Các tác giả Robert Burgin, Pauletta Brown Bracy và Kathy Brown qua công trình nghiên cứu “Các thư viện trường và trung tâm thông tin đã làm tăng kết quả học tập của học sinh ở North Car
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Kim Loan
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU LỊCH SÀI GÒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Th ành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Kim Loan
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU LỊCH SÀI GÒN
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN THỊ HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, quý Thầy Cô Khoa Tâm lý Giáo dục, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, cán bộ quản lý các Phòng, Ban, Khoa, Trung tâm, các thầy giáo, cô giáo và học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn đã giúp đỡ tìm kiếm, chuẩn bị cho tôi nhiều tài liệu, thông tin cũng như đóng góp cho luận văn của tôi nhiều ý kiến quý báu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần
Thị Hương, giảng viên Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, người thầy đã tận
tâm hướng dẫn, định hướng khoa học và luôn động viên khích lệ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cám ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã quan tâm gánh vác, chia xẻ trách nhiệm và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Do những hạn chế nhất định nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất trân trọng những ý kiến đóng góp của quý độc giả giúp luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
NGUYỄN KIM LOAN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 7
4 Gi ả thuyết khoa học 7
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 8
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 8
7 Ph ương pháp nghiên cứu 8
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN TRƯỜNG CAO ĐẲNG 10
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Thế giới 10
1.1.2 Việt Nam 12
1.2 M ột số khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý 13
1.2.2 Quản lý hoạt động thư viện 20
1.3 Lý luận về hoạt động thư viện ở trường cao đẳng, đại học 23
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của thư viện trường cao đẳng, đại học 23
1.3.2 Các yếu tố cấu thành thư viện trường cao đẳng, đại học 24
1.3.3 Nội dung hoạt động của thư viện trường cao đẳng, đại học 27
1.4 Nội dung quản lý hoạt động thư viện trường cao đẳng 29
1.4.1 Quản lý đội ngũ cán bộ thư viện 29
1.4.2 Quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật 29
1.4.3 Quản lý vốn tài liệu 30
1.4.4 Quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc 30
1.4.5 Quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của thư viện 31
1.4.6 Kiểm tra, đánh giá các hoạt động của thư viện 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU LỊCH SÀI GÒN 34
2.1 Tổng quan về Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 34
Trang 52.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Nhà trường 35
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Nhà trường 36
2.1.4 Khái quát về mẫu khảo sát và cách thức xử lý số liệu 36
2.2 Thực trạng hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 37
2.2.1 Thực trạng về thư viện trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 37
2.2.2 Thực trạng về hoạt động của thư viện trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 45
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động thư viện Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 51
2.3.1 Thực trạng công tác lập kế hoạch 51
2.3.2 Thực trạng quản lý đội ngũ cán bộ thư viện 54
2.3.3 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật 55
2.3.4 Thực trạng quản lý công tác bổ sung phát triển vốn tài liệu 57
2.3.5 Thực trạng quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc 59
2.3.6 Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin 62
2.3.7 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động thư viện 64
2.4 Nguyên nhân của thực trạng 65
2.4.1 Đánh giá chung 65
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động thư viện 66
C HƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU LỊCH SÀI GÒN 70
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 70
3.1.1 Định hướng phát triển Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 70
3.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 71
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 71
3.2.1 Nhóm biện pháp nền tảng để tổ chức, quản lý hoạt động thư viện 72
3.2.2 Nhóm biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện 77
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các nhóm biện pháp đề xuất 84
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97
Trang 6VHNT & DL : Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
NCKH : Nghiên cứu khoa học
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế phải tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Trong sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước nhà, vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước
và các cấp quản lý giáo dục quan tâm Tại Thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Bộ Chính trị đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp
để đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo Việt Nam, trong đó
có giải pháp "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ
một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng
lý t huyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống"
Việc đổi mới phương pháp dạy học, chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo
hệ thống tín chỉ và mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới cho hoạt động thư viện trong các trường đại học hiện nay Hệ thống thư viện, giáo trình, tài liệu là một trong những tiêu chí để đánh giá trong kiểm định chất lượng trường đại học; là điều kiện quan trọng đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Do đó, quá trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam phải song hành với quá trình đổi mới các thư viện đại học nhằm thỏa mãn tốt nhất, thuận lợi nhất nhu cầu thông tin khoa học cho người dạy, người học
Quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2007 của Bộ
Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã đề ra mục tiêu: “Hết sức
coi trọng vị trí thư viện trường đại học trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học; nâng cấp thư viện các trường đại học; xây dựng mới, tu bổ lại trụ sở thư viện, tạo cho các
th ư viện hiện đại về cơ sở vật chất và trang thiết bị; phong phú về tài liệu Xây dựng một hệ thống thư viện đại học mạnh, phát triển theo hướng hiện đại, thư viện điện tử, thư viện số
Có khả năng đáp ứng các nhu cầu thông tin của người sử dụng một cách dễ dàng, nhanh chóng”
Trang 8Trong lịch sử tồn tại của mình, thư viện trường học từ lâu đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong việc phục vụ giảng dạy và học tập của người dạy và người học trong các trường học Thư viện trường học có tác động tích cực trong nhiều hoạt động khác nhau của nhà trường, bao gồm điểm số và khả năng học tập độc lập và tự mở rộng kiến thức Các chương trình thư viện hiệu quả và mạnh mẽ sẽ dẫn đến kết quả học tập tốt hơn bất kể điều kiện kinh tế xã hội hay là trình độ dân trí của người lớn tại cộng đồng đó Các thư viện trường học có thể tạo ra sự thay đổi tích cực đối với sự tự tin của người học, khả năng học tập độc lập và tinh thần trách nhiệm về việc học của bản thân
“Giữa những cơ sở hay phòng ban của một trường đại học, không có cơ sở nào thiết yếu hơn thư viện đại học Ngày nay, không có công trình khoa học nào được thực hiện mà không cần đến sự hỗ trợ của một thư viện đích thực, ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ của những thiên tài thỉnh thoảng xảy ra trong lịch sử nhân loại.”- đó là lời phát biểu nhằm
tôn vinh tầm quan trọng của thư viện đại học của Ông Edmund J James, viện trưởng Viện
ĐH Illinois, Hoa Kỳ vào ngày 7/9/1912
Đầu tư cho thư viện là đầu tư cho giáo dục, là một đầu tư đặc biệt về kinh tế mà hệ quả của sự đầu tư được đo lường bởi chất lượng giáo dục, có tác động lớn, lâu dài đến sự phát triển của một đất nước Bởi thế mạnh của thư viện đại học là nơi cung cấp nguồn thông tin quan trọng nhất của nhà trường; là điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu của sinh viên; là môi trường rèn luyện và phát huy khả năng độc lập trong khám phá và
tư duy sáng tạo của sinh viên Ở thư viện đại học, bài giảng của thầy chỉ còn là những định hướng, qua đó sinh viên xác định mục tiêu của công cuộc khám phá, việc lựa chọn, đồng hoá những kiến thức tuỳ thuộc vào ý muốn của sinh viên Vì thế thư viện phải là địa chỉ cần thiết để sinh viên từng bước tập dượt trở nên con người có ích, có năng lực và chinh phục đỉnh cao trí tuệ
Hiện nay nhu cầu nghiên cứu trong các trường đại học là rất lớn, vì vậy công tác quản lý thư viện là vấn đề trọng điểm trong việc cung cấp tài liệu cho sinh viên Nhưng đa phần hiện nay các thư viện đều áp dụng mô hình tổ chức không hợp lý vào việc quản lý hoạt động thư viện của mình Việc độc giả gặp phải rất nhiều khó khăn trong các khâu từ việc làm thẻ thư viện, lựa chọn các cuốn sách phù hợp với nhu cầu và đến việc mượn sách đã làm cho nhiều người không thấy được lợi ích từ hoạt động thư viện Việc thư viện tạo điều kiện để cho các sinh viên tiếp xúc dễ dàng các dịch vụ của mình có thể nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên
Trang 9Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn từ ngày thành lập đến nay, trải qua 7 năm, đã không ngừng mở rộng quy mô ngành, nghề đào tạo, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực có chất lượng, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố
Hồ Chí Minh và Đồng bằng Sông Cửu Long Trong những năm qua, để nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường đã không ngừng đầu tư, cải tiến nâng cao số lượng và chất lượng các cơ
sở vật chất nói chung và thư viện nói riêng, bồi dưỡng năng lực đội ngũ giảng viên và cán
bộ quản lý Tuy nhiên, những hoạt động của thư viện của Trường chưa thật sự phù hợp, còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp thời việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục cao đẳng, đại học theo yêu cầu phát triển của xã hội Yêu cầu cấp thiết đối với thư viện Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn là cần phải có các biện pháp quản lý hoạt động một cách thiết thực, hiệu quả để phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đào tạo
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng quản lý hoạt
động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động thư viện và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động thư viện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của thư viện, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách th ể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động thư viện tại trường cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
Trang 10của thư viện và đề xuất các biện pháp cần thiết, khả thi sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thư viện của Trường
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động thư viện ở trường cao đẳng
5.2 Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động thư viện
ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
Đối tượng khảo sát: cán bộ quản lý cấp trường, khoa, phòng có liên quan thư viện trực thuộc trường, giảng viên, sinh viên và nhân viên của thư viện
7 Ph ương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động thư viện với quản lý cơ sở vật chất nhà trường và quản lý các hoạt động sư phạm khác ở Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm tiếp cận lịch sử giúp người nghiên cứu tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động thư viện từ khi thành lập Trường đến nay với những ưu điểm cần được phát huy và những nhược điểm cần khắc phục
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm tiếp cận thực tiễn giúp đánh giá những kết quả đã đạt được và những vấn
đề còn hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn, từ đó đề xuất một số biện pháp phù hợp với thực tiễn hoạt động thư viện của Trường
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trang 117.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thư viện ở trường cao đẳng
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: nhằm thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
- Nội dung khảo sát: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện; đồng thời khảo sát tính cần thiết và khả thi của một số biện pháp quản lý hoạt động thư viện Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
- Công cụ khảo sát: xây dựng 2 mẫu phiếu hỏi dành cho các đối tượng:
Mẫu 1: Phiếu khảo sát dành cho cán bộ quản lý, nhân viên và giảng viên các đơn vị trực thuộc Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
Mẫu 2: Phiếu khảo sát dành cho sinh viên trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và
Du lịch Sài Gòn
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn để trao đổi xin ý kiến của một số cán bộ quản lý thư viện nhằm để tìm hiểu kỹ hơn về thông tin
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Tiến hành thống kê và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản16.0 để xử
lý số liệu điều tra
Trang 12C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG THƯ VIỆN TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử thư viện đã trải qua hơn 25 thế kỷ Cùng với sự tiến hóa của nhân loại, con người càng tiến bộ trong nhận thức và thư viện ngày càng được phát triển Thư viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Thư viện là nơi lưu giữ và phổ biến những thông tin, tri thức của nhân loại kết tinh trong tài liệu Thông tin thư viện giúp con người nghiên cứu quá khứ, nắm vững hiện tại, hiểu biết được tương lai Thư viện là một trong những yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, là một bộ phận không thể thiếu trong việc hình thành môi trường văn hóa học đường Thư viện sẽ là nơi khơi nguồn và thỏa mãn những nhu cầu về thông tin, tri thức của giảng viên và sinh viên Hơn thế nữa, thư viện còn là trung tâm thông tin văn hóa cộng đồng
Trong quá trình hình thành và phát triển, thư viện và vấn đề tổ chức quản lý hoạt động thư viện đã có bước chuyển song hành với sự phát triển của xã hội Đó là bước chuyển
từ quản lý thủ công – quản lý tư liệu: sách được xếp theo kích cỡ trong những kho kín trong thư viện, độc giả chỉ tiếp cận với thủ thư ở quầy để yêu cầu mượn sách Cho đến một lúc, cũng xuất phát từ ý định ban đầu là làm tốt công việc lưu trữ và bảo quản, thư viện đã chú trọng đến việc xem người sử dụng là trung tâm, với sự nhấn mạnh đến việc trao đổi thông tin Giai đoạn quản lý thông tin được xem như bắt đầu cùng với sự ra đời ngành Thông tin học Cuộc bùng nổ thông tin và sự tiến nhanh như vũ bão của công nghệ thông tin và viễn thông đã đưa con người đến với kỷ nguyên số Nghiệp vụ thông tin thư viện đòi hỏi người cán bộ thư viện phải quản lý những thông tin hữu ích và có ý nghĩa được gọi là tri thức, tập hợp chúng thành những bộ sưu tập trong thư viện số Xây dựng thư viện số là ta đã bắt đầu bước qua một giai đoạn phát triển mới của ngành thông tin thư viện: giai đoạn Quản lý tri thức
Do vậy, vấn đề nghiên cứu thư viện và sự phát triển của nó đã được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau
1.1.1 Thế giới
Sự nghiệp thư viện thế giới có lịch sử phát triển lâu dài Trải qua những năm tháng cùng với bao thăng trầm, sự nghiệp thư viện thế giới không ngừng phát triển với những
Trang 13bước tiến và những thành tựu đáng kể đã và đang phục vụ cho sự phát triển của các quốc gia trên cơ sở các thông tin phục vụ sự phát triển của mọi lĩnh vực trong cuộc sống Đặc biệt vai trò của thư viện trong những năm cuối thế kỷ XX Trong giai đoạn đó sự nghiệp thư viện thế giới đã có rất nhiều đổi mới, vấn đề mới, sự kiện mới xảy ra
Chúng ta cũng thấy được những nghiên cứu gần đây về thư viện và những bản báo cáo nghiên cứu của tổ chức quốc tế như Hội Đồng về Tài nguyên Thông tin Thư viện (Council on Library and Information Resources – CLIR), báo cáo về tương lai kiểm soát thư mục của Quốc hội Mỹ (Library of Congress) và các điều tra nghiên cứu về xu hướng và nhu cầu của thư viện đại học và nghiên cứu của Ủy ban chung về Hệ thống Thông tin (Joint Information Systems Committee –JISC) Những bản báo cáo và điều tra này đã chỉ ra những
xu hướng thay đổi căn bản về các tiêu chuẩn thực hành biên mục cũng như kiểm soát thư mục phù hợp với môi trường truy cập điện tử, thu thập và bảo quản tài liệu số nhằm tạo ra
sự sẵn có truy cập bền vững với thời gian cho giới nghiên cứu, đồng thời định hình lại công nghệ thư viện với các hệ thống phát hiện và chuyển giao tài nguyên thông tin và mô hình dữ
liệu thống nhất phù hợp với bối cảnh thay đổi của kỷ nguyên Internet
Công trình nghiên cứu của M Lonsdale về “Tác động của thư viện trường học tới kết
quả học tập của sinh viên” đã cho thấy sự liên kết giữa thư viện trường với kết quả học tập
của sinh viên [35]
- Một thư viện tốt với đầy đủ nhân viên, các nguồn lực và kinh phí có thể làm cho kết quả học tập của sinh viên tốt lên
- Chất lượng tài liệu có tác động đến việc học của sinh viên
- Kết quả bài kiểm tra tăng lên khi việc sử dụng tăng lên
- Mối quan hệ giữa giảng viên và cán bộ thư viện có tác động cụ thể đến việc học, là mối quan hệ giữa các học phần dự kiến, phát triển nguồn tài liệu và sự phát triển cá nhân
Các tác giả Robert Burgin, Pauletta Brown Bracy và Kathy Brown qua công trình
nghiên cứu “Các thư viện trường và trung tâm thông tin đã làm tăng kết quả học tập của
học sinh ở North Carolina như thế nào”, dựa trên cơ sở dữ liệu của 2.138 thư viện trường
học và 2.529 cán bộ thư viện ở Bắc Carolina, Hoa Kỳ, do Sở Giáo dục Liên bang cung cấp, các tác giả đã khảo sát ngẫu nhiên 500 người được chọn từ các trường nói trên, kết quả khảo sát cho thấy các chương trình hoạt động của thư viện trường học ở Bắc Carolina tập trung vào các lĩnh vực sau [37]:
- Cán bộ thư viện
Trang 14- Thời gian phục vụ
- Ứng dụng công nghệ thông tin
- Tra cứu Internet
- Kinh phí hoạt động
- Sự quản lý
Công trình nghiên cứu này cho thấy các hệ thống thư viện đã có những tác động cụ thể lên kết quả học tập của học sinh, được đo bằng điểm đọc chuẩn và các bài thi trắc nghiệm
Một số tác giả nước ngoài khác cũng quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này như cuốn
“Library management” của tác giả Robert D Sueart và John Taylor xuất bản năm 1981 Cuốn sách nêu được khía cạnh lịch sử của quản lý thư viện và nêu cụ thể các chức năng của
quản lý thư viện hiện đại Cuốn “Quality management for information and library
managers” của tác giả Peter Broply và Kate Coulling xuất bản năm 1996 thì đưa ra những tiêu chuẩn về chất lượng quản lý thông tin thư viện, so sánh thư viện với các dịch vụ thông
tin của các cơ quan thông tin khác [38]
Nhìn chung những cuốn sách của các tác giả nước ngoài thường được sử dụng để tham khảo thêm về phương thức tổ chức, quản lý và để học tập rút kinh nghiệm khi áp dụng các phương thức đó vào thư viện Việt Nam
1.1.2 Việt Nam
Ở nước ta hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến tổ chức quản lý thư viện như sau:
Tác giả Hoàng Như Huệ với đề tài “Nghiên cứu, phát triển dịch vụ cung cấp thông
tin tại các trung tâm thông tin thư viện đại học” đã nghiên cứu dịch vụ cung cấp thông tin
tại các Trung tâm Thông tin - Thư viện trường đại học để thấy được giá trị và ý nghĩa mà dịch vụ này mang lại cho bạn đọc, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ này tại các Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học
Trong “Tổ chức và quản lý công tác thư viện” tác giả Âu Cẩm Linh đã viết quan
điểm quản trị hiện đại, áp dụng cho ngành Thư viện Việt Nam Nhằm mục đích thiết lập cơ cấu thích hợp đảm bảo quản lý tốt các nguồn lực gồm nhân lực, tài chính, trụ sở, trang thiết
bị và sưu tập, đồng thời tổ chức việc khai thác vốn tài liệu một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao
nhất trong việc phục vụ người sử dụng [23]
Giáo trình “Quản lý thư viện và trung tâm thông tin” của tác giả Nguyễn Tiến Hiển
Trang 15và Nguyễn Thị Lan Thanh xuất bản năm 2002, trong giáo trình các tác giả đã trình bày những nguyên lý chung đáng chú ý trong công tác quản lý các thư viện và cơ quan thông tin, song chưa đề cập cụ thể đến công tác quản lý hoạt động thư viện của trường cao đẳng,
văn chỉ đi sâu vào vấn đề quản lý khai thác nguồn lực thông tin của thư viện
- Qua đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Thu Hoài về “Đánh giá hoạt động khai thác
và sử dụng thư viện nhà trường phục vụ cho việc học tập của sinh viên năm cuối hệ đại học chính quy, học viện chính trị - hành chính quốc gia Tp.HCM”, tác giả muốn làm rõ những
tác động của thư viện đến việc học của sinh viên Thay vì học thụ động, kiến thức sinh viên thu nhận được chỉ bó hẹp trong những bài giảng của giáo viên, sinh viên có thể đến thư viện đọc tài liệu, nghiên cứu và làm chủ kiến thức của mình
- Tác giả Nguyễn Thị Kim Xuyến với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động của Trung
tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Tiền Giang” lại nghiên về hoạt động của thư viện
chứ chưa làm rõ công tác quản lý hoạt động thư viện
Cho đến nay rất ít những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý hoạt động thư viện cao đẳng, đại học Chính vì lẽ đó, thực hiện đề tài này, tác giả đã kế thừa các kết quả nghiên cứu trên và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn tổ chức, quản lý hoạt động của thư viện Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn để giải quyết những vấn đề khoa học và thực tiễn mà đề tài đặt ra
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý
1.2.1.1 Quản lý
Theo nghĩa chữ Hán, “quản” là trông nom, “lý” là sắp đặt lo liệu công việc Quản lý
vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, đang là vấn đề quan tâm nhiều nhất của các nhà quản
lý và các nhà nghiên cứu lý luận quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và ở mọi thời đại
Trang 16Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và thiên nhiên, do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con người với bản thân mình Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều này đã làm nẩy sinh nhu cầu về quản lý Như vậy, quản lý xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát triển đến ngày nay
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế
độ hoạt động Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là Phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu
Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo các cách tiếp cận khác nhau
Các Mác đã viết:"Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng” [5, tr.28]
Theo Harold Koontz, Cyri O’donnell và Heinz Weihrich thì " Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ
chức" [8, tr.33]
Theo tác giả Trần Kiểm thì “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong
vi ệc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân
l ực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt
m ục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”
[20, tr.8]
Trang 17Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì quan niệm rằng:"Quản lý là một quá
trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn"
[26, tr.17]
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: “Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách
tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [7, tr.55]
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiểu quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả
Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau nhưng tất cả các định nghĩa đều xác định được những đặc trưng của quản lý như sau:
- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội – lao động; quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
- Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý giữ vai trò trọng tâm trong hoạt động quản lý
Như vậy, có thể hiểu quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý nhằm điều khiển và hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục tiêu phù hợp với quy luật khách quan và ý chí của người
qu ản lý
Có thể nói rằng, “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật” và
hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi…chúng là những mặt đối lập trong một thể
thống nhất
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong hệ thống quản lý Nhà nước về lĩnh vực giáo
Trang 18dục, là sự tác động và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động giáo dục
& đào tạo do các cơ quan quản lý giáo dục từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ về GD & ĐT do Nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp GD & ĐT, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu GD & ĐT của nhân dân
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong
hệ thống giáo dục quốc dân
Quản lý giáo dục có thể xác định là tác động của hệ thống có kế hoạch, có ý thức
và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ Bộ Giáo dục – Đào tạo đến các Sở, Phòng, trường học) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em
Quản lý giáo dục là phức tạp và khó khăn Chính vì vậy, có hai định nghĩa về quản
lý giáo dục:
+ Một là ở cấp vĩ mô (hệ thống giáo dục):
Theo D.V Khuđominxki thì: “quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý nghĩa và có mục đích của chủ thể, quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến các nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Chủ nghĩa Cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ” [6, tr.33]
Theo tác giả Trần Kiểm:“Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể nhằm
huy động, tổ chức điều phối, điều chỉnh, quan sát … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội” [21, tr.10]
+ Hai là ở cấp vi mô (nhà trường):
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên
lý của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm
Trang 19hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu
dự kiến tiến lên trạng thái về chất" [9, tr.7]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục vi mô được hiểu là những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, CNV, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục
của nhà trường” [21, tr.12]
Dù ở cấp độ vĩ mô hay vi mô, quản lý giáo dục có 4 yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này có mối quan hệ và tác động nhau theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ các yếu tố của quá trình quản lý
Do đó có thể thống nhất quan niệm: Quản lý Giáo dục là hoạt động điều hành, phối
hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
1.2.1.3 Quản lý trường học
Khái niệm quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô cũng chính là khái niệm quản lý trường học Nói cách khác, quản lý trường học là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và học của cán bộ, nhân viên trong trường Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục & đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục & đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng “quản lý trường học là quản lý giáo dục tại cấp
cơ sở trong đó chủ thể quản lý là các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lý trong trường do Hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lý là nhà trường như một tổ chức chuyên môn – nghiệp vụ, nguồn lực quản lý là con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài
Trang 20chính, đầu tư khoa học – công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có” [16, tr.7-9]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyê n lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với
thế hệ trẻ và từng học sinh” [10, tr.13]
Tác giả Phạm Viết Vượng đã nêu : “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ
quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [34, tr.26]
Hoặc “Quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà người cán
bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học” [33, tr.8]
Từ đó có thể nói: “Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống những tác động sư
phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả
mục tiêu đã đề ra” [33, tr.10]
1.2.1.4 Chức năng quản lý trường học
Tiến trình quản lý là một phức hợp những kỹ năng có tính hệ thống rất sinh động và phức tạp Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau Những loại công việc này gọi là chức năng quản lý Như vậy, các chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hóa hoạt động quản lý Có 4 chức năng cơ bản nhất là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Trang 21- Xác định mục tiêu (phương hướng) cho tổ chức
- Nhận diện các nguồn lực của tổ chức để thực hiện các mục tiêu đó
- Quyết định về những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu đã đề ra
Tiến trình tổ chức bao gồm việc thiết lập các bộ phận, phòng ban và xây dựng các bản mô tả công việc Vấn đề nhân sự cũng xuất phát trực tiếp từ các chức năng lập kế hoạch
và tổ chức
+ Chức năng chỉ đạo:
Chỉ đạo là quá trình chủ thể quản lý sử dụng quyền lực quản lý của mình để điều hành, tác động đến hành vi của các cá nhân, bộ phận trong hệ thống một cách có chủ đích để
họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được các mục tiêu chung của tổ chức
Nội dung cơ bản của chức năng chỉ đạo là chủ thể quản lý phải thực hiện nhiệm vụ ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó Quá trình này bao gồm các hoạt động phân công, hướng dẫn, đôn đốc, động viên, thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ
+ Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường và đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục Đồng thời, kiểm tra cũng nhằm tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của tổ chức Trong hoạt động quản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua chức năng kiểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lý sẽ tiến hành những biện pháp điều chỉnh , sửa chữa uốn nắn nếu cần thiết Vì vậy, để đánh giá được hiệu quả quản lý, người quản lý cần phải thực hiện chức năng kiểm tra
Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý
Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
Trang 22- Xây dựng chuẩn để thực hiện
- Đánh giá việc thực hiện dựa trên chính sách so với chuẩn
- Nếu kết quả hoạt động có sự chênh lệch so với chuẩn thì cần điều chỉnh hoạt động
để đạt được hiệu quả mong muốn
Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia của hai yếu
tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và quyết định Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ chức năng quản lý
1.2.2 Q uản lý hoạt động thư viện
có sự tiến triển theo thời gian
Danh từ thư viện xuất phát từ chữ Hy Lạp Biblio là sách, thêka là bảo quản Vậy thì, thuật ngữ “thư viện” do hai chữ: thư là sách, viện là nơi bảo quản Thư viện theo nghĩa đen
là nơi tàng trữ kho sách [33, tr.43]
Nhà văn Sô Bô Lép đã nêu rõ khái niệm thư viện: “Thư viện – là kho tàng sách báo
đa dạng, phong phú, - là cơ thể sống, hoạt động nuôi dưỡng rất nhiều người, - là món ăn
tinh thần của độc giả, thỏa mãn một cách đầy đủ lợi ích nhu cầu và hứng thú của họ” [33,
tr.44]
Kế hoạch
Tổ chức
Chỉ đạo Kiểm
tra
Trang 23Năm 1970, UNESCO (Tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa Liên hợp quốc) đưa ra
định nghĩa: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức
nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí”
[24, tr.7]
Theo Pháp lệnh Thư viện ở điều 1 có ghi rõ: “Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ
gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá,
phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [32, điều 1]
Định nghĩa vừa nêu trên cho thấy vị trí, vai trò và tác dụng to lớn của hệ thống thư viện Việt Nam trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Theo điều 2 Quy chế mẫu về về tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008
của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì: “Tên gọi của thư viện trường đại học
được quy định như sau: Thư viện + tên trường đại học Thư viện bao gồm: Thư viện, trung tâm thông tin thư viện, trung tâm học liệu các trường đại học thành lập và đăng ký hoạt động theo các quy định của pháp luật về thư viện”
1.2.2.2 Thư viện trường cao đẳng, đại học
Trong một thời gian dài, các thư viện trường cao đẳng, đại học ở nước ta được hình thành bằng nhiều cách khác nhau và theo đó là các tên gọi khác nhau: Thư viện trường cao đẳng, đại học, Trung tâm thông tin – tư liệu, Trung tâm học liệu Đã có nhiều bàn luận về danh xưng và đề nghị nên thống nhất tên gọi, tuy nhiên điều này là không thể và không cần thiết vì danh xưng chỉ là một dấu hiệu hình thức của một tổ chức, còn nội dung hoạt động mới là quan trọng nhất
“ Thư viện đại học là một loại hình thư viện trong trường đại học và viện nghiên cứu
Vì thư viện đại học là một cơ sở thiết yếu nhất trong một trường đại học nên danh xưng thư viện đại học gắn liền với tên trường đại học đã trở nên thân thương và mang ý nghĩa thiêng liêng” [13, tr.89]
Trong cuốn Từ điển dành cho công tác thư viện và khoa học thông tin của Nhà xuất bản Libraries Unlimited in năm 2006, tác giả Joan M Reitz định nghĩa thư viện trường đại
Trang 24học là “một thư viện hoặc một hệ thống thư viện do nhà trường thành lập, quản lý và cấp
ngân sách hoạt động để đáp ứng các nhu cầu về thông tin, tra cứu và thông tin về môn học của sinh viên, các khoa và cán bộ của trường”
Theo định nghĩa này ta thấy: thư viện trong trường cao đẳng, đại học có thể là một thư viện và cũng có thể là một hệ thống thư viện Cũng theo tác giả này thì hệ thống thư viện là một tập hợp các thư viện chịu sự quản lý chung; cũng có thể là một nhóm các thư viện quản lý độc lập liên kết với nhau, chính thức hay không chính thức cùng thỏa thuận đạt đến một mục đích chung, mỗi thư viện được xem như là một thành viên Hình ảnh rõ nhất của sự liên kết này là một trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực đào tạo với các cơ sở thông tin độc lập liên kết với nhau bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu liên kết đào tạo và chia xẻ nguồn tài nguyên thông tin cũng như cơ sở vật chất
Trong xu thế phát triển của ngành thông tin thư viện, công nghệ thông tin đã, đang và
sẽ chi phối mọi hoạt động dịch vụ thông tin thư viện Chính điều này làm cho thư viện trở thành cầu nối giữa thông tin và người sử dụng Thư viện là trái tim luôn nóng bỏng, luôn đồng hành và không thể tách rời hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của một trường cao đẳng, đại học Thư viện trở thành thước đo đánh giá hiệu quả đào tạo của các cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học
1.2.2.3 Quản lý hoạt động thư viện trường cao đẳng, đại học
Quản lý hoạt động thư viện trường cao đẳng, đại học được hiểu là thực hiện tác động thông qua các chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để thư viện phục vụ tốt nhất nhu cầu dùng tin, khai thác thông tin của bạn đọc; bảo quản và phát huy tác dụng tốt nhất vốn tài liệu và các trang thiết bị nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động
Quản lý hoạt động thư viện bao gồm 5 nội dung chính: quản lý cán bộ, quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật, quản lý vốn tài liệu, quản lý việc phục vụ bạn đọc và quản lý ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện Trong 5 nội dung quản lý trên thì việc tổ chức quản lý cán bộ thư viện là quan trọng nhất vì đây chính là đối tượng để thực hiện mục tiêu đảm bảo việc phục vụ thông tin, tư liệu hiệu quả nhất cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường cao đẳng, đại học
Để tổ chức quản lý hoạt động của thư viện được tốt cần phải thiết lập một cơ cấu thích hợp đảm bảo tổ chức sử dụng, khai thác vốn tài liệu thư viện một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường đại học và phải có cơ
Trang 25chế hoạt động không trái với các qui định hiện hành như Luật Giáo dục, Pháp lệnh Thư viện… cụ thể là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng trường cao đẳng, đại học
1.3 Lý luận về hoạt động thư viện ở trường cao đẳng, đại học
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của thư viện trường cao đẳng, đại học
1.3.1.1 Vai trò của thư viện trường cao đẳng, đại học
Tác giả Lê Ngọc Oánh đã phát biểu: “những thư viện trên thế giới ngày nay đã thoát
khỏi khía cạnh tĩnh của những kho chứa sách để trở nên năng động hơn với ba vai trò chính yếu sau đây:
- Thư viện là một cơ quan truyền thông đại chúng;
- Thư viện là một trung tâm phát triển văn hóa;
- Thư viện là một động lực đóng góp vào việc đổi mới giáo dục
Giữa ba vai trò trên, thư viện trường đại học đã làm nổi bật vai trò là một động lực
đóng góp vào việc đổi mới giáo dục” [27, tr.92]
Đúng vậy, thư viện ngày nay không chỉ là nơi lưu giữ, bảo quản sách mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ công tác học tập và giảng dạy Thư viện đại học giúp rất nhiều cho việc thay đổi phương pháp học tập ở bậc cao đẳng, đại học Sinh viên cần phải tăng cường tính tự học, tự đọc giáo trình, đọc tài liệu tham khảo – điều này hiện nay sinh viên nước ta còn rất yếu Thư viện đại học sẽ cung cấp cho sinh viên nhiều nguồn thông tin, tri thức khác nhau, sinh viên phải làm công việc chọn lựa, phân tích, so sánh, đánh giá tổng hợp những thông tin tri thức này để đưa ra nhận xét, rút ra kết luận riêng của mình
Thư viện và môi trường học thuật thuận lợi, tài liệu phong phú, công tác tra cứu, mượn trả tài liệu thuận lợi và thời gian phục vụ dài hơn, thái độ và trình độ nghiệp vụ của cán bộ thư viện ngày một tốt hơn sẽ góp phần thay đổi lề lối học tập trước đây của sinh viên, kết hợp với phương pháp giảng dạy mới, đổi mới hình thức thi cử… chất lượng đào tạo sẽ được nâng lên một bước, phát huy hiệu quả, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục đại học và thực tiễn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, hội nhập với các nước trong khu vực
và trên thế giới
1.3.1.2 Nhiệm vụ của thư viện trường cao đẳng, đại học
- Cung ứng cho giảng viên và sinh viên đầy đủ các loại sách giáo trình, sách tham
khảo, sách nghiệp vụ, các loại từ điển, tác phẩm kinh điển để tra cứu và các sách báo cần thiết khác, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và tự bồi dưỡng thường
Trang 26xuyên của giảng viên và sinh viên
- Sưu tầm và giới thiệu rộng rãi trong cán bộ, giảng viên và sinh viên những sách báo
cần thiết của Đảng và Nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo, phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học giáo dục, bổ sung kiến thức của các bộ môn khoa học, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
- Tổ chức thu hút toàn bộ giảng viên và sinh viên tham gia sinh hoạt thư viện thông
qua các hoạt động phù hợp với chương trình và kế hoạch giảng dạy, tìm hiểu nhu cầu của giảng viên và sinh viên, giúp họ chọn sách, đọc sách có hệ thống, biết sử dụng bộ máy, biết tra cứu sách, tra cứu thư mục nhằm sử dụng triệt để kho sách, nhất là sách nghiệp vụ và sách tham khảo
- Phối hợp hoạt động với các thư viện trong ngành và các thư viện địa phương để
chủ động khai thác, sử dụng vốn sách báo, trang thiết bị chuyên dùng, giúp đỡ kinh nghiệm,
tổ chức đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ; liên hệ với các cơ quan phát hành trong và ngoài ngành, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, các nhà tài trợ… nhằm huy động các nguồn kinh phí ngoài ngân sách và các loại sách báo, tạp chí, tư liệu để đảm bảo nguồn bổ sung, làm phong phú nội dung kho sách và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật thư viện
- Tố chức quản lý theo đúng nghiệp vụ thư viện, có sổ sách quản lý chặt chẽ, bảo
quản giữ gìn sách báo an toàn, tránh hư hỏng mất mát, thường xuyên thanh lọc sách báo cũ, rách nát, lạc hậu, kịp thời bổ sung các loại sách, tài liệu, tư liệu mới, sử dụng và quản lý chặt chẽ kinh phí thư viện thu được vào đúng mục đích, có kế hoạch chủ động đón đầu tiếp thu sự phát triển của mạng lưới thông tin – thư viện điện tử, từng bước đưa các trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác quản lý thư viện phục vụ tốt bạn đọc
1.3.2 Các yếu tố cấu thành thư viện trường cao đẳng, đại học
1.3.2.1 Vốn tài liệu
Đây là yếu tố đầu tiên để hình thành thư viện, vốn tài liệu là tài sản quý giá, là tiềm lực, là sức mạnh và niềm tự hào của thư viện Số lượng và chất lượng của vốn tài liệu thể hiện tầm cỡ và quy mô của một thư viện Vốn tài liệu có phong phú thì sẽ lôi cuốn độc giả đến với thư viện ngày một nhiều Các thư viện Quốc hội Mỹ, thư viện Quốc gia Anh, Pháp, Nga… nổi tiếng trên thế giới vì có vốn tài liệu hàng chục triệu bản, có nhiều sách cổ rất quý giá
Vốn tài liệu còn là di sản văn hóa, là kho tri thức của dân tộc, là thước đo trình
độ phát triển về mọi mặt của mỗi nước Trên bình diện quốc tế vốn tài liệu là kho tri
Trang 27thức của toàn nhân loại
Vì vậy, mỗi thư viện muốn hoạt động tốt, trước hết phải có vốn sách dồi dào, phong phú, có nhiều sách hay, nội dung sách báo phải phù hợp với trình độ và đáp ứng với nhu cầu, yêu cầu bạn đọc
Vốn tài liệu vừa là đối tượng sử dụng của bạn đọc vừa là đối tượng làm việc của cán bộ thư viện Vốn tài liệu được xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi thư viện
1.3.2.2 Cán bộ thư viện
Cán bộ thư viện là người trực tiếp phục vụ bạn đọc và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn thư viện Họ là linh hồn của thư viện Vốn tài liệu có phát huy được vai trò, tác dụng hay không, tác dụng của cơ sở vật chất có được khai thác triệt để hay không, kết quả phục vụ bạn đọc có cao hay không, trước hết phụ thuộc vào trình độ và lòng nhiệt tình của cán bộ thư viện
Người cán bộ thư viện cần phải phấn đấu theo những yêu cầu sau:
- Về tri thức: có vốn tri thức sâu, rộng để hiểu được nội dung sách, đánh giá được sách để chọn lọc bổ sung, tuyên truyền giới thiệu sách với bạn đọc, hướng dẫn người đọc sử dụng sách báo, giúp bạn đọc lĩnh hội nội dung tri thức và giá trị nghệ thuật Đồng thời có hiểu biết về chuyên môn, thành thạo các khâu nghiệp vụ
- Về tình cảm: có lòng yêu sách, ham đọc sách, thiết tha với việc đọc của quần chúng nhân dân, lấy kết quả đọc của bạn đọc làm niềm vui, tâm huyết với nghề, tận tâm với người đọc
- Về kỹ năng: có kỹ năng nói và viết để tuyên truyền sách, để vận động quần chúng đọc sách, biết tổ chức các sinh hoạt thư viện, thu hút đông đảo nhân dân đến đọc sách thư viện
- Về tác phong: phải là người có văn hóa trong giao tiếp ứng xử, phải thể hiện vẻ đẹp về tình cảm và tâm hồn, phải là tấm gương về tác phong, lối sống văn hóa trước bạn đọc
1.3.2.3 Người đọc
Người đọc là người sử dụng vốn sách báo của thư viện để học tập, nghiên cứu và giải trí Họ là đối tượng phục vụ của thư viện, do vậy, họ cũng chi phối mọi hoạt động của thư viện Thỏa mãn nhiều nhất nhu cầu về sách báo của bạn đọc là mục tiêu phấn đấu của mỗi thư viện Tất cả các công việc khác như xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm
Trang 28trang thiết bị, bổ sung sách báo, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thư viện, áp dụng công nghệ mới hiện đại… đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc Kết quả phục vụ bạn đọc, kết quả đọc sách của họ là niềm vui, là lý tưởng phấn đấu của tất cả cán bộ thư viện
1.3.2.4 Cơ sở vật chất – kỹ thuật
Cơ sở vật chất của thư viện bao gồm sách báo, nhà cửa, bàn ghế, giá sách, các đồ dùng thiết bị khác… Nếu cơ sở vật chất tốt, sách báo sẽ được bảo quản lâu dài, bạn đọc được đọc sách trong môi trường tiện nghi, thoải mái, thư viện hấp dẫn với bạn đọc, cán
bộ thư viện làm việc nhẹ nhàng, năng suất lao động cao, tăng thêm lòng yêu nghề
Cơ sở vật chất của thư viện phải đạt yêu cầu phù hợp với công tác chuyên môn,
có tính thẩm mỹ và ngày càng hiện đại cả về trụ sở cũng như trang thiết bị
Một thư viện với các phương tiện hiện đại sẽ cung cấp những dịch vụ chất lượng cao đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của bạn đọc, vì thế uy tín của thư viện được nâng cao trong lòng bạn đọc cũng như đối với toàn xã hội Bên cạnh đó cơ sở vật chất – kỹ thuật tốt còn giúp cán bộ thư viện tự hào hơn về nghề nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho học say
mê và sáng tạo hơn trong công việc của mình
Như vậy, thư viện được tạo thành từ 4 yếu tố cơ bản: vốn tài liệu (VTL), cán bộ thư viện (CBTV), bạn đọc (BĐ), cơ sở vật chất kỹ thuật và giữa chúng có mối quan hệ, tác động chặt chẽ với nhau mà thiếu một trong các yếu tố đó sẽ không còn là một thư viện
Sơ đồ 1.3 Mô hình quan hệ giữa các yếu tố của thư viện
Việc phân tích các mối quan hệ giữa các yếu tố của thư viện theo mô hình trên có
ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng, chẳng hạn, khi ta tác động vào yếu tố nào, ví dụ như tăng vốn tài liệu sẽ lập tức ảnh hưởng tới các yếu tố khác (tăng người xử lý, tăng
Trang 29diện tích bảo quản, tăng bạn đọc…)
1.3.3 Nội dung hoạt động của thư viện trường cao đẳng, đại học
1.3.3.1 Hoạt động nghiệp vụ thư viện
Trong những năm gần đây, hoạt động của hệ thống thư viện trường cao đẳng, đại học ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể, đáp ứng tốt cho việc giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên
Trong công tác thư viện, hoạt động nghiệp vụ là khâu quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của thư viện Thư viện trường cao đẳng, đại học luôn quan tâm đến chất lượng vốn tài liệu, tạo ra những bộ sưu tập lựa chọn bổ sung những loại tài liệu có giá trị nội dung cao, phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa các môn ngành tri thức của các kho tài liệu Các hoạt động nghiệp vụ thư viện bao gồm:
- Bổ sung sách báo: vốn sách báo là cơ sở vật chất, là tài sản quý giá của thư
viện và là một trong những yếu tố quyết định chất lượng phục vụ, hiệu quả hoạt động của thư viện nên việc bổ sung sách báo đóng vai trò hết sức quan trọng
- Xử lý kỹ thuật sách báo: sách sau khi nhập vào thư viện sẽ được đăng ký, xử
lý kỹ thuật để lảm căn cứ cho việc sắp xếp, tổ chức kho sách, thuận tiện cho việc phục
vụ bạn đọc Xử lý kỹ thuật sách báo trong thư viện gồm những khâu cơ bản sau:
- Phục vụ bạn đọc: phục vụ bạn đọc là công tác quan trọng nhất của thư viện, là
thước đo hiệu quả hoạt động thư viện Thông qua công tác phục vụ bạn đọc, thư viện mới phát huy tác dụng của sách báo đối với xã hội
Muốn thu hút bạn đọc đến thư viện, ngoài việc phải thường xuyên có vốn sách, báo mới, thư viện cần làm tốt công tác tuyên truyền, giới thiệu sách báo bằng nhiều hình thức phong phú như: tuyên truyền trực quan, tuyên truyền miệng, thi tìm hiểu qua sách báo…
- Quản lý thư viện: Muốn cho thư viện hoạt động có hiệu quả, người cán bộ thư
Trang 30viện không chỉ thực hiện tốt các quy định về chuyên môn nghiệp vụ, mà còn phải biết
và làm tốt công tác quản lý thư viện Lập kế hoạch công tác là nhiệm vụ của người làm
công tác thư viện nhằm liệt kê các công việc cần phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Việc xây dựng kế hoạch công tác giúp cho cán bộ thư viện chủ động trong việc tổ chức các hoạt động của mình, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc
1.3.3.2 Hoạt động phục vụ bạn đọc
Công tác phục vụ người đọc là khâu trọng yếu của công tác thư viện, là chiếc cầu nối giữa kho sách và bạn đọc Công tác phục vụ bạn đọc là một hoạt động của thư viện nhằm thúc đẩy, phát triển và thoả mãn nhu cầu, hứng thú đọc tài liệu thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn và cung cấp tài liệu dưới nhiều hình thức Công tác phục vụ bạn đọc bao gồm các hình thức tổ chức và phương pháp phục vụ bạn đọc ở trong và ngoài thư viện Đồng thời công tác phục vụ bạn đọc còn là thước đo hiệu quả luân chuyển tài liệu và tác dụng của nó trong đời sống
Với ý nghĩa đó “Công tác phục vụ bạn đọc luôn được coi là công tác quan trọng
nhất của thư viện Bởi vì, thông qua công tác này vốn tài liệu quý giá của thư viện mới được sử dụng có hiệu quả, mới phát huy được tác dụng trong phát triển mọi mặt của đất nước, từ đó vị trí, vai trò xã hội của thư viện mới được khẳng định” [19, tr.12]
Trong thực tiễn hoạt động của các thư viện và cơ quan thông tin cho thấy công tác phục vụ bạn đọc có rất nhiều vai trò khác nhau song nổi bật là công tác phục vụ bạn đọc được ví như “chiếc cầu” nối liền người đọc với vốn tài liệu thông qua vai trò của người cán bộ thư viện Thông qua công tác phục vụ bạn đọc vốn tài liệu của thư viện được khai thác, sử dụng và thư viện có thể tìm hiểu và nắm được nhu cầu đọc, nhu cầu tin của người đọc và chính điều đó là cơ sở của các hoạt động khác trong thư viện
Những hình thức phục vụ bạn đọc trong thư viện là phòng mượn và phòng đọc:
- Phòng mượn là trung tâm hoạt động của tất cả các loại hình thư viện Nhiệm vụ của cán bộ thư viện phòng mượn là:
+ Nhận đăng ký bạn đọc mới vào thư viện, nhận sách bạn đọc trả, ghi phiếu cho độc giả mượn sách
+ Tọa đàm với độc giả về những cuốn sách đã đọc và giới thiệu sách mới
+ Cung cấp sách theo phiếu yêu cầu
- Phòng đọc: phục vụ bạn đọc trong phòng đọc có đặc điểm riêng của nó Độc giả không chỉ có quyền sử dụng kho sách của phòng đọc mà còn sử dụng tất cả kho sách
Trang 31của thư viện Phòng đọc áp dụng kho mở tự chọn, do đó độc giả phải làm quen với hệ thống sắp xếp kho sách Điều đó có thể đạt được bằng phương pháp xây dựng sơ đồ sắp xếp kho, hướng dẫn cho độc giả sử dụng kho sách mở tự chọn tài liệu trong kho
1.4 Nội dung quản lý hoạt động thư viện trường cao đẳng
1.4.1 Quản lý đội ngũ cán bộ thư viện
Quản lý đội ngũ cán bộ thư viện là khâu trọng yếu quyết định hiệu quả và chất lượng hoạt động thư viện bởi vì con người là “cái gốc” của mọi vấn đề, đối tượng để thực hiện các mục tiêu quản lý đề ra Nếu tổ chức và quản lý tốt cán bộ thư viện thì thư viện sẽ có “tiền đồ” phát triển tốt và ngược lại sẽ trì trệ, tụt hậu bởi vì đây là công việc rất khó khăn đòi hỏi phải có nghệ thuật quản lý, không chỉ dựa vào các qui định của
pháp luật mà còn phải có khả năng sư phạm và am hiểu tâm lý nhân viên để có những quyết định đúng đắn, hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất
Quản lý cán bộ thư viện bao gồm:
- Việc lựa chọn, sắp xếp, bố trí cán bộ vào các vị trí cho phù hợp với năng lực và trình độ chuyên môn
- Tổ chức tốt môi trường và điều kiện làm việc
- Phân công lao động hợp lý, làm tốt công tác điều chuyển cán bộ cũng như chế
độ đãi ngộ để cán bộ “tận tâm, tận lực” với công việc được giao
- Cải tiến tổ chức định mức lao động
- Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là ngoại ngữ và tin học nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học hiện nay
1.4.2 Quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật
Việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, trách nhiệm, quyền hạn và các nguồn lực cho cán bộ thư viện có thể đạt được mục tiêu là quản lý sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện một cách có hiệu quả nhất
Những công tác cụ thể:
- Xây dựng các qui định, quy trình quản lý, sử dụng và bảo quản CSVC thư viện
- Tập huấn sử dụng các trang thiết bị trong thư viện
- Tổ chức việc phân công người thực hiện các kế hoạch về CSVC
Trang 32- Tiến hành kiểm kê định kỳ
1.4.3 Quản lý vốn tài liệu
Vốn tài liệu không chỉ là tài sản mà còn là cơ sở cho hoạt động hiệu quả của mỗi thư viện Vốn tài liệu càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu đọc càng lớn và càng có sức thu hút bạn đọc Đối với thư viện Đại học, vốn tài liệu nhằm mục đích phục
vụ hoạt động dạy - học và nghiên cứu khoa học của nhà trường Vì vậy, làm tốt công tác quản lý vốn tài liệu sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu, phát huy hiệu quả khai thác thông tin phục vụ hoạt động dạy – học và nghiên cứu của nhà trường
Quản lý vốn tài liệu và quá trình thực hiện kế hoạch bổ sung tài liệu đúng diện, đầy đủ; tổ chức phục vụ kịp thời, tiện lợi và bảo quản lâu dài Quản lý vốn tài liệu tốt giúp xây dựng, phát triển vốn tài liệu phù hợp, đa dạng, phong phú, chất lượng, là điều kiện cơ bản giúp hoạt động dạy – học và nghiên cứu thuận lợi và đạt hiệu quả cao Không có tài liệu, hoạt động dạy – học và nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng nếu
có tài liệu mà không bảo quản tốt, sử dụng có hiệu quả thì vai trò của vốn tài liệu cũng không được phát huy Do vậy, công tác quản lý vốn tài liệu với hoạt động dạy – học và nghiên cứu có mối quan hệ mật thiết với nhau, là điều kiện, động lực để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục
Công tác quản lý vốn tài liệu bao gồm:
- Tuân thủ các nguyên tắc bổ sung VTL
- Xây dựng qui trình bổ sung VTL
- Bổ sung VTL đa ngành
- Bổ sung VTL chuyên ngành
- Bổ sung VTL dưới dạng tài liệu điện tử
- Bảo quản vốn tài liệu
- Tổ chức sử dụng vốn tài liệu
1.4.4 Quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc
Quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc là việc tổ chức cung cấp tài liệu và các nguồn thông tin khác một cách thuận lợi và hiệu quả, đáp ứng mọi yêu cầu cho bạn đọc Đây là khâu quan trọng nhất, là thước đo hiệu quả hoạt động của thư viện Tùy điều kiện, đặc điểm, vốn tài liệu của mỗi thư viện mà tổ chức cách phục vụ bạn đọc sao cho phù hợp
và hiệu quả
Trang 33- Cấp thẻ bạn đọc, đổi thẻ bạn đọc
- Thống kê số lượng bạn đọc, thống kê lượt bạn đọc
- Thống kê số lượng tài liệu cho mượn
- Hướng dẫn bạn đọc sử dụng có hiệu quả nguồn tư liệu thông tin
- Tổ chức giới thiệu sách mới, biện pháp khuyến khích, thu hút bạn đọc
- Công tác thống kê phân loại nhu cầu bạn đọc
- Giải quyết các xung đột giữa CBTV với bạn đọc
1.4.5 Quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của thư viện
Trong xu thế phát triển mạnh mẽ hiện nay của công nghệ thông tin và ảnh hưởng sâu rộng của mạng thông tin toàn cầu Internet, vai trò quản lý và cung cấp thông tin của các thư viện trong trường đại học là vô cùng quan trọng Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện là xu thế tất yếu, máy tính thay thế toàn bộ công tác
kỹ thuật, công tác phục vụ, dịch vụ thông tin…
Mở đầu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện thường tập trung vào việc lưu trữ, tìm kiếm thông tin và tạo ra các sản phẩm thông tin thư mục Sau
đó mở rộng dần ra các hoạt động kỹ thuật khác, các công việc quản lý lưu thông tài liệu
và dịch vụ phổ biến thông tin Ngày nay ta thường gặp các hệ thông thông tin tự động hóa hoàn toàn hoặc từng phần các công việc như: bổ sung, biên mục, đánh chỉ số, lập các bộ phiếu, tạo ra các sản phẩm thông tin, các hoạt động tìm và khai thác dữ liệu, các hoạt động kiểm tra và quản lý hành chính thông thường
Việc ứng dụng CNTT trong xử lý thông tin tư liệu mới chỉ diễn ra trong vòng 40 năm lại đây, nhưng đã đem lại hiệu quả thật là to lớn Một khi kỷ nguyên thông tin phát triển đến cao điểm, tài nguyên thông tin trở nên quá tải và hỗn mang, chính CNTT sẽ giúp cán bộ thư viện chọn lọc thông tin có ý nghĩa và hữu ích Vai trò người quản lý thư viện sẽ phải thay đổi để quản lý công nghệ biến thông tin thành tri thức và công nghệ giúp độc giả hình thành tri thức – người quản lý thông tin trở thành người quản lý tri thức
Quản lý việc ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện bao gồm:
- Cải tiến tổ chức kho tài liệu
- Sử dụng máy tính trong việc quản lý VTL, quản lý bạn đọc
- Các hệ thống máy tính được nối mạng máy tính để quản lý hiệu quả hơn
- Ứng dụng phần mềm quản lý hoạt động thư viện
Trang 34- Nâng cấp phần mềm quản lý thư viện
1.4.6 Kiểm tra, đánh giá các hoạt động của thư viện
Người quản lý phải kiểm tra các hoạt động của thư viện theo các mục tiêu đã đề
ra Ở chức năng này có 3 yêu cầu: đánh giá, phát hiện và điều chỉnh
Công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động của thư viện bao gồm:
- Kiểm tra đánh giá cán bộ quản lý thư viện dựa vào kế hoạch cá nhân, các loại hồ sơ,
sổ sách
- Kiểm tra kế hoạch công tác và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ
- Kiểm tra kinh phí phục vụ cho công tác thư viện
- Kiểm tra phòng đọc, kho sách và các trang thiết bị, phương tiện phục vụ thư viện
- Kiểm tra việc bổ sung nguồn tài liệu
Hàng năm phải tiến hành kiểm kê định kỳ theo đúng qui định của Nhà nước và nhà trường về công tác quản lý tài sản Việc điều chỉnh, thanh lý phải có hội đồng có thẩm quyền và tiến hành các thủ tục theo qui định
Tiểu kết chương 1
Tổ chức, quản lý đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ xã hội và mọi lĩnh vực ngành nghề Trong hoạt động thư viện, nếu công tác tổ chức và quản lý tốt, chắc chắn việc truyền bá tri thức, cung cấp thông tin sẽ góp phần không nhỏ vào công cuộc nâng cao trình độ dân trí, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học công nghệ Đối với thư viện cao đẳng đại học nước ta, nếu làm tốt công tác này sẽ đóng góp một phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Công tác tổ chức, quản lý đóng một vai trò rất quan trọng trong thư viện trường đại học, cụ thể là:
- Định hướng thư viện cao đẳng đại học là một trung tâm thông tin khoa học phục
vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học
- Hoạch định ra mục tiêu, phương hướng hoạt động của thư viện nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong trường học
- Xây dựng một tổ chức nhân sự phù hợp, khoa học nhằm phát huy tốt nhất khả năng con người để tạo ra môi trường phù hợp cho sinh viên và giảng viên tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng và thoải mái
Trang 35- Thiết lập một hệ thống lưu trữ, tìm kiếm và cung cấp thông tin cho toàn bộ các
Trang 36C HƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU
LỊCH SÀI GÒN 2.1 Tổng quan về Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn được thành lập vào năm 2006 theo quyết định số 5845/QĐ-BGDĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ, đồng thời, chịu sự quản lý về cán bộ quản lý, giảng viên và theo vùng lãnh thổ của Ủy ban Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
Trường là một cơ sở đào tạo đa ngành, có mục tiêu đào tạo sinh viên thành những cán bộ có trình độ chuyên môn, có năng lực thực hành chuyên nghiệp trong các lĩnh vực: Văn hóa, Nghệ thuật, Du lịch và Kinh tế, có tri thức đạo đức nghề nghiệp và có khả năng thích ứng, sáng tạo trong xu thế hội nhập – cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước
Được phép của Bộ Giáo dục & Đào tạo, tháng 11/2006, trường bắt đầu tuyển sinh
và đào tạo khóa 1, bậc Cao đẳng chính qui, thuộc 4 nhóm ngành: Văn hóa, Nghệ thuật,
Du lịch và Kinh tế và bậc Trung cấp chuyên nghiệp Từ năm 2008, trường phát triển thêm nhiều ngành và chuyên ngành theo nhu cầu của thị trường lao động, tổng cộng hiện nay có 19 ngành bậc Cao đẳng và 16 ngành bậc Trung cấp chuyên nghiệp
Để quản lý và điều hành hoạt động đào tạo, trường có 7 khoa và 14 tổ chuyên
môn, 9 phòng chức năng, 4 trung tâm Năm 2007 là năm đầu tiên trường có học sinh Trung cấp Chuyên nghiệp tốt nghiệp
Là trường ngoài công lập, không có kinh phí từ ngân sách Nhà nước, từ những khó khăn ban đầu về chỗ học, chỗ làm việc, có giai đoạn trường đã phải thuê phần lớn địa điểm học tập và làm việc Hiện nay trường có 5 cơ sở đào tạo có khả năng đào tạo từ 15.000 đến 17.000 sinh viên; gồm nhiều phòng học, phòng thực hành và thư viện khang trang, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của SV
Trang 37Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn qui tụ được rất nhiều giảng viên và cán bộ nghiên cứu có trình độ cao trong cả nước Theo số liệu thống kê đến 30/6/2013 trường có 45 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ; 172 thạc sĩ; 189 giảng viên còn lại 100% tốt nghiệp đại học và có rất nhiều kinh nghiệm trong đào tạo nghề
Mục tiêu phát triển của trường là không ngừng khẳng định vai trò nhà trường như
là một cơ sở giáo dục có uy tín trong cả nước, là trung tâm đào tạo nhân tài và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, có cơ sở vật chất, khuôn viên và quy
mô ngày càng mở rộng và hiện đại, có đội ngũ cán bộ, giảng viên đủ về số lượng và chuẩn về chất lượng
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Nhà trường
2.1.2.1 Chức năng
- Đào tạo nguồn nhân lực về lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và du lịch có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành nghề văn hóa, nghệ thuật và du lịch góp phần phát triển kinh tế xã hội
- Nghiên cứu khoa học theo các ngành nghề của trường
- Bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên ở trình độ cao theo yêu cầu chuẩn hóa nghiệp vụ chuyên môn
- Hợp tác trong và ngoài nước trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
- Tuyển dụng, quản lý công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ GV của trường đủ
về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu độ tuổi và giới, đạt chuẩn về trình độ được đào tạo; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên
- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong đội ngũ công chức, viên chức và người
Trang 38học của trường
- Tuyển sinh và quản lý người học
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh và chi cho các hoạt động giáo dục theo quy định của pháp luật
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
- Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục
và đào tạo
- Tổ chức cho công chức, viên chức và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu của xã hội
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Nhà trường
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức
2.1.4 Khái quát về mẫu khảo sát và cách thức xử lý số liệu
2.1.4.1 Mẫu khảo sát
Trang 39Để khảo sát thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng VHNT &
DL Sài Gòn, tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi với mẫu khảo sát như sau:
- Cán bộ quản lý: 37 phiếu
- Nhân viên: 63 phiếu
- Giảng viên: 150 phiếu
- Sinh viên: 200 phiếu
Ngoài ra tác giả đã trực tiếp phỏng vấn giám đốc thư viện và cán bộ quản lý thư viện để kết quả được đầy đủ và khách quan hơn
Tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu khảo sát
2.1.4.2 Qui ước cách thức xử lý số liệu khảo sát
- Tương ứng với mỗi mức độ được tính điểm như sau:
+ Rất thường xuyên/Tốt: điểm 4;
+ Thường xuyên/Khá: điểm 3;
+ Ít thường xuyên/Trung bình: điểm 2;
+ Không thực hiện/Yếu: điểm 1;
- Quy ước:
+ Điểm trung bình từ 3,5 đến 4,0: Rất thường xuyên/Tốt
+ Điểm trung bình từ 2,5 - dưới 3,5: Thường xuyên/Khá
+ Điểm trung bình từ 1.5 - dưới 2,5: Ít thường xuyên/Trung bình
+ Điểm trung bình từ 1 - dưới 1,5: Không thực hiện/Yếu
2.2 Thực trạng hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và
bộ Cho đến nay, thư viện đã hình thành một cơ cấu tổ chức tương đối chặt chẽ và khoa học,
Trang 40bao gồm:
- Bộ phận nghiệp vụ:
+ Phòng bổ sung: có nhiệm vụ xây dựng và bổ sung vốn tài liệu
+ Phòng xử lý tài liệu: có nhiệm vụ thực hiện các chu trình, xử lý kỹ thuật vốn tài liệu, xây dựng các cơ sở dữ liệu, tổ chức hệ thống tra cứu theo đúng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp
vụ thư viện
- Bộ phận phục vụ bạn đọc:
+ Phòng mượn sách giáo trình, sách tham khảo: có nhiệm vụ phục vụ bạn đọc mượn tài liệu về nhà Đây là nơi bố trí phòng mượn sách, bao gồm sách giáo trình, tập bài giảng, sách tham khảo bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau
+ Phòng đọc: có nhiệm vụ hướng dẫn, phục vụ bạn đọc tài liệu tại chỗ, giải đáp mọi yêu cầu thông tin của bạn đọc
+ Phòng đọc điện tử: có nhiệm vụ tổ chức bạn đọc của thư viện khai thác, sử dụng nguồn thông tin điện tử phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu của bạn đọc
+ Phòng lưu trữ tài liệu: bao gồm lưu trữ các đề tài NCKH đã được nghiệm thu, tài liệu Hội thảo, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập tốt nghiệp, tạp chí
2.2.1.1 Vốn tài liệu
Vốn tài liệu là một trong những yếu tố rất quan trọng cấu thành nên thư viện, là đối tượng trong hoạt động thư viện như công tác bổ sung, xử lý kho, tổ chức kỹ thuật, tuyên truyền giới thiệu, khai thác sử dụng và phục vụ bạn đọc Thư viện trường Cao đẳng VHNT & DL Sài Gòn đã xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin đặc biệt cán bộ, giảng viên và sinh viên trong trường.Vốn tài liệu của thư viện trường khá phong phú thuộc tất cả các ngành đào tạo và nghiên cứu của trường và các tài liệu thông tin thuộc về kiến thức chung Nguồn lực thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của một thư viện cao đẳng chuyên ngành
Tính đến cuối tháng 06/2013, tổng số bản sách (bao gồm các loại giáo trình, sách tham khảo, tài liệu khác) là 19.030 bản, trong đó: sách giáo khoa, giáo trình các loại là 7.342 bản; sách tham khảo và các tài liệu khác: 11.688; số đầu báo, tạp chí của thư viện có 47 tên, ngoài ra còn có một số tạp chí tặng của các trường cao đẳng, đại học, viện nghiên cứu (Nguồn: Bảng kiểm kê 6 tháng đầu năm 2013 của thư viện trường Cao đẳng VHNT & DL Sài Gòn)
Qua kết quả điều tra, tác giả tổng hợp được bức tranh toàn cảnh công tác tổ chức và