Việc tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh với các hoạt động khác của nhà t
Trang 1Quách Ng ọc Trân
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2Quách Ng ọc Trân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong th ời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều tình cảm và sự giúp đỡ của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình cùng tất cả cán bộ, công nhân viên và học sinh tại 3 trường khảo sát và đặc biệt là sự dìu dắt tận tình của giáo viên hướng dẫn
L ời đầu tiên tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Ngô Đình Qua, người
Th ầy đã tận tình dẫn dắt và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này, xin cám ơn những kiến thức và thời gian quý báu của Thầy đã dành cho tôi
Xin trân tr ọng cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Tâm lý – Giáo d ục cùng tất cả quý thầy cô của Trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành c ảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên và học sinh của 3 trường: Trung cấp chuyên nghiệp Âu Việt, Trung cấp chuyên nghiệp Phương Đông, Trung c ấp Kinh tế Kỹ thuật Sài Gòn đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện kế hoạch nghiên cứu đã đề ra tại các trường
Xin cám ơn các anh chị học viên lớp cao học Quản lý giáo dục K21 cùng
b ạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian nghiên c ứu
Cu ối cùng, một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn, gửi lời chào và lời chúc sức khỏe đến tất cả cá nhân và tập thể đã hỗ trợ tôi hoàn thành bản luận văn này Thành ph ố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ, hình vẽ
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG H ỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 7 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 12
1.2.3 Quản lý nhà trường 13
1.2.4 Hoạt động 14
1.2.5 Hoạt động dạy học 15
1.2.6 Hoạt động học tập 17
1.2.7 Quản lý hoạt động dạy học 18
1.2.8 Quản lý hoạt động học tập của học sinh 19
1.3 Một số lý luận liên quan đến hoạt động học 19
1.3.1 Đối tượng của hoạt động học 19
1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động học 20
1.3.3 Phương tiện của hoạt động học 21
1.3.4 Những điều kiện của hoạt động học 22
1.3.5 Hình thành hành động học 22
1.3.6 Một số quan niệm hiện nay về hoạt động dạy và học trong nhà trường 24
1.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục và quản lý hoạt động học ở trường trung cấp chuyên nghiệp 26
1.4.1 Lý luận về quản lý giáo dục trung cấp chuyên nghiệp 26
1.4.2 Lý luận về quản lý hoạt động học tập ở trường trung cấp chuyên nghiệp 30
1.5 Đặc điểm của học sinh trung cấp chuyên nghiệp 41
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý, nhân cách 41
1.5.2 Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh trung cấp chuyên nghiệp 42
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập của học sinh trung cấp chuyên nghiệp 43
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC
NGHI ỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 46
2.1 Khái quát tình hình hoạt động của các trường trung cấp chuyên nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh 46
2.1.1 Khái quát về các trường trung cấp chuyên nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh 46
2.1.2 Khái quát tình hình học sinh giáo dục chuyên nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 53
2.1.3 Kết quả đào tạo và nhu cầu nhân lực của thành phố Hồ Chí Minh 57
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 59
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh ở một số trường trung cấp chuyên nghiệp thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo các chức năng và nội dung quản lý 65
2.3.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh 67
2.3.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh 73
2.3.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh 75
2.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh 77
2.4 Nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh ở một số trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay 88
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 89
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 89
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh ở một số trường TCCN TP.HCM 90
2.5.1 Mặt mạnh 90
2.5.2 Mặt yếu 91
2.6 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 91
2.6.1 Cơ sở xác lập biện pháp 91
2.6.2 Một số biện pháp nhằm cải tiến hiệu quả quản lý hoạt động học tập của học sinh trường trung cấp chuyên nghiệp 92
2.6.3 Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 101
PH Ụ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô, cơ cấu trình độ đội ngũ giáo viên TCCN 50
Bảng 2.2 Tỷ lệ học sinh/giáo viên chia theo nhóm ngành 51
Bảng 2.3 Thống kê xếp loại kết quả học lực và rèn luyện của HS TCCN TP.HCM qua các năm 57
Bảng 2.4 Danh sách các trường TCCN do Sở GD&ĐT TP.HCM quản lý 60
Bảng 2.5 Thống kê thông tin CBQL 3 trường khảo sát 66
Bảng 2.6 Thống kê thông tin GV 3 trường khảo sát 66
Bảng 2.7 Thông tin HS 3 trường khảo sát 67
Bảng 2.8 Thực trạng các chủ thể xây dựng và công bố kế hoạch quản lý hoạt động học tập của HS và hiệu quả đạt được 68
Bảng 2.9 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch QL mục tiêu, nhiệm vụ học tập của HS 70
Bảng 2.10 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch QL nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức, thời gian học tập của HS 71
Bảng 2.11 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý HĐHT của HS 73
Bảng 2.12 Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý HĐHT của HS 75
Bảng 2.13 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch QL HĐHT của HS 77
Bảng 2.14 Thực trạng hiệu quả chức năng xây dựng kế hoạch QL HĐHT của HS 80
Bảng 2.15 Thực trạng hiệu quả chức năng tổ chức thực hiện KHQL HĐHT của HS 81
Bảng 2.16 Thực trạng hiệu quả chức năng chỉ đạo thực hiện KHQL HĐHT của HS 83
Bảng 2.17 Thực trạng hiệu quả chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của HS 84
Bảng 2.18 Đánh giá chung thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập của HS 86
Bảng 2.19 Hiệu quả của các nội dung trong công tác quản lý HĐHT của HS 87
Bảng 2.20 Nguyên nhân tác động đến việc QL HĐHT của HS 88
Bảng 2.21 Thống kê điểm trung bình về biện pháp QL HĐHT của HS 95
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ diễn tả khái niệm quản lý 13 Hình 1.2 Mô hình học tập theo thuyết hành vi 18 Hình 1.3 Sơ đồ chu trình quản lý 27
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Như chúng ta đã biết, bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có thể đạt được sự phát triển như mong muốn Do đó, nguồn nhân lực là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; vừa là
chủ thể, vừa là khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu giữ vị trí trung tâm trong các nguồn lực, giữ vai trò quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới Bác Hồ của chúng ta cũng đã từng nói rằng: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
trồng người” [15, tr.93], hay V.I.Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại là công dân, là người lao động”
Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị,
của tất cả các cấp, các ngành, của toàn xã hội; diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã
hội; thông qua thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, giáo dục và đào tạo là phương tiện chủ yếu nhất Bởi vì giáo dục, thông qua hệ thống giáo dục, bằng nhiều hình thức khác nhau, trực tiếp đào tạo ra đội ngũ lao động đủ về số lượng, đảm bảo
về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu nhằm thay thế, bổ sung, nâng cao, đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất Chất lượng nguồn nhân
lực được đặt trưng bởi trình độ được đào tạo Tất cả đều do giáo dục quyết định
Nền giáo dục nước ta đang trên giai đoạn phát triển cùng với chủ trương của Đảng xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, các trường dần dần phát triển về qui mô
và chất lượng đào tạo Bên cạnh sự lớn mạnh về số lượng của các trường đại học, cao đẳng còn có sự phát triển không nhỏ của các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), đặc biệt là trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Theo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh tại Hội nghị Tổng kết Giáo dục
Trang 10chuyên nghiệp năm học 2010-2011, tính đến tháng 6/2011 có 33 trường trung cấp chuyên nghiệp do thành phố quản lý với tổng số 63.112 học sinh Trong đó có 26 trường ngoài công lập và 7 trường công lập [46]
Điều 33 - Luật Giáo dục (2005) của Quốc hội có quy định về mục tiêu giáo
dục TCCN là: “đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của
m ột nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công vi ệc” [44].Trong những năm qua, giáo dục TCCN đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân với nhiệm vụ đào tạo những
kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ có trình độ trung cấp, vừa có tri thức vừa có
kỹ năng và thái độ lao động tốt Giáo dục TCCN đã và đang đóng góp tích cực vào
việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển và hội nhập của đất nước
Quản lý hoạt động học tập của học sinh là một trong những nội dung của công tác quản lý giáo dục trong nhà trường Quan tâm đúng mực đến hoạt động học tập
của học sinh chính là trung tâm của toàn bộ công tác quản lý giáo dục trong nhà trường Quản lý tốt hoạt động học của học sinh sẽ nâng cao hiệu quả học tập của
học sinh, chất lượng học tập của học sinh sẽ phản ánh chất lượng quản lý của nhà trường “Chất lượng giảng dạy và học tập phản ánh tập trung tình trạng và chất lượng chung của toàn bộ giáo dục; và xét về nguyên tắc, nó thống nhất với chất lượng quản lý, chất lượng nghiên cứu và thông tin, chất lượng đào tạo” [29] Công tác quản lý nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo không phải chỉ phụ thuộc vào sự tác động của chủ thể quản lý mà còn ở việc phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác
của chính bản thân học sinh
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản
lý ho ạt động học tập của học sinh một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành ph ố Hồ Chí Minh” để đi vào làm rõ thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và từ
đó đưa ra các biện pháp hiệu quả nhằm góp một phần nhỏ vào việc cải thiện công tác này
Trang 112 M ục đích nghiên cứu
- Xác định được thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh
một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý hoạt động học tập của học sinh
một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh có hiệu quả
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý trường trung cấp chuyên nghiệp
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh
một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
4 Gi ả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh có thể đạt được thành tích trên những nội dung công tác như:
- Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh Bên cạnh đó, công tác này còn có thể có những hạn chế ở nội dung công tác
kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động học tập
của học sinh một số trường trung cấp chuyên nghiệp
- Khảo sát thực trạng về công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh một
số trường trung cấp chuyên nghiệp tại TP.HCM
- Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên
- Đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý hoạt động học tập của học sinh một
số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh có hiệu quả
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở phương pháp luận
6.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc: Quan điểm này được vận dụng trong
nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn của đề tài Việc tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh với các hoạt động khác của nhà trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay, cũng như xem xét công tác quản lý nhà trường là một hệ thống trong đó công tác quản lý
hoạt động học tập của học sinh là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành như: xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh; tổ chức thực hiện kế
hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh; chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý
hoạt động học tập của học sinh; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý
hoạt động học tập của học sinh Từ đó giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác
hơn thực trạng của vấn đề nghiên cứu
6.1.2 Quan điểm lịch sử - lôgíc: Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác
định được lịch sử nghiên cứu của vấn đề, sự vận động và phát triển của vấn đề trong
phạm vi không gian, thời gian, điều kiện hoàn cảnh cụ thể, nhằm điều tra thu thập
số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên
cứu theo một trình tự hợp lôgíc
6.1.3 Quan điểm thực tiễn: Quan điểm này giúp người nghiên cứu phát hiện
những mâu thuẫn, mặt mạnh, mặt yếu cũng như những nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh một số trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay, từ đó đề xuất các biện pháp cải tiến để công tác này được thực hiện
đạt hiệu quả hơn
6.2 Các phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá lý thuyết
Những vấn đề lý luận như: quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, hoạt động dạy học, hoạt động học tập, lý luận về hoạt động học, quản lý hoạt động học
Trang 13tập của học sinh là những nội dung cần phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá để xác lập cơ sở lý luận cho đề tài
6.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1 Phương pháp điều tra viết: Sử dụng các phiếu thăm dò ý kiến đối
với Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Trưởng khoa, Tổ trưởng bộ môn, giáo viên và
học sinh ở một số trường trung cấp về thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập
của học sinh
6.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản
lý, giáo viên của 3 trường trung cấp trong mẫu chọn nhằm thu thập ý kiến, nhận định về công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh hiện nay, làm cơ sở để
chứng minh giả thuyết nghiên cứu
6.2.2.3 Phương pháp quan sát
- Dự giờ một số tiết dạy và sinh hoạt lớp của giáo viên để tìm hiểu, thu thập thông tin về hoạt động học tập của học sinh 3 trường trung cấp chuyên nghiệp
- Tham dự một số phiên họp với giáo viên và cán bộ quản lý nhằm đánh giá
việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh ở 3 trường trung cấp chuyên nghiệp
6.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS for Win 17 với các phép toán thống kê như: tần số, trung bình, tỷ lệ %, các phương pháp kiểm nghiệm thống kê thông dụng để xử lý các số liệu điều tra
7 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chỉ đi vào nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh trung cấp hệ chính quy một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại TP.HCM
Luận văn tập trung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh
một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại TP.HCM bao gồm: Trường Trung cấp
Âu Việt, Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Sài Gòn, Trường Trung cấp Phương Đông
Trang 14Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về chức năng
quản lý hoạt động học tập của học sinh như:
- Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý HĐHT của học sinh
Và các vấn đề về nội dung quản lý hoạt động học tập của học sinh như:
- Quản lý mục tiêu, nhiệm vụ học tập của học sinh
- Quản lý nội dung học tập của học sinh
- Quản lý phương pháp, phương tiện học tập của học sinh
- Quản lý hình thức tổ chức học tập của học sinh
- Quản lý về thời gian học tập của học sinh
- Quản lý về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 09 năm 2012
Đối tượng khảo sát: cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục luôn là vấn đề muôn thuở của các quốc gia, mục đích của nó không
những muốn truyền đạt cho các thế hệ sau những kinh nghiệm thực tế của người đi trước mà còn giúp tạo ra nguồn nhân lực hiệu quả cho đất nước phát triển Vì vậy, trong nhà trường, hoạt động dạy học luôn được các nhà giáo dục quan tâm cải tiến
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục Suy cho cùng, mọi cố gắng trong nhà trường đều hướng vào mục đích là quản lý hoạt động học tập của học sinh (HS), HS là cội nguồn của mọi vấn đề trong tổ chức trường học, vì vậy từ trong nước đến ngoài nước đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, sau đây chúng tôi xin đơn cử
một số tác giả nghiên cứu về hoạt động học tập và quản lý hoạt động học tập của
- Theo John Dewey (1859 – 1925), nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu
thế kỷ XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào
vốn tri thức của HS những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên (GV), đề cao hoạt động đa dạng của HS, đặc biệt là hoạt động thực tiễn Ông viết:
“H ọc sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không
ph ải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh” [51];
- Năm 1996, Hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI
đã gửi UNESCO bản báo cáo “Học tập – Một kho báu tiềm ẩn”, báo cáo đã phân
Trang 16tích nhiều vấn đề giáo dục trong thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người học, cách học cần phải dạy cho thế hệ trẻ [51];
Một số tác giả tại Việt Nam cũng có nghiên cứu về lĩnh vực học tập của HS như:
- PGS.TS Hoàng Anh – PGS.TS Đỗ Thị Châu đã có công trình nghiên cứu
về “Tự học của sinh viên”; Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) – Nguyễn Kỳ - Lê Khánh
Bằng – Vũ Văn Tảo cũng có đề tài nghiên cứu về “Học và dạy cách học”; Đỗ Linh -
Lê Văn nghiên cứu về “Phương pháp học tập hiệu quả” Ngoài ra, các nhà giáo dục khác như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Trịnh Quang Từ, Nguyễn Ngọc Bảo và Hà
Thị Đức, Võ Quang Phúc đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động học và
tự học Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đề cập đến nhiều lĩnh vực liên quan đến công tác tổ chức hoạt động học, quản lý hoạt động học nhằm không ngừng phát huy tính sáng tạo, chủ động của người học, nâng cao chất lượng
hoạt động quản lý của nhà trường
- Nhìn chung, các tác giả trong nước và ngoài nước đều xem hoạt động học
tập là một bộ phận không thể tách rời hoạt động dạy – học, một thành phần không
thể thiếu được của quá trình dạy học, mà đỉnh cao của nó là sự tìm tòi, tự khám phá
của người học, vai trò của người thầy là người tổ chức, điều khiển quá trình học tập
bảo đảm tuân thủ theo một chương trình, kế hoạch, thời gian và đạt được mục tiêu
đề ra với hiệu quả cao nhất [52, tr.9]
Một số luận văn thạc sĩ đi trước cũng có quan tâm đến lĩnh vực này như luận văn của tác giả:
- Trà Thị Huỳnh Mai (2005), với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động học
tập đối với sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Long” Đề tài đã khái quát các
nội dung quản lý học tập, vai trò của chủ thể và khách thể quản lý hoạt động học
tập, sự phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế quản lý hoạt động học tập [14, tr.8];
- Trần Thị Tư (2003), với đề tài “Một số biện pháp của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh trường THPT huyện Châu Thành A, tỉnh
Cần Thơ” Đề tài đề cập đến vai trò của mục đích, động cơ, thái độ, phương pháp
học tập đến kết quả học tập Tác giả cũng nêu ảnh hưởng của nội dung, phương
Trang 17pháp giảng dạy và điều kiện, môi trường học tập đối với kết quả học tập Trong
luận văn cũng có nêu một số lý luận quản lý hoạt động học tập nhưng chưa đi sâu vào từng giải pháp cụ thể và chưa thể hiện sự phát huy vai trò của từng bộ phận, cá nhân trong nhà trường và sự phối hợp sức mạnh tổng hợp các lực lượng giáo dục [58];
- Nguyễn Thanh Sơn (2010), với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động học
tập của sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt”, luận văn đã đi sâu nghiên cứu một
số lý luận và thực trạng về hoạt động học tập, tự học của sinh viên và kiến nghị một
số biện pháp quản lý hoạt động học tập ở bậc đại học;
- Đinh Ái Linh (2006), với đề tài “Công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên ĐHQG-HCM”, luận văn đã xác định được
những đặc trưng của công tác quản lý sinh viên, góp phần làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học
quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời chỉ ra những tồn tại và nêu lên một số
biện pháp trong công tác tổ chức quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học
của sinh viên Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy hiện nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về “Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh một số trường trung cấp chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh” vì vậy chúng tôi đi vào nghiên cứu để biết được thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp cải tiến nhằm góp một phần nhỏ vào công trình nghiên cứu trong lĩnh vực
quản lý hoạt động học tập của HS trong nhà trường hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Trang 18- Theo Frederich Winslow Taylor (1856 – 1915), người được xem là “cha đẻ” của phương pháp quản lý khoa học, cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công
hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của
quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các
mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động
của con người Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn
tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, quốc tế và đều phải thừa
nhận và chịu một sự quản lý nào đó [52];
- C.Mác xem quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội, ông đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn
một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [51];
- Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ): Quản lý là chức năng của những
hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) nó
bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hành động [26];
- Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998): Quản lý là tổ
chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan [17];
Trang 19- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [14];
- Tác giả Trần Kiểm nêu khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều khiển, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với
hiệu quả cao nhất” [14];
Ngày nay thuật ngữ quản lý càng trở nên phổ biến, nhưng chưa có định nghĩa
thống nhất Tuy nhiên theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là do một hoặc nhiều
người điều phối hành động của người khác nhằm thu được kết quả như mong muốn
Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động,
ta có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ
th ể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Trong định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt
buộc
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người
- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy
luật khách quan
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại
Nhưng dù định nghĩa ra sao thì ta vẫn thấy quản lý luôn là một khoa học và là
một nghệ thuật Quản lý là một khoa học vì nó là hoạt động dựa trên những tri thức khoa học được hệ thống hóa, chủ thể quản lý vận dụng các quy luật để giải quyết
những vấn đề thực tiễn Quản lý là một nghệ thuật vì đây là hoạt động đặc biệt, hoạt
Trang 20động này đòi hỏi phải được vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt vào những tình
huống rất đa dạng, trong những điều kiện không gian, thời gian, hoàn cảnh, đặc biệt khác nhau
1.2.2 Qu ản lý giáo dục
Tác giả Trần Kiểm cho rằng quản lý giáo dục được hiểu theo 2 cấp độ: cấp độ
vĩ mô và cấp độ vi mô [27, tr.36]
Đối với cấp độ vĩ mô:
- Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã
hội đặt ra cho ngành Giáo dục
- Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (emergence) của hệ
thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ
thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động
- Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể
quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu
quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
- Các khái niệm trên tương ứng với sự phát triển hệ thống giáo dục của một
tỉnh/thành phố hoặc đối với hệ thống giáo dục của một ngành học, cấp học cụ thể nào đó Có thể thấy, các khái niệm đó không mâu thuẫn nhau, ngược lại bổ sung cho nhau: nếu khái niệm thứ nhất và thứ hai đòi hỏi tính định hướng, tính đồng bộ, toàn diện đối với những tác động quản lý, thì khái niệm thứ ba đòi hỏi tính cụ thể
của những tác động quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu
quản lý
Trang 21Đối với cấp vi mô:
- Quản lý giáo dục được biểu hiện là hệ thống những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
- Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác động của
chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay cấp vi mô, ta có thể thấy rõ
4 yếu tố của quản lý giáo dục, tạo thành sơ đồ sau:
Hình 1.1 Sơ đồ diễn tả khái niệm quản lý
Sự thực, trong thực tiễn, các yếu tố nêu trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng có quan hệ gắn bó tương tác với nhau Tóm lại, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa
hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn (mục tiêu)
một cách có hiệu quả nhất [51, tr.14]
1.2.3 Qu ản lý nhà trường
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô, nó là một hệ
thống con của quản lý vĩ mô Quản lý giáo dục Quản lý nhà trường có thể hiểu là
một hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật mang tính tổ chức –
sư phạm của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường
lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 22đất nước Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đào tạo đối với ngành giáo
dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [51]
Quản lý nhà trường bao gồm 2 loại tác động quản lý: tác động của những chủ
thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường; tác động của chủ thể quản lý bên trong nhà trường
- Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy – giáo
dục và học tập của nhà trường Quản lý nhà trường cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
- Quản lý nhà trường là những tác động do những chủ thể quản lý bên trong nhà trường thực hiện bao gồm các tác động để quản lý GV, quản lý HS, quản lý quá trình dạy học – giáo dục, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, quản lý tài chính trường học, quản lý lớp học, quản lý quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng Như vậy quản lý nhà trường còn được gọi là:
- Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý tới tập thể GV, HS và cán bộ viên chức khác trong nhà trường
- Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là
hoạt động dạy học – giáo dục
- Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường
tiến lên trạng thái mới
1.2.4 Ho ạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để tạo ra sản phẩm tương ứng nhằm thỏa mãn (trực tiếp hay gián tiếp) nhu
Trang 23cầu của bản thân, của một nhóm người hay của toàn xã hội Sau đây là một số khái
- Theo Phạm Minh Hạc: “Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai chiều tác động diễn ra đồng thời, thống nhất và bổ sung cho nhau” [51, tr.17] ;
- A.N.Lêônchiep đã nhấn mạnh rằng: “Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Ông cho rằng muốn sống được trong thế giới xung quanh, con người phải tiến hành các hoạt động đối với thế giới đó, sản xuất ra các đối tượng, lĩnh hội các phương thức sử dụng các đối tượng đó (các phương thức này
chứa sẵn trong các đối tượng đó) nhằm thỏa mãn nhu cầu này hay nhu cầu khác” [30, tr.20] ;
Như vậy, ta có thể hiểu hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể tự giác đặt ra để thỏa mãn nhu c ầu của bản thân Hoạt động sinh ra từ nhu cầu nhưng lại được điều chỉnh
bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được Nhu cầu với tư cách là động cơ, là nhân tố
khởi phát của hoạt động nhưng lại chịu sự chi phối của mục tiêu mà chủ thể nhận
thức được [51, tr.17]
1.2.5 Ho ạt động dạy học
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt, nhằm trang bị cho HS hệ thống
kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn [59, tr.52]
Trang 24Phân tích khái niệm dạy học, ngay cả khi xét về mặt hình thức ta dễ dàng nhận
thấy dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể đó là GV và HS Dạy và học được thực hiện đồng thời với cùng một nội dung và hướng tới cùng một mục đích
Phải khẳng định rằng, nếu hai hoạt động này bị tách rời sẽ lập tức phá vỡ khái niệm quá trình dạy học Học tập không có GV trở thành tự học Giảng dạy không có HS
trở thành độc thoại
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó, không tách rời nhau, thống nhất
biện chứng với nhau, tạo thành một hoạt động chung Dạy điều khiển học, học tuân
thủ dạy Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học phải thông minh và phương pháp phải sáng tạo Dạy tốt dẫn đến học tốt, học tốt đòi hỏi phải dạy tốt Thi đua
dạy tốt, học tốt là một phong trào hướng vào cải tiến phương pháp dạy và học, là
việc làm phù hợp với quy luật của quá trình dạy học
Suy cho cùng việc giảng dạy là vì HS, vì có HS nên có nhà trường và thầy giáo HS là trung tâm của mọi sự cố gắng, mọi cải tiến về nội dung và phương pháp
dạy học, là trung tâm của mọi tìm tòi về cách tổ chức quá trình dạy học và giáo dục, cũng như xây dựng vững chắc hệ thống giáo dục quốc dân Chính vì HS mà người
ta tiến hành quá trình dạy học bằng cách khơi tiềm năng trí tuệ của HS, nghĩa là quá trình học tập được tiến hành bởi HS HS vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình dạy học Đó chính là bản chất của quan điểm “Dạy học lấy HS làm trung tâm”
một quan điểm dạy học hiện đại, là cơ sở lý luận để tiến hành các hoạt động dạy học
có hiệu quả.[59]
Từ những phân tích trên ta có thể khẳng định: hoạt động dạy học là hệ thống
nh ững hành động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, trong đó dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế
gi ới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách (Hoạt động dạy học là sự
thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong hoạt động dạy học – hoạt động
dạy và hoạt động học)
Hoạt động dạy học có các đặc trưng cơ bản sau:
Trang 25- Dạy học là một hoạt động kép bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, dạy hướng đến học, dạy thúc đẩy học và làm cho học thành công; HS giữ vai trò chủ động, tự giác, tích cực, độc
nền văn minh nhân loại và rèn luyện hình thành kỹ năng hoạt động, tạo lập thái độ
sống tốt đẹp
1.2.6 Hoạt động học tập
Học là một khái niệm chủ đạo trong giáo dục, đã có nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách giải thích phong phú và đa dạng về sự học như quan điểm các nhà tâm lý học sau:
- Quan điểm chủ nghĩa hành vi (Behavorism): học tập là sự thay đổi hành
vi Thuyết hành vi cho rằng, học tập là một quá trình đơn giản mà trong đó những
mối liên hệ phức tạp sẽ được làm cho dễ hiểu và rõ ràng thông qua các bước học tập
nhỏ được sắp xếp một cách hợp lý Cơ chế của việc học dựa trên cơ chế kích thích
và phản ứng Thông qua những kích thích về nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá, người học có những phản ứng tạo ra những hành vi học tập và qua việc luyện tập đó thay đổi hành vi của mình Vì vậy, quá trình học tập được hiểu là quá trình thay đổi hành vi Hiệu quả của nó có thể thấy rõ khi luyện tập cũng như khi
học tập các quá trình tâm lý vận động và nhận thức đơn giản [1, tr.8] Cơ chế học
tập theo thuyết này có thể biểu diễn ở hình 1.2
Trang 26Mô hình học tập theo thuyết hành vi
Hình 1.2 Mô hình h ọc tập theo thuyết hành vi
- Quan điểm nhận thức luận: [1, tr.12]
Học (học tập) là sự hiểu; là sự tiếp thu thông tin, tạo năng lực; là hội nhập
những dạng thức mới vào cấu trúc nhận thức; là biến đổi cách trình bày tư duy
Thuyết nhận thức (Cognitivism): học tập là quá trình xử lý thông tin
Theo thuyết nhận thức, quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc, và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử
lý và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử
Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: xác định, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã
học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới
Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinh nghiệm Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng Vì vậy, muốn có sự thay đổi đối với một người thì cần phải có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó
Tóm lại, việc học tập bao gồm việc học và tập Học là quá trình nhận thức,
nhằm tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử - xã hội Tập là rèn luyện để có kỹ năng
hoạt động và có thái độ tốt trong các mối quan hệ với cuộc sống và lao động Việc
học tập do HS thực hiện một cách có ý thức và chủ động, học tập là con đường để
mỗi người tự làm giàu kiến thức, như một phương thức để tự biến đổi bản thân, là
cơ hội để trở thành người lao động chủ động và sáng tạo [59]
H ọc sinh
(Phản ứng, thay đổi hành vi)
Trang 27thế, quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình dạy của GV và quá trình học tập
của HS Người Hiệu trưởng thực hiện quản lý hoạt động dạy – học thông qua các
chức năng quản lý của mình đó là hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Việc quản
lý đó không chỉ đơn thuần là quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, cách kiểm tra kết quả của người học mà còn phải quản lý tất cả các hoạt động của người dạy nhằm nâng cao chất lượng, nâng cao năng lực tự học cho HS Như vậy,
quản lý hoạt động dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo
mục tiêu đào tạo của nhà trường
Nếu xét dạy và học như một hệ thống thì quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học là quan hệ điều khiển và bị điều khiển Do đó, hành động quản lý của
Hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động của thầy và trực tiếp với thầy, gián
tiếp với trò, thông qua hoạt động của thầy để quản lý hoạt động của trò
Trong toàn bộ quá trình quản lý của nhà trường thì quản lý hoạt động dạy –
học của người Hiệu trưởng là một trong những hoạt động cơ bản nhất Nó chiếm
thời gian, công sức rất lớn của người Hiệu trưởng
1.2.8 Qu ản lý hoạt động học tập của học sinh [52, tr.18]
Hoạt động học tập (HĐHT) là một bộ phận của hoạt động dạy – học, nên quản
lý hoạt động học tập mang đầy đủ các đặc điểm, chức năng, tính chất của hoạt động
quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng như chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung quản lý, phương pháp quản lý, phương tiện quản lý,
Vì vậy, ta có thể nói quản lý hoạt động học tập của HS là những tác động có ý thức
c ủa chủ thể quản lý đến HS và hoạt động học tập của HS nhằm đạt được các mục tiêu c ủa nhà trường
1.3 Một số lý luận liên quan đến hoạt động học
1.3.1 Đối tượng của hoạt động học
Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
với nó Có thể nói, cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kỹ
Trang 28năng kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân Việc tái tạo này sẽ không
thể thực hiện được, nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư
phạm, nếu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ được truyền cho người học theo cơ
chế máy phát (người dạy) – máy nhận (người học) Muốn học có kết quả, người học
phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân Do đó, muốn phát động được tính tự giác trong học tập của HS,
việc đầu tiên là làm cho đối tượng cần chiếm lĩnh được xuất hiện trong ý thức của
HS [22] Muốn vậy GV phải biên soạn nội dung, thiết kế giáo án, chế biến tài liệu
học tập và tổ chức hoạt động dạy sao cho những tri thức trở nên gần gũi và tạo động
lực cho HS, giúp HS nhận thức được chính nó là đối tượng học tập của mình
1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động học
Nhiệm vụ học tập là mục đích mà HS đề ra cho mình dưới hình thức “bài toán” có vấn đề Chính cái này tạo ra tình huống có vấn đề hay tình huống học tập,
mà nếu giải quyết được thì HS thực hiện được mục đích của mình – nắm vững tri
thức và kỹ năng cần thiết Elkonhin cho rằng: “Nhiệm vụ học tập là đơn vị (tế bào)
của hoạt động học tập Sự khác nhau cơ bản của nhiệm vụ học tập với các nhiệm vụ khác là ở chỗ: mục đích và kết quả của nó là sự thay đổi của bản thân chủ thể hoạt động chứ không phải là sự thay đổi của các đối tượng mà chủ thể hành động với chúng” [1]
Trong học tập, mục đích bao trùm là chiếm lĩnh đối tượng của hoạt động học (đối tượng học tập) Đối tượng này được cụ thể hóa thành hệ thống các mục đích bộ
phận Trong thực tiễn dạy học, HS phải vươn tới từng mục đích bộ phận này bằng cách thực hiện các nhiệm vụ học tập tương ứng do GV đề ra Vì vậy, trong thực tế,
việc tổ chức cho HS chiếm lĩnh đối tượng diễn ra dưới hình thức tổ chức cho các
em thực hiện một hệ thống các nhiệm vụ học tập, việc sắp xếp nhiệm vụ học tập không thể tùy tiện, nó phải tuân theo một lôgic chặt chẽ, trùng hợp với lôgic của đối tượng học tập Theo tinh thần đó, người ta có thể nói rằng: muốn tạo ra và thúc đẩy
sự phát triển tâm lý của HS trong dạy học thì GV phải biết cách thiết lập các nhiệm
vụ học tập (điều đó được thể hiện trong việc lập kế hoạch giảng dạy dài hạn, ngắn
Trang 29hạn, cũng như từng giáo án) và tổ chức cho HS thực hiện hệ thống các nhiệm vụ
học tập đó Mỗi nhiệm vụ học tập nhằm tạo ra một sản phẩm giáo dục, nơi định hình một phẩm chất hay năng lực mới được hình thành trong quá trình học tập
1.3.3 Phương tiện của hoạt động học
Ở hoạt động nào cũng vậy, muốn chiếm lĩnh đối tượng, chủ thể phải có những phương tiện nhất định, những công cụ cần thiết Phương tiện hữu hiệu, công cụ thích hợp thì sự chiếm lĩnh đối tượng càng thuận lợi và đạt hiệu quả cao Bản thân các phương tiện học tập chứa đựng những quy tắc, những con đường để tiến hành các thao tác học tập, nếu thiếu nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới kết quả học tập Phương tiện học tập có 2 dạng: phương tiện vật chất và phương tiện tư duy
- Phương tiện vật chất đó là toàn bộ các thành tố vật chất giúp HS tiến hành các thao tác học tập như: thư viện, sách, vở, phòng thí nghiệm với các thiết bị
bộ môn Trong nhà trường, sách vở, tài liệu tham khảo là những công cụ đắc lực
của người học Thư viện trường cần có nhiều tài liệu mang tính cập nhật Có như
vậy mới tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động học tập của HS diễn ra có kết quả Ngoài sách vở và tài liệu tham khảo, các yếu tố vật chất khác như: bàn ghế, ánh sáng, phòng học, phòng đọc, các phương tiện kỹ thuật như máy tính cũng sẽ là
những yếu tố quan trọng tạo cho HS có được sự hứng thú, niềm say mê thực hiện các thao tác tự học để đạt tới mục đích học tập [1]
- Phương tiện tư duy: trong hoạt động học tập, tư duy là phương tiện cơ
bản Như ta đã biết, tư duy đó là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát, gián
tiếp, vì nó phản ánh những thuộc tính hiện thực, lôgic của đối tượng thông qua các khái niệm Không những thế, nó còn thay thế những hành động thực tế với chính các sự vật bằng các hành động tinh thần với những hình ảnh tinh thần (hình tượng,
biểu tượng, khái niệm) do đó cho phép giải quyết các nhiệm vụ học tập, nhiệm vụ
thực tế thông qua hoạt động tinh thần (lý luận) Ngoài lý do đó, tư duy còn bao hàm
cả việc biến đổi những cứ liệu đã có và nhờ sự biến đổi đó người ta đạt được mục đích học tập đề ra
Trang 30Vì vậy, trong quá trình dạy học GV phải chú ý đến 2 loại phương tiện này
nhằm hỗ trợ về phương tiện vật chất và dần rèn luyện về phương tiện tư duy giúp cho HS hình thành một công cụ hữu ích trong việc chiếm lĩnh tri thức
1.3.4 Những điều kiện của hoạt động học
Hoạt động học bao giờ cũng diễn ra trong điều kiện của sự chỉ đạo sư phạm, các hoạt động dạy Do đó, chất lượng và hiệu quả của hoạt động học chủ yếu phụ thuộc vào nội dung và tính chất của hoạt động dạy
Ngày nay, mọi mặt của đời sống hiện thực đang đổi mới nhanh chóng và sâu
sắc Nó đòi hỏi nhà trường phải cung cấp cho xã hội những con người năng động và sáng tạo Để đáp ứng nhu cầu của đời sống hiện thực, nhà trường phải đổi mới cả
nội dung lẫn phương pháp, do đó cũng kéo theo sự thay đổi quan hệ thầy và trò trong quá trình dạy học
Tóm lại, để tạo động lực học tập cho HS, giúp HS nắm vững tri thức và rèn luyện kỹ năng, thái độ nhà trường cần xem xét nhiều mặt như nội dung bài học, phương pháp dạy học, cách tổ chức triển khai, nhưng điều cốt lõi nhất là luôn liên
hệ, lắng nghe, trao đổi với HS để thu nhận được các ý kiến phản hồi trong quá trình
dạy học
1.3.5 Hình thành hành động học
1.3.5.1 Động cơ của hoạt động học
Chúng ta đều hiểu rằng hoạt động – đó là sự đáp trả lại của cá thể đối với một tình huống hiện thực xác định Hoạt động được thúc đẩy bởi những động cơ xác định và diễn ra trong một tình huống xác định Vả lại, động cơ không phải là cái gì
trừu tượng ở bên trong cá thể Nó phải được thực hiện ở đối tượng của hoạt động Nói cách khác, đối tượng của hoạt động chính là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy
Động cơ học tập của HS được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học, tức là
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ
Những công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng có hai loại động cơ: những động cơ hoàn thiện tri thức và những động cơ quan hệ xã hội Hai động cơ này
Trang 31tương ứng với A.V.Petropxki gọi là động cơ bên trong và động cơ bên ngoài
- Động cơ bên trong là động cơ do những yếu tố kích thích xuất phát từ mục đích học tập của HS như lòng khao khát mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu
biết, say mê với bản thân quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập… tất cả những
biểu hiện này đều do sự hấp dẫn, lôi cuốn của bản thân tri thức cũng như những phương pháp giành lấy tri thức đó
- Động cơ bên ngoài là động cơ do những yếu tố kích thích bên ngoài đối
với mục đích học tập của các em HS như thưởng và phạt, đe dọa và yêu cầu, thi đua
và áp lực, khơi lòng hiếu danh, mong đợi hạnh phúc và lợi ích tương lai, cũng như
sự hài lòng của cha mẹ, sự khâm phục của bạn bè… Đây là những mối quan hệ xã
hội khác nhau của các em Ở đây, những tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi…, đối tượng đích thực của HĐHT chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản khác Trong trường hợp này, những mối quan hệ xã hội của cá nhân được hiện thân ở đối tượng
học tập Do đó, ta gọi động cơ học tập này là động cơ quan hệ xã hội
Thông thường, cả hai loại động cơ học tập này cũng được hình thành ở HS Chúng làm thành một hệ thống được sắp xếp theo thứ bậc Vấn đề là ở chỗ, trong
những hoàn cảnh, điều kiện xác định nào đó của dạy và học thì loại động cơ nào được hình thành mạnh mẽ hơn, nổi lên hàng đầu và chiếm địa vị ưu thế trong sự sắp
xếp theo thứ bậc của hệ thống các động cơ
Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt, mà phải được hình thành dần dần chính trong quá trình HS ngày càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học
tập dưới sự tổ chức và điều khiển của thầy [22, tr.85]
1.3.5.2 M ục đích của hoạt động học
Đối tượng học tập là nơi hiện thân của động cơ Muốn cho HĐHT thực hiện được động cơ, đối tượng của HĐHT phải được cụ thể hóa thành hệ thống các khái
niệm của môn học Thông qua hành động học tập, HS chiếm lĩnh từng mục đích bộ
phận, riêng rẽ và dần dần tiến tới chiếm lĩnh toàn bộ đối tượng Như vậy, mỗi khái
niệm của môn học thể hiện trong từng tiết, từng bài là những mục đích của HĐHT
Trang 32Hoạt động học bao giờ cũng có mục tiêu, từ mục tiêu riêng của từng tình
huống, từng bài học đến mục tiêu chung của một khóa học, một cấp học, cho đến
mục tiêu cuối cùng hay mục đích học
Mục đích học cần được định hướng theo yêu cầu của thời đại về sự phát triển con người (phát triển bản thân con người và mối quan hệ với người khác) và về sự hòa nhập xã hội và nghề nghiệp của chủ thể (cộng đồng xã hội mà sự sinh tồn và
tiến hóa lệ thuộc vào từng thành viên)
1.3.5.3 Các hành động học tập
HS giải quyết các nhiệm vụ học tập của mình nhờ vào các hành động học tập
Đó là các hành động sau:
- Hành động tách các vấn đề từ các nhiệm vụ học tập được đề ra;
- Hành động vạch ra phương thức chung để giải quyết vấn đề trên cơ sở phân tích các quan hệ chung trong tài liệu học tập;
- Hành động mô hình hóa các quan hệ chung của tài liệu học tập và các phương thức chung đã giải quyết các vấn đề học tập;
- Hành động cụ thể hóa và phong phú hóa các thể hiện cục bộ, riêng lẻ của các quan hệ chung và các phương thức hành động chung;
- Hành động kiểm tra tiến trình và kết quả hoạt động học tập;
- Hành động đánh giá sự phù hợp giữa tiến trình và kết quả hoạt động học
tập của HS với nhiệm vụ học tập và các vấn đề được rút ra từ nhiệm vụ đó [1, tr.56]
1.3.6 Một số quan niệm hiện nay về hoạt động dạy và học trong nhà trường
Tác giả Hồ Văn Liên [33] cho rằng: Dạy là lao động sư phạm của người dạy
có đối tượng là người học, nhân vật trung tâm của quá trình sư phạm, lấy mục đích
của người học (trong đó có các định hướng yêu cầu xã hội) làm mục đích dạy và do
đó nội dung dạy là nội dung học Người dạy, việc dạy là vô cùng quan trọng, nhưng người dạy không thể làm thay, sống thay cho người học Do đó việc dạy với mục đích là giúp cho người học thực hiện được mục đích của mình Đó là giúp cho người học hiểu được bản thân mình và những mục tiêu hiện tại và tương lai cần đạt được Trong những lần cố gắng và lĩnh hội vốn kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài
Trang 33người, HS bộc lộ những mặt mạnh, mặt yếu của mình; người dạy sẽ chỉ cho người
học thấy điều đó để rồi thúc đẩy, hướng dẫn họ tự mình phát huy ưu điểm, khắc
phục những hạn chế bằng những cách thích hợp nhất Đó là thực chất của việc dạy,
đó là mục đích của việc dạy
Khác với trước đây, người dạy được coi là người nắm chân lý, người có quyền
uy tối cao trong dạy học và do đó dễ dẫn tới sự áp đặt, dạy học theo kiểu “thầy đọc, trò ghi”, “học vẹt”, “học tủ” không kích thích được tính tích cực, độc lập, tự giác, sáng tạo của người học Và do đó không thể đào tạo HS thành những người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo Cuối những năm 70 của thế kỷ này một vấn đề
thời sự sư phạm bắt đầu ở Hoa Kỳ đã nói nhiều đến vấn đề mục tiêu trong giáo dục:
mục tiêu sư phạm, mục tiêu đào tạo và công nghệ xây dựng mục tiêu một cách khoa
học
Khoa học sư phạm cũ mang tính áp đặt, dựa trên cấu trúc lôgic của những hiểu
biết đã hoàn tất và trên nguyên tắc tiến từng bước một theo mệnh lệnh kiểu quân sự đang vấp phải những luồng gió mới Luồng gió mới đó là: thay vì truyền đạt cho người học một tri thức “đã làm sẵn”, người dạy ngày nay phải gợi mở cho người
học “khám phá” tri thức, hướng dẫn người học tự mình xây dựng những cái cần
phải “hiểu biết” để: “biết”, “biết làm” và “biết làm người”, và nhằm vào hiệu quả này, người học đi từ vấn đề này sang vấn đề khác, ở đó mỗi “mất cân bằng” là một
dịp học, ở đó mỗi hoạt động đều dẫn đến một cửa mở, một nghiên cứu mới cần tiến hành Và chính người học phải giao cho bản thân mình những mục tiêu cần đạt
Nếu người dạy không biết chắc nơi người học muốn đến, hay phải đến, sẽ có nguy cơ người dạy ép buộc người học đến một nơi không cần đến Nếu người dạy làm cho người học nhìn đúng và rõ ràng mục đích, mục tiêu cần học… thì rất có
thể, trong khá nhiều trường hợp, người dạy không còn gì phải làm
Mối quan hệ giữa người dạy và người học đang có chiều hướng thay đổi, chuyển từ quan hệ ép buộc – thụ động sang chủ đạo - chủ động Người dạy là người thiết kế, điều khiển, điều chỉnh, hướng dẫn, cổ vũ cho người học Người học và các
hoạt động tương ứng với hoạt động dạy sẽ là người thi công, tự điều khiển, tự điều
chỉnh, tích cực, tự giác, độc lập
Trang 341.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục và quản lý hoạt động học ở trường trung cấp chuyên nghiệp
1.4.1 Lý luận về quản lý giáo dục trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)
1.4.1.1 Ch ủ thể và khách thể quản lý giáo dục
Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động
và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý Tác động có thể liên tục nhiều lần
Chủ thể quản lý phải thực hiện việc tác động và phải biết tác động Vì thế chủ
thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả
Chủ thể quản lý có thể là một người, một nhóm người, một thiết bị; còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật Như vậy có thể hiểu chủ thể quản lý là những người sử dụng nguyên tắc, phương pháp, những cách thức thực hiện chức năng, vai trò trong phạm vi trách nhiệm để sử dụng và phát huy nguồn lực phục vụ mục tiêu của tổ chức
1.4.1.2 Các ch ức năng quản lý giáo dục
Cũng giống như nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý, có nhiều ý kiến không
giống nhau về số lượng chức năng quản lý Tuy nhiên, hầu hết đều đề cập tới bốn
QL, đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức Kế đó là
chức năng tổ chức Thực hiện chức năng này, người QL phải hình thành bộ máy/ cơ
cấu các bộ phận (tùy theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ
Trang 35giữa chúng Điều hành (chỉ đạo, tổ chức thực hiện) là nhiệm vụ tiếp theo của người
QL Đây là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến Chính ở khâu này, đòi hỏi người QL phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật QL
Cuối cùng người QL phải thực hiện chức năng kiểm tra, nhằm đánh giá việc thực
hiện các mục tiêu đề ra Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải
xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức
Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn
tiến hoạt động của tổ chức; và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức
Các chức năng nêu trên lập thành chu trình quản lý Chủ thể quản lý khi triển khai hoạt động quản lý đều thực hiện chu trình này
Hình 1.3 Sơ đồ chu trình quản lý
Việc thực hiện chu trình quản lý tạo nên tính hoàn chỉnh hoạt động quản lý Tuy nhiên, việc thực hiện chu trình đó không tách rời việc thực hiện chức năng khác Chẳng hạn thực hiện chu trình quản lý không tách khỏi chức năng kế hoạch hóa, xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý
Tùy từng đối tượng quản lý và tình huống cụ thể, việc thực hiện chu trình quản
lý kết hợp một cách hợp lý, đúng đắn có thể tạo nên “qui trình công nghệ” của quản
tổ
chức
Chức năng
chỉ đạo
thực
hiện
Chức năng
kiểm tra
Thông tin phục vụ quản lý
Trang 361.4.1.3 Nhi ệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trường TCCN
Điều 19 của Thông tư số 54/2011/TT-BGDĐT ngày 15/11/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Điều lệ trường TCCNcó quy định như sau:
- Tổ chức thực hiện các quyết nghị quy định tại khoản 3 Điều 17 của Điều
lệ trường TCCN [8] Nếu Hiệu trưởng không nhất trí với quyết nghị của Hội đồng trường phải kịp thời báo cáo, xin ý kiến cơ quan quản lý nhà trường Trong thời gian chờ ý kiến của cơ quan quản lý, Hiệu trưởng vẫn phải thực hiện theo quyết nghị của Hội đồng trường
- Chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, chiến lược và kế
hoạch phát triển nhà trường Hàng năm báo cáo Hội đồng trường về tình hình thực
hiện các mục tiêu, kế hoạch phát triển trường
- Quản lý các công tác chuyên môn về đào tạo, tổ chức chỉ đạo xây dựng và phê duyệt chương trình giáo dục, kế hoạch giảng dạy, chương trình và giáo trình môn học của trường và các hoạt động giảng dạy, học tập trong trường
- Tổ chức và chỉ đạo công tác thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế về khoa học và đào tạo, liên kết với các cơ sở nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu sử
dụng lao động và việc làm
- Quản lý cán bộ, viên chức Thực hiện chế độ chính sách của Nhà nước đối
với cán bộ, viên chức và người học của trường; sắp xếp tổ chức và cán bộ của trường, thực hiện những công việc thuộc thẩm quyền trong bổ nhiệm, miễn nhiệm, tuyển dụng và sử dụng cán bộ, viên chức theo quy định của pháp luật Quyết định
việc thành lập các hội đồng tư vấn, các phòng chức năng, các khoa, tổ bộ môn và các cơ sở phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của trường
- Quản lý người học; quyết định các công việc về tuyển sinh, thi, công nhận
tốt nghiệp, xếp loại tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp và quản lý văn
bằng, chứng chỉ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Quản lý hành chính, văn thư, lưu trữ Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ theo quy định của cơ quan quản lý cấp trên có thẩm quyền
Trang 37- Quản lý tài chính, tài sản, thiết bị của trường; quản lý sử dụng các nguồn
vốn hiệu quả và minh bạch vào công tác đào tạo, xây dựng và phát triển trường
- Tổ chức và chỉ đạo phong trào thi đua, lao động công ích, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, thực hiện quy chế dân chủ, chấp hành pháp luật, bảo vệ và gìn
giữ môi trường vệ sinh, an ninh trật tự trong trường
- Tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra trong trường; quyết định việc khen thưởng và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, viên chức và người học của trường theo quy định của Nhà nước
- Tổ chức hệ thống giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục trong nhà trường
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và hưởng các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật
1.4.1.4 Nhi ệm vụ và quyền hạn của giáo viên trường TCCN
Điều 36 của Thông tư số 54/2011/TT-BGDĐT ngày 15/11/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Điều lệ trường TCCN có nêu lên nhiệm vụ của GV TCCN là:
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ
và có chất lượng chương trình giáo dục
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ trường TCCN
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng
của người học
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Trang 38Điều 37 của Thông tư số 54/2011/TT-BGDĐT ngày 15/11/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Điều lệ trường TCCN có nêu lên quyền của giáo viên TCCN là:
- Ðược giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo
- Ðược đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
- Ðược hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy
đủ nhiệm vụ nơi mình công tác
- Ðược bảo vệ nhân phẩm, danh dự
- Được nghỉ hè, nghỉ Lễ, Tết và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định của Bộ Luật lao động
- Ðược hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật
1.4.2 Lý luận về quản lý hoạt động học tập ở trường trung cấp chuyên nghiệp
1.4.2.1 Ch ủ thể và khách thể quản lý hoạt động học
Chủ thể quản lý HĐHT của HS bao gồm nhiều bộ phận quan hệ dọc và quan
hệ ngang, đó là: Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, phòng Công tác chính trị - Học sinh sinh viên, phòng Quản trị thiết bị, các Khoa, Tổ bộ môn, Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên và cán bộ các lớp, Mỗi bộ phận, thành viên
của hệ thống tổ chức quản lý này đảm nhận những vai trò, vị trí khác nhau Cụ thể: [52, tr.18]
- Ban Giám hiệu: chỉ đạo chung, huy động và thống nhất các nguồn lực, nhân lực tác động đến hoạt động học tập của HS Phân công trách nhiệm quản lý
hoạt động học tập đến từng phòng ban, cá nhân Ban Giám hiệu quản lý hoạt động
học tập của HS thông qua Nghị quyết lãnh đạo, chỉ thị, mệnh lệnh của Hiệu trưởng
và kế hoạch tổ chức thực hiện các nội dung, các hoạt động dạy và học trong nhà trường Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, nhưng có thể không trực tiếp phụ trách mà phân công một Phó Hiệu trưởng
quản lý hoạt động dạy – học, Phó hiệu trưởng phụ trách quản lý hoạt động dạy –
Trang 39học làm việc dưới sự lãnh đạo của Hiệu trưởng, cùng với Hiệu trưởng lập kế hoạch công tác, báo cáo với Hiệu trưởng về phần công việc của mình
- Phòng Đào tạo: là cơ quan tham mưu cho Hiệu trưởng về quản lý, điều hành hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động học của HS trong toàn trường nói riêng Trong quản lý hoạt động học tập của HS, phòng đào tạo có nhiệm vụ xây
dựng và ban hành kế hoạch học tập toàn khóa cho từng đối tượng HS, tổ chức điều hành mọi hoạt động học tập của HS bảo đảm tính toàn vẹn của chương trình, cũng như mục tiêu đào tạo của từng chuyên ngành Đồng thời, phòng Đào tạo còn có vai trò là trung tâm phối hợp giữa các lực lượng trong toàn trường để tổ chức, điều hành,
kiểm tra, giám sát kết quả và chất lượng học tập của HS, tổ chức các hoạt động phong trào để kích thích động cơ cũng như bảo đảm các yếu tố cho hoạt động học
tập của HS diễn ra theo đúng kế hoạch và đạt được mục tiêu đề ra Mặt khác, Phòng Đào tạo còn là cầu nối giữa GV, HS và các đơn vị với Ban Giám hiệu nhà trường trong quản lý hoạt động dạy – học
- Phòng Công tác chính trị - Học sinh sinh viên: Đảm bảo công tác Đảng, công tác chính trị đối với hoạt động học tập của HS, chỉ đạo việc tổ chức giảng dạy
và học tập các môn lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời đảm nhiệm vai trò nắm bắt, động viên tinh thần, tư tưởng của HS, bảo đảm mọi HS đều
an tâm tư tưởng, xác định rõ nhiệm vụ học tập của mình Mặt khác, phòng Công tác chính trị - Học sinh sinh viên còn đảm nhiệm vai trò chủ trì trong các hoạt động văn hóa, tinh thần, bảo đảm các quyền lợi chính trị cho HS như hoạt động Đoàn, hoạt động Đảng, các chế độ chính sách của người học
- Phòng Quản trị thiết bị: Đảm bảo các công tác về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học, tham mưu cho Ban Giám hiệu về trang
bị cơ sở vật chất trong toàn trường, lập kế hoạch đầu tư các phương tiện dạy học cung cấp một môi trường học tập tốt cho HS
- Khoa:
+ Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình, kế hoạch giảng dạy chung của nhà trường;
Trang 40+ Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; phối
hợp với các tổ chức khoa học, cơ sở sản xuất kinh doanh, gắn đào tạo với nghiên
cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội;
+ Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên, người học thuộc khoa mình theo phân cấp của Hiệu trưởng;
+ Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học, tài liệu giảng dạy, biên soạn đề thi kiểm tra đánh giá do Hiệu trưởng chỉ đạo Tổ chức nghiên cứu cải
tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa học;
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức đánh giá nhu cầu đào tạo, thực hiện bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV và cán bộ nhân viên thuộc khoa mình
- Tổ bộ môn: Hiệu trưởng tổ chức các tổ chuyên môn theo từng môn học
hoặc nhóm môn học; mỗi tổ chuyên môn có một tổ trưởng và một hoặc hai tổ phó Điều quan trọng là Hiệu trưởng chỉ định các tổ trưởng, tổ phó có đủ phẩm chất và năng lực để điều kiện hoạt động của tổ theo mục tiêu của nhà trường
- Giáo viên chủ nhiệm:
+ Giúp Hiệu trưởng trong việc quản lý, giáo dục và rèn luyện người học + Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động của lớp học do mình phụ trách
+ Phối hợp với các GV bộ môn, các tổ chức trong và ngoài trường, gia đình người học để quản lý và giáo dục người học
- Giáo viên bộ môn:
+ Giúp Hiệu trưởng trong việc quản lý, giáo dục và rèn luyện người học trong giờ mình phụ trách
+ Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động của lớp học trong giờ học do mình phụ trách
+ Phối hợp với GVCN để phản ánh kịp thời tình hình của người học trong
lớp mình phụ trách