Thống kê số liệu là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có nhiệm vụ tổ chức điều tra, thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin thống kê trung thực,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Hồ Thị Kim Ngân
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC THỐNG KÊ SỐ LIỆU BẬC GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Hồ Thị Kim Ngân
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC THỐNG KÊ SỐ LIỆU BẬC GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐỨC DANH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất quý báu của Quý Thầy, Cô, gia đình, bạn bè cùng các a nh chị đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Danh, người
đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, góp ý về mặt khoa học để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trang bị kiến thức về quản lý giáo dục
Xin cảm ơn Ban giám Hiệu và quý Thầy, Cô các trường phổ thông, Cán bộ quản lý các phòng Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã giúp đỡ, cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, nhưng chắc chắn rằng luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy, Cô, gia đình, bạn bè cùng các anh chị đồng nghiệp
TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2014
Hồ Thị Kim Ngân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
4 Giả thuyết nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp luận nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THỐNG KẾ SỐ LIỆU GIÁO DỤC 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Trên thế giới 11
1.1.2 Tại Việt Nam 12
1.2 Tầm quan trọng của công tác thống kê giáo dục 14
1.3 Một số khái niệm 15
1.3.1 Quản lý 15
1.3.2 Quản lý giáo dục 16
1.3.3 Thống kê 16
1.3.4 Thống kê giáo dục 17
1.4 Cơ sở khoa học của thống kê giáo dục 17
1.4.1 Cơ sở lý luận của thống kê giáo dục 17
1.4.2 Cơ sở phương pháp luận của thống kê giáo dục 18
1.4.3 Những chức năng cơ bản của công tác thống kê giáo dục 18
1.5 Quản lý công tác thống kê giáo dục 19
1.5.1 Các chức năng quản lý 20
1.5.2 Nội dung quản lý công tác thống kê giáo dục 25
1.6 Phân cấp quản lý trong thống kê giáo dục 27
1.6.1 Hệ thống thu thập số liệu thống kê giáo dục và đào tạo 28
1.6.2 Nội dung và nhiệm vụ chính của công tác thống kê giáo dục và đào tạo ở mỗi cấp quản lý giáo dục 29
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC THỐNG KÊ SỐ LIỆU
BẬC GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH BÌNH DƯƠNG 33
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh Bình Dương 33
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 33
2.1.2 Khái quát về Ngành Giáo dục & Đào tạo tỉnh Bình Dương 34
2.1.3 Mẫu khảo sát và công cụ đo lường 36
2.2 Thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương hiện nay 38
2.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý ngành GDĐT Bình Dương 38
2.2.2 Thực trạng đội ngũ CBQL phụ trách quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương 42
2.2.3 Thực trạng nhận thức về quản lý công tác thống kê số liệu giáo dục 46
2.2.4 Thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương 47
2.3.Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác báo cáo thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương 67
2.3.1 Ưu điểm 67
2.3.2 Hạn chế 68
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THỐNG KÊ SỐ BẬC GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH BÌNH DƯƠNG 72
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 72
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống - cấu trúc 72
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73
3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương 73
3.2.1 Nâng cao nhận thức về quản lý công tác thống kê số liệu giáo dục 73
3.2.2 L ập kế hoạch quản lý báo cáo thống kê số liệu giáo dục 74
3.2.3 Tổ chức thực hiện báo cáo thống kê số liệu giáo dục 76
3.2.4 B iện pháp chỉ đạo thực hiện báo cáo thống kê số liệu giáo dục 77
3.2.5 Biện pháp kiểm tra, đánh giá công tác báo cáo thống kê số liệu giáo dục 78
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 79
3.4 Khảo sát tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa Mác- Lê nin có viết: “Thống kê kinh tế- xã hội là một trong những công cụ mạnh nhất để nhận thức xã hội”, vì vậy để nhận thức đúng thực tế khách quan thì nhà quản lý không thể không dùng đến công
cụ thống kê số liệu Thống kê số liệu là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có nhiệm vụ tổ chức điều tra, thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích và công
bố các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của các cấp, các ngành và đáp ứng nhu cầu thông tin thống
kê của các tổ chức, cá nhân trong cả nước nói chung và ngành giáo dục nói riêng
Hiện nay hầu hết việc đánh giá kết quả, các chỉ tiêu của bậc giáo dục phổ thông trên cả nước nói chung, địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng chủ yếu dựa vào hệ thống thông tin thống kê số liệu Điều đó vừa khẳng định công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông ngày càng có giá trị cao trong công tác quản lý điều hành, vừa đảm bảo thống nhất một cách khách quan trong việc sử dụng và công bố thông tin, đảm bảo tính minh bạch của ngành GDĐT tỉnh Bình Dương
Thực tế các cấp quản lý ở địa phương, các ngành nghề khác nhau đang có cách nhìn nhận con số thống kê, vai trò và vị trí của công tác thống kê khác nhau, vì có thể
có những cách tiếp cận khác nhau Có ý kiến cho rằng công việc của ngành Thống kê thì đơn điệu, chỉ dừng lại ở việc điều tra, tổng hợp dữ liệu, không coi trọng phương pháp phân tích Sản phẩm của ngành Thống kê không mang lại giá trị kinh tế Số liệu sau khi điều tra, tổng hợp được in thành các Niên giám thống kê và chỉ sử dụng miễn phí Cho nên khi nói đến thống kê nhiều người thường liên tưởng đến các con số, các
dữ liệu được sắp xếp trong các bảng biểu hay những đồ thị biểu diễn những số liệu về các hiện tượng kinh tế - xã hội như dân số, việc làm, thất nghiệp, giá cả hàng hóa, Hơn ai hết người làm công tác thống kê đã xác định việc tạo ra con số của quá trình thống kê được sử dụng vào mục đích gì, phục vụ cho ai, nó có tác dụng như thế nào
Trang 8Đảm bảo tính chính xác kịp thời và hiệu quả của công tác báo cáo thống kê tổng hợp số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương là việc làm cần thiết, có tính cấp bách và cần được đổi mới liên tục Bởi vì nguồn thông tin thống kê này là một trong những nguồn quan trọng mà lâu nay ngành GDĐT sử dụng để tổ chức quản
lý các cấp giáo dục khác nhau trong toàn ngành và nguồn thông tin thống kê này cũng góp phần rất lớn trong việc cung cấp kịp thời thông tin về tình hình phát triển, những khó khăn của ngành giáo dục, phục vụ không chỉ cho Lãnh đạo Đảng và Nhà nước,
mà còn phục vụ tốt cho công tác quản lý và điều hành của các cấp Lãnh đạo địa phương Tuy nhiên để tiến kịp với sự đổi mới trên nhiều mặt của đất nước đặc biệt là
sự đổi mới về GD và kinh tế thì cũng đồng nghĩa với sự đòi hỏi về nhu cầu thông tin thống kê tăng lên gấp bội, đối tượng sử dụng thông tin thống kê ngành GD không chỉ của riêng ngành mà phải là mọi đối tượng trong xã hội Do vậy, sự cần thiết và cấp bách của việc kiểm tra, báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với ngành GDĐT xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của ngành giáo dục nước nhà
Công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương thực hiện theo Thông tư số 39/2011/TT-BGDĐT ngày 15/9/2011 ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê giáo dục và đào tạo, Thông tư số 41/2011/TT-BGDĐT ngày 22/9/2011 ban hành Quy định chế độ thống kê, thông tin, báo cáo về tổ chức, hoạt động giáo dục cho nên việc kiểm tra báo cáo thống kê tổng hợp số liệu ngành chính xác sẽ thuận lợi cho những công tác khác trong ngành được ứng dụng từ số liệu thống kê
Công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương đã đóng góp quan trọng vào việc hỗ trợ các nhà quản lý giáo dục tỉnh nhà trong công tác xây dựng mục đích, mục tiêu cho các cấp GD của địa phương cũng như hoạch định các bước đi cụ thể cho lộ trình đạt đến mục đích, mục tiêu GD đã đề ra Tuy nhiên, nếu công tác thống kê và việc quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương không được tiến hành một cách khoa học thì ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý toàn ngành GDĐT, cụ thể là việc lập kế hoạch, tổ chức, triển khai và kiểm tra đánh giá các hoạt động của ngành GDĐT Người nghiên cứu đang là cán bộ chuyên trách tham gia thống kê số liệu ngành GDĐT tỉnh Bình Dương, đã ghi nhận những đóng góp cũng như những tồn tại trong hoạt động quản lý công tác thống kê số
Trang 9liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương trong thời gian công tác nên tôi chọn đề tài: “Thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý công tác thống kê liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương
4 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông và quản lý công tác thống kê
số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả nhất định góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý như đánh giá đúng chất luợng GDĐT qua từng năm, từng giai đoạn; lập kế hoạch phát triển cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy phù hợp với nhu cầu thực tế Tuy nhiên hoạt động quản lý công tác thống kế số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương vẫn còn những hạn chế, bất cập như
số liệu còn chênh lệch giữa thống kê với phòng chuyên môn, kết quả số liệu còn chậm trễ theo quy định không kịp thời phục vụ cho nhu cầu quản lý Do đó, xác định được thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương sẽ là
cơ sở đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của công tác này đối với
ngành GDĐT Bình Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 10- Phân tích, hệ thống hóa tài liệu liên quan đến quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT
- Khảo sát thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác thống kê
7 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Quan điểm hệ thống – cấu trúc cho phép người nghiên cứu nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện về công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông với toàn ngành GDĐT tỉnh Bình Dương, thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa quản lý công tác thống kê số liệu của từng đơn vị trường phổ thông với quản lý công tác thống kê số liệu toàn ngành GDĐT tỉnh Bình Dương, cũng như xem xét quản lý thống kê số liệu ngành GDĐT tỉnh Bình Dương là một hệ thống, trong đó công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương là một yếu tố con bao gồm các yếu tố hợp thành như quản lý công tác quản lý thống kê của CBQL, quản lý nội dung, phương pháp báo cáo thống kê số liệu tại đơn vị trường học Từ đó giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương
7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Trang 11Vận dụng quan điểm lịch sử _logic trong nghiên cứu là khi nghiên cứu thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương phải tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của công tác thống kê số liệu ngành trong những thời gian và không gian cụ thể với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để phát hiện ra quy luật tất yếu của hoạt động quản lý thống kê số liệu Theo quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian thời gian hoàn cảnh cụ thể để sưu tập, xử lí thông tin, kinh nghiệm quản lý công tác thống kê để giải quyết các nhiệm vụ đề tài,
để ngăn ngừa và tránh khỏi những sai lầm khuyết điểm có thể lặp lại trong tương lai
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Vận dụng quan điểm thực tiễn vào nghiên cứu, xem thực tiễn giáo dục là nguồn gốc, là động lực, là tiêu chuẩn và là mục đích của quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục Quan điểm này giúp người nghiên cứu phân tích sâu sắc những vấn đề của thực tiễn công tác quản lý thống kê số liệu ngành GDĐT tỉnh Bình Dương: Hiện trạng, nguyên nhân, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu để từ đó đề ra phương hướng, biện pháp phù hợp sự phát triển thực tiễn quản lý công tác thống kê số liệu ngành GDĐT tỉnh Bình Dương
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các nhóm phương pháp chính sau đây:
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phân tích và tổng hợp lý luận các lý luận có liên quan đến công tác thống kê
số liệu giáo dục và quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT để hình thành cơ sở
lý luận cho đề tài
* Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
1- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
- Mục đích điều tra: Điều tra bằng bảng hỏi nhằm khảo sát thu thập thông tin về thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương
- Mẫu điều tra: CBQL các đơn vị phòng GDĐT huyện, thị và thành phố, và các đơn vị trường phổ thông
Trang 12- Cách thức điều tra: Xây dựng phiếu điều tra dành cho CBQL gồm những câu hỏi cụ thể có một số câu trả lời có sẵn chọn lựa, và một số câu hỏi tự do để CBQL tự
do diễn tả ý nghĩ của mình
2- Phương pháp quan sát:
- Mục đích: Quan sát là phương pháp thu thập thu tin về thực tế, cho ta những tài liệu sống về thực tiễn để có thể khái quát rút ra những vấn đề cơ bản nhằm thực hiện công tác quản lý, thực hiện công tác thống kê số liệu bậc GDPT tốt hơn
- Mẫu quan sát: Công tác báo cáo thống kê số liệu giáo dục của các đơn vị phòng GDĐT và các trường phổ thông
- Cách thức quan sát: Việc thực hiện nộp báo cáo theo yêu cầu từ các đơn vị về
Sở GDĐT
3- Phương pháp phỏng vấn:
- Mục đích phỏng vấn: Là phương pháp nghiên cứu trong đó người nghiên cứu trực tiếp nêu ra một hệ thống câu hỏi cho đối tượng để thu lượm những thông tin về thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu giáo dục nhằm làm rõ hơn các thông tin thu thập được trong bước điều tra bằng bảng hỏi
- Mẫu phỏng vấn: : 01 CBQL Sở GDĐT, 02 CBQL phòng GDĐT , 01 CBQL trường THPT, 02 CBQL trường THCS
- Cách thức: Gồm 3 câu hỏi tập trung vào những vấn đề như: sự phân công quản
lý công tác báo cáo thống kê số liệu tại các đơn vị; những việc đã thực hiện cho việc quản lý công tác báo cáo thống kê số liệu, những khó khăn và thuận lợi đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cho công tác báo cáo thống
kê
4 - Phương pháp thống kê toán học: Là phương pháp sử dụng để xử lý kết quả
điều tra và số liệu thu được bằng phần mềm SPSS for windows phiên bản 17.5
Trang 13C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ
Thống kê có lịch sử phát triển qua nhiều thế kỷ Sự xuất hiện và phát triển của nó là do nhu cầu thực tiễn của xã hội Từ thời chiềm hữu nô lệ các chủ nô ghi chép tính toán tài sản của mình (số nô lệ, số súc vật, các tài sản khác) nhưng công việc ghi chép còn giản đơn, tiến hành trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa mang tính thống
kê rõ rệt Dưới chế độ phong kiến thống kê phát triển hơn, ở hầu hết các quốc gia châu Á, châu Âu Tổ chức nhiều việc đăng ký và kê khai với phạm vi rộng, nội dung phong phú có tính chất thống kê rõ rệt phục vụ cho việc thu thuế và đi lính của giai cấp thống trị Thống kê tuy đã có tiến bộ nhưng chưa đúc kết thành lý luận và chưa trở thành một môn khoa học độc lập
Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa trong nước cũng như trên thị trường thế giới ngày càng tăng lên đòi hỏi phải có các thông tin về thống kê Do đó, công tác thống kê phát triển nhanh chóng Sự cố gắng tìm hiểu các hiện tượng và quá trình kinh tế, xã hội thông qua các biểu hiện về mặt số lượng đòi hỏi những người làm công tác khoa học, quản lý Nhà nước đi sâu nghiên cứu lý luận, tìm tòi các phương pháp tính toán số liệu thống kê
Nhiều nhận định cho rằng: Nền tảng của khoa học thống kê được xây dựng bởi nhà kinh tế học người Anh Wiliam Petty (1623-1687) Từ các tác phẩm “Số học chính trị”, “Sự khác biệt về tiền tệ” và một số tác phẩm khác nữa, C.Mác đã gọi Petty
là người sáng lập ra môn Thống kê học
Trang 14Đến giữa thế kỷ thứ XVIII một giáo sư đại học người Đức G.Conbring (1606-1681) lần đầu tiên dùng thuật ngữ “statistick” có nghĩa là Nhà nước hoặc trạng thái Sau này người ta gọi là “thống kê” và quan niệm đó là một khoa học nhằm so sánh các nước khác nhau về mọi mặt qua các số liệu thu thập đựơc
Sự phát triển tiếp theo của thống kê được vun đắp bởi nhiều nhà khoa học lý thuyết và các nhà khoa học thực nghiệm Trong đó, nhà toán học người Bỉ đã giải thích nhiệm vụ của thống kê học là nghiên cứu và biểu hiện tính qui luật của hiện tượng Lúc này thống kê đã phát triển mạnh trên mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, trong công nghiệp, nông nghiệp… tình hình này thúc đẩy thống kê mau chóng hình thành một môn khoa học thật sự độc lập Bản chất của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, luôn có sự cạnh tranh gay gắt, đấu tranh giai cấp là nguyên nhân hạn chế sự phát triển đúng hướng của môn khoa học này Trong điều kiện xã hội như thế, dù chủ nghĩa tư bản đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của thống kê học, nhưng các nhà thống kê học không thể phản ánh được chân thực sự thật khách quan của xã hội, mà còn bị sử dụng vào các mục đích
có lợi của giai cấp tư bản Các công trình nghiên cứu của họ chỉ mới chỉ dừng lại ở việc quan sát bề ngoài của hiện tượng, chỉ xem xét mặt số lượng đơn thuần mà không chú ý đến chất lượng của hiện tượng mà họ thường dùng công thức và phương pháp toán học thay cho việc phân tích lý luận
Khi Chủ nghĩa Mac - LêNin ra đời, đã đặt cơ sở khoa học đúng đắn cho thống
kê học Qua các tác phẩm của Mác - Anghen, LêNin…có thể thấy những lý luận và phương pháp cơ bản nhất của thống kê đã được nêu lên với sự phân tích thật sự khoa học Những người thầy của giai cấp vô sản rất coi trọng thống kê và khẳng định rằng
“thống kê kinh tế xã hội là công cụ mạnh nhất để nhận thức xã hội” [19]
Như vậy, lịch sử phát triển của thống kê cho thấy: “Thống kê là một môn khoa học, ra đời và phát triển nhờ vào sự tích lũy kiến thức của nhân loại, rút ra được
từ kinh nghiệm nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, cho phép con người sử dụng để quản lý xã hội”
1.1.2 Tại Việt Nam
Trang 15Trong thời gian Việt Nam bị các thế lực đế quốc xâm lược, công tác thống kê tiến hành không nhiều và không toàn diện Từ ngày nước ta hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến công tác thống kê Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, phát triển kinh
tế xã hội thì công tác thống kê xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình đổi mới đó Vì vậy vai trò của khoa học thống kê trong công tác thống kê có tác dụng quan trọng, bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước gắn với thực tiễn nhằm khai thác, khám phá, phát hiện và kịp thời phối hợp với bộ phận nghiệp vụ nghiên cứu giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, trong sự phát triển của đất nước Bước sang thời kỳ đổi mới, cán bộ, công chức ngành Thống kê từ trung ương đến các địa phương đã quán triệt đường lối của Đảng, từng bước đổi mới công tác của ngành
Từ hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ cơ chế quản lý, kế hoạch hóa tập trung với nhiều chỉ tiêu hiện vật, nặng về mô tả, chủ yếu phục vụ cho quản lý kinh tế vi mô, ngành Thống kê đã nhanh chóng cải tiến hệ thống chỉ tiêu thống kê, bổ sung nhiều chỉ tiêu giá trị phục vụ quản lý Nhà nước ở tầm vĩ mô và nhiều nhu cầu thông tin đa dạng khác
Trong quá trình xây dựng phát triển, ngành thống kê Việt Nam đã từng bước trưởng thành, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước qua từng giai đoạn Cho đến nay ngành thống kê nước Việt Nam ngày càng phát triển để đáp ứng mọi yêu cầu nghiên cứu của Đảng và Nhà nước Nhiều kinh nghiệm đang được tổng kết điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng lý luận thống kê Việt Nam
Hiện nay, ngành Thống kê Việt Nam đang được tăng cường và phát triển theo định hướng phát triển của ngành Thống kê đến năm 2020 tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2011 và Đề án Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 2 tháng 3 năm 2010
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống và hạn chế về chuyên môn, cán bộ công chức toàn ngành Thống kê đã kiên trì phấn đấu xây dựng ngành, đáp ứng yêu cầu thông tin của Đảng và Nhà nước và của xã hội Phong trào thi đua trong
Trang 16ngành được duy trì có nền nếp, đã động viên khuyến khích từng đơn vị, cá nhân hăng hái phấn khởi hoàn thành nhiệm vụ Với những thành tích đạt được, ngành Thống kê
đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng nhất vào năm 1996, nhiều đơn vị và cán bộ thống kê được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, được Chính phủ tặng nhiều bằng khen và cờ luân lưu
Việc áp dụng công nghệ thông tin kết hợp với ứng dụng có chọn lọc các phương pháp thống kê quốc tế, các phương pháp phân tích khoa học đã bước đầu phát huy hiệu quả trong công tác thu thập và xử lý thông tin Đội ngũ cán bộ thống kê được đào tạo, nâng cao về trình độ chính trị, chuyên môn, tin học và ngoại ngữ
Nhìn chung, ngành Thống kê Việt Nam đã từng bước đáp ứng yêu cầu về thông tin của các cơ quan Đảng, Chính phủ và cơ quan quản lý các cấp, các ngành Thông tin thống kê là cơ sở quan trọng để đánh giá phân tích và dự báo xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của từng ngành, từng địa phương, góp phần quan trọng vào công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, của các cơ quan trung ương và địa phương Nhiều tài liệu thống kê được công bố và xuất bản đã đáp ứng được yêu cầu thông tin của xã hội
1.2 Tầm quan trọng của công tác thống kê giáo dục
GDĐT là một ngành quan trọng, quyết định sự lớn mạnh của đất nước về các mặt: trình độ dân trí, kinh tế, xã hội…… Để quản lý công tác giáo dục đào tạo và ra các quyết định phù hợp, kịp thời đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải thường xuyên cập nhật những thông tin chính xác về tình hình giáo dục, kết quả đào tạo hoạt động của ngành Công tác quản lý giáo dục đào tạo đòi hỏi công tác thống kê phải cung cấp những số liệu chính xác, kịp thời đầy đủ; phân tích được tình hình phát triển, cân đối giữa nhu cầu xã hội với khả năng của các đơn vị trường học; đánh giá kết quả của công tác GDĐT; trên cơ sở đó đề xuất kế hoạch GDĐT cho những năm tiếp theo
Công tác thống kê trong giáo dục là một trong những công tác quan trọng trong sự nghiệp GDĐT, nó cung cấp các phương pháp tính toán và phân tích các chỉ tiêu để thực hiện cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý giáo dục và đào tạo
Trang 17Công tác thống kê trong GDĐT có một vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý Kết quả của nó phản ánh được cả số lượng và chất lượng của sự nghiệp GDĐT trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển trong tương lai Công tác thống kê trong GDĐT có tầm quan trọng như vậy là do:
- Số liệu thống kê phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, chất lượng và xu hướng phát triển của công tác GDĐT, qua đó phân tích tìm ra những nguyên nhân, những tồn tại trong công tác GDĐT để có biện pháp khắc phục
- Số liệu GDĐT là căn cứ để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đào tạo ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và cũng là căn cứ để xây dựng các kế hoạch cho GDĐT trong tương lai
- Công tác thống kê GDĐT giúp cho lãnh đạo các đơn vị trường học, các cơ quan quản lý GD nắm được tình hình cụ thể về công tác GDĐT của đơn vị mình, của ngành mình trên cơ sở đó CBQL chỉ đạo phát triển đúng hướng phù hợp với sự lãnh đạo chỉ đạo của cơ quan cấp trên và phù hợp với công cuộc phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới
- Công tác thống kê phân tích được xu thế vận động và phát triển của GDĐT Qua đó rút ra những vấn đề có tính quy luật của GDĐT để từ đó có những dự đoán xác với thực tế, phục vụ cho sự phát triển GDĐT trong những năm tiếp theo
1.3 Một số khái niệm
1.3.1 Quản lý
Quản lý có thể hiểu theo những khuynh hướng sau:
- Quản lý là quá trình điều khiển của một hệ thống
- Quản lý là hoạt động tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện, môi trường cho sự phát triển của đối tượng quản lý
- Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
Tuy cách diễn đạt khác nhau song nội dung cơ bản của quản lý là thống nhất Quản lý là một thuộc tính nội tại, bất biến của mọi quá trình hoạt động xã hội Lao
Trang 18động quản lý là tất yếu và quan trọng để làm cho xã hội loài người vận hành, tồn tại
và phát triển
Các lĩnh vực của quản lý bao gồm: Giới vô sinh, giới sinh vật và quản lý xã hội Quản lý xã hội là dạng quản lý cơ bản của con người đối với các hoạt động của con người trong một tổ chức nào đó, nên có thể hiểu: Quản lý là quá trình tiến hành các hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay hiệu quả cần thiết
cho sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức trong môi trường luôn biến động
1.3.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của mỗi quốc gia
Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức và có sự điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động giáo dục do các cơ quan quản lý giáo dục của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước trao quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, duy trì kỷ cương, thoả mãn nhu cầu giáo dục của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục của Nhà nước “Phát triển giáo dục là Quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài [12]
1 3.3 Thống kê
Thống kê là hệ thống những phương pháp ghi chép, thu thập và phân tích các con số về những hiện tượng tự nhiên, kinh tế kỹ thuật, xã hội để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của những hiện tượng này
Như vậy thống kê học là một khoa học nhằm nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số, là mặt lượng của các hiện tượng số lớn
để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng, là mặt chất trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Trang 19Qua đó chúng ta thấy được thống kê là một công cụ quản lý vĩ mô quan trọng,
có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, đầy đủ kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách xây dựng kế họach phát triển kinh tế xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức cá nhân
1.3.4 Thống kê giáo dục
Công tác thống kê giáo dục và đào tạo nói riêng và công tác quản lý thống kê
số liệu giáo dục nói chung đối với các cấp quản lý giáo dục luôn được xem đó là một trong những công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc phân tích, đánh giá, quản lý và chỉ đạo phát triển của các cấp quản lý trong ngành giáo dục
Thống kê giáo dục là hoạt động thu thập, xử lý và phân tích các con số, các hiện tượng của quá trình giáo dục và đào tạo
1.4 Cơ sở khoa học của thống kê giáo dục
1.4.1 Cơ sở lý luận của thống kê giáo dục
Muốn dùng con số để biểu hiện mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng kinh tế xã hội phát sinh trong quá trình quản lý của các cấp quản
lý ngành giáo dục, phải dựa trên cơ sở nhận thức đầy đủ nội dung, bản chất và quy luật phát triển của các hiện tượng đó Muốn vậy phải dưa vào các khái niệm, các phạm trù đã được các môn khoa học như kinh tế học, chính trị học, triết học chủ nghĩa duy vật lịch sử giải quyết một cách thấu đáo Đây là những khoa học đã vạch rõ mối liện hệ ràng buộc, tác động qua lại giữa các hiện tượng này, nó chính là những nguyên lý có tầm quan trọng quyết định tính chính xác và khoa học của thống kê kinh
tế xã hội trong đó có thống kê giáo dục
Vì vậy, có thể nói cơ sở đầu tiên làm chỗ dựa lý luận cho việc nghiên cứu tính toán thống kê trong ngành giáo dục đó chính là các học thuyết kinh tế học của chủ nghĩa Mac, kinh tế xã hội và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mặt khác để có những nội dung và nhiệm vụ trong giai đoạn cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho các nhu cầu quản lý của Đảng và Nhà nước ta, thống kê giáo dục phải lấy đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta làm kim chỉ nam
Trang 201.4.2 Cơ sở phương pháp luận của thống kê giáo dục
Các phương pháp nghiên cứu thống kê, đặc biệt trong thống kê giáo dục không phải là những phương pháp có tính chất đơn thuần Mỗi phương pháp đều có cơ sở lý luận của nó Tổng hợp lý luận về các phương pháp sử dụng trong thống kê giáo dục gọi là phương pháp luận Phương pháp luận của thống kê giáo dục cũng dựa trên cơ
sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng Như ta đã biết, chủ nghĩa duy vật biện chứng là khoa học về các quy luật chung nhất trên thế giới vật chất và của tư duy Trong nghiên cứu, chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp ta phân tích đối tượng nghiên cứu một cách khách quan và khoa học nhất Chính vì vậy, khi nghiên cứu thống kê giáo dục phải dựa trên các mối quan hệ phổ biến, các quy luật cơ bản, các cặp phạm trù của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, để từ đó giải thích chính xác bản chất các họat động giáo dục và xây dựng các phương pháp nghiên cứu thích hợp
1.4.3 Những chức năng cơ bản của công tác thống kê giáo dục
Thống kê học là một môn khoa học xã hội, ra đời và phát triển theo nhu cầu của hoạt động thực tiễn xã hội Trước khi trở thành một môn khoa học, thống kê học
đã có nguồn gốc lịch sử khá lâu đời Đó là cả một quá trình tích lũy kinh nghiệm từ đơn giản đến phức tạp, đúc kết dần thành lý luận khoa học ngày càng hoàn thiện Cùng với thống kê của các ngành khác, thống kê ngành giáo dục và đào tạo là một bộ phận trong thống kê học
Sau đây là một số chức năng chủ yếu của công tác thống kê giáo dục và đào tạo [1]:
1.4.3.1 Chức năng mô tả
Các số liệu thống kê sẽ giúp cho việc mô tả tình hình GDĐT về số lượng và chất lượng: trường và quy mô trường, các loại hình: học sinh, giáo viên và cơ sở vật chất hiện có trong nhà trường…
1.4.3.2 Chức năng so sánh
Các số liệu thống kê sẽ giúp cho việc so sánh khả năng có sẵn và mức độ thực hiện với kế hoạch đã đựơc đề ra, giữa các nhà trường, giữa các đơn vị giáo dục ở các
Trang 21xã, huyện, tỉnh, vùng khác nhau, giữa các nhóm dân cư khác nhau, các dân tộc trong cùng một nước hoặc giữa các nước
1.4.3.3 Chức năng quản lý, giám sát
Lĩnh vực giáo dục và đào tạo là một ngành hoạt động có quy mô rộng và sử dụng một phần đáng kể ngân sách nhà nước cũng như một nguồn nhân vật lực rộng lớn là giáo viên, học sinh do vậy cần phải được quản lý, giám sát và điều hành chặt chẽ Vì vậy cần phải có số liệu thống kê kịp thời, chính xác đầy đủ để đưa ra những biện pháp nhằm hướng sự phát triển tới mục tiêu đã định
1.4.3.4 Chức năng kế hoạch hóa
Việc phân tích các số liệu thống kê cho thấy tình hình giáo dục và đào tạo hiện tại và những năm đã qua đã giúp cho các nhà quản lý, các nhà làm công tác kế hoạch thấy đựơc xu thế phát triển, nhờ đó hình thành các chính sách và hoạch định sự phát triển giáo dục và đào tạo trong tương lai, dự kiến khả năng có thể đạt được ứng với từng cách lựa chọn với khả năng nhân vật lực có được
1.4.3.6 Chức năng nghiên cứu, đúc kết lý luận
Một cách tự nhiên, chức năng này liên quan một cách chặt chẽ với chức năng
kế hoạch hóa và đánh giá Trên những số liệu giáo dục thống kê chính xác để nghiên cứu, đúc kết lý luận tìm các mối quan hệ giữa đầu vào của các nguồn nhân vật lực được sử dụng và đầu ra là hiệu quả của quá trình giáo dục và đào tạo: chất lượng và
số học sinh tốt nghiệp hàng năm trong các nhà trường, mối quan hệ bên trong và bên ngoài của hệ thống giáo dục xã hội
Trong thực tế các chức năng mô tả, so sánh, kế hoạch hóa, quản lý giám sát và đánh giá đựơc sử dụng nhiều hơn so với chức năng khác trong công tác thống kê giáo dục [1]
1.5 Quản lý công tác thống kê giáo dục
Trang 22Trong quá trình điều hành, người quản lý tiến hành nhiều hoạt động khác nhau Nghiên cứu những hoạt động này người ta đã cố gắng tách riêng từng hoạt động ra, dựa trên tính tương đối độc lập của mỗi hoạt động Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong hoạt động quản lý được gọi là chức năng quản lý Có thể nói, chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Chức năng quản lý nảy sinh và là kết quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được tách riêng, có tính chất chuyên môn hóa
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân lọai các chức năng quản lý Theo quan điểm hiện đại quản lý gồm bốn chức năng chính: Hoạch định; Tổ chức; Chỉ đạo và Kiểm tra Bốn chức năng này thực chất là một chuỗi công việc kế tiếp nhau theo một cấu trúc vòng khép kín mà người ta gọi là chu trình quản lý Trong quá trình quản lý,
chu trình này luôn được lặp lại
1.5.1.1 Chức năng hoạch định
Hoạch định là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý Nó có vai trò quan trọng là xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai Hoạch định là một quá trình gồm các bước: Dự báo, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu
* Dự báo: Dự báo là công việc bắt đầu của chức năng hoạch định Nó có nhiệm
vụ tìm ra hướng hoạt động và phát triển của ngành giáo dục trên cơ sở nắm vững đường lối phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục của Đảng và Nhà nước, của địa phương, hiểu biết thị trường (hàng hóa, lao động ), nhu cầu đào tạo, sự cạnh tranh
và đặc biệt là phân tích kỹ về điểm mạnh và điểm yếu của thực trạng hệ thống giáo
Trang 23dục về đào tạo, sản xuất, về cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn chỉ trên cơ sở phân tích kỹ nhu cầu và khả năng người quản lý mới có thể xác định được đúng phương
hướng hoạt động và phát triển của ngành giáo dục
Trong dự báo công tác quản lý giáo dục cần chú ý về số học sinh, số trường số lớp, kết quả học tập, học sinh tốt nghiệp, tình hình đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ học tập
Dự báo có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai Vì vậy, để cho dự báo được chính xác hơn, cần loại trừ tính chủ quan của người dự báo
* Xác định mục tiêu: Dựa vào kết quả đoán định phương hướng phát triển,
người quản lý xác định mục tiêu quản lý giáo dục đủ và đồng bộ, từng bước nâng cao chất lựong GDĐT
Mục tiêu có các vai trò làm nền tảng cho hoạch định, nhằm xây dựng hệ thống quản lý và quyết định toàn bộ diễn biến của tiến trình quản lý Vì vậy, khi xác định mục tiêu quản lý giáo dục, người quản lý cần đáp ứng các yêu cầu: đảm bảo tính liên tục và kế thừa; phải rõ ràng bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu; nên có sự kỳ vọng và tiên tiến để thể hiện được sự phấn đấu của các thành viên; cần xác định mục tiêu trọng tâm để tập trung các nguồn lực; xác định rõ thời gian thực hiện và có các kết quả cụ thể
* Xây dựng kế hoạch: Kế hoạch là điều vạch ra với các mục tiêu và cách thức
để đạt được mục tiêu trong thời gian nhất định
Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn
và hy vọng, mặc dù có tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì phải lập kế hoạch Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực - vật lực - tài lực) và thời gian, không gian cần cho việc hoàn thành các mục tiêu
Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi người quản lý phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn Cân đối giữa hệ thống mục tiêu, các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người quản lý phải nắm vững khả
Trang 24năng mọi mặt của tổ chức mình, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, các phương tiện quản lý, đặc biệt là các nguồn thông tin khác từ công tác điều tra và nghiên cứu; người quản lý xây dựng kế hoạch
cụ thể cho công tác quản lý, trong đó thể hiện được các nội dung về việc xác định và phân tích các mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu, triển khai thực hiện các kế hoạch, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch Nội dung của kế hoạch quản
lý giáo dục phải xác định và đảm bảo chắc chắn về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), lựa chọn các phương án và biện pháp tối ưu để thực hiện tốt kế hoạch đề ra
Kế hoạch phải thể hiện cụ thể, rõ ràng, phản ánh được hoạt động chung của ngành ở từng thời điểm nhất định (từng năm, từng học kỳ, từng tháng, ), đồng thời cho thấy được trách nhiệm của từng thành viên ở mỗi cấp quản lý
Tổ chức QLGD thực hiện trước hết là việc xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định vai trò nhiệm vụ của các đơn vị trường học nhằm bảo đảm sự phù hợp, ăn khớp giữa các hoạt động
Trang 25Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý giáo dục, trước hết người quản lý phải xác định và phân loại các hoạt động cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu về đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân vật lực (như đã nêu trong kế hoạch); hình thành cơ cấu tổ chức, như việc thành lập các phòng ban, các bộ phận chuyên môn khác, như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu phát triển của ngành GDĐT; phân nhiệm và phân quyền rành mạch cho các bộ phận, tránh chồng chéo để họ chủ động và phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình trong quản
lý con người, quản lý hoạt động chuyên môn; ràng buộc các bộ phận theo chiều dọc
và chiều ngang trong các mối quan hệ về trách nhiệm, quyền hạn và thông tin
Như vậy, nội dung của chức năng tổ chức quản lý giáo dục bao gồm xác định cấu trúc của tổ chức ở mỗi cấp quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ chất lượng nguồn nhân lực đây là yếu tố quyết định kết quả của quá trình quản lý giáo dục, xây dựng cơ chế quản lý và giải quyết các mối quan hệ trong tổ chức trong và ngoài đơn
vị, tổ chức lao động khoa học trong đơn vị Thực hiện tốt chức năng tổ chức là sự thành công cơ bản trong quá trình quản lý Để thành công khi thực hiện chức năng tổ chức nhà quản lý cần lưu ý: Có kiến thức và năng động trong quản lý, hãy tin tưởng vào đội ngũ nhân viên, xây dựng văn hóa làm việc của tổ chức, xây dựng tầm nhìn, tương lai cho tổ chức, biết động viên và thuởng phạt thích đáng, phát huy tối đa tiềm năng của nhân viên
Khi thực hiện chức năng này, người quản lý cần chú ý đến nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc năng lực sở trường
Trang 26thẩm thấu và đan xen vào hai chức năng trên
Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của mình Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận và các hoạt động đội ngũ giảng viên diễn ra đúng hướng, đúng
kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau
Trong khi thực hiện kế hoạch có thể có một số vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn cần phải điều chỉnh cho hợp lý hơn Người quản lý bám sát hiện trường, phân tích nhanh chóng các vấn đề thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh
lý kế hoạch để hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tối ưu
Muốn chỉ đạo tốt người quản lý cần thu thập thông tin chính xác, biết phân tích,
xử lý các nguồn thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn Điều đó nếu thực hiện tốt sẽ nâng cao uy tín của người lãnh đạo, còn ngược lại thì sẽ làm giảm uy tín Nguồn thu tập thông tin quan trọng đó là kiểm tra, kiểm kê, thanh tra, đánh giá Trong quản lý giáo dục, thực hiện tốt chức năng chỉ đạo sẽ đạt được mục tiêu với hiệu quả cao và nó thể hiện rõ tính nghệ thuật của nhà quản lý trong quá trình quản lý
1.5.1.4 Chức năng kiểm tra
Chức năng kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới các mục tiêu của tổ chức
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý Nó giúp cho người quản lý nắm đựơc tình hình thực hiện kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch đề
ra để kịp thời điều chỉnh hoặc có biện pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ
Kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích Nhờ có kiểm tra mà người cán bộ quản lý có được thông tin để đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu
Trong quản lý giáo dục thực hiện tốt chức năng kiểm tra sẽ làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt hơn, phát huy mặt tốt, phát hiện ra những sai sót để khắc phục
Trang 27bảo đảm cho mọi hoạt động của ngành GDĐT đi đúng hướng
Trong chu trình quản lý, cả bốn chức năng trên phải thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu trình sau theo hướng phát triển Trong đó, yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý
1.5.2 Nội dung quản lý công tác thống kê giáo dục
Quản lý công tác thống kê giáo dục là một trong những yếu tố trọng tâm và quan trọng của công tác quản lý ngành GDĐT Trước hết, lãnh đạo từng đơn vị cần nắm vững thế nào là quản lý thống kê giáo dục và phải hiểu đựơc rằng quản lý công tác thống kê giáo dục là một nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến
sự phát triển của nhà trường và của toàn ngành GDĐT Để thực hiện tốt việc quản lý công tác thống kê giáo dục, người cán bộ quản lý cần phải thực hiện tốt các nội dung quản lý công tác thống kê giáo dục như sau
1.5.2.1 Quản lý việc lập kế hoạch thống kê giáo dục
Lập kế hoạch thống kê GD được xem như là một nhiệm vụ của năm học trong
kế hoạch quản lý các hoạt động của nhà trường, của các cấp quản lý giáo dục Cụ thể:
- Xác định mục đích công tác thống kê giáo dục là xây dựng và quản lý cơ sở
dữ liệu của ngành phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch và hoạch định chính sách, phối hợp và phân tích số liệu thống kê định kỳ, hàng năm, 05 năm, 10 năm
- Xác định các biện pháp quản lý thống nhất chỉ số thống kê giáo dục và đào tạo, hướng dẫn phương pháp thu thập, ghi chép, quy trình thực hiện thống kê GD cho các Phòng GDĐT quận, huyện và các cơ sở GDĐT thuộc Sở
- Xác định các nguồn nhân lực, vật lực cho công tác thống kê giáo dục phù hợp với điền kiện hoàn cảnh của toàn ngành
- Kế hoạch công tác thống kê giáo dục của ngành phải được phổ biến tới toàn thể CBQL các đơn vị trường học trên địa bàn quản lý, các cán bộ thực hiện nhiệm vụ công tác thống kê giáo dục
1.5.2.2 Quản lý việc tổ chức thực hiện công tác thống kê giáo dục
- Lập danh mục cần thực hiện để đạt được mục tiêu cho kế hoạch thống kê giáo dục Ví dụ:
Trang 28+ Thống nhất về mục tiêu thực hiện công tác thống kê giáo dục
+ Lựa chọn phương pháp thực hiện công tác thống kê giáo dục
+ Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ công tác thống kê cho cán bộ phụ trách nhiệm vụ thống kê số liệu tại các đơn vị trường học, cho CBQL các cấp
+ Trang bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác thống kê giáo dục
- Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, cá nhân tham gia công tác thống
+ CBQL các cấp có trách nhiệm kiểm tra, điều chỉnh việc thực hiện công tác
thống kê số liệu, động viên khuyến khích cán bộ thực hiện công tác thống kê
1.5.2.3 Quản lý việc chỉ đạo thực hiện công tác thống kê giáo dục
- Sở GDĐT ra quyết định chỉ đạo thực hiện công tác thống kê số liệu giáo dục cho toàn ngành
- CBQL các cấp lập kế hoạcch, chỉ đạo cán bộ thực hiện nhiệm vụ công tác thống kê giáo dục
- Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê Nhất là phương pháp thực hiện thống kê số liệu Chú ý về nội dung tập huấn, bồi dưỡng, thời gian tổ chức để có sự tham gia đầy đủ của CBQL các đơn vị và cán bộ phụ trách thống kê
- Tổ chức các buổi giao lưu học hỏi kinh nghiệm về việc thực hiện công tác thống kê giáo dục giữa các đơn vị lẫn nhau
1.5.2.4 Kiểm tra đánh giá, điều chỉnh quản lý công tác thống kê giáo dục
Trang 29Kiểm tra là một trong những chức năng của công tác quản lý, nhờ có kiểm tra mới biết được mức độ thực hiện, kết quả và hiệu quả thực hiện của các đơn vị về công tác thống kê giáo dục
Nhiệm vụ của kiểm tra trong công tác thống kê là phải xác định, sửa chữa được những sai lệch trong thực hiện công tác so với mục tiêu, kế hoạch đề ra Nội dung, công tác kiểm tra cần tập trung nỗ lực vào những vấn đề có ảnh hưởng quan trọng đối
với nhiệm vụ công tác thống kê số liệu phải thực hiện
CBQL của đơn vị xây dựng những biện pháp, tiêu chuẩn kiểm tra cho công tác
thống kê giáo dục, cho cán bộ được phân công thực hiện nhiệm vụ này
1.5.2.5 Quản lý đội ngũ cán bộ thực hiện công tác thống kê giáo dục
Tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thống kê giáo dục về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và đặc biệt là nghiệp vụ chuyên môn về thống kê cụ thể:
- Phải làm cho mọi cán bộ nhận biết rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện công tác thống kê giáo dục
- Cụ thể hóa, thể chế hóa sự thống nhất giữa CBQL và cán bộ thực hiện công tác thống kê giáo dục đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu
tổ chức trong hệ thống về công tác thống kê giáo dục
- Đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục có hiệu quả những yếu kém trong từng khâu của công tác thống kê giáo dục Cải thiện môi trường làm việc để tạo động lực phấn đấu vươn lên của cán bộ Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, quản lý cán bộ thống kê giáo dục; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; hoàn thiện cơ chế, chính sách dành cho cán bộ thống kê giáo dục
Như vậy nội dung quản lý công tác thống kê giáo dục bao gồm những công việc:
Quản lý việc lập kế hoạch thống kê giáo dục
Quản lý việc tổ chức thực hiện công tác thống kê giáo dục
Quản lý việc chỉ đạo thực hiện công tác thống kê giáo dục
Kiểm tra đánh giá, điều chỉnh quản lý công tác thống kê giáo dục
Quản lý đội ngũ cán bộ làm công tác thống kê
1.6 Phân cấp quản lý trong thống kê giáo dục
Trang 301.6.1 Hệ thống thu thập số liệu thống kê giáo dục và đào tạo
Hệ thống thu thập, xử lý, tổng hợp phổ biến số liệu thống kê hiện nay trong đó
có thống kê giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay được mô phỏng theo mô hình sơ
đồ 1.1
CẤP TRUNG ƯƠNG: Tổng cục Thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo
CẤP TỈNH: Cục Thống kê, Sở Giáo dục và Đào tạo
CẤP HUYỆN: Phòng Thống kê, Phòng Giáo dục và Đào tạo
Nguồn [Sổ tay thống kê giáo dục – đào tạo, Bộ GDĐT, 1999]
Sơ đồ 1.1 Bộ máy thống kê nhà nước và mạng lưới thống kê ngành giáo dục và
đào tạo Ghi chú:
Thu thập số liệu thống kê GD&ĐT:
T ổng cục
Th ống kê
B ộ Giáo d ục & Đào tạo
Trường
Trường TCCN
Trường Trực thuộc Sở GD&ĐT
Trường Trung học
Trường TCCN trên địa bàn tỉnh
C ục
Th ống kê
S ở Giáo d ục &
Đào tạo
Tr ường
Ti ểu học TrTHCS ường
Tr ường PTCS
………
Trang 31Báo cáo số liệu thống kê GD&ĐT:
1.6.2 Nội dung và nhiệm vụ chính của công tác thống kê giáo dục và đào tạo ở mỗi cấp quản lý giáo dục
CẤP TRUNG ƯƠNG: Tổng cục thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Quản lý thống nhất toàn bộ công tác thống kê giáo dục và đào tạo của cơ quan Bộ và toàn ngành: chịu trách nhiệm thu nhận, xử lý lưu trữ và phổ biến thông tin
- Chỉ đạo việc xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thống kê, thông tin quản lý giáo dục và đào tạo toàn ngành, chuẩn hóa nghiệp vụ thống kê, thông tin quản lý giáo dục và nhanh chóng ứng dụng tin học nhằm đảm bảo thông tin được đầy đủ, chính xác và kịp thời Tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin quản lý giáo dục
- Xây dựng trình Bộ trưởng ban hành các văn bản pháp quy, hướng dẫn hệ thống thống kê, thông tin quản lý giáo dục và đào tạo toàn ngành
- Tổ chức nghiên cứu và tham gia các dự án nghiên cứu cải tiến công tác thống
kê, thông tin quản lý giáo dục và đào tạo
- Quan hệ với các ngành, các tổ chức có liên quan ở trong và ngoài nước để thu thập và trao đổi về công tác thống kê và thông tin giáo dục và đào tạo
- Tổ chức các dịch vụ thống kê, thông tin quản lý giáo dục và đào tạo Tranh thủ các nguồn chi viện trong và ngoài nước nhằm tạo điều kiện phát triển nghiệp vụ
và trang thiết bị kỹ thuật nhằm ngày càng nâng cao chất lượng thống kê và thông tin quản lý giáo dục
CẤP TỈNH: Cục Thống kê, Sở Giáo dục và Đào tạo
- Quản lý thống nhất toàn bộ công tác thống kê, thông tin quản lý giáo dục và đào tạo của cơ quan Sở và tỉnh; chịu trách nhiệm thu nhận, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin Cụ thể:
+ Chịu trách nhiệm làm báo cáo thống kê giáo dục và đào tạo gửivề Bộ, các cơ quan hữu quan và phổ biến số liệu giáo dục và đào tạo
+ Lưu trữ và phổ biến số liệu thông tin quản lý
Trang 32- Chỉ đạo việc xây dựng mạng lưới thống kê và thông tin quản lý giáo dục và đào tạo ở các huyện; chuẩn hóa nghiệp vụ thông tin và nhanh chóng ứng dụng tin học nhằm bảo đảm cho thông tin được đầy đủ, chính xác và kịp thời Cụ thể:
+ Xây dựng và tổ chức hệ thống thu thập, xử lý số liệu thống kê giáo dục trên địa bàn
+ Kiểm tra đôn đốc các huyện và các đơn vị trực thuộc thực hiện tốt chế độ báo cáo thống kê
+ Dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Bộ tổ chức
+ Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ huyện và các đơn vị trựơc thuộc chịu trách nhiệm làm công tác thống kê giáo dục và đào tạo
+ Là đầu mối khi có những cuộc điều tra thống kê giáo dục và các cuộc điều tra có liên quan
- Quan hệ với các ngành, các tổ chức trong và ngoài tỉnh để thu thập, trao đổi
về số liệu giáo dục và đào tạo, các số liệu có liên quan đến giáo dục của tỉnh
CẤP HUYỆN: Phòng Thống kê, Phòng Giáo dục và Đào tạo
- Tổ chức thu thập và chịu trách nhiệm làm báo cáo thống kê giáo dục và đào tạo gửi về tỉnh và cơ quan có liên quan trong huyện
- Kiểm tra đôn đốc các đơn vị giáo dục trên địa bàn thực hiện tốt chế độ báo cáo
- Dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ của tỉnh và bồi dưỡng lại cho các cán bộ chịu trách nhiệm làm công tác thống kê ở các đơn vị giáo dục
- Lưu trữ và phổ biến số liệu giáo dục và đào tạo huyện
CẤP TRƯỜNG:
- Làm báo cáo thống kê của nhà trường gửi lên cơ quan quản lý giáo dục cấp trên
- Dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do cấp trên tổ chức
- Lưu trữ các số liệu giáo dục và đào tạo của nhà trường
Qua mô hình Bộ máy thống kê nhà nước và mạng lưới thống kê ngành cùng với nội dung và nhiệm vụ chính ở mỗi cấp quản lý trong công tác thống kê giáo dục
và đào tạo, ta nhận thấy ở mỗi cấp quản lý, công tác này đều có một vai trò nhất
Trang 33định Ở một cấp nào đó (trường, huyện, tỉnh hoặc trung ương gọi chung là đơn vị giáo dục), công việc thống kê giáo dục và đào tạo yếu, bị coi nhẹ đều ảnh hưởng đến guồng máy thu thập và xử lý số liệu thống kê và thông tin quản lý cho nhà nước và của ngành Cũng chính vì vậy, ở mỗi cấp quản lý đều phải làm tốt những nhiệm vụ của mình về quản lý công tác thống kê Nếu như cấp Trung ương, Tỉnh, Huyện mang tính tổ chức chỉ đạo trong công tác thu thập và xử lý, tổng hợp các số liệu của cấp dưới thì ở cấp trường là cấp tổ chức thực hiện nhiều hơn Tuy nhiên, cấp trường đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, là nơi mọi tiêu thức, chỉ tiêu giáo dục được kê khai thu thập ban đầu, những thông tin gốc này ngay từ đây đã phải được từng nhà trườn hiểu đúng khái niệm và nắm được cách ghi biểu, phải đạt được những yêu cầu chính xác, đầy đủ và kịp thời ngay từ nhà trường thì các cấp tổng hợp mới có thể làm được các yêu cầu đó
Thí dụ: Tiêu thức giáo viên trực tiếp giảng dạy của bậc trung học phổ thông và các chỉ tiêu khác có liên quan đến tiêu thức giáo viên này được từng nhà trường kê khai một cách chính xác, đầy đủ thì ngay từ cấp trường cho ta thấy được đội ngũ giáo viên của trường đủ hay thiếu và chất lượng đội ngũ giáo viên đó: số giáo viên đạt chuẩn đào tạo, trên chuẩn, dưới chuẩn của cấp học được bao nhiêu phần trăm và từng bộ môn học số giáo viên này được phân bổ như thế nào, số lượng giáo viên thừa hay thiếu qua tỷ lệ giáo viện/lớp học… Đến các cấp huyện, tỉnh, trung ương các tiêu thức này sẽ được xử lý, tổng hợp từ các nhà trường, các huyện, các tỉnh kết quả tổng hợp sẽ cho biết tình hình đội ngũ giáo viên bậc trung học phổ thông của từng cấp học: cả số lượng và chất lượng, từ đây những chế độ chính sách, những kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cũng như đào tạo sinh viên trong các nhà trường
sư phạm được họach định ở trung ương để đáp ứng nhu cầu ngành học được duy trì
và phát triển trong tương lai
Với vị trí như vậy ở từng cấp quản lý, đặc biệt là cấp tỉnh và cấp huyện phải làm cho từng nhà trường có trách nhiệm, biết ghi chép thu thập số liệu và ngay từ nhà trường phải nhận thức đựơc chính nguồn số liệu này sẽ giúp cho ban giám hiệu nhà trường trong việc điều hành và quản lý
Trang 34Tiểu kết chương 1
Thống kê số liệu giáo dục và đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý giáo dục Nhờ có lý luận về thống kê giáo dục sẽ giúp cho công tác quản lý giáo dục có thể phân tích, tìm ra những nguyên nhân của việc hoàn thành hay không hoàn thành các kế hoạch của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Do đó việc quản lý công tác thống kê số liệu giáo dục đặc biệt là giáo dục bậc phổ thông là rất cần thiết trong công tác quản lý giáo dục Công tác quản lý thống kê số liệu giáo dục và đào tạo nếu được quan tâm thực hiện tốt như những công tác quản lý khác trong ngành giáo dục
sẽ góp phần không nhỏ cho sự thành công của sự phát triển ngành giáo dục và đào tạo Kết quả của công tác này sẽ là căn cứ vững chắc phục vụ cho việc đánh giá chất lượng, kết quả giáo dục và đào tạo hàng năm, sẽ là nền tảng vững vàng trong việc dự báo tình hình, hoạch định chiến lược phát triển ngành giáo dục và đào tạo phục vụ kịp thời theo nhu cầu phát triển của xã hội
Để quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông thành công cần
vận dụng phối hợp các chức năng quản lý như kế hoạch hóa công tác quản lý thống
kê số liệu bậc giáo dục phổ thông, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện công tác quản lý thực hiện thống kê số liệu, điều khiển và kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh những sai
lệch trong việc quản lý thực hiện công tác thống kê giáo dục
Trang 35C HƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC THỐNG KÊ
SỐ LIỆU BẬC GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh Bình Dương
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương
Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, được chia tách vào ngày 01/01/1997 từ tỉnh Sông Bé, cơ cấu hành chính gồm có 01 thành phố, 02 thị xã và 04 huyện thị với 91 xã, phường, thị trấn; diện tích tự nhiên 2.695,5 km2
và dân số theo kết quả điều tra dân số 01/04/2009 là 1.482.636 người với mật độ dân số 550 người/
km2 Do kinh tế phát triển nhanh, trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác Kết quả điều tra dân số năm 2009 cho thấy trong 10 năm từ 1999 – 2009 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệ tăng trung bình 7,3%/năm
Toàn tỉnh hiện nay có 7 huyện, thị, thành phố và 91 xã, phường, thị trấn Trong đó 4 huyện có các cụm khu công nghiệp Dân số trung bình của tỉnh Bình Dương năm 2008 là 1.050.124 người, năm 2009 là 1.482.636 người Ước đến năm
2015 dân số trung bình là 1.497.581 người, năm 2020 là 2.000.000 người Mật độ dân
số trong toàn tỉnh hiện nay là 550 người/km2
Tốc độ tăng dân số trong mấy năm gần đây tăng khá nhanh, bình quân thời kì
2001 - 2005 tăng 5,62%; trong đó, tăng tự nhiên giảm dần từ 1,48% của năm 2000 xuống 1,12% năm 2005, ngược lại, tăng cơ học ngày một cao, từ 2,3% của năm 2001, lên 4,5% năm 2004, năm 2005, tăng lên 5,7% Nguyên nhân do dòng di dân từ nơi khác đến làm việc, sinh sống khá đông, tập trung ở các khu, cụm công nghiệp, các trang trại của Bình Dương Vì vậy, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động chiếm tỉ lệ cao (99,3%)
Tỉ lệ dân số đô thị hoá của tỉnh cao hơn trung bình cả nước, đạt 29,3% năm
2004 (cả nước khoảng 26,17%) Tốc độ đô thị hoá của tỉnh tăng nhanh, thời kì 2001 -
2004 dân số đô thị tăng 4,76%, thời kì 2001 - 2005 dân số đô thị tăng 5,3%
Dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh cả về số lượng và tỷ trọng Là địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong những năm qua, Bình
Trang 36Dương đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên tất cả các lĩnh vực, tốc độ phát triển kinh tế tăng trưởng bình quân là 15%/năm Cơ cấu kinh tế của tỉnh hiện nay
là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng 63%, 32,6% và 4,4% Nhiều khu-cụm công nghiệp đã, đang xây dựng và khai thác tại Bình Dương như: cụm các khu công nghiệp Thuận An, Dĩ An, Mỹ Phước I- II- III, khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị,…Thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi và có tác động tích cực đến lĩnh vực văn hoá-xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục
và đào tạo
2.1.2 Khái quát về Ngành Giáo dục & Đào tạo tỉnh Bình Dương
2 1.2.1 Quy mô phát triển giáo dục
Hiện nay toàn ngành giáo dục và đào tạo có 455 đơn vị, trường học (trong đó
có 116 trường tư thục), cụ thể như sau: 212 trường mầm non; 136 trường tiểu học; 66 trường THCS,; 32 trường THPT); 07 trung tâm GDTX-KT-HN (); 01 Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học và Bồi dưỡng nghiệp vụ tỉnh
Quy mô các ngành học, cấp học tiếp tục được mở rộng Đến cuối năm học 2012-2013 (31/5/2013) tổng số học sinh các ngành học, cấp học là 269.122 học sinh, chia ra cụ thể như sau: Mầm non: 77.969; tiểu học: 109.894 học sinh; THCS: 56.098 em; THPT: 21.882 học sinh; GDTX cấp THCS: 338 học viên; GDTX cấp THPT: 2.941 học viên
Ngoài ra, tỉnh Bình Dương hiện có 34 trung tâm ngoại ngữ, tin học được UBND tỉnh cấp giấy phép hoạt động, 91 trung tâm học tập cộng đồng/91 xã, phường, thị trấn Khối giáo dục chuyên nghiệp, trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay có 18 đơn vị với tổng cộng có 52.137 sinh viên, học sinh theo học, tăng 4779 SV-HS so với năm học trước (trong đó có 7 trường đại học, 2 trường cao đẳng và 9 trường trung cấp chuyên nghiệp)
2.1.2.2 Mục tiêu quản lý ngành GDĐT Bình Dương
Hiện nay, toàn ngành đang triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số BGDĐT ngày 27/7/2012 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2012-2013 Trong những năm học qua, điển hình năm học 2012- 2013, toàn
Trang 372737/CT-ngành GDĐT Bình Dương triển khai thực hiện có hiệu quả chủ đề năm học là “Tiếp
tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ, thực chất công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và bền vững”, với tinh thần “Chủ động, kiên quyết”; phát triển
phương châm “Dạy thật - Học thật - Thi thật” thành phong trào “Dạy giỏi, học giỏi”; thực hiện tốt khẩu hiệu hành động “Tận tâm, tận tụy, tận lực, vì học sinh thân yêu”
Việc tiếp tục triển khai thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh” đã được đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh, sinh viên học
tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống, Cuộc vận động “Mỗi thầy, cô
giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” đã trở thành hoạt động thường xuyên
trong toàn ngành, nâng cao ý thức trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp của nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh
thành tích trong giáo dục” đã được ngành tiếp tục thực hiện nghiêm túc và đạt được
những kết quả tốt trong năm học Nhiều tập thể và cá nhân điển hình trong giảng dạy
và học tập, nhiều tấm gương phấn đấu khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ, thực hiện tốt yêu cầu đổi mới giáo dục, tạo được uy tín trong đồng nghiệp, được phụ huynh và học sinh yêu mến
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Bộ GDĐT, Sở GDĐT tiếp tục chỉ đạo các đơn
vị tiếp tục triển khai thực hiện Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (Công văn số 1591/SGDĐT-CTHSSV ngày 29/10/2012), đồng
thời kiện toàn Ban Chỉ đạo Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông năm học 2012-2013 và giai đoạn 2008-
2013 (Công văn số 2501/QĐ-SGDĐT ngày 17/10/2012) Có kế hoạch và giải pháp phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo và triển khai thực hiện tốt Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2012-2013 (Kế hoạch liên ngành số 1587//KH-GDĐT-VHTTDL-TĐTN-HLHPN-HKH ngày 29/10/2012) Ngoài ra, trong từng hoạt động, Sở GDĐT phối hợp với các Ban, ngành, đoàn thể để tổ chức hiệu quả, sáng tạo các hoạt động, xây dựng cảnh quan trường học xanh, sạch, đẹp được gắn kết với công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, tạo môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu xã hội Nhiều trường đề ra các giải pháp khắc phục hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp, giảm tỷ lệ
Trang 38học sinh yếu, kém; tổ chức nhiều giải pháp khuyến khích học sinh đi học, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học
Công tác giáo dục toàn diện và quản lý học sinh, sinh viên được cán bộ quản
lý, giáo viên quan tâm, chỉ đạo và giảng dạy học sinh thông qua việc tăng cường giáo dục lý tưởng, truyền thống lịch sử cách mạng của dân tộc; giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội cho học sinh, sinh viên Nhiều hoạt động bổ ích trong các nhà trường đã được tiếp tục tổ chức phát huy những kết quả đạt được trong năm học trước và thực hiện có chiều sâu như: Liên hoan tiếng hát dân ca, trò chơi dân gian ở các cấp học; các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao, Đại hội Thể dục Thể thao; tổ chức các cuộc thi giải Toán trên máy tính cầm tay, giải Toán trên Internet, Olympic tiếng Anh trên Internet, tham dự thi giải Toán “Giải thưởng Lương Thế Vinh”, kỳ thi học sinh giỏi Văn “Giải thưởng Sao Khuê”,… đã thu hút đông đảo học sinh tham gia, có tác dụng tăng cường tính giao lưu, học hỏi hợp tác lẫn nhau nhằm thúc đẩy các em học sinh hứng thú trong học tập, rèn luyện kỹ năng sống Việc tiếp tục chỉ đạo các trường tổ chức thực hiện
“Lễ Tri ân và trưởng thành” cho học sinh lớp 12 được dư luận cha mẹ học sinh và xã hội đánh giá có ý nghĩa giáo dục đạo đức, nhân cách, giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh
Toàn ngành đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, triển khai
đề án công nghệ thông tin trong công tác quản lý giáo dục, thực hiện các cuộc họp giao ban trực tuyến định kỳ qua mạng Hoạt động khảo thí, kiểm định và đánh giá chất lượng giáo dục các đơn vị, trường học tiếp tục được tăng cường Thanh tra toàn diện các cơ sở giáo dục, thanh tra việc quản lý dạy thêm, học thêm trên địa bàn theo đúng kế hoạch, đúng tiến độ và đạt chỉ tiêu theo hướng dẫn của Thanh tra Bộ Các kỳ thi trong năm học đã được ngành chỉ đạo tổ chức thực hiện đúng kế hoạch, an toàn và đúng quy chế theo yêu cầu đổi mới của Bộ GDĐT
2.1.3 Mẫu khảo sát và công cụ đo lường
Để khảo sát thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu giáo dục bậc phổ thông tỉnh Bình Dương chúng tôi sử dụng phiếu thăm dò (xem phụ lục 1; 2 ) với các
Trang 39câu hỏi đóng về lĩnh vực quản lý công tác thống kê số liệu giáo dục Mỗi câu hỏi đóng được đo theo 4 mức
Đầu tiên chúng tôi sử dụng những câu hỏi mở để khảo sát trên 2 đối tượng là CBQL cấp Sở và CBQL cấp Phòng GDĐT trên địa bàn tỉnh Bình Dương, nội dung phiếu hỏi là giống nhau (phụ lục 1)
Dựa vào kết quả thu được từ phiếu thăm dò bằng câu hỏi mở kết hợp với lý thuyết về chức năng quản lý của nhà QLGD, chúng tôi tiến hành sọan bảng hỏi với những câu hỏi đóng (phụ lục 2)
Phiếu ý kiến được thăm dò trên: Các CBQL phụ trách công tác báo cáo thống
kê của 7 Phòng GDĐT, 26 trường THPT& PTTH, 66 trường THCS Số phiếu phát ra
là 199, số phiếu thu về 99
Từ số liệu điều tra thu được, người nghiên cứu tiến hành xử lý số liệu phiếu trên phần mềm SPSS (Statistical Package for the Scoial Sciences) Từng mục của cột đánh giá hoạt động quản lý của hiệu trưởng, người nghiên cứu quy ước bằng những điểm số tương ứng: Tốt = 4 điểm, Khá = 3 điểm, TB = 2 điểm, Yếu = 1 điểm
Với giá trị của x là 4, 3, 2, 1 như đã gán ở trên thì về mặt lý thuyết số trung bình lớn nhất là 4, nhỏ nhất là 1, còn mức bình quân là 2,5 Người nghiên cứu dựa vào số trung bình để xếp loại các hoạt động quản lý theo 4 mức: Yếu, TB, Khá và Tốt với mức điểm như sau:
- Loại yếu: dưới 2,5 điểm
- Loại TB: từ 2,5 điểm đến dưới 3.0 điểm
- Loại khá: từ 3.0 điểm đến dưới 3,5 điểm
- Loại tốt: từ 3,5 điểm đến 4,0 điểm
Bên cạnh đó, để khẳng định thêm các thông tin thu được qua phiếu trưng cầu ý kiến và tìm hiểu thêm các thông tin chưa được trả lời đầy đủ, chúng tôi đã chọn và phỏng vấn sâu: 01 CBQL tại Sở GDĐT, 02 CBQL từ phòng GDĐT huyện Bến Cát
và Thành phố Thủ Dầu Một, 01 CBQL trường THPT trên địa bàn huyện Tân Uyên và thị xã Dĩ An, 02 CBQL trường THCS trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên Để đảm bảo tính bảo mật và khách quan các thông tin phỏng vấn của từng
Trang 40CBQL, chúng tôi đã tiến hành mã hóa 07 CBQL tham gia trả lời phỏng vấn lần lượt theo thứ tự trên là: Q1, Q2, Q3, Q4, Q5, Q6, Q7
Từ đó người nghiên cứu đánh giá nhận xét và rút ra kết luận về thực trạng quản
lý công tác thống kê số liệu bậc GDPT tỉnh Bình Dương
2.2 Thực trạng quản lý công tác thống kê số liệu bậc giáo dục phổ thông tỉnh
B ình Dương hiện nay
2.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý ngành GDĐT Bình Dương
Tính đến tháng 5/2013 toàn ngành có 13.077 cán bộ, giáo viên, nhân viện (kể
cả cán bộ, nhân viên Sở GDĐT và các phòng GDĐT, các đơn vị sự nghiệp hệ công lập), trong đó phân tích trình độ đào tạo số cán bộ quản lý các đơn vị sự nghiệp các
cấp học như sau:
* Trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Mầm non công lập: Số cán bộ quản lý mầm non có 255 gồm:
+ Có trình độ đạt chuẩn trở lên (9+3 trở lên): 250/255, tỉ lệ 98.04 %, trong
đó số có trình độ trên chuẩn (từ cao đẳng trở lên) là 179/255, tỉ lệ 70.2%
+ Có trình độ dưới chuẩn (dưới 9+3) là 5/255, tỉ lệ 1.96 %
Bảng 2.1 Thống kê đội ngũ CBQL bậc học Mầm non
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO Tổng số Chưa
qua đào tạo
[Nguồn: Sở GD&ĐT Bình Dương]
Tiểu học: Số cán bộ quản lý có trình độ đào tạo là 306, trong đó:
+ Số có trình độ đạt chuẩn trở lên (9+3 trở lên): 306/306, tỉ lệ 100%, trong đó,
số có trình độ trên chuẩn (từ cao đẳng trở lên) là: 248/306, tỉ lệ 81.05%
+ Số có trình độ dưới chuẩn (dưới 9+3) là 0/306, tỉ lệ 0%