1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những tác động của tự do hoá tài chính đến hệ thống tài chính của Việt Nam hiện nay

45 865 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 354,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình tự do hóa tài chính sẽ giúp tạo ra một môi trường minh bạch, linh hoạt và hiệu quả cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, mang lại động lực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

TIỂU LUẬN MÔN NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VỐN

Đề tài: Phân tích những tác động của tự do hoá

tài chính đến hệ thống tài chính của Việt Nam

hiện nay

Giáo viên hướng dẫn: TS.Nguyễn Thị Lan Người thực hiện : Nguyễn Hà Quyên (LP, stt 64)

Trần Ánh Ngọc (stt 55) Đặng Tuyết Nhung (stt 58) Lớp : Cao học 19C.TCNH

Hà Nội, tháng 02 – Năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

LỜI MỞ ĐẦU

Trang

2.1 Quá trình hội nhập của Việt Nam với nền kinh tế toàn cầu 18 2.1.1 Quá trình tự do hoá tài chính trong nước ở Việt Nam 18 2.1.1.1 Cải cách hệ thống ngân hàng để nâng cao hiệu quả phân bổ

2.1.1.3 Hình thành và phát triển hệ thống điều hành tiền tệ dựa

trên cơ sở thị trường với hệ thống các công cụ gián tiếp

Trang 3

2.1.2.2 Chính sách đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư nước ngoài 23

Chương 3 Một số quan điểm cơ bản và định hướng tự do hóa tài chính

ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Cấu trúc hệ thống tài chính quốc gia

Hình 1.2 Lộ trình tự do hoá tài chính theo MacKinnon

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Từ khi thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc ổn định và phát triển trên cơ sở từng bước thâm nhập vào nền kinh tế thế giới Việc chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á (năm 1995) kèm theo là những cam kết tham gia khu vực Mậu

dịch tự do châu á (AFTA) và việc ký kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ là những mốc sự kiện lịch sử quan trọng trong tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam Theo đà phát triển đó, Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó có thị trường dịch vụ tài chính

Tự do hóa tài chính không chỉ là yêu cầu bắt buộc để có thể tham gia sân chơi thế giới mà còn là xu thế tất yếu của hội nhập kinh tế bởi những lợi ích vô cùng

to lớn mà nó mang lại cho các quốc gia

Quá trình tự do hóa tài chính sẽ giúp tạo ra một môi trường minh bạch, linh hoạt và hiệu quả cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, mang lại động lực phát triển, khả năng tiếp cận công nghệ mới cho các tổ chức tài chính trong nước cũng như cơ hội sử dụng các dịch vụ tài chính

đa dạng, chất lượng cao cho người dân …Tự do hóa tài chính cũng sẽ mang lại

nhiều lợi ích cho nền kinh tế Điều này cũng đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều thách thức và cạnh tranh đối với các nhà cung cấp dịch vụ của Việt Nam, bao gồm các ngân hàng trong nước Bên cạnh đó áp lực về quản lý, những thay đổi

về chính sách cũng sẽ đè nặng lên các nhà lập pháp và quản lý của Việt Nam Bài tiểu luận tập trung vào việcphân tích, nghiên cữu những tác động của tự do hoá tài chính đến hệ thống tài chính của nước ta, từ đó rút ra một số bài học cho tiến trình mở cửa thị trường tài chính của Việt Nam trong thời gian sắp tới

Trang 5

Chương 1

Tổng quan về tự do hóa tài chính 1.1 Khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm Tự do hóa tài chính

Trong các hoạt động kinh tế, nguồn vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng Tuy nhiên, trong một nền kinh tế tồn tại những người thừa vốn và những người thiếu vốn Thông qua hệ thống tài chính, nguồn vốn sẽ được luân chuyển từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn theo nhiều kênh khác nhau Xét tổng quan, hệ thống tài chính quốc gia có cấu trúc như sau:

Trong đó:

Người thừa vốn là Hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, người nước ngoài Người thiếu vốn là doanh nghiệp, chính phủ, hộ gia đình, người nước ngoài Trung gian tài chính bao gồm các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, …

Tài chính gián tiếp

Trung gian tài chính

Trang 6

Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường vốn và thị trường ngoại hối

Trong những điều kiện nhất định, hệ thống tài chính quốc gia sẽ hòa vào các hệ thống khác tạo thành hệ thống tài chính quốc tế cũng tuân theo cấu trúc như hình trên Vậy như thế nào gọi là quá trình tự do hóa tài chính?

Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho

hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường

Tự do hóa tài chính có thể phân loại theo chiều dọc và theo chiều ngang Phân loại theo chiều dọc thì tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa thị trường tiền tệ và tự do hóa thị trường vốn Nếu phân loại theo chiều ngang thì tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa tài chính trong nước và tự do hóa tài chính với nước ngoài Tự do hóa tài chính trong nước là cho phép các tổ chức tài chính trong nước tự do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chính trong nước được khuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành theo tín hiệu thị trường hay ta có thể nói rõ hơn là xóa bỏ kiểm soát lãi suất, phân bổ tín dụng và dịch vụ tài chính Tự do hóa tài chính với nước ngoài bao gồm tự do hóa giao dịch vãng lai và tự do hóa giao dịch vốn hay nói cách khác tự do hóa tài chính với nước ngoài là loại bỏ kiểm soát vốn và các hạn chế trong quản lý ngoại hối

Nhìn chung, nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính sẽ bao gồm: Tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, tự do hóa hoạt động ngoại hối, tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính

Tự do hóa lãi suất được coi là hạt nhân của tự do hóa tài chính trong nước Theo đó, lãi suất phải do thị trường quyết định tùy thuộc vào cung và cầu về đầu

tư, vào mức tiết kiệm và thu nhập trong nền kinh tế

Trang 7

Tự do hóa hoạt động phân bổ tín dụng là nguồn tín dụng được phân bổ dựa trên lãi suất thị trường và mức độ tin cậy của người đi vay thay vì các quyết

định hành chính

Tự do hóa tài khoản vốn: Tài khoản vốn trong cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm các giao dịch đầu tư vào trong nước và đầu tư ra nước ngoài, vay và cho vay quốc tế ngắn hạn, trung và dài hạn Tự do hóa cho phép một nước tự do trong việc tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài hoặc đầu tư ra nước khác thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp (bằng việc góp vốn cổ phần), vay và cho vay nợ

Tự do hóa các dịch vụ tài chính là cho phép các ngân hàng, tổ chức tài chính trong và ngoài nước được tự do tham gia cung cấp các dịch vụ tài chính trên thị trường và không phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính này

Trong quá trình thực hiện tự do hóa tài chính, các hoạt động trên có thể

được thực hiện đồng thời cùng một thời điểm hoặc thực hiện theo từng bước

khác nhau để phù hợp với bối cảnh quốc tế và đặc điểm của từng quốc gia Cách thức tiến hành như vậy được gọi là trình tự tự do hóa tài chính

1.1.2 Trình tự tự do hóa tài chính

Có rất nhiều cách tiếp cận về trình tự tự do hoá tài chính của một quốc gia Theo MacKinnon (1992), đối với một quốc gia có những đặc điểm thông thường thì trình tự tối ưu hóa các chính sách tài trính trong quá trình chuyển từ

sự kiểm soát tập trung sang nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập vào thế giới cần tiến hành theo các bước như sau:

Trước khi lạm phát giá cả có khả năng giảm dần và thị trường vốn được

mở cửa theo hướng cho vay tự do, thì yêu cầu đầu tiên là phải đạt được sự cân

đối tài chính của chính phủ tức là phải giảm được thâm hụt ngân sách Nhà

nước Sự thâm hụt ngân sách quá lớn của chính phủ trong điều kiện thị trường

Trang 8

tài chính chưa phát triển thường dẫn đến việc Ngân hàng trung ương phát hành nội tệ quá mức để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, hậu quả là gây ra lạm phát cho nền kinh tế

Sau khi giảm thâm hụt ngân sách, thị trường vốn sẽ được mở cửa sao cho người gửi tiền nhận được lãi suất thực dương (tự do hoá lãi suất) Việc đi vay và cho vay không hạn chế giữa các doanh nghiệp và hộ gia đình chỉ có thể thực hiện được khi mức giá cả ổn định và các thâm hụt tài khoá được loại trừ Trong

điều kiện lạm phát quá cao, người cho vay không có lợi do lãi suất thực có xu

hướng âm, điều này sẽ cản trở hành vi cho vay của người thừa vốn

Song song với tự do hoá lãi suất là tự do hoá hoạt động của các ngân hàng

và việc phân bổ tín dụng Tuy nhiên hệ thống ngân hàng chỉ được giải phóng khỏi các yêu cầu dự trữ bắt buộc và các quy định trong việc xác định lãi suất tiêu chuẩn đối với tiền gửi vào và tiền cho vay khi việc kiểm soát tài khoá chặt chẽ được đảm bảo, Chính phủ không còn phải đánh thuế lạm phát hay đánh thuế vào khoản tiền tích trữ quá mức của người gửi tiền để có thu nhập Như vậy, kiểm soát tài khoá đóng vài trò là bước đệm quan trọng trong trình tự tự do hoá tài chính

Tự do hoá tài chính Giảm

dự trữ bắt buộc

Bỏ kiểm soát lãi suất

Đa dạng

hoá sở hữu

Tăng cạnh tranh

Bỏ tín dụng chỉ

Cải cách thương mại

Hình 1.2 Lộ trình tự do hoá tài chính theo MacKinnon (1992)

Trang 9

Sau khi các ngân hàng đã bắt nhịp với cách thức hoạt động độc lập theo cơ chế thị trường, bước tiếp theo là mở rộng sự tham gia của các trung gian tài chính mới, cho phép cả các tổ chức tài chính nước ngoài hoạt động Tuy nhiên,

sự mở rộng này cũng cần được thực hiện dần dần bởi nếu hệ thống tài chính

được nới lỏng hoàn toàn và bất ngờ, các tổ chức tài chính mới tham gia sẽ áp

dụng mức lãi suất cao hơn lãi suất mà các tổ chức tài chính hiện có đang trả nhằm cạnh tranh giành tiền gửi Do vậy, các ngân hàng đang hoạt động muốn cạnh tranh được sẽ phải trả lãi suất thị trường đối với tất cả các khoản tiền gửi (bao gồm các khoản tiền gửi cũ và các khoản tiền gửi mới) mặc dù lãi suất đó chỉ đáng trả cho các khoản vay mới Hậu quả là các ngân hàng này phải chịu lỗ

về vốn Khi các khoản vay như vậy chiếm tỷ trọng quá lớn so với giá trị tài sản của ngân hàng thì nguy cơ phá sản ngân hàng là rất cao

Cuối cùng, khi thị trường vốn trong nước được tự do hoá hoàn toàn tức là việc vay và cho vay trong nước diễn ra tự do theo lãi suất cân bằng (không bị hạn chế) và tỷ lệ lạm phát trong nước được kiềm chế, chính sách tỷ giá được

điều hành linh hoạt đến mức việc phá giá đồng nội tệ theo tỷ giá hối đoái hiện

hành không còn cần thiết thì mới tiến hành tự do hoá tài khoản vốn Từ đó, các doanh nghiệp, hộ gia đình được cho phép đi vay hoặc gửi tiền tự do trên các thị trường vốn quốc tế, được cho phép mua bán chứng khoán để huy động vốn tự

do, và cuối cùng là chuyển đổi ngoại tệ tự do trên tài khoản vốn

Ngoài cách tiếp cận của MacKinnon, các tổ chức quốc tế như OECD, ADB, IMF cũng thiết lập lộ trình tự do hoá tài chính riêng đối với một quốc gia Theo OECD thì trình tự tự do hóa tài chính cần tập trung vào tự do hóa các luồng vốn, đầu tiên là tự do hóa đầu tư nước ngoài trực tiếp, cuối cùng là tự do hóa tài khoản vốn

ADB dựa vào rủi ro để đánh giá và xây dựng lộ trình tự do hóa tài chính với mục tiêu cuối cùng là tự do hóa tài khoản vốn Cách tiếp cận của IMF cũng khá phức tạp, đó là xem xét đầy đủ mọi vấn đề từ cải cách vi mô, cơ cấu, xây

Trang 10

dựng thể chế, các chính sách kinh tế vĩ mô và cơ chế tỷ giá để xây dựng lộ trình

để tự do hóa

1.1.3 Bản chất của tự do hóa tài chính

Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường Mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội

Theo Ngân hàng thế giới (1989), mục tiêu chính của tự do hóa tài chính là phát triển một hệ thống tài chính dựa trên cơ sở thị trường, hội nhập vào thế giới

để nhằm huy động tiết kiệm, phân bổ các nguồn lực có thể đầu tư trong nước

cũng như nước ngoài một cách có hiệu quả và thúc đẩy sự tăng trưởng Do đó, kết quả của tự do hóa tài chính thường được thể hiện bằng tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống NHTM) trên thu nhập quốc dân

Hạt nhân của tự do hóa tài chính là tự do hóa lãi suất và cần thiết phải kiểm soát quá trình tự do hóa lãi suất, cụ thể là:

- Xác định thời điểm bắt đầu và tốc độ tự do hóa lãi suất căn cứ vào những tiến bộ đạt được trong cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực ngân hàng;

- Quyết định lộ trình và trật tự tiến hành tự do hóa lãi suất của các công cụ tài chính khác nhau để không gây ảnh hưởng xấu tới hệ thống ngân hàng;

- Ngân hàng Trung ương cần có chiến lược chỉ đạo chính sách tiền tệ trong khuôn khổ hệ thống tài chính đã tự do hóa;

- Chuẩn bị những công cụ tài chính mới sau khi thực hiện tự do hóa tài chính

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa tài chính

Kinh nghiệm tự do hóa tài chính cho thấy tầm quan trọng của việc xử lý ngay từ đầu những vấn đề liên quan đến sự lành mạnh của hệ thống tài chính –

Trang 11

ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực và ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng Nguyên nhân cơ bản của các cuộc khủng hoảng tài chính thường bắt nguồn từ các biện pháp tự do hóa tài chính

1.2.1 Kinh nghiệm của Trung quốc

Trung Quốc bắt đầu chính sách mở cửa kinh tế vào năm 1979 Tuy nhiên, trong 5 năm đầu tiên của thời kỳ mở cửa, công cuộc cải cách dường như chưa chạm đến hệ thống tài chính ngân hàng Dấu hiệu cải cách trong hệ thống tài chính thực sự mới xuất hiện vào năm 1984 khi hệ thống ngân hàng tách thành hai cấp: ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc) và Ngân hàng thương mại Kể từ đó mới xuất hiện dấu hiệu cạnh tranh giữa các ngân hàng và

ở một mức độ thận trọng, các ngân hàng nước ngoài bắt đầu được phép thành

lập và hoạt động ở Trung Quốc Nhìn chung cho đến nay, hệ thống dịch vụ tài chính ở Trung Quốc vẫn bị chính phủ khống chế và kiểm soát chặt chẽ Mức độ

mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài hoạt động còn rất hạn chế Các ngân hàng nước ngoài chỉ được phép hoạt động ở một số vùng kinh tế đặc biệt Chính phủ Trung Quốc không cho phép các ngân hàng đầu tư nước ngoài mở chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có thể hoạt động dưới dạng liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép và phải gửi 30% vốn tối thiểu vào Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc Họat động giao dịch của ngân hàng nước ngoài chủ yếu hạn chế trong khuôn khổ các ngoại tệ mạnh (gần đây có cấp phép cho một số ít ngân hàng nước ngoài được thực hiện giao dịch bằng đồng nhân dân tệ) Ngân hàng nước ngoài chỉ được thực hiện các hoạt

động dịch vụ bán buôn (wholesale banking)

Thị trường bảo hiểm còn nhỏ bé và thống trị bởi các công ty bảo hiểm Nhà nước Nhà nước quyết định tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm Đa số tiền bảo hiểm thu

được được gửi tại tài khoản có tính lãi Thị trường chứng khoán ở Trung Quốc

chưa phát triển Thị trường trái phiếu rất mỏng Thị trường trái phiếu phi chính phủ không đáng kể Trung Quốc chưa có Luật chứng khoán quốc gia Chính phủ kiểm soát giao dịch chứng khoán của các công ty, doanh nghiệp sở hữu Nhà nước Các công ty nước ngoài kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán không

Trang 12

được phép thành lập chi nhánh hoặc công ty con, mà chỉ được phép thành lập

dưới dạng liên doanh

Như vậy có thể nhận thấy Trung Quốc đã xây dựng lộ trình tự do hóa tài chính dựa trên cách tiếp cận của ADB Trình tự mở cửa thị trường tài chính của Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở thừa nhận sự yếu kém của hệ thống tài chính ngân hàng, đánh giá mức độ rủi ro và thực hiện tự do hóa thận trọng Đầu tiên là khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiếp theo là đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán, cuối cùng là tự do hóa các khoản vay

nợ nước ngoài, cụ thể là:

- Giải quyết nợ xấu để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng;

- Xây dựng thể chế để có hệ thống luật pháp công khai minh bạch;

- Từng bước tự do hóa tài chính nội địa;

- Từng bước tự do hóa lãi suất;

- Tổ chức lại và củng cố các tổ chức tín dụng để tăng cường tiềm lực tài chính

và năng lực cạnh tranh;

- Thực hiện cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn;

- Giải quyết khó khăn tài khóa để giảm bớt tình trạng thất nghiệp

Tự do hóa tài khoản vốn là mục tiêu cuối cùng, nhưng Trung Quốc chưa

đủ điều kiện nên được thực hiện có giới hạn với sự giám sát chặt chẽ, nhất là đối

với dòng vốn ngắn hạn vào thị trường chứng khoán và dòng vốn ra Về quản lý

nợ vay nước ngoài, Chính phủ quyết định hạn mức vay nợ trung, dài hạn hàng năm, quy định thời hạn trả nợ và loại tiền vay và phân bổ cho các ngành nghề, khu vực

Như vậy, có thể thấy rằng việc cải cách kinh tế theo hướng mở cửa tuy đã

được thực hiện trên hai thập kỷ, song Trung Quốc vẫn tỏ ra hết sức dè dặt trong

việc mở cửa thị trường dịch vụ tài chính Sự cho phép thâm nhập của một số tổ chức nước ngoài trong lĩnh vực này dường như chỉ có tính chất thử nghiệm và chỉ giới hạn trong một số khu vực địa lý nhất định với nhiều điều kiện ngặt nghèo.Thị trường dịch vụ tài chính vẫn gần như được thống soái tuyệt đối bởi

Trang 13

các tổ chức tài chính nội địa và chủ yếu là khu vực Nhà nước Với những đặc

điểm đó, Trung Quốc cần có thời gian và những cải cách mạnh mẽ hơn, trước

khi thực hiện việc tự do hoá theo những cam kết khi gia nhậpWTO

Canada là một trong những nước có trình độ phát triển kinh tế cao nhất thế giới (là thành viên của khối G7) với tư cách thành viên lâu đời của OECD, GATT và gần đây là NAFTA Vì vậy, lĩnh vực dịch vụ tài chính không những phát triển và có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Canada, mà còn

có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế Năm 1997, khu vực dịch vụ tài chính ở Canada chiếm tới 5,2% GDP và thu nạp 4,5% lao động của toàn bộ nền kinh tế Do việc mở cửa thị trường nên hoạt động dịch vụ tài chính ở Canada mang tính quốc tế hoá cao, nhiều tổ chức, công ty nước ngoài thực hiện hoạt

động kinh doanh tại Canada và ngược lại, nhiều tổ chức, công ty của Canada

thực hiện các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài Hoa Kỳ là đối tác kinh doanh lớn nhất chiếm tới hơn 50% giá trị dịch vụ kể cả nhập khẩu và xuất khẩu Tuy mức độ mở cửa thị trường ngày càng trở nên thông thoáng trog thời gian gần

đây (đặc biệt kể từ khi ký kết hiệp định chung về thương mại dịch vụ nói chung

- GATT - và hiệp định về dịch vụ tài chính nói riêng - FSA), song việc mở cửa thị trường dịch vụ tài chính ở Canada cũng không có nghĩa là tự do hoá hoàn toàn

Trước khi tham gia ký kết hiệp định về thương mại dịch vụ tài chính giữa các nước thành viên WTO (năm 1997), cả một thời kỳ dài Canada áp dụng luật 10/25 trong lĩnh vực ngân hàng Luật này quy định cá nhân (tổ chức) nước ngoài không được phép sở hữu quá 10% (25%) bất kỳ loại cổ phiếu nào của một ngân hàng nhất định được thành lập theo một điều khoản riêng (Schedule I) Bên cạnh đó, việc mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trực tiếp từ các ngân hàng nước ngoài là điều không thể Các ngân hàng nước ngoài muốn hoạt động tại Canada phải thành lập dưới hình thức công ty con hoạt động bằng vốn độc lập của chính công ty con đó theo một điều khoản riêng (Shcedule II) và không

được tham gia vào các hoạt động dịch vụ bán lẻ Những hạn chế này là những

Trang 14

trở ngại đáng kể đối với sự thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài, nhưng

đồng thời lại được coi là những biện pháp an toàn chon sự hoạt động của các

ngân hàng nội địa tránh được sự cạnh tranh và đảm bảo tính chủ quyền điều hành của chính phủ trong một chừng mực nhất định

Các ngân hàng được thành lập theo Schedule I đều là những ngân hàng lớn

có mạng lưới toàn quốc với hơn 8000 chi nhánh, nắm giữ trên 90% tài sản của toàn bộ ngành ngân hàng và chủ yếu do người Canada sở hữu Những công ty con của các ngân hàng nước ngoài được thành lập theo Schedule II chỉ chiếm một thị phần nhỏ và chuyên biệt trong một số lĩnh vực như dịch vụ đầu tư, dịch

vụ vay trả, thanh toán đối với các doanh nghiệp kinh doanh

Sau hiệp định FSA, một số hạn chế đối với hoạt động của các ngân hàng nước ngoài đã được loại bỏ Chẳng hạn luật sở hữu không quá 10% cổ phần nay

được áp dụng chung cho cả cá nhân trong nước và nước ngoài, luật sở hữu

không quá 25% cổ phần (đối với tổ chức hoặc nhóm cá nhân) được loại bỏ, các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh trực tiếp tại Canada Tuy nhiên một số hạn chế cần thiết vẫn được giữ nguyên, chẳng hạn : chi nhánh của ngân hàng nước ngoài (ngân hàng cho vay hoặc dịch vụ) không được phép thực hiện các hoạt động thuộc về chức năng chuyên biệt của các công ty tài chính được quy định trong luật ngân hàng Chi nhánh của ngân hàng nước ngoài thực hiện chức năng dịch vụ chỉ được phép nhận những khoản tiền gửi dưới 150.000 đôla Canada Một số bang còn đòi hỏi đa số thành viên của hội đồng quản trị phải

là cư dân Canada hoặc quy định người nước ngoài có thể không được hưởng quyền bầu cử khi họ nắm giữ cổ phiếu của ngân hàng Canada trong một số trường hợp nhất định

Mức độ mở cửa thị trường bảo hiểm ở Canada tỏ ra thông thoáng nhất so với các lĩnh vực khác trong hoạt động dịch vụ tài chính Các hãng bảo hiểm nước ngoài chiếm thị phần đáng kể Mặc dù việc mở cửa thị trường bảo hiểm đã

ở mức cao song vẫn có những hạn định ràng buộc nhất định khi cam kết tham

gia hiệp định FSA Những ràng buộc này chủ yếu là những quy định về hình thức cung ứng dịch vụ, quyền sở hữu vốn hoặc quyền điều hành Chẳng hạn,

Trang 15

Canada đòi hỏi tất cả các dịch vụ bảo hiểm phải được thực hiện thông qua hình thức hiện diện thương mại (Commercial presence) Một số bang như (Quebec) quy định người không phải là cư dân Canada không được phép sở hữu (gián tiếp hay trực tiếp) quá 30% cổ phiếu có quyền bầu cử nếu không có sự chấp thuận của cấp bộ trưởng (Ministerial Approval) Một số bang khác không cấp giấy phép hoạt động đại lý bảo hiểm cho những người không phải là cư dân thuộc bang đó, hoặc một khoản thuế đặc biệt sẽ được áp dụng đối với khoản hoa hồng bảo hiểm thuần trả cho người không phải là đối tượng cư trú ở Canada Quebec còn yêu cầu ba phần tư thành viên của hội đồng quản trị phải là công dân Canada và phần lớn phải định cư tại Quebec

Canada có lẽ là nước duy nhất trong số những nước phát triển duy trì sự hoạt động của thị trường chứng khoán trên cơ sở điều luật và quản lý của các bang Chính phủ liên bang không tham gia điều chỉnh hoặc ban hành điều luật hoạt động của thị trường chứng khoán Vì vậy mức độ tự do hoá hoàn toàn phụ thuộc vào quy định riêng của từng bang Tuy nhiên sự ràng buộc nói chung của

đa số các bang thường là: cung cấp dịch vụ thông qua sự hiện diện thương mại,

người mua bán chứng khoán phải đăng ký để thực hiện giao dịch thông qua các nhà môi giới, ít nhất một giám đốc hoặc một cán bộ chủ chốt của một hãng kinh doanh chứng khoán phải là cư dân của Canada trong thời hạn ít nhất một năm mới đủ điều kiện cho phép thành lập

Tóm lại: Việc tự do hoá tài chính ở Canada đã có lịch sử lâu dài và được coi là một trong những yếu tố quan trọng làm cho hệ thống dịch vụ tài chính của Canada có tính cạnh tranh cao Canada không có trở ngại gì đáng kể trong việc thực hiện những cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính trong khuôn khổ FSA của WTO Ngược lại, việc tham gia FSA sẽ là cơ hội lớn cho các ngành dịch vụ tài chính của Canada có điều kiện mở rộng các hoạt động đó ra nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát triển Tuy vậy, vẫn có thể thấy rằng việc

mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng vẫn còn tương đối thận trọng (so với vị thế của một nước phát triển và so với các hoạt động dịch vụ khác) Những hạn chế

được quan tâm nhất đối với việc mở cửa thị trường là Nhà nước hạn chế về tỷ lệ

Trang 16

sở hữu vốn, hình thức cung cấp dịch vụ, và tính chất cư trú của những người nắm giữ quyền quyết định đối với các tổ chức tài chính được phép thành lập và hoạt động tại Canada Tất cả những hạn chế về mặt đối xử quốc gia và quốc tế nêu trên được coi là cần thiết nhằm đảm bảo một chế độ giám sát, kiểm tra có hiệu quả, duy trì sự khống chế của chính phủ đối với toàn bộ hệ thống tài chính

và do đó đảm bảo sự ổn định bền vững của nền kinh tế Canada

Trong quá trình tự do hóa tài chính, kiểm soát luồng vốn được coi là vấn đề

được nhiều nước quan tâm đặc biệt, mục tiêu là đảm bảo tính tự chủ của chính

sách tiền tệ và giảm áp lực đối với tỷ giá Kiểm soát luồng vốn cũng nhằm bảo

vệ sự ổn định tài chính – tiền tệ khi phải đối mặt với nguy cơ lạm phát do những luồng vốn vào liên tục, nhất là nguồn vốn ngắn hạn Tuy nhiên, các biện pháp kiểm soát luồng vốn cũng có những nhược điểm nhất định

Kiểm soát luồng vốn, nhất là những hạn chế toàn diện được áp dụng, có thể gây trở ngại cho các giao dịch vốn và giao dịch vãng lai;

Các biện pháp kiểm soát có thể đòi hỏi chi phí hành chính khá lớn nhằm

đảm bảo thực thi có hiệu quả;

Các biện pháp kiểm soát vốn nhằm bảo vệ thị trường trong nước có thể dẫn

đến việc trì hoãn điều chỉnh những chính sách cần thiết;

Các biện pháp kiểm soát vốn có thể làm nảy sinh những nhận thức tiêu cực

về thị trường, quốc gia áp dụng phải tốn kém hơn và khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn nước ngoài

Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy, việc kiểm soát luồng vốn ra thường

được quan tâm nhiều hơn Sau khủng hoảng tài chính, một số nước như Tây

Ban Nha, Malaysia, Thái Lan tái thực hiện kiểm soát luồng vốn ra trước áp lực lớn về tỷ giá, mục tiêu là ngăn chặn đầu cơ và ổn định thị trường ngoại hối trong bối cảnh dự trữ ngoại hối giảm mạnh Các cơ quan tiền tệ trong nước có khoảng thời gian nhất định để khắc phục những mất cân bằng về kinh tế vĩ mô

và thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng

Trang 17

Trong đó, Tây Ban Nha phải thỏa thuận với các nước thành viên trong hệ thống về quyết định thay đổi tỷ giá, Thái Lan áp dụng cơ chế “neo” tỷ giá tại thời điểm áp đặt kiểm soát, Malaysia thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có sự quản

lý của Nhà nước Nhằm hạn chế luồng vốn ra, Malaysia thực hiện đánh thuế vào lợi nhuận từ đầu tư gián tiếp không kể cổ tức và lãi thu được, thu nhập liên quan

đến các giao dịch vãng lai và các luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thái Lan yêu cầu các tổ chức tài chính hạn chế và đình chỉ các giao dịch với người không cư trú (bao gồm cho vay đồng baht qua giao dịch hoán đổi, giao dịch kỳ hạn về đồng baht và bán đồng baht lấy ngoại tệ), phải thanh toán bằng đô la Mỹ đối với giao dịch mua hối phiếu bằng đồng baht trước kỳ hạn và những công cụ nợ khác, cấm các nhà đầu tư cổ phiếu nước ngoài chuyển vốn về nước bằng đồng baht (nhưng được tự do chuyển vốn bằng ngoại tệ), người không cư trú phải áp dụng tỷ giá nước ngoài khi chuyển đổi lợi nhuận bằng

đồng baht thu được từ việc bán chứng khoán.Về kiểm soát luồng vốn ra, kinh

nghiệm của các nước cho thấy:

Để đảm bảo hiệu quả, các kiểm soát phải toàn diện và cần được tiến hành

một cách bắt buộc đồng thời với cải cách và điều chỉnh chính sách cần thiết Hiệu quả của những kiểm soát này dường như bị hạn chế trong những thị trường phức tạp;

Bên cạnh những tác động tích cực, các biện pháp kiểm soát có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực hơn từ các thị trường tài chính quốc tế và làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư quốc tế;

Các kiểm soát không có tác dụng bảo vệ kéo dài khi phải đối mặt với động

cơ tránh kiểm soát, nhất là chênh lệch thu nhập hấp dẫn và kỳ vọng lớn của thị trường vào việc giảm tỷ giá hối đoái;

Khả năng kiểm soát hoạt động thị trường nước ngoài có thể là phương tiện

để hạn chế luồng vốn vào và ngăn chặn các áp lực đầu cơ;

Các biện pháp hiệu quả hạn chế rủi ro của các giao dịch hợp pháp, bao gồm

đầu tư trực tiếp nước ngoài và các giao dịch phòng ngừa liên quan đến thương

mại, nhưng có thể làm tăng chi phí tiếp cận thị trường vốn quốc tế

Trang 18

Kinh nghiệm tự do hóa tài chính cho thấy tầm quan trọng của việc xử lý ngay từ đầu những vấn đề liên quan đến sự lành mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực và ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng Nguyên nhân cơ bản của các cuộc khủng hoảng tài chính thường bắt nguồn từ các biện pháp tự do hóa tài chính

Chương 2

Thực trạng về tự do hóa tài chính ở Việt Nam

Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập với nền kinh tế thế giới Việt Nam đang trên đường tiến tới tự do hóa tài chính hoàn toàn

2.1 Quá trình hội nhập của Việt Nam với nền kinh tế toàn cầu

2.1.1 Quá trình tự do hóa tài chính trong nước ở Việt Nam

dụng các nguồn lực tài chính:

Cũng giống như các nước đang phát triển khác, quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam đã bắt đầu bằng việc cải tiến và hiện đại hóa ngân hàng, điều kiện cần thiết để phát triển cơ sở hạ tầng trên thị trường tài chính

Nếu như trước năm 1988, hệ thống ngân hàng Việt Nam được xây dựng theo mô hình một cấp, theo đó NHNN vừa làm chức năng kinh doanh vừa quản

lý Trong thời kỳ này, hoạt động của NHNN không hiệu quả, nó mang nặng tính chất bao cấp nên không kích thích đầu tư và nền kinh tế chưa đủ lực để phát triển

Tuy nhiên, vào ngày 26/03/1988, nghị định 53/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã được ra đời Nội dung cơ bản của Nghị

định này là đã hình thành việc phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của

Trang 19

NHNN và các ngân hàng chuyên doanh, làm tiền đề cho hai pháp lệnh về NHNN và pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23/05/1989 của Hội đồng Nhà nước Hai pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/10/1990 với nội dung chủ yếu là xóa hẳn mô hình ngân hàng một cấp

và xây dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Trong đó, các NHTM thực hiện nhiệm

vụ kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng; NHNN thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chức năng NHTW Từ Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực 01/10/1990, đến ngày 01/10/1998 Luật NHNN và Luật các tổ chức tín dụng

ra đời tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế Sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi, hệ thống pháp luật về ngân hàng được hoàn thiện về căn bản với việc ban hành Luật NHNN và Luật các TCTD vào tháng 06/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011

Trong quá trình cơ cấu, sắp xếp lại hệ thống ngân hàng Việt Nam theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập, vốn điều lệ và tổng tài sản của các ngân hàng thương mại quốc doanh và của các ngân hàng thương mại cổ phần không ngừng được tăng lên, trong đó, các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn đóng vai trò trụ cột, thống lĩnh thị trường Bên cạnh

đó, bản thân các NHTM Việt Nam cũng đã chủ động tiếp cận nhanh với các tiến

bộ khoa học kỹ thuật ngân hàng, không ngừng cải tiến trang thiết bị, nâng cao năng lực quản lý, điều hành hoạt động ngân hàng, từ đó, không ngừng cho ra

đời các loại hình sản phẩm mới để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trong

bối cảnh mới, có thể kể đến như sự ra đời của thẻ ATM, hệ thống tiền gửi trực tuyến với nhiều tiện ích cho người sử dụng,… Điều này, bên cạnh việc giúp cho các ngân hàng trong nước đã nhanh chóng tận dụng được các cơ hội từ bên ngoài khi nền kinh tế mở cửa và hội nhập, từ đó gia tăng tốc độ phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước và rút ngắn khoảng cách giữa hệ thống ngân hàng trong nước với hệ thống ngân hàng thế giới; nó còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân

Trang 20

2.1.1.2 Từng bước thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp với tình hình mới

Như chúng ta đã biết, trong các nội dung của tự do hóa tài chính, tự do hóa lãi suất là nội dung quan trọng nhất Theo thời gian, cơ chế điều hành lãi suất đã từng bước được đổi mới, các ràng buộc trong cơ chế điều hành lãi suất đã dần

được xóa bỏ, lãi suất dần dần đã được tự do hóa theo cơ chế thị trường, cụ thể

như sau:

- Trước năm 1988 (thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức kế hoạch hóa tập trung): Áp dụng chính sách bao cấp khá nặng nề, lãi suất

được xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới Dẫn đến lãi suất thực

thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ

lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa

- Từ năm 1989 đến tháng 5/1992: Áp dụng chính sách lãi suất cố định

NHNN can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp được duy trì suốt thời kỳ này với lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước nhỏ hơn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lãi suất danh nghĩa nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát, lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn dài hạn và lãi suất tiền gửi tiết kiệm lớn hơn lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế Tình trạng này làm cho lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó, lãi suất không còn là đòn bẩy kích thích nhu cầu gửi tiền của công chúng, phát huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng

- Từ tháng 6/1992 đến năm 1995: NHNN điều hành cơ chế lãi suất theo

khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế Các NHTM và các tổ chức tín dụng căn cứ vào khung lãi suất để

đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, đây thực chất là bước chuyển đổi căn

bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, bảo đàm cho các NHTM

và các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam Trong thời kỳ này, sự chênh lệch về

Trang 21

lãi suất cho vay giữa các thành phần kinh tế cũng được xóa bỏ về cơ bản, NHNN cho phép các NHTM được thỏa thuận lãi suất với khách hàng

- Từ năm 1996 đến tháng 7/2000: Áp dụng cơ chế điều hành lãi suất trần

đối với lãi suất cho vay Với cơ chế này, NHNN đã bước đầu thực hiện tự do

hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của NHTM) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra) Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh

tế, kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các

đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á

- Từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002: Áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ

bản kèm biên độ Lãi suất cơ bản và biên độ dao động cho phép được công bố

định kỳ hàng tháng, trên cơ sở đó, NHTM sẽ quyết định lãi suất kinh doanh của

mình; trường hợp cần thiết, NHNN sẽ công bố điều chỉnh kịp thời Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tê, về cơ bản các NHTM, các tổ chức tín dụng được ấn

định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong

nước của từng loại ngoại tệ Theo cơ chế lãi suất này cho thấy NHNN Việt Nam

đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn

lãi suất trong nước vào khu vực và thế giới

- Từ tháng 6/2002 đến ngày 18/05/2008: Áp dụng cơ chế lãi suất thỏa

thuận Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được NHNN chuyển đổi từng bước bắt

đầu từ tháng 05/2001 áp dụng cho hình thức cho vay bằng ngoại tệ, tiếp theo

05/2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước Theo đó, việc ban hành lãi suất cơ bản của NHNN chỉ mang tính chất làm tín hiệu cho thị trường, lãi suất được hình thành hoàn toàn dựa trên quan hệ cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm trong quan hệ tài chính

- Từ ngày 18/05/2008 đến nay: áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất Theo đó,

các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và

Trang 22

các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước Việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM trong những tháng đầu năm 2008, an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên cao

2.1.1.3 Hình thành và phát triển hệ thống điều hành tiền tệ dựa trên cơ sở thị trường với hệ thống các công cụ gián tiếp

CSTT đã được đổi mới căn bản và có trật tự theo hướng tăng cường các công cụ và phương pháp điều hành gián tiếp, phù hợp với sự thay đổi về thể chế

và hạ tầng tài chính

Trước tiên, NHNN đã có những thay đối liên tục trong chính sách lãi suất tái cấp vốn Chẳng hạn như trong năm 1997, NHNN đã thay đổi hình thức qui

định lãi suất tái cấp vốn, chuyển sang qui định mức lãi suất cụ thể Mức lãi suất

tái cấp vốn cũng được điều chỉnh giảm xuống trong thời gian này (từ 1,1% năm

Ngoài ra, vào tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường

mở, lãi suất thị trường mở được hình thành qua các phiên giao dịch

Như vậy, có thể thấy quá trình tự do hóa tài chính trong nước ở Việt Nam

đã và đang có những bước đi hết sức tích cực Bên cạnh những cải cách trong hệ

thống ngân hàng, cơ chế điều hành lãi suất và hệ thống điều hành tiền tệ, chúng

Ngày đăng: 02/12/2015, 10:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Lộ trình tự do hoá tài chính theo MacKinnon (1992) - Phân tích những tác động của tự do hoá tài chính đến hệ thống tài chính của Việt Nam hiện nay
Hình 1.2. Lộ trình tự do hoá tài chính theo MacKinnon (1992) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w