[49] Năm 2003, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại TP HCM” được Viện Nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP TP HCM tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý, giáo dục và hiệu trưởng các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thu Hà
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thu Hà
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ VĂN NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động tham vấn học đường ở các trường THPT tại Quận Bình Tân, TP.HCM” do tôi thực hiện Số liệu của đề tài là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Người cam đoan
Lê Thị Thu Hà
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của Thầy cô là Cán bộ quản lý, tập thể giáo viên , nhân viên và học sinh các trường THPT An Lạc, THPT Nguyễn Hữu Cảnh, THPT Bình Tân, THPT Vĩnh Lộc, THPT Bình Hưng Hòa, THPT Ngôi Sao, THPT Phan Châu Trinh, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Văn Măn_Cố vấn trường THPT Phú Lâm
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tác giả đến Tiến sĩ Võ Văn Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của quý thầy cô và các đồng nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9/2013
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
L ỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 6
M Ở ĐẦU 7
1 Lý do ch ọn đề tài 7
2 M ục đích nghiên cứu 8
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 8
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu 9
5 Gi ả thuyết khoa học 9
6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN H ỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT 12
1.1 T ổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.2 M ột số khái niệm liên quan đến đề tài 16
1.2.1 Khái niệm tham vấn, tham vấn học đường 16
1.2.2 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 21
1.2.3 Khái niệm quản lý hoạt động tham vấn học đường 24
1.3 Ho ạt động tham vấn học đường ở trường THPT 25
1.3.1 Mục tiêu, nội dung và hình thức tổ chức hoạt động tham vấn học đường 25
1.3.2.Quan điểm, nguyên tắc tổ chức hoạt động tham vấn học đường 28
1.3.3 Điều kiện, phương tiện tổ chức hoạt động tham vấn học đường 29
1.3.4 Chức năng, nhiệm vụ của tham vấn viên 31
1.3.5 Yêu cầu đối với tham vấn viên 32
1.4 Qu ản lý hoạt động tham vấn học đường ở trường THPT 34
1.4.1 Ý nghĩa của việc quản lý hoạt động tham vấn học đường 34
1.4.2 Động lực của việc quản lý hoạt động tham vấn học đường 34
1.4.3.Cơ sở pháp lý về quản lý hoạt động tham vấn học đường 35
1.4.4.Phân cấp quản lý hoạt động TVHĐ 36
1.4.5 Các chức năng quản lý hoạt động TVHĐ 36
1.4.6 Phối hợp quản lý hoạt động tham vấn học đường 44
Trang 61.4.7 Nguyên tắc quản lý hoạt động tham vấn học đường 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 48
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 48
2.2 Khái quát v ề tình hình giáo dục thành phố Hồ Chí Minh và bậc THPT tại quận Bình Tân, TP HCM 48
2.2.1 Khái quát tình hình giáo dục thành phố Hồ Chí Minh 49
2.2.2 Khái quát tình hình giáo dục bậc THPT tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 49
2.3 Th ực trạng hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận Bình Tân, thành phố H ồ Chí Minh 49
2.3.1 Nhận thức của CB, GV, NV và HS về hoạt động TVHĐ 52
2.3.2 Chương trình và nội dung hoạt động TVHĐ 53
2.3.3 Hình thức tổ chức hoạt động TVHĐ 55
2.3.4 Điều kiện, phương tiện tổ chức hoạt động TVHĐ 56
2.3.5 Kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHĐ 59
2.3.6 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác TVHĐ 59
2.4 Th ực trạng quản lý hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM 61
2.4.1 Chủ thể quản lý hoạt động TVHĐ 61
2.4.2 Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động TVHĐ 62
2.4.3 Tổ chức thực hiện hoạt động TVHĐ 71
2.4.4 Chỉ đạo thực hiện hoạt động TVHĐ 76
2.4.5 Kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHĐ 91
2.4.6 Đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động TVHĐ của HT ở các trường THPT trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 93
2.5 Nguyên nhân d ẫn đến thực trạng kết quả thực hiện quản lý hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM 95
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH 100
3.1 Cơ sở lý luận của các biện pháp 100
3.2 Cơ sở pháp lý của các biện pháp 101
3.3 Cơ sở thực tiễn của các biện pháp 103
Trang 73.5 K ết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả khi của các biện pháp đề xuất
nh ằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận
Bình Tân, TP HCM 118
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PH Ụ LỤC 130
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGH ban giám hiệu
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau nhiều năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta được thoát nghèo và trở thành một nước đang phát triển Với nền kinh tế thị trường, chúng ta có sự mở cửa hội nhập về văn hóa, khoa học kĩ thuật Việc ứng dụng thành tựu khoa học kĩ thuật trong các lĩnh vực, đặc biệt trong sản xuất với các trang thiết bị, máy móc hiện đại làm tăng năng suất lao động, giải phóng sức lao động cho con người Qua đó, nền kinh tế thị trường góp phần tích cực làm thay đổi bộ mặt xã hội, đồng thời còn nâng cao chất lượng cuộc sống: đời sống vật chất con người được cải thiện, con người có nhiều cơ hội để học tập, sinh hoạt với những tiện nghi nhất định
Tuy nhiên, dưới sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng sâu sắc, đa dạng và phức tạp làm cho đời sống tâm lý con người nói chung và HS nói riêng đang có những ảnh hưởng đáng kể HS hiện tại đang có những biến động to lớn với nhiều biểu hiện đáng lo ngại, đặc biệt HS ở lứa tuổi vị thành niên Ở tuổi này, các em có những biến đổi mạnh
mẽ cả về thể chất lẫn tâm hồn Các em rất dễ xúc động, khả năng kiềm chế kém và luôn muốn tự khẳng định mình Các em thường gặp những khúc mắc trong học tập, tâm sinh
lí, trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình, bạn bè… Các em có những điều băn khoăn, trăn trở nhằm làm thế nào để khẳng định bản thân với những “giá trị” mà các em đang theo đuổi mặc dù những “giá trị” ấy có thể chưa phù hợp với những chuẩn mực của xã hội Những băn khoăn, vướng mắc của HS nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời, thì rất dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc: nhẹ thì chán học, bỏ học; nặng thì trầm cảm, bạo lực học đường thậm chí tự tử, gây án mạng Trước những áp lực căng thẳng về học tập
và các mối quan hệ xã hội và có những biểu hiện sai lệch về hành vi của HS phổ thông như vậy, thực trạng này cho thấy các em thật sự cần một người đáng tin cậy và có chuyên môn để chia sẻ tâm sự hoặc trợ giúp các em tìm cách thức giải quyết vấn đề một cách tốt nhất Do đó, việc tổ chức hoạt động TVHĐ là hoạt động rất cần thiết ở trường học nói chung và bậc THPT nói riêng
Luật Giáo dục (2005) cũng đã nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung
Trang 10thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Để đạt được mục tiêu này, việc nghiên cứu và nhận diện về hành vi của HS nói chung và HS cấp THPT nói riêng là cần thiết bởi có như vậy mới xác định được những yếu tố ảnh hưởng đưa đến những hành vi sai lệch, gây bất lợi cho sự phát triển của của các em Do vậy, việc xây dựng một mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần cho HS với sự lồng ghép những kiến thức về tâm lý, giáo dục sẽ giúp cho việc phát hiện sớm những biểu hiện bất thường của các em, giúp các em phòng ngừa và điều chỉnh những hành vi sai lệch của mình, có đủ sức khỏe và trí tuệ để tiếp thu, lĩnh hội tri thức ở nhà trường, tạo điều kiện cho việc phát triển nhân cách một cách hài hòa toàn diện Bên cạnh đó, năm học 2011 – 2012, Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM yêu cầu 100% các trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS), THPT và trung tâm giáo dục thường xuyên phải có phòng TVHĐ cho HS Tuy nhiên hoạt động TVHĐ là hoạt động mới trong trường học, chưa có sự thống nhất trong cả nước về mô hình tổ chức lẫn qui định
về chuyên môn, biên chế, chế độ chính sách Phần lớn các địa phương đang trong gia đoạn “mò mẫm”, một bộ phận các nhà quản lý giáo dục các cấp chưa quan tâm hoặc chưa quan tâm đúng mức đúng vấn đề này Mặt khác, việc đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ công tác tham vấn tâm lý học đường cũng chưa đáp ứng được yêu cầu về cả số lượng lẫn chất lượng Vấn đề QL hoạt động TVHĐ là vấn đề cần được quan tâm và cần được
tổ chức, quản lý một cách khoa học như các hoạt động khác trong nhà trường nhằm mang lại hiệu quả cao cho hoạt động tham vấn tâm lý cho HS
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động tham vấn
học đường ở các trường trung học phổ thông tại Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
Trang 113.1 Khách thể nghiên cứu:
Công tác QL hoạt động TVHĐ ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng QL hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Hệ thống hóa, khái quát hóa lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài
4.2 Khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân thực trạng QL hoạt động TVHĐ ở các
trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM
4.3 Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QL hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công tác này
5 Giả thuyết khoa học
Công tác QL hoạt động TVHĐ ở các trường trung học tại quận Bình Tân, TP HCM đạt được những thành tựu như: Hiệu trưởng xây dựng được chương trình TVHĐ; thực hiện đầy đủ chế độ chính sách cho người phụ trách công tác TVHĐ Bên cạnh đó còn một số hạn chế: CBQL chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động này; chưa tạo được sự phối hợp giữa TVV và các LLGD khác và chưa đánh giá được hiệu quả của hoạt động tham vấn tại trường
Có khắc phục những hạn chế trên mới có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công tác TVHĐ
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động TVHĐ với đối tượng tham vấn gồm HS, PHHS, CB, GV, NV Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu đối với đối tượng tham vấn chủ yếu là HS, các lực lượng còn lại đóng vai trò hỗ trợ đối với hoạt động tham vấn cho HS Chủ thể quản lý hoạt động tham vấn là hiệu trưởng nhà trường
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận:
Một số quan điểm phương pháp luận như sau:
• Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Trang 12Công tác tác QL hoạt động TVHĐ ở trường THPT gồm có những yếu tố hợp thành như chủ thể QL, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, kết quả QL hoạt động TVHĐ
Chủ thể quản lý bằng những phương pháp QL dưới sự hỗ trợ của các phương tiện
QL, thực hiện nội dung QL nhằm đạt mục tiêu QL hoạt động TVHĐ Kết quả QL hoạt động TVHĐ góp phần ảnh hưởng tích cực đến kết quả QL học tập, QL hoạt động giáo dục cho HS góp phần tạo nên chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường
• Quan điểm lịch sử - logic
Nghiên cứu việc QL hoạt động TVHĐ trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của sự phát triển của nhà trường, của giáo dục quận Bình Tân, của TP HCM trong bối cảnh đổi mới của giáo dục và QL giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
• Quan điểm thực tiễn
Công tác QL hoạt động TVHĐ cho HS THPT nhằm thực hiện xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, vẫn còn
đó nhiều HS còn vướng mắc trong tâm lý và các em tự giải quyết vấn đề của mình theo suy nghĩ của bản thân, bất chấp cách giải quyết ấy có thể gây ra hậu quả cho bản thân hoặc những người xung quanh
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa và khái quát hóa lý luận có liên quan đến công tác QL hoạt động TVHĐ
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
1) Điều tra bằng phiếu hỏi
- Mục đích điều tra: thu thập số liệu để chứng minh cho giả thuyết
- Đối tượng điều tra: CBQL, TVV, GV, NV, HS ở các trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM
- Nội dung phiếu điều tra: dựa trên chức năng QL của HT và các thành tố của hoạt động TVHĐ
2) Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: Phương pháp này nhằm thu thập thông tin một cách trực tiếp về thực trạng QL hoạt động TVHĐ
Trang 13và quản lý giáo dục, một số chuyên viên tham vấn học đường…
Phương pháp toán thống kê:
Chủ yếu sử dụng kiến thức cơ bản về toán thống kê và thực hiện tính toán bởi các hàm trên phần mềm SPSS để xử lý các số liệu điều tra
Trang 14C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN
HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay ở nước ta, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực như đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh trật tự ngày càng ổn định Tuy nhiên, cũng đồng thời xuất hiện những tiêu cực ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giáo dục Trong đó, vấn đề nổi cộm là tình trạng suy thoái về đạo đức của HS do ảnh hưởng của lối sống thực dụng và các tệ nạn xã hội đang len lỏi vào nhà trường Chính vì vậy, việc xác định mục tiêu giáo dục toàn diện, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực…là thực sự cần thiết Đứng trước tình hình đó Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng
định: “…phát triển giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng
đầu…Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới cơ bản và toàn diện sự nghiệp giáo dục là một trong ba khâu đột phá của đất nước trong giai đoạn tới”
Để đạt mục đích trên, cần tiến hành tác động toàn diện: dạy học, giáo dục và TVHĐ Đề cập đến hoạt động TVHĐ đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu Có thể kể đến các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam như sau:
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Tham vấn tâm lý học đường (School Counseling) hay còn gọi là TVHĐ là một nhánh của ngành tham vấn tâm lý được xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ Jesse B Davis có thể được xem là một trong những người đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho HS các trường học công Frank Parsons, được xem như cha đẻ của nghề Hướng dẫn (còn gọi Khải đạo), đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề ” (Choosing
a Vocation) vào năm 1909 qua đó trình bày phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp Jesse Davis, Frank Parsons, Eli Weaver và nhiều người khác nữa đã tạo thành một trào lưu thúc đẩy cho sự phát triển của ngành TVHĐ.[49]
Trang 15Thế chiến thứ nhất, xuất hiện nhu cầu đánh giá (trắc nghiệm) các cá nhân, từ lúc này thuật ngữ nhà tham vấn (counselor), thường được đề cập như là những chuyên gia làm việc với những người trầm cảm, đã bắt đầu trở thành một phần trong từ điển của các nhà giáo dục [49]
Thế chiến thứ hai kết thúc với những hậu quả nặng nề làm nảy sinh một nhu cầu rất lớn về các trắc nghiệm tâm lý và nó đã tác động một cách trực tiếp đến hoạt động khải đạo trong trường học Cũng vào thời gian thế chiến thứ hai này, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra yêu cầu cho các nhà tham vấn làm công việc sàng lọc, tuyển chọn các quân nhân
và những chuyên gia cho các ngành công nghiệp.[49]
Những năm 1930, lý thuyết đầu tiên về Khải đạo được giới thiệu: Lý thuyết về các nhân tố và đặc điểm của E G Williamson, (E G Williamson’s Trait and Factor theory)
Lý thuyết này trở nên nổi tiếng như là một sự chỉ đạo cho hoạt động tham vấn [49] Năm 1940, đạo luật George Barden (George Barden Act) – đạo luật về giáo dục hướng nghiệp – ra đời đã mang lại những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển và hỗ trợ hoạt động khải đạo và tham vấn trong môi trường học đường cũng như những môi trường khác Đây là lần đầu tiên những nhà TVHĐ, những kiểm huấn viên địa phương
và các tiểu ban nhận được những sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ (sự điều hành, tài chính và nguồn nhân lực…)[49]
Năm 1957, năm mà vệ tinh Sputnik của Nga được phóng vào quỹ đạo cũng là thời điểm mà ngành tham vấn và khải đạo được “phóng lên” Tiếp theo đó, đạo luật Nat’l Defense Ed Act (NDEA) ra đời năm 1958 Đạo luật NDEA tập trung vào hai vấn đề: 1) Cung cấp những nguồn lực để các bang thiết lập và duy trì các hoạt động tham vấn, trắc nghiệm và khải đạo trong trường học; 2) Ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và đại học thiết kế các chương trình đào tạo TVHĐ.[49]
Năm 1953, hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) tham gia vào APGA (American Personnel and Guidance Association), tiền thân của hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (American Counseling Association) ngày nay Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi (The Counselor in a Changing World) đã định chế hóa các mục tiêu của TVHĐ Năm 1964, ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà TVHĐ [49]
Trang 16Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu học và Trung học (Elementary and Secondary Education Act) ra đời và cung cấp nguồn quỹ để phát triển những cơ hội giáo dục cho những gia đình nghèo Đến những năm 80s và 90s, nhu cầu về việc làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà TVHĐ được xuất hiện với sự “chín muồi” của những vấn đề pháp
lý liên quan.[49]
Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình TVHĐ (National
Standards for School Counseling Programs) ra đời và kể từ đó, ngành TVHĐ được xem
là đã hoàn thiện [49]
Hiện nay, hiệp hội các nhà TVHĐ Hoa Kỳ (ASCA) được xem là nguồn tham khảo
và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới.[49]
Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 70s của thế kỉ XX, tại niềm Nam Việt Nam đã có phòng Khải đạo trong trường phổ thông Sau đó, khoảng năm 2000, nhiều trường học tại
TP HCM như trường Khánh Hội A – quận 4, Nguyễn Gia Thiều – quận Tân Bình, Diên Hồng – quận 10, Trương Công Định, Phú Mỹ – quận Bình Thạnh, Mạc Đĩnh Chi – quận
6 và rất nhiều trường khác nữa… đã chủ động phối hợp với các chuyên viên tâm lý và các tổ chức trong và ngoài nước để triển khai các chương trình TVHĐ cho HS [49] Năm 2003, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại TP HCM” được Viện Nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP TP HCM tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý, giáo dục và hiệu trưởng các trường có hoạt động TVHĐ để “mổ xẻ” và kêu gọi sự quan tâm của giới chuyên môn cũng như các cơ quan chính phủ trong việc có các chiến lược nhằm phát triển hoạt động TVHĐ tại Việt Nam Cũng trong thời gian này, một vài sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục trường ĐHSP TP HCM đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình về vấn đề TVHĐ Những “sự kiện” này được xem là những bước khởi đầu cho nhiều sự thay đổi tiếp theo của ngành TVHĐ tại Việt Nam Cũng trong thời gian này, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục phối hợp với khoa Tâm lý thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội gồm các tác giả: TS Lê Vân Anh, ThS.Phan Thị Ngọc Anh, ThS Nguyễn Thị Quyên và ThS
Trang 17Nguyễn Minh Hằng đã có công trình nghiên cứu về một số biểu hiện về hành vi lệch chuẩn của HS trong nhà trường nhằm xác định nhu cầu tham vấn trong trường phổ thông Từ đó đề xuất mô hình tham vấn tâm lý học đường trong nhà trường phổ thông Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà QL bước đầu định hướng hoạt động tham vấn tại trường phổ thông
Năm 2004, Trung tâm Hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn Hà Nội được thành lập và cũng đề cập đến hoạt động nghiên cứu và
hỗ trợ hoạt động TVHĐ [49]
Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em TP HCM và
sự hỗ trợ của UNICEF, Văn phòng tư vấn trẻ em TP HCM đã tổ chức hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường học” cũng nhận được sự quan tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của nhiều chuyên gia và những nhà lãnh đạo các trường học Đầu năm 2006, hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý – giáo dục – thực tiễn và định hướng phát triển” do Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục TP HCM tổ chức cũng đề cập đến vấn đề TVHĐ như là một điều “khẩn thiết” nhằm hỗ trợ học sinh và nhà trường trong hoạt động giáo dục Sở Giáo dục – Đào tạo TP HCM cũng tổ chức những buổi sinh hoạt đề cập đến hoạt động tư vấn học đường trong thời gian này với sự tham gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhà trường và PHHS [49] Từ năm học 2005 - 2006, Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM đã chỉ đạo đưa hoạt động tư vấn học đường vào các
trường học trên địa bàn thành phố (nơi nào có điều kiện thì thành lập phòng tư vấn, nơi nào chưa có điều kiện thì phân công một bộ phận kiêm nhiệm công tác tư vấn học đường)
Trong khoảng thời gian này, một văn bản của Bộ Giáo dục đã được ban hành nhằm chỉ đạo và hướng dẫn các Sở và trường học cùng những tổ chức liên quan trong việc triển khai thực hiện chương trình TVHĐ
Ngoài ra, chuyên mục TVHĐ do báo Phụ nữ TP HCM khởi xướng (ThS Nguyễn Thị Oanh phụ trách) cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo HS, phụ huynh và các trường học Tháng 06 năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc.[49]
Trang 18Năm 2010, khoa tâm lý giáo dục ĐHSP TP HCM đã tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nhận thức về việc tổ chức phòng tham vấn học đường tại TP HCM”, sau đó kết hợp với
tổ chức Unicef, Sở lao động thương binh và xã hội để tổ chức hội thảo khoa học về “Mô hình phòng TVHĐ tại trường phổ thông ở TP HCM
Từ thực tế sinh động và cấp thiết của hoạt động TVHĐ tại TP HCM trong nhiều năm, Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM đã có sự quan tâm và chỉ đạo phòng công tác
HS, sinh viên trực tiếp nghiên cứu, tham mưu cho lãnh đạo Sở trong việc QL, điều hành hoạt động tham vấn tâm lý ở các trường phổ thông Từ năm 2008, ngành giáo dục và đào tạo thành phố chính thức được UBND thành phố cho phép tuyển biên chế cán bộ phụ trách tư vấn học đường trong các trường học Cũng từ năm học 2008 - 2009, Sở Giáo dục và Đào tạo chính thức chỉ đạo các trường học bắt buộc phải thành lập phòng tư vấn học đường và chỉ đạo mỗi trường trung học tại TP HCM phải tuyển dụng hoặc phân
công giáo viên đảm trách công việc của một chuyên viên TVHĐ, tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo viên làm công tác tham vấn Trong năm học 2011 – 2012, được sự hỗ trợ của Unicef, Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM đã tổ chức nhiều đợt tập huấn chuyên môn cho đội ngũ chuyên viên này và trong năm học 2012 – 2013, Sở đã ban hành Quyết định
về ban hành Qui định tạm thời về tổ chức và hoạt động tư vấn tâm lý trong trường học (Quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM)
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm tham vấn, tham vấn học đường
1.2.1.1 Khái ni ệm tham vấn
Trên thế giới khái niệm tham vấn (counseling) được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Một số tác giả thì nhấn mạnh khía cạnh tự nhận thức và tự thay đổi ở người được tham vấn, thông qua sự trao đổi chia sẻ trong mối quan hệ tương tác của hoạt động tham
vấn Chẳng hạn, Carl Rogers (1952) đã mô tả tham vấn như một quá trình trợ giúp, trong
mối quan hệ an toàn với nhà tham vấn, thân chủ tìm thấy được sự thoải mái, chia sẻ và
những trải nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng tới sự thay đổi D.Bloccher (1966) cho
rằng tham vấn là sự giúp đỡ thân chủ nhận thức được bản thân và những hành vi có ảnh
Trang 19nghĩa, thiết lập được mục tiêu và phát triển những giá trị cho hành vi được mong đợi J.Hunchinson Haney & Jacqueline L (1999) cũng cho rằng tham vấn là mối quan hệ tương tác mà nhà tham vấn tập trung vào những trải nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ và hành
vi của thân chủ, để giúp họ khám phá, chấp nhận và đối mặt với chúng [38]
Theo hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kì (ACA, 1997) cho rằng: Tham vấn là sự áp
dụng nguyên tắc tâm lí, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi,
tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn
đề bệnh lý Định nghĩa của Hiệp hội Tham vấn Hoa Kì xác định quá trình tham vấn được
hiểu như một mối quan hệ tự nguyện giữa nhà tham vấn và khách hàng Trong mối quan
hệ này, nhà tham vấn giúp khách hàng tự xác định và tự giải quyết vấn đề của mình P.K.Onner cho rằng tham vấn là quá trình, vì vậy nó đòi hỏi các nhà tham vấn phải dành thời gian nhất định và sử dụng các kỹ năng một cách thuần thục để giúp đỡ thân
chủ tìm hiểu, xác định vấn đề và triển khai các giải pháp trong điều kiện cho phép
Ở Việt Nam, vấn đề tham vấn được đề cập khá nhiều ở các bài báo và các bài tham
luận tại các hội nghị, hội thảo cũng như một số sách nước ngoài và các tài liệu tập huấn
về tham vấn Một số khái niệm về tham vấn được các tác giả Việt Nam đề cập đến
Sau đây là một số khái niệm về tham vấn được các tác giả Việt Nam đề cập đến và được tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) [38, tr 20] tổng hợp:
- Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ,
cảm xúc và hành vi của họ Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnh tự giải quyết vấn
đề, tự thay đổi của thân chủ
- Tham vấn là một tiến trình, trong đó nhà tham vấn và đối tượng cùng tương tác, nhà tham vấn bằng kiến thức chuyên môn của mình giúp đối tượng phát huy,
sử dụng tiềm năng của họ để tự giải quyết vấn đề hiện tại cũng như trong tương lai
và kết quả là tạo ra sự thay đổi tích cực ở đối tượng Khái niệm này nhấn mạnh nhiều hơn ở vai trò chuyên môn của nhà tham vấn
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức (2011) thì tham vấn là một quá trình tương tác
giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn và kĩ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo
Trang 20đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách hàng – người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý muốn được giúp đỡ) Thông qua các kĩ năng trao đổi và chia sẻ tâm tình (dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng của
bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình [10]
Bản thân người nghiên cứu đồng quan điểm với tác giả Trần Thị Minh Đức về khái
niệm tham vấn, vì nó phản ánh nhiều góc độ về tham vấn: tiến trình tương tác, đặc điểm
của thân chủ, yêu cầu chuyên môn của nhà tham vấn cũng như tính chất pháp lý của loại hình hoạt động này trong xã hội
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa tham vấn với tư vấn [23]:
1 Tham v ấn (Counseling): là một quá trình tương tác tích cực giữa nhà tham
vấn (NTV) với thân chủ (TC) mà ở đó:
- NTV sử dụng kiến thức và kỹ năng chuyên môn để tìm hiểu thấu đáo vấn đề
mà thân chủ quan tâm (nan đề)
- TC tự khơi dậy tiềm năng, nội lực của mình để TỰ GIẢI QUYẾT nan đề của mình trên cơ sở gợi mở của NTV
2 Tư vấn (consultation): thường dùng trong lĩnh vực kinh tế hay luật pháp (tư
vấn kinh tế, tư vấn pháp lý ): là hoạt động cung ứng lời khuyên, sự chỉ dẫn cụ thể
để giải quyết vấn đề từ nhà tư vấn (NTV)
Chúng ta có thể phân biệt 2 khái niệm này một cách cụ thể hơn qua bảng đối chiếu sau dây:
Trang 21Tham v ấn (Counseling) Tư vấn (Consultation)
- Là cuộc nói chuyện mang đậm tính cá
nhân giữa NTV với TC
Trọng tâm: TC
- Ch ủ thể quyết định: TC
+TC tự đưa ra lựa chọn tối ưu
+TC tự giải quyết nan đề TC không ỷ
lại vào NTV
- Y ếu tố quyết định: Mối quan hệ NTV
với TC và niềm tin mà TC dành cho
NTV
- Vai trò ch ủ động – tích cực: TC
TC tự phát huy, tự động viên tiềm
năng, nội lực để TỰ GIẢI QUYẾT nan
đề dưới sự gợi mở của NTV (NTV
giúp TC tự giải quyết)
- T ập trung vào CON NGƯỜI:
NTV đồng cảm, chia sẻ và chấp nhận
những cảm xúc, bức xúc và tình cảm
của TC một cách vô điều kiện
- Có tính song phương (2 bên):
TC NTV
Nan đề luôn là của thân chủ
- Là cuộc nói chuyện mang đậm tính công việc giữa NTV với TC
- Y ếu tố quyết định: Kiến thức và kỹ
năng chuyên môn của NTV (NTV đơn phương quyết định)
- Vai trò ch ủ động – tích cực: NTV
TC thụ động, máy móc, nhắm mắt làm theo NTV
NTV giải quyết nan đề hộ cho TC (NTV giải quyết cho TC luôn)
- T ập trung vào NAN ĐỀ:
NTV ban ân, làm thay, làm giúp cho
TC mà không cần đồng cảm, chia sẻ
bức xúc của TC
- Có tính tam phương (3 bên):
TC NTV nan đề Nan đề có thể không phải là của TC
1.2.1.2 Khái ni ệm tham vấn học đường
Hiệp hội TVHĐ của Mỹ - ASCA (1990) định nghĩa TVHĐ là “Giúp đỡ tất cả các
HS trong h ọc tập, trong quan hệ xã hội, trong công việc, trong việc nâng cao năng lực
Trang 22cá nhân và giúp h ọ trở thành người có trách nhiệm và hữu ích Nhà TVHĐ trợ giúp hình thành và t ổ chức tất cả chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt động can thiệp tham v ấn thích hợp”[38, tr 25]
Tương tự, các tác giả Trương Bích Nguyệt (2003), Trần Thị Hương (2006) đã định nghĩa TVHĐ là tiến trình tương tác giữa chuyên viên tham vấn và HS nhằm khơi dậy
tiềm năng của các em, để họ có đủ sức mạnh vượt qua những khủng hoảng của lứa tuổi
và những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống, để tự giải quyết vấn đề của mình, ổn định việc học, phát triển nhân cách đúng đắn [38, tr 26]
Có thể nói, các tác giả trên quan niệm đối tượng hướng đến của TVHĐ là các vấn
đề của HS và công việc của nhà tham vấn là hỗ trợ cho từng cá nhân học sinh Như thế, TVHĐ chỉ là một hoạt động hẹp của hoạt động tham vấn, ở đó thân chủ là những HS đang gặp khó khăn và cần được giúp đỡ
Tuy nhiên, TVHĐ là hoạt động không chỉ dành cho HS mà còn dành cho cả PHHS
và các LLGD khác trong nhà trường Theo Ed.Neukrug (Thế giới tham vấn, 2000),
TVHĐ là “Quá trình cộng tác liên quan đến một nhà tham vấn làm việc với một giáo
viên, nhà qu ản lý, bậc phụ huynh hay các chuyên gia khác để chia sẻ những quan tâm về đứa trẻ, trong nỗ lực phát hiện ra những cách thức làm việc mới với đứa trẻ để có thể đạt đến trình độ thực của mình Công tác tư vấn giúp các nhà tham vấn học được nhiều
ki ến thức và kỹ năng hơn để tập trung vào các vấn đề của HS và điều đó trợ giúp họ trong vi ệc trở nên khách quan hơn trong khi tiếp xúc với những mối quan tâm của trẻ”
- Nội dung của TVHĐ không chỉ là giải quyết những khó khăn, vướng mắc
của HS mà còn giúp HS ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực trong học đường cũng như huấn luyện cho HS các kỹ năng xã hội căn bản để giúp các em ứng phó
một cách tích cực hơn với những vấn đề trong học tập và cuộc sống
- Hình thức của TVHĐ được tổ chức đa dạng như: tham vấn cho cá nhân,
Trang 23tham vấn cho nhóm và dạy ở lớp học
- Vai trò của NTV trong trường không chỉ tham vấn cho HS mà còn tư vấn cho nhà QL, GV, NV cũng như PHHS về những vấn đề liên quan đến giáo dục HS
và là cầu nối với các lực lượng bên ngoài trường học (công tác xã hội, pháp luật, y
tế…) trong việc giải quyết các vấn đề của HS
- Hoạt động TVHĐ không chỉ giúp đỡ cho HS, PHHS, GV, NV mà còn ở quy
mô rộng lớn hơn, đó là hỗ trợ hoạt động giáo dục bằng tri thức và công nghệ tâm lý
học, tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động giáo dục cũng như sự phát triển nhân cách
của HS
Từ sự tổng hợp khái niệm về TVHĐ và đặc điểm của hoạt động TVHĐ, người nghiên cứu nhận thấy TVHĐ cũng không mang ý nghĩa khác với khái niệm tham vấn nói trên, nhưng ở đây mang tính cụ thể hơn Đó là hoạt động tham vấn diễn ra trong môi trường trường học, thân chủ ở đây là những học sinh với những đặc điểm tâm sinh lí đặc thù cho từng lứa tuổi với những mối quan hệ bạn bè, thầy cô, gia đình, xã hội thân chủ
ở đây còn là những CBQL, GV, NV của nhà trường_những người có mối quan hệ giao
tiếp trực tiếp với nhau và với HS, PHHS trong việc giáo dục HS thân chủ ở đây còn có
cả PHHS_những người đang có những vướng mắc trong việc giáo dục, dạy dỗ con cái
1.2.2 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.2.1 Khái niệm quản lý
QL là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người trong cộng đồng, nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra [1] Khi nói đến hoạt động QL người ta
thường nhắc tới ý tưởng sâu sắc của Các Mác: “Một nhạc sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển
mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [2] Đã có nhiều nhà khoa học trong nước
và nước ngoài nghiên cứu về QL dưới các góc độ khác nhau, đa dạng về cách tiếp cận nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về QL như sau:
Trong tác phẩm những vấn đề cốt yếu của QL, tác giả Harold Kontz viết: “QL là
một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12]
Trang 24Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạt động QL là tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị
QL ) nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [3]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng
của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung” [1]
Như vậy, khái niệm QL được các nhà nghiên cứu định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau nhưng về cơ bản có những điểm chung thống nhất như:
- QL là các hoạt động thực tiễn nhằm đảm bảo hoàn thành các công việc qua những
nỗ lực của người khác Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức Vì vậy, trong công việc phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra,
mà người đứng đầu (thủ trưởng) biết phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm để đạt được những mục tiêu đề ra
- QL là công tác phối hợp có mục đích, có hiệu quả của những người cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức;
Từ những quan niệm về QL đã nêu trên ta có thể hiểu: QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường
1.2.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội [41] Đây là hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội đồng thời cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống thống nhất
và QL giáo dục được xem như là một hoạt động chuyên biệt để QL các cơ sở giáo dục
Có nhiều quan niệm khác nhau về QL giáo dục, chẳng hạn như:
Tác giả Trần Kiểm (2002, 2004) cho rằng: “QL giáo dục là tác động có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển
tâm lý và thể lực của trẻ em [18]
Trang 25Trong khi đó, tác giả Nguyễn Ngọc Quang nêu: “QL giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật và chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [31]
Do đó, có thể nói QL giáo dục là QL quá trình giáo dục và đào tạo ở một cơ sở giáo dục nhất định nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành, đảm bảo được các tính chất và nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam, đạt được mục tiêu giáo dục thông qua việc thực hiện các chức năng QL
1.2.2.3 Quản lý nhà trường
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “…Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có
diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: “Thầy - Trò ” Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở” [1] Trong trường học, người đứng đầu một nhà trường
có chức danh HT HT là người chịu trách nhiệm QL các hoạt động của nhà trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận Như vậy, QL nhà trường thực chất là QL quá trình lao động sư phạm của thầy giáo, QL hoạt động học tập - tự học tập, rèn luyện của học trò và QL cơ sở vật chất - thiết bị phục vụ dạy và học
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QL trường học có thể hiểu là một hệ thống những
t ác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể QL đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [18]
Tóm lại, QL trường học về bản chất là QL con người (tập thể cán bộ, GV và HS) và
QL các nguồn lực cơ sở vật chất - thiết bị giáo dục của nhà trường bằng những tác động tối ưu của chủ thể QL (HT nhà trường) đến GV, HS và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn lực nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn
Điều 19 Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ban hành ngày 28 tháng 3 năm 2011 về
Trang 26Điều lệ trường THCS, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học do Bộ giáo dục và đào tạo quy định nhiệm vụ và quyền hạn của HT như sau:
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường; Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lý GV, nhân viên; QL chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với
GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước; QL hồ sơ tuyển dụng GV, nhân viên;
- Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ và quyết định khen thưởng, kỷ luật
HS theo quy định của Bộ GD-ĐT;
- QL tài chính, tài sản của nhà trường;
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên, HS;
tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định
Như vậy, QL hoạt động TVHĐ là một nội dung của việc QL giáo viên, QL hoạt động giáo dục của nhà trường thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HT Để làm tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, người HT cần phải thể hiện tốt các vai trò chủ yếu: vừa là nhà
QL, nhà giáo dục và là nhà sư phạm
1.2.3 Khái niệm quản lý hoạt động tham vấn học đường
Quản lý hoạt động TVHĐ là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có khoa học của hiệu trưởng đến đội ngũ TVV, tập thể giáo viên, học sinh và những LLGD trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động tham vấn giúp HS phát triển toàn diện nhân cách
Quản lý hoạt động TVHĐ bao gồm các công việc:
- Chuẩn bị cho công tác tổ chức nhân sự, kế hoạch, cơ sở vật chất, phương tiện
phục vụ cho công tác TVHĐ
- Chỉ đạo thực hiện hoạt động theo kế hoạch đã đề ra
Tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả và rút kinh nghiệm cho hoạt động tham vấn
Trang 27tại trường
1.3 Hoạt động tham vấn học đường ở trường THPT
1.3.1 Mục tiêu, nội dung và hình thức tổ chức hoạt động tham vấn học đường
1.3.1.1 Mục tiêu hoạt động tham vấn học đường
Mục tiêu tham vấn luôn luôn được xác định từ thân chủ (đối với hoạt động TVHĐ thân chủ là HS, CB, GV, NV và cả PHHS) và nhà tham vấn cần nắm rõ nhu cầu tham vấn của thân chủ Với một số thân chủ, sự trợ giúp đơn thuần chỉ là giải tỏa cảm xúc Vì vậy, việc lắng nghe thân chủ giải tỏa và sử dụng kỹ năng thấu cảm để thân chủ thấy được tôn trọng, được chấp nhận là đủ Nhưng với một số thân chủ khác, mục tiêu tham vấn không đơn thuần chỉ là giải tỏa cảm xúc, nhận biết vấn đề của mình, hay biết cách đưa ra biện pháp đối phó, mà hơn thế nữa họ cần thay đổi hành vi Do đó, nhà tham vấn phải dành nhiều thời gian và cân nhắc các phương pháp tiếp cận để giúp thân chủ đạt được mục tiêu tham vấn của họ Bốn mục tiêu cụ thể của tham vấn [10]:
• Giúp thân chủ giảm bớt các cảm xúc tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn và cảm thấy thoải mái khi trò chuyện về nan đề của mình
• Giúp thân chủ tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của họ; giúp thân chủ biết chấp nhận nan đề của mình như nó đang có
• Giúp thân chủ đưa ra các quyết định lành mạnh và có khả năng ứng xử được nan
đề
• Hướng dẫn thân chủ thi hành các quyết định của họ và có khả năng dự phòng các tình huống tương tự xảy ra trong tương lai
1.3.1.2 Nội dung tổ chức hoạt động tham vấn học đường
Theo tác giả Ngô Thị Thu Dung, khoa Tâm lí, trường ĐH Quốc gia Hà Nội, nội dung hoạt động tham vấn học đường trong trường học cho học sinh như sau:
- Tổ chức hoạt động tham vấn tâm lí, nhằm lắng nghe, khơi dậy nội lực, giúp học sinh tự phát triển thể chất tinh thần, tránh những sự phát triển lệch lạc không đáng có
- Cung cấp một số kiến thức cũng như tổ chức các lớp rèn luyện kỹ năng sống cho HS
Trang 28- Tăng cường tổ chức hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động vì cộng đồng, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao
- Cần rèn luyện cho HS khả năng thích ứng học tập và rèn luyện bản lĩnh học tập
- Thực hiện công tác hướng nghiệp , định hướng nghề cho HS
- Cung cấp các kiến thức, kĩ năng bảo vệ sức khỏe, rèn luyện thể chất, sức khỏe sinh sản cho HS
- Cần có hoạt động bảo vệ, tạo điều kiện hòa nhập cho những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
- Không chỉ tư vấn cho HS, các nhà TVHĐ cần tư vấn các vấn đề phát triển của trẻ em với những lực lượng giáo dục, lực lượng xã hội có liên quan trong vấn
đề giáo dục, bảo vệ trẻ em
Văn bản số 9971/BGD&ĐT-HSSV ngày 28 tháng 10 năm 2005 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc triển khai công tác tư vấn cho học sinh sinh viên đã quy định rõ nội dung tư vấn đối với học sinh phổ thông tập trung vào các vấn đề sau:
1 Hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh,
2 Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới,
3 Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, giáo viên và bạn bè,
1.3.1.3 Hình thức tổ chức hoạt động tham vấn học đường
Hình thức tham vấn có thể được phân loại dựa trên tính chất của hoạt động tham vấn Với cách nhìn này, có thể chia tham vấn theo hình thức tham vấn trực tiếp và hình thức tham vấn gián tiếp Với hình thức tham vấn trực tiếp – Hình thức tương tác trực tiếp
Trang 29mặt đối mặt với nhà tham vấn và thân chủ Đây là hình thức tham vấn phổ biến khi thân chủ và nhà tham vấn ngồi cùng chung một phòng Do có thể trực tiếp nghe và nhìn nhau (với điều kiện thân chủ không bị khuyết tật về nhìn hoặc nghe) nên hiệu quả tham vấn thu được khá cao, không tốn thời gian và nó tạo cơ hội cho những phản hồi tức thì và hai bên nhận biết những biểu hiện phi ngôn ngữ của cơ thể Thân chủ trong tham vấn trực tiếp có thể là một cá nhân, một nhóm người, hay một gia đình Hình thức tham vấn gián tiếp – tham vấn thông qua các phương tiện trung gian, như qua điện thoại, viết thư hay tham vấn trực tuyến (sử dụng mạng internet).[10, tr 41]
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hình thức tham vấn qua mạng internet cũng được một số HS chọn lựa Các em có thể gởi thư điện tử hoặc nói chuyện
trực tuyến với TVV giúp các em tiếp cận và dễ dàng liên lạc với TVV dù TVV không trong giờ làm việc hay đi xa khỏi nhà, cơ quan Với cách tham vấn bằng hình thức viết thư điện tử, HS có thể chủ động về thời gian, có cơ hội bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc
và giải tỏa những vấn đề tâm lý khi chúng đang lên cao trào, giảm những cảm xúc bị kìm nén bằng cách viết ra những suy nghĩ, ý tưởng, cảm xúc và những mối quan tâm, có thể
tiếp tục viết thư sau khi đã ngừng nhiều ngày, tuần hay tháng Với hình thức tham vấn
trực tuyến, HS và TVV có thể nói chuyện như khi gọi điện Thực chất tham vấn qua điện thoại hay qua internet chỉ khác với tham vấn trực tiếp về phương tiện truyền tin và cách
thức truyền tải thông tin Tham vấn trực tuyến giúp cho HS tự bộc bạch những điều mình muốn chia sẻ mà ít có sự phòng vệ hơn, tính vô danh giúp các em giảm bớt những
cảm giác xấu hổ khi phải bộc lộ bản thân, những thông tin trao đổi trực tuyến có thể được lưu giữ lại một cách dễ dàng sẽ giúp ích cho quá trình theo dõi của TVV Tuy nhiên điều này cũng có thể là một mặt hạn chế nếu bản thân HS lưu thông tin về ca tham
vấn và bị lộ Khi đó, tính bảo mật thông tin không được đảm bảo và nằm ngoài tầm kiểm soát của TVV [10, tr 43-45]
Tham vấn trực tuyến cũng có những điểm hạn chế nhất định Mặt hạn chế dễ thấy
nhất của tham vấn trực tuyến là không nhìn thấy được nhau và cần rất nhiều thời gian để
có thể hiểu được HS Do TVV không thể quan sát được những cử chỉ phi ngôn ngữ của
HS nên lời nói của TVV và HS đôi khi khập khiễng Mặt khác TVV không kiểm soát được trạng thái tâm lý của HS – HS đang cảm thấy gì, đang còn muốn viết tiếp hay đã
dừng lại Tham vấn qua mạng ít có sự ràng buộc, HS có thể dễ dàng dừng hoặc ngắt quá
Trang 30trình làm việc trong khi tiến trình giúp đỡ có thể cần nhiều thời gian hơn nữa
Hình thức tham vấn tại nhà không phổ biến vì không tạo được sự thuận tiện và thoải mái cho cả TVV và HS Do đó, hình thức này ít được sự lựa cho của HS và TVV Tuy nhiên với sự đa dạng các hình thức tham vấn sẽ tạo điều kiện thuận lợi và có nhiều
sự lựa cho HS trong quá trình tìm đến sự giúp đỡ của những người có chuyên môn
Theo tác giả Huỳnh Mai Trang, hình thức của tham vấn học đường được tổ chức một cách đa dạng thông qua các hình thức tham vấn cho các cá nhân, tham vấn cho nhóm, dạy ở lớp, một số buổi tuyên truyền hoặc các buổi nói chuyện
Trong quy định tạm thời về việc tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học ban hành kèm theo Quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Giáo đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, hình thức tổ chức hoạt động tham vấn học đường bao gồm các hoạt động cơ bản:
• Tư vấn trực tiếp cho học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh bằng các hình thức: tư vấn cá nhân hoặc theo nhóm tại phòng tư vấn, tư vấn chuyên đề tại lớp học, hội trường, sân cờ, hoặc tại gia đình…
• Tư vấn gián tiếp thông qua hộp thư, hộp thư điện tử, điện thoại…
• Tổ chức tập huấn về chuyên môn tư vấn, tâm lí, hướng nghiệp…cho cán bộ, giáo
viên, cha mẹ học sinh,…
1.3.2 Quan điểm, nguyên tắc tổ chức hoạt động tham vấn học đường
Theo quy định tạm thời về việc tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học ban hành kèm theo Quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Giáo đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM, quan điểm, nguyên tắc tổ chức hoạt động tham vấn học đường như sau:
- Tư vấn cho học sinh là một hoạt động chuyên môn của giáo viên tư vấn trường học nhằm mục đích hỗ trợ và can thiệp đối với những học sinh đang gặp phải những khó khăn trong đời sống tâm lí Bao gồm những khó khăn về xúc cảm, tình cảm, tâm lí, tinh thần trong đời sống hàng ngày, trong hành vi ứng xử, quan hệ bạn bè, thầy cô, gia đình, trong học tập, định hướng nghề nghiệp…Qua đó giúp HS tìm được hướng giải quyết phù hợp và giúp ổn định đời sống tâm lí để có thể đạt
Trang 31được sự phát triển cao nhất và hiệu quả nhất trong suốt quá trình học tập tại trường học
- Công tác tư vấn trường học là hoạt động cần thiết nhằm hỗ trợ học sinh giải quyết các khó khăn trong đời sống tâm lí một cách hiệu quả đồng thời cũng giúp phòng ngừa một cách hiệu quả và kịp thời những tác động tiêu cực có thể gây bất
ổn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và học tập của HS Công tác tư vấn trường học cũng là một nhân tố góp phần xây dựng môi trường “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”
- Công tác tư vấn trường học là trách nhiệm của nhà trường, bao gồm cấp ủy,
cơ sở Đảng, Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể, Hội đồng sư phạm, Cha mẹ học sinh, các đội đồng đẳng…Trong đó, giáo viên tư vấn đóng vai trò chủ đạo và chủ động trong mối tương quan hỗ trợ và hợp tác với các lực lượng khác trong trường học, cụ thể là với giáo viên chủ nhiệm, trợ lí thanh niên, tổng phụ trách đội, giám thị…
- Tôn trọng và bảo mật cho người được tư vấn
1.3.3 Điều kiện, phương tiện tổ chức hoạt động tham vấn học đường
Theo quy định tạm thời về việc tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học ban hành kèm theo Quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Giáo đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM, điều kiện, phương tiện tổ chức hoạt động TVHĐ như sau:
Về số lượng giáo viên tư vấn học đường:
+ Mỗi trường có ít nhất 01 giáo viên tư vấn
+ Đầu mỗi năm học, Thủ trưởng đơn vị ra quyết định phân công giáo viên tư vấn trường học
Tiêu chuẩn của giáo viên tư vấn trường học
+ Có tinh thần yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Đào tạo
Trang 32+ Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư Có ý thức tổ chức kỉ luật, trung thực, không cơ hội; có lòng nhiệt tình, kiên trì, năng động, sáng tạo, có khả năng giao tiếp tốt, dễ cảm thông, dễ thuyết phục và được sự tín nhiệm của đồng nghiệp, cha
mẹ học sinh và học sinh
+ Có trình độ hiểu biết về lí luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước, mục tiêu và nhiệm vụ của ngành giáo dục và đào tạo
+ Có trình độ chuyên môn đạt chuẩn theo quy định của từng bậc học, các ngành
sư phạm hoặc khoa tâm lí giáo dục, am hiểu lĩnh vực tâm lí lứa tuổi, có khả năng tham gia công tác tư vấn trường học
+ Có kĩ năng và phương pháp công tác xã hội, có sức khỏe tốt, có uy tín và được
học sinh tin yêu
Thời gian làm việc của giáo viên tư vấn trường học
+ Mỗi giáo viên tư vấn phải lên lịch trực phòng tư vấn 4 buổi/ 1 tuần, mỗi buổi 3 tiết, tạo điều kiện liên hệ cho thuận lợi HS, Cha mẹ HS và GV
+ Ngoài ra, giáo viên tư vấn chủ động lên lịch tổ chức báo cáo chuyên đề tại lớp, tại Hội trường hoặc dưới sân cờ; tổ chức tập huấn chuyên đề cho PHHS hoặc giáo viên về tâm lí, hướng nghiệp, giáo dục học sinh,…
Trang 331.3.4 Chức năng, nhiệm vụ của tham vấn viên
Ở các nước có nền tham vấn học đường phát triển, chức năng của nhà TVHĐ được qui định rất cụ thể, họ được tham gia vào hội đồng sư phạm với tư cách là cố vấn về các vấn đề học hành và phát triển nhân cách của HS, tất nhiên, quyền quyết định cuối cùng
là ở giáo viên, của cha mẹ HS hay của hội đồng sư phạm [25]
Trong điều kiện của Việt Nam hiện tại, công tác TVHĐ chưa thật chuyên nghiệp nên chức năng của nhà TVHĐ chưa được quy định cụ thể trong các văn bản của nhà nước Do đó người làm công tác TVHĐ chủ yếu là “tự thân vận động” trong toàn bộ chương trình hoạt động của mình và đồng thời tự chịu trách nhiệm Thậm chí có nhiều nhà tham vấn không biết rõ chức năng của mình, dẫn đến họ làm việc theo cảm tính [25] Một số trường học ở Mỹ và Canada đưa ra các chức năng của nhà TVHĐ như sau: [25]
- Lập kế hoạch cho chương trình hoạt động của năm học trên cơ sở tiến hành khảo sát nhu cầu của HS và tập hợp các dữ liệu về HS
- Tham vấn cho cá nhân hay nhóm học sinh “có vấn đề” liên quan đến học hành, sự phát triển của cá nhân cũng như định hướng nghề nghiệp cho các em
- Tư vấn cho cha mẹ, GV và những người có liên quan trong việc tìm ra biện pháp tốt nhất để giáo dục con em và HS của mình
- Liên kết với các bộ phận khác trong trường học cũng như các tổ chức bên ngoài trường học nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề của HS
- Đánh giá HS và cùng với GV đưa ra những quyết định liên quan đến việc học tập
và hạnh kiểm của HS
- Phát triển năng lực nghề nghiệp của bản thân thông qua việc giám sát trong nhóm,
tự tìm hiểu qua sách báo cũng như qua sự hỗ trợ của các trang thông tin điện tử và các cuộc hội thảo về tham vấn
Điều 4 của Quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM có qui định rõ nhiệm vụ của giáo viên tư vấn như sau:
1 Thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của giáo viên qui định trong điều lệ nhà trường Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân; chấp hành chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các qui định của nhà trường; chấp
Trang 34hành sự phân công và chỉ đạo của Thủ trưởng đơn vị
2 Tận tụy với công tác; xây dựng quan hệ lành mạnh với đồng nghiệp, cha mẹ
HS và HS Không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật diễn biến
xã hội và am hiểu hoạt động giáo dục
3 Tham mưu cho Thủ trưởng về các nội dung liên quan đến công tác tư vấn trường học và chủ động thực hiện công tác theo phân công của lãnh đạo đơn vị trong đó có 3 hoạt động cơ bản gồm:
- Tư vấn trực tiếp cho HS, GV, cha mẹ HS bằng các hình thức: tư vấn cá nhân hoặc theo nhóm tại phòng tư vấn, tư vấn chuyên đề tại lớp học, hội trường, sân cờ hoặc tại gia đình…
- Tư vấn gián tiếp thông qua hộp thư, hộp thư điện tử, điện thoại,…
- Tổ chức tập huấn về chuyên môn tư vấn, tâm lý, hướng nghiệp… cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên, cha mẹ HS…
4 Phối hợp với các bộ phận trong nhà trường để làm tốt công tác tư vấn, đặc biệt với giáo viên chủ nhiệm, trợ lý thanh niên, tổng phụ trách đội, giám thị Thông qua hội đồng sư phạm, giáo viên tư vấn trường học phát hiện những tập thể HS, nhóm
HS, cá nhân HS có những tình huống hoặc những vấn đề về tâm lý để chủ động xây dựng kế hoạch phòng ngừa và can thiệp kịp thời
5 Phải xây dựng kế hoạch tư vấn hàng năm bao gồm một số nội dung cơ bản sau: Lịch trực phòng tư vấn, tổ chức các buổi tư vấn chuyên đề và chủ đề tập huấn cho GV, cha mẹ HS, …phù hợp với lịch của nhà trường và thực hiện các báo cáo theo qui định
6 Không ngừng nâng cao tay nghề và cập nhật kiến thức xã hội, kiến thức về tâm lý và công tác tư vấn học đường nhằm có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công tác tư vấn trường học
1.3.5 Y êu cầu đối với tham vấn viên
Trên thế giới, tại các nước có nền tham vấn học đường phát triển như Mỹ, Canada, Pháp…yêu cầu một người làm công tác tham vấn học đường phải có trình độ tối thiểu là thạc sỹ chuyên ngành TVHĐ và phải trải qua kì thi chứng chỉ hành nghề thì mới được công nhận là nhà TVHĐ, đồng thời trong quá trình hoạt động phải không ngừng rèn
Trang 35luyện để hoàn thiện bản thân trong thực tế hành nghề [25]
Nhưng ở một số nước khác như: Nga, Bỉ…ngoài đội ngũ chuyên ngành nói trên, người ta còn sử dụng đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên và các hiệu trưởng đã về hưu để làm cộng tác viên [25]
Ở Việt Nam, từ khi các trường có quan tâm đến công tác TVHĐ thì cách làm của ban giám hiệu là sử dụng các giáo viên lớn tuổi, những người tốt nghiệp chuyên ngành tâm lý học, giáo dục học và một số người đang làm việc như một người trợ giúp tâm lý
để giúp đỡ các học sinh “có vấn đề” tại trường Trong triển khai công tác tư vấn (tham vấn) cho học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị bố trí giáo viên tâm lý, cán
bộ Đoàn, Đội hoặc mời chuyên gia theo định kì để thực hiện công tác này [25]
Trong hội thảo quốc tế về công tác tham vấn tâm lý học đường của Việt Nam lần thứ nhất (2009), lần thứ 2 (2011) và lần thứ 3 (2012), các nhà khoa học tham gia đều thống nhất rằng, người làm công tác tham vấn học đường phải được đào tạo chuẩn kiến thức chuyên môn về giáo dục học, tâm lý học và kỹ năng tham vấn thực tế, đồng thời phải được trang bị một số kiến thức thực tế và kỹ năng thực hành công tác xã hội
Tác giả Trương Thanh Chí đã đúc kết những yêu cầu về nhà TVHĐ ở một số khía cạnh sau:
- Thứ nhất, nhà TVHĐ trước tiên là nhà tham vấn, có nghĩa là họ phải yêu thích công việc tham vấn và phải có kiến thức cơ bản về nghề tham vấn như: nắm được các nguyên tắc đạo đức của nghề tham vấn, xác định được thái độ của người làm tham vấn, nắm được quy trình của một ca tham vấn, được huấn luyện về các kỹ năng tham vấn và có hệ thống lý thuyết làm nền tảng cho hoạt động nghề nghiệp
- Thứ hai, nhà TVHĐ phải thông suốt những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi, vì công việc của họ không chỉ là tham vấn cho học sinh mà còn là tư vấn cho GV và cha mẹ học sinh về các vấn đề dạy dỗ, ứng xử với HS cũng như với con cái
- Thứ ba, nhà TVHĐ phải có thực tế hành nghề, có nghĩa là đang làm công việc TVHĐ tại các trường học hoặc các trung tâm tham vấn
Bên cạnh đó, công tác TVHĐ thực chất là một con đường giáo dục cực kỳ quan trọng, cần thiết cấp bách và không thể thiếu trong giáo dục nhà trường hiện nay Tham gia TVHĐ, TVV cần nhiều phẩm chất, tri thức và kỹ năng chuyên sâu Trong các phẩm
Trang 36chất cần thiết cho công tác tham vấn có hai phẩm chất không thể thiếu Đó là LÒNG NHÂN và CHỮ NHẪN [24]
1.4 Quản lý hoạt động tham vấn học đường ở trường THPT
1.4.1 Ý nghĩa của việc quản lý hoạt động tham vấn học đường
Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng, HT là người đại diện chức trách hành chính, là người QL và lãnh đạo, có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước nhà nước, nhân dân, tổ chức
và QL mọi hoạt động của nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng
Bên cạnh hoạt động giảng dạy, nhà trường còn là nơi tổ chức các hoạt động giáo dục cho HS Với tư cách là nhà QL, HT có trách nhiệm QL mọi hoạt động, mọi tổ chức trong nhà trường Hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ có kết quả cao khi HT biết huy động sự tham gia đồng bộ, nhịp nhàng của các LLGD trong trường trong đó có tham vấn viên Đội ngũ TVV ở các trường là lực lượng hỗ trợ cho HS nhằm giúp cho các em có thể tự giải quyết những vấn đề tâm lý cá nhân và một số vấn đề tâm lý xã hội Bên cạnh
đó, hoạt động TVHĐ còn giúp cho HS rèn luyện những kỹ năng nhằm ứng phó tích cực
và xử lý linh hoạt các vấn đề của bản thân và trong cuộc sống, giúp HS có thể khám phá được tiềm năng của bản thân để từ đó có thể định hướng tốt cho tương lai Do đó, việc quản lý tốt hoạt động TVHĐ sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho hoạt động nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông
1.4.2 Động lực của việc quản lý hoạt động tham vấn học đường
Nói đến động lực trong QL giáo dục phải đề cấp đến nhu cầu Nhu cầu là một phẩm chất tâm lý, điều cần thiết để tồn tại và phát triển Con người khi có nhu cầu tức là có sự thúc đẩy về mặt tâm lý nhằm hướng đến sự thỏa mãn Trong hoạt động QL giáo dục, các thúc đẩy là những tác động có hướng đích của tổ chức nhằm động viên các thành viên nâng cao thành tích giúp họ hoàn thành nhiệm vụ có hiệu quả [18, tr 90]
Đối với hoạt động TVHĐ, HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động Bản thân các em có nhu cầu trợ giúp để giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc đang gặp phải, nhu cầu tìm hiểu biết, nhu cầu rèn luyện kỹ năng nhằm thỏa mãn sự phát triển tâm sinh lý một cách bình thường ở lứa tuổi vị thành niên Bên cạnh sự hỗ trợ của
Trang 37gia đình, xã hội, thì sự hỗ trợ của nhà trường đặc biệt của hoạt động TVHĐ là điều cần thiết và không thể thiếu Do đó, tổ chức và quản lý tốt hoạt động TVHĐ sẽ giúp phát triển toàn diện nhân cách HS
Bên cạnh đó, các LLGD trong và ngoài nhà trường là những người có nhu cầu về trau dồi những kiến thức tâm lý, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế để giúp HS giải quyết những khó khăn các em gặp phải hay chính những khó khăn phát sinh từ những vấn đề giữa bản thân họ và HS Nhà quản lý phải biết cách phối hợp các LLGD trong và ngoài trường trong việc giáo dục giúp HS phát triển tốt thể chất đồng thời còn quan tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần cho HS
1.4.3.Cơ sở pháp lý về quản lý hoạt động tham vấn học đường
- Theo Luật giáo dục năm 2005, tại điều 27 mục tiêu giáo dục phổ thông có nêu
“M ục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
th ức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.[32]
- Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009 – 2020, về các mục tiêu chiến lược có nêu: “Nền giáo dục này phải đào tạo được con người Việt Nam có năng
l ực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết
v ấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý
th ức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và
ch ủ nghĩa xã hội”
- Năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành công văn số HSSV ngày 28 tháng 10 năm 2005 về việc triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên đã qui định nội dung tham vấn cho HS phổ thông cũng như hướng dẫn về mặt tổ chức, nhân sự cho hoạt động này
9971/BGD&ĐT Trên cơ sở thực hiện hướng dẫn triển khai hoạt động tư vấn học đường của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-TC ngày 31 tháng 8 năm 2012 về ban hành Quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn học đường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Quyết định trên là cơ sở pháp lý giúp cho công tác TVHĐ ở các trường trong
Trang 38thành phố đi vào hoạt động
1.4.4.Phân cấp quản lý hoạt động TVHĐ
Từ năm học 2010 – 2011, Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM đã có hướng dẫn, tập huấn về công tác hoạt động TVHĐ Trong trường để hoạt động này đi vào nề nếp và có hiệu quả cần có một tổ TVHĐ hoặc cá nhân TVV dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng (PHT) được Hiệu trưởng ủy nhiệm phụ trách chịu trách nhiệm định ra chế độ sinh hoạt để chỉ đạo và chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động của
trường, có các biện pháp phối hợp với các lực lượng trong và ngoài trường để thực hiện
Tổ TVHĐ gồm TVV là tổ trưởng, các thành viên gồm trợ lý Đoàn thanh niên, một số
GV có kinh nghiệm, giám thị, một số phụ huynh Hàng tháng tổ TVHĐ hoặc cá nhân TVV cùng các cộng tác viên tổ chức họp rút kinh nghiệm và triển khai kế hoạch hoạt động cho tháng tới
1.4.5 Các chức năng quản lý hoạt động TVHĐ
Trong nhà trường để mọi người cùng thực hiện mục tiêu giáo dục, tất yếu nảy sinh nhu cầu cần thiết về những hoạt động QL của người HT như tổ chức, phân công, phối hợp, điều hòa, hướng dẫn, động viên, kiểm tra, đánh giá Chức năng QL là nội dung cơ bản mà chủ thể QL phải thực hiện trong quá trình hoạt động QL Theo tác giả Nguyễn
Ngọc Quang: “Chức năng QL là dạng hoạt động QL thông qua đó chủ thể QL tác động
vào khách thể QL nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [31, tr38] Để quản lý tốt,
chặt chẽ hoạt động TVHĐ, trong nhà trường người Hiệu trưởng phải nắm được đặc điểm tình hình nhà trường, địa phương, nguồn nhân lực, mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả hoạt động TVHĐ của những năm học trước, phương hướng, nhiệm vụ năm học mới để đề ra cách thức quản lý cho phù hợp Quản lý hoạt động giáo dục nói chung hay quản lý hoạt động TVHĐ của người Hiệu trưởng gồm 4 chức năng:
1.4.5.1 Chức năng lập kế hoạch quản lý hoạt động tham vấn học đường
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản của quá trình QL Căn cứ vào quá trình phát triển của tổ chức; tiềm năng đã có vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và hệ thống các biện pháp nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra
Mục tiêu quản lý hoạt động TVHĐ
Trang 39Mục tiêu quản lý hoạt động TVHĐ nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động này trong nhà trường Do đó, nhà quản lý cần:
- Tăng cường nhận thức của CB, GV, NV, HS và PHHS về vị trí, vai trò của hoạt động TVHĐ; nắm bắt được mục tiêu, nội dung chương trình TVHĐ ở trường THPT
- Huy động được HS (chủ yếu), GV, NV và PHHS tham gia vào hoạt động TVHĐ
và tổ chức có hiệu quả hoạt động TVHĐ Qua đó, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho HS
- Huy động và phối hợp chặt chẽ giữa TVV và các lực lượng giáo dục khác trong
và ngoài nhà trường trong việc giúp HS giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, trong các mối quan hệ hoặc những vấn đề trong cuộc sống
- Thông qua hoạt động TVHĐ giúp HS rèn luyện kỹ năng sống để có thể tự mình ứng phó với những khó khăn, vướng mắc gặp phải
- Xây dựng, bảo quản, phát huy được hiệu lực sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động TVHĐ
- Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng tham vấn cho đội ngũ TVV
- Thông qua hoạt động TVHĐ giúp nhà quản lý phát hiện những nhân tố mới bổ sung vào lực lượng làm công tác TVHĐ
Hussey (1985) và Bryson (1988) đã đưa ra định nghĩa về lập kế hoạch như sau:
“Lập kế hoạch là một hoạt động có tính hướng đích nhằm xác định một cách chính xác chúng ta muốn đến đâu và làm thế nào để đến đó”
Việc lập kế hoạch trong tổ chức có một tầm quan trọng to lớn Kế hoạch sẽ giúp nhà QL có được cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn và thấy được sự tác động qua lại giữa các bộ phận trong tổ chức Hơn hết là ứng phó với thay đổi và chi phối của các nhân tố bên trong ngoài nhà trường như: những thay đổi về số lượng, chất lượng liên quan đến
GV, HS; những tác động của hội nhập kinh tế thị trường; những mặt tích cực và tiêu cực của xã hội…bằng cách điều chỉnh những quyết định trước đó, đảm bảo hướng vào mục tiêu đã định
Muốn xây dựng được kế hoạch hoạt động TVHĐ trước hết phải nắm chắc tình hình
giảng dạy và giáo dục trong nhà trường, các chủ trương công tác trọng tâm và nhiệm vụ chính trị của địa phương Điều tra cơ bản khả năng của TVV và các LLGD trong và
Trang 40ngoài trường, tìm hiểu hoàn cảnh của HS, điều kiện CSVC, bên cạnh đó phải căn cứ vào
hướng dẫn của Bộ, của Sở về chương trình hoạt động TVHĐ để đề ra kế hoạch cho sát Căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản để xác định yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể, định chỉ tiêu
phấn đấu
Kế hoạch phải được xây dựng cùng với việc dự thảo kế hoạch năm học của trường
và được cụ thể hóa thành kế hoạch từng học kỳ, từng tháng, từng tuần phù hợp với điều
kiện cụ thể của nhà trường, phù hợp với từng khối lớp và đảm bảo cho mục tiêu phát triển nhân cách cho HS
Kế hoạch hoạt động TVHĐ phải được xây dựng trong sự phối hợp với kế hoạch
của các bộ phận khác trong nhà trường như kế hoạch dạy – học, kế hoạch hoạt động ngoại khóa của tổ bộ môn, kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất…
Một số yêu cầu cần chú ý:
- Có kế hoạch hoạt động đều đặn, cân đối từ đầu năm đến cuối năm và trong hè
- Có lịch hoạt động hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, học kỳ
- Có ý thức nhạy bén phục vụ kịp thời những nhiệm vụ đột xuất
Cần vận dụng và khéo léo sắp xếp thời gian để kết hợp với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp khác nhằm tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về hướng nghiệp, giao tiếp ứng xử, chăm sóc sức khỏe nhằm làm phong phú đa dạng nội dung giúp HS tìm thấy sự bổ ích trong tiết sinh hoạt tập thể
1.4.5.2 Chức năng tổ chức hoạt động tham vấn học đường
Để cho mọi người làm việc cùng với nhau nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu, cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác