Gi ả thuyết khoa học Trong công tác quản lý học tập của học sinh ở một số trường THPT ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh có thể đã đạt được kết quả cao về các nội dung quản lý như
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Đức Quang
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP Ở CÁC TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Đức Quang
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP Ở CÁC TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TP.HCM
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ ĐỨC ÁNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ và những tình cảm thân thương của quý thầy cô, bạn bè, gia đình, đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Khoa Tâm lý-Giáo dục trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi tận tình, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin tri ân quý thầy cô tận tình giảng dạy, truyền đạt và chỉ dẫn cho tôi nhiều tri thức, kinh nghiệm quý giá
Xin được bày tỏ lòng biết ơn cách đặc biệt đến Tiến sĩ Lê Đức Ánh, người thầy đã dẫn
dắt, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Xin cảm ơn những kiến thức, những tài liệu và thời gian thầy đã dành cho tôi
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô và các em học sinh thân yêu của
một số trường THPT tại TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi và cùng cộng tác để thực hiện
luận văn nghiên cứu này
Xin cảm ơn các anh chị học viên lớp cao học Quản lý giáo dục K22 đã quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học
TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013 Tác giả: Nguyễn Đức Quang
Trang 4M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 M ục đích 7
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 7
4 Gi ả thuyết khoa học 8
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 8
6 Ph ạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 C ấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌCTẬP TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TP.HCM 11
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Ở nước ngoài 11
1.1.2 Ở Việt Nam 13
1.2 M ột số khái niệm cơ bản 15
1.2.1 Hoạt động dạy học 15
1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạyhọc và quản lý hoạt động học 22
1.3 Ho ạt động học tập của học sinh trường THPT ngoài công lập 25
1.3.1 Đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý, nhân cách của học sinh THPT 26
1.3.2 Đặc điểm hoạt động học tập ở trường THPT 28
1.4 Công tác qu ản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT 30
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động học tập của học sinh 31
1.4.2 Các chức năng quản lý hoạt động học tập 34
1.5 Các y ếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập của học sinh trườngTHPT ngoài công l ập 36
1.5.1 Cơ chế quản lý hoạt động học tập 36
1.5.2 Ảnh hưởng của mục tiêu, nhiệm vụ học tập 37
1.5.3 Ảnh hưởng của chương trình, nội dung sách giáo khoa 37
1.5.4 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học 38
Trang 51.5.5 Ảnh hưởng của phương tiện, cơ sở vất chất, thiết bị dạy học 38
1.5.6 Ảnh hưởng của kiểm tra, đánh giá 39
1.5.7 Các yếu tố khácảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập của học sinh 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TP.HCM 41
2.1 Th ực trạngphát triển của các trường THPT ngoàicông lập tại thành phố Hồ Chí Minh 41
2.1.1.Thực trạng phát triển các trường THPT ngoài công lập 41
2.1.2 Thực trạng về cơ sở vật chất của các trường THPT ngoài công lập 41
2.1.3 Thực trạng một số trường có yếu tố nước ngoài 43
2.1.4 Giới thiệu về 3 trường THPT ngoài công lập là đối tượng khảo sát thực trạng 45
2.1.5 Một số kết quả giáo dục THPT ngoài công lập 47
2.2 T ổ chức nghiên cứu thực trạng 48
2.3 Th ực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinhở một số trường THPT ngoài công l ập tại TP.HCM 53
2.3.1 Thực trạng việc quản lý thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ học tập của học sinh 53
2.3.2 Thực trạng việc quản lý thực hiện nội dung học tập của học sinh 61
2.3.3 Thực trạng việc quản lý phương pháp, phương tiện học tập của học sinh 64
2.3.4 Thực trạng thực hiện việc quản lý hình thức tổ chức, thời gian học tập của học sinh 67
2.3.5 Thực trạng thực hiện việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.69 2.3.6 Tổng quát thực trạngquản lý 71
2.4 Nguyên nhân c ủa thực trạng công tác quản lý hoạtđộng học tập của học sinh m ột số trường THPT ngoàicông lập tại TP.HCM 75
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 78
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 78
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh ởmột số trường THPT ngoài công lập tại TP.HCM 79
2.5.1 Mặt mạnh 79
2.5.2 Mặt yếu 79
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA H ỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TP.HCM 81 3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 81
3.1.1 Cơ sở lý luận 81
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 81
3.2 Nguyên t ắc đề xuất các biện pháp 81
Trang 63.2.1 Đảm bảo tính hệ thống- cấu trúc 82
3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn 83
3.2.3 Đảm bảo tính lịch sử 83
3.3 M ột số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học tập của h ọc sinh trường THPT ngoài công lập 84
3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinhvề hoạt động học tậptrong trường THPT ngoài công lập 84
3.3.2 Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng quản lý các nội dung hoạt động học vàcác điều kiện bảo đảm chất lượng hoạt động học trong nhà trường 86
3.3.3 Biện pháp3: Nâng cao chất lượng quản lý quá trình giảng dạy của giáo viên 89
3.3.4 Biện pháp 4: Tự quản lý nâng cao chất lượng hoạt động học tập của học sinh 91
3.4 K ết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thicủa các biện pháp 91
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Trang 7DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TTBM : Tổ trưởng bộ môn
CBQL : Cán bộ quản lý
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
GVBM : Giáo viên bộ môn
BGH : Ban giám hiệu
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Mục tiêu chiến lược Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đặt ra:“Trong vòng
20 năm tới, phấn đấu xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội học tập, có khả năng hội nhập quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệmcông dân, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội” [44]
Cùng với việc củng cố các tổ chức công lập, Nhà nước luôn có chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lãnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Ưu tiên phát triển rộng rãi các cơ sở ngoài công lập phù hợp với qui hoạch của nhà nước trong nhiều lãnh vực, đặc biệt trong lãnh vực giáo dục Các hình thức ngoài công lập có thể là dân lập và tư thục Theo chủ trương xã hội hóa giáo dục, cần phát triển các loại hình trường ngoài công lập về cả số lượng và chất lượng
Chúng ta đang cố gắng tiến hành đổi mới giáo dục trung học một cách toàn diện Từ đổi mới nội dung, phương pháp đến hình thức tổ chức quản lý, phương tiện, cơ sở vật chất đáp ứng việc dạy và học,… và đã đạt được một số thành tựu như: Chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trung học phổ thông (THPT) có chuyển biến tốt Đã xây dựng và phát triển thêm nhiều trường ngoài công lập với sự đa dạng nhiều loại hình như trường chất lượng cao, trường song ngữ, trường có nội trú, bán trú, trường THPT quốc tế… Bên cạnh đó chương trình, sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất từng bước được cải thiện
Tuy nhiên, những thành quả đạt được trong những năm qua vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của thực tế giáo dục nói chung và giáo dục ở cấp THPT nói riêng
Những hạn chế phát triển ở nhiều trường THPT hiện nay cho thấy có nguyên nhân
do việc tổ chức giáo dục học sinh, đặc biệt quản lý hoạt động học tập Việc quản lý học tập chặt chẽ, khoa học giúp học sinh tiến bộ nhiều, học sinh khá sẽ thành học sinh giỏi, học sinh yếu mất căn bản tìm được hứng thú trong học tập, gắn bó lại với thầy cô, bạn bè, trường lớp
Trang 9Gia đình, nhà trường và xã hội đều mong muốn học sinh phát triển toàn diện về nhân cách cụ thể là chất lượng học tập Thực trạng hiện nay, những người tổ chức, quản lý hoạt động học còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng, chưa tìm được biện pháp tốt nhất, đôi khi giáo dục còn nhồi nhét thiếu khoa học đưa lại kết quả không cao thậm chí còn phản tác dụng
Quản lý hoạt động học ở trường THPT nói chung, THPT ngoài công lập nói riêng là khâu đặc biệt quan trọng, nó trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh Việc quản lý hoạt động học trong nhà trường có mối liên hệ chặt chẽ với việc quản lý hoạt động dạy, quản lý cơ sở vật chất, quản lý đội ngũ giáo viên, nhân viên Nếu quản lý hoạt động học được tốt thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả học tập và từ đó nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường
Để các trường ngoài công lập phát triển mạnh và đúng hướng rất cần có những cơ chế, chính sách phù hợp Từ đó, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa trường công lập và ngoài công lập
Con đường duy nhất để cạnh tranh và tồn tại của các trường ngoài công lập hiện nay
là nâng cao chất lượng dạy và học , trong đó công tác quản lý hoạt động học rất quan trọng, cần được quan tâm
Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và tìm biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý học tập của học sinh là vấn đề cấp thiết, đặc biệt với học sinh THPT ngoài công lập với đặc thù riêng của trường Nhà trường có biện pháp quản lý học tập phù hợp, hiệu quả sẽ làm tăng chất lượng học tập, giáo dục góp phần đào tạo nhân lực có đủ khả năng đáp ứng cho công cuộc đổi mới đất nước
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài « Thực trạng quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT ngoài công lập tại TP.HCM"
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu : Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT ngoài công
lập
Trang 103.2 Đối tượng nghiên cứu : Thực trạng quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT
ngoài công lập tại TP.HCM
4 Gi ả thuyết khoa học
Trong công tác quản lý học tập của học sinh ở một số trường THPT ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh có thể đã đạt được kết quả cao về các nội dung quản lý như : Quản lý thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ học tập của học sinh, quản lý hình thức tổ chức, thời gian học tập của học sinh, quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế ở các nội dung quản lý như : Quản lý thực hiện nội dung học tập của học sinh, quản lý thực hiện phương pháp, phương tiện học tập của học sinh
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của học sinh ở trường THPT ngoài công lập, làm sáng tỏ khái niệm, thuật ngữ liên quan đến quản lý hoạt đông học tập
- Khảo sát thực trạng về công tác quản lý hoạt động học ở một số trường THPT ngoài công lập ở TP.HCM
- Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên
- Đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý hoạt động học tập ở trường THPT ngoài công lập tại TP.HCM có hiêu quả hơn
6 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh hiện nay ở 3 trường THPT ngoài công lập tại TP.HCM : Trường THCS,THPT Phan Châu
Trinh, Trường THPT Phú Lâm, Trường THPT Đào Duy Anh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận
7.1.1.Quan điểm hệ thống -cấu trúc :Quan điểm này được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài
Việc tiếp cận quan điểm hệ thống- cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên
hệ chặt chẽ giữa công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh với các hoạt động khác
của nhà trường THPT hiện nay, cũng như xem xét công tác quản lý nhà trường là một hệ
Trang 11thống trong đó công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh là một hệ thống con với các
yếu tố hợp thành như :Quản lý thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung học tập, quản lý thực
hiện phương pháp, phương tiện học tập, hình thức tổ chức, thời gian học tập, quản lý việc
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Từ đó giúp người nghiên cứu tìm hiểu
chính xác hơn thực trạng của vấn đề nghiên cứu
7.1.2 Quan điểm lịch sử - lôgic:Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định lịch
sử nghiên cứu của vấn đề, sự vận động và phát triển của vấn đề trong phạm vi không gian, thời gian, điều kiện hoàn cảnh cụ thể, nhằm điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lôgic
7.1.3 Quan điểm thực tiễn:Quan điểm này giúp người nghiên cứu phát hiện những
mâu thuẫn, mặt mạnh, mặt yếu cũng như những nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý
hoạt động học tập của học sinh một số trường THPT ngoài công lập hiện nay Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động học tập phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý hoạt động dạy học trong trường THPT ngoài công lập ở TP.HCM
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1.- Nhó m phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận phục vụ cho vấn đề nghiên cứu
đề tài như: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động học
Phân loại, hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan đến công tác quản lý hoạt động học, đặc biệt trong các trường THPT
7.2.2.- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng các phiếu trưng cầu ý kiến đối với CBQL, GV và HS ở một số trường THPT ngoài công lập về thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Mục đích điều tra: Thu thập số liệu về thực trạng công tác quản lý hoạt đông học nói chung, đặc biệt là công tác quản lý hoạt đông học tại các trường THPT ngoài công lập ở TP.HCM nhằm chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu khoa học
- Nội dung điều tra: Thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập tại một số trường THPT ngoài công lập ở TP.HCM theo các nội dung quản lý hoạt đông học tập: Quản lý việc
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ học tập, quản lý nội dung học tập, quản lý phương pháp, phương tiện học tập, quản lý hình thức, thời gian học tập, quản lý việc kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập
Trang 127.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Thực hiện phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giáo viên nhằm thu thập ý kiến, các
nhận định về công tác quản lý hoạt động học, làm cơ sở chứng minh giả thiết nghiên cứu
7.2.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát một số phiên họp của CBQLvà GV, sinh hoạt tổ chuyên môn, một số tiết
dạy, tiết sinh hoạt chủ nhiệm nhằm đánh giá hoạt động học tại các trường
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Trong phương pháp này sử dụng phần mềm SPSS for windows, phiên bản 17.0 để xử
lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu
8 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận; Cấu trúc luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập ở một số trường THPT ngoài công lập
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập ở một số trường THPT ngoài công lập tại TP.HCM
C hương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh ở một số trường THPT ngoài công lập tại TP.HCM
Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 13C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
H ỌCTẬP TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TP.HCM 1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Hoạt động giáo dục luôn là vấn đề đuợc phần lớn các quốc gia ưu tiên, với mục đích
là truyền lại cho thế hệ sau những kiến thức, kinh nghiệm của người đi trước nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng góp phần vào việc xây dựng đất nước Trong nhà trường, hoạt động đặc trưng nhất là hoạt động dạy học, bao gồm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh
Theo dòng phát triển của lịch sử, có giai đoạn các nhà nghiên cứu chú trọng xây dựng
nội dung dạy học, có giai đoạn chú trọng cải tiến, nâng cao chất lượng soạn giáo án hoặc nâng cao chất lượng tổ chức phối hợp hoạt động dạy học trên lớp, có giai đoạn hướng vào nâng cao chất lượng tự học, phân hóa dạy học, tăng cường hoạt động của người học hoặc
cải tiến phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá, Nói chung, các công trình nghiên cứu đều hướng vào người học mục đích là nâng cao chất lượng hoạt động học[14, tr.3] Việc học luôn được coi là đức tính tốt của con người nên suốt quá trình lịch sử, hoạt động học tập luôn được các nhà triết học, nhà giáo dục, các nhà khoa học, nhà quản lý hướng tới và có quan tâm đặc biệt
- Quản Trọng (725-645 TCN) là người có đức nhân, trọn cuộc đời dành cho sự nghiệp giáo dục: “ Kế hoạch trọn đời chẳng gì bằng trồng người Chung thân chi kế mạc như thu nhân”
- Khổng tử (551- 479 TCN) là bậc hiền tài, ông đề cao vai trò của học sinh, rất coi
trọng tính tích cực nhận thức của người học, đó là chìa khóa dẫn đến thành công Người
thầy ở vị trí khai mở, hướng dẫn, còn mọi vấn đề do người học tìm ra:
- Socrate (469- 399), ông là triết gia người Hy Lạp, ông quy tụ được thanh niên và
dạy học bằng phương pháp đàm thoại, nâng cao vai trò của hoạt động học qua trao đổi, góp
ý “ Tôi biết tôi không biết gì cả” [53, tr.25], ông cho thấy việc học là vô cùng, liên tục và kéo dài Sự nhận thức của con người qua việc nhận ra, hiểu biết và ý thức đều cho thấy rằng còn ngườicòn thiếu hiểu biết
- Nhà sư phạm vĩ đại J.A.Comenxki (1592-1670), người sáng lập ra hình thức tổ
chức dạy - học lớp bài, đặt nền móng và chính thức tách Giáo dục học ra khỏi Triết học để
Trang 14trở thành một ngành khoa học riêng biệt, khi bàn về vấn đề học đã đưa ra những yêu cầu cải
tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học Theo ông, dạy học phải làm như thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản
chất của sự vật và hiện tượng.[48]
- John Dewey (1859-1925) là nhà sư phạm người Mỹ, ông góp phần lớn vào việc canh tân giáo dục, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn để
bổ sung vào kiến thức của học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên Ông đặc biệt chú ý đến hoạt động học khi viết: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh [47]
- Theo dòng lịch sử những tư tưởng của các bậc cha anh về hoạt động học trong mối tương quan chặt chẽ với hoạt động dạy vẫn còn giá trị, là cơ sở vững chắc cho sự phát triển
của nền giáo dục hiện đại, tạo hướng đi đúng khi nghiên cứu hoạt động học của người học Các nhà giáo dục đương thời cũng đi sâu nghiên cứu cách thức để nâng cao hiệu quả, chất lượng người học dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên trong quá trình dạy học Một số nhà giáo dục khi nghiên cứu hoạt động học của học sinh, đặc biệt quan tâm đến việc tự học, đây là chìa khóa dẫn đến thành công, giúp hình thành việc học tập suốt đời sau này
- H.A Rubakin khi bàn về hoạt động học đã viết trong cuốn “Tự học như thế nào”:
sẽ có hứng thú với việc học khi nó mang lại một cái gì mới mẻ, thiết thực cho cuộc sống của
bạn; phải tin vào sức mạnh và khả năng của mình và phải nỗ lực hết khả năng để học một cách thường xuyên và có hệ thống
- M.U.Piskunov và X.G.Luconhin, các tác giả rất coi trọng phương pháp đọc sách, coi đó là phương pháp quan trọng nhất của hoạt động tự học đã chỉ ra những phương pháp
học cần thiết đảm bảo cho người học đạt kết quả cao
- Đọc sách là một trong các hoạt động học, được các tác giả L.P.Doborop bàn đến trong tác phẩm “Những khía cạnh tâm lý của việc đọc sách” và A.Primacopxki với cuốn
“Phương pháp đọc sách”; N.A.Rubakin bàn đến trong cuốn “Tự học như thế nào”: đọc sách
phải đào sâu suy nghĩ, phải hiểu, phải kiểm tra lại (ngẫm nghĩ những điều trong sách, đưa
nó vào trong cuộc sống, kiểm tra chúng phải so sánh, phân loại, tổng hợp để những kiến
thức đọc được không lẫn lộn như một mớ bòng bong Tác giả cũng nêu trình tự đọc sách: đọc tựa đề - mục lục - đọc toàn bộ sách - đọc sâu (nghiên cứu); đọc phải trả lời các câu hỏi: cái gì là chính, cái gì là phụ? có phải bao giờ sự kiện ấy cũng xảy ra như thế không? làm thế
Trang 15nào thay đổi sự kiện ấy?
- Hai nhà giáo dục Ấn Độ S.D.Sharma và Shakti R.Ahmed, trong tác phẩm “Phương pháp dạy học ở trường đại học” đã trình bày hoạt động tự học trên lớp như một hình thức
dạy học có hiệu quả
Khi nền văn minh con người ra đời cùng lúc đã có những hoạt động quản lý, những
hoạt động này thay đổi, chuyển biến và phát triển theo dòng phát triển của nền văn minh
con người
- Yếu tố tâm lý - xã hội cũng đã được các nhà khoa học đề cập đến vào những thập niên 30 và được phát triển mạnh nhất vào những năm 60 của thế kỷ XX, như thuyết về mối quan hệ con người của Hugo Munsterbeg; Elton Mayo; Thuyết về Hành vi trong quản lý của Donglas Mc Gregor
- Đến thời kỳ đương đại, các quan điểm quản lý mới gắn liền với những lĩnh vực cụ
thể đã được nghiên cứu và cho ra đời, đem lại lợi ích rất lớn cho các nhà quản lý
- Có thể nói, tư tưởng quản lý được ra đời từ rất lâu, song khoa học quản lý thì còn
rất mới mẻ, do đó khoa học quản lý giáo dục với tư cách là một khoa học ứng với lĩnh vực
quản lý cụ thể càng trở nên mới mẻ đối với nhiều quốc gia trên thế giới Vì thế, nếu nói về
lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động dạy học, hoạt động học tập chắc chắn cũng đã được các nhà quản lý nghiên cứu và đề cập đến ở các nền giáo dục, song có lẽ cũng dừng lại
ở việc tìm ra các giải pháp, biện pháp quản lý cụ thể áp dụng ở các nhà trường, các cơ sở giáo dục cụ thể nào đó
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt nam, đã có các nghiên cứu về hoạt động học tập của học sinh.Có thể kể đến
một số tác giả sau:
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, một nhà quản lý giáo dục đã nghiên cứu sâu và cho xuất
bản tuyển tập “ Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” qua đó thấy được mối liên kết của ba
mặt nói trên Tuyển tập về họat động học tiếp theo là “ Học để đuổi kịp và vượt” Ông đã
thấy ngành giáo dục Việt nam có phát triển theo thời gian nhưng tốc độ và chất lượng không theo kịp sự phát triển của kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt trên trường quốc tế và ngay trong khu
vực Ông trăn trở rất nhiều trong lĩnh vực giáo dục khi thấy giáo dục ta tiến lên chậm chạp Trong tuyển tập nghiên cứu trên cho thấy trong từng con người học, trong các hệ thống tổ chức giáo dục, còn ẩn chứa nhiều tiềm năng lâu nay để lãng phí và cách khai thác tiềm năng đó
Trang 16Tác giả Lê Đức Ánh có công trình nghiên cứu về “ Vấn đề về tổ chức, quản lý trường PT dân lập ở TP.HCM”, đã nghiên cứu về sự phát triển của hệ thống trường ngoài công lập tại Việt Nam và trên thế giới từ trước năm 1975; Các vấn đề về tổ chức, vấn đề dạy thêm, học thêm, học phí, cơ sở vật chất, Những vấn đề tác giả đạt ra từ lâu nhưng tới ngày hôm nay vẫn còn tính thời sự và cần nghiên cứu giải quyết tiếp
Tác giả Nguyễn Văn Đản có công trình nghiên cứu về “ Tổ chức họat động học”, Nguyễn Duy Cần nghiên cứu về “Tôi tự học” Đỗ Linh-Lê Văn nghiên cứu về “Phương pháp học tập hiệu quả”, Nguyển Văn Hấn nghiên cứu “ Làm sao để học hiệu quả” Quang
Hồng nghiên cứu “ Bí quyết học tập hiệu quả”
Ngoài ra, còn nhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu như: Trần Kiểm, Đặng Vũ Hoạt,
Hà Thế Ngữ, Bùi Trọng Liễu, Hoàng Tụy, Nguyễn Trọng Bảo và Hà Thị Đức đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động học và tự học Trong các công trình nghiên cứu, các tác
giả đã nghiên cứu sâu vào tổ chức hoạt động học, quản lý hoạt động học nhằm phát huy tính
chủ động sáng tạo của người học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường
Một số tác giả cũng đã nghiên cứu các yếu tố liên quan đến chất lượng học tập Đó là các
yếu tố như: mục đích học tập, trình độ nhận thức, sự nỗ lực của mỗi cá nhân, mục tiêu, chương trình, nội dung giảng dạy, điều kiện cơ sở vật chất, tài chánh, chất lượng giảng dạy, môi trường học
tập, kiểm tra, đánh giá Nói chung, chất lượng học tập phụ thuộc vào chất lượng quản lý họat động
dạy và họat động học
Thời gian gần đây đã có nhiều hội thảo, nhiều đề tài, đặc biệt có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thực trạng hoạt động học tập của học sinh, sinh viên ở một số thường phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học hiện nay Đó là những luận văn:
“Thực trạng quản lí hoạt động học tập của học sinh hiện nay ở một số trường trung
học phổ thông tỉnh Long An” của tác giả Nguyển Văn Đức(2010) Luận văn này nghiên cứu
thực trạng quản lý của hiệu trưởng về một số hình thức học tập như: quản lí họat động học
tập chính khóa, quản lí họat động học phụ đạo, quản lý kỷ cương về nề nếp học tập, quản lí
cơ sở vật chất, quản lí việc tự học ở nhà, học nhóm, quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình
“Thực trạng quản lí hoạt động học tập của học viên trường trung cấp kỹ thuật hải quân” của tác giả Phạm Trung Thành (2011) Luận văn này tác giả đã nghiên cứu họat động
học tập theo bốn chức năng quản lí và quản lí theo các thành tố của họat động học như:
Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức học tập, thời gian học tập,
Trang 17kiểm tra đánh giá, các điều kiện họat động học tập
Những luận văn nghiên cứu quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên như:
Thực trạng công tác quản lí của hiệu trưởng đối với họat động tự học của học sinh, sinh viên như: “ Thực trạng công tác quản lí của hiệu trưởng đối với họat động tự học của học sinh THPT huyện Thốt Nốt, Cần Thơ”của Tác giả Lê Thị Thanh Tú; “Quản lý của hiệu trưởng
nhằm nâng cao khả năng tự học cho học sinh tại TPHCM” của tác giả Lê Khắc Mỹ Phượng
“Thực trạng quản lý học tập đối với sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt” của tác
giả Nguyễn Thanh Sơn Luận văn đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng họat động
học tập, đặc biệt họat động họat động tự học của sinh viên va đưa ra một số biện pháp quản
lý họat động học tập ở bậc đại học
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về
“ Thực trạng quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT ngoài công lập tại TP.HCM” Vì vậy chúng tôi đi vào nghiên cứu để biết rõ thực trạng hoạt động học tại một số trường THPT ngoài công
lập tại TP.HCM, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp quản lý họat động học ở trường THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động học của học sinh trong trường hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Ho ạt động dạy học
1.2.1.1 Hoạt động
Hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng, nhằm biến đổi đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra Mục đích của quá trình chủ thể tác động vào đối tượng là nhằm tạo ra sản phẩm
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để
tạo ra sản phẩm tương ứng nhằm thỏa mãn (trực tiếp hay gián tiếp) nhu cầu của bản thân,
của một nhóm người hay toàn xã hội Sau đây là một số khái niệm về hoạt động:
- Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học thì: “Hoạt động là tiến hành
những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ, nhằm một mục đích nhất định trong đời sống
xã hội” [55, tr 15]
- Các tác giả Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị cho rằng: “Hoạt động của con người
nhằm đáp ứng những nhu cầu của nó”
- Theo Phạm Minh Hạc: “Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với
thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người
Trang 18Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai chiều tác động diễn ra đồng thời, thống nhất và
bổ sung cho nhau” [47, tr 17]
- A.N.Lêônchiep đã nhấn mạnh rằng: “Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Ông cho rằng muốn sống được trong thế giới xung quanh con người phải tiến hành các hoạt động đối với thế giới đó, sản xuất ra các đối tượng, lĩnh hội các phương thức sử dụng các đối tượng đó (các phương thức này chứa sẵn trong các đối tượng đó) nhằm thỏa mãn nhu cầu này hay nhu cầu khác [55, tr 15]
Như vậy, ta có thể hiểu hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng
nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể tự giác đặt ra để thỏa mãn nhu cầu bản thân
Hoạt động sinh ra từ nhu cầu nhưng lại được điều chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được Nhu cầu với tư cách là động cơ, là nhân tố khởi phát của hoạt động nhưng lại chịu sự chi phối của
mục tiêu mà chủ thể nhận thức được
1.2.1.2 Hoạt động dạy
Trong nhà trường phổ thông cũng như các hoạt động khác, hoạt động dạy là một bộ
phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một bộ phận trong sự thống nhất của quá trình dạy
học, là sự điều khiển tối ưu hóa quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học của người học, là
một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục
Nói cách khác, họat động dạy chính là việc tổ chức, chỉ đạo và điều khiển quá trình
nhận thức của học sinh nhằm thực hiện mục đích và các nhiệm vụ của họat động dạy học
Chủ thể của hoạt động dạy chính là người thầy và tập thể sư phạm; Đối tượng của
hoạt động dạy là hoạt động của học sinh và các mối tương quan giữa chúng Mục đích của
hoạt động dạy là cải biến và hoàn thiện hoạt động nhận thức, kỹ năng thực hành của học sinh, là hình thành và phát triển nhân cách của học sinh phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của xã
hội Phương tiện của hoạt động dạy bao gồm những công cụ vật chất, phương pháp, hình
thức tổ chức tác động sư phạm, tổ chức quản lý, trong đó phải kể đến phẩm chất nhân cách, năng lực sư phạm của giáo viên Kết quả hoạt động dạy là chất lượng và trình độ mới của
hoạt động và giao lưu của học sinh đã được hình thành kể cả chất lượng và trình độ mới về
sự phát triển nhân cách cuả học sinh Ngoài ra, kết quả hoạt động dạy còn được thể hiện ở
sự hoàn thiện trình độ tri thức và kỹ năng giáo dục, sự thoả mãn nhu cầu chính trị, đạo đức, nghiệp vụ của giáo viên
Hoạt động dạy có hai chức năng cơ bản thống nhất với nhau (chức năng kép) đó là truyền đạt thông tin và tổ chức, điều khiển hoạt động học Như vậy, hoạt động dạy luôn luôn
Trang 19tồn tại song song với hoạt động học trong quan hệ tương tác, mang tính thống nhất và biện
chứng tạo nên tính toàn vẹn của quá trình dạy học [48, tr 18]
1.2.1.3 Hoạt động học (hoạt động học tập)
Con người khi còn trong bụng mẹ, mới sinh ra và lớn lên luôn có những thắc mắc, tò
mò, tìm hiểu về thế giới xung quanh, bắt đầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ
gần đến xa Từ rất xa xưa ông cha ta đã từng nói: “ Học ăn, học nói, học gói, học mở”; “
Học thầy không tày học bạn”; “ Học dăm ba chữ để làm người” Đó là một số khái niệm đơn giản của hoạt động học
- Trong quá trình sống và tồn tại, ở mỗi con người luôn luôn diễn ra một quá trình
tiếp nhận tự nhiên những kỹ năng, kỹ xảo về ngôn ngữ, về lao động sản xuất, về cách thức chung sống giữa người với người, giữa người với tự nhiên thậm chí cả những hành vi, thói
hư tật xấu Trải qua thời gian, cá nhân có sự sàng lọc những gì có lợi cho mình, giúp mình
tồn tại trong mối quan hệ xã hội, thiết lập được kinh nghiệm sống bao gồm hệ thống tri thức
và kỹ năng thực hành nhờ chỉ dẫn của người lớn, người có kinh nghiệm bằng sự bắt chước,
tập dượt để đạt tới sự đúng sai, giữ lại hoặc loại bỏ [48, tr 18]
Ta thấy, việc học luôn gắn liền với các họat động của con người
Khi học, người học phải sử dụng các giác quan, phải dùng óc suy nghĩ, phải thực
hiện các hành động để tìm kiếm tri thức, lưu giữ, vận dụng nó Vì thế, học là một dạng hoạt động đặc biệt của con người hướng vào chiếm lĩnh các kinh nghiệm xã hội bằng việc cá nhân tái sản xuất các kinh nghiệm đó [14, tr 5]
Họat động học được nghiên cứu từ nhiều góc độ với cách tiếp cận khác nhau do tính
đa dạng, phong phú của họat động này Vì thế có nhiều quan niệm khác nhau về họat động
học
Theo tự điển giáo dục học Greenwood, học là quá trình tâm lý diễn ra những thay đổi
về kiến thức hay hành vi của cá nhân nhờ sự tương tác giữa kinh nghiệm người học với môi trường xung quanh [14, tr6]
Nhận thức luận coi kết quả của hoạt động học là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong tư duy của con người Sự phản ánh đó phát triển từ trình độ nhận thức cảm tính (bằng các giác quan) đến nhận thức lý tính (bằng các thao tác tư duy) để tìm ra chân lý khoa
học, vận dụng lý thuyết vào thực hành và vận dụng sáng tạo trong thực tiễn Đối với người
học, sau khi nhận thức được đối tượng còn phải học, ghi nhớ dài hạn các kiến thức, kỹ năng
cơ bản, tái hiện, diễn đạt lại bằng lời nói, chữ viết, làm thực hành cho giáo viên (GV) và
Trang 20những người khác hiểu được [14,tr5]
Theo quan điểm chủ nghĩa hành vi: học tập là sự thay đổi hành vi Thuyết hành vi cho rằng, học tập là một quá trình đơn giản mà trong đó những mối liên hệ phức tạp sẽ được làm cho dễ hiểu và rõ ràng thông qua các bước học tập nhỏ được sắp xếp một cách hợp lý
Cơ chế của việc học dựa trên cơ chế kích thích và phản ứng thông qua những kích thích về
nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá, người học có những phản ứng tạo ra những hành vi học tập và qua việc luyện tập đó thay đổi hành vi của mình Vì vậy, quá trình học
tập được hiểu là quá trình thay đổi hành vi Hiệu quả của nó có thể thấy rõ khi luyện tập cũng như khi học tập các quá trình tâm lý vận động và nhận thức đơn giản [56, tr 16]
Học là sự chiếm lĩnh tri thức hoặc hành vi dẫn đến kết quả là sự thay đổi tương đối
bền vững ở kiến thức, hành vi cá nhân nhờ kinh nghiệm chủ thể Có thể hiểu, học là sự chiếm lĩnh tri thức, lưu giữ và sở hữu nó
Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi
bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó
Ta có thể nói, về bản chất, học là một quá trình họat động chiếm lĩnh tri thức (kinh nghiệm và xã hội) để chuyển thành kinh nghiệm cá nhân, nhờ đó mà cá nhân trở thành một con người xã hội Họat động học bao gồm hai chức năng thống nhất với nhau, đó là lĩnh hội
và tự tổ chức, tự điều khiển
1.2.1.4 Hoạt động dạy học
- Qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá hoạt động dạy, hoạt động học ở trên và mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa các hoạt động này, chúng ta thấy: Hoạt động dạy học là hoạt động chung bao gồm hai hoạt động bộ phận đó là hoạt động dạy và hoạt động học, tương ứng với chúng là hai chủ thể “Giáo viên” và “Học sinh”, giữa “Thầy” và “ Trò”, hoạt động
của hai chủ thể hay sự tồn tại quá trình dạy học là hai hoạt động có tính quy định lẫn nhau
- Hai hoạt động này đều có những nét chung mang thuộc tính bản chất và đều có yếu
tố cấu trúc của mọi hoạt động Song, trong quan hệ tương tác khi tồn tại ở hoạt động dạy
học, nó sẽ có cấu trúc riêng vừa mang tính chất riêng lẻ của từng hoạt động , nhưng cũng có tính đặc thù do quan hệ tương tác giữa hai hoạt động đem lại, cụ thể là:
- Về mục đích dạy học: Là mục đính thành phần nhằm thực hiện mục đích giáo dục
tổng thể trong việc hình thành một kiểu nhân cách cho người học phù hợp với những nhu
cầu đòi hỏi của sự phát triển xã hội, nhu cầu về sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Nó được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ dạy học ứng với từng bài học, từng môn học, từng cấp
Trang 21học, từng năm học, phải được chủ thể và đối tượng dạy học ý thức, và trở thành động cơ của
- Nội dung học tập: bao gồm các giá trị văn hóa, kinh nghiệm của loài người đã được
- Hình thức tổ chức dạy học: Là các hình thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động
học của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện phương pháp giáo dục và chiếm lĩnh nội dung
dạy học
- Phương tiện dạy học: Là những vật thể mang nội dung và phương pháp dạy học, là phương tiện tác động tới hoạt động dạy và hoạt động học
- Điều kiện dạy học: bao gồm những điều kiện bên trong nhà trường (cơ sở hạ tầng,
vật chất kỹ thuật, vệ sinh học đường, đạo đức thẩm mỹ ) và những điều kiện bên ngoài nhà trường (môi trường kinh tế - xã hội, địa phương và đất nước)
- Kết quả dạy học: Là kết quả của hoạt động dạy và hoạt động học thông qua kiểm tra, đánh giá, trở thành yếu tố kích thích, điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học
Như vậy, hoạt động dạy học là hệ thống những tác động qua lại lẫn nhau của nhiều nhân tố nhằm mục đích trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và rèn luyện đạo đức cho người công dân Chính những nhân tố hợp thành hoạt động này cùng với
hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng đã làm cho dạy học thực sự tồn tại như mọi vật thể toàn vẹn - một hệ thống [49, tr 20]
1.2.1.5 So sánh các thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy và học [15]
• Sự tương đồng giữa hoạt động dạy và hoạt động học
Trong dạy học, Bộ GD-ĐT đã ban hành chương trình, SGK đối với từng môn, từng
Trang 22cấp học Mỗi môn học có mục tiêu, yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cho từng chương, từng bài Đó là tài liệu cơ bản để GV dạy, để HS học Các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, phương pháp, chuẩn mực thái độ hành vi do Bộ GD-ĐT ban hành trở thành những yêu cầu
mà GV phải truyền thụ cho HS trong quá trình dạy, đồng thời cũng là những yêu cầu mà HS cần đạt được sau một quá trình học tập Đó là tương đồng về mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học
Trong hoạt động dạy, GV là chủ thể, HS là đối tượng Trong hoạt động học, HS là chủ thể, nội dung SGK là đối tượng Vì vậy, mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, kết quả của hoạt động dạy tuy có quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất với mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, kết quả của hoạt động học
• Sự khác biệt giữa hoạt động dạy với hoạt động học
Dạy học là một hoạt động kép, bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Tuy cũng
sử dụng các phương tiện như lớp học, phòng học bộ môn, SGK, đồ dùng dạy học,… nhưng hai hoạt động này, như đã nói, có chủ thể và đối tượng khác nhau Vì vậy, các thành tố mục tiêu, nội dung… của hoạt động dạy có sự khác biệt với mục tiêu, nội dung,… của hoạt động học
- Khác biệt giữa nội dung dạy với nội dung học
Nội dung dạy là sự tích hợp vốn tri thức GV tích lũy được trong quá trình học ở trường sư phạm, tự học, kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm sống với nội dung SGK, thể hiện qua bài giảng Qua giảng dạy trên lớp, GV biểu đạt tư tưởng, tình cảm, cảm xúc cá nhân về cái hay, cái đẹp, các giá trị khoa học của nội dung bài học với HS Nhờ nghệ thuật
sư phạm của từng GV mà nội dung dạy mang tính khoa học, thiết thực, vừa sức, gây được xúc cảm đối với HS
Nội dung học là những kiến thức, kỹ năng mới lạ, kích thích tính tò mò, gây hứng thú cho hoạt động nhận thức và phù hợp với mục tiêu học tập cá nhân Nói cách khác, không phải tất cả nội dung các bài dạy đều được HS tiếp nhận làm nội dung học Vì vậy, trong dạy học GV cần sử dụng các kiến thức thực tiễn phong phú, nêu vấn đề, nêu những giá trị về mặt kỹ thuật, công nghệ,… để kích thích hứng thú của HS đối với nội dung bài dạy
- Khác biệt giữa phương pháp dạy với phương pháp học
Phương pháp dạy học là cách thức phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học, trong
đó GV là người chủ động thiết kế các hành động cho HS chủ động, tích cực thực hiện, tự tìm kiếm tri thức, nhằm góp phần hình thành thế giới quan và năng lực cá nhân
Trang 23Phương pháp dạy phụ thuộc có tính quy luật vào mục tiêu, nội dung bài học, và lôgic khoa học và phương pháp đặc trưng của môn học Có nhiều phương pháp dạy, nhưng mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm Vì vậy, GV cần phân tích hoàn cảnh cụ thể nhằm lựa chọn phương pháp phù hợp nhất để dạy từng đơn vị nội dung trong từng bài học Cùng một bài, các GV khác nhau có thể chọn phương pháp dạy khác nhau Cùng một bài khi dạy các lớp khác nhau, một GV có thể chọn các phương pháp dạy khác nhau Đó là sự linh hoạt sáng tạo trong nghệ thuật dạy học của mỗi GV Trong một giáo án, GV có thể vận dụng phối hợp các nhóm phương pháp khác nhau như : nhóm phương pháp dùng lời, nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp đọc văn bản, nhóm phương pháp bài tập giải quyết vấn đề
Tương ứng với bốn nhóm phương pháp dạy của GV, có bốn nhóm phương pháp học của HS với các nguồn kiến thức Theo quy luật nhận thức, phương pháp học thực chất là HS thực hiện các nhóm kỹ năng cơ bản, đó là nhóm kỹ năng tổ chức hoạt động học, gồm : nhóm kỹ năng thu thập thông tin học tập ; nhóm kỹ năng xử lí thông tin ; nhóm kỹ năng vận dụng kiến thức mới để rèn luyện kỹ năng, giải quyết các vấn đề thực tiễn đơn giản ; nhóm
kỹ năng tự kiểm tra, điều chỉnh, ghi nhớ dài hạn, tái hiện, diễn đạt lại Khi HS biết vận dụng các nhóm kỹ năng học cơ bản vào học với nguồn kiến thức nào, thì nghĩa là HS đã biết phương pháp học với nguồn kiến thức đó
Tóm lại, phương pháp dạy là cách GV hướng dẫn các thao tác hành động nhận thức của HS Còn phương pháp học là cách HS thực hiện các thao tác, hành động tìm kiếm kiến thức, rèn luyện kỹ năng để đạt tới mục tiêu học tập
- Khác biệt giữa tổ chức dạy với tổ chức học
Tổ chức hoạt động dạy đối với từng bài học được hiểu là GV lựa chọn hình thức dạy học trên lớp, trên phòng thí nghiệm bộ môn; dạy toàn lớp hay theo các tổ, các nhóm nhỏ Tiến trình dạy một bài học là quá trình tiến hành các bước : đặt vấn đề giúp HS ý thức được mục tiêu nhiệm vụ bài học, kích thích hứng thú học tập ; hướng dẫn, điều khiển HS hoạt động chiếm lĩnh các kiến thức mới ; tổ chức HS rèn luyện kỹ năng vận dụng ; hệ thống hóa, củng cố kiến thức, kỹ năng cơ bản ; hướng dẫn HS tự học, làm bài tập về nhà
HS tổ chức hoạt động học là xây dựng kế hoạch thời gian, chuẩn bị các điều kiện, phương tiện dể thực hiện được mục đích, nhiệm vụ học tập ; lựa chọn quy trình, thực hiện các bước hoạt động nhận thức phù hợp với hoàn cảnh, các điều kiện của nhóm hoặc cá nhân
Tóm lại, tổ chức dạy là GV chuẩn bị các điều kiện, phương tiện, quy trình và thực
Trang 24hiện các bước theo kế hoạch dạy ; HS tổ chức hoạt động học là chuẩn bị các điều kiện, phương tiện, quy trình hành động học và thực hiện các hành động và thực hiện các hành động học theo quy trình đó
1.2.2 Qu ản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạyhọc và
đó cũng là tư tưởng của ông về quản lý
- Theo Henry Fayol (1841 - 1925), cha đẻ của lý thuyết quản lý hành chính cho rằng:
“Quản lý hành chính là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” Đây chính là năm chức năng cơ bản của quản lý
- Theo Harold Koonntz, người được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại đã viết
“Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi cá thể có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
- Theo các thuyết quản lý hiện đại thì:”Quản lý là quá trình làm việc với và thông qua
những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động”
Ở Việt Nam, theo tác giả Đặng Quốc Bảo, hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “Quản” và “Lý” tích hợp vào nhau; trong đó “Quản” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ, và “Lý” có nghĩa là đổi mới hệ
Từ những cách định nghĩa nêu trên, có thể hiểu quản lý là một hoạt động, trong đó
chủ thể quản lý đề ra những mục tiêu cần phải đạt được và những chủ trương, biện pháp, kế
hoạch phải thực hiện, lựa chọn nhân sự, huy động và sử dụng nhân lực, tài lực đang có, tổ
chức và điều hành bộ máy để thực hiện những chủ trương, biện pháp và kế hoạch một cách đúng đắn, đạt mục tiêu mà chủ thể đã đề ra với hiệu quả cao trong môi trường biến động
Nói cách khác, quản lý là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ
Trang 25thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý trường học
Quản lý giáo dục là một khái niệm cụ thể của khái niệm quản lý trong lĩnh vực giáo
dục, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng được hiểu, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, mỗi tư tưởng quản lý, mỗi mô hình giáo dục khác nhau sẽ có cách thức quản lý khác nhau và từ đó có những cách định nghĩa khác nhau
- Theo các nhà lý luận về quản lý giáo dục Liên xô (cũ) đã đưa ra một số định nghĩa
về khái niệm quản lý giáo dục, như M.M.Méchti Zade đã nêu:” Quản lý giáo dục là tập hợp
những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu ) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng”
- Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “ Quản lý giáo dục (và nói riêng,
quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đính, có kế hoạch, hợp quy luật, của
chủ thể quản lý (hệ giáo dục), nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo
dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái mới về chất”[43, tr35]
- Ngày nay, với mỗi giai đoạn lịch sử, mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục sẽ được Đảng, Nhà nước xác định lại cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị xã hội của đất nước, tại hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, xác định mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục đào tạo giai đoạn 2011 - 2020, một lần nữa khái niệm
quản lý giáo dục được định nghĩa lại đó là: “ Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất”
- Trường học là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của một nhà trường Mọi hoạt động đa
dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này Vì vậy, quản lý trường
học thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập - tự giáo
dục của trò diễn ra trong quá trình dạy học - giáo dục Hay nói khác đi, quản lý trường học chính là Quản lý quá trình dạy học - giáo dục
Trang 26Như vậy, trong quản lý trường học, người Hiệu trưởng chính là chủ thể quản lý, khách thể quản lý trường học của một nhà trường là toàn bộ con người, những hoạt động,
những tổ chức và những phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính của trường để đạt cho được mục tiêu của sự giáo dục và đào tạo học sinh loại trường đó
- Ngoài ra, hoạt động quản lý nhà trường còn chịu tác động của những chủ thể quản
lý bên trên nhà trường (các cơ quan, bộ chủ quản.) nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho
hoạt động quản lý của nhà trường và bên ngoài nhà trường, các thực thể bên ngoài nhà trường, cộng đồng nhằm xây dựng những định hướng về sự phát triển của nhà trường và hỗ
trợ, tạo điều kiện cho nhà trường phát triển
- Thực chất việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và hoạt động học, làm cho hoạt động dạy và hoạt động học chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới
mục tiêu giáo dục
- Đối với trường THPT, hoạt động cơ bản của nhà trường là dạy và học, mọi hoạt động khác đều nhằm phục vụ cho hoạt động dạy học
- Từ cơ sở lý luận trên, có thể thấy rằng trong các hoạt động quản lý của cán bộ quản
lý các cấp trong nhà trường thì quản lý hoạt động dạy - học là nhiệm vụ trọng tâm, quản lý
phải chi phí nhiều thời gian, suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng nhiều kỹ năng để hoàn thành các
chức năng quản lý như xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo đến kiểm tra, vừa phải kịp thời,
vừa khách quan khoa học và chính xác để có thể quản lý tốt và nâng cao hiệu quả giảng dạy
của đội ngũ giáo viên, chất lượng học tập của học sinh Nhà quản lý phải biết đặt mục tiêu
chất lượng đào tạo lên hàng đầu, tất cả các hoạt động đều nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, có như thế mới có thể vận hành hệ thống một cách nhịp nhàng và
hiệu quả
1.2.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
Dạy và học là hai hoạt động thống nhất, tồn tại trong quá trình dạy học Vì thế, quản
lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình dạy của giáo viên và quá trình học tập của học sinh, sinh viên Đây là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau Hoạt động học tập được hình thành trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy và được điều khiển bởi mục đích
tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, biến chúng thành năng lực thể chất và năng lực tinh thần cho mỗi cá nhân Người Hiệu trưởng thực hiện quản lý hoạt động dạy - học thông qua các chức năng quản lý của mình đó là hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra Việc
quản lý đó không chỉ đơn thuần là quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, cách
Trang 27thức kiểm tra kết quả của người học mà còn phải quản lý tất cả các hoạt động của người
dạy nhằm nâng cao chất lượng, năng lực tự học cho học viên Như vậy, quản lý hoạt động
dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học nhằm góp
phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Nếu xét dạy và học như một hệ thống thì quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động
học là quan hệ điều khiển và bị điều khiển Do đó, hành động quản lý của Hiệu trưởng chủ
yếu tập trung vào điều khiển hoạt động của thầy và thông qua hoạt động của thầy để quản lý
hoạt động của trò
Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động dạy - học của người
Hiệu trưởng là một trong những hoạt động cơ bản nhất Nó chiếm thời gian, công sức rất lớn
của người Hiệu trưởng
1.2.2.4.Quản lý hoạt động học [49, tr 24]
Hoạt động học tập là một bộ phận của hoạt động dạy - học, nên quản lý hoạt động
học tập mang đầy đủ các đặc điểm, chức năng, tính chất của hoạt động quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng như chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung
quản lý, phương pháp quản lý, phương tiện quản lý Vì thế, chúng tôi hiểu quản lý hoạt động học tập của học sinh là những tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến học sinh
nhằm đạt được các mục tiêu dạy học của nhà trường
Chủ thể quản lý hoạt động học tậpcủa học sinh bao gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng,tổ trưởng bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy, các cán bộ quản lý học sinh: giám thị, giám quản, Đoàn thanh niên và cán bộ các lớp Mỗi bộ
phận, thành viên của hệ thống tổ chức quản lý này đảm nhận những vai trò, vị trí khác nhau
Đối tượng quản lý hoạt động học tập: là học sinh và hoạt động học tập của học
sinh Tuy nhiên, quản lý học sinh nhưng thực chất là quản lý hoạt động học tập của học sinh như quản lý mục tiêu, nhiệm vụ học tập, quản lý nội dung, quản lý phương pháp, phương
tiện học tập của học sinh, và quản lý kết quả học tập
Quản lý hoạt động học cũng theo 4 chức năng quản lý của chủ thể như quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động học tập, tổ chức hoạt động học tập của học sinh, chỉ đạo và
kiểm tra, điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh
1.3 Ho ạt động học tập của học sinh trường THPT ngoài công lập
Trang 281.3.1 Đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý, nhân cách của học sinh THPT
Học sinh trung học phổ thông bao gồm các em ở độ tuổi 15 đến 18 là độ tuổi đầu của
tuổi thanh niên, có những đặc điểm:
- V ề thể chất các em đã có sự trưởng thành về mặt cơ thể Tuy sự khác biệt cơ thể
giữa thanh niên mới lớn và người lớn không đáng kể, nhưng sự phát triển thể lực của các em còn kém so với người lớn Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý, được thể hiện ở các đặc điểm: sự phát triển của hệ xương được hoàn thiện, những cơ
bắp tiếp tục phát triển, nhịp độ tăng trưởng chiều cao và trọng lượng đã chậm lại, sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp
và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp…, của võ bán cầu đại não trong quá trình học tập và lao động Đa số các em đã qua thời kỳ phát dục, hoạt động của các tuyến nội tiết trở nên bình thường, sự không cân đối giữa trạng thái của các mạch máu với hoạt động của tim cũng mất
dần Ở tuổi thanh niên vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự thể hiện của nó nói chung giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên, ở tuổi thanh niên, tính dễ bị kích thích không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý (như ở tuổi thiếu niên), mà còn do cách sống của cá nhân ở độ tuổi này
Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có sự phát triển cân đối, khỏe, đẹp, đa số các
em có thể đạt những khả năng thành tích về cơ thể như người lớn
- Đặc điểm nhân cách chủ yếu
+ S ự phát triển của tự ý thức
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên Quá trình này rất phong phú và phức tạp, nhưng vẫn có thể nêu lên một số đặc điểm cơ bản: nhu cầu tự ý thức của các em được phát triển mạnh mẽ, các em chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình, hình ảnh về thân thể mình là thành tố quan trọng của sự tự ý thức ở thanh niên mới lớn
Sự hình thành tự ý thức là một quá trình lâu dài và trải qua những mức độ khác nhau, quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính đặc thù riêng Thanh niên
có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bão của mình Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, nội dung của tự ý thức khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại
Trang 29của mình như thiếu niên, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội trong tương lai
+ S ự hình thành thế giới quan
Tuổi đầu thanh niên là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan Ở tuổi này, những điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng đã được hình thành và đang chín mùi
Những cơ sở của thế giới quan được hình thành rất sớm ngay từ khi còn nhỏ Suốt
thời gian học tập ở phổ thông học sinh được lĩnh hội những tri thức khoa học, những chuẫn
mực, thói quen đạo đức, cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác…, dần dần những điều đó được ý
thức và được quy vào hình thức, các tiêu chuẩn nguyên tác hành vi đó vào một hệ thống hoàn chỉnh
Sự hình thành thế giới quan được thể hiện ở tính tích cực nhận thức Các em cố gắng xây dựng những quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội, tư tưởng chính trị, đạo đức Chính nội dung các môn học ở trung học phổ thông giúp các em xây
dựng thế giới quan tích cực về tự nhiên xã hội Nhìn chung học sinh trung học phổ thông có khuynh hướng sống một cuộc sống tích cực vì xã hội, muốn mang lại lợi ích cho người khác, quan tâm đến đời sống tinh thần nhiều hơn là phúc lợi vật chất Tuy vậy một bộ phận thanh niên ngày nay chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, thế giới quan của họ còn chịu ảnh hưởng
của những tiêu cực, sống không lành mạnh, đánh giá quá cao về cuộc sống hưởng thụ, hoặc một
bộ phận khác lại chưa chú ý đến xây dựng thế giới quan, sống thụ động ít trách nhiệm
+ Giao ti ếp và đời sống tình cảm
Tuổi học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Điều quan
trọng đối với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi là cảm thấy mình cần của nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm
Ở tuổi này, quan hệ với bạn cùng tuổi chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn Điều này do lòng khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập
Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hóa hoạt động riêng của thanh niên học sinh khiến cho số lượng nhóm qui chiếu của các em tăng lên rõ rệt việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ dẫn đến sự khác nhau nhất định và có thể có xung đột về vai trò nếu cá nhân phải
lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm
Đời sống tình cảm của học sinh phổ thông rất phong phú, nhu cầu về tình bạn tâm
Trang 30tình cá nhân được tăng lên rõ rệt Tình bạn ở các em trở nên sâu sắc hơn, các em có nhu cầu cao đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng nhau) tình cảm có nội dung hơn, bao gồm những phạm vi hứng thú và hoạt động rộng rãi Trong quan hệ với bạn các em cũng nhạy cảm hơn, không chỉ có khả năng xúc cảm thân tình, mà còn phải có khả năng đáp ứng lại xúc cảm của người khác (đồng cảm) Tình bạn của các em mang màu sắc xúc cảm nhiều hơn, rất bền vững Các em thường lý tưởng hóa tình bạn, họ nghĩ về bạn thường giống
với điều mình mong muốn ở bạn hơn là thực tế Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít nhận thấy những đặc điểm thực tế ở bạn Một số các em ở lứa tuổi này có sự
xuất hiện tình yêu, tình yêu này thường trong trắng, tươi sáng hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân thành Tuy vậy tình yêu mới nảy sinh này cũng có thể phát triển không bình thường có thể các em bị phân tán quá mức, sao nhãng việc học tập
- V ề xã hội
Hoạt động của học sinh ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò xã hội và hứng thú xã hội của các em không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi về chất lượng Ở các em ngày càng xuất hiện nhiều các vai trò của người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn
Ở gia đình, thanh niên đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề trong gia đình Về phía mình, các em cũng biết quan tâm một cách thực sự đến nhiều mặt sinh hoạt trong gia đình Ở tuổi học sinh trung học phổ thông các em có thể tham gia vào các tổ chức đoàn thể, nhiều em đã bắt đầu lao động, các em đều có sự suy nghĩ về việc chọn nghề khi đứng trước quyết định đường đời của mình.[52]
1.3.2 Đặc điểm hoạt động học tập ở trường THPT
1.3.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động học tập
Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông được qui định tại điều 27 của luật giáo dục
- Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách
và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 31- Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [44]
1.3.2.2 Nội dung hoạt động học tập
Yêu cầu về nội dung giáo dục phổ thôngđược qui định tại điều 28 của luật giáo dục
- Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học
Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
Chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoađược qui định tại điều 29 của luật giáo dục
- Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp
và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông
- Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa [44]
Trang 32tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Phương pháp học tập được vận dụng tùy thuộc vào từng môn học, từng bài học và phương pháp giảng dạy, tổ chức hoạt động học tập của giáo viên Đồng thời tùy thuộc vào hình
thức tự tổ chức học tập của bản thân học sinh Thông thường đối với hình thức học tập trên lớp theo thời khóa biểu, giáo viên sẽ quy định cụ thể cách học đối với từng môn học Có thể là nghiên
cứu trước bài học ở nhà, tập trung nghe giảng và ghi chép, xem lại bài, chuẩn bị và thảo luận về
một vấn đề, nội dung học tập Có thể phân chia theo từng nhóm học sinh để tìm hiểu nghiên cứu
kỹ bài vừa học
Đối với các hình thức học tập ngoài giờ lên lớp, hoạt động tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn, học sinh thực hiện xem lại bài học trên lớp, làm bài tập, đọc sách giáo khoa
phục vụ việc học bài mới, ôn bài chuẩn bị thi và kiểm tra
1.3.2.4 Hình thức tổ chức,thời gian hoạt động học tập
Hoạt động học tập của học sinh trường THPT được tổ chức một cách chặt chẽ, học sinh được tổ chức thành các lớp học theo từng cấp Hoạt động học tập của học sinh bao
gồm: Hoạt động chuẩn bị lên lớp, hoạt động học tậptrên lớp (chính khóa) và hoạt động học
tập ngoài giờ lên lớp ( ngoại khóa )
- Hoạt động học tập trên lớp được quản lý một cách chặt chẽ thông qua hệ thống
thời khóa biểu chung của nhà trường, lịch trình giảng dạy của giáo viên cho phép xác định
rõ tên môn học, giáo viên đứng lớp, thời gian, bài học, địa điểm học, Từ đó, học sinh có thể
chủ động xây dựng kế hoạch học tập cho riêng mình trên cơ sở phần nội dung học tập chung
của toàn lớp và nội dung cá nhân tự xác định Mặt khác, đối với các cán bộ quản lý các cấp, GVCN,GVBM có cơ sở để kiểm tra, theo dõi, quản lý và điều hành hoạt động học tập của
học sinh một cáchbài bản, nhịp nhàng trong hoạt động chung của nhà trường
Đối với các hoạt động học ngoài giờ lên lớp, học sinh được bố trí thời gian học tập cụ
thể phù hợp với các hoạt động khác trong nhà trường Thời gian, nội dung học, địa điểm
học, ôn tập trong từng ngày đối với từng lớp được quy định cụ thể Ngoài ra, đối với mỗi
nội dung, mỗi môn học, giáo viên có thể định hướng cho học sinh biết nội dung chính của
từng bài học, cách thức tổ chức ôn tập cụ thể Vì thế, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả tự
học của học cũng dễ dàng hơn và hiệu quả hơn
Thời gian học tập luôn phù hợp với hình thức tổ chức học tập của học sinh
1.4 Công tác qu ản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT
Trang 331.4.1 N ội dung quản lý hoạt động học tập của học sinh
Hiện nay có rất nhiều quan điểm, cáchtiếp cận khác nhau về quản lý hoạt động học
tập của HS như: Tiếp cận theo các thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học, tiếp cận theo chức năng quản lý, tiếp cận cụ thể theo hình thức học, tiếp cận theo quản lý người học Tùy theo cách tiếp cận mà nội dung quản lý sẽ khác nhau Với cách tiếp cận theo các thành
tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học, quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT bao gồm các nội dung sau:
1.4 1.1 Quản lý mục tiêu, nhiệm vụ học tập của học sinh
Hoạt động nào cũng cần có mục tiêu rõ ràng, có như thế mới có thể lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức phù hợp để đạt được các mục tiêu đó
Mục tiêu hoạt động học tập của học viên trường THPT ngoài công lập được hình thành và thống nhất với mục tiêu của hoạt động dạy học và quá trình giáo dục Ngoài ra, thông qua hoạt động học tập, học sinh sẽ nắm chắc tri thức, có kỹ năng và thái độ đúng đắn trong sinh hoạt của mình
Để quản lý mục tiêu, nhiệm vụ học tập, nhà quản lý phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm
vụ học tập cho học sinh Từ đó, với sự trợ giúp của GV, học sinh tự lập kế hoạch hoạt động cho mình trên kế hoạch hoạt đông của nhà Các giáo viên cần cụ thể hóa mục tiêu học tập cho từng bài học, bảo đảm tính thống nhất giữa mục tiêu đào tạo, mục tiêu từng năm, từng
học kỳ và mục tiêu từng bài học Phổ biến, quán triệt mục tiêu, nhiệm vụ học tập đến từng
học sinh ngay từ đầu khóa học, đầu năm học, học kỳ và trước khi thực hiện bài học Sau khi xác định được mục tiêu, nhiệm vụ học tập cho từng học sinh, nhà quản lý cần có các biện pháp bảo đảm, tạo điều kiện hỗ trợ để giáo viên, học sinh thực hiện hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ học tập của mình
1.4.1.2 Quản lý nội dung học tập của học sinh
Trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh, quản lý nội dung học tập là nội dung quan trọng nhất Nội dung hoạt động học sẽ chi phối phương pháp, phương tiện, hình
thức tổ chức, thời gian học,…
Nhà trường cần lập kế hoạch, xác định rõ nội dung cho từng học kỳ, từng năm học,
bảo đảm tính lôgic, khoa học của việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, song cần huy động tổng thể các nguồn lực để nội dung học tập được thực hiện đầy đủ nhất, với hiệu quả cao nhất Giáo viên hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập trên cơ sở kế hoạch học tập
Trang 34chung của nhà trường, quỹ thời gian và nhiệm vụ học tập của từng học sinh đối với từng môn học cụ thể Sau mỗi bài học, căn cứ điều kiện thời gian và khả năng của học sinh, giáo viên cần giao nhiệm vụ học tập cho từng lớp họckích thích học sinh tự học, tự làm bài tập,
ôn bài và chuẩn bị bài mới Tăng cường công tác thanh kiểm tra việc giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh bảo đảm đúng nội dung chương trình, kế hoạch giảng dạy đã được phê duyệt Tích cực phối hợp giữa giáo viên, cán bộ quản lý để quản lý nội dung học
tập của học sinh
1.4.1 3 Quản lý phương pháp, phương tiện học tập của học sinh
Phương pháp, phương tiện học tập là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến
kết quả học tập, việc hướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh là công việc thường xuyên của mọi giáo viên, được tiến hành theo từng nội dung bài học, môn học GV cần hướng dẫn học sinh từng bước hình thành cách học, cách sử dụng phương tiện học tập hợp
lý cho việc học của mình Có như vậy kết quả học tập mới đạt được kết quả cao
Để quản lý phương pháp học tập của học sinh, GV bộ môn cần phối hợp với TTBM
tổ chức giới thiệu phương pháp học tập môn học cho học sinh, hướng dẫn học sinh vận dụng các phương pháp học tập vào từng nội dung bài học Thông qua rút kinh nghiệm học tập hàng tháng, sau mỗi học kỳ để hoàn thiện dần và tìm ra phương pháp học tập hiệu quả nhất
Hoạt động học có mối quan hệ tương tác hữu cơ với hoạt động dạy nên QL hoạt đông học không thể tách rời với QL hoạt động dạy Do đó, nhà trường cần khuyến khích thay đổi phương pháp dạy tạo sự hứng thú, tích cực, tránh nhàm chán, thụ động nơi học sinh; Học sinh cần hoàn thiện, điều chỉnh phương pháp học cho linh hoạt, phù hợp với từng môn, từng bài cụ thể
1.4.1 4 Quản lý hình thức tổ chức, thời gian học tập của học sinh
Quản lý hình thức tổ chức học tập cho học sinh:
Để thực hiện nội dung chương trình, nhà trường sẽ tổ chức các hoạt động học tập dưới nhiều hình thức khác nhau từ đó mà cách thức quản lý cũng sẽ khác nhau Trong trường THPT, các hình thức tổ chức học tập cho HS là:
Hoạt động chuẩn bị học tập: Đây là hình thức tự học rất cần thiết, giúp HS nắm vững bài cũ và chuẩn bị để học bài học mới GVCN kiểm tra hình thức này qua kiểm tra bài học
cũ 15 phút đầu giờ
Hoạt động học tập trên lớp (chính khóa):Do đã được bố trí cụ thể trong thời khóa
Trang 35biểu, theo lịch trình giảng dạy của giáo viên vì thế mà Hiệu trưởng sẽ quản lý hoạt động học
tập của học sinh qua giáo viên và qua hệ thống trực, bộ phận giám thị Mặt khác, thông thường hoạt động học tập chính khóa trên lớp còn được được đánh giá chấm điểm qua mỗi
nội dung bài học, môn học do đó GVCN thực hiện quản lý hình thức học tập này thông qua
kết quả kiểm tra thường xuyên, định kỳ và kết thúc mỗi học kỳ, mỗi năm học Từ đó,làm cơ
sở đánh giá việc học tập trên lớp của từng học sinh
Hoạt động ngoài giờ lên lớp: Hoạt động ngoài giờ lên lớplà sự tiếp nối hoạt động học
tập trên lớp Đó là các hoạt động: Tự học tại lớp, thư viện trường , tại nhà Cần phát huy ý
thức tích cực, tự giác học tập của học sinh, đề cao vai trò của GVCN, GV bộ môn trong việc
nhắc nhở và hướng dẫn các emchủ động sắp xếp được thời gian học tập, sinh hoạt phù hợp cho bản thân mình trong các hoạt động ngoài giờ này
Quản lý thời gian học tập của học sinh:
Hình thức học tập luôn phù hợp với thời gian học tập Nói cách khác, tùy theo các hình thức như tự học chuẩn bị bài, học trên lớp và ngoài giờ lên lớp mà đưa ra kế hoạch
quản lý thời gian học tập của học sinh
Việc chuẩn bị trước khi lên lớp được sự hướng dẫn, quản lý của GVBM và GVCN; Các buổi học trên lớp, ngoài giờ lên lớp được qui định theo thời khóa biểu nhà trường, thời gian thực hành thí nghiệm, các sinh hoạt khác trong và ngoài trường học
1.4.1 5 Quản lý về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Là một khâu trong chu trình quản lý của người quản lý, công tác kiểm tra có vai trò
rất quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công tác quản lý Nó bảo đảm cho các kế hoạch đã đề ra được thực hiện một cách hiệu quả, nhà quản lý kiểm soát được tiến độ thực hiện các công việc, từ đó kịp thời chấn chỉnh những sai phạm trong quá trình thực hiện đồng thời điều chỉnh kế hoạch đề ra cho phù hợp với thực tiễn
Kiểm tra hoạt động học tập của học sinh bao gồm kiểm tra việc thực hiệnviệc chuẩn
bị trước khi lên lớp, thời gian học trên lớp và ngoài giờ lên lớp; Kiểm tra việc thực hiện nội dung học tập của học sinh xem có đúng với thời khóa biểu, đúng các quy định của nhà trường Mục đính kiểm tra nhằm duy trì kỷ cương, nề nếp học tập, bảo đảm giờ nào việc ấy
Mặt khác, công tác kiểm tra hoạt động học tập của học sinh còn giúp nhà quản lý nắm chắc được chất lượng học tập của học sinh từ đó điều chỉnh nhiệm vụ, nội dung học tập, thay đổi phương pháp, cách thức quản lý cho phù hợp, đồng thời khích lệ động viên học sinh học
Trang 36tập, phát hiện những phương pháp học tập mới để nhân rộng ra toàn lớp, toàn trường
1.4.2 Các ch ức năng quản lý hoạt động học tập
Quản lý hoạt động học tập là một lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý, vì thế nó cũng có những chức năng chung của hoạt động quản lý đó là: Hoạch định, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra giám sát
1.4.2.1 Chức năng hoạch định
Hoạch định là một trong những chức năng cơ bản của công tác quản lý Để thực hiện
tốt chức năng này, đòi hỏi nhà quản lý phải có cái nhìn tổng thể về nội dung công việc, nắm
chắc nguồn lực hiện có của mình, có khả năng dự báo chính xác sự biến động của từng nguồn lực, từ đó lập kế hoạch phối hợp sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất để
thực hiện ý định của người chỉ huy, mục tiêu của tổ chức
Thông thường khái niệm hoạch định được sử dụng ở cấp độ vĩ mô, song ở cấp độ vi
mô cũng như trong phạm vi quản lý một hoạt động cụ thể của một nhà trường người ta thường sử dụng khái niệm lập kế hoạch
Lập kế hoạch là quá trình xác lập mục tiêu, nội dung công việc, thời gian, biện pháp,
dự kiến nguồn lực, phác thảo tiến trình thực hiện các công việc và quyết định phương thức
để thực hiện mục tiêu đó
Lập kế hoạch học tập của học sinh hay còn gọi là kế hoạch hóa hoạt động học tập của
học sinh là việc khởi đầu, là khâu quan trọng nhất trong chu trình quản lý và ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động học tập Việc lập kế hoạch học tập nó bảo đảm cho mọi hoạt động học tập đều có mục đích, có yêu cầu, có nội dung, phương pháp, vạch ra
các chương trình hành đông cho từng học kỳ, từng năm học, có thời gian, địa điểm cụ thể,
có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, có các điều kiện bảo đảm cho hoạt động học tập được
thực hiện, có sự lãnh đạo, chỉ đạo để tổ chức thực hiện, thể hiện sự phối hợp nhịp nhàng
giữa các cá nhân, đơn vị có liên quan
Cán bộ quản lý , giáo viên (những chủ thể quản lý) căn cứ vào kế hoạch học tập chung của nhà trường để có những biện pháp, hoạt động quản lý cụ thể, một mặt kích thích
ý thức tự giác học tập, tự quản trong hoạt động học tập, đồng thời nâng cao chất lượng học
tập của học sinh
1.4.2.2 Chức năng tổ chức
Trang 37Tổ chức là quá trình thiết lập cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức Từ đó, chủ thể quản lý tác động đến từng đối tượng quản lý một cách có hiệu quả thông qua sự điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực và tài lực Trong quá trình xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp, đó là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống
cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện
Để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, nhà quản lý cần thực hiện các công việc sau:
- Phổ biến kế hoạch và giao nhiệm vụ học tập cho học sinh vào đầu năm học, trước
mỗi môn học và sau mỗi buổi học;
- Tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với từng trình độ các lớp và đặc thù từng môn học;
- Tổ chức hướng dẫn học tập, phụ đạo cho học sinh, tổ chức các hoạt động trao đổi phương pháp học tập và rút kinh nghiệm học tập
1 4.2.3 Chức năng chỉ đạo, điều khiển
Chỉ đạo, điều khiển là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành, điều khiển nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra Chỉ đạo bao hàm cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của con người, động viên, khuyến khích họ hoàn thành nhiệm vụ Trong chức năng chỉ đạo, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết định cho nhân viên dưới quyền và hướng dẫn, quan sát, phối hợp, động viên để thuyết phục, thúc đẩy họ hoạt động đạt được các mục tiêu đó bằng nhiều biện pháp khác nhau
Tùy theo từng cấp quản lý, chức năng chuyên môn mà việc chỉ đạo, điều khiển hoạt động học tập của học sinh sẽ ở mức độ, phạm vi khác nhau Trong quản lý hoạt động học
tập, với chức năng này, Hiệu trưởng sẽ ra quyết định, phê duyệt kế hoạch, tổ chức thực hiện
và giao nhiệm vụ cho các thành viên BGH, tổ trưởng bộ môn, giáo viên
- HT sẽ quản lý về nội dung, chương trình học tập chung của toàn trường theo kế
hoạch đã đề ra; duy trì nghiệm quy chế đào tạo đối với giáo viên, học sinh; chủ động đề xuất điều chỉnh các kế hoạch đào tạo cho phù hợp với thực tế và bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học;
- BGH sẽ quản lý về việc chấp hành nội quy, kỷ cương, nề nếp học tập, thời gian
biểu;
Trang 38- Giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy sẽ chịu trách nhiệm quản lý hoạt động học
tập của học sinh trong giờ chính khóa, giao nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu học tập và đánh giá
kết quả học tập của học sinh;
1.4.2.4 Chức năng kiểm tra, giám sát
Kiểm tra, giám sát là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành quả
hoạt động, đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót lệch lạc nhằm thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục tiêu đã định
Kiểm tra, giám sát là chức năng không thiếu trong hoạt động quản lý, nó bảo đảm cho các kế hoạch được tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ, đúng tiến độ và đạt được mục tiêu đề ra
Trong quản lý, không phải bất kỳ kế hoạch nào của nhà quản lý cũng khả thi, và tối
ưu, trong quá trình triển khai thực hiện, thông qua việc kiểm tra, giám sát giúp nhà quản lý
kiểm soát được tiến độ, lộ trình và kịp thời điều chỉnh kế hoạch sao cho bảo đảm thực hiện
hiệu quả nhất
Để công tác kiểm tra, giám sát đạt được kết quả và phát huy được tác dụng, nhà quản
lý cần có những tiêu chí cụ thể cho từng nội dung công việc quản lý như tiến độ, mốc thời gian, kết quả thực hiện công việc
Chẳng hạn, người giáo viên sau khi giao nội dung, yêu cầu bài học cho học sinh, nếu không kiểm tra sẽ không biết học sinh có thực hiện đầy đủ yêu cầu của mình hay không,
mức độ thực hiện như thế nào, và chỉ có thông qua việc kiểm tra mới có thể nắm chắc được
ý thức, thái độ, chất lượng học tập và khả năng tự học của từng học sinh.Từ đó, công tác đánh giá, phân loại học sinh mới chính xác Mặt khác, có cơ sở để điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy Khi giao nhiệm vụ học tập, giáo viên cũng cần có những yêu cầu cho từng đối tượng học sinh khác nhau, có mốc thời gian hoàn thành, có hướng dẫn để mọi
học sinh đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập của học sinh trườngTHPT ngoài công lập
1.5.1 Cơ chế quản lý hoạt động học tập
Hoạt động học là một loại hình lao động đòi hỏi người học phải có sức khỏe về thể
Trang 39chất và tinh thần, có mục đích, động cơ học tập rõ ràng, có trình độ tư duy nhất định, có
những điều kiện bên ngoài thuận lợi cho hoạt động nhận thức[15,tr27]
Nói đến cơ chế là nói đến quan điểm, cách thức và sự thông thoáng, linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo và điều khiển hoạt động của một tổ chức Trong quản lý hoạt động học tập của một nhà trường, đó là quan điểm của người Hiệu trưởng, sự quan tâm của các cấp quản lý trung gian, các cán bộ trực tiếp tham gia quản lý đối với hoạt động học tập của học sinh Bởi vì, trong một nhà trường việc quản lý hoạt động học của học sinh nằm trong tổng các chức năng, các nhân tố của quản lý trường học như nội dung chương trình, cơ sở hạ tầng, vật chất, tài chính, nguồn nhân lực …, vì thế nếu các nhà quản lý không có quan điểm rõ ràng, không xác định được hướng ưu tiên trong công tác quản lý, người học không xác định được đâu là nhiệm vụ trong tâm, không có kế hoạch cụ thể hay nói khác hơn không có một cơ chế điều hành quản lý cụ thể, phù hợp với đặc điểm yêu cầu thực hiện nhiệm vụ thì sẽ luôn luôn bị rối bận, hiệu quản quản lý không cao
thậm chí không quản lý được[49]
Hoạt động học tập là một bộ phận của hoạt động dạy học, xuất hiện và tồn tại song song cùng với hoạt động dạy học nên nó cũng chịu ảnh hưởng, chi phối bởi các yếu tố thuộc
cấu trúc hoạt động dạy học như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, người dạy, người học và môi trường diễn ra hoạt động học tập
1.5.2 Ảnh hưởng của mục tiêu, nhiệm vụ học tập
Mục tiêu, nhiệm vụ học tập có ảnh hưởng định hướng đếnquản lý hoạt động học tập
của học sinh Theo các quan điểm quản lý hiện đại, chất lượng được bảo đảm bởi quá trình,
và quản lý chất lượng là quản lý quá trình theo mục tiêu đã định sẵn Mục đích quản lý hoạt động học tập cũng là nhằm bảo đảm kiểm soát và nâng cao chất lượng học tập Vì thế, nhà
quản lý phải xác định rõ ràng mục tiêu học tập Mục tiêu học tập vừa là cơ sở vừa là đích hướng tới của các hoạt động quản lý Không có mục tiêu, hoặc mục tiêu không rõ ràng sẽ không xác định được chiều hướng phát triển của nhà trường, và có thể quản lý sai lệch, cũng như con thuyền bước ra biển mà mình không có la bàn hoặc không biết đi vào hướng nào và
phải làm những gì
1.5.3 Ảnh hưởng của chương trình, nội dung sách giáo khoa
Chương trình dạy học là bản kế hoạch cho việc học Chương trình bao gồm mục tiêu học tập, phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập, các phương pháp, hình thức tổ chức
Trang 40học tập, đánh giá kết quả học tập theo các yêu cầu mục tiêu đặt ra Do vậy, chương trình, nội dung SGK quy định trình độ phát triển của học sinh sau một quá trình học Khi nội dung chương trình phù hợp với mục tiêu học tập của cá nhân sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển các nhu cầu, hứng thú và các năng lực sở trường của HS Điều quan trọng là chương trình, nội dung môn học phải vừa sức với học sinh theo từng lứa tuổi Nội dung phải nằm trong khu vực phát triển gần của trí tuệ Vừa sức được hiểu là mức độ khó khăn cao nhất mà HS
có thể vượt qua được về mặt nhận thức
Nội dung môn học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ mà người học cần lĩnh hội trong quy trình đào tạo Nội dung môn học phải mới lạ, gắn với thực tế cuộc sống,
thực tiễn nghề nghiệp trong tương lai, nội dung môn học không quá khô khan, trừu tượng
mà được thiết kế dưới dạng các tình huống có vấn đề sẽ có tác dụng thu hút hứng thú, kích thích tính tìm tòi khám phá ở người học Nội dung môn học là cơ sở để nhà quản lý kiểm tra duy trì kỷ cương nề nếp học tập, là cơ sở để các cấp quản lý kiểm tra, giám sát hoạt động
học tập
1.5.4 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học
Trong hoạt động giảng dạy, nếu Giáo viên quá chú trọng đến việc chứng minh giải thích, minh họa cặn kẽ cho HS dễ hiểu bài sẽ làm cho HS có thói quen lười suy nghĩ, tiếp thu bài một cách thụ động Nếu GV xây dựng kế hoạch bài học theo hướng : chuẩn bị đồ dùng dạy học, lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với các điều kiện có được, thiết kế được các thao tác, hành động cho HS thực hiện tìm kiếm kiến thức rèn luyện kỹ năng, thì sẽ từng bước giúp học sinh biết cách tổ chức thu thập, xử lí thông tin học tập, có lòng tự tin và chủ động tích cực trong học tập
1.5.5 Ảnh hưởng của phương tiện, cơ sở vất chất, thiết bị dạy học
Cơ sở vật chất trường học là nói đến trang thiết bị trong phòng học, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm lý, hóa, thư viện, SGK và sách tham khảo… cho hoạt động dạy và học Cơ sở vật chất càng đầy đủ, hiện đại, sử dụng càng hiệu quả cao, thì càng tạo ra môi trường học tập thuận lợi cho HS Trong thời đại công nghệ thông tin, các phương tiện kỹ thuật ngày càng hỗ trợ tích cực, làm thay đổi cách dạy, cách học trong nhà trường Học sinh
có thể tự cập nhật thông tin học tập mới trên sách, báo, các phương tiện thông tin, mạng internet Vì vậy, muốn giảng dạy được tốt, GV phải thường xuyên tự học, tự nghiên cứu để nâng cao nghiệp vụ, trình độ chuyên môn của bản thân