ĐTRNN là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Đầu tư ra nước ngoàiĐTRNN đã và đang phát huy lợi thế của mình trong việc mở rộng thị trường sản xuất, tận dụng các nguồn tài nguyên,.. đồng thời cũng giúp các nước hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1.
2 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
ĐTRNN là vấn đề mang tính chất toàn cầuầu và là xu thế của các quốc giatrong khu vực và trên thế giới Đầu tư ra nước ngoàiĐTRNN đã và đang phát huylợi thế của mình trong việc mở rộng thị trường sản xuất, tận dụng các nguồn tàinguyên, đồng thời cũng giúp các nước hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.Trong những năm gần đây, không chỉ có các nước phát triển mà đã có sự xuất hiệndòng ĐTRNN của các nước đang phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc,Singapore Malaysia, Thái Lan…
Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế kém phát triển và trong quá trình hội nhập nềnkinh tế thế giới, Việt Nam cũng đã có những chính sách không chỉ thu hút ĐTNN mà
còn còn có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN Trong 20năm qua, ĐTRNN của Việt Nam cũng đã có nhiều thay đổi, và có những đóng góp đáng
kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên ĐTRNN của Việt Nam vẫncòn có những yếu kém và chưa thực sự phát huy hết năng lực của nó Vậy thực trạng củatình hình ĐTRNN của Việt Nam trong những năm vừa qua là gì? Nguyên nhân nào dẫnđến tình hình đó? Và có những giải pháp gì để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của họatđộng ĐTRNN của Việt Nam trong thời gian sắp tới
Với mục tiêu gắn liền lí luận với thực tiễn về họat hoạt động ĐTRNN củacác nước và ở Việt Nam, qua quá trình thực tập tại Phòng Đầu tư ra nước ngoàithuộc Cục Đđầu tư nước ngoài – Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư, đồng thời có sự góp ý tậntình của Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ GS.TS Từ Quang Phương em đã chọn đề tài “Đầu
tư ra nứơc nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1989 - 2008trong thời gian qua Thực trạng và giải pháp” với mong muốn có một bức tranh tổng quan về tình hình
ĐTRNN của Việt Nam trong thời gian qua, và đề xuất một số giải pháp nhằm tăngcường hiệu quả của họat hoạt động ĐTRNN Việt Nam trong thời gian sắp tới
3 Mục đích nghiên cứu.
Chuyên đề hệ thống hóa về những vấn đề cơ bản về lý luận về sự cần thiếtcũng như những điều kiện về họat hoạt động ĐTRNN của các nước đang phát triển
Trang 2Trên cơ sở đó khóa luận đã đi sâu vào phân tích thực trạng họat động ĐTRNN củacác doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua Từ cơ sở đó đánh giá về tìnhhình ĐTRNN của các doanh nghiệp như những kết quả đạt được, những thành tựu
và hạn chế, chuyên đề đã đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy họat hoạt độngĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian sắp tới
3 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu các nội dung hoạt động ĐTRNN của các nước đang pháttriển nói chung và họat hoạt động ĐTRNN của Việt Nam nói riêng Từ đó rút ranhững mặt hạn chế, nêu lên những giải pháp nhằm tăng hiệu quả của hoạt độngĐTRNN của Việt Nam trong thời gian sắp tới
Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động ĐTRNN của ViệtNam từ năm 1989 đến nayđến 2008
4 Đối tượng nghiên cứu.
Là các vấn đề thực tiễn có liên quan đến họat động ĐTRNN trên các khíacạnh như tình hình đầu tư, hình thức đầu tư, những kết quả đạt được của các doanhnghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua
5 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu : phương pháp thống kê,phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp trên cơ sở các số liệu điều trathống kê, các báo cáo, các nghiên cứu
Trang 3Bộ Kế hoạch vàĐđầu tư đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề
này
y
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4CC HƯƠNG I THỰC TRẠNG HỌAT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUAGIAI ĐOẠN 1989 -2008
.
I TỔNG QUAN VỀ ĐTRNN VÀ HOẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.Tổng quan về ĐTRNN và họat động ĐTRNN ở các nước đang phát triển.
1 Tổng quan về ĐTRNN.
1.1 Khái niệm.
Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năngquản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trênphạm vi toàn cầu Có nhiều hình thức đầu tư nước ngoài, tuy nhiên nếu xét theo tínhchất quản lý thì hoạt động ĐTNN gồm hai loại: Đầu tư trực tiếp và Đầu tư gián tiếp.Trong phạm vi chuyên đề sẽ nghiên cứu chủ yếu là hình thức đầu tư trực tiếp ranước ngoài của các doanh nghiệp
Theo Luật Đầu tư Việt Nam 2005: “ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoàiĐTRNN
là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ranước ngoài để tiến hành hoạt dộng đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận Nhàđầu tư trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư, do đó họ trực tiếpchịu trách nhiệm trước sự thành công hay thất bại trong quyết định đầu tư của mình.Trong quá trình hợp tác đầu tư, quyền lợi của các bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệvốn góp, tỷ lệ mỗi bên đầu tư vào dự án
1.2 Các nguyên nhân cơ bản của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong lịch sử thế giới, ĐTNN đã từng xuất hiện ngay từ thời tiền tư bản Cáccông ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những công ty đi đầu tronglĩnh vực này dưới hình thức vốn ĐTNN vào các nước châu Á để khai thác đồn điền,khai thác khoáng sản…và từ đó cũng hình thành các tập đòan chính, các công tyxuyên quốc gia Có thể nói việc hình thành họat động ĐTRNN là do những nguyên
Trang 5nghiệp phát triển có thu nhập cao thuộc các tổ chức như tổ chức hợp tác và phát triểnkinh tế ( OECD) thường dư thừa vốn và việc sử dụng nguồn vốn trong nước đã bãohòa, trong khi đó các nước đang phát triển thường thiếu vốn Hơn nữa các nước dưthừa vốn thường có xu hướng sử dụng vốn kém hiệu quả hơn so với các nước thiếuvốn Và chính sự chênh lệch này tạo nên sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa vốnsang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận, và mở rộng thị trường
Thứ hai do quá trình cạnh tranh quốc tế phát triển Quá trình này đã kíchthích việc hình thành các TNCs có quy mô lớn về tài chính, công nghệ và có thịtrường mở rộng ở các nước Vì thế các công ty, các quốc gia đưa vốn đầu tư ra nướcngoàiĐTRNN hình thành các công ty đa quốc giacác TNCs có những lợi thế đặc thù
để thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Các công ty này tận dụng những lợi thế củamình như vốn, công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá côngnhân rẻ ở các nước sở tại để khẳng định vị trí của mình trên thế giới
Thứ ba là do xu thế bảo hộ ngày càng phát triển với những biện pháp kiểm soát tinh vi như các hàng rào thuế quan, hàng rào bảo hộ hàng hóa trong nước Và
ĐTRNN là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp nhiều nhà sản xuất tìm cáchđầu tư sản xuất sang thị trường cần chiếm lĩnh để tránh xung đột thương mại songphương Một ví dụ điển hình là trường hợp của Nhật Bản hay bị Mỹ và các nướcTây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâmhụt thương mại trong mối quan hệ song phương Và để đối phó với việc này, NhậtBản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Nhật Bản sản xuất và bán
ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từNhật Bản sang và cũng thực hiện đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuấtkhẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu
Thứ tư là xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế xã hội Đây chính là, kết quảcủa quá trình phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôikéo tất cả nước và các vùng lãnh thổ từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới.Trong xu hướng đó hệ thống luật pháp của các nước và điều ước quốc tế ngày cànghoàn thiện hơn, theo hướng đảm bảo cho các họat động ĐTRNN của các nứơc,doanh nghiệp thuận lợi hơn
1.3 Các hình thức ĐTTTRNN.
Hình thức ĐTTTNN được thực hiện chủ yếu theo hai kênh chủ yếu : Đầu tưmới và Liên minh và sát nhập
Trang 6- Đầu tư mới (GI): là hình thức các chủ đầu tư thực hiện ĐT ở nướcứơc
ngoài thông qua việc xây dựng một doanh nghiệp mới Đây là kênh đầu tư trực tiếptruyền thống và thường gặp ở các nứơc đang phát triển
- Liên minh sát nhập (M&A) : là hình thức mà chủ đầu tư tiến hành thôngqua mua lại, liên minh và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài Đây làkênh chủ yếu được thực hiện ở những nước phát triển, các nước công nghiệp mới và
là hình thức đầu tư phổ biến đối với luồng vốn đầu tư quốc tế trong thế kỷ 20
Đây là hai hình thức phổ biến nhất của họat động ĐTRNN của các doanhnghiệp ở các nước Phụ thuộc vào điều kiện tình hình của các doanh nghiệp của cácnước như : về tiềm lực tài chính, khả năng mở rộng thị trường ….các doanh nghiệp
ở các nước có thể lựa chọn hình thức đầu tư thích hợp Với các nước đang pháttriển, họat động ĐTTTRNN được thực hiện chủ yếu theo kênh GI và với nhữnghình thức được áp dụng phổ biến như :
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh : hình thức màhai hay nhiều bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở ký kết giữa hai hay nhiều bên đểtiến hành họat động đầu tư ở nước sở tại, trong đó quy định trách nhiệm phân chiakinh doanh cho mỗi bên
Đây là hình thức mà không thành lập pháp nhân mới, họat động của các bênchỉ dựa trên văn bản ký kết giữa các bên, và không ràng buộc về pháp lý khi hếtthời gian hiệu lực
- Hình thức doanh nghiệp liên doanh được thành lập do một hay nhiều chủĐTNN góp chung vốn với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh.Trong hình thức này, ở nứơc nhận đầu tư sẽ hình thành một doanh nghiệp có tưcách pháp nhân , các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia sẻ lợi nhuận,chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên
- DN 100% nước ngoài : là doanh nghiệp do chủ đầu tư nứơc ngoài đầu tưtoàn bộ để thành lập Chủ đầu tư có quyền điều hành tòan bộ doanh nghiệp theoquy định của pháp luật, hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nướcngoài, do bên nước ngoài tự thành lập và chịu trách về kết quả kinh doanh
Ngòai ra còn có hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao
Trang 7Những dạng hợp đồng ( BOT, BT, BTO) thường được áp dụng đối với cáccông trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật .
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, chính phủ nước nhận đầu tưcòn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình như: khu chế xuất,khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế
Tóm lại, ĐTTTNN được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và mỗihình thức đều có mặt mạnh, mặt hạn chế của nó nên cần phải đa dạng hoá các hìnhthức đầu tư nhằm đem lại hiệu quả cao đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước
1.4 Các nhân tố thúc đẩy họat động ĐTRNN.
Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắtgiữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như phụ giữa các nước tiếp nhận đầu tư.Dòng vốn thực hiện họat động ĐTRNN của các quốc gia phụ thuộc vào các yếu tốsau đây :
Thứ nhất là chính sách của các quốc gia Đối với chính sách của nước
xuất khẩu vốn Khi xem xét chính sách của nứơc xuất khẩu vốn tác động tới họatđộng ĐTTTNN chúng ta phải đi tìm hiểu các chính sách của quốc gia có tạo điềukiện thuận lợi cho dòng vốn di chuyển ra khỏi quốc gia hay không Chính sáchthúc đẩy xuất khẩu dòng vốn phụ thuộc vào nền kinh tế của các quốc gia đó Mộtquốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP trên đầu người lớn, chính phủcủa các nước này thường có chính sách thúc đẩy vốn sang các nước khác vàngược lại Bên cạnh đó sự cạnh tranh gay gắt của thị trường nội địa cũng là mộttrong những nguyên nhân thúc đẩy ĐTRNN dẫn tới chính phủ ban hành chínhsách khuyến khích xuất khẩu vốn với khu vực và quốc gia nhập khẩu vốn Ngoài
ra chính sách của chính phủ cũng hướng luồng vốn xuất khẩu vào các khu vựckhác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ chính trị, ngoại giao của của quốc gia xuấtkhẩu vốn với khu vực và quốc gia nhập khẩu vốn
Các chính sách của nước nhập khẩu vốn cũng đóng một vai trò quan trọngthúc đẩy họat động ĐTRNN, và có Hơn nữa còn có các chính sách của nước nhậpkhẩu vốn Các chính sách của quốc gia nhập khẩu vốn tác động rất lớn tới quyết địnhđầu tư của chủ ĐTNN trong đó bao gồm : chính sách khuyến khích ĐTTTNN, chínhsách về quản lý ngoại tệ, các quy định về hạch toán kế toán, chính sách thương mại…
Ngoài ra còn có các chính sách như chính sách thuế, chính sách ưu đãi và các chínhsách vĩ mô khác cũng ảnh hưởng tới sự di chuyển vốn ĐTTTNN vào một số quốcgia Tùy thuộc vào mức độ hợp lý của các chính sách mà có thể tạo ra những thuận
Trang 8lợi hay là rào cản lớn đối với họat động ĐTNN Vì vậy các quốc gia cần kết hợp mộtcách hài hòa giữa các họat động quản lý nhằm tạo sự thống nhất trong việc đề rachính sách và thực hiện các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thuhút ĐTTTNN.
Thứ hai là sự thích nghi của sản phẩm và công nghệ của chủ đầu tư đối với thị trường nội địa Mỗi quốc gia đều có những nét riêng biệt đặc thù về văn hóa,
trình độ phát triển kinh tế và khoa học công nghệ… cũng như sự khác bịêt về lốisống, phong tục tập quán, sẽ dẫn tới nhu cầu khác nhau về sản phẩm của các quốcgia Vì thế các chủ đầu tư khi thực hiện ĐTRNN cần phải nghiên cứu kỹ về thịtrường định đầu tư, cũng như khả năng thâm nhập vào thị trường nước ngoài Chủđầu tư cần phải nghiên cứu về sự thích nghi sản phẩm và công nghệ khi đem đi đầu
tư với thị trường sở tại để đảm bảo hiệu quả vững chắc nhất cho họat động đầu tưcủa mình
Thứ ba là khả năng của công ty khi đầu tư Một công ty tham gia kinh doanh
quốc tế đòi hỏi phân tích kỹ lưỡng môi trường bên ngoài và môi trường bên trongdoanh nghiệp để từ đó quyết định chiến lược kinh doanh quốc tế, quyết địnhphương thức thâm nhập thị trường một cách có hiệu quả Xem xét khả năng củacông ty khi đầu tư là xem xét những yếu tố về nguồn lực như vốn, công nghệ, kinhnghiệm quản lý của công ty cũng như các công tác về quản lý, marketing, quản trịnhân lực, kế tóan tài chính… Việc đánh giá khả năng của công ty có quyết địnhquan trọng trong việc khẳng định công ty có đi đầu tư hay không và đầu tư vào thịtrường nào để đạt lợi nhuận tối ưu với khả năng vốn có của công ty
Thứ tư là sức hấp dẫn của thị trường nước tiếp nhận đầu tư Một trong
những mục đích của các nhà đầu tư khi tiến hành ĐTTTRNN clà khai thác nhữnglợi thế so sánh của thị trường nước tiếp nhận đầu tư Thị trường ở mỗi nước có khácnhau có sức hấp dẫn khác nhau đối với các chủ đầu tư khi tiến hành ĐTRNNnướcngoài như các chính sách về luật pháp của nước sở tại và, các rào cản thâm nhập thịtrường, cũng như sự phát triển của các nước sở tại, hạ tầng cơ sở kỹ thuật….Nhữngyếu tố này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của thịtrường đầu tư, và có ảnh hưởng trong việc khuyến khích hay tạo rào cản cho họat
Trang 9đầu tư khi tiến hành thực hiện ĐTRNN cần tìm hiểu kỹ và kết hợp của các yếu tốnhư thị trường, luật pháp, khả năng của sản phẩm…để họat động đầu tư được thựchiện một cách hiệu quả nhất.
2 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các nước đang phát triển.
2.1 Tính tất yếu của họat động ĐTRNN của các nước đang phát triển.
Đầu tư trực tiếp nước ngoàiĐTTTRNN là một xu hướng tất yếu khi mà cácnền kinh tế hội nhập vào nền kinh tế thế giới Trong những năm trở lại đây, hoạtđộng ĐTTTRNN không chỉ có sự tham gia của các nước phát triển mà còn có sựtham gia của các nước đang phát triển Tính tất yếu của hoạt động ĐTTTRNN củacác nước đang phát triển xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới là không đồng đều, khả năng khai thác các lợi thế vốn có của các quốc gia là không giống nhau Các quốc gia phát triển đã và đang khai thác các thế mạnh của mình; còn
các quốc gia đang phát triển sau một thời gian dài học hỏi kinh nghiệm của cácquốc gia phát triển trong lĩnh vực đầu tư đã tiến hành đầu tư sang các nước cótrình độ kinh tế phát triển kém hơn và thậm chí là đầu tư trở lại các nước pháttriển Các quốc gia đang phát triển đã tận dụng các lợi thế của mình để đầu tưvào những lĩnh vực mà ở nước tiếp nhận đầu tư còn bỏ ngỏ hay lợi nhuận biêncao hơn so với khi thực hiện ở chính quốc, hay tận dụng những lợi thế của tìnhhình kinh tế thế giới Hay Đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàncầu như hiện nay , trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu như hiện nay,
giá trị của đồng đôla sụp giảm, cũng đã và đang tạo một cơ hội thuận lợi cho cáccông ty ở các nước đang phát triển đẩy mạnh họat động ĐTRNN nhằm mua lạicác công ty nước ngoài có công nghệ tiên tiến và thương hiệu nổi tiếng trong khi
đó chí phí đầu tư tại một số nước cũng giảm đi rất nhiều
Thứ hai các quốc gia đang phát triển đang từng bước lớn mạnh về mọi mặt.,
Ccác quốc gia đang phát triển trước đây phần lớn trình độ kinh tế còn thấp, trongnhững giai đoạn gần đây nhờ sự nỗ lực của chính bản thân quốc gia và nguồn vốnnước ngoài mà các quốc gia này đã dần vươn lên về mọi mặt để có thể thực hiệnđầu tư, phát triển các lợi thế của mình ở trong và ngoài nước Vốn là yêu cầu tốithiểu nhà đầu tư cần phải có khi tiến hành hoạt động đầu tư Trước đây, các nướcđang phát triển có tỷ lệ tiết kiệm thấp, nghèo nàn, lạc hậu do đó không thể tiến hànhĐTRNN thì nay các nước này đã có sự phát triển vượt bậc và trở thành các quốc gia
có tiềm lực kinh tế rất mạnh như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc…Hơn nữa với
Trang 10xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế xã hội, và tư tưởng hướng ngoại - chiến lượckinh doanh không chỉ còn nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà vươn ra bênngoài Trung Quốc là một trong các quốc gia đang phát triển và trong những nămgần đây Trung Quốc cũng đã có những xu hướng hướng ngoại thúc đẩy họat độngĐTRNN và đã vươn lên trở thành một quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng mạnh.Tính đến cuối năm 2008, Trung Quốc có khoảng 12.000 doanh nghiệp đầu tư trựctiếp vào hơn 170 nước và khu vực trên thế giới và kim ngạch ĐTTTRNN của TrungQuốc đã đạt gần 56 tỷ USD.
Thứ ba, bối cảnh nền kinh tế hiện nay là các quốc gia vừa hợp tác vừa cạnh tranh Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoàiĐTTTRNN thể hiện rất rõ thực trạngnày Khi các quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, mỗi quốc gia đảm nhiệmmột vai trò mà mình có thế mạnh và để tận dụng được tối đa các lợi thế của cácnước lại thì họ liên kết: đó là hợp tác Và trong quá trình phát triển các quốc giacũng cạnh tranh với nhau để sao cho nước mình thu được nhiều lợi ích nhất
Vì vậy, ĐTRNN là xu thế tất yếu khách quan và cần thiết để các quốc giađang phát triển tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, đồng thời khai thác có hiệu quảhơn các lợi thế của mình trên con đường phát triển đất nước
2.2 Điều kiện để các doanh nghiệp các nước đang phát triển thực hiện ĐTTTRNN.
2.2.1 Đối với các doanh nghiệp.
Để có thể ĐTTTRNN các doanh nghiệp các nước đang phát triển cần phảiđáp ứng một số điều kiện sau:
Các doanh nghiệp cần có tiềm lực tài chính đủ mạnh để tiến hành hoạtđộng ĐTTRNN và vốn, công nghệ là một trong các yếu tố không thể thiếu Trongbất kỳ môi trường kinh doanh nào doanh nghiệp cũng cần phải có tiềm lực tài chính
đủ mạnh và đặc biệt là trong môi trường kinh doanh, đầu tư ở nước ngoài Bởi trongmôi trường nước ngoài doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn vànếu vượt qua những thách thức này thì doanh nghiệp sẽ thu được lợi ích kinh tế lớnhơn so với đầu tư ở trong nước
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư phải có thế mạnh của doanh
Trang 11phẩm sản xuất thấp hơn mặt bằng chung và chất lượng bằng hoặc cao hơn thì doanhnghiệp đó sẽ đạt được lợi ích cao hơn các doanh nghiệp còn lại.
Các doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường Khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở giá trị của sản phẩm, khả năng thâmnhập vào thị trường của sản phẩm trong hiện tại cũng như tương lai đối với ngườitiêu dùng Nếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh sẽ cho phép doanhnghiệp không chỉ khẳng định vị trí của doanh nghiệp ở trong nước mà còn tạo tiền
đề cho việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp
Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý, nguồn nhân lực cũng là một yêucầu Con người có thể sáng tạo ra sản phẩm, tổ chức quản lý kinh doanh Do vậy,nếu doanh nghiệp có nguồn nhân lực đảm bảo đủ năng lực thì việc sử dụng cácnguồn lực cũng như các thế mạnh của doanh nghiệp sẽ hiệu quả và được khai tháctối đa
2.2.2 Về phíaVề phía Nnhà nước
Trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nếu chỉ mình doanh nghiệp
cố gắng thôi thì chưa đủ, hoạt động này cũng cần sự phối hợp, tạo điều kiện từ phíanhà nước Nhà nước có vai trò như một người hỗ trợ tạo một môi trường về pháp lýthuận lợi thúc đẩy họat động ĐTRNN của các doanh nghiệp
Sự thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước Sự thay đổi các chínhsách vĩ mô của nhà nước (chính sách tài chính tiền tệ, chính sách xuất khẩu, chínhsách quản lý ngoại hối) có ảnh hưởng mạnh tới việc đầu tư trực tiếp ra nướcngoàiĐTTTRNN của doanh nghiệp Bởi một khi các chính sách này có sự thay đổithì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, khả năng xuất nhập khẩu của doanhnghiệp
Hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của chính phủ Hoạt động thúcđẩy đầu tư ra nước ngoài của nước đầu tư chủ yếu bao gồm: các hiệp định đầu tưsong phương và đa phương, hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, trợ giúp về tài chínhtrong các hoạt động xúc tiến đầu tư, bảo hiểm đầu tư, cung cấp các thông tin về môitrường đầu tư Các hoạt động này tạo ra cơ sở pháp lý, tiền đề cần thiết cho nhàđầu tư ở nước ngoài
2.2.4 Xu hướng gia tăng dòng đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển
Lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày một gia tăngtrong những năm gần đây Theo số liệu báo cáo của Untacd năm 2006 cho biết,
Trang 12lượng vốn ĐTRNN của các nước đang phát triển trong tổng lượng vốn FDI toàn cầu
đã tăng từ 8% lên 15% trong 25 năm qua Riêng trong năm 2005, các nước đangphát triển đã đầu tư khoảng 117 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2004, chiếm 17% sovới tổng lượng vốn FDI toàn cầu Xu hướng này ngày càng phát triển do việc tăngcường thương mại và đầu tư trong nội bộ khu vực ngày một tăng lên Tuy nhiên,các nhà đầu tư đến từ các nước đang phát triển chủ yếu đầu tư vào các nước cùngkhu vực địa lý và mang tính chất chuyển giao một số ngành, cơ sở kinh tế sang cácnền kinh tế kém phát triển hơn Số lượng vốn FDI đầu tư ngược trở lại các nướcphát triển chiếm tỷ lệ rất nhỏ Một số nước đang phát triển giờ đây đã trở thànhnhững nhà đầu tư quốc tế có uy tín như Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông, ĐàiLoan, Hàn Quốc, Chính phủ các nước này cũng đã đưa ra nhiều chính sách khuyếnkhích hoạt động ĐTRNN như giảm thuế lợi tức gửi về nước, khấu trừ chi phí đầu tư
dự án ( Malayxia) hay miễn thuế thu nhập 3 năm đối với các nhà đầu tư địa phươngkhi đầu tư ra nước ngoài ( Hàn Quốc), Có thể nói đây là một trong số những độngthái khuyến khích đầu tư ra nước ngoài từ phía chính phủ dành cho các nước doanhnghiệp đầu tư ra nước ngoài
Hoạt động ĐTRNN nói chung hay ĐTTTRNN nói riêng của các nước đang pháttriển đang có chiều hướng gia tăng Nó thể hiện các nước đang phát triển giờ đây đã
và đang nỗ lực phát triển muốn được góp tiếng nói của mình vào lãnh vực đầu tưquốc tế mà xưa nay vẫn chỉ dành cho các nước phát triển
II Thực trạng họat động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua giai đoạn từ năm 1988 – 2009.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1989 – 2008.
1. Sự cần thiết của phải đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
Đầu tư nước ngoài mà trước hết là ĐTRNN đã trở thành nhu cầu phát triểntất yếu khi mà các nền kinh tế hội nhập vào nền kinh tế thế giới Trong những nămgần đây, hoạt động ĐTRNN đã bắt đầu phát triển ở các nước đang phát triển và Vàtrong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã bắt đầu tham gia vào hoạt động đónày, chính bởi vì sự cần thiết của nó trong quá trình phát triển
Thứ nhất ĐTRNN giúp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường hàng
Trang 13thị trường thế giới và việc tự do hóa thương mại, đặc biệt là trong việc thực hiệncam kết tự do thương mại với ASEAN và những cam kết tự do hóa thương mại vớiWTO Doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ nhận thấy rằng việc thị trường thế giới cũngkhông quá khó để xâm nhập, và tìm kiếm nguồn lợi nhuận Hơn nữa trong quá trìnhthực hiện ĐTRNN cũng giúp các doanh nghiệp học hỏi được nhiều kinh nghiệm vàbài học hơn trong lĩnh vực ĐTRNN, từ đó cũng tạo động lực cho doanh nghiệp pháttriển mình.
Thứ hai ĐTRNN mở rộng thị trường xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp Việt Nam tránh được hàng rào thương mại của các nước.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các hàng rào như thuế quan,hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu và các hình thức phi thuế quan khác đểkiểm soát việc nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Thông thường chính phủ các nướcthường thực hiện việc kiểm soát với mục đích nhằm bảo hộ cho ngành công nghiệp
và hàng hóa trong nước của họ Trong các trường hợp như vậy, hoạt động ĐTRNN
là một trong các biện pháp hữu hiệu Thay vì xuất khẩu hàng hóa, các doanh nghiệpthực hiện xuất khẩu tư bản để giảm chi phí vận chuyển và các hàng rào thuế quan
Vì thế doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm nhiều cơ hội hơn trong việc xâm nhậpvào thị trường nước ngoài, làm quen được với thị trường nước sở tại, và từ đó sẽthúc đẩy hoạt động xuất khẩu
Thứ ba hoạt động ĐTRNN còn giúp các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với khoa học công nghệ cao, đồng thời học hỏi những ứng dụng trong CNTT, từ đó nâng cao năng lực của mình.
KHCN & CNTT ngày nay đang biến đổi và từng bước phát triển và nhữngứng dụng của nó có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế cũng nhưtrong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống Là một nước đang phát triển, khi thựchiện họat động ĐTRNN vào các nước tiên tiến có KHCN & CNTT phát triển caonhư Mỹ, Anh… Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận với những thực tế ứng dụng củacác thành tựu này Hơn nữa, doanh nghiệp cũng có thể triển khai những tiến bộKHCN mà trong nước không có cơ hội áp dụng sang các nước mới, thị trường mới
để tạo ra một thị trường có sức cạnh tranh cao so với các sản phẩm khác
Thứ tư họat động ĐTRNN giúp các doanh nghiệp san sẻ rủi ro trong đầu tư
và trong kinh doanh.
Rủi ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi, và các doanh nghiệp lànhững người luôn hiểu rõ được điều đó Vì vậy các nhà đầu tư thường thực hiện đa
Trang 14dạng hóa họat động đầu tư để phòng tránh, san sẻ rủi ro Và mộtMột trong nhữnggiải pháp hiệu quả nhất đó là thực hiện họat động ĐTRNN, đa dạng hóa danh mụcđầu tư nhằm tìm kiếm những lợi ích, và những cơ hội không có trong nước để giảmthiểu rủi ro trong đầu tư Doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận, củng cố họat độngkinh doanh bền vững, ổn định và sự phát triển của các doanh nghiệp đồng thời cũnghạn chế được rủi ro về lạm phát, rủi ro về tỷ giá… Hơn nữa họat động này sẽ gópphần làm tăng ngoại tệ của đất nước, giúp cho cán cân thanh toán được ổn định, vàphát triển theo chiều hướng tốt.
Thứ năm họat động ĐTRNN giúp các doanh nghiệp học hỏi được kinh nghiệm quản lý của các nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện đổi mới cơ cấu sản xuất doanh nghiệp, tạo điều kiện áp dụng các công nghệ sản xuất mới, tăng cường tính năng động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
1 Hệ thống pháp luật của Việt Nam về họat động ĐTRNN trong thời gian qua giai đoạn từ năm 1999 - 2009
1.1 Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm ban hành Luật đầu tư chung 2005.
Hoạt động ĐTRNN của Việt Nam bắt đầu diễn ra vào những năm đầu thập niên 90,
và đi tiên phong trong ĐTRNN là một số doanh nghiệp tư nhân của một số địaphương tại vùng biên giới với một số nước bạn ( Lào, Campuchia) đã thực hiện dự
án đầu tư tại nước bạn theo thoả thuận hợp tác song phương giữa chính quyền hainước
Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn và quản lý
hoạt động ĐTRNN Như vậy, sau hơn 10 năm thực thi Luật đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam pháp luật về ĐTRNN tại Việt Nam đã bắt đầu hình thành, mở đường chocác hoạt động ĐTRNN sau này Mặc dù hành lang pháp lý cho ĐTRNN của doanhnghiệp Việt Nam mới được ban hành đầu năm 1999, thế nhưng trước thời điểm nàymột số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành hoạt động ĐTRNN Theo Nghị định
22/1999/NĐ-CP thì cũng đã nêu rõ: " Đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp VN
là việc doanh nghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở nước ngoài" Theo đó các doanh nghiệp Việt Nam được thành lập
Trang 15nhưng có vốn đầu tư ra nước ngoài có giá trị từ 1 triệu đô la Mỹ trở lên phải tuân thủ quy định xin phép đầu tư ra nước ngoài" Như vậy một dự án khi muốn
ĐTRNN, hai đối tượng nêu trên phải gửi bộ hồ sơ đầu tư ra nước ngoài dến Bộ Kếhoạch và Đầu tư để xin được xét duyệt cấp giấy phép đầu tư; còn đối với nhữngdoanh nghiệp không thuộc hai đối tượng nêu trên thì chỉ cần đăng ký tại Bộ Kếhoạch và Đầu tư Thời hạn xét duyệt để chấp nhận đăng ký đầu tư hoặc cấp phépđầu tư ra nước ngoài là 30 ngày
Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành cácvăn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp ViệtNam Các văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp hoạt động đầu tư ra nước ngoài củacác doanh nghiệp Việt Nam đó là:
- Thông tư số 01/2001/TT- NHNN ngày 19/01/2001 của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam về hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài củadoanh nghiệp Việt Nam
- Quyết định số 116/2001/QĐ- TTg ngày 02/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về một số ưu đãi khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động dầukhí
- Thông tư số 05/2001/TT- BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về việc hướng dẫn hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam
- Thông tư số 97/2002/TT- BTC ngày 24/10/2002 hướng dẫn thực hiện nghĩa
vụ thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN
- Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 6, mục III Thông tư số 01/2001/TT-NHNNngày 19/01/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về hướng dẫn quản lý ngoạihối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam
Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Namcòn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp lý sau:
- Quyết định số 158 QĐ- CTN ngày 26/01/1994 của Chủ tịch nước về việc phêchuẩn Công ước thành lập tổ chức Đảm bảo đầu tư đa biên ( MIGA)
- Công ước thành lập tổ chức Đảm bảo đầu tư đa biên ( MIGA)
- Nghị định số 63/1998- NĐ/CP ngày 17/08/1998 của Chính phủ về quản lýngoại hối
- Thông tư số 01/1999 TT/ NH- NN ngày 16/04/1999 của Ngân hàng nhà nướcViệt Nam hướng dẫn thi hành Nghị định số 63/1998- NĐ/CP ngày 17/08/1998 củaChính phủ về quản lý ngoại hối
Trang 16- Nghị định số 05/2001/NĐ- CP ngày 17/01/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định số 63/1998 NĐ-CP ngày 17/08/1998 của Chính phủ
về quản lý ngoại hối
- Quyết định số 61/2001/QĐ-TTg ngày 25/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức
- Thông tư số 05/2001 TT/ NH- NN ngày 31/05/2001 của Ngân hàng nhà nướcViệt Nam hướng dẫn thi hành Quyết định số 61/2001/ QĐ- TTg ngày 25/04/2001của Thủ tướng chính phủ về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ cảu người cư trú là
tổ chức
- Quyết định số 10/76/2001/QĐ/NH-NN ngày 27/08/2001 của Ngân hàng nhànước Việt Nam về việc bổ sung, sửa đổi một số điểm tại Thông tư số05/2001/TT/NH-NN ngày 31/05/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướngdẫn thi hành Quyết định số 61/2001/QĐ- TTg ngày 25/04/2001 của Thủ tướngchính phủ về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức
- Nghị định số 05/2001/NĐ-CP ngày 03/03/2000 của Chính phủ về xuất cảnh,nhập cảnh của công dân Việt Nam
Ngoài ra còn một số văn bản khác liên quan đến hoạt động xuất, nhập cảnh củacông dân Việt Nam do Bộ công an và Bộ ngoại giao ban hành
Sự ra đời của các văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNN đã tạo
ra một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp ViệtNam, đồng thời tạo môi trường ổn định, thông thoáng nhằm khuyến khích cácdoanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài
Một số văn bản pháp lý đưa ra điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNN một mặtnhằm kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này như
tại Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/08/2001 của Bộ KHĐT hướng dẫn hoạt
động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam có quy định: đối với những
dự án đầu tư ra nước ngoài mà chủ đầu tư không thuộc thành phần kinh tế nhà nước
và có vốn đầu tư dưới 1 triệu đô la Mỹ được quy định tại khoản 2 điều 6 Nghị định22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của chính phủ, doanh nghiệp Việt Nam phải lập
hồ sơ dự án theo quy trình đăng ký cấp giấy phép đầu tư ra nước ngoài gửi Bộ Kế
Trang 1717/08/1998 của chính phủ về quản lý ngoại hối tại chương IV các giao dịch vốn có
nêu rõ: " Nhà đầu tư Việt Nam được chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư ra nước ngoài Vốn đầu tư ra nước ngoài bằng tiền phải chuyển qua tài khoản mở tại ngân hàng" Theo thông tư số 01/2001/
TT-NHNN ngày 19/01/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn về quản
lý ngoại hối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam quy định về việc mở và
sử dụng tài khoản Để thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp phải mởmột tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối Mọigiao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào Việt Nam liên quan đến hoạt độngĐTRNN của doanh nghiệp phải thực hiện thông qua tài khoản này; đồng thờitrường hợp doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư hoặc kéo dài thời hạn đầu
tư ở nước ngoài thì sau khi có văn bản chấp thuận của BKHĐT doanh nghiệp phảiđăng ký với chi nhánh ngân hàng nhà nước tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ
sở chính Hàng năm trong thời hạn 6 tháng kể từ khi kết thúc năm tài chính củanước tiếp nhận đầu tư, doanh nghiệp phải gửi cho chi nhánh ngân hàng nhà nướctỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính ( trong đó có bảng tổng kết tài sản
và kết quả kinh doanh lãi- lỗ của doanh nghiệp) có chứng nhận của cơ quan kiểmtoán hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư
Bên cạnh đó, Các Bộ trực thuộc Chính phủ cũng đưa các văn bản pháp lý về
một số ưu đãi nhằm khuyến khích các doanh nghiệp ĐTRNN như Thông tư số 97/2002/TT-BTC của bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với
doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN Kể từ 08/11/2002 các loại máy móc, thiết bị, bộphận rời, vật tư, nguyên liệu xuất khẩu ra nước ngoài của dự án đầu tư tại nướcngoài khi thanh lý hoặc kết thúc dự án và được nhập khẩu trở lại vào Việt Nam,được miễn thuế nhập khẩu và thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng Cònđối với thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ngoài, khi tính thuế thu nhập doanhnghiệp phải nộp tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN được trừ số thuế đãnộp ở nước ngoài hoặc đã được đối tác nước tiếp nhận đầu tư trả thay ( kể cả đối vớitiền lãi cổ phần) nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuế thu nhập tính theoquy định của Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam
Riêng đối với lĩnh vực dầu khí, theo Quyết định số116/2001/QĐ-TTg ngày2/8/2001 của Thủ tướng chính phủ về một số ưu đãi, khuyến khích đầu tư ra nướcngoài trong lĩnh vực hoạt động dầu khí Chính phủ áp dụng một số ưu đãi, khuyếnkhích đối với hình thức đầu tư 100% vốn hoặc góp vốn theo tỷ lệ tham gia trong
Trang 18lĩnh vực hoạt động dầu khí bao gồm: tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thácdầu khí; kể cả các hoạt động phục vụ trực tiếp cho các hoạt động dầu khí và khi xácđịnh số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam đối với các dự án dầu khíĐTRNN, doanh nghiệp được trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp ở nướcngoài hoặc đã được nước tiếp nhận đầu tư trả thay ( có chứng từ hợp lệ).
Các văn bản này đã tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp ranước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời nó cũng khơi thông mộtdòng chảy mới về vốn đầu tư Song, do được ban hành ngay sau cuộc khủng hoảngtài chính khu vực trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đanggiảm sút, pháp luật về ĐTRNN nhìn chung mang tính thận trọng, tính kiểm soát hơn
là tính khuyến khích các doanh nghiệp ĐTRNN, cụ thể là:
- Trong giai đoạn này, Nghị định số 22/1999/NĐ-CP là văn bản có giá trị pháp
lý cao nhất quy định về hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam; chủ trươngkhưyến khích ĐTRNN chưa được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và phápluật Chính vì vậy, nội dung chính của Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bảnhướng dẫn thi hành là quy định về các trình tự thủ tục để phục vụ cho công tác quản
lý nhà nước
- Thủ tục hành chính trong việc cấp phép ĐTRNN tương đối phức tạp, kéodài nhất là đối với trường hợp sử dụng vốn nhà nước Mặc dù Nghị định số22/1999/NĐ-CP quy định quy trình đăng ký và thẩm định cấp giấy phép đầu tưnhưng phạm vi áp dụng quy trình thẩm định rất rộng; nhiều trường hợp phải trìnhthủ tướng chính phủ trước khi cấp giấy phép đầu tư
- Ngoại trừ một số quy định liên quan đến nguyên tắc tránh đánh thuế trùng vàchính sách ưu đãi ĐTRNN trong lĩnh vực hoạt động dầu khí, pháp luật về ĐTRNNkhông quy định chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Namkhi ĐTRNN
- Trong giai đoạn này, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc chuyểnvốn ra nước ngoài để thực hiện đầu tư cũng như việc chuyển lợi nhuận về nước Đốivới những doanh nghiệp muốn đầu tư ra nước ngoài nhưng hạn chế về nguồn vốnthì lại chưa có một cơ chế nào quy định về việc cho vay ngoại tệ để đầu tư ra nước
Trang 19định riêng của chính phủ Tuy nhiên trên thực tế, Chính phủ cũng không ban hànhbất cứ một văn bản pháp lý nào quy định về việc ĐTRNN của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài.
Khung pháp luật của Việt Nam trong giai đoạn này mới bước đầu tạo ra một khungpháp lý bao quát được những vấn đề xung quanh hoạt động ĐTRNN, và trong giaiđoạn mà số lượng các dự án ĐTRNN còn ít, quy mô chưa lớn Tuy nhiên, trước xuthế hội nhập với nền kinh tế thế giới, từ năm 2001, Đại hội Đảng IX đã xác định chủtrương “ Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam ĐTRNN”.Theo đó Nhà nước cso trách nhiệm trong việc “tạo ra khuôn khổ pháp lý nhằmkhuyến khích hoạt động ĐTRNN để phát huy lợi thế so sánh của đất nước” Tuynhiên trong quá trình này các văn bản bộc lộ nhiều yếu kém, gây khó khăn cho cácdoanh nghiệp trong quá trình thực hiện ĐTRNN, và cũng gây khó khăn cho các cơquan quản lý nhà nước trong việc quản lý các vấn đề về đầu tư
2.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Trước những khó khăn của các doanh nghiệp đang gặp phải cũng như công tác quản
lý của nhà nước không được đảm bảo Năm 2005 Luật đầu tư được Quốc hội thôngqua và có hiệu lực từ ngày 01/07/2005, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại ViệtNam Luật Đầu tư đã dành hẳn một chương quy định về hoạt động đầu tư ra nướcngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Đến năm 2006, nhằm kế thừa và phát huy cóchọn lọc những mặt tích cực và khắc phục hạn chế của hệ thống luật hiện hành vềĐTRNN và nâng cao quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp, Nghị định78/2006/NĐ-CP quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam được Chính phủban hành ngày 09/8/2006 ( thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999)với mục tiêu chính là:
- Phù hợp với thực tiễn hoạt động và yêu cầu của hoạt động ĐTRNN; chophép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động ĐTRNNbình đẳng như các doanh nghiệp Việt Nam
- Quy định rõ ràng, cụ thể và minh bạch hơn các vấn đề liên quan đến thủ tụcđầu tư theo hướng giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước và tăng quyền chủ độngcho doanh nghiệp;
- Tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước và xác định rõ trách nhiệm củacác cơ quan nhà nước trong việc hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệpĐTRNN
Trang 20Tinh thần chung của Nghị định 78/2006/NĐ-CP là quy định các nhà đầu tư vàdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả doanh nghiệp đầu tư nướcngoài, đều có quyền ĐTRNN, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinhdoanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu
tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ; giảm thiểucác quy định mang tính "xin - cho" hoặc "phê duyệt" bất hợp lý, trái với nguyên tắc
tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, nhưng có tính đến lộ trìnhcam kết trong các thoả thuận song phương và đa phương trong hội nhập kinh tếquốc tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc
Như vậy, khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN đã dần được hoàn thiện hơnthông qua ban hành Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP Thủtục ĐTRNN được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKHngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, ngày 21/12/2006, Ngânhàng nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành thông tư số 10/2006/TT- NHNNhướng dẫn các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để ĐTTTRNN nhằm hỗtrợ cho các doanh nghiệp Việt Nam Các tổ chức tín dụng được phép hoạt độngngoại hối được cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với điều kiện: dự án đầu tưkhông thuộc danh mục các lĩnh vực bị cấm, hạn chế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
do Thủ tướng Chính phủ quy định; có vốn chủ sở hữu ( bao gồm: vốn của chủ sởhữu, các quỹ và lợi nhuận chưa phân phối) tham gia vào tổng mức vốn đầu tư của
dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của tổ chức tín dụng Các tổ chứctín dụng cũng được xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn để đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm theo quy định củapháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp bảo đảm tiềnvay bằng tài sản của khách hàng vay hoặc bên thứ ba ở nước ngoài, tài sản của phápnhân được hình thành từ dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì các bên thực hiệntheo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư ( nếu việc áp dụng hoặc hậu quảcủa việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam); tổchức tín dụng nhận bảo đảm bằng tài sản ở nước ngoài phải có khả năng quản lý tài
Trang 21của Việt Nam Theo đó, Thủ tướng chấp thuận đầu tư với các dự án dầu khí sử dụngvốn Nhà nước từ 1000 tỷ đồng trở lên hoặc vốn của các thành phần kinh tế khác từ
3000 tỷ đồng trở lên Các dự án dầu khí không thuộc quy định trên do đại diện chủ
sở hữu hoặc nhà đầu tư quyết định
Ngày 16/2/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 17/09/NĐ-CP về sửađổi một số điều trong NĐ 121/2007/NĐ-CP ngày 25/7/2007 của Chính phủ quyđịnh ĐTRNN trong họat động dầu khí Nghị định mới bổ sung định nghĩa ngườiđiều hành phải là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư thành lập để triển khai dự ándầu khí ở nước ngoài
Thẩm quyền chấp thuận và quyết định đầu tư của TTCP được quyết định với các dự
án dầu khí hình thành thông qua ký kết họat động dầu khí có sử dụng vốn Nhà nứơc
từ 3000 tỷ đồng trở lên hoặc vốn của các thành phần kinh tế từ 5000 tỷ đồng trở lên.Ngoài ra các dự án dầu khí được hình thành thông qua chuyển nhượng quyền lợitham gia vào họat động dầu khí chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ công ty có
sử dụng vốn Nhà nước từ 5000 tỷ đồng trở lên hoặc vốn của các thành phần kinh tế
từ 8000 tỷ đồng trở lên cũng phải đựơc Thủ tướng chấp thuận đầu tư và ra quyếtđịnh đầu tư Để chuẩn bị đầu tư hoặc thực hiện họat động hình thành dự án dầu khíhoặc triển khai dự án, nhà đầu tư phải thành lập hoặc tham gia thành lập doanhnghiệp mới tại Việt Nam, nước tiếp nhận đầu tư hoặc ở nước thứ ba theo quy địnhcủa pháp luật có liên quan Trường hợp nhà đầu tư ủy quyền cho người điều hànhtriển khai dự án dầu khí người điều hành được ghi tên trong giấy chứng nhận đầu tưcấp cho nhà đầu tư Người điều hành được phép sử dụng giấy chứng nhận đầu tư vàgiấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh để phục vụ các họat động liên quan đến triểnkhai dự án Nếu dự án đăng ký không có khả năng thu hồi chi phí, nhà đầu tư đượcphép phân bổ phần chi phí đó vào chi phí sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư trongthời gian không quá 5 năm kể từ ngày kết thúc dự án
Với việc ban hành, sửa đổi bổ sung một số văn bản đã tạo ra khung pháp luật thôngthoáng hơn, từng bước một chú trọng sát với thực tế, mở rộng hành lang pháp lýhơn và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam vững bước vươn ra thị trườngkhu vực và thế giới
2 Tổng quan về tình hình đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam giai đoạn từ năm 1989 – 20089.
2.1 Quy mô vốn và dự án của dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam thời
kỳ 1989 – 20089.
Trang 22Năm 1989, Việt Nam bắt đầu tiến hành hoạt động ĐTRNN với duy nhất một
dự án là dự án giữa đối tác Việt Nam và một đối tác của Nhật Bản với số vốn đăng
ký là 56338 USD Dự án đó đã mở đường cho hoạt động ĐTRNN của Việt Nam.Ngày 14/4/1999 nước ta đã chính thức ban hành Nghị định quy định về họat độngĐTRNN cho các nhà đầu tư Việt Nam Trong những năm đầu tiên, ĐTRNN củaViệt Nam chỉ mang tính chất thăm dò, vì thế mà số dự án cấp mới cũng như số vốnđăng ký không nhiều Tuy nhiên trong những năm sau, họat động ĐTRNN của ViệtNam đã tăng lên cả về số dự án và vốn đăng ký
Bảng 1.1: Vốn ĐTRNN của Việt Nam trong giai đoạn từ 1989 -– 2008.
Giai đoạn
Đơn vị Dự án (DA)1989 - 1998
1999-2005 VĐK (triệu USD)
VTH (triệu USD)2006-2008
TổnQuy
mô vốn BQ (triệu USD)g Tổng
bình quân 1
DA
TriệuUSD/ 1DA
Trang 23-Trong thời kỳ này họat động ĐTRNN mới chỉ trong giai đoạn thăm dò, cácnhà đầu tư của Việt Nam bắt đầu xuất hiện xu hướng tìm kiếm cơ hội ĐTRNN Số
dự án cũng như vốn đăng ký trong kỳ này ở giai đoạn này rất thấp, chỉ có khoảng 18
dự án với tổng số vốn 13,6 triệu USD Mỗi năm chỉ có một vài dự án thực hiện,thậm chí trong các năm từ 1995 – 1997 không có dự án nào được thực hiện Thờiđiểm này Việt Nam cũng chưa có một văn bản pháp luật nào được ban hành đểhướng dẫn cụ thể về họat động ĐTRNN , và vì thế các doanh nghiệp đầu tư vẫn cònkhá khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường, các dự án đầu tư chủ yếu mang tínhchất thăm dòchủ yếu mang tính chất thăm dò Hơn nữa trong giai đoạn này nhữngvấn đề khó khănNhững vấn đề khó khăn về mặt chính trị ảnh hưởng rất lớn đếnhọat động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam như vấn đề với Campuchia, vấn
đề Mỹ thực hiện lệnh cấm vận đối với Việt Nam , cHơn nữa cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ năm 1997 cũng ảnh hưởng và là một trong những trở ngại cho doanhnghiệp Việt Nam thời kỳ này thực hiện họat động ĐTRNN cũng đang ảnh hưởngtới các nước và cũng gây những khó khăn cho họat động ĐTRNN của Việt Nam
Giai đoạn thứ hai từ năm 1999 – 2005
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự ra đời của Nghị định 22/1999/ ND –
CP ban hành ngày 14/4/1999 quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam.Cùng với Nghị định này cũng có rất nhiều các Thông tư, văn bản hướng dẫn thựchiện của Chính phủ đã tạo ra một động lực thúc đẩy hoạt động ĐTRNN của doanhnghiệp Việt Nam một cách mạnh mẽ.Tổng số dự án trong giai đoạn này đã lên tới
131 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 731.4 triệu USD, gấp 7 lần về số dự án và 53lần về tổng số vốn đăng ký so với giai đoạn 1989 – 1998, quy mô vốn bình quân là5.58 triệu USD/ dự án Các dự án của doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng trên 30quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời cũng tiến hành kinh doanh trên hầu hết cácngành nghề, lĩnh vực
Sự gia tăng nguồn vốn ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt làtrong năm 2002 và năm 2003 Cụ thể trong năm 2002, Việt Nam đã có 15 dự ánĐTTTRNN với tổng số vốn đăng ký lên tới 150.9 triệu USD Trong đó đáng chú ý
là dự án dầu khí ở Iraq và Angiêri với tổng số vốn đầu tư lên tới 120 triệu USD.Đây là dự án ĐTTTRNN với quy mô lớn nhất từ trước đến nay, và tổng công ty dầukhí Việt Nam đã tiến hành đàm phán với một số nước Trung Đông, Lybya, Sudan,Angiêri về tìm kiếm thăm dò dầu khí, và triển khai một số dự án nhằm giải quyếtvấn đề năng lượng của quốc gia Đồng thời cuối tháng 10/2002, Bộ kế hoạch đầu tư
Trang 24đã cấp giấy phép ĐTTTRNN cho công ty Thạch Bàn – Hà Nội với tổng số vốn đầu
tư 15 triệu USD để thành lập công ty 100% vốn nước ngoài tại Liên Bang Ngachuyên sản xuất gạch ốp lát Granit Đây là một trong các công ty đi tiên phongtrong số các doanh nghiệp Việt Nam ĐTTT vào Nga trong lĩnh vực vật liệu xâydựng Trong năm 2002 cũng đánh dấu hướng đi mới cho doanh nghiệp thành phố
Hồ Chí Minh khi thực hiện ĐTRNN Đi đầu là Công ty TNHH điện tử - tin học – tưvấn xây dựng phương nam đầu tư 955.000 USD vào thị trường Mỹ, và một khoảnđầu tư 943.000 vào thị tường Singapore, công ty TNHH Phi Long chuyển 902.000USD đầu tư vào Singapore, công ty cổ phần Công Nghệ Thông Tin (EIS) chuyển160.000 USD, công ty TNHH Thương Mại Việt Thái Sinh chuyển 100.000 USDvào thị trường Mỹ…
Năm 2003 số dự án của doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục tăng vọt về số dự ánđầu tư Tính riêng 5 tháng đầu năm 2003, Bộ kế hoạch đầu tư đã cấp giấy phép cho
10 dự án của các doanh nghiệp Việt Nam ĐTTTRNN với tổng số vốn đầu tư 3.76triệu USD tại Ucraina, Lào, Uzbekistan, Hàn Quốc, Singapore Sau đó, trong tháng
10, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 4 dự án tại Indonesia và Lào với tổng sốvốn đầu tư đạt gần 11.4 triệu USD Trong đó Tổng công ty dầu khí Việt Nam đầu tư
2 dự án trị gía 9.4 triệu USD để nghiên cứu địa chấn và địa vật lý nhằm mục đíchthăm dò dầu khí tại Indonexia…
Tuy nhiên trong năm 2004, ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam lại có
xu hướng giảm sút chỉ còn 17 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký trên 11triệu USD, bằng 68% về số dự án và bằng 40.6% về vốn đăng ký so với năm 2003.Trong đó, các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp có tổng vốn đầu tư chiếm 80%, sốcòn lại thuộc lĩnh vực dịch vụ Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam trong năm
2004 tập trung chủ yếu vào các nước Liên Bang Nga, Lào, Campuchia, Indonexia.Trong năm này do ảnh hưởng của biến động trên thị trường thế giới như những biếnđộng bất ổn về giá dầu tăng cao, tình hình tăng trưởng mạnh của Trung Quốc vàmột số nước vì thế các doanh nghiệp Việt Nam cũng tập trung chủ yếu vào một sốnước quen thuộc
Như vậy trong giai đoạn này này, họat động ĐTRNN của Việt Nam cũng đã
Trang 25án tổng số vốn góp của Việt Nam là khoảng 30 triệu USSD), và hợp đồng hợp táckinh doanh phân chia sản phẩm (gồm 16 dự án, với tổng số vốn góp bên Việt Nam
là 125.9 triệu USD) Các DNNN chiếm 42% số các dự án và trên 90% vốnĐTRNN, phần còn lại là của DNTN
Giai đoạn từ thứ ba năm 2006 – 2008 :
Đây là giai đoạn họat động ĐTRNN của Việt Nam có nhiều sự đột phá tăngtrưởng vựơt bậc Vì trong giai đoạn này Việt Nam có rất nhiều thuận lợi hơn so vớicác thời kỳ khác:
Thứ nhất là trong năm 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ
150 của WTO, đây là bước ngoặt quan trọng tạo nhiều thuận lợi hơn cho các doanhnghiệp Việt Nam vươn ra nước ngoài Việt Nam có cơ hội được mở rộng thị trường
và hàng hóa thâm nhập vào thị trường khổng lồ này cũng không gặp phải bất cứ ràotrở ngại nào miễn là chúng ta không vi phạm những quy chế và cam kết đã ký Việt
Nnam cũng sẽ nâng cao được vị thế trong các mối quan hệ quốc tế, và bình đẳngvới các quốc gia thành viên của WTO
Thứ hai là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra trong năm 2007 vàbùng nổ vào năm 2008 đã làm giảm giá trị của đồng đôla, và làm cho chi phí đầu
tư vào một số nơi cũng rẻ đi Điều này cũng tạo ra một cơ hội thuận lợi cho cácdoanh nghiệp hay các nhà đầu tư của Việt Nam có tiềm lực tài chính đủ mạnh có
đủ cơ hội mua lại các thương hiệu nổi tiếng và công nghệ tiên tiến của các nướchoặc có các có cơ hội ĐTRNN thành lập các công ty 100% vốn nước ngoài vớichi phí rẻ hơn rất nhiều
Thứ ba cùng với sự phát triển của nền kinh tế và những biến đổi của nền kinh
tế thế giới khuôn khổ pháp luật của Việt Nam về họat động ĐTRNN cũng ngày mộthoàn thiện hơn Chính phủ đã ban hành Luật đầu tư có hiệu lực từ 1/7/2006 đã quyđịnh về họat động ĐTRNN của Việt Nam, bên cạnh đó cũng có văn bản hướng dẫn
cụ thể hơn về ĐTRNN lĩnh vực dầu khí
Trong giai đoạn này cả nước có 221 dự án ĐTRNN với tổng số vốn đăng
ký đạt 3.36 tỷ USD, tăng 59.3% về số dự án và gấp 4.5 lần về vốn đầu tư đăng
ký so với giai đoạn 1999 – 2005 Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 15,2 triệuUSD/ dự án cao hơn nhiều so với các thời kỳ trước Năm 2006 doanh nghiệpViệt Nam đã ĐTTTRNN 33 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 136.5 triệuUSD, với 4 dự án điều chỉnh tăng vốn tăng thêm 211,2 triệu USD, trong đó đángchú ý là dự án hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí tại Angeria của Tập đoàn
Trang 26Dầu khí Việt Nam tăng thêm 208 triệu USD Các năm 2007, 2008 cũng là nhữngnăm thành công cho ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam Đặc biệt trong năm
2008 tổng số vốn đầu tư đã lên tới 502.7 triệu USD, quy mô vốn đầu tư trungbình đạt 9,66 triệu USD/dự án với nhiều dự án có quy mô lớn như Công ty cổphần hợp tác kinh tế Việt – Lào đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện Nậm Mô(Lào) với tổng vốn đầu tư 142,09 triệu USD
Cùng với sự phát triển của các năm 2006 – 2008, các doanh nghiệp ViệtNam cũng đã đạt những bước tiến nổi bật trong năm 2009 với
Năm 2009 Việt Nam đã có 81 dự án ĐTRNN được cấp giấy chứngnhận đầu tư với tổng số vốn đầu tư là 1.79 tỷ USD Quy mô vốn đầu tư đăng kýtrung bình cho một dự án đạt trên 22.1 triệu USD Ngoài ra trong năm 2009, có 9lượt dự án đầu tư đăng ký vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm đạt khoảng 200triệu USD
Các dự án ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này cũng
có những bước thay đổi Điểm đến cho đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam khôngchỉ là các thị trường quen thuộc mà còn mở sang cả những quốc gia vốn là các nhàđầu tư lớn của Việt Nam như Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Singapore… phần lớn cácdoanh nghiệp sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài đã triển khaithực hiện dự án, trong đó có nhiều doanh nghiệp đã đi vào hoạt động và đạt đượckết quả cao
Trang 27Bảng 1.2 : Vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam phân theo năm cấp phép
Vốn thực hiệnTổng VTH
Nguồn : Cục đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư- Tổng hợp của sinh viên
2.1.22.3 Quy mô dự ánTình hình tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp ĐTRNN của các doanh nghiệp Vịêt Nam trong giai đoạn từ năm
1989 – 2008.
Cùng với sự gia tăng trong tổng vốn đăng ký, nhiều dự án mới sau khi họatđộng có hiệu quả đủ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư,nhất là từ năm 2002 trở lại đây Quy trình vốn đầu tư mở rộng sản xuất chia làm cácgiai đoạn theo xu hướng của quá trình phát triển của nền kinh tế cùng với việc ngàycàng hoàn thiện hơn của hệ thống pháp luật quy định cho họat động ĐTRNN
Trang 28Giai đoạn đầu từ năm 1989 đến năm 1998: trong giai đoạn việc tăng vốn đầu
tư hầu như là chưa có, Việt Nam vừa mới thực hiện cải cách kinh tế, chuyển từ chế
độ bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tếViệt Nam đang trong giai đoạn khó khăn cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế tàichính năm 1997, số lượng dự án ĐTRNN còn ít vì thế lượng tăng vốn trong thời kỳnày chưa có
Giai đoạn thứ hai từ năm 1999 đến năm 2005: giai đoạn này số lượng vốn
tăng thêm bắt đầu tăng cùng với số lượng dự án cũng tăng thêm Tuy nhiên, chỉ cótới năm 2002 là bắt đầu có sự gia tăng về số lượng dự án cũng như vốn, mặc dù sốlượng vốn tăng thêm là không nhiều cũng như số dự án Trong giai đoạn số vốntăng thêm nhiều nhất so với vốn đăng ký lớn nhất là trong năm 2004 Số vốn tăngthêm trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, các dự ántrồng rừng chủ yếu tại Lào, Campuchia, Liên Bang Nga
Giai đoạn thứ ba từ năm 2006 đến 2008: trong những năm này họat động
ĐTRNN của Việt Nam đã khởi sắc hơn so với các năm trước Thị trường đầu tư củacác doanh nghiệp Việt Nam đã được mở rộng sang các nước khác cũng như cơ cấuđầu tư cũng thay đổi từ lĩnh vực nông nghiệp sang các ngành khác như dầu khí,công nghiệp nặng, và các ngành dịch vụ Số vốn tăng thêm cũng chiếm tỷ trọng caohơn so với các giai đoạn trước
Trang 29Bảng 1.3: Vốn ĐTRNN của Việt Nam phân theo năm với lượt
các dự án tăng thêm vốn
(USD)
Số lượt DA TT
VTT (USD)
-Nguồn : Cục đầu tư nước ngòai – Bộ kế hoạch đầu tư – Tổng hợp của sinh viên
Như vậy có thể thấy xu hướng chung của dòng vốn ĐTRNN của cácdoanh nghiệp Việt Nam trong những năm qua đã có sự biến động tăng lêntheo từng giai đoạn cả về số vốn đăng ký, số lượt dự án tăng thêm, cũng như
số vốn tăng thêm Hầu hết vốn tăng của các doanh nghiệp Việt Nam khi thựchiện ĐTRNN chủ yếu và o các thị trường quen thuộc của Việt Nam như Lào,Campuchia, Nga – là những thị trường truyền thống của các doanh nghiệpViệt Nam
Trang 302.4 Cơ cấu đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1989 – 2008.
2.4.1 Cơ cấu vốn ĐTRNN của Việt Nam phân theo ngành nghề.
Trong thời gian vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện họatđộng ĐTRNN tập trung vào cả 3 ngành công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp vàdịch vụ Tuy nhiên có sự không đồng đều về tỷ lệ đầu tư giữa 3 ngành cả về số dự
án và số vốn đăng ký, trong đó lĩnh vực công nghiệp và xây dựng như thăm dò, khaithác dầu khí, sản xuất chế biến hàng gia dụng, vật liệu xây dựng chiếm một tỷ trọnglớn nhất, tiếp theo đó là các ngành dịch vụ và nông lâm ngư nghiệp
Trang 31Cơ cấu ĐTRNN của Việt Nam
1.1.1 Cơ cấu vốn ĐTRNN phân theo ngành nghề
Bảng 1.43 : Cơ cấu ĐTRNN của Việt Nam phân theo ngành đầu tư
giai đoạn 1989 - 2008tính đến thời điểm 31/12/2008.
Chuyên ngành
Tổng số
Tỷ
Tỷ trọng
%
Tổng số
Tỷ trọng
%
Công nghiệp
155 42,11 3.420.321.40
0 77,8 124.687.732 86.5 Nông – lâm –
ngư nghiệp 70 19,02 558.330.100 12,7 8.399.906 5.83 Dịch vụ 143 38,8 417.648.500 9,5 11.102.777 7.7
18.102.51
3
24.109.38
0
273.039.416
Nguồn : Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch & Đầu tư – Tổng hợp của sinh viên
Các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện họat động ĐTRNN tập trung vào cả 3 ngành công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên có sự không đồng đều về tỷ lệ đầu tư giữa 3 ngành cả về số dự án và số vốn đăng ký, trong đó lĩnh vực công nghiệp luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhất, tiếp đó là ngành dịch vụ và nông lâm ngư nghiệp Ta đi xem xét từng lĩnh vực
Thứ nhất : ĐTRNN trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng.
Trang 32Thông qua nguồn số liệu của Cục đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư ta
có thể thấy hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện ĐTRNN chủ yếu tậptrung vào lĩnh vực công nghiệp nặng và xây dựng (chiếm 42% tổng số dự án) Nhìnchung các dự án của doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp đều có quy
mô nhỏ trung bình khoảng hơn 18 triệu USD, tuy nhiên một số dự án lớn lại tậptrung chủ yếu vào các ngành thăm dò và khai thác dầu khí Trong đó, tập trungnhiều vốn nhất vẫn là các ngành công nghiệp dầu khí và công nghiệp nặng, đặc biệt
là các dự án thuộc lĩnh vực dầu khí: chỉ với 14 dự án nhưng số vốn đầu tư đăng ký
đã đạt hơn 1.31 tỷ USD Công nghiệp nặng và xây dựng là hai lĩnh vực tập trungnhiều dự án đầu tư nhất Do tính chất ngành nghề nên vốn đầu tư vào các lĩnh vựcnày cũng có sự chênh lệch: công nghiệp xây dựng cần nhiều vốn hơn công nghiệpnhẹ vì phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng, do đó vốn đầu tư của các dự án xây dựng cũngcao hơn so với công nghiệp nhẹ
Hầu hết các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp đều tập trung vào các ngànhcông nghiệp nặng với khoảng 76 dự án: sản xuất và chế biến hàng gia dụng, sảnxuất hàng may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng….với quy mô vốn trung bình củamột dự án trên 20 triệu USD Tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốn của các dự án này cònrất thấp chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã khai thácsang các mặt hàng trong lĩnh vực công nghiệp để làm nguồn hỗ trợ cho thị trườngtrong nước như điện, thăm dò và khai thác dầu khí, khai thác khoáng sản Một số dự
án đầu tư vào các thị trường nước ngoài có số vốn lớn trên 100 triệu USD như:Công ty cổ phần đầu tư và phát triển điện Việt – Lào đầu tư 2 dự án: thủy điệnXekamăn 1, tổng vốn đầu tư 441.6 triệu USD và thủy điện Xekamăn 3, tổng vốnđầu tư 273 triệu USD Tập đoàn dầu khí Việt Nam đầu tư 243 triệu USD thăm dòkhai thác dầu khí tại Angiêri Công ty Đầu tư phát triển dầu khí đầu tư 2 dự án thăm
dò khai thác dầu khí tại Madagascar (vốn 117,36 triệu USD) và tại IRắc ( vốn 100triệu USD).Và dự án thăm dò, khai thác dầu khí của Petro Việt Nam tại Angiêri vàMalaysia, với vốn đầu tư thực hiện khoảng 30 triệu USD dự án này đang tiếp tục
mở rộng quy mô đầu tư sau khi phát hiện dòng dầu 5.100 thùng/ngày tại Algeria vàdòng dầu 3.100 thùng/ngày tại Malaysia
Trang 33Bảng 1.5 : Cơ cấu ĐTRNN của Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp và xây
dựng giai đoạn 1989 – 2008
Chuyên ngành
Đơn vịTổng
số (DA)
CN dầu khíTỷtrọng
%
CN nặnTổng
số (USD)g
CN nhẹTỷtrọng
%
CN thực phẩmTổng số (USD)
Xây dựngTỷtrọng
1.954.74
0
33.734.1291.563.004.023
0,98630
224.004
12.132.11653.949.540
9,73106.059.892
10022.45 8.237
124.687.7322.1 03.288
10017.2 48.274
Tỷ trọng VTH % 79.98 1.89 9.73 0.913 7.48
Nguồn : Cục đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư – Tổng hợp của sinh viên Thứ hai là lĩnh vực dịch vụ
Dịch vụ cũng là ngành thu hút được nhiều dự án ĐTTTRNN Tuy nhiên với
143 dự án mà tổng vốn đầu tư đăng ký trong lĩnh vực này lại chỉ đạt gần 418 triệuUSD thì quy mô vốn trung bình của mỗi dự án thuộc ngành dịch vụ là thấp hơn sovới hai ngành công nghiệp và nông nghiệp Trung bình một dự án đầu tư chỉ khoảnggần 3 triệu USD Điều đặc biệt là các dự án thuộc ngành này đều đã được đăng kýtrong hầu hết các loại hình dịch vụ như giao thông vận tải, bưu điện, khách sạn – dulịch, văn hóa – y tế - giáo dục, xây dựng văn phòng căn hộ… Tuy nhiên quy mô
Trang 34của các dự án này đều nhỏ và hầu hết số vốn tập trung vào các dự án dịch vụ nhỏnhư kinh doanh bất động sản, kinh doanh trung tâm thương mại, nhà hàng, dịch vụ
tư vấn đầu tư, khai thác mạng di động, dịch vụ kỹ thuật dầu khí… còn hầu hết vàocác lĩnh vực tài chính ngân hàng, khách sạn du lịch…số vốn đều rất nhỏ
Trong những năm sắp tới, xu hướng sẽ có nhiều nhà đầu tư chuyển sang cáclĩnh vực dịch vụ, kinh doanh nhỏ Theo thông báo của Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã cókhá nhiều các dự án chiếm ưu thế trong lĩnh vực ĐTRNN của doanh nghiệp ViệtNam, các dịch vụ xây dựng, trò chơi trực tuyến, nhà hàng, dịch vụ tư vấn bất đầuxuất hiện khá nhiều Trong 38 dự án cấp mới của 4 tháng đầu năm 2010 với tổngvốn đầu tư khoảng 170 triệu USD Theo một số chuyên gia cho rằng mặc dù quy
mô của các dự án này trong lĩnh vực dịch vụ là không lớn, chỉ trên dưới 1 triệu USDsong khả năng xuất khẩu dịch vụ thông qua đấu thầu cạnh tranh, mua bán-sáp nhậpđang mở ra cơ hội đặt chân sâu hơn với giá trị gia tăng cao hơn của doanh nghiệpViệt Nam tại một số thị trường nước ngoài Một số dự án lớn trong lĩnh vực nàynhư: Công ty viễn thông quân đội Viettel đầu tư 27 triệu USD tại Campuchia đểkhai thác mạng viễn thông di động, Công ty cổ phần đầu tư Việt – Sô đầu tư 35triệu USD để xây dựng Trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê tại Moscow –Liên Bang Nga, Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí đầu tư 21 triệu USD tại Singapore
để đóng mới tàu chở dầu…
Bảng 1.6 : Cơ cấu ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam vào lĩnh vực dịch
vụ giai đoạn 1989 – 2008
Tổng số (DA)
Tỷ trọng
%
Tổng số (USD)
Tỷ trọng
%
Tổng số (USD)
Tỷ trọng
%
GTVT– Bưu điện 25 17,48 83.947.348 20,1 6.244.202 56,24Tài chính, ngân
Trang 35-Văn phòng căn hộ 2 1,39 54.461.364 13,04 - Xây dựng văn
-Tổng
143 100 417.648.500 100 11.102.77
7 100
Nguồn : Cục đầu tư nước ngòai – Bộ kế hoạch đầu tư – Tổng hợp của sinh viên
Thứ ba là lĩnh vực nông - lâm – ngư nghiệp.
Trang 36yên ngành
Dự ánS
ố dự án
Tỷtrọng số
dự án
VĐKUSD
%VĐK
TH
ĐTRNN trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp của các doanh nghiệp Việt
Nam trong giai đoạn vừa qua đạt 70 dự án, trong đó có 61 dự án tập trung vào lĩnh
vực nông nghiệp, còn lại là các lĩnh vực thủy sản Quy mô trung bình của các dự án
này là 7.96 triệu USD, mặc dù tương đối nhỏ nhưng vẫn cao hơn so với ngành dịch
vụ Tuy nhiên việc thực hiện giải ngân vốn của các dự án nông lâm nghiệp vẫn chưa
cao, do một vài vấn đề khó khăn trong quá trình giao đất chậm tiến độ nên vì vậy đã
gây khó khăn cho việc triển khai dự án cho các doanh nghiệp Một số dự án trong
lĩnh vực nông lâm nghiệp hầu hết tập trung vào các dự án trồng cây cao su, cây
công nghiệp như công ty cổ phần cao su Dầu Tiếng Việt – Lào, vốn đầu tư 81,9
triệu USD, công ty cao su Đắc Lắc, vốn đầu tư 32,3 triệu USD; công ty cổ phần cao
su Việt – Lào vốn đầu tư 25,5 triệu USD
Bảng 1.7 : Cơ cấu ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực
nông – lâm – ngư nghiệp giai đoạn 1989 – 2008
Chuyên ngành
Tổng số (DA)
Tỷ trọng (%)
Tổng số (USD)
Tỷ trọng (%)
Tổng số (USD)
Tỷ trọng (%)
Nông lâm nghiệp 61 87,14 536.167.395 96,03 4.495.357 53,51
Nguồn : Cục đầu tư nước ngòai – Bộ kế hoạch đầu tư – Tổng hợp của sinh viên
2.34.2 Cơ cấu ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam phân theo
đối tác đầu tư
VĐKUSD
%VĐK
VTH
%VTH
Trang 37GTVT –
Bưu điện
25
17.48
88.276.020
20.1
13
559.115
56.24Tài chính,
ngân hàng, bảo
hiểm
10
7
00
32.631.384
6
05
3.633.283
15.07Khách sạn
– du lịch
59
26.965.908
6
14
1.504.425
6.24
13.04
9
79
31.357.750
439.184.182
100
24
109.380
100
ĐTRNN của Việt Nam phân theo đối tác đầu tư
Trong gần 20 năm thực hiện họat động ĐTRNN các dự án ĐTTT của cácác
doanh nghiệp Việt Nam trải đã được rải đều tại 43 quốc gia trên 50 quốc gia và
vùng lãnh thổ, điều này đã thể hiện Kết quả này đã thể hiện rõ những kết nỗ lực
quả tích cực màcủa Việt Nam đã đạt được trong quá trình đa phương hóa các quan
hệ quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới Điều này, đồng thời cũng thể hiện sức mạnh
của các doanh nghiệp Việt Nam ngày một lớn mạnh và vươn rộng ra trên thị trường
thế giới Các doanh nghiệp Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các châu lục trên thế giới
Trang 38Bảng 1.4 8 : Vốn Cơ cấu đầu tư của Việt các doan nghiệp Việt Nam ra nước
ngòai phân theo đối tác đầu tư giai đoạn từ 1989 – 2008.
tính đến tháng 12/2009
dự án
TổngVĐK
Vốnpháp định
Vốnthực hiện
811,522,740
Singap
48,060,858
Campu
692,878,017
Irắc
00Iran
0Indones
46,180,000
Trang 390CHLB
12,080,372
Trang 4042,785,714
Công
15,310,000
233,755,331
Austral
108,181,200