1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiếp xúc ngôn ngữ ê đê việt ở tỉnh dak lăk trên bình diện từ vựng ngữ nghĩa

155 4,4K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể trong trường hợp này, sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Ê đê trên phương diện từ vựng - ngữ nghĩa sẽ làm giàu cho cả hai ngôn ngữ nhờ sự vay mượn vốn từ vựng của nhau.. Cho tới

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS DƯ NGỌC NGÂN

TP H ồ Chí Minh - 2013

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin đặc biệt gửi lời

cảm ơn chân thành đến PGS TS Dư Ngọc Ngân, cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trường Đại học

Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo mọi điều

kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, đồng nghiệp ở Trường Đại học Tây Nguyên - nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình và bạn bè đã

tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học tập

và thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn!

Dak Lăk, ngày 2 tháng 11 năm 2013

Học viên thực hiện

Lưu Thị Dịu

Trang 4

M ỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ Ê ĐÊ – VIỆT Ở TỈNH DAK LĂK 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Ti ếp xúc ngôn ngữ 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Khái quát v ề người Ê đê ở tỉnh Dak Lăk 25

1.2.2 Khái quát v ề ngôn ngữ Việt, Ê đê 28

1.3 Ti ểu kết 37

CHƯƠNG 2 TỪ VỰNG TIẾNG Ê ĐÊ VAY MƯỢN TIẾNG VIỆT 39

2.1 Kh ảo sát và thống kê lớp từ ngữ tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt 39

2.1.1 Lớp từ ngữ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, lĩnh vực và vị trí công tác 39

2.1.2 L ớp từ ngữ chỉ cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp 44

2.1.3 L ớp từ ngữ chỉ khoa học kĩ thuật 46

2.1.4 L ớp từ ngữ chỉ động - thực vật 53

2.1.5 L ớp từ ngữ chỉ đồ vật 55

2.1.6 L ớp từ ngữ chỉ tên người 58

2.2 Các phương thức tiếng Ê đê vay mượn từ ngữ tiếng Việt 62

2.2.1 Phương thức dịch nghĩa 62

2.2.2 Phương thức kết hợp phiên âm với dịch nghĩa 64

2.2.3 P hương thức phiên âm 66

2.2.4 Phương thức mượn nguyên dạng 70

Trang 5

2.3 Ti ểu kết 71

CHƯƠNG 3 TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT VAY MƯỢN TIẾNG Ê ĐÊ 73

3.1 Kh ảo sát và thống kê lớp từ ngữ tiếng Việt vay mượn của tiếng Ê đê 73

3.1.1 Lớp từ ngữ chỉ địa danh 73

3.1.2 L ớp từ ngữ chỉ nhà ở, đồ dùng, dụng cụ lao động 74

3.1.3 L ớp từ ngữ chỉ không gian văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán 78

3.2 Các p hương thức tiếng Việt vay mượn từ ngữ tiếng Ê đê 84

3.2.1 Phương thức dịch nghĩa 84

3.2.2 Phương thức phiên âm 85

3.2.3 Phương thức mượn nguyên dạng 87

3.3 V ấn đề địa danh của tỉnh Dak Lăk trong sự tiếp xúc ngôn ngữ 87

3.3.1 Đặc điểm dân cư và văn hóa 87

3.3.2 Vài nét v ề thực trạng 89

3.3.3 M ột số ý kiến đề xuất 98

3.4 Ti ểu kết 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ và đa văn hóa Vùng Tây Nguyên nói chung và tỉnh Dak Lăk nói riêng là mảnh đất tiêu biểu cho sự phong phú, đa dạng ấy Hiện nay, ở Dak Lăk có tới 44 dân tộc anh em sinh sống Ngoài người Kinh thì có thể nói người Ê đê là dân tộc bản địa, có số lượng dân cư

đông nhất Theo Báo cáo kết quả chính thức tổng điều tra dân số và nhà ở năm

90,1% số người Ê đê tại Việt Nam

Trong bối cảnh đa dân tộc, đa ngôn ngữ tất yếu sẽ xảy ra hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ giữa các dân tộc Tiếp xúc ngôn ngữ có thể diễn ra trên tất cả các bình diện khác nhau của ngôn ngữ như từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp Riêng ở bình

diện từ vựng - ngữ nghĩa, sự tiếp xúc sẽ giúp các ngôn ngữ làm giàu thêm vốn từ

ngữ của mình

Người Ê đê đã xây dựng được hệ thống ngôn ngữ và chữ viết riêng của dân

tộc mình Hiện nay, tiếng Ê đê đã được đưa vào giảng dạy ở bậc Tiểu học cho

học sinh (từ lớp 3 đến lớp 5) tại những vùng có người Ê đê sinh sống nhằm góp phần nâng cao năng lực song ngữ Ê đê - Việt cho họ Hơn thế nữa, nhu

cầu học tập và sử dụng tiếng Ê đê của người Kinh cũng như tiếng Kinh của người Ê đê ở những vùng này đang trở nên hết sức cấp thiết

Việc so sánh đối chiếu các ngôn ngữ trong tiếp xúc sẽ chỉ ra sự tương tác cũng như những nét tương đồng và dị biệt giữa các ngôn ngữ tiếp xúc Cụ

thể trong trường hợp này, sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Ê đê trên phương diện từ vựng - ngữ nghĩa sẽ làm giàu cho cả hai ngôn ngữ nhờ sự vay mượn vốn từ vựng của nhau Tiếng Ê đê đã vay mượn một số lượng từ vựng tương đối lớn của tiếng Việt và tiếng Việt cũng đã mượn của tiếng Ê đê một số

Trang 7

lượng từ vựng nhất định Nghiên cứu và xác định rõ số lượng những từ ngữ mà hai ngôn ngữ Việt, Ê đê đã vay mượn của nhau sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho

việc giáo dục ngôn ngữ nói chung, việc dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc Ê

đê và dạy tiếng Ê đê cho người Kinh nói riêng

Hơn nữa, là một người đang sinh sống và công tác tại tỉnh Dak Lăk,

bản thân tôi cũng luôn có ý thức tìm hiểu, học tập để sử dụng được tiếng Ê đê vào công việc của mình Vì những lí do khách quan và chủ quan trên, chúng

tôi đã chọn đề tài “Tiếp xúc ngôn ngữ Ê đê – Việt ở tỉnh Dak Lăk trên bình

diện từ vựng - ngữ nghĩa” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Hi vọng

những đóng góp của đề tài sẽ giúp ích cho những ai đang quan tâm đến vấn đề này

2 L ịch sử vấn đề

Tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra khi con người sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ Tức là nó xảy ra khi có hiện tượng song ngữ hoặc đa ngữ do những nguyên nhân kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, địa lý,… khác nhau Những người sử dụng các ngôn ngữ khác nhau có nhu cầu giao lưu, tiếp xúc với nhau Để có thể gao tiếp được, họ cần phải học tập ngôn ngữ của nhau Xuất phát từ việc học tập này, cộng đồng đã hình thành nên rất nhiều người

có thể sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ Có thể nói, tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng phổ biến trong mọi ngôn ngữ trên thế giới Cho tới nay, vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến:

Công trình Tiếng Việt trong tiếp xúc ngôn ngữ từ giữa thế kỷ XX của

nhà nghiên cứu Vương Toàn đã đề cập đến hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt với các ngoại ngữ phổ biến mà cụ thể là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung; giữa tiếng Việt với một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số

ở nước ta trong quá trình giao lưu văn hóa và phát triển ở Việt Nam từ giữa

thế kỉ XX đến nay Theo ông, “hiện tượng tiếp nhận các yếu tố ngôn ngữ mới

Trang 8

thể hiện rõ nhất và chủ yếu nhất là ở cấp độ từ vựng Thật vậy, việc bổ sung các yếu tố từ vựng mới thường xảy ra khi có sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ”

[29, tr.15]

Hai tác giả Phan Ngọc và Phạm Đức Dương trong cuốn sách Tiếp xúc

hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Hai ông khẳng định: “Nói đến tiếp xúc ngôn

ngữ là nói đến những thay đổi rất sâu sắc diễn ra ngay trong cấu trúc của A

do B đưa đến, hay nói khác đi, nếu trong quá trình phát triển lịch sử, A không tiếp xúc với B thì tự nó không có cái diện mạo ngày nay, hay muốn có phải chờ đợi một thời gian lâu dài hơn rất nhiều, và kết quả cũng không thể hệt như ngày nay được” Công trình này cũng đi sâu tìm hiểu sự ảnh hưởng ngữ

nghĩa giữa tiếng Việt và tiếng Hán, nghiên cứu sự tiếp xúc về ngữ pháp mà cụ thể là những ảnh hưởng của ngữ pháp châu Âu tới ngữ pháp tiếng Việt

Trong công trình Từ ngoại lai tiếng Việt, tác giả Nguyễn Văn Khang đã

khẳng định: “Vay mượn từ vựng là hệ quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa

các ngôn ngữ có nguyên nhân từ tiếp xúc ngôn ngữ Vì thế, khi xem xét vay mượn từ vựng không thể không nói đến tiếp xúc ngôn ngữ” Trong cuốn sách

này, tác giả đã trình bày vấn đề lí thuyết về vay mượn từ vựng, các bình diện vay mượn của từ và các cách vay mượn từ vựng Từ đó, ông đi vào khảo sát hoạt động của các từ ngoại lai trong tiếng Việt, bao gồm từ mượn tiếng Hán,

từ mượn tiếng Anh và từ mượn tiếng Pháp được sử dụng trong tiếng Việt

Luận án Tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Khmer với tiếng Việt của tác giả

Nguyễn Thị Huệ đã trình bày tổng quan các vấn đề liên quan đến lí thuyết tiếp xúc ngôn ngữ Từ đó, tác giả đi sâu vào nghiên cứu quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Việt, Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng trên cả ba phương diện từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp Đây là một công trình nghiên cứu khá điển hình về hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng

Trang 9

Việt với ngôn ngữ của một dân tộc thiểu số

Ngoài ra, tìm hiểu về vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ còn có nhiều nhà

nghiên cứu khác như tác giả Vương Toàn với đề tài khoa học cấp Bộ “Tiếp

xúc ngôn ngữ và đời sống của các lớp từ vay mượn trong tiếng Việt từ nửa cuối thế kỉ XX” và bài viết “Tiếp xúc ngôn ngữ: vay mượn và sao phỏng”;

công trình “Tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kiên

Trường,… Tất cả những nghiên cứu trên giúp cho những người quan tâm thấy được một cách khái quát toàn cảnh bức tranh về lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ

Nghiên cứu về tiếng Ê đê mà cụ thể là vấn đề từ vựng đã có một số công trình tiêu biểu:

Công trình Từ vựng các phương ngữ Ê đê của tác giả Đoàn Văn Phúc –

nhà nghiên cứu chuyên sâu về tiếng Ê đê của Việt Nam - đã giới thiệu rất tỉ

mỉ một bức tranh tổng quát về các phương ngữ Ê đê Cuốn sách được trình bày thành hai phần với hai nội dung lớn Trong phần đầu, tác giả miêu tả hệ

thống âm vị học tiếng Êđê và nói khái quát về sự phân chia các phương ngữ

Phần thứ hai, ông đã cung cấp một vốn tư liệu phong phú (9000 từ vựng) và chính xác giúp người nghiên cứu có thể so sánh giữa các phương ngữ Ê đê

Nội dung mà tác giả trình bày trong cuốn sách này là tài liệu rất quan trọng,

tạo cơ sở cho việc nghiên cứu về sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và

tiếng Ê đê của luận văn

Luận án Hệ thống từ ngữ chỉ người trong tiếng Ê đê của tác giả Đoàn

Thị Tâm nghiên cứu hệ thống từ ngữ chỉ người về phương diện cấu tạo và ngữ nghĩa Nghiên cứu về hệ thống chỉ người tiếng Ê đê, tác giả đã phân chia

và đi vào tìm hiểu các nhóm từ ngữ như: đại từ nhân xưng, từ chỉ nghề nghiệp, từ chỉ chức vụ, từ chỉ quan hệ xã hội Qua đó, tác giả đã đi sâu để phân tích và phát hiện ra những đặc trưng văn hóa của dân tộc Ê đê ẩn sau lớp

từ ngữ đó

Trang 10

Trong luận án Từ loại danh từ trong tiếng Ê đê, tác giả Nguyễn Minh

Hoạt đi sâu làm rõ đặc điểm của từ loại danh từ trong tiếng Ê đê về các phương diện như cấu tạo, đặc điểm định danh, phương thức kết hợp, chức vụ

cú pháp và đặc trưng văn hóa của người Ê đê qua việc sử dụng danh từ Trong công trình này, nhà nghiên cứu cũng đi phân chia danh từ tiếng Ê đê ra làm hai loại là danh từ chung và danh từ riêng Luận án đặc biệt đi sâu vào nhóm danh từ chỉ người trong tiếng Ê đê, trong đó có các tiểu loại như: danh từ chỉ quan hệ thân tộc; danh từ chỉ quan hệ xã hội Bên cạnh đó, luận án khẳng định trong hệ thống từ vựng tiếng Ê đê không có các từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, khoa học công nghệ, người Ê đê phải mượn tiếng Việt để giao tiếp

Về từ điển tiếng Ê đê chúng ta có thể kể tới các công trình sau:

Đầu tiên phải kể đến cuốn Từ điển Việt – Ê đê do Sở Giáo dục và Đào

tạo tỉnh Dak Lăk phối hợp với Viện Ngôn ngữ học biên soạn Các tác giả của công trình này đã xây dựng và đối chiếu rất công phu, tỉ mỉ hệ thống 10.000 đơn vị từ vựng cơ bản và thông dụng Việt – Ê đê Cuốn từ điển rất hữu ích, tạo điều kiện để đồng bào Ê đê nâng cao trình độ tiếng Việt cũng như cho đối tượng người Kinh cần học tập tiếng Ê đê Đây cũng là công trình rất hữu ích cho việc tra cứu tư liệu về dân tộc Ê đê của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ

Tiếp đến là cuốn Từ điển Êđê - Việt được nhóm chuyên viên Ban

nghiên cứu giáo dục học sinh dân tộc thuộc Sở Giáo dục & Đào tạo Dak Lăk

phối hợp với các trí thức người Ê đê biên soạn Cuốn từ điển đã hệ thống hóa được hơn 4.200 từ dựa trên nhóm ngôn ngữ của người Ê đê Kpă, đây được xem là dòng ngôn ngữ phổ biến, thông dụng hiện nay ở hầu hết buôn làng người dân tộc Ê đê Công trình có sự đầu tư bảo đảm về mặt chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu và bảo tồn văn hóa của người Ê đê trên địa bàn Tây nguyên

Ngoài ra, nghiên cứu và biên soạn từ điển về tiếng Ê đê còn có thể kể

Trang 11

tới tác giả Shintani Tadahico với công trình Từ vựng Ê đê – Việt – Nhật Đây

là tài liệu đầu tiên xây dựng từ điển đối chiếu những từ vựng cơ bản trong tiếng Ê đê với tiếng Việt và tiếng Nhật Cuốn từ điển giúp người sử dụng ba ngôn ngữ này có thể dễ dàng học tập và tra cứu từ vựng

Điểm qua các công trình nghiên cứu chúng tôi thấy rằng chưa có một tác giả nào nghiên cứu về vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ mà cụ thể là trên bình diện từ vựng – ngữ nghĩa giữa tiếng Việt và tiếng Ê đê ở tỉnh Dak Lăk

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài: tổng quan về lí thuyết tiếp xúc ngôn ngữ, khái quát đặc điểm của tiếng Ê đê và tiếng Việt

- Thu thập, thống kê các từ ngữ thuộc lớp từ mà tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt và ngược lại

- Khảo sát, phân tích và miêu tả các phương thức vay mượn từ vựng của tiếng Việt và tiếng Ê đê qua quá trình tiếp xúc, vay mượn giữa hai ngôn ngữ

- Khảo sát hiện tượng sử dụng từ ngữ vay mượn giữa tiếng Ê đê và

tiếng Việt ở tỉnh Dak Lăk

- Bước đầu tìm hiểu và khám phá những nét đặc trưng về văn hóa của người Ê đê ẩn sâu dưới lớp ngôn ngữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sự tiếp xúc ngôn ngữ Ê đê – Việt trên bình diện từ

Trang 12

lai tạp ngôn ngữ, chuyển di ngôn ngữ, trộn mã và chuyển mã trong giao tiếp,… Trong phạm vi đề tài này chúng tôi đi vào nghiên cứu hệ thống từ

vựng tiếng Ê đê và hệ thống từ vựng tiếng Việt, đặc biệt là lớp từ ngữ vay mượn do quá trình giao lưu, tiếp xúc giữa cộng đồng người Ê đê và người Kinh

Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự tiếp xúc ngôn ngữ của tiếng Ê đê (cụ thể là nhóm tiếng Ê đê kpă) và tiếng Việt ở

tỉnh Dak Lăk

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đây là phương pháp chúng tôi sử

dụng chủ yếu để viết cơ sở lí luận của đề tài thông qua đọc sách, các tài

liệu tham khảo, các khóa luận, luận văn, luận án để tìm hiểu những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Sử dụng phần mềm Ms Excel

để thống kê và phân loại số lượng các từ vay mượn giữa hai ngôn ngữ

- Phương pháp phân tích, miêu tả: xem xét từng trường hợp vay mượn

từ vựng và xác định rõ phương thức vay mượn của các trường hợp đó

5.2 Nguồn ngữ liệu

Ngữ liệu mà chúng tôi khảo sát trong luận văn này mà cụ thể là các từ ngữ mà hai ngôn ngữ Việt, Ê đê vay mượn của nhau được thu thập từ các từ điển sau:

học sinh dân tộc thuộc Sở Giáo dục & Đào tạo Dak Lăk phối hợp với các trí

Trang 13

thức người Ê đê biên soạn năm 2006

với Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 1993

Ngoài nhóm từ ngữ được thu thập từ hai cuốn từ điển trên, chúng tôi còn tiến hành điền dã, sưu tầm các từ ngữ được sử dụng trong thực tế giao tiếp của người Ê đê và người Việt ở tỉnh Dak Lăk

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tư liệu cho người Việt

học tiếng Ê đê và ngược lại

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào việc bảo tồn tiếng nói

và chữ viết của dân tộc Ê đê

- Trên cơ sở ngữ liệu khảo sát được từ sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Ê đê, luận văn có thể góp thêm cứ liệu làm minh chứng cho lí thuyết tiếp xúc ngôn ngữ

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của sự tiếp xúc ngôn ngữ Ê đê –

Việt ở tỉnh Dak Lăk

Trong chương này chúng tôi trình bày những cơ sở lí luận (hiện tượng

tiếp xúc ngôn ngữ và hiện tượng vay mượn từ vựng) và cơ sở thực tiễn (vài nét giới thiệu về người Ê đê, tiếng Ê đê trong sự so sánh với tiếng Việt) liên quan đến đề tài

Trang 14

Chương 2: Từ vựng tiếng Ê đê vay mượn tiếng Việt

Nội dung chính được trình bày trong chương 2 là các lớp từ ngữ tiếng Ê

đê vay mượn của tiếng Việt Thống kê rõ số lượng từ ngữ trong mỗi lớp; phân tích, mô tả để tìm ra các phương thức mà tiếng Ê đê sử dụng để vay mượn từ

ngữ của tiếng Việt

Chương 3: Từ vựng tiếng Việt vay mượn tiếng Ê đê

Thống kê các lớp từ ngữ tiếng Việt vay mượn của tiếng Ê đê Làm rõ các phương thức mà tiếng Việt sử dụng khi vay mượn từ ngữ tiếng Ê đê Ngoài ra, chương 3 còn đề cập đến vấn đề tên địa danh ở tỉnh Dak Lăk trong

sự tiếp xúc ngôn ngữ

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA

SỰ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ Ê ĐÊ – VIỆT Ở TỈNH DAK LĂK

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Ti ếp xúc ngôn ngữ

1.1.1.1 Thuật ngữ “tiếp xúc ngôn ngữ”

Giao tiếp là nhu cầu thiết yếu, không thể thiếu được của con người trong xã hội Để thực hiện hoạt động giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau nhưng ngôn ngữ là phương tiện quan trọng và hiệu

quả nhất “Nhu cầu giao lưu đã khiến cho những người nói một ngôn ngữ nào

đó tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với những người nói những ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn hóa Sự giao lưu có tính chất hữu nghị hay thù địch Nó có thể diễn ra trên bình diện thường của những quan hệ kinh doanh

thần, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo” (Ed Sapir, 1949, tr237) (Dẫn theo

Nguyễn Văn Khang) [14, tr.9]

Thuật ngữ “tiếp xúc ngôn ngữ” do André Martinet là người đưa ra đầu

tiên Cho tới khi tác phẩm “Languages in contact” của U Weinrich ra đời thì thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi Theo (O.S Akhmanova) thì “tiếp xúc

ngôn ngữ (language contact) được hiểu là sự tiếp hợp lẫn nhau giữa các ngôn ngữ do những điều kiện cận kề nhau về mặt địa lý, sự tương cận về mặt lịch

sử, xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn nói những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau”

Truyền thống ngôn ngữ học xác định, tiếp xúc ngôn ngữ về bản chất là

“học ngôn ngữ” Muốn biết nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế gới thì con

Trang 16

người phải học tập Và khi có hai hoặc hơn hai ngôn ngữ tồn tại trong não bộ của một con người thì sẽ tạo ra sự tiếp xúc Vì thế, tiếp xúc ngôn ngữ được coi là bắt đầu và xuất phát từ sự học tập Tiếp xúc ngôn ngữ đầu tiên được xảy

ra ở một bộ phận thành viên trong xã hội có tham gia học tập ngôn ngữ thứ hai Sau đó, kết quả tiếp xúc sẽ được các thành viên này mở rộng ra toàn xã hội Sự tiếp xúc dựa trên việc học tập của một bộ phận thành viên xã hội vẫn được coi là tiếp xúc ngôn ngữ mà không cần đòi hỏi tất cả mọi người tham gia học một ngôn ngữ khác

Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ với tư cách là một thuật ngữ ngôn ngữ học, người ta không muốn nói đến những chứng tích về văn hóa, xã hội, kinh

tế, chính trị còn lại trong ngôn ngữ L1 mà ngôn ngữ L2 đã đưa đến Tiếp xúc ngôn ngữ xét đến vấn đề căn bản nhất của ngôn ngữ là cấu trúc ngôn ngữ Nói đến tiếp xúc ngôn ngữ là nói đến những thay đổi hết sức sâu sắc diễn ra ngay trong cấu trúc của L1 do L2 đưa đến; nói đến cái cơ chế vận hành của ngôn ngữ ở đằng sau vô số hiện tượng cụ thể Tức là nói đến cái điều mà chỉ nhà ngôn ngữ học mới có thể nhận thấy được và lí giải được

Khi nghiên cứu vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy có hai cách tiếp cận khác nhau của các nhà ngôn ngữ học:

Thứ nhất, theo cách tiếp cận đơn ngữ luận, sự tiếp xúc ngôn ngữ thu

hẹp vào sự vay mượn từ vựng và cách diễn đạt, không có sự tác động đến cấu trúc ngôn ngữ Bởi vì, theo quan điểm này, cấu trúc của một ngôn ngữ, dù là cấu trúc ngữ âm, ngữ pháp hay ngữ nghĩa đều khép kín trong bản thân nó, do những quan hệ nội tại qui định Tiếp xúc được xem như là một hiện tượng ngoài ngôn ngữ và bị gạt bỏ Đây là hiện tượng tiếp xúc bên ngoài của ngôn ngữ, hay còn gọi là sự tiếp xúc ở mặt ứng dụng Đó là hiện tượng một người

sử dụng hai hoặc hơn hai ngôn ngữ làm nên hiện tượng song ngữ và đa ngữ trong sử dụng Cách nhìn nhận này thống trị trong giới ngôn ngữ học cho đến

Trang 17

những năm 60 của thế kỉ XX Cách tiếp cận đơn ngữ luận không những là có

lí mà còn cần thiết ở giai đoạn đầu khi cấu trúc luận đang lo xây dựng cho nó một hệ thống thao tác để miêu tả ngôn ngữ một cách khách quan

Thứ hai, theo cách tiếp cận song ngữ luận thì một ngôn ngữ là một thể

thống nhất biện chứng giữa cái cấu trúc nội tại đã có với những khả năng phát triển do một cấu trúc khác đưa lại Vì vậy, theo cách tiếp cận này, bên cạnh việc thừa nhận tính cấu trúc của ngôn ngữ và sự phát triển theo những qui luật nội tại của nó còn tính đến cả sự tiếp xúc ngôn ngữ Trước hết là sự tiếp xúc ở mặt cấu trúc hay còn gọi là sự tiếp xúc trong nội bộ ngôn ngữ Đây là mối quan hệ tương tác, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai hoặc hơn hai ngôn ngữ trong bộ óc con người Sự tiếp xúc này làm ảnh hưởng đến cấu trúc ngôn ngữ Hệ quả của sự tiếp xúc này là sự vay mượn, hay sự thẩm thấu các thành phần, các phương thức, thậm chí làm thay đổi các qui tắc, thay đổi hệ thống và cấu trúc, đến mức có thể gây nên sự pha trộn giữa hai ngôn ngữ làm nảy sinh một ngôn ngữ mới Lối tiếp cận này chỉ được thừa nhận khi sự tiếp xúc ngôn ngữ là có thực, tức là có hiện tượng một ngôn ngữ L1 thay đổi cấu trúc vì tiếp xúc với một ngôn ngữ L2 Đây là một hiện tượng chung của ngôn ngữ loài người chứ không phải là ngoại lệ, mặc dầu có sự khác nhau ở cách biểu hiện của mỗi loại hình ngôn ngữ

Cách tiếp cận song ngữ luận hiện nay được đa số các nhà ngôn ngữ học tin tưởng Bởi vì, cách tiếp cận song ngữ luận không phải là đối lập lại cách tiếp cận đơn ngữ luận mà chỉ là giúp cho cách nhìn này càng thêm chặt chẽ

Theo Phan Ngọc, “chấp nhận song ngữ luận không phải là dùng nó để thay

thế đơn ngữ luận mà trái lại, dùng nó để bổ sung cho quan điểm đơn ngữ luận càng thêm chặt chẽ” [20, tr.14] Một yếu tố do tiếp xúc nếu đã nhập vào cấu

trúc của nó là vận hành theo cái cấu trúc của ngôn ngữ, nó gây nên những biến đổi trong cấu trúc này là do những quan hệ bên trong của ngôn ngữ chứ

Trang 18

không phải do tiếp xúc Tiếp xúc chỉ đóng vai trò là một áp lực đẩy nhanh sự chuyển biến của cấu trúc chứ không phải đóng vai người điều khiển cấu trúc Bởi vì, muốn là một hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ trước hết phải nhất quán với chính nó

1.1.1.2 Hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ

Trong xã hội đa ngữ, các ngôn ngữ tiếp xúc lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau Hệ quả của sự ảnh hưởng này được biểu hiện chủ yếu ở giao thoa, vay mượn và pha trộn (lai tạp) ngôn ngữ

Giao thoa (interference) vốn là một thuật ngữ vật lí được dùng trong

ngôn ngữ Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, giao thoa được hiểu “là hiện tượng

chệch chuẩn của tiếng mẹ đẻ dưới tác động của ngôn ngữ thứ hai hoặc hiện tượng chệch chuẩn của ngôn ngữ thứ hai dưới tác động của tiếng mẹ đẻ ở những người song ngữ / đa ngữ” [14, tr.35]

Với quan niệm này, giao thoa dùng để chỉ hiện tượng tác động qua lại giữa cấu trúc và các yếu tố của cấu trúc của hai hoặc hơn hai ngôn ngữ trong môi trường song ngữ, đa ngữ Giao thoa chỉ xảy ra trong các ngôn ngữ có sự tiếp xúc trực tiếp với nhau

Vay mượn từ vựng cũng là một hiện tượng xảy ra khi có sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều ngôn ngữ Khi ngôn ngữ L1 bất kì tiếp xúc với ngôn ngữ L2 thì hai ngôn ngữ này có thể vay mượn từ vựng của nhau bằng nhiều phương thức khác nhau như dịch nghĩa, phiên âm, chuyển tự hay mượn nguyên dạng Vay mượn xảy ra có thể là do thiếu, do ngôn ngữ L1 không có vốn từ chỉ một khái niệm nào đó trong khi ngôn ngữ L2 lại có Nhưng có khi mặc dù không thiếu, đã có sẵn nhưng các ngôn ngữ vẫn vay mượn của nhau nhằm làm phong phú thêm vốn từ vựng của mình Nếu như giao thoa chỉ có thể xảy ra khi có sự tiếp xúc trực tiếp, lâu dài của cư dân khác ngôn ngữ thì vay mượn lại có thể xảy ra ngay cả khi không có sự tiếp xúc trực tiếp của hai

Trang 19

cư dân ngôn ngữ

Khi hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì phát sinh một hện tượng nữa gọi

lai tạp mà “tiếng bồi” là hình thức chủ yếu nhất của hiện tượng này “Tiếng

bồi là một thứ ngôn ngữ được dùng theo thói quen của những người có tiếng

mẹ đẻ khác nhau, nhằm làm dễ dàng trong giao tiếp giữa họ” Hay nói cách

khác, tiếng bồi ra đời như là biến dạng của sự tiếp xúc ngôn ngữ

Tiếng bồi ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp mang tính lâm thời trong một cộng đồng xã hội có các thành viên nói các ngôn ngữ khác nhau: khi tiếp xúc nhau, họ đã không thể giao tiếp được, vì thế họ phái tìm đến một ngôn ngữ giao tiếp chung bằng cách tạo ra một ngôn ngữ phụ trợ dựa trên cơ

sở các ngôn ngữ của họ Vì thế tiếng bồi được hình thành do sự lai tạp của ít nhất hai ngôn ngữ Do chỉ để thỏa mãn sự giao tiếp trong nội bộ nên phạm vi

sử dụng của tiếng bồi thường rất hẹp và mang tính lâm thời Tuy nhiên, tiếng bồi cũng có thể được lan tỏa, khuyếch tán ra toàn xã hội và được sử dụng rộng rãi Hệ quả mà tiếng bồi để lại chính là sự xâm nhập các yếu tố của nó vào ngôn ngữ cơ sở Cách nhìn nhận này giúp ta có thể giải thích các hiện tượng ngôn ngữ đã và đang xuất hiện do tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên

1.1.1.3 Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ

Mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau trên thế giới có những đặc trưng văn hóa, ngôn ngữ làm nên bản sắc riêng của họ Trên thế giới, theo thống kê chỉ

có trên 200 quốc gia nhưng có tới hơn 6 800 ngôn ngữ Các quốc gia, dân tộc không sống cô lập mà luôn có sự tiếp xúc, giao lưu với các dân tộc, quốc gia khác Hiện tượng một tộc người nói ngôn ngữ L1 phải tiếp xúc, giao lưu với một tộc người nói ngôn ngữ L2 là hết sức tự nhiên Do dó, ngôn ngữ này có

sự giao lưu tiếp xúc với ngôn ngữ khác là chuyện rất bình thường và mang tính phổ biến Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong đời sống xã hội giao tiếp của con người và vì thế nó được coi là hiện tượng phổ

Trang 20

biến đối với mọi ngôn ngữ trên thế giới

Tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra khi con người sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ Tức là nó xảy ra khi có hiện tượng song ngữ hoặc đa ngữ do những nguyên nhân kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, địa lý,… khác nhau

Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà sự tiếp xúc ngôn ngữ không chỉ trong ngày một, ngày hai mà nó kéo dài hàng thế kỉ Trong sự tiếp xúc đó, đương nhiên các ngôn ngữ tiếp xúc phải có sự tác động qua lại, chịu ảnh hưởng lẫn nhau Có những ảnh hưởng nhất thời, chỉ biểu hiện trong một thời gian nhất định với một nhóm người hạn chế, rồi sau đó không còn lại nữa Nhưng lại có những ảnh hưởng lâu dài, phổ biến, và được duy trì trong ngôn ngữ cho dù sự giao tiếp đã thay đổi Sự tiếp xúc giữa các tộc người có thể bị ngừng lại vì một lí do nào đó nhưng những ảnh hưởng của sự tiếp xúc ngôn ngữ này vẫn còn tồn tại hàng ngàn năm sau như một chứng tích cho dù sự giao tiếp thực tế không còn nữa

Trong tiếp xúc, ngôn ngữ tự nhiên có khả năng sử dụng các phương thức vay mượn để bổ sung cho những thiếu hụt trong hệ thống ngữ âm – chữ viết, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp của mình, khiến nó ngày càng thêm phong phú, đủ sức đảm nhiệm chức năng là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người trong những điều kiện kinh tế xã hội mới

Khi các nhóm người dùng ngôn ngữ khác nhau tồn tại cạnh nhau thì ngôn ngữ mà họ sử dụng có điều kiện tiếp xúc Trong tác động thâm nhập qua lại, ngôn ngữ của nhóm có ưu thế về xã hội – chính trị, kinh tế - văn hóa, khoa học – kĩ thuật,… tất có ảnh hưởng mạnh hơn, song không phải là không có chiều ngược lại

Ngay cả khi con người ít có sự tiếp xúc trực tiếp với nhau, ngôn ngữ của họ vẫn có thể vay mượn các yếu tố của nhau, có thể thông qua một ngôn ngữ trung gian, nhờ hoạt động của những người làm công tác phiên dịch, biên

Trang 21

dịch nhất là khi xuất hiện những sự kiện chính trị xã hội, kinh tế, khoa học,… quan trọng, trong điều kiện của xã hội hiện đại

Đỗ Hữu Châu đã khẳng định “Vay mượn từ vựng vừa là hiện tượng

không tránh khỏi vừa là một biện pháp tích cực làm phong phú thêm tiếng nói dân tộc” Một ngôn ngữ có khả năng trở thành “ngôn ngữ cho mượn” nhưng

cũng đã là “ngôn ngữ đi mượn” Bởi vì, ngôn ngữ A có thể mượn từ ngôn ngữ B một yếu tố ngôn ngữ mà chính ngôn ngữ B lại phải vay mượn trước đó

từ một ngôn ngữ C nào đó

Tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, tức là mang tính xã hội

Vì thế, khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ không thể không nhắc tới các nhân tố

xã hội - ngôn ngữ Khi hai dân tộc nói ngôn ngữ khác nhau mà tiếp xúc với nhau thì xu hướng chung là:

- Ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị thấp hơn

- Ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa thấp hơn (thường thông qua các kênh giáo dục, văn hóa, nghệ thuật,…)

- Ngôn ngữ của dân tộc có số lượng người nói đông hơn sẽ ảnh hưởng tới ngôn ngữ của dân tộc có số lượng người nói ít hơn

- Quan hệ về dân tộc cũng có tác dụng khống chế, điều tiết đối với quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ Mức độ quan hệ và tính mật thiết của các mối quan hệ này sẽ có tác dụng làm tăng hay giảm tốc độ tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ

- Quan hệ tôn giáo giữa các dân tộc cũng kéo theo sự tiếp xúc và ảnh hưởng giữa các ngôn ngữ

Có hai xu hướng chính trong tiếp xúc ngôn ngữ: tiếp xúc tự giác và tiếp xúc cưỡng bức Khi hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì:

Trang 22

- Những ngôn ngữ có sức thẩm thấu mạnh thường dễ dàng tiếp thu ảnh hưởng của các ngôn ngữ khác

- Những ngôn ngữ có quan hệ thân thuộc hoặc cùng, gần nhau về loại hình thì dễ chịu ảnh hưởng của nhau và vay mượn lẫn nhau

- Ngôn ngữ không có chữ viết rất dễ chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ có chữ viết

1.1.2 Vay mượn từ vựng

1.1.2.1 Thuật ngữ “từ vay mượn”

Xung quanh cách dùng thuật ngữ “từ vay mượn” (borrowed word), cho

đến nay vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến chưa thống nhất Tiếng Việt hiện nay có

thể sử dụng ba cách gọi “từ vay mượn”, “từ mượn”, “từ ngoại lai” Trong tiếng Anh cũng tồn tại nhiều cách gọi khác nhau cho hiện tượng này: “loan”,

“loan word”, “loan (translation)/calque”, “loan blends”, “borrowed word”,

“hybrid word”, “Alien word”, “foreign word”, “copying”

Có thuật ngữ “từ vay mượn” là do chuyển dùng từ các từ “vay” và

Vay: Nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương

Mượn: Lấy của người khác để dùng trong một thời gian rồi sẽ trả lại, với sự đồng ý của người đó

Vay mượn: Vay (nói khái quát)

Theo Từ điển ngôn ngữ học của nhóm J Dubois thì vay mượn là sự chuyển di hoàn toàn, từ việc sử dụng đến nhập nội – không thay đổi gì - vào ngôn ngữ đi vay A một yếu tố, đơn vị hay nét ngôn ngữ trước đó chỉ có ở ngôn ngữ cho vay B Cái biểu đạt và cái được biểu đạt của kí hiệu ngôn ngữ ở

B được giữ nguyên ở A lúc đầu, nhưng về sau có thể biến đổi (cả hình thức

Trang 23

âm thanh, hình thức chữ viết lẫn ngữ nghĩa); hiện tượng đồng hóa những yếu

tố ngôn ngữ được du nhập này tất yếu xảy ra và cũng có trường hợp yếu tố vay mượn bị vứt bỏ

Trong ngôn ngữ, hiện tượng vay mượn từ vựng có những điểm khác biệt rất xa so với khái niệm vay mượn thông thường Bên ngôn ngữ đi vay không trả và bên ngôn ngữ cho vay cũng không bị mất đi đơn vị từ vựng đó

Như vậy, xét về bản chất đây chỉ là sự sao chép từ vựng (copying word) Tuy nhiên thuật ngữ “từ vay mượn” vẫn được dùng và dùng quen đến mức nếu

[14, tr.28]

1.1.2.2 Các trường hợp vay mượn từ vựng

Khi nghiên cứu hiện tượng vay mượn từ vựng, người ta thấy có hai trường hợp vay mượn Có những ngôn ngữ đi vay mượn từ của ngôn ngữ khác do thiếu, không có những từ chỉ các khái niệm đó trong ngôn ngữ của mình Nhưng cũng có những trường hợp mặc dù không thiếu, mặc dù đã có sẵn nhưng vẫn đi vay

Trường hợp thứ nhất, vay mượn do không có, thiếu Trong một ngôn ngữ bất kỳ, về mặt lý thuyết, nếu thiếu các đơn vị từ vựng nào thì có thể vay mượn từ vựng đó của một ngôn ngữ khác đang có đơn vị từ vựng còn thiếu

đó Chẳng hạn, trong tiếng Việt, những năm gần đây đã xuất hiện một loạt các

từ vay mượn trong lĩnh vực công nghệ thông tin dưới dạng phỏng âm hoặc

nguyên dạng: mạng internet, chat, yahoo, telephone, mobiphone, facebook,…

Hay khi chiếc xe đạp xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam thì hầu hết từ chỉ các

bộ phận của chiếc xe đạp thời gian đầu đều được mượn từ tiếng Pháp dưới

dạng phỏng âm: xích, líp, ghi đông, lốp, săm, phốt tăng, gác ba ga, gác đờ

xen, gác đờ bu, phanh, van,…

Trường hợp thứ hai, ngôn ngữ đi vay đã có sẵn rồi nhưng vẫn vay

Trang 24

mượn Bên cạnh việc không có thì phải đi vay là điều tất nhiên lại xuất hiện một kiểu vay mượn nữa, đó là bản thân ngôn ngữ đi vay đã có những từ biểu thị khái niệm đó nhưng vẫn đi tiếp tục đi vay từ vựng có nghĩa tương tự của một ngôn ngữ khác Chính hình thức vay mượn theo phương thức này đã dẫn đến hiện tượng phân hóa về nghĩa của cả từ vay mượn lẫn từ vốn có đồng nghĩa với nó trong ngôn ngữ đi vay

Ví dụ: Tuy đã có từ “chết” nhưng tiếng Việt vẫn mượn thêm các từ “từ

trần”, “hi sinh” của tiếng Hán Lúc đầu, khi chưa vay mượn thì cố nhiên mọi

trường hợp đều sử dụng từ “chết” Nhưng hiện nay, từ “chết” chỉ còn dùng để chỉ sự không còn tồn tại của một người nào đó Còn từ “hi sinh” được dùng

để chỉ khái niệm “chết” trong một phạm vi hẹp hơn “chết vì nghĩa vụ, vì lí tưởng cao đẹp” “Từ trần” cũng được dùng để chỉ khái niệm “chết” nhưng

mang nét nghĩa được sử dụng trong các trường hợp lễ nghi trang trọng

Đã có nhưng vẫn vay mượn là hình thức thường thấy hơn ở các ngôn

ngữ của phương Đông Theo Be-li-côp và Ni-côn-xki thì “kiểu vay mượn này

chứa đựng sắc thái biểu cảm đáng kể và như vậy nó có khả năng làm rõ nghĩa cho cả các từ đã có sẵn” [14, tr.25]

1.1.2.3 Các bình diện vay mượn từ vựng

Một đơn vị từ vựng bao gồm các bình diện như ngữ âm (vỏ âm thanh - cái biểu đạt), ngữ nghĩa (nội dung – cái được biểu đạt), hình thái – cấu trúc và chữ viết

Một yếu tố từ vựng của ngôn ngữ L1 nhập vào ngôn ngữ L2 và được coi là từ vay mượn khi nó bị đồng hóa dưới áp lực hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ đi vay L2 dẫn đến có sự thay đổi về ngữ âm, ngữ pháp, giữ nguyên hoặc thay đổi ít nhiều về ngữ nghĩa Nói cách khác, ngôn ngữ đi vay đã bị bản ngữ hóa bởi ngôn ngữ cho vay

a Bình diện ngữ âm

Trang 25

Khi các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ này du nhập vào một ngôn ngữ khác ở bình diện ngữ âm (hình thức), có thể xảy ra các trường hợp sau:

Thứ nhất là mượn nguyên xi cách phát âm từ ngôn ngữ cho vay sang

ngôn ngữ đi vay Kiểu mượn này nhờ vào bình diện chữ viết, tức là khi sang ngôn ngữ đi vay thì từ mượn vẫn được viết nguyên dạng như ở ngôn ngữ cho vay

Ví dụ: tiếng Việt mượn nguyên xi cách viết một số từ của tiếng Anh

như computer, world cup, chat, stress, love,…

Tuy nhiên, cách vay mượn trên bình diện ngữ âm mang tính lý thuyết nhiều hơn thực tế Bởi do sự khác biệt về hệ thống ngữ âm nên những người

sử dụng ngôn ngữ đi vay rất khó phát âm được nguyên xi đơn vị từ vựng vay mượn của ngôn ngữ cho vay

Thứ hai là vay mượn theo hình thức phỏng âm Cách phát âm của từ

mượn trong ngôn ngữ cho vay chỉ là cơ sở cho việc tạo ra cách phát âm mới trong ngôn ngữ đi vay Nguyên tắc chung của cách phỏng âm là làm sao cho phát âm giống nhất với âm đọc trong ngôn ngữ cho vay

Ví dụ: Tiếng Việt đã mượn của tiếng Hán và tiếng Anh rất nhiều từ

theo hình thức này: mít tinh,…

Thứ ba, vay ngôn ngữ đi vay đã thay đổi hoàn toàn vỏ ngữ âm của từ

vay mượn trong ngôn ngữ cho vay Đây là hình thức vay mượn theo cách dịch, tức là ngôn ngữ đi vay chỉ mượn nội dung ngữ nghĩa của từ vay mượn trong ngôn ngữ cho vay

Ví dụ: Hiện nay, trong tiếng Việt, các từ chỉ bộ phận của chiếc xe đạp ít

được sử dụng theo hình thức phiên âm nữa mà chỉ vay mượn ngữ nghĩa: cái

chắn xích, cái chắn bùn,…

b Bình diện hình thái - cấu trúc

Các đơn vị từ vựng ở ngôn ngữ cho vay khi chuyển sang ngôn ngữ đi

Trang 26

vay, về hình thái - cấu trúc có thể có các trường hợp:

- Ngôn ngữ đi vay giữ nguyên hình thái – cấu trúc của từ vay mượn như

trong ngôn ngữ cho vay

Ví dụ: tiếng Việt vẫn giữ nguyên mô hình ghép đẳng lập và ghép chính

phụ của từ mượn Hán: hòa bình, hạnh phúc, nhân dân, dân chủ, tự do, minh

bạch, phụ sản,…

- Ngôn ngữ đi vay đã thay đổi hình thái – cấu trúc từ mượn của ngôn ngữ cho vay cho phù hợp với hình thái – cấu trúc của ngôn ngữ mình Đây là trường hợp khá phổ biến trong ngôn ngữ biến hình vì mỗi ngôn ngữ có những kiểu khác nhau về việc thể hiện giống, số, cách Trong tiếng Việt cũng có trường hợp này khi vay mượn từ của tiếng Hán

Ví dụ: Cách cấu tạo của một số từ mượn Hán trong tiếng Việt là ngược

với ngữ pháp tiếng Việt: yếu nhân, cao điểm, yếu điểm,…

c Bình diện ngữ nghĩa

Các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ cho vay có thể được mang vào ngôn ngữ đi vay với nội dung ngữ nghĩa ở mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu vay mượn của ngôn ngữ đó

- Ngôn ngữ đi vay mượn toàn bộ nội dung ngữ nghĩa của từ mượn trong ngôn ngữ cho vay Trường hợp này xảy ra ở các từ đơn nghĩa hay các thuật ngữ khoa học

- Ngôn ngữ đi vay chỉ mượn một hay một vài nghĩa của từ mượn đa nghĩa trong ngôn ngữ cho vay

- Ngôn ngữ đi vay mượn và có sự thay đổi nhất định về nội dung nghĩa vốn có của từ mượn trong ngôn ngữ cho vay

- Ngôn ngữ đi vay mượn và trên cơ sở nghĩa mượn để phát triển thêm nghĩa mới của từ mượn trong ngôn ngữ cho vay

d Bình diện chữ viết

Trang 27

Khi vay mượn từ vựng, về mặt chữ viết, ngôn ngữ đi vay cũng có thể giữ nguyên hay thay đổi cho phù hợp

Thứ nhất, ngôn ngữ đi vay mượn hoàn toàn cách viết của những từ vay

mượn trong ngôn ngữ cho vay Trường hợp này thường xảy ra ở việc mượn nguyên xi cách phát âm hoặc thay đổi ít nhiều cách phát âm so với ngôn ngữ cho vay đối với các ngôn ngữ có cùng loại chữ viết Các từ mượn tiếng Anh là thuật ngữ khoa học thường được giữ nguyên cách viết trong tiếng Việt

Ví dụ: internet, computer, window, makerting,…

Thứ hai, ngôn ngữ đi vay đã thay đổi một phần cách viết của từ vay

mượn trong ngôn ngữ cho vay cho phù hợp với cách đọc, cách viết của ngôn ngữ mình

Ví dụ: Do cách phát âm mà người Việt, khi vay mượn một số từ của

tiếng Anh đã thay đổi một phần cách viết của các từ này: valentine > va len

tin, va len thai, meeting > mit tinh, thankyou > thanh you, thanh kiu,…

Thứ ba, ngôn ngữ đi vay đã thay đổi hoàn toàn cách viết của từ vay

mượn trong ngôn ngữ cho vay Trường hợp này thường xảy ra khi chỉ vay mượn nội dung ngữ nghĩa mà không vay mượn ở bình diện hình thức (dịch) hay vay mượn từ vựng giữa các ngôn ngữ không cùng hệ chữ viết Chẳng hạn tiếng Việt phải thay đổi hoàn toàn cách viết khi vay mượn các từ của tiếng Hán hay tiếng Nga vì không cùng hệ chữ viết

1.1.2.4 Các phương thức vay mượn từ vựng

Một ngôn ngữ bất kỳ vay mượn từ vựng của ngôn ngữ khác cũng có thể thực hiện theo nhiều cách thức khác nhau Theo tổng kết của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới có bốn phương thức vay mượn từ vựng cơ bản sau:

- Dịch nghĩa (can ke ngữ nghĩa)

Dịch nghĩa là phương thức dịch từ ngữ Trong phương thức này, từ ngữ chỉ được vay mượn về nội dung ngữ nghĩa còn toàn bộ hình thức từ bao gồm

Trang 28

ngữ âm, chữ viết, hình thái – cấu trúc là của ngôn ngữ đi vay Truyền thống

ngôn ngữ học gọi cách vay mượn từ ngữ này là can ke ngữ nghĩa (calque) hay dịch (translation)

Ví dụ: Hiện nay, khi vay mượn các từ chỉ tên các bộ phận của chiếc xe đạp từ tiếng Pháp, tiếng Việt đã ít sử dụng hình thức phiên âm mà thay vào đó

là hình thức dịch nghĩa: cái chắn bùn, cái chắn xích,…

- Phiên âm

Phiên âm là phương thức vay mượn từ vựng bằng cách dựa trên (phỏng theo) âm đọc của từ ngữ vay để ghi lại từ ngữ đó bằng cách đọc, cách viết của ngôn ngữ đi vay [14, tr.52]

Cùng là vay mượn bằng hình thức phiên âm nhưng mỗi ngôn ngữ đều

cố gắng xây dựng cho mình một phương thức phiên âm mang tính nguyên tắc

Chẳng hạn, trong tiếng Việt, trước kia vay mượn theo hình thức này thuần túy dừng lại là phiên âm thì nay đã có sự kết hợp giữa phiên âm và

chuyển tự hay còn gọi là phiên chuyển

Ví dụ: Các từ vay mượn hình thức phiên âm: a-xit, cao-bồi, cà-phê, tông, xi-lanh,…

pit-Các từ vay mượn theo hình thức phiên chuyển: cùng mượn từ valentine của tiếng Anh nhưng có hai cách phiên chuyển: va-len-tin (nghiêng về chữ);

- Chuyển tự

Trên thế giới, về cơ bản có 10 hệ chữ viết khác nhau: Latin, Ciryllic, Hangeul (Fcatural), Other Alphabets, Arabic, Other Abjads, Devanagari, Other Abugidas, Syllbabaries, Logographies Chuyển tự là một phương thức vay mượn được thực hiện giữa hai ngôn ngữ không có cùng một hệ văn tự Chẳng hạn như sự vay mượn giữa tiếng Việt thuộc hệ chữ cái Latin với tiếng Nga thuộc hệ chữ Ciryllic

Trang 29

- Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ

Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ là phương thức vay mượn thể hiện

ở hình thức chữ viết Ngôn ngữ đi vay đã mượn nguyên cách viết chính tả đơn

vị từ vựng của ngôn ngữ gốc, còn về phát âm thì ngôn ngữ đi vay cố gắng đọc sát với cách đọc của nguyên ngữ

Chẳng hạn, hiện nay trong cách sử dụng của người Việt, đặc biệt là của giới trẻ đã xuất hiện rất nhiều các từ tiếng Anh mượn nguyên dạng Các từ tiếng Anh mượn nguyên dạng này được sử dụng phổ biến trong cả văn bản ở dạng viết lẫn văn bản ở dạng nói

Ví dụ: marketing, computer, festival, stress, heroin, make up, style,

valentine, teen, telephone, card,…

1.1.2.5 Vay mượn từ vựng là một hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa

Theo tác giả Nguyễn Văn Khang thì vay mượn từ vựng là một hiện tượng thuộc ngôn ngữ học xã hội [14, tr.16] Điều này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Trước hết, một hiện tượng mới xuất hiện ở một nơi nào đó trên thế giới

(được ngôn ngữ đó ghi lại) thì sớm hay muộn sẽ đi vào các ngôn ngữ khác trên thế giới dưới các hình thức khác nhau (dịch, phiên âm, mượn nguyên dạng,…)

Thứ hai, dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội, các đơn vị từ

vựng nước ngoài có thể nhập vào một ngôn ngữ bằng nhiều con đường khác nhau, ở các thời kì khác nhau và được xử lí khác nhau và do đó tồn tại dưới các dạng khác nhau

Thứ ba, nhiều khi vay mượn từ vựng lại diễn ra theo con đường “mượn

của mượn” Vì thế có thể coi từ vay mượn là các kí hiệu ngôn ngữ - xã hội Bởi vì chúng một mặt phản ánh những biến động trong xã hội của ngôn ngữ

đi vay, mặt khác những quan niệm khác nhau về cách vay mượn cũng như

Trang 30

cách sử dụng chúng cũng phản ánh tính phân tầng xã hội trong xã hội của ngôn ngữ đi vay

Thứ tư, vay mượn từ vựng là hiện tượng ngôn ngữ học xã hội còn thể

hiện ở con đường du nhập thông qua cá nhân song ngữ hoặc từng xã hội đa ngữ với các cá nhân đa ngữ Từ mượn thường bắt đầu từ cá thể hóa, sau đó mới dần chuyển sang xã hội hóa

Thứ năm, đặc điểm ngôn ngữ học xã hội còn thể hiện ở khả năng đồng

hóa của các từ ngữ vay mượn khi tham gia vào hoạt động với tư cách là các đơn vị từ vựng của từng phương ngữ

Vay mượn từ vựng không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội

mà còn là hiện tượng ngôn ngữ văn hóa Bởi vì, tiếp xúc ngôn ngữ giữa các quốc gia, dân tộc theo nghĩa rộng thực chất là tiếp xúc văn hóa Có thể dễ dàng nhận ra ngôn ngữ vừa là một bộ phận của văn hóa lại vừa là công cụ truyền tải văn hóa Cho nên có thể coi tiếp xúc ngôn ngữ là một phương diện của tiếp xúc văn hóa Không ai có thể phủ định được rằng, trong quá trình phát triển của mình, các ngôn ngữ đều chịu ảnh hưởng và chịu tác động bởi văn hóa ngoại lai Chẳng hạn, sự tiếp xúc văn hóa với Trung Quốc, Pháp và phương Tây đã làm xuất hiện trong tiếng Việt hàng loạt các từ Hán – Việt, từ mượn Pháp và từ mượn Anh Vì vậy, ta có thể khẳng định được rằng vay mượn từ vựng là một vấn đề ngôn ngữ - văn hóa

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát v ề người Ê đê ở tỉnh Dak Lăk

Theo nghiên cứu của các nhà dân tộc học thì từ thế kỉ I đến thế kỉ X trước Công nguyên, các tộc người trên thế giới đã có những cuộc di cư lịch sử tìm vùng đất cư trú Tiêu biểu là cuộc di cư của các tộc người thuộc miền nam

Ấn Độ đi về phía Nam theo dòng sông Mekong rồi đi ra hướng biển Đông và

cư trú tại các quần đảo Malayxia, Singapore,… Một số tộc người thuộc nhóm

Trang 31

ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo và Môn – Khơ me vào định cư tại đất liền Tại đây, hai nhóm người này đụng độ với nhau để tranh giành nơi cư trú Sau đó,

có một nhóm người đã chọn vùng rừng núi cao nguyên để định cư (nay là vùng Tây nguyên của Việt Nam) Trong nhóm người định cư ở cao nguyên bấy giờ có người Ê đê

Người Ê đê cùng với người Jrai, người Churu, người Rahglai thuộc nhánh phía Tây của ngữ hệ Austronesian thuộc chi Chàm (Chamic) Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ê đê ở Việt Nam có dân số 331.194 người, cư trú chủ yếu tại các tỉnh Dak Lăk, Gia Lai, Dak Nông, Khánh Hòa, Phú Yên Người Ê đê cư trú tập trung tại tỉnh: Dak Lăk, (298.534 người, chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh và 90,1% tổng số người Ê đê tại Việt Nam), Phú Yên (20.905 người), Dak Nông (5.271 người), Khánh Hòa (3.396 người) Người Ê đê cũng có sự phân chia thành nhiều nhóm chính khác nhau như Ê đê Kpă, Ê đê Adham, Ê đê Krung, Ê đê Drao, Ê đê Blô, Ê đê Bih,… căn cứ vào sự khác nhau về địa bàn cư trú, đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ Ngoài ra còn có các nhóm địa phương như: Ktul, Êpan, K’an, Dliê, Ruê, Dong, Kay, Dong Măt, Êning, Arul, Hwing, K’rông,… Trong đó, người Ê đê Kpă được coi là chính dòng, có số lượng đông nhất, sống chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên, mà tập trung nhất là ở vùng thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dak Lăk Các nhà ngôn ngữ học xếp dân tộc Ê đê vào nhóm sử dụng ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo

Ở tỉnh Dak Lăk, có 298.534 người Ê đê chiếm 17.2% dân số toàn tỉnh và 90,1% số người Ê đê tại Việt Nam Họ sống rải rác ở tất cả 13 huyện: }æ M’gar, Buôn Đôn, Krông Bông, Krông Ana, M’drăk, }æ Kuin, Lăk, Krông Năng, Ea Kar, Ea Hleo, Krông Păk, Krông Buk, Ea Sup; thị xã Buôn Hồ và thành phố Buôn Ma Thuột Tuy nhiên, nơi mà họ cư trú tập trung nhất là ở các buôn thuộc vùng trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, vùng bắc và đông

Trang 32

bắc của tỉnh Dak Lăk

Cộng đồng Ê đê là một xã hội mang đậm nét truyền thống mẫu hệ ở Việt Nam Trong gia đình Ê đê, người phụ nữ là chủ nhà, có quyền quyết định những công việc hệ trọng Con cái thường theo họ mẹ Ngày nay, tính chất mẫu hệ vẫn còn rất rõ nét, tuy vậy, vai trò của người đàn ông trong gia đình

và ngoài xã hội cũng đã được khẳng định

Những gia đình người Ê đê thường sống trong các ngôi nhà dài được làm bằng gỗ Khác với cách ăn mặc của người Kinh, đàn ông Ê đê thường đóng khố còn phụ nữ thì mặc váy được dệt từ thổ cẩm Trước đây, người Ê đê chủ yếu sống dựa vào hình thức săn bắn, hái lượm và nghề canh tác nông nghiệp lạc hậu Hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội, do tiếp xúc với người Kinh, họ đã biết làm nhiều nghề khác nhau: nông nghiệp, buôn bán, thủ công nghiệp,… để nâng cao chất lượng đời sống Con em của người Ê đê đã được đi học và tham gia vào rất nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong

xã hội

Dân tộc Ê đê có đời sống văn hóa tinh thần vô cùng phong phú với nhiều lễ hội đặc sắc: lễ cúng giàng, lễ cúng bến nước, hội đâm trâu,… Tín ngưỡng của người Ê đê là tín ngưỡng đa thần Họ cho rằng xung quanh mình

là “vạn vật hữu linh” nên hàng năm tổ chức nhiều lễ cúng để mong cho mùa màng bội thu, con người khoẻ mạnh, tránh được rủi ro, hoạn nạn Người Ê đê

có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng nhất là khan Đam San,

khan Đam Kteh M'lan, Không gian văn hóa cồng chiêng của Tây Nguyên nói chung, của người Ê đê nói riêng đã được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại

Cùng với nền văn hóa truyền thống phong phú, lâu đời, người Ê đê cũng có những đóng góp không nhỏ vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của

Trang 33

dân tộc Việt Nam Qua hai cuộc kháng chiến, nhiều người con của dân tộc Ê

đê đã hi sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc góp phần mang lại một Việt Nam độc lập, tự do, phồn vinh, giàu đẹp như ngày hôm nay

1.2.2 Khái quát v ề ngôn ngữ Việt, Ê đê

1.2.2.1 Đặc điểm của tiếng Việt

Tiếng Việt là thứ của cải vô cùng quí báu của dân tộc Việt Nam Xét về nguồn gốc, tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt – Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Môn – Khmer, họ Nam Á Về loại hình, tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập

âm tiết tính, tức là mỗi một âm tiết (tiếng) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết Đặc điểm này được thể hiện ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Việt

Về mặt ngữ âm

Trong tiếng Việt, đơn vị tương ứng với âm tiết được gọi là “tiếng” Âm tiết tiếng Việt cũng mang tính đơn lập Về mặt ngữ âm, mỗi tiếng là một âm tiết Trong một phát âm gồm nhiều âm tiết, các âm tiết tách biệt nhau rất rõ ràng Ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị Thường thường, trong tiếng Việt, một phát ngôn có bao nhiêu âm tiết thì có bấy nhiêu hình vị Hệ thống ngữ âm tiếng Việt hiện đại là một cơ chế gồm các hệ thống con: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu, trọng âm và ngữ điệu Hệ thống

âm vị tiếng Việt phong phú và có tính cân đối, tạo ra tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa Nhiều từ tượng hình, tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc Khi tạo câu, tạo lời, người Việt rất chú ý đến sự hài hoà về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn

Về mặt từ vựng

Hình thức âm thanh của từ tiếng Việt cố định, không biến đổi trong mọi hoàn cảnh cho dù ý nghĩa ngữ pháp của từ, quan hệ ngữ pháp và chức năng

Trang 34

ngữ pháp của từ có thay đổi

Đặc điểm ngữ pháp của từ được biểu hiện ở hai phương diện: khả năng kết hợp và khả năng đảm nhiệm các chức vụ cú pháp trong câu, khả năng chi phối các thành tố trong cụm từ Đặc điểm ngữ pháp của từ không bộc lộ ở chính bản thân từ mà bộc lộ chủ yếu ở ngoài từ, trong mối quan hệ với các từ khác

Mỗi tiếng, nói chung, là một yếu tố có nghĩa Tiếng là đơn vị cơ sở của

hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn

vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng… chủ yếu nhờ phương thức ghép và phương thức láy Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật kết hợp ngữ nghĩa Hiện nay, đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng Theo phương thức này, tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn

từ các ngôn ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ âm chi phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng

Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết, một tiếng) Sự linh hoạt trong sử dụng, việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ, vừa phong phú về số lượng, vừa đa dạng trong hoạt động Cùng một sự vật, hiện tượng, một hoạt động hay một đặc trưng, có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị Tiềm năng của vốn từ ngữ tiếng Việt được phát huy cao độ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 35

pháp của tiếng Việt còn được thể hiện bằng phương thức láy, phương thức trọng âm và phương thức ngữ điệu Dựa vào ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp, từ tiếng Việt được chia ra thành nhiều loại khác nhau: danh từ, tính

từ, động từ, số từ, quan hệ từ, phó từ,… Mỗi từ loại có khi lại được chia ra thành nhiều loại nhỏ Một từ không phải khi nào cũng là một từ loại duy nhất

mà từ loại của một từ bất kì có thể thay đổi do hiện tượng chuyển loại của từ

Câu tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có chức năng thông báo, là đơn vị cơ bản của hoạt động giao tiếp Khi bàn về cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đi theo hai khuynh hướng cơ bản Khuynh hướng ngữ pháp cấu trúc luận (khuynh hướng ngữ pháp cổ điển) cho rằng câu gồm có nòng cốt câu và các thành phần phụ, thành phần biệt lập Nòng cốt câu bao gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Các thành phần phụ bao gồm trạng ngữ, khởi ngữ, tình thái và phụ chú Thành phần biệt lập gồm các loại như giải thích ngữ, chuyển tiếp ngữ, hô ngữ, cảm thán ngữ Căn cứ vào các thành phần mà câu được chia thành câu đơn hay câu ghép Mỗi kiểu câu này lại được chia ra thành các tiểu loại: câu đơn gồm câu đơn bình thường

và câu đơn đặc biệt; câu ghép được chia thành 3 loại (dựa vào mối quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu và hình thức tổ chức của câu) là câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ và câu ghép chuỗi Theo mục đích phát ngôn, câu tiếng Việt lại được chia ra thành các kiểu: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán Khuynh hướng ngữ pháp chức năng lại phân tích câu với hai thành phần chính là đề và thuyết

1.2.2.2 Đặc điểm của tiếng Ê đê

Tiếng nói của người Ê đê thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Polynesia (ngữ hệ Nam Ðảo) Tiếng Ê đê là một ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với tiếng Jrai, Chăm, Malaysia, Indonêsia, Philippin

Đặc điểm ngữ âm

Trang 36

Tiếng Ê đê là một ngôn ngữ đơn lập, không có thanh điệu Quá trình

biến đổi hình thái học từ một ngôn ngữ đa tiết có phụ tố tới một ngôn ngữ đơn tiết không có phụ tố đã ảnh hưởng không nhỏ tới những đặc điểm ngữ âm của ngôn ngữ này Đó là sự hiện diện của các tổ hợp phụ âm đầu trong cấu trúc

âm tiết Khác với tiếng Việt và một số ngôn ngữ Austronesian, phần đầu âm tiết của tiếng Ê đê chưa bị đơn tiết hóa triệt để nên cấu trúc ngữ âm – âm vị

học của nó vô cùng phức tạp Theo tác giả Đoàn Văn Phúc thì xu hướng đơn

tiết hóa ở tiếng Ê đê chính là nguyên nhân của sự biến đổi hình thái học quan trọng này Nó đụng chạm không phải chỉ đến các đơn vị ngữ pháp mà còn đụng chạm đến cái đơn vị ngữ âm – âm tiết Các hiện tượng biến đổi hình thái của từ lại diễn ra ngay trong bản thân vỏ âm tiết, tạo cho âm tiết có cấu trúc ngữ âm không ổn định [24, tr.12]

Đặc điểm từ vựng

Từ vựng tiếng Ê đê là một bức tranh hết sức phức tạp, phản ánh những giai đoạn khác nhau trong quá trình hình thành và phát triển của tiếng Ê đê, phản ánh những thời điểm, những phương thức vay mượn từ khác nhau do những quan hệ cội nguồn và tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam Á Vốn từ vựng tiếng Ê đê bao gồm nhiều lớp từ, nhiều yếu tố từ vựng có nguồn gốc từ nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau ở khu vực Đông Nam

Á Ngoài những lớp từ thuộc cơ tầng Austronesian ra, ở tiếng Ê đê còn có rất nhiều từ hay những yếu tố từ vựng thuộc cơ tầng các ngôn ngữ Austroasiatic, Tày – Thái, Kadai,… Lớp từ có nguồn gốc Austronesian trong tiếng Ê đê chiếm một tỉ lệ lớn, cho ta thấy tiếng Ê đê rất gần gũi với các ngôn ngữ nhóm Malay – Indonesian thuộc nhánh phía Tây của các ngôn ngữ Austronesian Lớp từ này có mặt ở hầu hết các nhóm từ khác nhau làm thành vốn từ vựng cơ bản nhất và vững chắc nhất trong tiếng Ê đê Ngoài đa số các từ có nguồn gốc Austronesian, trong vốn từ vựng cơ bản của tiếng Ê đê còn có khá đông các từ

Trang 37

có nguồn gốc Austroasiatic trong vốn từ vựng cơ bản tiếng Ê đê Ngoài ra, trong vốn từ tiếng Ê đê còn có nhiều từ giống với các ngôn ngữ Laha, Thái

thuộc nhóm Kadai hay Tày – Thái Hiện nay, do mối quan hệ với người Việt, vốn từ vựng tiếng Việt hiện đại ngày càng chiếm tỉ lệ lớn trong tiếng Ê đê, nhất là trên bình diện khoa học, kĩ thuật, chính trị hiện đại

Trong tiếng Ê đê có cả các từ đơn tiết và các từ đa tiết Trong quá trình đơn tiết hóa, các từ đa tiết nguyên gốc bị rơi rụng các tiền âm tiết đi và trở thành từ đơn tiết Cùng với quá trình đơn tiết hóa, do sự phát triển không ngừng và ngày càng đa dạng của cuộc sống, nhiều sự vật, hiện tượng mới xuất hiện, thì tiếng Ê đê một mặt vay mượn những từ mới của các ngôn ngữ có tiếp xúc, mặt khác bằng những phương tiện từ vựng có sẵn, trên cơ sở những phương thức cấu tạo từ đã sản sinh ra những từ mới đa tiết Các phương thức ghép và phương thức láy đã tạo nên ngày càng nhiều từ đa tiết bên cạnh những từ đơn tiết trong tiếng Ê đê và hình thành xu hướng đa tiết hóa trái ngược với xu hướng đơn tiết hóa trước đây

Quá trình đơn tiết hóa và vay mượn từ vựng đã góp phần thúc đẩy những chuyển biến nghĩa của từ Đó chính là sự mở rộng, thu hẹp, thay đổi nghĩa của từ, cũng như những hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, đồng nghĩa hết sức phổ biến trong tiếng Ê đê

Đặc điểm ngữ pháp

Ngữ pháp tiếng Ê đê mang đặc điểm cơ cấu ngữ pháp của các ngôn ngữ đơn lập Đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất trong tiếng Ê đê là hình vị Về mặt cấu trúc, hình vị tiếng Ê đê thường có vỏ ngữ âm là âm tiết Tuy nhiên, do dấu vết của phụ tố nên tiếng Ê đê vẫn còn tồn tại một số hình vị nhỏ hơn âm tiết Về chức năng, các hình vị tiếng Ê đê là yếu tố gốc để tạo nên các từ mới

Tiếng Ê đê sử dụng hai phương thức ngữ pháp là trật tự từ và hư từ để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp Mô hình cấu trúc câu trong tiếng Ê đê được xác

Trang 38

định khá rõ ràng Trong câu tường thuật, chủ ngữ bao giờ cũng đứng trước vị ngữ Định ngữ thường đứng sau thành phần mà nó bổ nghĩa Trạng ngữ là thành phần tương đối tự do về vị trí, nó có thể đứng ở đầu, cuối hay ở giữa câu

Các phương ngữ Ê đê

Hiện nay, tiếng Ê đê được chia thành 9 vùng phương ngữ tương ứng với một số ngành, nhóm địa phương chính mà các nhà dân tộc học đã phân chia: Kpă, Krung, Adham, Ktul, Drao, Blô, Êpan, Mdhur, Bih

- Phương ngữ Kpă: là phương ngữ cơ sở, tiêu biểu và đại diện cho tiếng

Ê đê, được sử dụng rộng rãi ở nhiều vùng Ê đê khác nhau Đây là phương ngữ

có số người sử dụng đông nhất và trải dài trên một địa bàn rộng ở nhều huyện

và thành phố Buôn Ma Thuột Hiện nay, phương ngữ Kpă được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp giữa các ngành Ê đê, được sử dụng trong phát thanh, truyền hình, trong tuyên truyền, báo chí,…

- Phương ngữ Adham: Là phương ngữ có số người sử dụng khá đông, sau phương ngữ Kpă và được phân bố ở các huyện Krông Buk, Krông Năng,

Êa H’leo

- Phương ngữ Krung: là phương ngữ có số người sử dụng ít, được phân

bố chủ yếu ở huyện Êa H’leo, Krông Năng, khu vực tiếp giáp với vùng cư trú của người Jrai ở tỉnh Gia Lai

- Phương ngữ Ktul: là phương ngữ không có đông người sử dụng, bao gồm tiếng nói của các nhóm địa phương Kdung, Kyong, Dliê – Ruê, Ktul Phương ngữ này được phân bố ở huyện Krông Bông và phía nam huyện Krông Păk

- Phương ngữ Drao: Là phương ngữ có số người sử dụng ít và được phân bố trên địa bàn hẹp ở các xã Krông Jing, }æ Mta, Êa Trang của huyện M’đrăk

Trang 40

tỉnh Dak Lăk, Gia Lai, Phú Yên Ở Dak Lăk, người Ê đê sử dụng phương ngữ này cư trú chủ yếu ở vùng giáp ranh giữa hai huyện Êa Kar và M’drăk

- Phương ngữ Bih: là phương ngữ có tương đối nhiều người sử dụng Người Ê đê sử dụng phương ngữ này sống khá tập trung tại một số xã thuộc huyện Krông Ana, ở phía Nam thành phố Buôn ma Thuột

Theo tác giả Đoàn Văn Phúc, tiếng nói của cư dân các ngành, các nhóm

Ê đê về cơ bản là giống nhau và hết sức thống nhất Sự khác biệt về từ vựng giữa các phương ngữ là không đáng kể Những sự khác biệt đó thể hiện rõ rệt những tác động mạnh mẽ của sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa các phương ngữ Ê đê với các ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam Á và địa bàn cư trú của người Ê đê ở Dak Lăk nói riêng [24, tr 44]

Những tư liệu chúng tôi nghiên cứu trong luận văn này là dựa trên cơ

sở tiếng Ê đê Kpă Phương ngữ Ê đê Kpă được coi là phương ngữ tiêu biểu vì:

- Phương ngữ Kpă được tất cả các ngành, các thổ ngữ, phương ngữ coi

là tiếng nói tiêu biểu, đại diện cho tiếng Ê đê Nó được sử dụng khá rộng rãi trong giao tiếp giữa các ngành, các thổ ngữ khác nhau, gữa các dân tộc ít người trên địa bàn tỉnh Dak Lăk Đây cũng là ngôn ngữ chính thức của đài phát thanh và truyền hình Dak Lăk trong chương trình phát thanh bằng tiếng

Ê đê

- Tiếng Kpă là tiếng nói đại diện và khá tiêu biểu cho tiếng Ê đê ở tất cả các ngành, các thổ ngữ Và ngay nghĩa “thẳng, thật” của từ Kpă cũng nói lên tính phổ thông của phương ngữ này,

- Phương ngữ Kpă đã được những người làm chữ viết Ê đê trước đây chọn làm phương ngữ cơ sở để xây dựng chữ viết Nhờ có bộ chữ viết này mà tiếng Ê đê Kpă có được tính thống nhất khá cao trong địa bàn cư trú của người Ê

đê ở Dak Lăk

Chữ viết tiếng Ê đê

Về mặt chữ viết, so với các dân tộc thiểu số khác tại Việt Nam, Ê đê là dân tộc có chữ viết khá sớm Ngay từ những năm cuối thế kỉ XIX, các cha cố

Ngày đăng: 02/12/2015, 10:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Bản đồ các phương ngữ Ê đê - tiếp xúc ngôn ngữ ê đê   việt ở tỉnh dak lăk trên bình diện từ vựng   ngữ nghĩa
Hình 1.1 Bản đồ các phương ngữ Ê đê (Trang 39)
Bảng 1.1. Bảng chữ cái tiếng Ê đê - tiếp xúc ngôn ngữ ê đê   việt ở tỉnh dak lăk trên bình diện từ vựng   ngữ nghĩa
Bảng 1.1. Bảng chữ cái tiếng Ê đê (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w