Nhóm biện pháp tăng cường các chức năng quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông .... Quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn sẽ góp phần nâng cao
Trang 1Nguy ễn Thị Ngọc Ngân
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2Nguy ễn Thị Ngọc Ngân
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3- Tập thể cán bộ - giảng viên khoa Tâm lí - Giáo dục, phòng Sau đại học
trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã dạy dỗ và tạo mọi điều
kiện cho tôi học tập và nghiên cứu
- PGS.TS Trần Thị Hương – người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này
- Tập thể giáo viên, học sinh các trường THPT Chuyên Bến Tre, THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Võ Trường Toản và THPT Lạc Long Quân ở TP
Bến Tre đã tận tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi
- Gia đình, bạn bè lớp cao học Quản lí giáo dục Khóa 23 thuộc Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh - những người đã luôn ở bên tôi, giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để cho tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
M Ở ĐẦU
Trang
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn của đề tài 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP D ẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học và quản lí phương pháp dạy học ở nước ngoài 7
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học và quản lí đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam 10
1.2 Khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Quản lí, quản lí trường học 13
1.2.2 Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn 14
1.2.3 Quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 15
1.3 Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT 16
1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT 16
1.3.2 Nội dung, chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT 18
1.3.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 19
1.3.4 Một số phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo hướng đổi mới 26
Trang 51.4 Quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học
phổ thông 34
1.4.1 Xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 34
1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 35
1.4.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 37
1.4.4 Quản lí các điều kiện hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 39
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PH Ố BẾN TRE 41
2.1 Khái quát về các trường trung học phổ thông thành phố Bến Tre 41
2.2 Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học phổ thông thành phố Bến Tre 42
2.2.1 Thực trạng nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 45 2.2.2 Thực trạng thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 51 2.3 Thực trạng quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học phổ thông thành phố Bến Tre 60
2.3.1 Xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 60
2.3.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 63
2.3.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 71
2.3.4 Quản lí các điều kiện hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 76
2.4 Nguyên nhân của thực trạng quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học phổ thông thành phố Bến Tre 80
2.4.1 Các yếu tố thuận lợi 80
2.4.2 Các yếu tố khó khăn 83
Tiểu kết chương 2 88
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PH Ố BẾN TRE 89
Trang 63.1 Cơ sở và nguyên tắc xác lập biện pháp 89
3.1.1 Cơ sở xác lập biện pháp 89
3.1.2 Nguyên tắc xác lập biện pháp 90
3.2 Hệ thống biện pháp quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học phổ thông 92
3.2.1 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông 92
3.2.2 Nhóm biện pháp tăng cường các chức năng quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông 94
3.2.3 Nhóm biện pháp quản lí các điều kiện hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông 101
3.3 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của biện pháp đề xuất 105
Tiểu kết chương 3 112
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113
1 Kết luận 113
2 Kiến nghị 114
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 116
PH Ụ LỤC
Phụ lục 1 và 2: Phiếu trưng cầu ý kiến (Dành cho cán bộ quản lí và giáo viên dạy môn Ngữ văn)
Phụ lục 3: Phiếu thăm dò ý kiến (Dành cho học sinh)
Phụ lục 4: Biên bản phỏng vấn
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm năm học
2012 – 2013 cấp trung học phổ thông 42
2 Bảng 2.2 Thống kê về mẫu nghiên cứu (Nhóm CBQL, GV) 43
3 Bảng 2.3 Nhận thức về mục đích đổi mới phương pháp dạy
4 Bảng 2.4 Nhận thức về định hướng đổi mới phương pháp
5 Bảng 2.5 Mức độ và kết quả thực hiện các phương pháp
dạy học môn Ngữ văn theo hướng đổi mới 51
6 Bảng 2.6 Mức độ và kết quả thực hiện đổi mới phương
7 Bảng 2.7 Mức độ và kết quả thực hiện đổi mới phương
8 Bảng 2.8 Mức độ và kết quả thực hiện đổi mới phương
9 Bảng 2.9
Mức độ và kết quả thực hiện việc xây dựng kế
hoạch đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
60
10 Bảng
2.10
Mức độ và kết quả việc tổ chức, chỉ đạo thực
hiện kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn
64
11 Bảng
2.11
Mức độ và kết quả việc kiểm tra, đánh giá thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 71
Trang 9Mức độ tác động của các yếu tố thuận lợi đến
việc quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn
80
14 Bảng
2.14
Mức độ tác động của các yếu tố khó khăn đến
việc quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn
105
Trang 10DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1 Biểu đồ 2.1 Mức độ thực hiện phương pháp dạy học môn
2 Biểu đồ 2.2 Kết quả thực hiện phương pháp dạy học môn
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào những thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, với sự phát triển
mạnh mẽ của cách mạng khoa học – công nghệ, sự hình thành xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ đến giáo
dục, tạo ra một làn sóng đổi mới giáo dục và cải cách giáo dục trên thế giới Trước xu thế đó, với phương châm: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”, Đảng và Nhà nước chủ trương đổi mới nền giáo dục là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách Vì thế, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ rõ: “Đến năm
2020, n ền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chu ẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ - tin
h ọc; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là năng lực chất lượng cao phục vụ sự nghi ệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri
th ức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời
c ủa mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”[4]
Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, đòi hỏi phải đổi mới toàn
diện từ mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục – dạy học Trong đó, đổi
mới PPDH được xem là phương án tối ưu nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa
khối lượng tri thức ngày càng phong phú, yêu cầu dạy học ngày càng cao nhưng thời gian học tập thì hạn chế
Phát triển toàn diện nhân cách con người để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức được thực hiện thông qua quá trình học tập và rèn luyện của mỗi cá nhân, đặc biệt là quá trình học tập ở trường phổ thông Trong đó, môn Ngữ văn có vai trò quan
Trang 12trọng trong hành trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của con người Việt Nam Môn Ngữ văn giúp HS rèn luyện kĩ năng giao tiếp, phát triển năng lực thẩm mỹ và năng lực tư duy, môn Ngữ văn chính là ngôn ngữ Mẹ đẻ, là cái nôi của con người Việt Nam, là nơi hun đúc nên lòng yêu nước, truyền thống
dân tộc, bồi đắp tâm hồn và đời sống tinh thần cho mỗi người Vì vậy, môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong chương trình giáo dục phổ thông [5]
Đổi mới PPDH môn Ngữ văn nằm trong xu thế chung của việc đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Đổi mới PPDH môn Ngữ văn sẽ làm cho HS suy nghĩ nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, tự chiếm lĩnh tri thức, làm phong phú kĩ năng và có thái độ phù hợp Thực tế hiện nay đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH môn Ngữ văn nói riêng diễn ra còn chậm Theo kết quả nghiên cứu về “đổi mới phương pháp dạy học” thuộc
dự án phát triển giáo dục THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì việc thực hiện đổi mới PPDH còn ở mức độ hạn chế Ở các trường THPT TP Bến Tre, tỉnh Bến Tre cũng đã triển khai thực hiện đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Bến Tre, tuy nhiên bên cạnh những mặt đã làm được thì vẫn còn một số tồn tại Từ đó, công tác quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc góp phần đạt được mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu của môn Ngữ văn nói riêng Quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn sẽ góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đảm bảo được chất lượng dạy học môn Ngữ văn một cách bền vững; tạo động lực, môi trường và điều kiện thuận lợi, kích thích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ và GV Ngữ văn…
Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực
tr ạng quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT
TP B ến Tre”
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre nhằm nâng cao hiệu quả đổi
mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lí hoạt động dạy học môn
Ngữ văn ở các trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre
4 Giả thuyết khoa học
Quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre
đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong xây dựng
kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá thực hiện
kế hoạch đổi mới PPDH môn Ngữ văn Trên cơ sở hệ thống lý luận và thực
trạng quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre có
thể đề xuất biện pháp quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre có tính cần thiết và khả thi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lí đổi mới phương pháp dạy
học môn Ngữ văn ở trường THPT
5.2 Khảo sát thực trạng quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre
5.3 Đề xuất biện pháp quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre
Trang 146 Giới hạn của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lí đổi
mới PPDH môn Ngữ văn ở 4 trường THPT TP Bến Tre là THPT Chuyên Bến Tre, THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Võ Trường Toản và THPT Lạc Long Quân
7 P hương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề tài này, có thể nghiên
cứu quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn trong mối quan hệ với quản lí hoạt động dạy học Ngữ văn và quản lí hoạt động dạy học nói chung ở trường THPT Nghiên cứu quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn cần nghiên cứu hoạt động quản lí cụ thể như: Xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH môn Ngữ văn; Tổ
chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch đổi mới PPDH môn Ngữ văn; Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đổi mới PPDH môn Ngữ văn và quản lí các điều
kiện hỗ trợ đổi mới PPDH môn Ngữ văn
Khi đề xuất các biện pháp quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn, các
biện pháp được nghiên cứu trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không có
biện pháp nào hoàn toàn biệt lập mà chúng nằm trong một chỉnh thể thống
nhất
7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Vận dụng quan điểm lịch sử - logic vào đề tài này, có thể nghiên cứu
thực trạng quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn trong quá trình phát triển của
nó, trong phạm vi thời gian, không gian và điều kiện cụ thể Từ đó thấy được
mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn Đồng thời giúp người nghiên cứu điều tra thu thập số liệu
Trang 15chính xác đúng với mục đích nghiên cứu và trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài này, có thể nghiên cứu và đánh giá công tác quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn trong điều kiện cụ thể
của từng trường Các biện pháp quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn phải dựa vào các điều kiện thực tiễn về nhân lực, về khả năng và điều kiện thực hiện để đưa ra các biện pháp quản lí mang tính khả thi
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài cũng như định hướng cho việc thiết
kế công cụ nghiên cứu toàn bộ quá trình điều tra thực tiễn
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế với mục đích điều tra thực trạng đổi mới PPDH môn Ngữ văn và quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn, khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn
Bảng hỏi dành cho các đối tượng là HS THPT, GV môn Ngữ văn, tổ trưởng tổ chuyên môn Ngữ văn, Phó Hiệu trưởng và Hiệu trưởng
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để điều tra sâu và thu thập thông tin
một cách trực tiếp Đặc biệt là phỏng vấn các chuyên gia trong việc đề xuất
biện pháp quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre Ngoài ra, phương pháp này còn được dùng để đánh giá độ trung thực trong việc trả lời bảng hỏi của các đối tượng khảo sát
Trang 167.2.2 3 Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin về thực hiện đổi
mới PPDH môn Ngữ văn ở các trường THPT TP Bến Tre thông qua việc quan sát giờ dạy Ngữ văn thực hiện đổi mới PPDH
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS ứng dụng trong nghiên
cứu khoa học giáo dục và quản lí giáo dục
8 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học phổ thông thành phố Bến Tre
Chương 3: Các biện pháp quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
ở trường trung học phổ thông thành phố Bến Tre
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học và quản lí phương pháp dạy học ở nước ngoài
Lịch sử phát triển hoạt động dạy học gắn liền với sự phát triển của khoa
học giáo dục Vì vậy, quản lí hoạt động dạy học nói chung và quản lí hoạt động đổi mới PPDH nói riêng đã được các nhà quản lí giáo dục nghiên cứu từ lâu Các nhà quản lí giáo dục Xô Viết cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động
của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn hợp lý công tác hoạt động dạy học” [7]
P.V.Zimin, M.I.Kôndakôp, N.I.Saxerđôlôp thì đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác dạy học, giáo dục trong nhà trường xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lí của người làm công tác quản lí giáo dục
V.A.Xukhômlinxki thì quan tâm đến hoạt động dự giờ thăm lớp và đưa
ra nhiều cách phân tích sư phạm cho GV, và xem đó là đòn bẩy nâng cao chất lượng dạy học
Từ thời cổ đại tư tưởng về PPDH đã xuất hiện Socrate (469 - 399 trước Công nguyên) đã đề xuất phương pháp đàm thoại trong dạy học, giúp HS phát
hiện ra chân lý bằng cách đặt câu hỏi gợi mở để họ dần tìm ra kết luận Ở phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 trước Công nguyên) cũng đã quan tâm đến việc khích lệ tư duy của HS, coi trọng tính tích cực của HS trong dạy học Đến Mạnh Tử (372 – 289 trước Công nguyên) cũng đòi hỏi HS phải tự tìm
hiểu và phải biết hoài nghi khoa học, phải tập rèn óc tư duy phê phán chứ không nên cứ nhắm mắt tin theo sách… Các tư tưởng này vẫn còn giá trị to
lớn đối với giáo dục hiện nay [14]
Trang 18Đến thế kỷ XVII, nhà giáo dục J.A.Cômenxki (1592 - 1679) trong tác
phẩm “Lí luận dạy học” lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đã nêu ra “tính tự
giác, tính tích c ực là một trong những nguyên tắc dạy học” Ông đòi hỏi GV
tạo cho HS môi trường hứng thú học tập và tự lực cố gắng giành lấy kiến
thức Ngoài ra, ông còn thường bồi dưỡng cho HS tư tưởng độc lập trong quan sát, đàm thoại và ứng dụng thực tiễn [14]
J.J.Rutxô (1712 - 1778) - nhà giáo dục học người Pháp tiên phong cho
tư tưởng dạy học phát triển - chủ trương phải làm cho trẻ tích cực, chiếm lĩnh
kiến thức bằng con đường khám phá ra nó Ông cho rằng GV phải dựa vào sự phát triển của HS mà giảng dạy để giúp cho “thiên tính của các em nảy nở” Ông phản đối sự bao biện, làm thay, làm cho cá tính và tố chất cá nhân HS bị
tổn thương [14]
Usinxki (1824 - 1871) cho rằng tính tích cực độc lập của HS trong quá trình dạy học được coi là cơ sở vững chắc cho sự học tập hiệu quả trong tác
phẩm “Thế giới trẻ em” (1861) [26]
Từ những năm 50 của thế kỉ XX, ở Pháp đã ra đời những lớp học mà
mỗi hoạt động dạy học đều tùy thuộc và sáng kiến, hứng thú, lợi ích, nhu cầu
của HS; GV là người giúp đỡ phối hợp cùng các hoạt động của HS hướng vào
sự phát triển nhân cách của HS [26]
Đầu thế kỉ XX, người có công đầu tiên về tư tưởng “lấy HS làm trung tâm” - J.Dewey (1859 - 1952) đã thành lập “nhà trường tích cực” và phát triển cách học tập theo nhóm của HS Ông coi HS là trung tâm của nhà trường, của
dạy học, đề cao kinh nghiệm, nhu cầu, hứng thú, vai trò, hoạt động… của cá nhân HS Dewey đề ra một phương thức khoa học để giải quyết vấn đề Ông
gọi phương thức này là “Phương thức tư duy toàn diện” bao gồm 5 bước sau:
Gặp một tình huống “có vấn đề”; Xác định vấn đề; Nghiên cứu, thăm dò, điều
tra vấn đề; Đưa ra một số các giả thuyết, phương thức giải quyết và chọn một
Trang 19phương thức và thử nghiệm xem tính hiệu quả của phương thức này Ngoài
ra, ông còn đưa ra khẩu hiệu: “Nói, không phải dạy học, học trong làm, học
bắt đầu từ làm”, mọi biện pháp giáo dục phải chú ý nhiều đến việc tổ chức
HS chủ động, HS vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình học
tập, còn GV không chỉ là người truyền thụ tri thức riêng rẽ mà còn là người giúp cho HS thường xuyên tiếp xúc với những lĩnh vực học tập ngày càng
rộng lớn hơn, GV đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu
mực cho HS, GV không phải là một chuyên gia ngành hẹp mà là một cán bộ tri thức, là người học hỏi suốt đời Từ đó, để phân biệt hệ giáo dục này với hệ giáo dục khác, chúng ta nên xem xét việc đặt HS ở vị trí trung tâm hay ngoại biên Có thể nói, việc công nhận HS là lực lượng tích cực, chủ động trong quá trình biết – học, để tự bản thân họ nhận ra các tiềm năng trong quá trình học
tập chính là điểm tựa chủ yếu cho việc định hướng lại giáo dục [14]
Đến những năm đầu của thế kỷ XXI, PPDH tiếp tục phát triển theo hướng “lấy HS làm trung tâm”, mục đích giáo dục không chỉ là trang bị học
vấn mà còn phát triển năng lực Từ đó, xuất hiện PPDH theo mục tiêu, với chương trình được thiết kế theo khả năng của HS, trang bị cho HS một cách
hệ thống tri thức và công cụ trí tuệ cho phép giải quyết thành công những vấn
đề, hoàn thành những mục tiêu đề ra
Ngày nay, tư tưởng dạy học “lấy HS làm trung tâm” hướng vào những nhu cầu và năng lực tiềm tàng của HS theo định hướng phát triển con người
Trang 20hoàn thiện, đã được nhận thức và vận dụng một cách đúng đắn trong việc đổi
mới hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa học tập của HS
Như vậy, nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học, đổi mới PPDH trên
thế giới đã có từ lâu đời và đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp vào trào lưu cải cách giáo dục hiện đại
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học và quản lí đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam
Ở Việt Nam quản lí nhà trường, quản lí hoạt động dạy học đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: “Dạy học và giáo dục trong
sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường…về thực chất quản lí trường học là quản lí quá trình dạy học” [29]
Tác giả Nguyễn Văn Lê đề cập đến việc tổ chức quản lí tốt các hoạt động giảng dạy trong nhà trường bao gồm: tạo điều kiện thuận lợi cho GV trong việc chuẩn bị giờ lên lớp; phân công giảng dạy một cách khoa học [19] Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn đi sâu nghiên cứu mục tiêu, nội dung,
biện pháp quản lí nhà trường nói chung và quản lí hoạt động dạy học nói riêng
Tác giả Đặng Vũ Hoạt cho rằng PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Tuy tác giả chưa làm rõ vai trò chủ động tích cực của HS nhưng đã khẳng định PPDH là tổ hợp các cách thức tương tác giữa thầy và trò, xác định vai trò cuả người thầy trong quá trình dạy học
Quá trình đi sâu nghiên cứu và vận dụng về PPDH cũng được diễn ra
mạnh mẽ ở nước ta, từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay có thể chia thành 4 giai đoạn chính:
Trang 21Giai đoạn từ 1945 – 1960, trong nhà trường Việt Nam đã hình thành
một hệ thống các PPDH, chủ yếu là các PPDH truyền thống Trong đó các phương pháp, hỏi – đáp, sử dụng tài liệu trực quan được sử dụng rộng rãi, các phương pháp phát huy tính tích cực và độc lập của HS ít được chú ý Việc đổi
mới PPDH còn tiến hành chậm chạp Tuy nhiên, trong giai đoạn này, có luận
án về Giáo dục học của tác giả Hà Thế Ngữ, trên cơ sở đánh giá thực trạng các PPDH đã đưa ra nhiều kiến nghị về các con đường phát triển và hoàn thiện các PPDH trong nhà trường Các kiến nghị mang tính dự báo này vẫn còn đúng và nóng bỏng ngay cả trong giai đoạn hiện nay, khi mà chúng ta tiến hành đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của HS [3]
Giai đoạn từ 1961 -1975, các PPDH truyền thống vẫn được thực hiện trong nhà trường Việt Nam, tuy nhiên có tập trung khai thác các phương pháp
có khả năng huy động trí thông minh và sự tích cực của HS Các công trình nghiên cứu về PPDH trong giai đoạn này, các tác giả tập trung chủ yếu vào
những định hướng cải tiến PPDH Một số tác giả đã nghiên cứu một số PPDH
mới ở nước ngoài như: tác giả Lê Nguyên Long nghiên cứu về dạy học nêu
vấn đề, tác giả Dương Trọng Bái nghiên cứu về dạy học chương trình hóa… [3]
Giai đoạn từ 1976 -1985, định hướng nghiên cứu các PPDH phát huy tính tích cực của HS tiếp tục phát huy và đạt một trình độ nhất định Một số
luận điểm có tính phương pháp luận định hướng cho việc sử dụng PPDH đã được nghiên cứu và xác định Ngoài hướng tiếp tục cải tiến các PPDH, một số tác giả đã đề xuất những PPDH có ưu thế phát huy tính tích cực học tập của
HS [3]
Giai đoạn từ 1986 đến nay, thành tựu nổi bật nhất trong thời kì này là đề
xuất và làm rõ về mặt lý luận đổi mới PPDH Dựa trên kết quả nghiên cứu của giai đoạn trước, vấn đề đổi mới PPDH được nghiên cứu trên nhiều bình diện:
Trang 22Phân tích những “lực cản” trong thực tiễn đang cản trở đổi mới PPDH (tác giả Nguyễn Vinh Hiển), đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy đổi mới PPDH (tác giả Mai Văn Hưng, Hoàng Trường Kì), nghiên cứu cải tiến các PPDH truyền
thống (tác giả Khánh Dương, Lê Thanh Oai)…[3] Việc nghiên cứu và vận
dụng PPDH phát huy tính tích cực học tập của HS đã được triển khai trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn Vấn đề tích hợp và phân hóa trong dạy
học cũng đã được chú ý nhiều Tích hợp và phân hóa trong dạy học được nghiên cứu trên bình diện phương pháp và tổ chức dạy học Các PPDH truyền
thống được nghiên cứu cải tiến, trên cơ sở phát huy cao nhất tính tích cực học
tập của HS, một số PPDH hiện đại cũng được nghiên cứu vận dụng vào Việt Nam [14]
Ngoài ra, một số luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, chuyên ngành Quản lí giáo dục cũng đã quan tâm đến vấn đề quản lí đổi mới PPDH như:
Tác giả Châu Thị Hoàng với đề tài “Thực trạng quản lí việc cải tiến
phương pháp giảng dạy bộ môn tiếng Anh của Hiệu trưởng các trường THCS,
Qu ận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh” (2009)
Tác giả Nguyễn Thị Tân Lương với đề tài “Thực trạng và các biện
pháp qu ản lí việc thực hiện phương pháp dạy học tích cực ở các trường THPT t ại Quận 11 TP HCM” (2010)
Tác giả Bùi Hồng Dung với đề tài “Thực trạng và biện pháp quản lí
vi ệc đổi mới phương pháp giảng dạy Tiếng Anh ở các trường THPT tại Quận
6, TP Hồ Chí Minh” (2011)
Những luận văn này đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn, đề
ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học dưới những góc độ khác nhau
Nhờ đó, vấn đề quản lí đổi mới PPDH ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn, đặt đúng vị trí của nó, góp phần vào kho tàng lý luận cũng như thực tiễn giáo
dục Việt Nam
Trang 23Tuy nhiên, đa số các đề tài chỉ nghiên cứu quản lí hoạt động dạy học,
quản lí đổi mới PPDH chung trong nhà trường, hoặc là đổi mới PPDH môn
Tiếng Anh mà chưa có nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu môn Ngữ văn Đặc biệt
là chưa có đề tài nào nghiên cứu việc quản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn trên địa bàn TP Bến Tre
1.2 Khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lí, quản lí trường học
1.2.1.1 Quản lí
Thuật ngữ “quản lí” gồm hai quá trình tích hợp nhau: quá trình “quản”
là coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định và quá trình “lý” gồm
sửa sang sắp xếp, đổi mới hệ thống vào thế phát triển Vì vậy, “quản” phải đi đôi với “lý” để hệ thống ổn định và phát triển phù hợp [2]
Theo quan điểm điều khiển học và lý thuyết hệ thống: quản lí là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lí lên hệ thống bao gồm
hệ thống các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các
cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt mục tiêu [29]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động nhằm
thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [29]
Theo tác giả Trần Kiểm thì quản lí là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự
vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định [18]
Như vậy, dù có cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng khái niệm
quản lí vẫn bao hàm ý nghĩa chung, đó là:
Trang 24Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có mục tiêu
của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí thông qua các cơ chế quản lí, nhằm
sử dụng có hiệu quả, tối ưu các nguồn lực của hệ thống và các cơ hội mà hệ
thống có được để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
1.2.1.2 Qu ản lí giáo dục
Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách
thể quản lí nhằm đưa hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất [18]
1.2.1.3 Qu ản lí trường học
Quản lí trường học là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí trường
học đến các hoạt động trong nhà trường do tập thể GV, viên chức, HS, cha mẹ
HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
1.2.2 Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn
Ho ạt động dạy học là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác
giữa GV và HS, trong đó, dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác tích cực,
chủ động chiếm lĩnh hệ thống tri thức khoa học kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học
và những phẩm chất của nhân cách
Hoạt động dạy học có 3 đặc trưng cơ bản như sau:
- Dạy học là một hoạt hoạt động kép gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Trong đó, GV giữ vai trò chủ đạo, dạy hướng đến học, dạy thúc đẩy học và làm cho học thành công; HS giữ vai trò chủ động, tự giác tích
cực, độc lập và sáng tạo
Trang 25- Hai hoạt động dạy và học tồn tại trong sự thống nhất và tương tác lẫn nhau
- Hai hoạt động dạy và học cùng hướng đến thực hiện mục tiêu hoạt động dạy học
Qu ản lí hoạt động dạy học là những tác động của chủ thể quản lí
trường học vào hoạt động dạy học được tiến hành bởi GV, HS và sự hỗ trợ
của các lực lượng giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học
Như vậy, quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn là những tác động của chủ
thể quản lí trường học vào hoạt động dạy học môn Ngữ văn được tiến hành
bởi GV Ngữ văn, HS và sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục khác nhằm thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học của môn Ngữ văn
- Chủ thể quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn: Hiệu trưởng, Phó
Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn tổ Ngữ văn
- Đối tượng quản lí: Hoạt động dạy của GV Ngữ văn và hoạt động học
Ngữ văn của HS
- Mục đích quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn: Thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học của môn Ngữ văn
1.2.3 Quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương tác, phối hợp,
thống nhất của GV và HS trong hoạt động dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của GV nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học Phương pháp dạy học có 4 đặc điểm cơ bản: PPDH là sự thống nhất biện chứng giữa cách thức hoạt động của GV và cách thức hoạt động tương ứng của HS; PPDH có mối quan hệ biện chứng với các nhân tố trong hoạt động dạy học, đặc biệt là với mục tiêu và nội dung dạy học; PPDH vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan; PPDH có tính đa cấp, đa dạng [14]
Trang 26Đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách thức tiến hành đổi mới
PPDH, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai PPDH trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các PPDH truyền thống và vận dụng linh hoạt một
số PPDH mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của
HS Như vậy, đổi mới PPDH môn Ngữ văn thực chất là đổi mới cách thức
tiến hành đổi mới PPDH môn Ngữ văn, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai PPDH môn Ngữ văn trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các PPDH truyền thống và vận dụng linh hoạt một số PPDH mới nhằm phát huy
tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS
Qu ản lí đổi mới PPDH môn Ngữ văn là những tác động của chủ thể
quản lí trường học vào hoạt động đổi mới PPDH môn Ngữ văn của GV nhằm
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học môn Ngữ văn góp phần hình và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
1.3 Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
1.3.1.1 V ị trí môn Ngữ văn
Môn Ngữ văn (bao gồm Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là một môn
học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trong các môn học góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản của con người Không
những vậy, môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong chương trình giáo dục phổ thông của nước ta Bởi môn Ngữ văn chính là ngôn ngữ Mẹ đẻ, là cái nôi của con người Việt Nam, là nơi hun đúc nên lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, bồi đắp tâm hồn và đời sống tinh thần cho mỗi người
1.3.1.2 Vai trò môn Ng ữ văn
Môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong hành trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của con người Việt Nam Môn Ngữ văn giúp HS biết phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa của nhân loại, giáo dục tư
Trang 27tưởng, tình cảm cao đẹp của người công dân tương lai Đồng thời, đây còn là môn học có vai trò cơ sở, là nền tảng để học tốt các môn học khác Bởi môn
Ngữ văn sẽ trang bị cho HS những kiến thức phổ thông và năng lực chung
nhất (năng lực giao tiếp và sử dụng Tiếng Việt làm công cụ, phương tiện để
học tốt các môn học khác và sử dụng trong đời sống hằng ngày)
1.3.1.3 M ục tiêu dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn THPT là trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn trung học cơ sở, bồi dưỡng và nâng cao thêm một bước năng lực Ngữ văn cho HS Mục tiêu cụ thể gồm:
a V ề tri thức: Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản,
hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là Tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam) về lý luận văn học và văn hóa, tạo một phần tích lũy ban đầu, phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
b V ề kĩ năng: Hình thành và phát triển năng lực Ngữ văn, trước hết là
năng lực giao tiếp, phát triển năng lực thẩm mỹ và năng lực tư duy, với việc
sử dụng thành thạo 4 kĩ năng: đọc, viết, nghe, nói Cụ thể là: Kĩ năng đọc -
hiểu các văn bản thường gặp (văn, thơ, truyện…), kĩ năng viết một số văn bản thông dụng, kĩ năng nói trước công chúng, kĩ năng cảm thụ thẩm mĩ, phát triển tư duy, bao gồm cả phương pháp học tập bộ môn, tạo thành thói quen tự
học Ngữ văn, biết tìm tòi, phát hiện, suy nghĩ, giải quyết vấn đề, làm cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách
c V ề thái độ: Bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, yêu văn hóa, văn
học nước nhà, giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho HS trách nhiệm công dân, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cao thượng, thị hiếu thẩm mĩ tốt, tinh thần
hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của
Trang 28dân tộc và nhân loại, hướng dẫn HS quan tâm tu dưỡng phẩm chất văn hóa cá nhân, hình thành cá tính lành mạnh, góp phần bồi dưỡng nhân cách người lao động trong thời đại mới
1.3.2 Nội dung, chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT
Nội dung, chương trình dạy học môn Ngữ văn được xây dựng theo hai
trục đọc văn và làm văn Đọc văn lấy lịch sử văn học Việt Nam làm cơ sở để
sắp xếp các tác phẩm, đoạn trích chọn lọc của văn học Việt Nam và một số
hiện tượng văn học nước ngoài đặc biệt tiêu biểu vào từng cụm cụ thể, nhằm giúp HS học đọc, phân tích, khái quát các giá trị tư tưởng, văn hóa nghệ thuật trong đó Cách sắp xếp này cũng nhằm tạo điều kiện để HS liên hệ văn học
Việt Nam với văn học nước ngoài Đọc văn lấy văn bản văn học (có hư cấu, tưởng tượng) làm nền tảng, chương trình tuyển chọn thêm các văn bản khác như văn nghị luận, văn sử kí, nhật dụng để HS có điều kiện mở rộng phạm vi rèn luyện năng lực đọc và rèn luyện tư duy, hướng tới đời sống nhiều mặt Do
đó, khái niệm văn được mở rộng theo xu hướng chung của nhiều nước trên
thế giới Để đọc văn có hiệu quả, chương trình Ngữ văn THPT cung cấp: Tri
thức văn học sử về các thời kì, giai đoạn, các bộ phận, thành phần văn học, về tác giả, tác phẩm và tri thức đọc – hiểu gồm tri thức lý luận văn học, văn hóa, ngôn ngữ, các nhận định liên quan
Chương trình đọc văn được xây dựng theo một trình tự từ thấp lên cao:
Ở lớp 10, HS sẽ học đọc văn bản là chính; lớp 11 sẽ đi sâu vào đặc trưng các
thể loại văn học, tác giả văn học; lớp 12, chú ý sáng tạo và vận dụng ngữ cảnh văn hóa xã hội rộng lớn Chương trình nhấn mạnh đọc - hiểu, nhưng không coi nhẹ đọc thông, đọc thuộc
N ội dung phần Làm văn bao gồm làm văn viết và nói – kế thừa các kết
quả của phần Tập làm văn từ trung học cơ sở Chương trình làm văn THPT chú trọng những điểm sau:
Trang 29- Khái niệm làm văn được hiểu một cách toàn diện là tích lũy kiến thức, quan sát, thể nghiệm đời sống, liên tưởng, tưởng tượng đến quá trình lập ý,
viết đoạn văn, hoàn thiện bài văn
- Chương trình ưu tiên cho văn nghị luận xã hội nhằm tăng cường sự
gắn bó của HS với đời sống, kế thừa các kinh nghiệm làm văn đã có
- Chương trình được xây dựng theo trình tự từ thấp lên cao: lớp 10, ôn luyện các kiểu văn bản đã học ở trung học cơ sở, học các phương pháp tích lũy kiến thức; lớp 11, tập trung vào các thao tác nghị luận; lớp 12, hướng tới hình thành năng lực nghị luận chủ động, hoàn thiện các kĩ năng làm văn nghị
luận
N ội dung phần Tiếng Việt ở THPT cung cấp thêm cho HS một số tri
thức mới về văn bản, phong cách ngôn ngữ, về lịch sử Tiếng Việt, loại hình
Tiếng Việt và cách sử dụng Tiếng Việt Về cơ bản, đây là phần thực hành
nhằm ôn luyện, nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Việt, phục vụ đọc – hiểu và làm văn
1.3.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
1.3.3 1 Định hướng chung
Sự phát triển của khoa học – công nghệ trong thời đại ngày nay, những yêu cầu mới về phát triển kinh tế - xã hội đã đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học – công nghệ hiện đại
đã mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương
tiện kĩ thuật dạy học hiện đại vào quá trình dạy học Ngoài ra, các PPDH truyền thống tuy có những ưu điểm nhất định, nhưng với yêu cầu mới về phát triển nhân cách cho HS hiện nay thì còn có những nhược điểm cần được khắc
phục thông qua quá trình tổ chức hoạt động dạy học Cho nên, đổi mới PPDH môn Ngữ văn thực chất là đổi mới cách thức tiến hành đổi mới PPDH môn
Ngữ văn, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai PPDH môn Ngữ văn
Trang 30trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các PPDH truyền thống và vận dụng linh hoạt một số PPDH mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS
Đổi mới PPDH môn Ngữ văn là một quá trình lâu dài, phải được thực
hiện đồng bộ với các nhân tố trong hoạt động dạy học và cần phải trải qua các
mức độ từ thấp đến cao Ở nhà trường hiện nay, việc đổi mới PPDH môn Ngữ văn phải được thực hiện đồng bộ với các vấn đề như: đổi mới mục tiêu dạy
học; đổi mới cách thiết kế nội dung dạy học; nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ GV; trang bị CSVC, phương tiện kĩ thuật dạy học và đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
HS Xu thế đổi mới PPDH nói chung và PPDH môn Ngữ văn nói riêng trong giai đoạn hiện nay là:
* Tích c ực hóa hoạt động dạy học nhằm phát huy tối đa tính tích cực,
chủ động, độc lập, sáng tạo của HS dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển
của GV Đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng tích cực hóa học tập là
thực hiện hoạt động động dạy học tích cực – “lấy HS làm trung tâm”, là làm
thế nào để HS thực sự tự giác, tích cực hướng tới học tập chủ động chống lại thói quen học tập thụ động Chính vì vậy, đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng tích cực hóa học tập cần tập trung chủ yếu vào các vấn đề cơ bản sau đây:
- Hoạt động dạy học phải xuất phát từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm, điều
kiện của HS, hướng vào mục đích phát triển nhân cách của HS
- Tạo mọi điều kiện, cơ hội triển vọng… để HS hoạt động một cách tốt
nhất, học tập đạt kết quả cao nhất, không gò ép, áp đặt HS; để HS là chủ thể
của nhận thức, quyết định chất lượng học tập của mình
- Chú ý cho HS học tập tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo phát triển
mọi khả năng, tiềm lực học tập của mỗi HS, phát triển tính chủ động, tự tin, tự
Trang 31chủ, óc phê phán, tính linh hoạt giải quyết các tình huống khác nhau trong học
Đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng tích cực hóa học tập hiện nay
đã trở thành một xu thế tất yếu vì nó chi phối đến tất cả các yếu tố của hoạt động dạy học như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ
chức dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Ngữ văn
* Tích h ợp và phân hóa trong hoạt động dạy học nhằm tạo điều kiện
cho HS phát triển tối đa trong khả năng của mình thông qua việc tổ chức hoạt động dạy học theo kiểu chương trình hóa
Tích hợp trong hoạt động dạy học là định hướng về nội dung và PPDH, trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những kĩ năng mới; phát triển được những năng lực
cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn
cuộc sống Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là cách thức
để khắc phục, hạn chế lối dạy học “trong nội bộ phân môn”, nhằm nâng cao năng lực vận dụng kiến thức và kĩ năng mà HS đã lĩnh hội được, đảm bảo cho
mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình
để giải quyết những tình huống có ý nghĩa, cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ Mặt khác tránh được những nội dung kiến thức trùng lặp, đồng
Trang 32thời lĩnh hội những tri thức, kĩ năng và thái độ mà mỗi phân môn riêng rẽ không có được
Phân hóa trong hoạt động dạy học là định hướng về nội dung và PPDH, trong đó GV tổ chức dạy học tùy theo đối tượng, nhằm đảm bảo yêu cầu giáo
dục phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lý, nhịp độ, khả năng nhu cầu và hứng thú khác nhau của những HS; trên cơ sở đó phát huy tối đa tiềm năng vốn có
của HS
Thống nhất giữa tích hợp và phân hóa trong hoạt động dạy học là đòi
hỏi tất yếu, khách quan Bởi vì, một là, nó phù hợp với quy luật nhận thức và quy luật của khoa học Môn Ngữ văn đã phân chia thành 3 phân môn: Văn,
Tiếng Việt và Làm văn, nhưng ba phân môn này luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Hai là, để đáp ứng yêu cầu và giải quyết các vấn đề trong thực
tiễn cuộc sống, đòi hỏi HS phải rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và những hiểu biết một cách linh hoạt, từ đó mà hình thành, phát triển đồng thời cả các năng lực có tính tổng hợp và năng lực có tính chuyên biệt, đặc thù
* Công ngh ệ hóa hoạt động dạy học (nghĩa hẹp) là việc ứng dụng
CNTT và sử dụng các PTDH hiện đại trong dạy học
Ứng dụng CNTT và sử dụng các PTDH hiện đại trong dạy học môn
Ngữ văn tập trung vào việc sử dụng phương tiện trực quan trong lớp học; sử
dụng các thiết bị thí nghiệm, thực hành; tìm kiếm và khai thác các nguồn dữ
liệu phục vụ dạy học; sử dụng phần mềm, công cụ soạn thảo văn bản và trình
diễn bài giảng… Bên cạnh đó, việc sử dụng đa phương tiện như một phương
tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mền dạy học cũng như áp
dụng PPDH sử dụng mạng điện tử (E – Learning) Các PTDH mới hỗ trợ cho
việc tìm và sử dụng các PPDH mới Việc ứng dụng CNTT trong dạy học là
Trang 33công việc của cả GV và HS, CNTT trở thành công cụ nâng cao tính tích cực trong dạy học
1.3.3.2 Một số định hướng cụ thể
a Đổi mới cách thức thực hiện các phương pháp dạy học truyền thống
c ủa môn Ngữ văn theo hướng tích cực hóa học tập
Các PPDH môn Ngữ văn truyền thống như: thuyết trình, đàm thoại,
trực quan, thực hành, luyện tập luôn có những ưu điểm nhất định và là phương pháp quan trọng trong dạy học Chính vì vậy, chúng ta cần cải tiến để phát huy mặt ưu điểm và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu
quả các phương pháp này, GV Ngữ văn cần nắm vững cách thức, những yêu
cầu và sử dụng thành thạo các kĩ thuật của từng phương pháp Bên cạnh đó,
GV có thể sử dụng các phương pháp như: thuyết trình nêu vấn đề, đàm thoại nêu vấn đề (tìm tòi – sáng tạo), trực quan theo kiểu quan sát, nghiên cứu, phát
hiện… để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
b S ử dụng phối hợp các phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích cực hóa học tập
Để đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo hướng tích cực hóa học tập, bên
cạnh việc cải tiến các PPDH truyền thống theo hướng kết hợp các PPDH khác nhau, chúng ta cần coi trọng việc sử dụng phối hợp các “phương pháp dạy
học tích cực” PPDH tích cực là một hệ PPDH phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen
học tập thụ động Theo tác giả Trần Bá Hoành, để sử dụng các PPDH tích cực vào dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng đạt hiệu quả thì cần chú ý những đặc trưng cơ bản sau:
- D ạy và học Ngữ văn thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
HS sẽ vừa là đối tượng của hoạt động dạy vửa là chủ thể của hoạt động
học GV Ngữ văn không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn
Trang 34hành động, điều khiển hoạt động tự lực khám phá tri thức của HS, chứ không
phải để HS thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt HS được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, được trực tiếp quan sát, thảo luận,
giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến
thức mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không
rập theo những khuôn mâu sẵn có, bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
- D ạy và học Ngữ văn chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
PPDH tích cực chú trọng rèn luyện phương pháp học tập cho HS bởi đây là một mục tiêu dạy học quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn và giải quyết được mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức ngày càng phong phú, yêu cầu dạy học ngày càng cao nhưng thời gian học tập thì hạn chế Ngày nay, chúng ta thường nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học Ngữ văn, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang
tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV Ngữ văn Từ đó, giúp HS có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn
có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác trong dạy
h ọc Ngữ văn
Áp dụng PPDH tích cực trong dạy học Ngữ văn buộc phải chấp nhận
sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập bởi vì trình độ
kiến thức, tư duy của HS không đồng đều Cho nên cần vận dụng các phương
tiện CNTT trong nhà trường để đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS thông qua việc xây dựng các mối quan
hệ hợp tác giữa các cá nhân: thầy - trò, trò – trò trong lớp học Việc thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác
Trang 35bỏ, qua đó HS sẽ nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn
hiểu biết và kinh nghiệm sống của GV
Trong nhà trường, học tập hợp tác sẽ làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Cho nên, phương pháp học tập
hợp tác ở môn Ngữ văn được tổ chức ở nhiều cấp: nhóm, tổ, lớp hoặc trường
nhằm khắc phục hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được
bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, nhất là để có
thể hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia
- K ết hợp đánh giá của GV Ngữ văn với tự đánh giá của HS
Đánh giá HS trong hoạt động dạy học môn Ngữ văn vừa nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS vừa nhằm mục đích tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV
Ngữ văn Chính vì vậy, mà GV Ngữ văn phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học GV cần tạo điều kiện thuận lợi để
HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã
học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết
những tình huống thực tế
Ngày nay, với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra, đánh giá sẽ mang lại cho GV Ngữ văn nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều
Trang 36chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học Cho nên, GV Ngữ văn phải thực
sự trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các
mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình
c Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng các phương
ti ện dạy học hiện đại trong dạy học môn Ngữ văn
Theo J Dryden thì “những quốc gia biết lợi dụng sự bùng nổ thông tin liên lạc số và gắn với kĩ năng học tập mới sẽ đứng đầu thế giới về giáo dục”
Từ nhận định trên, chúng ta thấy được tầm quan trọng và yêu cầu cấp bách
của việc ứng dụng CNTT và sử dụng các PTDH hiện đại trong dạy học nói chung và của môn Ngữ văn nói riêng Ứng dụng CNTT và sử dụng các PTDH
hiện đại trong dạy học Ngữ văn tập trung vào việc sử dụng phương tiện trực quan trong lớp học; sử dụng các thiết bị thí nghiệm, thực hành; tìm kiếm và khai thác các nguồn dữ liệu phục vụ dạy học; sử dụng phần mềm, công cụ
soạn thảo văn bản và trình diễn bài giảng; áp dụng PPDH sử dụng mạng điện
tử (E - Learning)… Tuy nhiên, cần lưu ý rằng CNTT chỉ là công cụ nâng cao tính tích cực trong dạy học môn Ngữ văn Vì vậy, cả GV Ngữ văn và HS đều
phải sử dụng công cụ này thì mới có thể phát huy được tối đa tính tích cực Riêng đối với GV Ngữ văn cần sử dụng nó đúng theo quy tắc sư phạm và
phải thành thạo trong kĩ thuật sử dụng, tránh tình trạng lạm dụng dẫn đến không hiệu quả
1.3.4 Một số phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo hướng đổi mới
1.3.4 1 Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Thuyết trình là PPDH mà GV truyền đạt tri thức một cách trực tiếp, logic, hệ thống bằng việc sử dụng lời nói; HS tiếp nhận tri thức từ GV một cách thụ động Để phát huy tính tích cực của HS, phương pháp thuyết trình phát triển theo hướng tích cực hơn – trình bày mang tính “nêu vấn đề”
Trang 37Thuyết trình nêu vấn đề là phương pháp GV trình bày hệ thống tri thức theo
một trình tự logic, hợp lý dưới dạng nêu vấn đề gợi mở, “tính nêu vấn đề” thể
hiện ở chỗ “vấn đề” được nêu ra không nhất thiết phải mang tính thường xuyên, liên tục và không phải là một giai đoạn, một bước, một chu kì như dạy
học nêu vấn đề Việc “nêu vấn đề” ở đây định hướng cho tư duy của HS và định hướng cho sự trình bày của GV
Như vậy, phương pháp thuyết trình nêu vấn đề là GV Ngữ văn chỉ truyền đạt những tri thức trọng tâm, cơ bản, then chốt của bài học, những tri
thức khó, trừu tượng, phức tạp mà HS khó tự lực thu nhận được Thông qua
việc nghe hiểu nắm vững những tri thức cơ bản, then chốt của bài, những tri
thức khó không thể tự mình khám phá, nắm vững cách đặt vấn đề, giải quyết
vấn đề, kết luận vấn đề của GV Ngữ văn mà HS vận dụng vào việc hiểu, tìm
kiếm và nắm vững các tri thức khác của bài học
1.3.4.2 Ph ương pháp đọc sáng tạo
Phương pháp đọc sáng tạo là phương pháp tiếp nhận nghệ thuật một cách sáng tạo mà vấn đề chủ yếu cần quan tâm là sự cảm thụ trực tiếp Phương pháp đọc sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức và mục đích khác nhau: đọc tạo cảm hứng, nhấn mạnh ấn tượng nổi bật hay những sự kiện văn học chủ yếu; đọc để kiểm tra mức độ cảm thụ của HS; đọc để hình thành
và duy trì ấn tượng nghệ thuật để HS tiếp tục đi sâu và khai thác nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ tác phẩm Các hình thức đọc như: đọc chuẩn bị
ở nhà, đọc thầm và đọc to trên lớp, đọc theo nhân vật, đọc đối thoại, đọc tóm
tắt, đọc bình chú, đọc ghi chép, đọc sau giờ giảng… để gây hình tượng hoàn
chỉnh về bài văn và hình tượng nghệ thuật
Phương pháp đọc sáng tạo theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của HS là hướng dẫn HS đạt được các cấp độ kĩ năng đọc hiểu:
Trang 38- Đọc đúng là trung thành với nội dung ý nghĩa của văn bản Đọc đúng
để hiểu được phần nghĩa cơ sở (nghĩa đen, nghĩa trực tiếp) của văn bản Để lĩnh hội được nghĩa trực tiếp của văn bản, cần căn cứ vào hệ thống từ vựng trong văn cảnh để xác định ý chính Cấp độ này đòi hỏi người đọc phải chính xác về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngừng nghỉ đúng dấu câu Từ đó, người đọc có thể
hiểu về sự vật hiện tượng được nêu trực tiếp trong văn bản
- Đọc hay là bước đầu biết phát huy, nhấn mạnh hiệu quả nghệ thuật trong kết cấu âm thanh, nhạc điệu ngôn ngữ tác phẩm và chất giọng của người đọc
- Đọc diễn cảm thể hiện được mối quan hệ xúc cảm và sự hiểu biết sâu
sắc của cá nhân đối với tác phẩm, có cái nhìn thấu đáo của chủ thể về những
sự vật không được nói đến trực tiếp mà ẩn chứa đằng sau câu chữ (ý tại ngôn ngoại) Đọc diễn cảm là nghệ thuật đọc nhằm tái tạo hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh, trọn vẹn và đạt tới sự biểu đạt ý nghĩa có màu sắc cảm xúc cá nhân Cấp độ này đòi hỏi người đọc phải biết được cách hành văn, sắp xếp ý,
dựng ý của tác giả… Từ đó hiểu được những thông điệp mà văn bản gửi đến Đây có thể được xem là hiểu phía sau những dòng chữ
- Đọc bình luận là cấp độ thể hiện khả năng đánh giá giá trị, tính vững
chắc hay tính chân thực của văn bản Khả năng đọc bình luận gắn liền với kinh nghiệm, vốn sống của HS
- Đọc sáng tạo là khả năng đọc cao nhất trong các cấp độ đọc hiểu HS sáng tạo có khả năng tìm được ý nghĩa mới của văn bản, thậm chí hiểu được ý nghĩa ngoài tầm kiểm soát, phản ánh của tác giả Đọc sáng tạo là để cảm, để
sống, để thưởng thức, để sử dụng, để tự phát triển bản thân Khi đọc sáng tạo người đọc còn có thể liên hệ những gì đang đọc với những gì đã đọc, lấy đó làm cơ sở để mở rộng biên độ sự hiểu biết Đối với văn bản nghệ thuật, ý nghĩa của hình tượng có thể được mở rộng trong quá trình đọc sáng tạo
Trang 391.3.4 3 Phương pháp gợi mở (phương pháp đàm thoại nêu vấn đề)
Phương pháp gợi mở nằm trong hệ thống PPDH Ngữ văn, là phương pháp hỗ trợ phương pháp đọc sáng tạo, giúp cho HS mở rộng, đào sâu hoạt động nhận thức, thực sự phân tích, bình giá các hiện tượng văn học, xã hội Phương pháp gợi mở được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi gợi
mở tạo điều kiện cho hoạt động song phương giữa thầy và trò để từng bước đi vào tác phẩm, bài học Hệ thống câu hỏi này sẽ thường tập trung vào các vấn
đề then chốt như đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, hoặc trong
việc giảng dạy lý luận phê bình văn học và lịch sử văn học Những câu hỏi
gợi mở vừa hấp dẫn HS về mặt nội dung vấn đề nêu ra vừa phải có ý nghĩa nghệ thuật và hình thức mới Hỏi là để HS tự nguyện trả lời, mong muốn trả
lời, muốn được giải đáp tiếp, khơi gợi mong muốn học hỏi ở chính các em Khi làm được điều này là chúng ta đã đạt tới nghệ thuật dẫn dắt Cho nên, có
thể nói hệ thống câu hỏi gợi mở không chỉ phục vụ cho hoạt động trí tuệ để
HS tự chiếm lĩnh kiến thức mà còn chỉ ra phương hướng, cách thức lĩnh hội tri thức phù hợp với đặc trưng bộ môn nghệ thuật
Phương pháp gợi mở theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của
HS là nghệ thuật gợi cho HS tự mình cảm thụ cái hay, cái đẹp trong văn chương, rèn luyện kĩ năng phát hiện, chiếm lĩnh tri thức từ những tài liệu trong và ngoài nhà trường
1.3.4.4 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
PPDH giải quyết vấn đề là một hệ PPDH, trong đó GV Ngữ văn nêu ra
vấn đề học tập, tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, hướng dẫn HS tự lực tìm tòi cách giải quyết vấn đề, qua đó HS tự lực lĩnh hội tri thức mới và cách thức hành động mới, hình thành, phát triển năng lực sáng tạo
Trang 40Bản chất của dạy học giải quyết vấn đề thể hiện ở ba đặc trưng cơ bản là: GV nêu vấn đề nhận thức, HS được đặt vào tình huống có vấn đề và GV tổ
chức cho HS giải quyết tình huống có vấn đề
PPDH giải quyết vấn đề có nhiều mức độ khác nhau, được qui định bởi
mức độ GV Ngữ văn tổ chức, hướng dẫn điều khiển quá trình HS tiếp xúc và
giải quyết vấn đề của họ và do đó cũng đánh giá được mức độ tích cực trong
nhận thức của HS Theo đó, chúng ta có các mức độ là: phương pháp trình bày nêu vấn đề, phương pháp tìm tòi bộ phận và PPDH giải quyết vấn đề có tính chất nghiên cứu Tuy nhiên, tùy theo mục tiêu, nội dung bài học, đặc điểm, trình độ nhận thức của HS mà GV Ngữ văn có thể tiến hành dạy học
giải quyết vấn đề ở các mức độ khác nhau
1.3.4.5 Phương pháp luyện tập, ôn tập
Phương pháp luyện tập là phương pháp dưới sự hướng dẫn của GV
Ngữ văn, HS lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn
cảnh khác nhau nhằm hình thành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo, kĩ năng tư duy,
kĩ năng tổ chức học tập một cách khoa học
Phương pháp ôn tập là PPDH giúp HS mở rộng, đào sâu, khái quát hóa,
hệ thống tri thức đã học, kĩ năng kĩ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ,
tư duy và qua đó điều chỉnh những sai lầm trong nhận thức của họ
Sử dụng phương pháp luyện tập, ôn tập theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS thể hiện thông qua việc tăng cường hoạt động của HS Cụ thể là,
HS được luyện tập theo mẫu, từ đó phát hiện, phân tích cách dùng của tác giả,
vận dụng trong bài văn để hình thành kĩ năng thực hành tiếng Việt, làm văn Ngoài ra, HS cần được ôn tập một cách tích cực thông qua việc GV Ngữ văn hướng dẫn, tổ chức hoạt động ôn tập của HS: ôn trên lớp, ôn ở nhà, ôn sau khi
học, ôn trước khi quên, ôn tập trung, ôn xen kẽ…