nắm được tính khuynh hướng – nội dung tư tưởng của ca từ, của một tác phẩm là một việc không hề dễ dàng, bởi vì bản thân nội dung tư tưởng “bao gồm nhiều yếu tố phức tạp, đa dạng và chịu sự chi phối của nhiều hiện tượng xã hội, nhưng lại tập trung và hòa hợp với nhau, không thể chia tách trong một chỉnh thể

Trang 20

nghệ thuật” [1, 74] Chẳng hạn, trong một ca khúc, không thể chỉ dừng lại ở tên gọi tác phẩm hoặc một câu trong lời ca được tách khỏi giai điệu để xác định nội dung tư tưởng của tác phẩm

Theo Dương Viết Á, có ba phương thức, thủ pháp thể hiện nội dung tư tưởng trong tác phẩm, đó là: phương thức trực tiếp, phương thức gián tiếp, phương thức dưới hình thức phủ định để khẳng định Phương thức trực tiếp tức là tác giả trình bày trực tiếp, bộc lộ rõ ràng quan điểm, tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống thông qua hình tượng nghệ thuật Phương thức gián tiếp tức là tác giả để cho bản thân câu chuyện, sự kiện nói hộ tư tưởng, quan điểm của mình Phương thức dưới hình thức phủ định để khẳng định tức là tác giả biểu hiện quan điểm tư tưởng của mình bằng hình thức phủ định nhưng lại nhằm khẳng định điều tưởng như bị phủ định đó Việc

sử dụng một phương thức nào đó chịu sự chi phối và quyết định của lịch sử xã hội

hiện trực tiếp nội dung tư tưởng là phương thức chủ đạo, để các ca khúc dễ dàng

sử dụng nhiều hơn, nội dung tư tưởng trong tác phẩm được biểu hiện kín đáo, tinh

tế hơn Trong thời kì xã hội có áp bức, bóc lột, bất công (chẳng hạn như thời kì phong kiến) hay thời kì chuyển giao chế độ, có sự mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng thường tìm đến phương thức biểu hiện nội dung tư tưởng bằng hình thức phủ định, mượn cái hợp pháp để nói những cái không hợp pháp

nền nghệ thuật dân tộc, nhưng họ vẫn chưa nhận thức được vấn đề tính dân tộc một cách toàn diện và khoa học nên có khi họ rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi hay có thái độ phục cổ Với quan điểm mỹ học Mác – Lênin, vấn đề tính dân tộc mới được

lí giải một cách thỏa đáng

“Tính dân tộc là một phạm trù mở bao gồm cả nội dung và hình thức, là sự

thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức mà trong đó nội dung đóng vai

Trang 21

trò quyết định Xác định một tác phẩm nghệ thuật, một tác phẩm ca từ có mang tính dân tộc hay không, trước hết là xét xem về nội dung dân tộc của nó mà trong đó nổi bật lên cuộc sống của con người, với tư tưởng tình cảm mang bản sắc dân tộc Nói cách khác, nội dung dân tộc trước hết là con người của một dân tộc nhất định trong mối quan hệ với cuộc sống của chính dân tộc đó được phản ánh vào trong tác phẩm.” [1, 87-88]

“Con người của một dân tộc” xuất hiện trong tác phẩm không phải là con người chung chung mà phải là con người được cá thể hóa, có tâm lý, cách cảm cách nghĩ, có lối sống, cách hành động, ứng xử Thông qua đó nó cũng đã thể hiện đậm nét đặc trưng của một dân tộc

phản ánh trước tiên con người Việt Nam, với những giá trị bền vững được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh và lao động tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc, của bản sắc Việt Nam Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đầu óc thực tế; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống… như nội dung của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã khẳng định.” [1, 88-89]

Nhưng những đặc điểm trên của con người Việt Nam không phải là sẵn có, bất biến mà là do điều kiện lịch sử quy định, tác động, ảnh hưởng; nó phát triển và vận động cùng với quá trình lịch sử Một nội dung dân tộc ở một thời điểm nhất định sẽ có một hình thức tương ứng Tính dân tộc phải là sự sáng tạo trên cái nền của truyền thống, là hình thức mới của một nội dung mới nảy sinh trên cái nền của truyền thống Như vậy, tính dân tộc tự trong bản thân nó đã bao hàm tính hiện đại

Khi ta chấp nhận khái niệm tính dân tộc – hiện đại tức cũng là chấp nhận sự nhắc

nhở để tránh coi tính dân tộc như là một cái gì bất biến, ngưng đọng, biến tính dân tộc thành một phạm trù thuần túy về hình thức [1, 90-97]

1.2 Quan hệ giữa ca từ với âm nhạc và với thơ ca

Trang 22

Trong phần này, chúng tôi đặt ca từ trong mối quan hệ với âm nhạc và với thơ ca để có một cái nhìn cụ thể về đối tượng, qua đó có thể làm rõ những đặc điểm của nó

1.2.1 Quan hệ giữa ca từ với âm nhạc

Ngôn ngữ và âm thanh là hai loại phương tiện diễn tả của nhạc hát (nhạc có lời) Chúng kết hợp với nhau, tác động lẫn nhau và thống nhất trong một chỉnh thể tác phẩm

Trong một ca khúc, phần lời và phần nhạc phải thống nhất với nhau Sự thống nhất này thể hiện ở hai mặt: âm và nghĩa Thống nhất về âm tức là âm trong phần lời phải tương đồng với âm của nhạc Thống nhất về nghĩa tức là nghĩa của lời phải tương đồng với tính chất của nhạc (hỉ, nộ, ái, ố, bi, hài, v.v…)

Nhạc hát là một loại thể nghệ thuật nằm ở vùng giao nhau giữa thơ ca và âm nhạc Trong ca từ - lời ca, ta có thể thấy rõ được mối quan hệ giữa quy luật ngôn ngữ và quy luật âm nhạc Lời ca được xây dựng bằng chất liệu ngôn ngữ, nhưng lời không phải để nói mà để ca, để hát Như vậy, lời ca chịu sự chi phối, tác động của

cả quy luật ngôn ngữ và quy luật âm nhạc, trong đó quy luật ngôn ngữ tác động ở một chừng mực nhất định, quy luật âm nhạc đóng vai trò chủ đạo [1, 26-27]

Nói quy luật ngôn ngữ tác động đến lời ca ở một chừng mực nhất định bởi vì lời ca trước hết phải được viết đúng chính tả, được cấu tạo đúng ngữ pháp, phải tuân thủ những quy tắc ngôn ngữ cơ bản Tuy nhiên, ngôn ngữ được vận dụng và thể hiện vào lời ca theo một cách riêng, không giống như ngôn ngữ giao tiếp bình thường Ngôn từ trong lời ca phải được gọt giũa, chọn lọc cho phù hợp với tính chất của bản nhạc; phải được sắp xếp cho tương ứng với nốt nhạc, phù hợp với giai điệu Bởi vì tự bản nhạc (âm thanh được sắp xếp theo một cấu trúc nào đó) đã biểu hiện một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định Bản thân âm thanh cũng là một thứ ngôn ngữ - một loại công cụ để biểu đạt tư tưởng, cảm xúc của nhạc sĩ Nói quy luật âm nhạc đóng vai trò chủ đạo là vậy

Chúng ta cũng có thể thấy rõ sự chế ngự của quy luật âm nhạc đối với quy luật ngôn ngữ trong lời ca về mặt ngữ âm Khi soạn lời ca, nhạc sĩ phải có kiến thức

Trang 23

về ngữ âm để dùng những âm tiết mở, âm tiết khép cho phù hợp với nốt ngân dài hay nốt lướt nhanh Thanh điệu của các âm tiết (tiếng) trong lời ca cũng phải phù hợp với từng nốt nhạc

Mỗi ngôn ngữ đều có một cách phát âm chuẩn mực và tiêu biểu cho cả cộng đồng nói ngôn ngữ đó (thường là cách phát âm của thủ đô) Trong lời ca, ngữ âm chuẩn mực có thể phải “nhân nhượng” cho cách phát âm của từng địa phương Một nét riêng về mặt phát âm có thể tạo dựng một không khí nhất định, nhất là đối với những làn điệu dân ca địa phương

Tóm lại, ca từ và âm nhạc là hai yếu tố cấu thành một ca khúc, chúng gắn bó mật thiết với nhau, nhưng cái chính vẫn là âm nhạc

1.2.2 Quan hệ giữa ca từ với thơ ca

Ca từ - lời ca cùng với âm nhạc làm nên một lĩnh vực tinh thần riêng biệt của con người, đó là nhạc hát Ca từ gần giống với thơ ca nhưng vẫn có những nét riêng biệt Nó không chỉ đúng và hay mà còn phải phù hợp với nhạc Bởi ca từ đi kèm với

âm nhạc nên chịu sự chi phối của âm nhạc và chúng thống nhất với nhau trong một chỉnh thể

Như đã nói ở trên, ngôn ngữ xây dựng nên lời ca, nhưng lời ca không phải để nói mà là để hát, để ca Điều này có nghĩa là mặt ngữ điệu của ngôn ngữ được nhấn

mạnh, cũng có nghĩa là nhấn mạnh nội dung tình cảm của lời ca Như vậy, phương

thức trữ tình là phương thức phản ánh cuộc sống chủ yếu của ca từ (như trong

thơ), chứ không phải là phương thức tự sự (như trong truyện, kí) Cuộc sống hiện lên trong ca từ thông qua cảm xúc, sự rung động của người viết lời ca Cho nên nếu xem xét ca từ như một chỉnh thể độc lập, tách rời khỏi âm nhạc thì đó có thể là những bài thơ

Bởi vậy, ca từ không phải là lời kể lể, miêu tả, tường thuật lại cuộc sống Ca

từ phải thể hiện những xúc cảm, những rung động của trái tim, của tâm hồn với tất

cả những cung bậc khác nhau Những ca khúc có phần nhạc hay nhưng ca từ sa vào

kể lể sự việc, câu chuyện, miêu tả nhân vật thì nó chỉ cung cấp thông tin cho người

Trang 24

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là trong lời ca chỉ có tâm trạng, tình cảm Tâm trạng, tình cảm cũng xuất phát và tồn tại trong một hoàn cảnh nhất định

“Trong lời ca, vẫn có thể miêu tả, tường thuật, vẫn có thể nói về cảnh vật, sự việc…, nhưng cảnh phải gắn với tình, việc phải được gắn với người […]” [1, 31]

Bên cạnh sự giống nhau về phương thức phản ánh cuộc sống, ca từ và thơ ca

còn có sự gần gũi nhau bởi tính nhạc Thơ có tính nhạc, bởi vậy người ta thường

dùng thơ để phổ nhạc Ca từ càng phải có tính nhạc hơn thơ bởi nó viết ra để ca để hát Các yếu tố làm nên tính nhạc cho ca từ đó là: âm vực, giai điệu, nhịp, trường

độ, vần, điệp âm, từ láy, điệp ngữ, v.v…

Ngoài ra, ca từ và thơ ca còn giống nhau ở tính hàm súc – lời ít, ý nhiều Ca

từ và thơ ca không thể giống như ngôn ngữ thường ngày mà phải được chắt lọc, kết tinh (nhưng không có nghĩa là khó hiểu) Và để có được tất cả những phẩm chất trên, ca từ và thơ ca cần rất nhiều sự dụng công, trau chuốt, khéo léo và tinh tế của người làm ra nó

Ca từ, xét về phương thức phản ánh cuộc sống, về tính nhạc, tính hàm súc và

cả về hình thức (lời ca như là những câu thơ), là một bài thơ Nhưng không dừng lại

ở đó, âm nhạc đã nâng ca từ lên một bậc, từ ngôn ngữ thơ ca đến ngôn ngữ ca hát

Dương Viết Á đã phân biệt thơ ca với lời ca như sau: “[…] Bài thơ chủ yếu

để đọc, trong khi đó lời ca, chủ yếu là để hát và để nghe theo giai điệu âm nhạc Ở

đây, thơ ca và lời ca có hai cách tác động không giống nhau: một bên chủ yếu tác

động vào thị giác (thơ ca), và một bên chủ yếu tác động vào thính giác (lời ca)” Ông cũng đưa ra dẫn chứng cho sự khác biệt này: “Trong thơ ca, không nhà thơ nào lại viết liền một đoạn gồm toàn từ ngữ tượng thanh, vì bài thơ viết ra để đọc (hoặc

để nghe qua người khác đọc); nhưng với lời ca, vì để hát lên và để nghe theo giai điệu và tiết tấu của âm nhạc, một đoạn lời ca chỉ gồm những từ ngữ tượng thanh bỗng nhiên lại có hồn, có sức sống.” [1, 33]

Tóm lại, ca từ vừa có những điểm giống với thơ ca, vừa có những đặc trưng khẳng định sự tồn tại của chính nó Theo như lời của Dương Viết Á thì “thơ là điểm tựa, là ‘bệ phóng’ của ca” và “ca từ nằm ở vị trí ‘bản lề’, ‘giáp ranh’ giữa văn học

Trang 25

Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, âm nhạc thông qua hình tượng để phản ánh cuộc sống Là một bộ phận trong chỉnh thể tác phẩm âm nhạc, ca từ cũng phải nhằm đạt tới việc tạo dựng nên hình tượng nghệ thuật chung Hình tượng trong tác phẩm nhạc không lời được xây dựng bằng ngôn ngữ âm nhạc “thuần túy”, nhưng hình tượng trong tác phẩm nhạc có lời lại được xây dựng bằng cả ngôn ngữ

âm nhạc và ngôn ngữ thơ ca Như vậy, hình tượng ca từ không mang tính độc lập

mà chỉ là một bộ phận trong cái toàn thể Hình tượng ca từ phải biết “mất” để

“được” hình tượng của toàn bộ tác phẩm âm nhạc [1, 49]

“Đường tôi đi dài theo đất nước” (Vũ Trọng Hối) là một bài hát viết về người giao liên Trong giới hạn của một ca khúc, hình tượng người giao liên, người anh hùng bình thường vượt qua muôn vàn gian nguy, với lòng yêu quê hương tha thiết, với niềm tin son sắt… đã được khắc họa khá đậm nét trong hình tượng ca từ Còn có thể nói nhiều hơn về tâm tình của người giao liên, những khó khăn gian khổ, hoặc về những cảnh đẹp của đất nước […] nhưng tác giả đã biết dừng lại cho cô đọng, súc tích hơn Hình tượng ca từ đã biết “hy sinh” để làm nổi bật lên hình tượng người giao liên trong toàn bộ tác phẩm […]” [1, 49 – 50]

Ca từ cần thể hiện cho được tâm trạng mà không đòi hỏi phải giải thích về hoàn cảnh cũng như câu chuyện Người nghe sẽ cảm thụ nó như một hiện tượng trong cuộc sống và hiểu được những điều kiện nhất định đã tạo nên tâm trạng đó Hình tượng nghệ thuật là một bức tranh vừa cụ thể vừa khái quát về cuộc sống, về con người, được xây dựng bằng những biện pháp nghệ thuật Trong ca từ, bức tranh

đó cần được hiểu là bức tranh về tâm trạng của con người và qua bức tranh đó, hoàn cảnh cũng sẽ được phản ánh [1, 51-53]

Trang 26

1.3.2 Các phương thức xây dựng hình tượng ca từ

Với một hệ thống những phương tiện diễn tả, mỗi loại hình nghệ thuật đều có những phương thức, thủ pháp đặc thù để xây dựng hình tượng nghệ thuật Với loại thể nhạc có lời trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, phương tiện diễn tả của nó vừa

hát lên, gắn bó chặt chẽ với âm nhạc, do đó chỉ có thể dựa vào những phương thức, thủ pháp xây dựng hình tượng âm nhạc mới xác định được đúng đắn phương thức, thủ pháp xây dựng hình tượng ca từ

Theo Dương Viết Á, có bốn phương thức xây dựng hình tượng ca từ, đó là: trên cơ sở giai điệu để xây dựng hình tượng ca từ, trên cơ sở mô phỏng âm thanh để xây dựng hình tượng ca từ, trên cơ sở thể hiện sự vận động của đối tượng để xây dựng hình tượng ca từ và trên cơ sở mô phỏng phong cách để xây dựng hình tượng

ca từ

Đây là phương thức quan trọng nhất và cũng là cơ sở của việc xây dựng hình tượng âm nhạc

Một giọng điệu ngôn ngữ nhất định sẽ biểu lộ một sắc thái cảm xúc nhất định “Giọng điệu đó được thể hiện trong âm điệu của tác phẩm, trong giai điệu âm nhạc; giọng điệu đó tất nhiên cũng phải được thể hiện qua ngôn ngữ trong ca từ.” [1, 105]

Ta có thể thấy rõ phương thức xây dựng hình tượng này qua các ca khúc viết

về đề tài thiếu nhi, phụ nữ Các ca khúc viết về thiếu nhi thường có giai điệu nhí nhảnh, hồn nhiên, trong sáng Các ca khúc viết về phụ nữ thường có giai điệu nhẹ nhàng, đằm thắm, thiết tha Giai điệu như vậy là để phù hợp với cách cảm, cách nghĩ, với đặc điểm giới tính, lứa tuổi; để có thể gợi lên một hình ảnh nhất định trong lòng người nghe

Chẳng hạn như nhịp chân tung tăng “đi tới trường” của lứa tuổi măng non đã được khắc họa bằng giai điệu “nhanh-vui” và lời ca nhí nhảnh, trong sáng trong ca khúc “Ca ngợi Tổ quốc” của Hoàng Vân:

Trang 27

1.3.2.2 Trên cơ sở mô phỏng âm thanh để xây dựng hình tượng ca từ

Âm nhạc với hệ thống phương tiện diễn tả của mình (giai điệu, tiết tấu, hòa thanh, v.v…) có khả năng vô cùng to lớn trong việc tái hiện thế giới âm thanh Âm nhạc thường sử dụng âm thanh để mô phỏng những âm thanh trong cuộc sống Nhưng việc mô phỏng âm thanh của âm nhạc không nhằm mục đích tự thân mà nằm trong ý đồ xây dựng hình tượng âm nhạc, để nói lên một nội dung tư tưởng nhất định [1, 109 - 110]

Hình tượng âm nhạc được xây dựng trên cơ sở mô phỏng âm thanh thì hình

tượng ca từ cũng phải dùng ngôn ngữ để mô phỏng âm thanh, mà cụ thể là dùng từ ngữ tượng thanh, để đảm bảo tính thống nhất hoàn chỉnh của tác phẩm

Những từ ngữ tượng thanh khi được đặt vào trong tác phẩm, gắn với nhạc thì trở nên có “hồn” và gợi cảm Tùy theo yêu cầu mô phỏng, tùy theo sắc thái tình cảm, có khi còn tùy thuộc vào cao độ của nốt nhạc mà tác giả sẽ chọn những từ ngữ tượng thanh thích hợp nhất

Chẳng hạn như trong bài “Cô gái vót chông” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp có cả một đoạn mô phỏng tiếng chim hót Đoạn nhạc xuất hiện rất đúng lúc, đúng chỗ

Trang 28

hình tượng có sức biểu cảm lớn Nếu tách đoạn mô phỏng này ra khỏi ca khúc thì

nó dường như vô nghĩa, không có giá trị gì

Phương thức mô phỏng âm thanh, sử dụng từ ngữ tượng thanh trong ca từ không mâu thuẫn với yêu cầu của ca từ là xây dựng hình tượng trữ tình – một bức tranh về tâm trạng Mô phỏng âm thanh nhằm gợi tả một quang cảnh, gợi mở một không khí, gợi sức tưởng tượng của người nghe, và cái đích cuối cùng vẫn phải là gợi cảm xúc Hình tượng âm nhạc, hình tượng ca từ bao giờ cũng là và vẫn là hình tượng trữ tình

tượng ca từ

Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật thời gian, hình tượng âm nhạc không thể tồn tại ngoài thời gian Do đó, một trong những phương thức quan trọng để xây dựng hình tượng âm nhạc là thông qua tiết tấu, nhịp điệu, tốc độ, cường độ, trường

độ, v.v… nói chung là thông qua mạch đi của âm nhạc để phản ánh hiện thực, để tạo nên bức tranh về cuộc sống với sự vận động, phát triển của nó Hình tượng ca từ cũng phải thể hiện, phản ánh sự chuyển động của đối tượng nên ca từ cần sử dụng nhiều động từ, tính từ với những mức độ khác nhau, v.v… [1, 115] Chẳng hạn như

sự vận động của những sự vật, hiện tượng trong ca khúc “Hãy hát lên” (Tường Văn)

thể hiện qua các động từ, tính từ: gọi, đến (khắp trời), hát lên, xua tan, thắp lên, xanh biếc, gập ghềnh, trôi mãi, trôi hoài (về biển lớn), v.v…

Âm nhạc và hình tượng ca từ nói lên sự diễn biến của sự vật, sự kiện hay tư tưởng tình cảm thì đồng thời cũng nói lên cái nền của sự diễn biến đó, chính là không gian Và, thông qua mạch đi của âm nhạc, thông qua sự mô tả của ca từ, ta còn có thể thấy được nhịp sống một thời đại, một giai đoạn lịch sử nhất định [1,

thong thả như nhịp sống của xã hội Việt Nam thời trước Còn nhịp sống hiện đại được thể hiện qua tiết tấu nhanh, nhịp điệu rộn ràng trong các ca khúc hiện nay

Phương thức này phát huy tính môi trường của nghệ thuật âm nhạc, đó là

Trang 29

dùng chính bản thân âm nhạc để tác động vào sự liên tưởng của người nghe

“Phương thức này được các nhạc sĩ dùng đến trong các tác phẩm âm nhạc không lời (khí nhạc) và cả trong những tác phẩm âm nhạc có lời (thanh nhạc): có khi lấy lại hẳn một đoạn nhạc, một bài hát đã ra đời từ trước; có khi chỉ lấy một câu nhạc, một câu hát; có khi lại chỉ mượn chất liệu làm chủ đề, làm âm hình chủ đạo để phát triển; cũng có khi “mượn lại” phong cách của một nhạc sĩ nào đó vì cần thiết cho việc tạo dựng một “không khí” lịch sử nhất định… Hình tượng âm nhạc theo phương thức này được xây dựng trên cơ sở mô phỏng một hình tượng âm nhạc

hình tượng ca từ của ca khúc được nhạc sĩ lựa chọn, trích dẫn, mô phỏng Chẳng hạn như trong ca khúc “Người Hà Nội”, để gợi ấn tượng về những ngày đầu Cách mạng trên đất Thủ đô, Nguyễn Đình Thi đã trích dẫn nguyên văn một câu ca trong bài “Tiến quân ca” của Văn Cao:

Một ngày thu non sông chiến khu về,

Đường vang tiếng hát cuốn lòng người:

“Đoàn quân Việt Nam đi”…

1.4 Tổng quan về các ca khúc của nhạc sĩ trẻ được khảo sát

Như chúng tôi đã nói ở phần Mở đầu, mục 4.1 Nguồn ngữ liệu, số lượng các

ca khúc mà chúng tôi khảo sát là 377 Đó là các ca khúc được yêu thích trong từng tháng của năm 2012 trên trang mạng http://mp3.zing.vn và thỏa mãn các tiêu chí mà chúng tôi đã đưa ra cũng ở mục 4.1 đã nêu

Số lượng ca khúc như trên là sản phẩm của một đội ngũ đông đảo các nhạc sĩ trẻ Đó là các sáng tác của hơn 136 nhạc sĩ Trong số đông nhạc sĩ ấy, nổi bật là các nhạc sĩ có số lượng ca khúc được yêu thích cao (số lượng ca khúc được yêu thích từ

(1984) – 10 ca khúc (chiếm 2,65%), Khánh Đơn (1987) – 18 ca khúc (chiếm

ca khúc (chiếm 2,65%), Phúc Trường (1985) - 11 ca khúc (chiếm 2,92%) (Xin xem

ở Phụ lục 5: Danh sách nhạc sĩ và số lượng ca khúc của từng nhạc sĩ được khảo sát.)

Trang 30

Các ca khúc được khảo sát là sản phẩm của các nhạc sĩ trẻ và đối tượng phục

vụ chủ yếu của nó cũng là những con người trẻ Bởi vậy nó có những đặc điểm riêng trong cả phần nhạc lẫn phần lời

Về chủ đề, khảo sát 377 ca khúc của nhạc sĩ trẻ được giới trẻ yêu thích,

chúng tôi thấy rằng các ca khúc nói về tình cảm con người chiếm đa số (366 ca

tình yêu nam nữ, số còn lại (9 bài) là nói về những tình cảm khác (tình bè bạn, tình

mẹ con, tình cha con, v.v… ) Như vậy, nếu tính tỉ lệ thì các ca khúc nói về tình yêu

nam nữ chiếm 94,7% tổng số ca khúc khảo sát Như vậy, các ca khúc dành cho

giới trẻ hiện nay chủ yếu nói về tình yêu nam nữ, những chủ đề khác chiếm số lượng rất ít

Qua đây, chúng ta có thể thấy được khuynh hướng sáng tác của nhạc sĩ trẻ và nhu cầu, thị hiếu thưởng thức âm nhạc của giới trẻ hiện nay Đó là tất cả những gì liên quan đến tình yêu nam nữ

Các ca khúc của nhạc sĩ trẻ được giới trẻ yêu thích thường là những bản tình

thuở của nghệ thuật, của cuộc sống; là mối quan tâm, là điều chi phối, là động lực của con người Điều đáng nói là những biểu hiện cụ thể của nội dung – chủ đề tình yêu đó Hơn nữa, trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời đại do tính chất, đặc điểm của nó mà nội dung chủ đề nào đó được quan tâm phản ánh (chẳng hạn như trong thời kì cả nước đấu tranh giành độc lập thì những đề tài như cách mạng, quê hương, đất nước được đặt lên hàng đầu; còn trong thời bình thì những đề tài mang tính chất riêng tư như tình yêu đôi lứa được thể hiện nhiều hơn) Tuy nhiên, việc các ca khúc viết về những đề tài khác nhất là những đề tài nóng bỏng về đất nước, về cuộc sống hiện nay ít xuất hiện trong danh mục các ca khúc được yêu thích cũng là một thực trạng rất đáng lưu ý

Hầu hết các ca khúc của nhạc sĩ trẻ được giới trẻ yêu thích thể hiện chủ đề tình yêu nam nữ nên đa số từ ngữ của ca từ đều nằm trong trường từ vựng về

Trang 31

chủ đề này Chẳng hạn như xét về các cặp xưng gọi trong 377 ca khúc khảo sát thì

cặp anh – em được dùng nhiều nhất (cũng có khi dùng tôi – em, tôi – anh) Ngoài ra còn có một số cặp xưng gọi khác như: tôi – bạn, con – cha, con – mẹ, v.v… nhưng

Về nội dung, nhìn chung ca từ của các ca khúc được yêu thích mà chúng tôi

khảo sát có nội dung đơn giản, dễ hiểu, người nghe bình thường không phải suy nghĩ nhiều để biết được điều mà nhạc sĩ muốn gởi gắm, chuyển tải qua ca từ Ví dụ:

Ca khúc “Giá như chưa từng quen” (219, 132) có nội dung là người con trai thấy rằng anh và người yêu trong thời gian quen nhau đã “sống không cùng ước mơ”, “cứ cố gắng lại càng xa nhau”, đến nỗi khi cách xa thì anh không thấy nhớ, khi chia tay thì anh không thấy buồn; và anh thấy xót xa, anh ước “giá như chưa từng quen”, anh mong cô gái hãy xem như “chưa từng quen” và chúc cho cô gái bình yên

vật “tôi” khi gặp khó khăn đã nhận được sự “lạnh lùng”, “quay lưng” của “những người gọi là thân thiết” và đã nhận ra sự giả dối đằng sau những nụ cười, những lời nói của họ Và thế là nhân vật đi đến thái độ tiêu cực: “không cần ai” và “không cần bạn”

Nội dung ca từ trình bày theo kiểu đối thoại như ca khúc “Hứa mãi yêu nhau” (42, 37) thì không có gì là khó hiểu:

Nói đi em trong tim này chỉ muốn có anh kề bên!

Trang 32

Trong lòng em thật tình không nhớ anh

Nhưng chỉ yêu anh, mong anh từng đêm

Vậy mà làm cho anh rung rung trái tim khi nghe em không nhớ anh… oh yeah

Đừng giận em khi em đang rất yêu anh, xin anh hãy tin em… nhé anh!

[ĐK]

Ước mình sẽ bên nhau dài lâu

Mình sẽ bên nhau trọn đời

Và sẽ mãi không rời xa

Ước chàng chỉ yêu em mà thôi

Anh hứa yêu em trọn đời

Chỉ yêu em chỉ có em thôi, hỡi người!

Cũng chính vì quá đơn giản, dễ hiểu mà nhiều ca khúc nghe qua, hiểu ngay rồi thôi, không để lại dư âm, ấn tượng gì cho người nghe Trong khi đó, đa số ca từ trong các ca khúc của nhạc sĩ lớn tuổi không phải nghe qua là hiểu ngay, mà phải có vốn sống và phải suy ngẫm nhiều mới có thể hiểu được Ca từ của họ càng nghe càng thấy mới, càng khám phá ra nhiều điều Còn phần lớn ca từ trong ca khúc của các nhạc sĩ trẻ (mà chúng tôi khảo sát) nghe nhiều sẽ thấy nhàm

như ca khúc “Ngày tận thế” (9, 20):

Ngày tận thế phải chăng là ngày hôm nay

Ngày anh đi lãng quên ân tình đôi ta?

Ngày anh đến khiến em chợt bừng lên hạnh phúc mong manh

Ngày anh đi đất trời như sụp đổ

Ngày tận thế với em là ngày xa anh

Tình yêu em đã trao riêng về anh thôi

Người yên vui chốn xa nào hay con tim em khóc thầm

Trang 33

Nhớ anh nhiều em biết phải làm sao?

[ĐK]

Ngày tận thế với em người ơi

Là ngày em không còn anh nữa

Làm sao em sẽ cố quên vết thương chưa lành vì mất anh

Ngày tận thế chỉ còn mỗi em

Bao người qua đâu nào hay biết

Một con tim đã chết khi người đi

Hầu như toàn bộ ca từ của ca khúc trên chỉ có một ý chính “ngày anh rời xa

em là ngày tận thế” và ý này cứ lặp lại nhiều lần từ đầu đến cuối ca khúc Ngoài ra còn có vài ý phụ mang tính kể lể, đó là: ngày anh đến khiến em hạnh phúc, tình yêu của em chỉ trao cho anh, anh đi thì em nhớ anh, đau khổ và con tim đã chết

Nội dung ca từ ít sâu sắc, ít mang chất thơ, tính thẩm mĩ nên người nghe chỉ đơn thuần là “nghe” mà không được “thưởng thức” Câu hỏi đặt ra là “Tại sao ca từ trong các sáng tác của nhạc sĩ trẻ ít sâu sắc hơn ca từ trong các sáng tác của nhạc sĩ lớn tuổi?” Có thể lí giải bằng nhiều nguyên nhân Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân chủ yếu sau Thứ nhất, các nhạc sĩ trẻ sáng tác theo nhu cầu và thị hiếu nghe nhạc của giới trẻ hiện nay Quan niệm sống, cách sống và thị hiếu của đa số giới trẻ bây giờ đã khác Họ thường sống nhanh, sống vội để theo kịp thời đại, với bao bộn

bề của cuộc sống hàng ngày Họ thích những gì dễ dàng nhận thấy hơn là những gì phức tạp, phải suy nghĩ, chẳng hạn như họ thích nghe nhìn trên các phương tiện kĩ thuật hơn là đọc sách Họ tìm đến với âm nhạc như một cách để giải trí Bởi vậy, ca

từ càng dễ nghe, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ thì càng được đón nhận, yêu thích Thứ hai, bản thân người sáng tác cũng là những con người trẻ thời hiện đại Họ có ít vốn sống và vốn văn học nghệ thuật so với các nhạc sĩ thời xưa Hơn nữa, trong thời hiện đại, họ có điều kiện thuận lợi để công bố và phổ biến tác phẩm của mình nên vội vàng cho ra sản phẩm mà chưa có nhiều thời gian để ấp ủ, mài giũa

Tuy nhiên, trong số các ca khúc được giới trẻ yêu thích mà chúng tôi khảo sát vẫn có những ca khúc có nội dung ca từ sâu sắc, ý nghĩa, mang chất thơ Ví dụ

Trang 34

như các ca khúc: Cha mẹ không cho (162, 101), Mong ước kỉ niệm xưa (189, 116), Vệt nắng (201, 124), Bước qua thế giới (212, 129), Chưa từng thuộc về nhau (216,

(264, 157), Đường nắng tắt (284, 168), Trở về tuổi thơ (292, 173), Cảm ơn (316, 186), Mong một hạnh phúc (320, 188), Anh sẽ ra đi (327, 191), Hãy sống cho ngày

Còn về hình thức, hầu hết ca khúc có hình thức như thơ tự do, tức là độ dài

giữa các dòng và giữa các khổ không đồng đều nhau

điểm mới trong ca khúc của nhạc sĩ trẻ mà ca khúc của các nhạc sĩ lớn tuổi không

như: “Tìm thấy” (1, 15), “Đừng ngoảnh lại” (5, 18), “Chỉ còn tiếng mưa” (25, 28),

Một ca khúc được coi là hoàn chỉnh khi nhạc và lời hòa quyện với nhau thành một thể thống nhất Trong các ca khúc mà chúng tôi khảo sát, bên cạnh những

những ca khúc ở một chỗ nào đó lời và nhạc chưa hòa nhập làm một, có phần rời rạc, khiên cưỡng, v.v… Điều này ảnh hưởng đến khả năng truyền cảm của ca khúc Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn, chúng tôi không thể phân tích điều này ở đây

Trang 35

1.5 Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã khái quát về ca từ trong ca khúc, tìm hiểu quan hệ giữa ca từ với âm nhạc và thơ ca, tìm hiểu về hình tượng ca từ và các phương thức xây dựng hình tượng ca từ, trình bày sơ lược một số đặc điểm của các

ca khúc khảo sát có liên quan đến phần nghiên cứu về sau

Ở phần khái quát về ca từ trong ca khúc, chúng tôi làm rõ khái niệm “ca từ”,

“ca khúc”, vai trò của ca từ, tính chất của ca từ trong ca khúc Chúng tôi quan niệm,

ca từ là “toàn bộ phần lời được tác giả viết ra trong ca khúc, kể cả tên ca khúc” Ca

từ có vai trò diễn đạt cụ thể, rõ ràng nội dung của ca khúc; ca từ đem cái đẹp đến cho cuộc sống, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Ca từ trong ca khúc có tính khuynh hướng và tính dân tộc

Việc làm rõ quan hệ giữa ca từ với âm nhạc và quan hệ giữa ca từ với thơ ca, tức là đặt ca từ trong mối tương quan với âm nhạc và thơ ca, đã làm toát lên những đặc điểm của ca từ: ca từ cùng với âm nhạc là hai yếu tố cấu thành một ca khúc, ca

từ gắn bó mật thiết với âm nhạc và chịu sự chi phối chủ yếu của âm nhạc; ca từ giống với thơ ca ở phương thức phản ánh cuộc sống (trữ tình), ở tính nhạc và tính hàm súc nhưng ca từ khác với thơ ca ở chỗ nó là lời dùng để hát để ca

Chính vì có những đặc điểm trên nên hình tượng ca từ không mang tính độc lập như hình tượng thơ ca và ca từ có những phương thức xây dựng hình tượng riêng Hình tượng ca từ được xây dựng trên cơ sở giai điệu, mô phỏng âm thanh, mô phỏng phong cách và trên cơ sở thể hiện sự vận động của đối tượng

Trong phần tổng quan về các ca khúc của nhạc sĩ trẻ được khảo sát, chúng tôi trình bày một số đặc điểm có liên quan đến những phần nghiên cứu về ngôn ngữ của ca từ của nhạc sĩ trẻ ở hai chương tiếp theo Đó là các đặc điểm của phần lời và của phần nhạc Các ca khúc mà chúng tôi khảo sát là ca khúc của các tác giả trẻ, viết cho giới trẻ, trong giai đoạn đất nước đang trên đà phát triển, hội nhập Vì vậy, phần lời và phần nhạc của nó cũng mang hơi thở thời đại, mang dấu ấn riêng của thế

hệ trẻ Phần lời tương đối đơn giản, dễ hiểu và trẻ trung - chủ yếu nói về tình yêu của giới trẻ - với hình thức tự do, linh hoạt, đặc biệt là ở các đoạn Rap Phần nhạc

Trang 36

nhìn chung được đầu tư và hòa phối công phu, mang hơi thở thời đại và thường là sôi động

Trang 37

Chương 2

CA TỪ CỦA NHẠC SĨ TRẺ XÉT Ở CÁC BÌNH DIỆN NGỮ

ÂM, TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA, CÚ PHÁP

Như đã trình bày, ca từ do nằm trong chỉnh thể tác phẩm âm nhạc, bị chi

tượng phục vụ của nó chủ yếu là giới trẻ nên nó chắc chắn có những điểm riêng Trong chương này, chúng tôi sẽ tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về ngữ âm, từ

vựng – ngữ nghĩa và cú pháp trong ca từ của nhạc sĩ trẻ

2.1 Đặc điểm ngữ âm trong ca từ của nhạc sĩ trẻ

ngữ âm

2.1.1 Sự chi phối của âm nhạc đối với ngữ âm của ca từ

2.1.1.1 Về các tiếng vô nghĩa

Trong ca từ của nhạc sĩ trẻ, có những tiếng, những chữ chỉ biểu hiện âm thanh theo nốt nhạc chứ không mang nghĩa Trường hợp này thì phần lời và phần nhạc đã thực sự nhập làm một Chẳng hạn như:

Những tiếng hô, ố ô, i ze trong ca khúc “Em nhớ anh” (21, 26):

Và giờ thì người đi mãi khiến trái tim em luôn mong chờ

Phố vắng chỉ mình em bước, bước đến khi không có anh chờ

Từng giọt mưa nhẹ rơi, hô hô… quên đi ố ô ố ô, ô hô hô quên đi oh

my love, ì ze i ze í ze

Những tiếng hum trong ca khúc “Rồi anh sẽ quên em” (22, 26):

Ngay trong lúc này, anh sẽ viết bên những phím đàn, anh sẽ hát

Khi đông sang anh sẽ một mình chờ em cất tiếng hum hum

Trang 38

Những tiếng hu hơ hú hơ trong cuối phần điệp khúc của “Chia cách bình yên”

(107, 73):

Đừng khóc nhé em người ơi

Dù rằng đường mình chung đôi anh từng ngỡ sẽ dài

Người ta yêu nào đâu cứ phải bên nhau đến cùng

Giờ thì anh đã can đảm để nhìn em mỉm cười

Và cám ơn em ngày qua

Dù điều này làm anh đau hơn cả tới thiên đường

Hu hơ hú hơ…

Những tiếng lá la là la trong ca khúc “Cố giữ lý trí” (274, 162):

- Lá la là la lá la là la không như ước vọng

Lá la là la lá la là la không như ước mong

Lá la là la lá la là la anh vẫn ngóng trông

Ngày nào em quay bước về thì anh vẫn sẽ nguyện là người chở che

Những tiếng ô, ồ, ế, la, là, lá trong ca khúc “Diệu kỳ” (323, 189):

- I love you so, ồ ồ ồ ô ô ế ô

Ngọt ngào cùng từng giây phút qua

I need you so, là là là la la lá la

Diệu kỳ tình yêu hai chúng ta

Những tiếng này làm nhiệm vụ đệm, láy hay nhằm gợi một không khí nhất định, gợi mở tưởng tượng và cảm xúc của người nghe

Những tiếng vô nghĩa không phải là riêng có trong ca từ của nhạc sĩ trẻ Ta

có thể bắt gặp chúng trong các bài dân ca hay trong một số ca khúc của các tác giả

lớn tuổi khác (chẳng hạn, những tiếng í a, í a í à í à a trong ca khúc “Ở trọ” của Trịnh Công Sơn và í a trong ca khúc “Chị tôi” của Trần Tiến) Tuy nhiên, trong ca

từ của nhạc sĩ trẻ, chúng xuất hiện như một hiện tượng phổ biến và nổi bật Trong tổng số 377 ca khúc, số ca khúc có các tiếng vô nghĩa là 31, chiếm tỉ lệ 8,22% Điều

Trang 39

này có nghĩa là cứ hơn mười ca khúc khảo sát thì có một ca khúc có các tiếng vô nghĩa

2.1.1.2 Về thanh điệu

Do sự chi phối của nhạc, các âm tiết của ca từ nhiều khi bị hát chệch thanh Một số ví dụ về chệch thanh do nhạc:

Thanh ngang bị hát chệch thành thanh sắc:

Chỉ muốn có em trong vòng tay anh dường như mong chờ

Thanh huyền bị hát chệch thành thanh ngang:

Thanh hỏi bị hát chệch thành thanh ngã:

Dù chỉ là trong cơn mơ tháng năm mỏi mòn! (279, 165)

Ca từ đi kèm với nhạc và chịu sự chi phối của nhạc nên âm tiết trong ca từ phải thích hợp với nốt nhạc đi kèm Nốt nhạc cao thì thanh điệu của âm tiết cũng phải chuyển thành thanh cao hơn liền kề

Ở những ca khúc không phải của nhạc sĩ trẻ thì hiện tượng này vẫn xảy ra Chẳng hạn như trong ca khúc “Thu ca” của Phạm Mạnh Cương:

2.1.1.3 Về sự ngắt nhịp

Nhịp cũng là một đơn vị của âm nhạc Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt thì nhịp là “sự nối tiếp và lặp lại một cách đều đặn, tuần hoàn các độ dài thời gian bằng nhau làm nền cho nhạc” [22, 892 ]

Trang 40

Lời ca (ca từ) khác lời nói bởi tính nhạc của nó Nhưng tính nhạc của lời ca

của ca khúc cho nên nó không chỉ có tính nhạc của riêng nó mà còn có tính nhạc do

âm nhạc đem lại Tính nhạc của nó phải hòa quyện trong một thể thống nhất với âm

nhạc của ca khúc, và bị âm nhạc của ca khúc dẫn dắt, chi phối Bởi vậy, sự ngắt

nhịp của lời ca cũng chính là sự ngắt nhịp của nhạc Ví dụ:

Dường như em đã biết/ thoáng đâu đây/ một hình dung/ cho trái tim rung động/

Dường như em đã biết/ phút giây ngập ngừng/ câu yêu còn chưa dám nói./ Tôi cũng từng yêu,/ từng nhớ mong,/ chớ để tình yêu vụt qua tay./ (76, 56)

Đây là một trong hai đoạn chính của ca khúc “Mong lời yêu” Ca khúc có nhịp 4/4 Các nhịp 4 cứ nối tiếp nhau và lặp lại một cách đều đặn trong suốt ba dòng của đoạn nhạc Trong đó, những chỗ ngắt nhịp của nhạc cũng là những chỗ ngừng

câu “.” và những chỗ xuống dòng)

Quan sát ví dụ ta có thể thấy, cùng là nhịp 4 nhưng có khi nó chứa 3, 4, 5 thậm chí 6, 7 âm tiết Nhịp nào chứa ít âm tiết thì các âm tiết trong nhịp sẽ được hát kéo dài hơn; ngược lại, nhịp nào chứa nhiều âm tiết thì các âm tiết trong nhịp phải được hát nhanh hơn để đảm bảo độ dài của nhịp

Ở những ca khúc không phải của nhạc sĩ trẻ cũng vậy Chẳng hạn như đoạn

Ngày đăng: 02/12/2015, 10:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng âm nhạc được xây dựng trên cơ sở mô phỏng âm thanh thì hình  tượng ca từ cũng phải  dùng ngôn n gữ để mô phỏng âm thanh, mà cụ thể là  dùng từ  ngữ tượng thanh, để đảm bảo tính thống nhất hoàn chỉnh của tác phẩm - tìm hiểu ca từ của nhạc sĩ trẻ (qua các ca khúc tiếng việt được yêu thích trên trang mạng mp3 zing vn trong năm 2012)
Hình t ượng âm nhạc được xây dựng trên cơ sở mô phỏng âm thanh thì hình tượng ca từ cũng phải dùng ngôn n gữ để mô phỏng âm thanh, mà cụ thể là dùng từ ngữ tượng thanh, để đảm bảo tính thống nhất hoàn chỉnh của tác phẩm (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w