Ở lứa tuổi mầm non, bỡ ngỡ vì phải tiếp cận với môi trường mới trẻ còn phải tiếp nhận đồng thời sự giáo dục của nhà trường, của gia đình và xã hội cho nên phải phối hợp giáo dục để nâng
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
T ạ Thị Thanh An
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
T ạ Thị Thanh An
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong su ốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, tôi đã
nh ận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất quý báu của Thầy cô, gia đình, bạn bè
Xin c ảm ơn thầy cô Ban Giám Hiệu, các Phòng ban, các Khoa – trường Đại học Sư
ph ạm Tp.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi học tập tại trường
Trân tr ọng cảm ơn Quý Thầy Cô Phòng Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác
Trân tr ọng cảm ơn Phòng Giáo dục Đào tạo Quận 3, Quý Ban Giám Hiệu, các Thầy
Cô t ại các trường Mầm non Quận 3 đã tạo điều kiện để tôi có kết quả khảo sát thực tế tại
qu ận
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, song luận văn
s ẽ không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy Cô, anh
ch ị em đồng nghiệp và các bạn!
Tp HCM tháng 8 năm 2013 Tác gi ả Tạ Thị Thanh An
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
M ỤC LỤC 2
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lí do ch ọn đề tài 6
2 M ục đích nghiên cứu 8
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 8
4 Gi ả thuyết khoa học 8
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 8
6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
8 C ấu trúc đề tài 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON 12
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước về giáo dục mầm non và quản lí hoạt động phối hợp 12
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước về giáo dục mầm non và quản lí hoạt động phối hợp 13
1.2 M ột số khái niệm cơ bản 14
1.2.1 Quản lý, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường 14
1.2.2 Quản lí trường mầm non 20
1.2.3 Quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 20
1.3 Ho ạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non 21
1.3.1 Vai trò của nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục ở trường mầm non 21
1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 26
1.3.3 Mục tiêu, nội dung của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non 27
1.3.4 Hình thức, biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non 27 1.4 Qu ản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non 29
1.4.1 Lập kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 29
1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 29
1.4.3 Kiểm tra- đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 30
Trang 51.4.4 Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 31
1.4.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3 THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH 35
2.1 T ổng quan Giáo dục mầm non ở Quận 3 Tp.HCM 35
2.1.1 Một số đặc điểm giáo dục tại Quận 3 Tp.HCM 35
2.1.2 Quy mô, cơ cấu 36
2.1.3 Chất lượng giáo dục 36
2.2 Th ực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở một số trường m ầm non Quận 3 40
2.2.1 Thực trạng nội dung hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 41
2.2.2 Thực trạng hình thức và biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình 50
2.3 Th ực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở một số trường mầm non Quận 3 59
2.3.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 59 2.3.2 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 62
2.3.3 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 64
2.3.4 Thực trạng quản lí các điều kiện đảm bảo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 68
2.4 Nguyên nhân c ủa thực trạng 72
2.4.1 Nguyên nhân của ưu điểm 72
2.4.2 Nguyên nhân của hạn chế 75
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GI ỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 3, THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH 80
3.1 Căn cứ đề xuất biện pháp 80
3.1.1 Định hướng phát triển giáo dục mầm non Quận 3, Tp HCM 80
3.1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn 81
3.2 M ột số biện pháp quản lí 82
3.2.1 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 82
3.2.2 Nhóm biện pháp tăng cường xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình 84
ện pháp tăng cường tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường
Trang 63.2.4 Nhóm biện pháp tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình 86
3.2.5 Nhóm biện pháp đảm bảo các điều kiện cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 87
3.3 Kh ảo nghiệm ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 88
3.3.1 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức cho CBQL, GV và cha mẹ trẻ về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 89
3.3.2 Nhóm biện pháp tăng cường xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 94
3.3.3 Nhóm biện pháp tăng tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 95
3.3.4 Nhóm biện pháp tăng cường kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 97
3.3.5 Nhóm biện pháp tăng cường các điều kiện đảm bảo cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 99
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
1 K ết luận 102
2 Ki ến nghị 104
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 107
PH Ụ LỤC 109
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cán bộ quản lí CBQL Cao đẳng Sư phạm Trung ương 1 CĐSPTW1 Công nhân viên CNV
Phó Giáo sư PGS
Xã hội Chủ nghĩa XHCN Thành phố Hồ Chí Minh TP HCM
Suy dinh dưỡng SDD
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Gia đình là một thiết chế của xã hội, một trong những thiết chế xuất hiện sớm nhất, lâu đời nhất và được coi như một xã hội thu nhỏ, một tế bào của xã hội Đối với giáo dục, gia đình vừa là môi trường xã hội vừa là thiết chế trực tiếp thỏa mãn nhu cầu học tập của thế hệ
trẻ Gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ Giáo dục gia đình là một trong những bộ phận giáo dục quan trọng của xã hội
Trước khi xã hội có nhà trường, trẻ tiếp nhận sự giáo dục chính từ gia đình Ông bà, bố
mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và truyền đạt những kinh nghiệm về lịch sử, xã
hội con con cháu “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” đã cho thấy vai trò và trách nhiệm nặng
nề, mang tính quyết định của gia đình đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận định việc giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần còn cần phải có
sự giáo dục ngoài xã hội, trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Thông qua giáo dục gia đình, đặc biệt trong các gia đình có nhiều thế hệ cùng chung
sống, trẻ có thể cùng một lúc được thừa hưởng những kinh nghiệm, những giá trị truyền
thống do ông bà truyền đạt lại đồng thời có thể học hỏi được nhiều loại kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp
Khi nhà trường xuất hiện, chức năng giáo dục của gia đình vẫn không thay đổi nhưng
trẻ được tiếp nhận thêm sự giáo dục từ phía nhà trường Tuy nhiên, giáo dục gia đình khác
với giáo dục nhà trường trên nhiều phương diện từ mục tiêu đến nội dung, phương pháp, phương tiện…giáo dục Chính sự khác nhau đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong suốt quá trình giáo dục trẻ
Trong xu thế phát triển chung của xã hội, sự đổi mới của chương trình giáo dục các
cấp học đòi hỏi giáo dục mầm non – bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân –
phải đổi mới, tạo ra sự tiếp nối có hiệu quả Ngày 25 tháng 7 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông tư số 17/2009/TT – BGDĐT về chương trình giáo dục mầm non
mới thay thế cho chương trình mầm non cũ còn nhiều hạn chế về nội dung cũng như phương pháp Nội dung và hoạt động học tập ở chương trình mầm non cũ còn nặng về cung
cấp kiến thức một cách riêng rẽ và chưa coi trọng việc hình thành và phát triển các năng lực
và kỹ năng sống cho trẻ Chương trình giáo dục mầm non mới ra đời với mục đích giúp cán
Trang 9bộ quản lí và giáo viên có định hướng thực hiện các nội dung về chăm sóc, giáo dục trẻ đồng thời có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến nội dung, chương trình giáo dục mầm non
mới tới phụ huynh Việc nắm bắt được chương trình giáo dục mầm non mới không những là điều kiện để gia đình phối hợp, tham gia mà còn có thể giám sát nhà trường trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con em mình Nắm được chương trình giáo dục mầm non mới cũng là một cơ hội để gia đình tự nâng cao kiến thức nuôi dạy con và phối hợp tốt hơn với nhà trường và cộng đồng cùng vì tương lai của chính con em mình
Để hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em năm tuổi vào lớp 1 Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT quy định về bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Đồng thời, bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi cũng là căn cứ để xây dựng chương trình, tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em 5 tuổi nhằm nâng cao nhận thức về sự phát triển của trẻ em, tạo sự thống nhất giữa các môi trường chăm sóc, giáo dục trẻ
Ở lứa tuổi mầm non, bỡ ngỡ vì phải tiếp cận với môi trường mới trẻ còn phải tiếp nhận đồng thời sự giáo dục của nhà trường, của gia đình và xã hội cho nên phải phối hợp giáo
dục để nâng cao tinh thần trách nhiệm của gia đình và xã hội, tạo điều kiện để các em được giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc.Quản lí hoạt động phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường
và xã hội là một bộ phận của quản lí nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục thống
nhất, toàn vẹn và việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội được tốt hơn Tuy nhiên, ở
lứa tuổi này, trẻ tiếp nhận trực tiếp sự chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ gia đình và nhà trường là chủ yếu vì trẻ chưa tiếp xúc nhiều với xã hội nên sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường là vô cùng quan trọng Trên thực tế công tác quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn nhiều bất cập như: nhận thức về công tác phối hợp, nhận thức về QL
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn rất hạn chế ở số ít giáo viên và phần lớn cha mẹ trẻ; các nội dung phối hợp tuy đầy đủ nhưng chưa được thực hiện thường xuyên và đồng bộ; các hình thức, biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình chưa được phong phú; còn nhiều hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế
hoạch; kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Trang 10Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng quản lí
ho ạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non Quận 3, thành
ph ố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lí luận, khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non Quận 3 Tp.HCM nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục mầm non
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách th ể nghiên cứu
Công tác quản lí hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non Quận 3, Tp HCM
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non Quận 3 Tp.HCM đã đạt được một số kết quả trong việc lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo
thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch Tuy nhiên, công tác này còn nhiều bất cập trong các khâu của quy trình như: kế hoạch còn mang tính hình thức; tổ chức,
chỉ đạo chưa được thực hiện đồng bộ; kiểm tra, đánh giá chưa được thực hiện thường xuyên Khi đánh giá đúng thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình sẽ đề
xuất được một số biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động phối hợp
giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia
đình ở trường mầm non
5.2 Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các
trường mầm non Quận 3, Tp.HCM
Trang 115.3 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường
và gia đình ở các trường mầm non
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung: Khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lí hoạt động phối hợp
giữa nhà trường và gia đình ở một số trường mầm non công lập Quận 3
6.2 Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lí, giáo viên và cha mẹ trẻ ở 14 trường mầm non trên 24 trường mầm non công lập của Quận 3
6.3 Thời gian: Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở một số trường mầm non công lập Quận 3 năm 2012 và đề xuất các biện pháp cho các năm tiếp theo
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm hệ thống - cấu trúc nghiên cứu đối tượng một cách toàn diện, trên nhiều
mặt dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận và xác định mối quan hệ hữu cơ
giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển
Vận dụng quan điểm này vào đề tài, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt
chẽ giữa quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình với quản lí các hoạt động khác của trường mầm non Quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một công tác quản lí trong toàn bộ hệ thống quản lí chung của nhà trường Thông qua việc nghiên cứu sẽ phát hiện ra những yếu tố mang tính bản chất, tính quy luật đảm bảo sự vận
động và phát triển hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non
7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm tiếp cận lịch sử - logic tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo
dục trong những khoảng thời gian và không gian cụ thể, với những điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể để phát hiện được quy luật tất yếu của quá trình giáo dục
Vận dụng quan điểm này vào đề tài, người nghiên cứu xác định được phạm vi, không
ời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để khảo sát, thu thập số liệu chính xác về thực
Trang 12Quận 3, từ đó phát hiện ra những mối liên hệ đặc trưng về quá khứ - hiện tại – tương lai của công tác quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non và trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic phù hợp
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Cơ sở lí luận phải được minh chứng và hoàn chỉnh thông qua các sự kiện và hoạt động
thực tiễn Thực tiễn giáo dục là gốc, là động lực, tiêu chuẩn, mục đích của toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học
Xuất phát từ những tồn tại trong quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở một số trường mầm non Quận 3 thông qua việc khảo sát thực trạng quản lí hoạt động
phối hợp giữa nhà trường và gia đình, người nghiên cứu sẽ phát hiện những mâu thuẫn, khó khăn cản trở trong việc quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cùng các nguyên nhân của nó để từ đó đề ra các biện pháp nhằm cải thiện thực trạng, đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non trong giai đoạn hiện nay
7.2 P hương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp phân loại các tài liệu về công tác quản lí nói chung cũng như quản
lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông tin từ cán bộ quản
lí, giáo viên, cha mẹ trẻ về thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đồng
thời khảo sát tính cần thiết, khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất
* Nội dung:
- Khảo sát thực trạng hoạt động phối hợp và quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
- Khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất
* Công cụ khảo sát: sử dụng 3 mẫu phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lí, giáo viên và cha mẹ trẻ
7.2.2.2 Phương pháp quan sát
Trang 13Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các thông tin trên cơ sở quan sát trực tiếp các
hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; quan sát hoạt động quản lí của cán bộ quản lí để có thông
tin đầy đủ hơn về thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Sử dụng phương pháp này nhằm trao đổi, xin ý kiến trực tiếp của cán bộ quản lí, giáo viên, ý kiến phụ huynh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm thu thập thông tin đồng thời làm rõ hơn những vấn đề từ phiếu điều tra
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này nhằm xử lí kết quả điều tra và số liệu thu được thông qua các phần mềm máy tính nhằm định lượng kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở
trường mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở một số
trường mầm non Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số biện pháp quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở
trường mầm non
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở TRƯỜNG MẦM
NON 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước về giáo dục mầm non và quản lí hoạt động phối hợp
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là hoạt động quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giáo dục Để thực hiện tốt hoạt động này, nhà trường có trách nhiệm chính trong việc tổ chức phối hợp với gia đình Thế kỉ XVII, nhà giáo dục người Tiệp Khắc tên là J.A.Comenxki (1592-1670), tác giả cuốn sách “Lí luận dạy học”, đã chỉ ra tầm quan
trọng của mối quan hệ thống nhất giữa nhà trường và gia đình trong quá trình giáo dục trẻ Ông khẳng định lòng ham học của trẻ bắt nguồn từ sự kích thích của thầy cô giáo và bố mẹ chúng: “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học
phải thống nhất, làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh” Ông cũng nêu lên vai trò của giáo dục của gia đình: “Bổn phận của cha mẹ là cùng nhau chăm lo dạy bảo con cái Mục đích đặt ra là làm sao cho con cái trưởng thành để lo lắng cho bản thân và cho
cả người khác”
Nhà giáo dục của Liên Xô,V.A.Xukhomlinxki (1918-1970), cũng đã khẳng định nếu nhà trường và gia đình không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì
sẽ dẫn đến tình trạng “gia đình một đường, nhà trường một nẻo”
Đầu thế kỉ 21, vai trò của gia đình trong hoạt động phối hợp với nhà trường được đề cao hơn nữa Trong bài phát biểu gần đây của mình, tại một hội nghị diễn ra ở London, ông Alan Johnson, bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh, cho rằng cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường Ngược lại, ông cho biết vai trò của các bậc phụ huynh rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một sự “khác biệt lớn” so với những kết quả mà
trẻ đạt được từ trường học Theo ông Johnson, việc giáo dục con trẻ tuy là vấn đề riêng tư
của mỗi gia đình nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến xã hội sau này (Báo Tuổi Trẻ ngày
13/11/2006)
Trang 151.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước về giáo dục mầm non và quản lí hoạt động phối hợp
Từ thời xa xưa, giữa nhà trường và gia đình ở nước ta đã có mối quan hệ khăng khít Câu ca dao: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” đã khát quát
được mối quan hệ này
Tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục (6-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn [38]
Đảng và Nhà nước ta hiện nay rất quan tâm đến công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội và đã coi đó là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo kết quả giáo dục Một số công trình đã nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lí luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ
như:
“Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 giáo trình giáo dục học tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1988 của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
[26]
“Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện
mới”, tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo dục học, thuộc viện Khoa học Giáo dục, 1993
“Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị
Kỷ, Viện Khoa Học Giáo dục, 2000 [21]
“Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”, tác giả
Phạm Khắc Chương (chủ biên), Nxb Giáo dục, 1998 [9]
Trong những năm gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu về quản lí hoạt động phối
hợp giữa nhà trường và gia đình như:
“Tổ chức liên kết giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh của
một số trường trung học cơ sở ở thành phố Huế”, Lê Thị Hoa, luận văn thạc sĩ Quản lí Giáo
dục Đại học Sư phạm Huế, 1999
Trang 16“Biện pháp tăng cường quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình của
hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp”, Nguyễn Minh Tâm, luận văn thạc sĩ Quản lí Giáo dục, Đại học Sư phạm Huế, 2007
“Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường trung học cơ sở vùng nông thôn thị xã Bà Rịa”, Dương Văn Thạnh, luận văn thạc sĩ Quản lí Giáo dục, Đại học Sư phạm Tp.HCM, 2007
“Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Cần Đước, tỉnh Long An”, Hồ Văn Thơm, luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục, Đại học Sư phạm Tp.HCM, 2009
“Thực trạng quản lí việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học viên tại một số trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố Hồ Chí Minh”, Phạm Minh Tùng, luận văn thạc sĩ Quản lí Giáo dục, Đại học Sư phạm Tp.HCM, 2012
Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lí luận cơ bản, những giải pháp
để nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đồng thời cũng làm rõ hơn các chức năng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quá trình giáo dục học sinh Tuy nhiên vấn đề thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường
và gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non chưa được đề cập cụ thể, hệ thống Đặc biệt, ở thành phố Hồ Chí Minh chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề vấn
đề này Vì vậy, trong điều kiện công tác của mình, tác giả thấy cần phải có sự nghiên cứu về
“Thực trạng quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non
Quận 3, Tp.HCM”, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Q uản lý, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
và bất kể nội dung hoạt động của nhóm là gì Hiện nay, “quản lí” được nhiều người thừa
nhận là một nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lí trở thành một hoạt động phổ biến, diễn
Trang 17ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Các Mác coi quản lí là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội Ông viết: “Bất cứ lao động xã
hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu
phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những
chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung
của cơ chế sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ
chế sản xuất đó… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì
cần có một nhạc trưởng” [25] Như vậy, Các Mác đã chỉ ra bản chất quản lí là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lí trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh
vực, mọi cấp độ và các liên quan đến mọi người Đó là hoạt động bắt nguồn từ tính chất
cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được một mục
tiêu chung
Theo Taylor PH.W (1856-1915) thì “Quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và
rẻ nhất” Đó cũng là tư tưởng của ông về quản lí [30]
H.Koontz cho rằng: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với
thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [16]
Nhà lí luận quản lí kinh tế người Pháp H.Fayon cho rằng: “Quản lí hành chính là dự
đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [20]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lí là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ
với nhau: quản và lí Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và sửa sang, sắp xếp (lí) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển [5]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lí là những hoạt động có định hướng, có
kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức,
nhằm đạt mục đích nhất định” [28]
Trong quá trình phát triển lí luận quản lí, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lí mà các nhà nghiên cứu lí luận cũng như thực hành quản lí đưa ra:
Trang 18“Quản lí được hiểu là việc bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới” [31]
“Quản lí là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân
biến thành những thành tựu của xã hội” hay “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực,
vật lực, tài lực trong và ngoài tổ chức, chủ yếu là nội lực, một cách tối ưu nhằm đạt mục
đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22]
Tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp viết: “Quản lí là một hoạt động cần thiết khi con người
kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chung Như vậy, hoạt động quản lí là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể
[12]
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ năm 2010, quản lí được định nghĩa là:
“trông coi và giữ gìn theo những nhu cầu nhất định, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những nhu cầu nhất định” [37]
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu:
- Quản lí là một loại lao động để điều khiển
- Quản lí là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (quản lí hành chính, quản lí văn hóa, quản lí sản xuất…)
- Đối tượng quản lí chủ yếu vẫn là con người
Từ những ý nghĩa chung của các khái niệm và xét quản lí trên phương diện là một hoạt động, có thể hiểu một cách khái quát: quản lí là sự tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra
1.2.1.2 Qu ản lí giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm “Giáo dục và quản lí giáo dục là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói
Trang 19như thế về quản lí giáo dục” Trong khái niệm về quản lí giáo dục ông đã đưa ra hai nhóm khái niệm quản lí giáo dục tương ứng: một cho quản lí một nền (hệ thống) giáo dục đó là quản
lí vĩ mô và một cho quản lí vi mô (nhà trường) [22]
Đối với quản lí vĩ mô, ông cho rằng: “Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ
thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các hệ thống giáo dục
là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [22]
“Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (chỉ khả năng mới của hệ thống mà khi các phần
tử đứng riêng rẽ thì không thể tạo ra được) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều
kiện bảo đảm sự công bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động”
Đối với cấp vi mô, ông cho rằng: “Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”[22]
Quản lí giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trình giáo
dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào
tạo của nhà trường
Khái quát lại nội hàm của khái niệm quản lí giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng cơ bản sau:
- Phải có thể chế quản lí giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lí nhà nước mà cơ quan trực
tiếp quản lí là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo; ở tầm vi mô là quản lí của hiệu trưởng
nhà trường
- Phải có hệ thống tác động quản lí theo một nội dung, chương trình, kế hoạch thống
nhất từ trung ương đến địa phương, nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn
cụ thể của xã hội, phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng
với hệ thống cơ sở vật chất tương ứng
Trang 20- Tóm lại, quản lí giáo dục là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL giáo
dục đến các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoạch định, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, kiểm tra… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục đích phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2.1.3 Qu ản lí nhà trường
Quản lí nhà trường (trường học) là quản lí nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể là giáo
dục, tại một đơn vị, cụ thể là trường học Trong đó chủ thể của hoạt động quản lí nhà trường (là bộ máy quản lí nhà trường) thực hiện hoạt động điều hành, điều chỉnh đối tượng của quá trình quản lí (là hoạt động của nhà trường) gồm các giáo viên, học sinh nhằm thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí nhà trường là một tập hợp những tác động
tối ưu của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng
vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà
trường tiến lên trạng thái mới [28]
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo
dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và
với từng học sinh” [15]
Quản lí nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của
quản lí, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó Quản lí nhà trường được quy định bởi
bản chất hoạt động sư phạm của người thầy; bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong
mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể quản lí vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện theo mục tiêu giáo dục và được xã hội thừa nhận
Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các
hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường
Có nhiều cấp quản lí trường học: cấp cao nhất là Bộ Giáo dục và Đào tạo, nơi quản lí nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô; có hai cấp trung gian quản lí trường học là Sở Giáo
Trang 21dục và Đào tạo ở các tỉnh, thành phố và Phòng Giáo dục và đào tạo ở các cấp quận, huyện
Cấp quản lí quan trọng và trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lí tại các nhà trường
Quản lí nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung
của quản lí, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng Quản lí nhà trường khác với các loại
quản lí quản lí xã hội, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên,
bản chất của quá trình dạy học, giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lí vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường
là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
Hoạt động quản lí nhà trường là hoạt động quản lí toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách thế hệ trẻ một cách hợp lí, hợp quy luật, khoa học và hiệu quả Hiệu quả giáo dục của nhà trường phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của nhà trường, trong đó có cả lực lượng hỗ trợ là các đoàn thể trong và ngoài nhà trường Muốn có hiệu quả trong công tác
quản lí, người quản lí cần phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng đến việc cải tiến hoạt động quản lí giáo dục
Mục đích của quản lí nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo
dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục và tổ
chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có tri thức, sáng
tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội
Trọng tâm của hoạt động quản lí nhà trường là:
- Chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo hướng dẫn của các cấp quản lí giáo dục cao hơn Thực hiện đúng chương trình và phương pháp giáo dục để chất lượng giáo dục ngày một nâng cao Quản lí phải sát sao bằng các công việc như kiểm tra, thanh tra
kịp thời để uốn nắn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các hoạt động được thực hiện đúng theo kế
hoạch đề ra
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, công nhân viên và tập thể học sinh dạy tốt, học tốt; tạo
bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ
- Quản lí tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD & ĐT Quản lí cả thời
Trang 22- Quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm phục vụ tốt cho việc giảng dạy, học tập, giáo dục học sinh Thường xuyên kiểm tra, bổ sung thêm những thiết bị mới theo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục
- Quản lí nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng quy tắc tài chính của nhà nước và của ngành giáo dục, đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác
nhằm xây dựng, mua sắm thêm thiết bị phục vụ cho việc dạy và học
- Quản lí việc thi đua, khen thưởng và việc đề bạt cán bộ kế cận, nâng bậc lương cho giáo viên Các hoạt động này phải được công khai minh bạch trước hội đồng sư phạm nhà trường Luôn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ giáo viên, công nhân viên
Phải tạo một phong trào thi đua liên tục trong nhà trường để đạt được mục tiêu giáo dục đã
đề ra
Tóm l ại, quản lí nhà trường là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch,
h ợp quy luật của chủ thể quản lí trường học đến các hoạt động giáo dục trong Nhà trường
nh ằm đảm bảo cho Nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng,
th ực hiện được mục tiêu giáo dục của Nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt nam mà tiêu điểm
h ội tụ là mục tiêu của hoạt động dạy học – giáo dục thế hệ trẻ
1.2.2 Q uản lí trường mầm non
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân Trường đảm nhận việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhằm giúp trẻ hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1[1]
Quản lí trường mầm non là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ thể quản lí trường mầm non đến các hoạt động giáo dục trong Nhà trường mầm non nhằm đảm bảo cho quá trình giáo dục của Nhà trường mầm non vận hành đúng mục tiêu của nhà trường Quản lí trường mầm non phải thông qua các chức năng quản
lí để tác động đến các thành tố của trường mầm non nhằm làm cho hoạt động giáo dục của trường mầm non luôn đúng với mục tiêu và đạt hiệu quả cao
1.2.3 Quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
Trong các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình trong quá trình giáo dục học sinh, các tác giả đã sử dụng nhiều khái niệm như: “hợp tác”, “kết hợp”,
“thống nhất”, “liên kết”, “phối hợp”… Các từ này được từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn
Ngữ học (2010) định nghĩa:
Trang 23- Hợp tác: là chung sức, trợ giúp, qua lại với nhau
- Kết hợp: là gắn chặt với nhau để bổ sung cho nhau
- Thống nhất: là hợp lại thành một khối
- Liên kết: là kết hợp nhiều thành phần, nhiều tổ chức để thực hiện
- Phối hợp: là cùng hành động, hoạt động hỗ trợ lẫn nhau [37]
Các khái niệm trên có nghĩa gần giống với nhau Tuy nhiên khái niệm “phối hợp”
phản ánh một cách bản chất về tính thống nhất, chặt chẽ, liên tục, toàn vẹn của quá trình giáo dục Phối hợp là sự liên kết giữa những người hay nhóm người hoặc những tổ chức lại
với nhau nhằm tiến hành một hoạt động để đạt được mục đích nào đó Phối hợp nhằm tạo ra
sức mạnh và sự gắn kết giữa các thành viên với nhau nhằm giải quyết một vấn đề mà đòi hỏi sự
kết hợp từ nhiều nguồn lực khác với nhau
Ph ối hợp trong giáo dục là quá trình liên kết các lực lượng, các đơn vị hay các cá nhân
lại với nhau cùng tiến hành các hoạt động để đạt được mục tiêu giáo dục
Ho ạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là nhà trường và gia đình cùng nhau
thực hiện theo một kế hoạch chung để đạt được mục đích chung đã đề ra
Qu ản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình (một trong những nội dung
quản lí nhà trường của nhà quản lí) là những tác động có ý thức của nhà quản lí nhằm định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quá trình giáo dục học sinh đảm bảo nguyên lí giáo dục, phương pháp giáo dục, đảm
bảo nguyên tắc quản lí giáo dục làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao Đó
là việc lập kế hoạch; tổ chức, điều khiển và kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình trong quá trình giáo dục học sinh
1.3 H oạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non
1.3.1 Vai trò của nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục ở trường mầm non
1.3.1.1 Vai trò, nhi ệm vụ của nhà trường mầm non
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nên bậc mầm non cũng có mục tiêu giáo dục chung như các bậc học khác Mục tiêu đó được quy định ở điều 22 (chương 2, Luật giáo
dục, 4/6/2005), thể hiện rõ sự quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về giáo dục, thể hiện rõ tính định hướng, Xã hội Chủ nghĩa đối với phát triển giáo dục: “Đào
Trang 24giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”
Để đảm bảo cho sự nghiệp giáo dục phát triển đòi hỏi nhà trường các cấp phải hoạt động đúng mục tiêu và nguyên lí giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”; tăng cường hiệu lực quản lí của Nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; thực hiện mục tiêu lớn
của đất nước: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Nhà trường là nơi đề ra nội dung, biện pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp
với gia đình và các lực lượng khác trong xã hội để cùng giáo dục học sinh Môi trường giáo
dục của nhà trường trong chừng mực nhất định tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách
Trong điều lệ trường mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã quy định rõ trường mầm non là đơn vị cơ sở của giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ nuôi dưỡng và giáo
dục trẻ đúng độ tuổi, quản lí cơ sở vật chất của nhà trường và kết hợp với xã hội (phụ huynh, các ngành, đoàn thể…) để thực hiện tốt giáo dục trẻ theo khoa học Cũng như các
bậc học khác, giáo dục mầm non luôn có mục đích phát triển con người toàn diện Ở tuổi
mầm non, trẻ non nớt cả về thể chất và tinh thần, phụ thuộc chủ yếu vào người lớn, nhưng ở giai đoạn này, trẻ lại phát triển nhanh nhất, mạnh nhất Nếu được giáo dục tốt ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời này sẽ là nền tảng tốt cho các giai đoạn tiếp theo Câu ca dao: “ Uốn cây từ thuở còn non – Dạy con từ thuở con còn thơ ngây” đã thể hiện được vai trò của giáo
dục cho lứa tuổi mầm non
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối
đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc
học tập suốt đời
Nhiệm vụ trường mầm non:
- Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Trang 25- Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật
- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật
- Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn
- Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em
- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động
xã hội trong cộng đồng
- Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [1]
1.3.1.2 Vai trò , đặc điểm của gia đình
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (2010) thì “Gia đình là một tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [37]
• V ị trí, vai trò của gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội hết sức quan trọng, một đơn vị kinh tế, một đơn vị cơ
sở, một xã hội thu nhỏ đồng thời là một nhóm tâm lí đặc thù Gia đình chứa đựng tất cả các quan hệ của xã hội và thực hiện tất cả các chức năng cần thiết cho sự tồn tại, vận động và
biến đổi xã hội Gia đình là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, sự hoàn thiện
của mỗi cá nhân thông qua việc thực hiện các chức năng, trong đó chức năng quan trọng là chăm sóc, giáo dục con cái Thực hiện tốt chức năng chăm sóc, giáo dục con cái không chỉ đem lại thành quả cho chính gia đình mà còn góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục của đất nước, sự tồn tại và phát triển của xã hội Các nhà nghiên cứu thường quan niệm gia đình là
tế bào của xã hội, nơi chứa đựng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cái nôi của giáo dục nhân cách con người, tính người và tình người, giáo dục hành vi ứng xử văn hóa con người
• Đặc điểm của gia đình
Trang 26Đối với giáo dục, gia đình vừa là môi trường xã hội hóa vừa là thiết chế trực tiếp thỏa mãn nhu cầu học tập của trẻ Chưa đến tuổi đi học, trẻ được gia đình trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục Đến tuổi đi học, trẻ được nhận sự giáo dục ít nhất từ ba phía: nhà trường, gia đình và xã hội Đối với trẻ mầm non, việc tiếp nhận giáo dục từ xã hội chưa nhiều, giáo dục nhà trường và gia đình vẫn là chủ yếu
Giống như nhà trường, giáo dục gia đình có đặc trưng là giáo dục của cha mẹ với con cái nhằm hình thành năng lực, phẩm chất nhân cách Nhưng quá trình giáo dục gia đình có
thể thường xuyên, liên tục, được tổ chức một cách khoa học hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm, trình độ hiểu biết, khả năng, kinh nghiệm, hoàn cảnh, … của gia đình Giáo dục gia đình là cơ sở giáo dục đầu tiên, lâu dài và toàn diện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh của từng lứa tuổi
Giáo dục gia đình mang tính cá biệt rõ rệt, dựa trên cơ sở của cuộc sống tự nhiên, cởi
mở trong gia đình Mỗi cá nhân thường sống lâu dài trong gia đình nên rất thuận lợi cho
việc giáo dục của gia đình đối với cá nhân đó Gia đình giáo dục con em mình từ mọi khía
cạnh của cuộc sống và trong các mối quan hệ vô cùng phong phú Cơ sở vật chất, trình độ văn hóa, sự hiểu biết của cha mẹ, nề nếp, truyền thống của gia đình, quan hệ ông bà, cha mẹ
và con cái,… có tác động lớn đến quá trình học tập của con cái Trẻ sống với gia đình từ ấu thơ đến khi trưởng thành, tiếp thu những hành vi, ứng xử của các thành viên trong gia đình
suốt một thời gian dài nên trẻ có được những tình cảm mang tính huyết thống, tính sâu sắc
Đó là phương tiện thuận lợi để gia đình giáo dục trẻ Tuy nhiên, chính tình cảm này cũng làm cho giáo dục gia đình đôi khi thiếu nghiêm khắc, thậm chí làm cho trẻ trở nên không ngoan…
Động cơ thúc đẩy cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình thực hiện nhiệm vụ giáo dục con cái không chỉ do trách nhiệm mà pháp luật đã quy định, mà còn xuất phát từ tình cảm, lòng yêu thương con em mình, luôn muốn con em mình trưởng thành nên gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất trong chừng mực có thể để con em mình được học tập và rèn luyện để trở thành người tốt, có ích cho xã hội Vì vậy giáo dục gia đình có điểm mạnh là mang tính tình cảm, xúc cảm nên có khả năng cảm hóa rất lớn
Có thể nói những đặc điểm trên là mặt mạnh của giáo dục gia đình, góp phần bổ sung
những điểm yếu của giáo dục nhà trường Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà giáo dục gia đình ở lứa tuổi mầm non còn có những hạn chế nhất định như:
- Chế độ sinh hoạt của trẻ mỗi ngày tùy tiện, không theo lịch trình cụ thể;
Trang 27- Ép trẻ ăn, uống quá nhiều hoặc không đúng cách dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng hay dư cân béo phì;
- Đề cao việc chăm sóc hơn việc rèn kĩ năng cho trẻ;
- Cách thức chăm sóc, giáo dục trẻ của cha mẹ, ông bà hay các thành viên khác trong gia đình không thống nhất;
- Nhiều gia đình tổ chức hoạt động giáo dục không thường xuyên, liên tục, nội dung giáo dục chưa toàn diện;
- Một số gia đình còn phối hợp rất ít với nhà trường trong việc giáo dục con cái, ngoài
việc đến họp phụ huynh học sinh thì việc giáo dục hầu như được “khoán trắng” cho nhà trường, ỷ lại cho nhà trường;
- Một số gia đình do thiếu hiểu biết về tâm lí lứa tuổi, kiến thức giáo dục và quá nuông chiều con cái dẫn đến những hành vi đi ngược lại với tác động giáo dục trẻ từ phía nhà trường, làm hạn chế không nhỏ đến kết quả của quá trình giáo dục nhà trường
Qua phân tích trên có thể nhận định rằng: giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình đều có mặt mạnh và mặt hạn chế Vấn đề đặt ra là làm thế nào để kế thừa, phát huy ưu điểm đồng thời khắc phục hạn chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất, tạo môi trường giáo dục lành mạnh để giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Mặt khác giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình là hai “mắt xích” quan trọng trong quá trình giáo dục, nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì không thể tạo ra “sản phẩm con người” như mong muốn
Vì vậy, nhà trường cần tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình như
thế nào để thực hiện được sự thống nhất trong nhận thức và hành động giáo dục theo cùng
một hướng, đồng tâm hợp lực, tránh sự tách rời “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, sự mâu thuẫn và vô hiệu hóa lẫn nhau, luôn thống nhất về định hướng nhưng vẫn đa dạng về hình
thức theo đúng đặc thù của mỗi loại hình giáo dục gia đình và nhà trường
Ở gia đình, trẻ tiếp thu sự giáo dục của ông bà, cha mẹ và các thành viên khác Trẻ
sống với gia đình cho đến khi trưởng thành nên trẻ tiếp thu những hành vi, ứng xử của các thành viên trong gia đình và có tình cảm mang tính huyết thống sâu sắc Đây chính là những phương tiện thuận lợi để gia đình giáo dục trẻ
Đến tuổi đi học, việc hướng dẫn trẻ thực hiện các hoạt động học tập ở nhà của gia đình
là điều kiện để giáo dục trí tuệ cho trẻ Việc giáo dục đạo đức ở gia đình luôn gắn với truyền
thống của gia đình, những nề nếp, gia phong ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn và nhân cách
Trang 28của trẻ Câu thành ngữ: “Tiên học lễ - Hậu học văn” đã phần nào cho thấy việc giáo dục đạo đức trong gia đình rất quan trọng và được thực hiện sớm nhất
Thông qua quan điểm, nhận thức về cái đẹp của các thành viên trong gia đình, trẻ cũng
cảm nhận và hình thành được kiến thức, quan niệm về thẩm mĩ Giáo dục thể chất của gia đình, thể hiện đầu tiên là chăm sóc sức khỏe cho trẻ Cha mẹ nuôi con khỏe, giúp con nhận
thức, biết giữ gìn và bảo vệ sức khỏe trong học tập và sinh hoạt để có một cơ thể khỏe mạnh
về cả thể chất và tinh thần sau này
Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, gia đình giúp trẻ chọn lựa những hoạt động, những công việc phù hợp với lứa tuổi, với khả năng của trẻ; giáo dục trẻ hiểu được ý nghĩa của công việc đang làm từ đó trẻ thấy được niềm vui, ý nghĩa của công việc và định hướng được nghề nghiệp cho tương lai mai sau
1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
Mục đích, nội dung giáo dục của nhà trường và gia đình thống nhất với nhau nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ thành những người có tài, có đức, có năng lực thực hành, năng động
và sáng tạo… thành những người chủ của tương lai đất nước Xuất phát từ tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với dân tộc mà gia đình và nhà trường phải phối hợp, liên kết chặt
chẽ với nhau để chăm sóc, giáo dục trẻ thành người có ích cho nước nhà
Quá trình phát triển và hình thành nhân cách cho trẻ lâu dài, khó khăn và phức tạp
Nếu có sự phối hợp thường xuyên, liên tục giữa nhà trường và gia đình thì sẽ tạo nên một
sức mạnh tổng hợp, tạo nên sự thống nhất và liên tục Nhà trường và gia đình là hai môi trường chính để trẻ sống, học tập và sinh hoạt nên nhà trường và gia đình phải phối hợp giáo
dục để tạo điều kiện cho trẻ được giáo dục mọi nơi, mọi lúc đồng thời nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm của cả hai phía: nhà trường và gia đình
Trên thực tiễn, ở đâu có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường thì ở đó kết
quả giáo dục sẽ tốt hơn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Giáo dục trong nhà trường chỉ
là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo
dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu
sự giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [38]
Trang 291.3.3 Mục tiêu, nội dung của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non
Mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đó là những tiêu chuẩn định hướng ban đầu mà sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần phải đạt được trong quá trình giáo dục trẻ Mục tiêu của hoạt động phối hợp là để có sự thống nhất về quan điểm giáo dục, nội dung và các biện pháp giáo dục trẻ làm cho quá trình giáo dục đạt kết quả cao
nhất, tránh được sự bất đồng dẫn đến “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong giáo dục, giúp trẻ trở thành những con người tốt, có ích cho xã hội mai sau Việc xác định đúng mục tiêu phối hợp giúp cho quá trình giáo dục giữa nhà trường và gia đình diễn ra nhịp nhàng, thường xuyên và hiệu quả Tuy nhiên, mục tiêu phối hợp cần phải phù hợp với điều kiện địa phương, mức độ nhận thức của cả nhà trường và gia đình
Nội dung của hoạt động phối hợp là những công việc cần phải thực hiện của nhà trường và gia đình trong quá trình phối hợp Đó là:
- Thành lập ban đại diện cha mẹ trẻ của trường, lớp;
- Xây dựng quy chế hoạt động của Ban đại diện cha mẹ trẻ;
- Tuyên truyền mục tiêu, nội dung chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non mới;
- Tuyên truyền bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi;
- Phổ biến mục tiêu phổ cập trẻ 5 tuổi;
- Xác định vai trò, vị trí, chức năng của gia đình trong hoạt động phối hợp với nhà trường;
- Xác định nhiệm vụ, nội dung chăm sóc, giáo dục giữa nhà trường và gia đình;
- Thống nhất phân công nhiệm vụ của nhà trường và gia đình, cùng đề ra biện pháp chăm sóc, giáo dục cho phù hợp;
- Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ đến cha mẹ trẻ;
- Thông báo kết quả chăm sóc, giáo dục của trường, lớp và từng cá nhân trẻ;
- Huy động mọi khả năng, tiềm lực vào chăm sóc, giáo dục trẻ
1.3.4 Hình thức, biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ
cần có những biện pháp bổ sung cho nhau:
Trang 30- Triển khai văn bản chỉ đạo của cấp trên như: quyết định của Nhà nước về tổ chức
Hội cha mẹ trẻ, Luật giáo dục;
- Xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
- Thống nhất nội dung hoạt động bằng biên bản họp phụ huynh với nhà trường;
- Sử dụng sổ liên lạc, gửi thư, thông báo về gia đình khi cần thiết;
- Xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn thi đua cụ thể về hoạt động phối hợp của giáo viên và cha mẹ trẻ
- Tổ chức định kì các cuộc họp với cha mẹ trẻ;
- Giáo viên chủ động gặp gỡ, trao đổi với cha mẹ trẻ vào giờ đón hoặc trả trẻ;
- Giáo viên đến nhà thăm và trao đổi trực tiếp với cha mẹ trẻ;
- Mời cha mẹ trẻ đến trường để trao đổi trực tiếp;
- Trao đổi qua thư từ, điện thoại, email, website…
- Mời cha mẹ trẻ tham gia vào các hoạt động ngoại khóa của nhà trường, các hoạt động triển khai hay kết thúc mỗi chủ đề ở các lớp;
- Tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục với cha mẹ trẻ;
- Tổ chức “câu lạc bộ gia đình” để cha mẹ trẻ gặp gỡ, trao đổi, phổ biến kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ với nhau;
- Tổ chức các buổi hội thảo, mời chuyên gia nói chuyện về tâm lí trẻ mầm non, các phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ;
- Tổ chức tư vấn về chăm sóc, giáo dục trẻ, đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng, dư cân béo phì hay trẻ tự kỉ…;
- Tổ chức bồi dưỡng kĩ năng tổ chức các hoạt động phối hợp với cha mẹ trẻ cho giáo viên
* Nhóm biện pháp động viên khích lệ
Trang 31- Kiểm tra, đánh giá thường xuyên để rút kinh nghiệm và động viên khen thưởng kịp
thời đối với những giáo viên thực hiện tốt và điều chỉnh, uốn nắn kịp thời những giáo viên chưa làm tốt công tác phối hợp với gia đình
- Tổ chức các hội thi để cha mẹ và trẻ cùng tham gia và được chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ với nhau đồng thời khích lệ cha mẹ trẻ trong hoạt động phối hợp với nhà trường
1.4 Q uản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường mầm non 1.4.1 L ập kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
Hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường
và gia đình Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lí Kế hoạch xây dựng cụ
thể, chi tiết, phù hợp với tình hình thực tế của trường sẽ giúp việc thực hiện kế hoạch dễ dàng và mang lại kết quả cao Các bước lập kế hoạch bao gồm:
- Khảo sát tình hình thực tế hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình của trường;
- Xác định mục tiêu phối hợp cụ thể, sát với điều kiện thực tế của trường;
- Xây dựng nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
- Lựa chọn các biện pháp phù hợp để tiến trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình được thực hiện dễ dàng;
- Xác định các nguồn lực để thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, nguồn kinh phí từ quỹ hội cha mẹ trẻ;
- Xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn (năm, học kì, tháng, tuần);
- Duyệt kế hoạch, chương trình hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
1.4.2 T ổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
Với kế hoạch phối hợp đã được đề ra thì hoạt động chỉ đạo, điều khiển của người hiệu trưởng là rất cần thiết trong suốt quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình Điều này giúp cho hoạt động phối hợp tiến hành thường xuyên, liên tục, đáp ứng cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ diễn ra từng ngày Tổ chức chỉ đạo gồm những công việc sau:
- Lựa chọn giáo viên có kinh nghiệm, có khả năng tham gia hoạt động phối hợp với gia đình;
Trang 32- Tổ chức, phân công nhiệm vụ phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho các thành viên trong nhà trường;
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
- Hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
- Phân bổ kinh phí cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
+ Nguồn kinh phí;
+ Kế hoạch phân bổ kinh phí cho các bộ phận;
+ Phân công người phụ trách, giám sát;
- Tổ chức các chuyên đề, thảo luận, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động phối hợp
giữa nhà trường và gia đình
1.4.3 K iểm tra- đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
Kiểm tra – đánh giá, rút kinh nghiệm hàng năm, từng học kì và những trường hợp đột
xuất nổi bật, có hiệu quả cao hay gặp khó khăn trở ngại Quản lí hoạt động phối hợp cần
nắm chắc quan hệ giữa hiệu trưởng với Hội cha mẹ trẻ; hoạt động phối hợp giữa giáo viên
với cha mẹ trẻ ở các lớp, giữa giáo viên với các bộ phận khác trong nhà trường; giữa ban giám hiệu với các cá nhân và các bộ phận khác Hiệu trưởng cần nắm được kế hoạch phối
hợp giữa giáo viên với cha mẹ trẻ của từng lớp, theo dõi các hoạt động qua báo cáo và qua
kiểm tra thực tế để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn cũng như có hình thức khen thưởng, động viên những gương điển hình Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thể hiệc qua các công việc như:
- Xác định nội dung kiểm tra hoạt động phối hợp;
- Xác định hình thức, phương pháp kiểm tra phối hợp;
- Phân công lực lượng kiểm tra hoạt động phối hợp;
- Quy định các tiêu chuẩn đánh giá hoạt động phối hợp;
- Tiến hành đánh giá kế hoạch phối hợp;
- Theo dõi, giám sát trực tiếp hoạt động phối hợp;
- Đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thông qua giáo viên, qua
nhận xét của cấp trên và các lực lượng ngoài xã hội;
- Tổng kết, rút kinh nghiệm từng giai đoạn để kịp thời điều chỉnh hoạt động phối hợp
giữa nhà trường và gia đình có hiệu quả
Trang 33Công tác tổng kết đánh giá cũng là một nội dung của quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình Đây là hoạt động của hiệu trưởng để xem lại kết quả quản lí hoạt động phối hợp của nhà trường và gia đình trẻ, hoạt động phối hợp tốt đồng nghĩa với kết
quả giáo dục của nhà trường cao, ngược lại kết quả giáo dục của nhà trường chưa cao thì
một phần là do hoạt động phối hợp chưa tốt Việc tổng kết, đánh giá, kịp thời khen thưởng
và động viên của nhà trường giúp việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ tốt hơn đồng thời cũng giúp cha mẹ trẻ nhận thức tốt hơn về quan điểm giáo dục mới và nhiệm vụ giáo dục của gia đình mà Luật giáo dục đã đề ra
1.4.4 Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
Điều kiện đảm bảo cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình phải phù hợp
với trình độ phát triển về kinh tế, văn hóa của thực tế địa phương, trình độ nhận thức của cha mẹ trẻ, thời gian thuận tiện để các thành viên trong nhà trường và gia đình gắn kết với nhau, đồng thời cần có những quy chế, quy định để các thành viên có điều kiện thực hiện tốt
hoạt động phối hợp Các điều kiện như:
• Huy động nguồn kinh phí dành cho hoạt động phối hợp;
• Bố trí thời gian hợp lí cho hoạt động phối hợp;
• Các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động phối hợp;
• Các văn bản và phương tiện phục vụ cho hoạt động phối hợp;
• Về mặt cơ chế:
- Nhà trường có vai trò chủ đạo trong quá trình phối hợp, trong đó hiệu trưởng vạch ra
kế hoạch, chịu trách nhiệm chỉ đạo mọi hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
- Giáo viên là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm thực hiện các chỉ đạo phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm kết hợp với cha mẹ trẻ để thống nhất nội dung, phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ
- Đoàn thể và các bộ phận khác trong nhà trường (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, bộ
phận y tế, cấp dưỡng…) là những bộ phận kết hợp với giáo viên dưới sự chỉ đạo thống nhất
của hiệu trưởng nhà trường
- Gia đình có vai trò chủ động thực hiện hoạt động phối hợp như:
+ Hội cha mẹ trẻ thông qua quy chế;
+ Người đại diện cho cha mẹ trẻ thống nhất với nhà trường qua kế hoạch và biện pháp
Trang 34+ Nhận thức đúng trách nhiệm phối hợp với nhà trường;
+ Có nhiệm vụ phối hợp với nhà trường để chăm sóc, giáo dục trẻ theo Luật giáo dục; + Tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức;
+ Thường xuyên gặp gỡ giáo viên chủ nhiệm để biết tình hình sức khỏe, học tập và rèn luyện của trẻ
1.4 5 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
1.4.5.1 Y ếu tố nhà trường
Một số yếu tố từ phía nhà trường có ảnh hưởng tạo sự thuận lợi hay làm hạn chế hiệu
quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục trẻ
• Yếu tố thuận lợi:
- Sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường đối với hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
- Vai trò chủ đạo của nhà trường trong hoạt động phối hợp với gia đình;
- Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đáp ứng cho hoạt động phối hợp;
- Môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục của nhà trường đảm bảo;
- Có chính sách xã hội đối với những gia đình khó khăn
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục chưa
phục vụ tốt cho hoạt động phối hợp;
- Nội dung và phân bố kế hoạch chưa đi vào chiều sâu;
- Việc quản lí hoạt động phối hợp của từng bộ phận chưa đồng bộ;
- Quy chế phối hợp và các văn bản hướng dẫn hoạt động phối hợp chưa rõ ràng;
- Việc hỗ trợ tư vấn cho cha mẹ trẻ chưa thường xuyên
1.4.5.2 Y ếu tố gia đình
Trang 35Một số yếu tố từ phía nhà trường có ảnh hưởng tạo sự thuận lợi hay làm hạn chế hiệu
quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ
• Yếu tố thuận lợi
- Có sự đầu tư từ phía gia đình cho hoạt động phối hợp;
- Cha mẹ trẻ có trình độ, có kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ;
- Lượng thông tin về chăm sóc, giáo dục trẻ đến được với gia đình qua nhiều kênh như: ti vi, sách báo, internet…;
- Đa số các gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con nên điều kiện chăm sóc tốt
• Yếu tố khó khăn
- Nhận thức của gia đình về sự cần thiết phải phối hợp với nhà trường trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ chưa cao;
- Cách thức chăm sóc, giáo dục trẻ trong gia đình khác với cách thức chăm sóc giáo
dục trẻ ở nhà trường gây khó khăn cho giáo viên trong việc rèn kĩ năng cho trẻ;
- Quan niệm trẻ chỉ cần được chăm sóc tốt vẫn còn tồn tại ở một số gia đình;
- Một số cha mẹ trẻ còn “khoán trắng” mọi việc cho nhà trường;
- Mối quan hệ giữa cha mẹ trẻ và giáo viên trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường
và gia đình chưa tốt;
- Mức độ phối hợp giữa cha mẹ trẻ với nhà trường chưa cao
1.4 5.3 Lãnh đạo ngành và địa phương
• Yếu tố thuận lợi
- Đảng và ngành giáo dục vạch rõ chủ chương, mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình;
- Có sự quan tâm của Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương đối với
hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
• Yếu tố khó khăn
- Kinh phí dành cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn hạn chế;
- Hoạt động phối hợp giữa địa phương, gia đình và nhà trường còn hình thức, chưa đồng bộ, chưa có chiều sâu
Trang 36Ở lứa tuổi mầm non, cơ thể trẻ phát triển nhanh chóng và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chính vì vậy trẻ cần có sự chăm sóc, giáo dục ở cả nhà trường, gia đình
và xã hội Để thực hiện tốt vai trò của nhà trường trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ,
người cán bộ quản lí ở trường mầm non cần có kế hoạch cụ thể, rõ ràng để tổ chức có hiệu
quả các hoạt động trong nhà trường, trong đó hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình rất quan trọng và cần thiết Để làm tốt công tác này, người cán bộ quản lí cần thực hiện đầy đủ các chức năng quản lí giáo dục: xây dựng kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Trong các chức năng này thì chức năng xây dựng kế hoạch là quan trọng và cần thiết vì đây là hoạt động sáng tạo, là phương hướng giúp người quản lí
giải quyết vấn đề thống nhất mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường và gia đình Từ đó, người quản lí chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá được việc thực
hiện kế hoạch để kịp thời điều chỉnh hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình diễn ra đúng hướng và đáp ứng được mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM
NON QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tổng quan Giáo dục mầm non ở Quận 3 Tp.HCM
2.1 1 Một số đặc điểm giáo dục tại Quận 3 Tp.HCM
Với vị trí nằm ở trung tâm thành phố, diện tích 4,9 km² có địa giới hành chánh: phía Bắc giáp quận Phú Nhuận và quận Tân Bình, phía Đông và phía Nam giáp quận 1, phía Tây giáp quận 10 Dân số Quận 3 hiện nay khoảng 200 ngàn người, mật độ dân số 40.000 người/km² Dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao, khoảng 75% dân
Từ một quận hành chánh cư trú, từ 1975 đến nay Quận 3 cùng với thành phố đã tập trung phát triển kinh tế trên cả lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực thương mại dịch vụ, trở thành một quận tự cân đối ngân sách và đóng góp cho ngân sách thành phố
Về giáo dục, mạng lưới giáo dục tính đến năm học 2011-2012, Quận 3 có 42 cơ sở giáo dục mầm non (cả công lập, tư thục và dân lập), 20 trường tiểu học, 14 trường phổ thông trung học cơ sở với tổng số học sinh là 43 693 học sinh Qua các kỳ thi hết cấp, tỷ lệ học sinh luôn đạt trên 95% Nhiều trường trên địa bàn quận trở thành những trường điểm của thành phố; được nhận những phần thưởng cao qúy của Nhà nước
Riêng bậc mầm non đã được chủ tịch nước khen tặng Huân chương Lao động Hạng 3 (số 777 – KT HĐNN ngày 16/11/1985) vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong việc tổ chức chăm sóc nuôi dạy trẻ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc; Chủ
tịch Ủy ban Nhân dân Quận 3 tặng giấy khen (25/8/2000) đạt thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 1999-2000; Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong chỉ đạo và thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm của ngành giáo dục mầm non năm học 2004 – 2005 (số 48/QĐ/GD-ĐT ngày 9/8/2010) và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2010-2011 (số 1072/QĐ/GD-ĐT-VP ngày 15/8/2011)
Ngoài ra, trong mỗi năm học, rất nhiều cá nhân và tập thể được nhận huân, huy chương và bằng khen của các cấp do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học, nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ và các công tác phong trào
Trang 382.1.2 Quy mô, cơ cấu
Trong những năm học gần đây, bậc học mầm non liên tục phát triển mạnh cả về quy
[Ngu ồn: Phòng GD & ĐT Quận 3]
Năm học 2012-2013 số cán bộ quản lí giảm đi 2 người so với năm học 2011-2012 nhưng số giáo viên lại tăng thêm 27 người 100% số cán bộ quản lí và giáo viên mầm non của quận đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, trong đó tỉ lệ trên chuẩn đạt 81,2% (năm học 2011-2012) và 77,8% (năm học 2011-2012)
2.1.3 Chất lượng giáo dục
2.1.3.1 Ph ổ cập giáo dục
Tri ển khai thực hiện quyết định số 239/QĐ-TTg và quyết định số 565/QĐ-UBND về
ph ổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015 Tập trung chỉ đạo thực
hi ện việc tăng số trẻ 5 tuổi học 2 buổi/ngày tại quận
- Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Sở Giáo dục và Đào tạo về công tác
phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, Quận 3 đã ban hành Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 27/7/2011 về “Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi trên địa bàn Quận 3”
Trang 39Ủy ban nhân dân quận đã kiện toàn và ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo Phổ cập giáo dục
của Quận, phối hợp với các ban ngành, đoàn thể vận động trẻ 5 tuổi ra lớp
- Phối hợp với công ty Gia Định tổ chức tập huấn cách sử dụng và tiến hành cài đặt
phần mềm báo cáo phổ cập giáo dục cho tất cả các trường mầm non và 14 phường trong
quận
- Thực hiện nghiêm túc thông tư TT29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC (15/11/2010) về hỗ trợ
tiền ăn trưa cho trẻ em 5 tuổi nghèo, khó khăn: đợt 1 có 16 trẻ, đợt 2 có 12 trẻ, trẻ thuộc
diện chính sách được miễn giảm học phí theo nghị định 49/2010-NĐ-CP (14/5/2010)
- Cải tạo trường lớp, bổ sung trang thiết bị, cung ứng đầy đủ giáo viên, đảm bảo điều
kiện học tập và thu hút trẻ 5 tuổi ra lớp theo yêu cầu
- Quận đã lập kế hoạch triển khai tiến độ công tác phổ cập giáo dục, kiểm tra thí điểm
tại Phường 7 vào ngày 23/5/2012, kiểm tra việc thực hiện hồ sơ sổ sách 14 phường từ ngày
11 đến 20/7/2012, kết quả : tính đến tháng 8/2012, Quận 3 đã có 2204/2214 trẻ 5 tuổi ra lớp (tỉ lệ 99,54%); số trẻ đi học 2183/2204 (đạt tỉ lệ 99,05%)
2.1.3.2 Nâng cao ch ất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non
- Quận đã triển khai sử dụng và đưa vào kế hoạch giảng dạy việc vận dụng các chỉ số phát triển trẻ theo yêu cầu của Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi Tăng cường tuyên truyền đến
phụ huynh nhằm giúp phụ huynh hiểu rõ và cùng phối hợp thực hiện
- Bồi dưỡng cách lập kế hoạch giáo dục theo yêu cầu của chương trình cho giáo viên, chú trọng đưa vào chương trình đầy đủ 100% kỹ năng Quan tâm đến việc lồng ghép giáo
dục kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với từng độ tuổi của trẻ
- Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thông qua việc tổ chức các chuyên đề:
+ Xây dựng môi trường thân thiện để nâng cao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần cho trẻ
+ Hoạt động bảo vệ môi trường hướng tới sử dụng tiết kiệm nước và năng lượng, tái
sử dụng nguyên liệu thải
+ Đánh giá tổ chức hoạt động vui chơi trong trường mầm non
+ Tổ chức giờ tâm vận động, kết hợp làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ khuyết tật học hòa
nhập
+ Làm quen với chữ viết
Trang 40+ Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và quản lí chương trình giáo dục mầm non Giới thiệu những bài tập dạy trẻ các kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp xã hội thông thường
+ Giáo dục kĩ năng xã hội: tham quan – lao động cho trẻ
+ Giáo dục tình cảm xã hội thông qua các hoạt động
2.1.3.3 Đảm bảo chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và an toàn cho trẻ
• Tiếp tục thực hiện nâng cao chất lượng chuyên đề “Đổi mới tổ chức bữa ăn” để đổi
mới hoạt động chăm sóc Chú trọng đến trang bị đồ dùng đa dạng về mẫu mã, chất liệu, kiểu dáng; phong phú hình thức tổ chức bữa ăn và thay đổi cách chế biến món ăn của trẻ; chú
trọng giáo dục dinh dưỡng, kĩ năng sử dụng đồ dùng ăn uống, kĩ năng tự phục vụ, giáo dục văn hoá ăn uống cho trẻ phù hợp từng độ tuổi thông qua giờ học, giờ ăn, các giờ sinh hoạt
• Tăng cường kiểm tra, giám sát bếp ăn, quản lí chất lượng bữa ăn của trẻ, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
- Các trường mầm non thực hiện kí hợp đồng cung cấp thực phẩm sạch, an toàn với các công ty có tư cách pháp nhân, thực hiện nghiêm túc quy trình bếp một chiều, quy trình
chế biến, phân phối, vận chuyển thức ăn và tổ chức bàn ăn vệ sinh, an toàn, đảm bảo chuỗi
thức ăn an toàn từ nguồn nguyên liệu tới bàn ăn, nguồn nước vệ sinh, phục vụ sinh hoạt và
ăn uống cho trẻ
- Phối hợp với Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm tổ chức cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên các trường mầm non tham gia lớp tập huấn kiến thức an toàn vệ sinh thực phẩm
do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (Unicef) tài trợ: Có 55/61 CB, GV tham gia tập huấn được
cấp giấy chứng nhận
• Kết quả nuôi dưỡng
B ảng 2.2 Kết quả nuôi dưỡng năm học 2011 – 2012