[41] Nghiên cứu về thái độ đã được tiếp cận đến các lĩnh vực như thái độ đối với học tập, nghề nghiệp, trẻ tự kỷ, các vấn đề xã hội… thể hiện cụ thể thông qua một số đề tài: Tìm hiểu thự
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Ánh, học viên lớp Cao học Tâm lý học K22, khoá
2011 - 2013 Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ: “Thái độ của sinh viên Đại
học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh đối với giá trị sống” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực, chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Trần Thị Quốc Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Với những lời chỉ dẫn, những tài li ệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Cô đã giúp tôi vượt qua nhi ều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin cá m ơn các Quý thầy, cô công tác tại Văn phòng khoa, thư viện, đặc biệt là Phòng sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi tham gia và hoàn thành khóa h ọc
Sau cùng tôi xin g ửi lời biết ơn sâu sắc đến bạn bè, gia đình đã luôn cổ vũ, động viên và t ạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 M ục đích nghiên cứu 7
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 7
4 Gi ả thuyết nghiên cứu 7
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 8
6 Gi ới hạn nghiên cứu: 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 C ấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỐNG CỦA SINH VIÊN 11
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Trên th ế giới 11
1.1.2 Ở Việt Nam 12
1.2 Nh ững vấn đề lý luận về thái độ đối với giá trị sống của sinh viên 13
1.2.1 Lý lu ận về thái độ 13
1.2.2 Giá tr ị và giá trị sống 20
1.2.3 Thái độ của sinh viên đối với giá trị sống 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỐNG 46
2.1 Th ể thức nghiên cứu 46
2.1.1 Khách th ể nghiên cứu 46
2.1.2 Mô t ả công cụ nghiên cứu 48
2.2 Th ực trạng thái độ của sinh viên Đại học Thể dục thể thao TP Hồ Chí minh đối v ới một số giá trị sống 51
2.2.1 Nh ận thức của sinh viên Đại học TDTT TP HCM đối với giá trị sống 51
2.2.2 Thái độ của sinh viên đối với tầm quan trọng của giá trị sống 52
2.2.3 Thái độ của sinh viên đối với 4 giá trị sống 57
Trang 62.2.5 Các y ếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với giá trị sống 66
2.3 M ột số biện pháp xây dựng thái độ tích cực đối với giá trị sống cho sinh viên 73
2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 73
2.3.2 Đề xuất một số biện pháp 74
2.3.3 Kh ảo sát mức độ hiệu quả của một số biện pháp xây dựng thái độ tích cực đối với giá tr ị sống cho sinh viên 76
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta đang trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội thì hệ thống giá trị cũng thay đổi Nhiều giá trị mới được tạo dựng, một số giá trị được mở rộng về nội dung…Điều này ảnh hưởng đến sự lựa chọn các giá trị sống của mỗi cá nhân, nhất là lứa tuổi thanh niên
Các giá trị nói chung được coi là cốt lõi của nhân cách Nó được hiểu là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của nhân cách, qui định chiều hướng và tính chất của hành vi Giá trị được thể hiện ở vai trò, vị trí, lối sống của cá nhân
Giá trị sống là cơ sở để cá nhân tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động, hành vi ứng xử trong cuộc sống Nó thôi thúc con người làm những điều tốt đẹp có ích cho
bản thân và cộng đồng Ngoài ra, giá trị sống còn là động lực thúc đẩy hành vi của
con người, khơi gợi con người làm những điều tốt đẹp Nếu thiếu các giá trị sống nền
tảng con người sẽ thiếu động cơ, mục đích sống, không biết cách xây dựng và duy trì
mối quan hệ, không biết tôn trọng bản thân và người khác…
Sinh viên là nguồn nhân lực tương lai của đất nước, đại diện cho lực lượng lao động có trình độ cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội
nhập khu vực và quốc tế Việt Nam luôn chú trọng đào tạo nguồn nhân lực tương lai
có đầy đủ năng lực chuyên môn và những giá trị sống cần thiết để chung sống trong
thời đại ngày nay Tuy nhiên hiện nay giá trị sống của không ít người trẻ tuổi, trong
đó có sinh viên, đang thay đổi theo hướng coi trọng các giá trị vật chất, quyền lực và
sự giàu sang mà ít coi trọng các giá trị tinh thần Việc nghiên cứu nhận thức của sinh viên về giá trị sống sẽ giúp người nghiên cứu phác họa bức tranh về thực trạng giá trị
sống của sinh viên, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về giá trị sống là một điều thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Sinh viên thể thao, là thế hệ được đào tạo để phát triển một lực lượng huấn luyện viên, giáo viên tương lai nhằm thực hiện một trong những nhiệm vụ cơ bản, quan
trọng của giáo dục là giáo dục đức - trí - thể - mỹ, đặc biệt là giáo dục thể chất Ngoài
Trang 9sự phát triển về thể lực thì việc giáo dục các gia trị sống có vai trò vô cùng quan
trọng Sự phát triển này tác động chi phối các hoạt động tâm lý, hành vi và thái độ trong học tập, thi đấu và trong cuộc sống của các em Vì thế, nếu nhận thức đúng đắn
và có thái độ phù hợp với những giá trị sống trong giai đoạn này sẽ có ảnh hưởng tích
cực đến cuộc sống, công việc của các em
Nghiên cứu về giá trị và giá trị sống đã được một số tác giả trong và ngoài nước
đề cập đến trên bình diện định hướng giá trị và định hướng giá trị đạo đức ở thanh niên Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể thái độ của sinh viên nói chung và sinh viên thể thao về giá trị sống Vì lẽ đó, tìm hiểu cụ thể thái
độ của sinh viên thể thao đối với giá trị sống là cần thiết
Từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài “Thái độ của sinh viên Đại học Thể dục thể thao TP Hồ Chí Minh đối với giá trị sống”
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thái độ đối với giá trị sống của SV trường Đại học Thể dục thể thao
TP HCM, qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm xây dựng thái độ tích cực đối với giá trị sống cho sinh viên
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách th ể nghiên cứu
Sinh viên Đại học Thể dục thể thao TP HCM
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của sinh viên Đại học Thể dục thể thao TP HCM đối với giá trị sống
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao TP HCM có thái độ khá tích cực đối với các giá trị sống
Có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về thái độ giữa các tham số: giới tính, năm
học, ngành học,…
Trang 105 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
5.2 Khảo sát thực trạng thái độ của sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao
TP HCM về một số giá trị: tôn trọng, trung thực, hợp tác và yêu thương
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm xây dựng thái độ tích cực đối với các giá trị
sống cho sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao TP HCM
6 Giới hạn nghiên cứu:
6.1 Gi ới hạn về nội dung
Trong đề tài này người nghiên cứu chỉ tìm hiểu các nội dung liên quan đến thái
độ của sinh viên đối với giá trị sống
6.2 Khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sinh viên ba khoa: Khoa Giáo dục thể chất , Khoa Huấn luyện
thể thao và Khoa Quản lý thể thao trường Đại học TDTT TP.HCM
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp và khái quát các tài liệu khoa học có liên quan đến
đề tài làm cơ sở lý luận định hướng cho việc tìm hiểu thực tiễn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1.Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
M ục đích: Đây là phương pháp chính của đề tài Dựa trên cơ sở lý luận, các đề
tài tham khảo có liên quan, người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi để tìm hiểu thái độ
của sinh viên đối với một số giá trị sống, cụ thể là các vấn đề sau:
- Thái độ của sinh viên đối với giá trị sống
- Thái độ của sinh viên đối với bốn giá trị: tôn trọng, trung thực, tự do và yêu thương
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với giá trị sống
- Các biện pháp xây dựng thái độ của sinh viên đối với giá trị sống
Trang 11N ội dung: Tìm hiểu mức độ nhận thức – thái độ - hành vi của sinh viên về đối
với một số giá trị sống
Cách th ức tiến hành
Thiết kế bảng hỏi: Trưng cầu ý kiến bằng câu hỏi mở, kết hợp với việc tổng hợp
cơ sở lý thuyết để thiết kế bảng hỏi sử dụng trong đề tài
7 2.2 Phương pháp phỏng vấn:
M ục đích: thu thập, bổ sung và làm rõ hơn những thông tin điều tra thái độ của
sinh viên đối với giá trị sống đã thu được khi khảo sát rộng
Nội dung: đánh giá mức độ quan trọng và sự ảnh hưởng của các giá trị sống đến
thái độ của sinh viên; các biện pháp xây dựng thái độ tích cực với các giá trị sống
Cách th ức tiến hành: phỏng vấn trực tiếp sinh viên trường đại học Thể dục thể
thao TP.HCM
7.3 Phương pháp thống kê toán học:
Mục đích: xử lý và mã hóa các thông số cần dùng trong đề tài nghiên cứu
N ội dung: các phép thống kê cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu qua phần
mềm SPSS để xử lý số liệu:
- Tính trung bình
- Tính tấn số và tỷ lệ lựa chọn
- Xếp thứ hạng
- Kiểm nghiệm f (so sánh biến giới tính, khoa, học lực)
8 Cấu trúc luận văn
M Ở ĐẦU
N ỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
1.2 Một số khái niệm cơ bản về thái độ đối với giá trị sống của sinh viên
ệm thái độ
Trang 121.2.2 Giá trị và giá trị sống
1.2.3 Thái độ của sinh viên đối với giá trị sống
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với các giá trị sống
1.3 Đặc điểm tâm lý cúa sinh viên Đại học Thể dục thể thao
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TDTT TP
HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ SỐNG
2.1 Thể thức nghiên cứu
2.1.1 Khách thể nghiên cứu
2.1.2 Mô tả công cụ nghiên cứu
2.2 Thực trạng thái độ của sinh viên Đại học TDTT TP Hồ Chí Minh đối với giá
trị sống
2.2.1 Thái độ của sinh viên TDTT đối với giá trị sống
2.2.2 Thái độ của sinh viên đối với 4 giá trị sống
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với giá trị sống
2.3 Một số biện pháp xây dựng thái độ tích cực đối với giá trị sống cho sinh viên
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ
SỐNG CỦA SINH VIÊN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giá trị và giáo dục giá trị là mối quan tâm đặc biệt của các nhà giáo dục trong định hướng phát triển nhân cách con người Trên thế giới cũng như ở Việt Nam
đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này
1.1.1 Trên thế giới
Trong những năm cuối của thế kỷ 20, vấn đề giá trị và định hướng giá trị ngày càng được nhiều nước trên thế giới quan tâm như Ba Lan, Liên Xô, Bungary, Nhật Bản, Hungary, v.v…Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề của giá trị như nội dung (gồm giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị thẩm mĩ ) (Tsunesaburo Makiguchi (1994), giáo dục vì cuộc sống sáng tạo)
Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên của Bungari trong chương trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên đã đề cập nhiều đến vấn đề định hướng giá trị cho thanh niên, đặc biệt là sự khác biệt trong thang giá trị của thanh niên so với thế hệ ông cha
Hai cuộc điều tra: Thanh niên từ 18 – 24 tuổi của phòng nghiên cứu Thanh niên – Viện nghiên cứu Thế giới của Nhật Bản lấy mẫu trên 11 nước và thanh niên từ 18 –
24 tuổi ở 10 nước châu Âu đều đề cập chủ yếu đến vấn đề giá trị và định hướng giá trị của thanh niên nhằm chuẩn bị cho họ sẵn sàng bước vào cuộc sống
Để thực hiện những chương trình hoạt động của mình năm 1986 – 1987 UNESCO đã đề nghị: The cub of rome tiến hành cuộc điều tra quốc tế về giá trị giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI trong tình hình có những biến đổi thường xuyên và nhanh chóng về bạo lực đang ảnh hưởng đến xã hội vào những năm cuối của thế kỷ này Mục đích của cuộc nghiên cứu là hướng dẫn người làm công tác giáo dục các vấn đề giá trị đạo đức, đề nghị họ mở rộng điều tra hơn nữa và sử dụng những điều đó vào hệ thống giáo dục của các nước, ở tất cả những nơi và lớp trẻ cần được giáo dục về giá trị đạo đức
Trang 14Trong khuôn khổ chương trình Giáo dục những giá trị sống của UNESCO, bộ sách của tác giả Diane Tillman “Những giá trị sống dành cho trẻ từ 3 đến 7 tuổi”,
“Những giá trị sống dành cho trẻ từ 8 đến 14 tuổi”, và “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” đã trình bày 12 giá trị: hòa bình, hợp tác, tôn trọng, trung thực, tự do, trách nhiệm, khoan dung, giản di, yêu thương, đoàn kết, hạnh phúc, khiêm tốn
Thời gian gần đây, các nước Châu Á và Đông Nam Á đã có nhiều cuộc hội thảo, tập huấn về vấn đề nghiên cứu giá trị và giáo dục giá trị, nhiều tài liệu về giáo dục giá trị của các nước đã được công bố Đáng chú ý là “Chương trình giáo dục cho người Philipin và tập tài liệu “Giá trị trong hành động” của Trung tâm canh tân và Công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á – xuất bản năm 1992 Tài liệu này đã trình bày quan điểm, mục tiêu, chương trình và cách đưa giáo dục giá trị vào nhà trường cộng đồng của các nước Indonesia, Philipin, Singapo, Malaysia, Thái lan
kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, đổi mới, mở cửa
“Tổng quan về giá trị và giáo dục giá trị”, đề tài Đề tài KX – 07 – 04 H.( 1993)
do Lê Đức Phúc và Mạc Văn Trang thực hiện.[23]
“Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” Đề tài KX – 07 – 04
H 1995 của Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang.[32]
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa đã phân tích các giá trị truyền thống của con người Việt Nam và 12 giá trị sống phổ quát của UNESCO Từ
đó đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh phổ thông [16]
Tác giả Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Thị Kim Liên đã nghiên cứu và đề xuất các giá trị sống cần được giáo dục ở lứa tuổi học sinh và phương pháp giáo dục giá trị
Trang 15sống Từ đó hai tác giả đề xuất xây dựng mô hình câu lạc bộ giáo dục giá trị sống và phát triển kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sơ[13]
Tác giả Lục Thị Nga có đề tài phân tích công tác quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở trong công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống[17]
Đề tài “Nghiên cứu giáo dục giá trị sống cho học sinh tiểu học Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay” do Hội Tâm lý Giáo dục Hà Nội thực hiện, TS Nguyễn Tùng
Lâm làm chủ nhiệm đề tài Mục tiêu của đề tài là: Xác định những giá trị cốt lõi của người Việt Nam hiện nay để xây dựng chương trình giáo dục giá trị sống cho học sinh tiểu học ở Hà Nội Từ đó đưa ra các giải pháp xây dựng chương trình và thực hiện giáo dục giá trị sống Hiện nay, đề tài vẫn đang trong giai đoạn hoàn thành và tổ chức một số hội thảo nhằm đánh giá những nguyên nhân cần phải tăng cường giáo dục giá trị sống cho học sinh tiểu học ở Hà Nội Đồng thời, đề xuất về các giá trị sống cần giáo dục cho học sinh tiểu học, cũng như phương pháp và cách thức tiếp cận [41] Nghiên cứu về thái độ đã được tiếp cận đến các lĩnh vực như thái độ đối với học tập, nghề nghiệp, trẻ tự kỷ, các vấn đề xã hội… thể hiện cụ thể thông qua một số đề tài: Tìm hiểu thực trạng thái độ nghề nghiệp của giáo viên tâm lý giáo dục ở một số trường cao đẳng sư phạm (Thái Bình, Vĩnh Phú, Hải Hưng) thông qua các hoạt động
sư phạm của tác giả Bùi Ngọc Sơn, Đại học sư phạm Hà Nội I năm 1985; Nhận thức thái độ của học sinh THPT thị xã Hà Giang về đạo hiếu trong gia đình ngày nay/
Phạm Thị GấmĐHSPHN, 2001…
Năm 2012, tác giả Trần Kim An đưa giá trị sống theo UNESCO vào trong
nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với tên đề tài “Nhận thức về một số giá trị sống
của SV trường đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM” Như vậy chưa có công trình nghiên cứu nào quan tâm đến việc xem xét thái độ đối với các giá trị sống của sinh viên Vì vậy, vấn đề thái độ đối với các giá trị sống được chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên khách thể là sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao TP HCM
1.2 Những vấn đề lý luận về thái độ đối với giá trị sống của sinh viên
1.2.1 Lý luận về thái độ
Trang 16Theo từ điển tiếng Việt, viện ngôn ngữ học, 2004, thái độ được định nghĩa:
1 Là tổng thể nói chung của những biểu hiện ra bên ngoài ( bằng nét mặt, cử
chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc đối với sự việc nào đó
2 Là cách nghĩ, cách nhìn, cách hành động theo một hướng nào đó trước một
Nhà tâm lý học xã hội Hoa Kỳ G.V.Onparte cho rằng “thái độ” là trạng thái thần kinh và tâm lý của sự sẵn sàng được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm, nó ảnh hưởng và điều khiển năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó.[32,tr 70]
Theo Uzonataze “thái độ” là một trạng thái toàn vẹn của chủ thể Đó là sự phản ánh cơ bản đầu tiên đối với các tác động của tình huống trong chủ thể phải đặt ra và
giải quyết tình huống.(giống trên Nguyễn Quang Uẩn)
Bên cạnh đó còn có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ Chẳng hạn, định nghĩa của Allport về thái độ, “thái độ là trạng thái sẵn sang về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà
phản ứng cá nhân ấy có mối quan hệ” [11, tr 319]
Newcome cho rằng tháu độ của một cá nhân đối với một khách thể nào đó là
“thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của cá nhân ấy với khách thể liên quan” Đó là sự sẵn sàng phản ứng [11, tr319]
Trước đó nữa, các nhà nghiên cứu Thomas và Znaniecki đã chú ý tới sự thích ứng của một nhóm khách thể nghiên cứu đối với sự thay đổi của môi trường xã hội, thay đổi các giá trị được lựa chọn bởi nhóm khách thể ấy, mà đặc điểm chủ yaaes của
Trang 17thay đổi này là vấn đề thái độ Theo Thomas và Znaniecki, thái độ là trạng thái của cá nhân đối với một giá trị [14, tr35]
Theo Lenin: “Thái độ là một bộ phận, lĩnh vực tình cảm phản ánh quan hệ của
cá nhân đối với hiện thực, nó được quyết định bởi thế giới quan của cá nhân cho nên
nó cũng phản ánh tồn tại xã hội chịu ảnh hưởng của ý thức giai cấp, của tâm lý xã
hội, của dư luận và tập đoàn xã hội Nó thường không phải là những đáp ứng được
biểu lộ một cách minh thị hay trực tiếp mà là những ý nghĩ đang chuyển hóa thành hành động.” [24, tr 20]
Kế thừa các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ), các tác giả Bùi Ngọc Oánh, Triệu Xuân Quýnh, Nguyễn Hữu Nghĩa đã định nghĩa thái độ “là một thành tố quan trọng
tạo nên ý thức Thái độ là những rung cảm, những cảm nghĩ có khả năng định hướng hành động, hành vi tương ứng với đối tượng được nhận thức Thái độ của cá nhân
phản ánh các mối quan hệ xã hội mà người đó gia nhập vào” Các tác động để thực
hiện những hoạt động nhằm cải tạo thực hiện thực khách quan, phục vụ nhu cầu sống còn của mình,con người không phải chỉ cần phản ánh thuộc tính khách quan của các đối tượng bằng các hoạt động nhận thức, mà còn cần phản ánh mối quan hệ của các đối tượng ấy với nhu cầu của mình Mối quan hệ này quy định thái độ của con người đối với đối tượng của quá trình phản ánh.Tùy thuộc vào đối tượng có ý nghĩa như thế nào đối với nhu cầu của ta (thỏa mãn hay không thỏa mãn)mà ta có thái độ tương ứng (tích cực hay tiêu cực) với đối tượng ấy” [22]
Một số tác giả nêu rõ thái độ thuộc lĩnh vực phản ánh cảm xúc, khác căn bản với
phản ánh nhận thức, các tác giả này dùng thuật ngữ “thái độ cảm xúc” khi nêu định nghĩa về tình cảm Chẳng hạn tác giả A.V.Daparôgiet đã viết: “Khi nhận thức hiện
thực xung quanh,con người không tỏ ra lạnh nhạt, bàng quan Con người có một thái
độ nội tại nhất định đối với sự vật, hiện tượng và hành động nào đó Tình cảm hay xúc cảm là thái độ mà con người trực tiếp thể nghiệm đối với hiện thực xung quanh
và đối với bản thân” [7]
Qua một số những định nghĩa, những nội dung đề cập về thái độ nêu trên cho
thấy, dù được diễn giải theo nhiều phương cách khác nhau, nhưng vẫn có những điểm
Trang 18chung về khái niệm thái độ mà các định nghĩa đều có đề cập đến Đó là, thứ nhất, thái
độ là một dạng phản ứng bên trong (suy nghĩ, tình cảm,cảm nghĩ, ) và bên ngoài (hành động, hành vi, sự thích ứng,…) của cơ thể; thứ hai, thái độ … khi có mối liên quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện tượng,một con người, một nhóm người)
với sự thỏa mãn nhu cầu của chủ thể; thứ ba, thái độ có tính xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể của thái độ và các thành phần khác trong xã hội (trong hoàn
cảnh, tình huống xã hội, trong sự trao đổi các giá trị, chuẩn mực xã hội,…) Do đó, thái độ là đối tượng nghiên cứu của cả tâm lý học cá nhân và tâm lý học xã hội
Cho đến ngày nay, thái độ vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu vì nội hàm của nó
rất rộng, khó xác định một cách đầy đủ trọn vẹn, cũng như khó đo lường một cách chính xác tuyệt đối Như vậy thái độ là một khái niệm được sử dụng thường xuyên trong khoa học nói chung và khoa học tâm lý nói riêng Chưa có một khái niệm thống
nhất mà dưới mỗi góc độ khác nhau người ta có thể hiểu vấn đề này khác nhau Dưới
góc độ hiểu biết của mình chúng tôi cho rằng “Thái độ là hệ thống những suy nghĩ,
tình c ảm, cách đánh giá của chủ thể đối với các tác động của thế giới khách quan
Đó là sự đồng tình hay không đồng tình, ủng hộ hay phản đối, sự chấp thuận hay không ch ấp thuận một dạng phản ứng nào đó của cá nhân hay nhóm xã hội.”
1.2.1.2 Đặc điểm của thái độ
a Đặc điểm của thái độ
Đầu tiên thái độ là những rung cảm, xúc cảm đối với những đối tượng mới hay
là tình cảm đối với những đối tượng quen thuộc Đó chính là mặt bên trong của thái
độ Thái độ còn được biểu hiện ra bằng những ý định và hành vi, cử chỉ, đó chính là
mặt bên ngoài của thái độ Mặt bên trong của thái độ không phải lúc nào cũng thể
hiện một cách trọn vẹn, thẳng thắn, nguyên xi mà có thể bị giấu kín nếu như cảm thấy
cần che giấu, khi đó chủ thể sẽ kiềm chế, đè nén và không biểu lộ thái độ của mình Thái độ mang tính chủ thể nhưng lại mang tính đối tượng khá rõ rệt Đối với con người, thái độ bao giờ cũng là thái độ đối với một đối tượng cụ thể nhất định Thế nhưng thái độ lại thể hiện rất rõ nét tính chủ thể vì với cùng một đối tượng nhưng mỗi
Trang 19người lại có thái độ khác nhau, thậm chí ngay khi con người có thái độ giống nhau thì cách thức và mức độ biểu hiện cũng khác nhau
Thái độ mang tính cá nhân nhưng cũng bị chi phối bởi những yếu tố xã hội, dư
luận xã hội, phong tục tập quán…trước khi tỏ thái độ con người thường xem xét
những yếu tố xã hội chung quanh mình xem có cho phép hay không
Mặt khác thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Thái độ có thể nói
là giai đoạn nảy sinh trước động cơ song chính thái độ cũng góp phần không nhỏ trong việc hình thành động cơ và chính nó là giai đoạn định hướng cho động cơ đi đến hành động
Thái độ thường được phân chia thành hai hướng khác nhau Thái độ tích cực – thái độ tiêu cực, thái độ đúng đắn – thái độ không đúng đắn (thái độ sai lệch) Khi đề
cập đến thái độ người ta thường đề cập đến những thuật ngữ như: thích hay không thích, tán thành hay không tán thành, e ngại hay tự tin…tất cả đều được hiểu là thái
độ của một chủ thể đối với một đối tượng nhất định, đó là một sự vật hiện tượng hoặc
một vấn đề hay một con người cụ thể nào đó
b Cấu trúc tâm lý của thái độ
* Quan niệm 3 thành phần trong thái độ
Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về thái độ, song phần lớn các nhà tâm lý học đều nhất trí với quan điểm cấu trúc 3 thành phần của thái độ do
M Smith – nhà tâm lý học Mỹ đưa ra năm 1942 Theo M Smith, thái độ được cấu thành từ thành phần nhận thức, thành phần xúc cảm tình cảm và thành phần hành động của cá nhân với đối tượng Trong đó:
- Thành ph ần nhận thức: là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con
người, nó bao gồm những quan điểm, sự hiểu biết của cá nhân với đối tượng
- Thành ph ần xúc cảm - tình cảm: là kết quả của nhận thức, không phản ánh bản
thân sự vật hiện tượng mà là những biểu cảm, sự rung động, hứng thú của cá nhân đối
với đối tượng của thái độ.Trong cấu trúc thái độ, tình cảm thể hiện ở các cảm xúc của
cá nhân đối với đối tượng của thái độ.Tình cảm là thành phần vô cùng quan trọng trong cấu trúc thái độ.Với tình cảm tích cực có thể kích thích chủ thể hành động tích
Trang 20cực, từ đó hình thành nên thái độ tích cực và ngược lại tình cảm tiêu cực có thể kìm hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể
- Thành ph ần hành vi: là sự thể hiện thái độ của cá nhân đối với đối tượng thông
qua xu hướng hành động và hành động thực tế Thái độ và hành vi luôn có sự quy định lẫn nhau, hành vi là một thành phần cấu thành nên thái độ, thái độ muốn biểu
hiện ra bên ngoài phải thông qua hành vi Vì vậy, hành vi là hình thức biểu hiện cụ
thể nhất của thái độ
Trong đời sống tâm lý của con người, nhận thức được coi là một trong ba mặt cơ
bản (nhận thức, thái độ và hành động) Quá trình nhận thức về đối tượng là quá trình con người tìm tòi, khám phá những thuộc tính bề ngoài và cả những thuộc tính bản
chất, những quy luật của đối tượng Khi một sự vật, hiện tượng tác động đến cá nhân,
để có thái độ nhất định đối với sự vật hiện tượng đó thì trước hết, cá nhân phải có sự
hiểu biết về đối tượng đó (cho dù hiểu biết đúng hay sai) Trong cấu trúc của thái độ,
nhận thức là “điều kiện cần” cho việc hình thành thái độ Xúc cảm - tình cảm là thành
phần quan trọng, là động lực có thể kích thích hoặc kìm hãm tính tích cực hoạt động
của chủ thể Hành vi là sự thể hiện ứng xử của chủ thể đối với đối tượng Mặc dù
giữa hành vi và thái độ đôi khi cũng có những mâu thuẫn, nhưng nhìn chung, hành vi
vẫn là hình thức biểu hiện cụ thể nhất của thái độ
Ba thành phần nêu trên trong cấu trúc của thái độ có quan hệ chặt chẽ với nhau,
sự thống nhất giữa chúng tạo nên một thái độ xác định của chủ thể Đứng trước một đối tượng nào đó, để có thái độ với đối tượng đó, con người phải tuân theo quy luật sau: trước hết, con người phải nhận thức (có hiểu biết) về đối tượng; nhận thức đó sẽ là
cơ sở định hướng làm xuất hiện những xúc cảm, tình cảm với đối tượng (yêu – ghét, thích – không thích…); cuối cùng, với nhận thức và tình cảm nhất định với đối tượng
mà con người sẽ có những hành động, hành vi cụ thể với đối tượng Ta cũng cần hiểu,
mặc dù đều có mặt trong cấu trúc chung của thái độ, nhưng tỉ lệ các thành phần nêu trên có sự khác nhau trong các loại thái độ Tuỳ theo tình huống mà một thành phần nào đó chiếm vị trí chủ đạo, chi phối thái độ của cá nhân Ba thành phần nêu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau Cho nên có thể nói rằng: từ tính thống nhất của ý nghĩ, tình
cảm và hành động, chúng ta có thể thấy được một thái độ xác định
Trang 211.2.1.3 Các y ếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành thái độ
- Thái độ được hình thành bởi các thông tin
Thông tin trên các phương tiện: báo, tạp chí, tivi, radio, trong đời sống hằng ngày…đều có thể ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của con người Như vậy khi thông tin tác động vào chúng ta thì chúng ta thường có thái độ với những thông tin
đó Hệ thống thông tin được các chủ thể tiếp nhận ở nhiều góc độ khác nhau, có thông tin làm cho chủ thể nhận rõ thêm bản chất của vấn đề và sau đó chủ thể dễ dàng bày tỏ thái độ…
- Thái độ được hình thành trong quá trình thỏa mãn nhu cầu
Con người thường hình thành thái độ tích cực với những gì có lợi và hình thành thái độ tiêu cực đối với những gì có hại trong tiến trình thỏa mãn nhu cầu của mình Quá trình thỏa mãn nhu cầu là quá trình chủ thể nỗ lực bản thân, tìm kiếm các phương pháp phù hợp để thỏa mãn các nhu cầu, sau đó cảm xúc sẽ xuất hiện và chủ
thể bày tỏ thái độ một cách cụ thể
- Thái độ được hình thành qua giao tiếp nhóm
Mỗi cá nhân là thành viên của nhiều nhóm khác nhau, thái độ của một người thường phản ánh giá trị, chuẩn mực, niềm tin của nhóm mà họ là thành viên Thái độ
của các nhóm khác nhau là do mục đích, tiêu chuẩn của các nhóm khác nhau Chẳng
hạn nhóm “học tập” khác với nhóm “hoạt náo viên”
Giá trị mà cả nhóm theo đuổi sẽ có ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của các thành viên trong nhóm đó Chuẩn mực đó không xác định hành vi nào là đúng hay sai, hành vi nào là tốt hay xấu mà còn xác định xem thái độ nào là đúng, thái độ nào là sai Thông qua việc thưởng phạt và áp lực nhóm, ép cá nhân phải tuân theo Các nhóm thường đưa ra quy chế thưởng phạt làm động cơ cho các thành viên Ai có thái độ, hành vi tốt, đúng thì sẽ được khên thưởng và ngược lại sẽ bị lên án, trách
phạt Trong tâm lý học xã hội đề cao vai trò của nhóm, nhất là nhóm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…ví vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức cá nhân Tuy nhiên
cá nhân tiếp nhận các thái độ trong nhóm một cách có lựa chọn, không tiếp nhận một
Trang 22cách bị động, mức độ và cách thức tiếp nhận của mỗi thành viên trong nhóm là khác nhau
- Thái độ được hình thành qua kinh nghiệm sống
Kinh nghiệm trong cuộc sống sẽ hình thành nên thái độ Người có nhiều kinh nghiệm sẽ có thái đọ khác so với người có ít kinh nghiệm mặc dù họ cũng gặp vấn đề
giống nhau
- Nhân cách cá nhân và sự hình thành thái độ
Cá nhân có xu hướng tiếp nhận cá thái độ phù hợp với nhân cách của mình, nhưng nhân cách của con người thì chưa hẳn là một hệ thống hoàn toàn thống nhất Chính vì thế mà chúng ta có thể tiếp nhận các thái độ mâu thuẫn nhau bởi sự giáo dục khác nhau
1.2.2 Giá trị và giá trị sống
1.2.2.1 Giá trị
Trong những khái niệm, phạm trù cơ bản có liên quan đến đời sống con người,
thực tiễn xã hội phải kể đến các khái niệm “giá trị”, “thang giá trị”, “giá trị sống”…
học, Xã hội học, Tâm lý học, Văn học… dưới nhiều bình diện, khía cạnh khác nhau tùy theo sự hình thành, tồn tại, nội dung, cấu trúc cũng như ý nghĩa của nó đối với cá nhân và xã hội
Những hiểu biết đầu tiên về giá trị và giá trị học có từ thời xa xưa, gắn liền với triết học Có nhiều quan điểm khác nhau Ở đây người viết đề cập theo quan điểm của Triết học Mác-Lênin Giá trị là những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người Nói đến quan điểm giá trị bao giờ
Trang 23cũng nói đến mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể Các giá trị đều được nhận thức
và kiểm nghiệm bằng thực tiễn
Trong kinh tế học, phạm trù giá trí gắn liền với giá trị hàng hóa, giá cả và sản
xuất hàng hóa và phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của người làm ra hàng hóa C Mác viết: “Lao động có một sức sản xuất đặc biệt, hoạt động là một lao động được nhân lên cấp số nhân hay là trong một khoảng thời gian như nhau, nó tạo ra một giá trị cao hơn so với một lao động giá trị trung bình cùng loại” [7]
Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều
kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của
một xã hội
Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liến với những khái niệm trung tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái Bởi vì khái niệm giá trị thuộc phạm vi đời
sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và quá trình hình thành các chuẩn
mực, quy tắc đạo đức của xã hội
Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm
hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của nhân cách, cụ thể ở
một số chuyên ngành sau:
Tâm lý học hoạt động xác định: Giá trị là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng đó Các nhà tâm lý học nghiên cứu khái niệm giá trị nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo phát triển nhân cách Trong đó chuyên ngành tâm lý học nhân cách đề cập đến giá trị như là một bộ phận cấu thành nên tâm lý - nhân cách con người
Tâm lý học xã hội nghiên cứu giá trị trong cộng đồng, đồng thời giải thích vai trò của chúng trong sự hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như: tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị hiếu, tập quán, lối sống của các nhóm xã hội này
Như vậy, giá trị, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu đó là cái đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người
thừa nhận
Trang 24Có thể kể đến một số quan niệm phổ biến về giá trị của các tác giả nước ngoài như:
Tác giả J.H.Fichter cho rằng: “Tất cả cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân và xã hội đều có một giá trị” [16, tr.8]
Tác giả V.P.Tugarinov (Liên Xô) lại cho rằng: “giá trị là những khách thể,
những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (lợi ích, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay
lý tưởng” [34, tr.56]
L.Dramaliev (Bungari) coi giá trị là: “một thành tố khách quan của xã hội Nó là
một loại hiện tượng xã hội đặc biệt (một vật, một đối tượng, một liên hệ, một ý niệm),
thỏa mãn được những nhu cầu nhất định của con người Giá trị là một phẩm chất khách quan, một đặc tính, một khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình quan hệ qua lại có tính chất xã hội giữa người với người trong hành vi
thực tế của họ Với tính cách là một khách thể xã hội, giá trị không thể tách rời khỏi
những nhu cầu, những mong muốn, thái độ, những quan điểm và những hành động
của con người với tư cách là một chủ thể của các quan hệ xã hội” [34, tr.57]
Nhà giáo dục học Nhật Bản- J.Makiguchi cho rằng “giá trị của sự vật là cái được
chủ thể thừa nhận, trên cơ sở mối quan hệ của sự vật đối với chúng ta là có tầm quan
trọng trong cuộc sống”[27, tr.108]
Theo tài liệu “Giáo dục giá trị” (Bộ văn hóa Thể thao Philippin), khái niệm giá
trị có thể hiểu: “Một vật có giá trị khi nó được thừa nhận là có ích và mong muốn có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người Không chỉ có hàng hóa vật chất mà cả lý tưởng và những khái niệm đều có giá trị như: sự thật, công
lý, lương thiện” [16, tr.8]
Một số tác giả Việt Nam như Trần Trọng Thủy, Trần Văn Giàu, Phạm Minh
Hạc, Nguyễn Văn Huyên, Huỳnh Khái Vinh, Lê Đức Phúc… đều có những nghiên
cứu và đưa ra các quan niệm về giá trị
Trang 25Tác giả Nguyễn Đức Thạc cho rằng: giá trị là tính có nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể Chủ thể ở đây có thể là một nhóm người, một giai tầng, một dân tộc hoặc một thời đại [25, tr.49]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, đáng quý, có ích
của các đối tượng với các chủ thể” [10]
Tác giả Trần Trọng Thủy khi nghiên cứu về “Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách” cũng xem giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình, biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng, các chuẩn mực, mục đích và lý tưởng, các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, giá trị của một sự vật hay hiện tượng đều được
thừa nhận một cách khách quan dựa vào mối quan hệ giữa chủ thể và nhu cầu đối với
sự vật hiện tượng đó.[32]
Từ những hiểu biết và kinh nghiệm của mình Chúng tôi cho rằng: Giá trị là cái
c ần thiết, quan trọng, có ý nghĩa đối với chủ thể (cá nhân hay nhóm)mà họ cố gắng dành l ấy khi tham gia vào các hoạt động xã hội Giá trị có khả năng chi phối suy nghĩ, thái độ và hành vi của con người
b Phân lo ại giá trị
Tùy thuộc vào mục đích tiếp cận mà các tác giả nêu lên các căn cứ phân loại khác nhau Tuy nhiên, tóm tắt lại các tác giả phân chia giá trị theo những cách như sau:
Cách phân chia mà nhiều người biết nhất là căn cứ trên sự thỏa mãn nhu cầu vật
chất hay nhu cầu tinh thần của con người, giá trị được chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần Giá trị vật chất như giá trị sử dụng, giá trị kinh tế Giá trị tinh thần như giá trị khoa học, chính trị, đạo đức, pháp luật, lối sống, tôn giáo…[26]
Dựa vào các giá trị chi phối hệ thống hành vi lớn của con người giá trị chủ yếu
gồm các giá trị tồn tại sinh học, các giá trị tính cách, các giá trị văn hóa và các giá trị
xã hội [32]
Trang 26Căn cứ trên lĩnh vực hoạt động của con người Huỳnh Khái Vinh chia thành các nhóm là giá trị nhân văn, giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, giá trị chính trị, pháp luật, giá trị kinh tế [36] Đồng quan điểm với Huỳnh Khái Vinh còn có J.H.Fichter, M Popon và J.R William
Mỗi cách phân loại giá trị thể hiện mỗi khía cạnh khác nhau và không có cách phân loại nào thể hiện đầy đủ mọi phương diện giá trị vốn dĩ rất phong phú trong
cuộc sống Điều quan trọng là khi xem xét các giá trị cần xác định chúng trong một
hệ thống – cấu trúc, đặt chúng theo các thứ bậc và chú ý tính đa dạng trong các biểu
hiện sinh động của từng giá trị
Trong đề tài này chúng tôi phân loại giá trị dựa trên mức độ nhu cầu của con người, theo đó, giá trị sống là một trong những nhóm giá trị tinh thần quan trọng, chi
phối hành vi và lối sống của con người
Tóm lại, dưới góc độ của các ngành khoa học hay theo quan điểm của các nhà khoa học khác nhau, giá trị có chung một số đặc điểm như sau:
- Mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với sự vật đó
- Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, với phí tổn cần thiết để tạo ra cái lợi đó
- Mang tính khách quan - nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của giá trị nào
đó không phụ thuộc vào ý thức của con người
- Được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, phổ biến là hiều theo hai góc độ: vật
chất và tinh thần Giá trị vật chất là giá trị đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con người khoái cảm, hứng thú và sảng khoái
- Mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị
- Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự biến động của
xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và cộng đồng
c H ệ giá trị, thang giá trị, chuẩn giá trị
* H ệ giá trị
Trang 27Hệ giá trị (hay còn gọi là hệ thống giá trị) là một tổ hợp giá trị khác nhau được
sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị Các hệ giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo những thứ bậc phù hợp với quá trình
thực hiện các chức năng xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể Do vậy, hệ thống giá
trị luôn mang tính lịch sử xã hội và chịu sự chế ước bởi lịch sử - xã hội Trong hệ
thống giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và có thể cả những nhân tố trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị có tính nhân loại, tính dân tộc, tính cộng đồng, tính giai cấp, tính lý tưởng và tính hiện thực
* Thang giá trị
Thang giá trị (thước đo giá trị) là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá trị được
sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định
Thang giá trị biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển, biến đổi của xã hội loài người, cộng đồng và từng cá nhân Trong quá trình biến đổi đó, thang giá trị của xã
hội, của cộng đồng và của nhóm chuyển thành thang giá trị của từng người, cứ thế qua từng giai đoạn lịch sử của con người
Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt động Hoạt động được tiến hành theo những thang giá trị cụ thể sẽ tạo nên những giá trị nhất định, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người Chính trong hoạt động tạo ra những giá trị lại góp phần khẳng định, củng cố, phát huy, bổ sung, hoàn thiện hoặc hay đổi thang giá trị
* Chu ẩn giá trị
Chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người Khi xây dựng các giá
trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, chính trị, đạo đức, xã hội, hay thẩm
mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị Mọi hoạt động của xã hội, của nhóm cũng như của
từng cá nhân được thực hiện theo những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định
Trang 28hướng cho các hoạt động và hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời tạo
ra những giá trị tương ứng đảm bảo sự tồn tại của con người
1.2.2.2 Giá tr ị sống
a Khái ni ệm giá trị sống
Mặc dù khái niệm giá trị sống mới được nhắc đến những năm gần đây nhưng thật ra, từ xưa tới nay, loài người luôn quan tâm, đề cao giá trị sống và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau
Trước tiên là quan niệm về Đức trong tư tưởng Nho giáo Quan niệm về “đức” của Khổng Tử trong “Luận ngữ” rất sâu sắc và phong phú Đức không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đôi với việc làm Khổng Tử quan niệm đức với tài phải đi đôi với nhau, nhưng đức phải là gốc Lòng tin mãnh liệt vào thiện, đức của con người chính là cơ sở của đường lối đức trị Khổng Tử Những quan niệm
đó thể hiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, phát huy thiện đức của con người Quan niệm về đức của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa đối với xã hội cổ đại đương thời mà còn có ý nghĩa đối với xã hội ta ngày nay.[17]
Gần tư tưởng của Nho giáo là tư tưởng nhân văn của đạo Phật: con người sống trên đời quý ở tấm lòng, do đó cần phải tu tâm dưỡng tính Thực chất là đánh giá cao giá trị sống hơn là kỹ năng sống, bởi không có giá trị sống đúng đắn thì con người có thể dùng kỹ năng sống để làm điều ác Tu tập cái tâm chính là tạo dựng cho bản nhân những giá trị sống chân chính
Cũng trên tư tưởng lấy đức làm gốc nhưng phải coi trọng cả đức và tài là tư
tưởng của Hồ Chí Minh"Có tài phải có đức, có tài mà không có đức - tham ô, hủ hoá
thì có hại cho đất nước.Có đức mà không có tài chẳng làm được gì, thì không giúp
ích được cho ai"
Kế thừa, giữ gìn và phát huy các quan điểm trên, các nhà giáo dục đương đại
Việt Nam đã đưa ra một số quan điểm khác nhau về giá trị sống
Tác giả Phạm Minh Hạc gọi giá trị sống là những “Giá trị bản thân” Ông coi đây là một nét mới của “tư duy” trong thời kỳ đất nước phát triển với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế [10]
Trang 29Tiếp nối ý tưởng đó, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Phạm trù giá trị sống được tạo nên bởi kỹ năng sống thành thạo trên nền tảng quan điểm sống đúng đắn Đất nước nào xây dựng và giúp cho thế hệ trẻ thực hiện được hệ giá trị bản thân đúng đắn và phù hợp, thì đất nước đó sẽ có các giờ học tốt, nhà trường tốt, hệ thống giáo
dục và nên giáo dục tiên tiến không lạc hậu, lạc điệu với thời đại” [2, tr.73] Nếu các giá trị sống được phát triển bền vững thì nhân cách cũng trưởng thành vững vàng, có
bản lĩnh, bản sắc riêng
Hiện nay, có một số quan niệm khác nhau về giá trị sống và các nhà nghiên cứu đều chưa thống nhất để đưa ra khái niệm chung, có thể tóm tắt một số khái niệm như: Theo tác giả Lục Thị Nga “Giá trị sống là tất cả những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi con người, khiến mỗi con người mong muốn lĩnh hội và thể hiện ra để cuộc sống của mình trở nên tốt đẹp hơn
và góp phần cải thiện cuộc sống chung”
Tác giả Nguyễn Công Khanh cho rằng: “Giá trị sống là những thứ được cá nhân
nhận thức là rất quan trọng, rất cần thiết, rất có ý nghĩa, luôn mong đợi, chúng có khả năng chi phối thái độ, xúc cảm, tình cảm, hành vi của một cá nhân trong cuộc sống hàng ngày” Không chỉ tài sản, mà cả tri thức, sức khỏe, tình yêu thương, sự trung
thực, danh dự… cũng được coi là một giá trị sống của cá nhân.[13, tr.93]
Theo Chương trình Giáo dục các giá trị sống của UNESCO thì giá trị sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”, “giá trị của cuộc sống”) là “những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được và vì thế giá trị sống là cơ sở
của hành động sống, nó chi phối hành vi hướng thiện của con người”.[4]
Nhìn chung, các quan điểm trên cho thấy giá trị sống là một hình thái ý thức xã
hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm,… trong các mối quan hệ giữa con người với con người Giá
trị về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận Giá trị là quy tắc sống,
nó có vị trí to lớn trong đời sống và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều
chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội
Trang 30Tóm lại, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu ngắn gọn rằng: giá trị sống
là nh ững giá trị được cá nhân cho là quan trọng, có ý nghĩa đối với bản thân; những giá tr ị này có khả năng chi phối thái độ, tình cảm, hành vi của người đó trong thế giới khách quan và đối với bản thân họ
b Phân lo ại
Theo cách phân loại của tác giả Nguyễn Công Khanh, các giá trị sống cần được nuôi dưỡng và giáo dục cho tuổi trẻ hiện nay là tình yêu thương, trung thực, biết quan tâm đến người khác, ham học hỏi, siêng năng, sống tôn trọng pháp luật, yêu hòa bình,
biết nhận lỗi và biết tha thứ, sống chủ động và tự tin, chấp nhận thử thách và luôn vượt khó…[13]
Tác giả Phạm Minh Hạc khi bàn về giá trị sống và giáo dục giá trị sống có nêu
ra 10 giá trị sống cơ bản cần hình thành cho con người Việt Nam, nhất là thanh, thiếu niên:[10 ]
- Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc
lạc quan, vì nghĩa, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người… Các giá trị phổ quát mang tính toàn cầu là hòa bình, tôn trọng, yêu thương, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, trách nhiệm, giản dị, khoan dung, hợp tác, tự do, đoàn
kết.[16,tr18 -20]
Bên cạnh các giá trị mang tính bản sắc, đặc trưng cho mỗi dân tộc, vùng miền,
có những giá trị mang tính nhân loại, không phân biệt màu da, quốc tịch, vị trí địa lý… mọi con người đều cùng hướng về những giá trị đó Để nghiên cứu xem những
Trang 31giá trị phổ quát là những giá trị nào, năm 1995, một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên hơn 100 nước và 186 thành viên của Liên hợp quốc đã chọn ra và thông qua 12 giá trị cốt lõi nhất mang tính phổ quát toàn cầu Gồm có: hòa bình, tôn
trọng, yêu thương, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, trách nhiệm, giản dị, khoan dung, hợp tác, tự do, đoàn kết Hiện nay, chương trình Giáo dục các giá trị sống của UNESCO cũng chọn và dạy theo cách phân loại 12 giá trị này 12 giá trị sống phổ quát chủ yếu hướng vào những giá trị tinh thần mà không đề cập đến các giá trị vật
chất như tiền bạc, giàu sang… Trong đó, hai giá trị sống chung là hòa bình, tự do; sáu giá trị phẩm chất nhân cách bản thân là khoan dung, khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc và bốn giá trị quan hệ liên nhân cách với nhóm, với cộng đồng là tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm Các giá trị cốt lõi này đều đã có trong mỗi con người bất kể sự khác nhau về quốc tịch, màu da và văn hóa Khi mọi người cùng vươn tới những giá trị đó, họ sẽ xích lại gần nhau, chia sẻ, thông cảm với nhau và cuộc sống của tất cả mọi người trên trái đất đều thống nhất với nhau trong
thế giới hòa bình, tôn trọng, hạnh phúc
Trong đề tài này người nghiên cứu lựa chọn cách phân chia cuối cùng để đi sâu tìm hiểu thái độ của sinh viên về 12 giá trị đó Việc sử dụng những giá trị phổ quát làm thang giá trị chủ đạo sẽ giảm được sự phức tạp trong quá trình định chuẩn và tránh được những hậu quả do chọn phải những thang giá trị lạc hậu làm chuẩn để nghiên cứu
Nội dung tóm tắt của 12 giá trị như sau:
a Giá tr ị Hòa bình
Nói đến hòa bình, chúng ta nghĩ ngay đến từ trái nghĩa là chiến tranh Điều đó
có nghĩa là hòa bình tức là không có chiến tranh, không có súng đạn và không có chết chóc, thương tổn
Tuy nhiên, hòa bình không đơn giản chỉ là không có chiến tranh Hòa bình là khi chúng ta đang sống hòa thuận và không có sự đấu đá lẫn nhau Nếu mỗi người trong
thế giới được yên ổn, đó sẽ là một thế giới hòa bình
Hòa bình còn có nghĩa là đang sống với sự yên bình của thế giới nội tâm Hòa
Trang 32bình là tình trạng bình tĩnh và thư thái của trí óc
Hòa bình bắt đầu từ mỗi người chúng ta Thông qua sự thinh lặng và sự suy nghĩ đúng đắn về ý nghĩa của hòa bình, chúng ta có thể tìm được nhiều cách mới mẻ và sáng tạo để tạo thuận lợi cho sự hiểu biết về các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả
mọi người
b Giá tr ị Tôn trọng
Tôn trọng trước hết là tự trọng – là biết rằng tự bản chất tôi có giá trị Một phần
của tự trọng là nhận biết những phẩm chất của chính tôi Tôn trọng là lắng nghe người khác Tôn trọng là biết người khác cũng có giá trị như tôi Tôn trọng sẽ hình thành sự tin cậy lẫn nhau
Khi chúng ta tôn trọng chính mình, thì dễ dàng tôn trọng người khác Những ai
biết tôn trọng sẽ nhận đuợc sự tôn trọng Hãy biết rằng mỗi người đều có giá trị và khi thừa nhận giá trị của người khác thì thế nào cũng chiếm được sự tôn trọng của người khác đối với mình
Một phần của sự tôn trọng là ý thức rằng tôi có sự khác biệt với người khác trong cách đánh giá
Tuy nhiên, nếu sự tôn trọng càng được đo lường dựa vào những gì thuộc bề ngoài thì mong muốn được người khác thừa nhận càng lớn Mong muốn (được thừa
nhận) càng lớn thì người ta càng dễ là nạn nhân và mất sự tôn trọng bản thân
c Giá tr ị Yêu thương
Albert Enstein nói: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải nhân rộng ra xung quanh ta lòng trắc ẩn và nó bao trùm tất cả cuộc sống của con người và thiên nhiên.” Yêu người khác nghĩa là bạn muốn điều tốt cho họ Yêu là biết lắng nghe; yêu là chia sẻ Khi yêu thương trọn vẹn, giận dữ sẽ tránh xa Tình yêu là giá trị làm cho mối quan hệ giữa chúng ta trở nên tốt hơn Lev Tolstoi viết: “Luật của cuộc sống ở trong
sự tử tế của tâm hồn chúng ta Nếu con tim của chúng ta trống rỗng thì không có luật nào hay tổ chức nào có thể lấp đầy.”
Trong một thế giới tốt đẹp, quy luật tự nhiên là yêu thương; và trong một con người tốt, bản chất tự nhiên là sự thương yêu Tình yêu mang tính phổ quát không có
Trang 33biên giới hoặc sự thiên vị, tình yêu lan tỏa đến tất cả mọi người Tình yêu ở quanh ta
và ta có thể cảm nhận được nó Giá trị của tình yêu là ở chỗ nó như là một chất xúc tác tạo nên sự thay đổi, phát triển và thành đạt Tình yêu là nhìn nhận mỗi người theo cách tốt đẹp hơn Tình yêu thật sự luôn bao hàm lòng tốt, sự quan tâm, hiểu biết và không có những hành vi ghen tị cũng như kiểm soát người khác
d Giá tr ị Khoan dung
Rộng lòng tha thứ, tôn trọng và thông cảm với người khác; biết tha thứ cho người khác khi họ hối hận và sửa chữa lỗi lầm
Khoan dung là sự cởi mở và sự chấp nhận vẻ đẹp của những điều khác biệt Khoan dung là tôn trọng qua sự hiểu biết lẫn nhau Hòa bình là mục tiêu, khoan dung
là phương pháp Có khoan dung, bạn sẽ trở nên cởi mở và chấp nhận sự khác biệt với
những vẻ đẹp của nó Người khoan dung thì biết rút ra những điều tốt nơi người khác cũng như trong các tình thế Khoan dung là nhìn nhận cá tính và sự đa dạng trong khi
vẫn biết hóa giải những mầm mống gây chia rẽ, bất hòa và tháo gỡ ngòi nổ của sự căng thẳng được tạo ra bởi sự dốt nát
Nguyên nhân của việc không khoan dung là sự sợ hãi và thiếu hiểu biết Hạt
giống của khoan dung là tình yêu thương; nước để nó nảy mầm là lòng trắc ẩn và sự quan tâm, chăm sóc Khi thiếu đi tình yêu thương sẽ thiếu đi lòng khoan dung Những
ai biết đánh giá điều tốt trong mọi người và trong những tình huống là những người
Khi trung thực ta cảm thấy tâm hồn trong sáng và nhẹ nhàng Một người trung
thực và chân chính thì xứng đáng được tin cậy
Trang 34Trung thực thể hiện trong tư tưởng, lời nói và hành động thì đem lại sự hòa thuận Trung thực là sử dụng tốt những gì được ủy thác cho bạn Trung thực là cách
xử sự tốt nhất Đó là một mối quan hệ sâu sắc giữa sự lương thiện và tình bạn
Khi sống trung thực, bạn có thể học và giúp người khác học cách biết trao tặng Tính tham lam đôi khi là cội rễ của sự bất lương và của sự không trung thực Sự tham lam là đủ cho những người cần, nhưng không bao giờ thỏa mãn cho kẻ tham lam Khi
nhận thức được về mối quan hệ này với nhau, chúng ta nhận ra được tầm quan trọng
của lòng trung thực
f Giá trị Khiêm tốn
Khiêm tốn là ăn ở, nói năng, làm việc một cách nhẹ nhàng và đơn giản mà lại có
hiệu quả Khiêm tốn gắn liền với tự trọng Khiêm tốn là khi bạn nhận biết khả năng,
uy thế của mình, nhưng không khoe khoang
Một người khiêm tốn tìm được niềm vui khi lắng nghe người khác và biết chấp
nhận người khác Khi quân bình được giữa tự trọng và khiêm tốn, bạn có được sức
mạnh tâm hồn để tự điều khiển và kiểm soát chính mình Khiêm tốn làm cho một người trở nên vĩ đại trong trái tim của nhiều người Khiêm tốn tạo nên một trí óc cởi
mở Bằng khiêm tốn bạn có thể nhận ra sức mạnh của bản thân và khả năng của người khác
Khiêm tốn là giữ được sự ổn định và duy trì sức manh bên trong, và không cần
phải kiểm soát từ phía ngoài Khiêm tốn cho phép mình sống với phẩm giá và lòng chính trực, không cần đến những bằng chứng của một thể hiện bên ngoài Khiêm tốn cho phép một sự nhẹ nhàng trong việc đối mặt với các thách thức Khiêm tốn loại trừ
những sở hữu tạo nên các bức tường của tính tự cao tự đại Sự kiêu ngạo làm thiệt hại hay hủy hoại việc đánh giá tính độc đáo của người khác và vì vậy, đó là một sự vi
phạm tinh vi các quyền cơ bản của họ
Xu hướng gây ấn tượng, lấn át hoặc hạn chế tự do của người khác để sau đó
chứng tỏ bản thân thì sẽ làm giảm bớt trải nghiệm của bản thân về giá trị, phẩm cách
và bình yên trong tâm trí của họ
g Giá tr ị Hợp tác
Trang 35Làm việc cùng nhau với mục tiêu chung trên nguyên tắc tôn trọng và trợ giúp qua lại lẫn nhau
Hợp tác là khi mọi người biết làm việc chung với nhau và cùng hướng về một
mục tiêu chung
Một người biết hợp tác thì có những lời lẽ tốt đẹp và cảm giác trong sáng về người khác cũng như đối với nhiệm vụ Việc hợp tác đòi hỏi thừa nhận giá trị về sự đóng góp của mỗi người và có một thái độ tích cực
Khi hợp tác, cũng cần phải biết là điều gì là cần thiết, điều gì là nên làm Đôi khi chúng ta cần một ý tưởng mới, đôi khi cũng cần để cho ý tưởng của chúng ta trôi đi Đôi khi chúng ta cần phải dẫn dắt theo ý tưởng của mình, nhưng đôi khi chúng ta cần
phải đi theo ý tưởng của những người khác Hợp tác phải được chỉ đạo bởi nguyên
tắc về sự tôn trọng lẫn nhau
Một người biết hợp tác sẽ nhận được sự hợp tác Khi có yêu thương thì có sự
hợp tác Khi nhận thức được những giá trị của cuộc sống, ta có khả năng tạo ra sự
Nói những lời tốt đẹp về mọi người và mang tính xây dựng đem lại hạnh phúc
nội tâm Những hành động trong sáng và quên mình sẽ đem đến hạnh phúc Hạnh phúc lâu bền là trạng thái của sự hài lòng bên trong
Khi hài lòng với chính mình, bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc Khi những lời nói của tôi là “những bông hoa thay vì những hòn đá”, tôi đem lại hạnh phúc cho thế
giới
Hạnh phúc sinh ra hạnh phúc Buồn rầu tạo ra buồn rầu
Trang 36i Giá tr ị Trách nhiệm
Trách nhiệm là việc bạn góp phần của mình vào công việc chung Trách nhiệm
là đang thực hiện nhiệm vụ với lòng trung thực
Trách nhiệm là thực hiện phần đóng góp của mình Trách nhiệm là chấp nhận
những đòi hỏi và thực hiện nhiệm vụ với khả năng tốt nhất của mình Trách nhiệm không chỉ là một cái gì đó ràng buộc chúng ta, mà còn là điều gì đó cho phép chúng
ta đạt được những gì chúng ta mong muốn
Trách nhiệm đối với toàn cầu đòi hỏi sự kính trọng đối với toàn thể nhân loại Trách nhiệm là sự sử dụng toàn bộ nguồn lực của chúng ta để tạo ra một sự thay đổi tích cực
Muốn có hòa bình, chúng ta phải có trách nhiệm tạo ra sự yên ổn Muốn có một
thế giới hài hòa, chúng ta phải có trách nhiệm chăm sóc thiên nhiên Một người được coi là có trách nhiệm khi người ấy đồng ý góp phần để gánh vác công việc chung với các thành viên khác
Như là một người có trách nhiệm, bạn làm nhiều hơn những điều/việc xứng đáng để góp phần với người khác Một người có trách nhiệm thì biết
thế nào là phải, là đẹp, là đúng, nhận ra được điều gì tốt để góp phần Quyền lợi gắn
liền với trách nhiệm Trách nhiệm là đang sử dụng tiềm lực, tài nguyên của chúng ta
để tạo ra những thay đổi tích cực
j Giá tr ị Giản dị
Giản dị là sống một cách tự nhiên, không giả tạo Khi bạn quan sát thiên nhiên
bạn sẽ biết giản dị là như thế nào Giản dị là điều đầu tiên cho sự phát triển bền vững
Giản dị là đẹp Giản dị là thư giãn Giản dị là chấp nhận hiện tại và không làm
mọi điều trở nên phức tạp Người giản dị thì thích suy nghĩ và lập luận rõ ràng Giản
dị dạy chúng ta biết tiết kiệm – biết thế nào là sử dụng tài nguyên, tiềm năng một cách khôn ngoan; biết hoạch định đường hướng cho tương lai Giản dị giúp bạn kiên
nhẫn, làm nảy sinh tình bạn và khả năng nâng đỡ
Giản dị là hiểu rõ giá trị của những vật chất dù nhỏ bé nhất trong cuộc sống
Giản dị là cảm nhận vẻ đẹp bên trong và nhận ra giá trị của tất cả mọi người, ngay cả
Trang 37những người nghèo và khó khăn nhất Giản dị là vui thích với một tâm trí và trí tuệ ngay thẳng, mộc mạc Giản dị kêu gọi mọi người suy nghĩ lại những giá trị của mình
Giản dị đặt ra câu hỏi rằng chúng ta có nên giảm mua những sản phẩm không
cần thiết hay không Những cám dỗ thèm muốn về mặt tâm lí tạo nên những nhu cầu
giả tạo Các mong muốn được kích thích bởi những nhu cầu cần có những thứ không
cần thiết tạo ra các xung đột giữa giá trị với sự phức tạp hóa bởi lòng tham, sự sợ hãi,
áp lực bạn bè và cảm giác sai lệch về bản sắc Trong khi sự đáp ứng các nhu cầu cơ
bản cho phép có một cuộc sống thoải mái, thì những sự thái quá và thừa thãi có thể
dẫn tới hư hỏng và lãng phí
Giản dị giúp giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo bằng cách
thể hiện tính logic của một nguyên lí kinh tế đúng đắn: kiếm tiền, tiết kiệm và chia sẻ
sự hi sinh và thịnh vượng có thể để có một cuộc sống có chất lượng hơn cho tất cả
mọi người, bất kể họ sinh ra ở đâu
k Giá tr ị Tự do
Tự do có thể bị hiểu lầm là một cái ô rộng lớn và không có giới hạn, tức là cho phép “làm những gì tôi muốn, khi nào tôi muốn, với bất kì ai tôi muốn” Khái niệm này mang tính chất đánh lừa và lạm dụng sự lựa chọn
Xâm phạm các quyền của một hay nhiều người để có tự do cho bản thân, gia đình hoặc dân tộc là một sự lạm dụng tự do Loại lạm dụng này thường phản tác
dụng; rốt cuộc áp đặt một điều kiện cản trở, và trong một số trường hợp là sự áp bức cho những người lạm dụng và người bị lạm dụng
Tự do thực sự được thực hành và trải nghiệm khi các thông số được xác định và được hiểu rõ Các thông số được xác định bởi nguyên tắc tất cả mọi người đều có quyền như nhau Ví dụ, quyền về hòa bình, hạnh phúc và công bằng là bẩm sinh, không phân biệt tôn giáo, văn hóa hay giới tính
Tất cả mọi người đều có quyền tự do Trong sự tự do ấy, mỗi người có bổn phận tôn trọng quyền lợi của những người khác Tự do tinh thần là một kinh nghiệm khi ta
có những suy nghĩ tích cực về tất cả, kể cả về chính mình Tự do thuộc lĩnh vực của
lý trí và tâm hồn
Trang 38Tự do đầy đủ chỉ vận hành khi các quyền được cân bằng với trách nhiệm, và sự
chọn lựa được cân bằng với lương tâm
Tự do bên trong là được giải phóng khỏi những lầm lẫn và phức tạp trong tâm trí, trí tuệ và trái tim vốn nảy sinh từ những điều tiêu cực, là sự trải nghiệm khi ta có
những suy nghĩ tích cực đối với tất cả người khác, kể cả với bản thân mình
Tự do là một món quà quý giá Chỉ có thể tự do thật sự khi các quyền lợi quân bình với những trách nhiệm Có tự do thực sự khi mọi người có được quyền bình đẳng
l Giá trị Đoàn kết
Đoàn kết là sự hòa thuận ở trong và ở giữa các cá nhân trong một nhóm, một tập
thể Đoàn kết được tồn tại nhờ sự chấp nhận và hiểu rõ giá trị của mỗi người, cũng như biết đánh giá đúng sự đóng góp của họ đối với tập thể
Đoàn kết được xây dựng qua việc chia sẻ các mục tiêu, niềm hy vọng và viễn tưởng tương lai Khi các bạn đoàn kết, nhiệm vụ lớn dường như trở nên dễ dàng thực
hiện Sự thiếu tôn trọng dù là nhỏ có thể là lý do làm cho mất đoàn kết
Đoàn kết tạo nên kinh nghiệm về sự hợp tác, làm gia tăng sự hăng hái trong nhiệm vụ và tạo ra một bầu không khí thân thiện Đoàn kết tạo ra cảm giác hạnh phúc
êm ái và gia tăng sức mạnh cho mọi người
Đoàn kết được xây dựng từ một tầm nhìn, hy vọng và mục đích vị tha chung
hoặc là một sự nghiệp vì những điều tốt đẹp chung
Tính ổn định của tình đoàn kết bắt nguồn từ tinh thần bình đẳng và thống nhất
Sự vĩ đại của đoàn kết là ở chỗ tất cả mọi người đều được tôn trọng Đoàn kết được
giữ vững bởi việc tập trung năng lượng, chấp nhận và đánh giá giá trị của đội ngũ đông đảo những người tham gia và sự đóng góp độc đáo mà mỗi người có thể thực
hiện, và bởi việc duy trì lòng trung thành không chỉ đối với nhau mà còn đối với cả nhiệm vụ
Nhân loại chưa thể nào duy trì được sự thống nhất để chống lại kẻ thù chung của các cuộc nội chiến, mâu thuẫn sắc tộc, đói nghèo và vi phạm các quyền con người Khi cá nhân ứng xử trong sự hài hòa thì có thể giữ được ổn định và làm việc có
Trang 39hiệu quả hơn ở trong nhóm Đoàn kết truyền cảm hứng cho trách nhiệm cá nhân
mạnh hơn và những thành tựu tập thể lớn hơn
Việc tạo dựng nên tình đoàn kết trên thế giới đòi hỏi mỗi cá nhân phải xem cả nhân loại như gia đình của mình và tập trung vào những đường hướng và giá trị tích
cực Một dấu hiệu thiếu tôn trọng có thể làm cho tình đoàn kết bị đổ vỡ Việc ngắt lời người khác, đưa ra những phê phán liên tục và thiếu tính xây dựng, theo dõi người khác hoặc kiểm soát người khác đều là những âm thanh rất khó nghe đập mạnh vào các mối quan hệ
Rõ ràng, những giá trị phổ quát này đều được chứa đựng và thống nhất với các giá trị truyền thống của Việt Nam như đã đề cập trên
c Vai trò của giá trị sống
Cùng với việc học chuyên môn, nghề nghiệp nhằm chuẩn bị cho cuộc sống tương lai của mình, sinh viên cũng cần phải biết làm thế nào để ứng phó trước các tình huống gặp phải, quản lý cảm xúc, học cách giao tiếp, ứng xử, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ, những biến động của cuộc đời Đặc biệt trong thời kỳ hội
nhập và cạnh tranh khốc liệt hiện nay nếu không được trang bị giá trị, kỹ năng sống sinh viên khó có thể ứng phó tích cực nhất khi phải đối mặt với những tình huống cám dỗ, thử thách, hoặc dễ bị sa ngã, bị ảnh hưởng tiêu cực bởi môi trường sống Sinh viên thiếu nền tảng giá trị sống dẫn tới động cơ học tập, rèn luyện không đúng, không biết tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết, hợp tác tương trợ lẫn nhau, đôi khi đưa đến hành vi thiếu trung thực,
bất hợp tác, vị kỷ cá nhân
Hiện nay giá trị sống của không ít học sinh, sinh viên đang thay đổi theo chiều hướng mỗi ngày một phù phiếm Nguyên nhân đầu tiên chính là sự bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông Vì vậy, để các bạn trẻ, các em học sinh, sinh viên (kể
cả người lớn) xét đoán, nhận diện, thẩm định đúng đâu là giá trị cuộc sống có vai trò đặc biệt quan trọng
Th ứ nhất, giá trị sống là những điều quan trọng đối với cuộc sống của con
người, nó thôi thúc con người làm điều gì đó tốt đẹp, có ích cho bản thân và cộng
Trang 40đồng Giá trị sống có thể là tình yêu thương, lòng kính trọng, sự bình yên, sự hợp tác, tình bằng hữu Nhân cách bao gồm những nét đặc trưng riêng của mỗi con người, bao
gồm động cơ hành động, khí chất, thái độ, những thuộc tính thể chất Kỹ năng sống là
những hoạt động chúng ta thực hiện một cách thành thạo, có năng lực, có tài.Chính vì
vậy giá trị sống định hướng tư duy, nhân cách và hành động của các cá nhân
Th ứ hai, giá trị sống là động lực bên trong thúc đẩy hành vi, giữ vai trò và phát
khởi hành vi, nó thôi thúc con người thực hiện hành vi trong cuộc sống Vì vậy, nhằm
tạo dựng các hành vi có giá trị của mỗi cá nhân phải dựa trên cơ sở sự hiểu biết về hệ giá trị chuẩn của cộng đồng xã hội mà cá nhân đó sinh sống Để có được nhận thức
về hệ giá trị chuẩn của cộng đồng thì giáo dục giữ vị trí trung tâm trong quá trình
nhận thức
Th ứ ba, giá trị sống đóng vai trò duy trì hành vi, nó thể hiện ở chỗ trong quá
trình nhận thức, hành động theo hệ giá trị sẽ chịu tác động của các quan niệm và hành động lệch giá trị Vì vậy, giá trị sống hình thành cho chủ thể về sự kiên cường, ý chí, định hướng trongnhận thức và hành động Việc giáo dục giá trị sống cho sinh viên ngay trong nhà trường đồng nghĩa tạo dựng, nhận thức, định hướng, bản lĩnh hành động cho quá trình tương tác xã hội hiện tại và tương lai của sinh viên
Thứ tư, giá trị sống có vai trò củng cố hành vi Khi thực hiện hành vi để đáp ứng
một mục tiêu chuẩn về giá trị nào đó, nếu hành vi đó đem lại sự thoả mãn thì hành vi
đó được thực hiện tiếp tục trong các lần sau với cường độ và tần suất cao hơn Vì lẽ
đó giáo dục giá trị sống đồng nghĩa với việc tạo các tiềm năng cho hành vi có giá trị
của học sinh, sinh viên.Giáo dục giá trị sống phải đi song hành và là nền cho giáo dục
kỹ năng sống
Như vậy, giá trị sống trở thành động lực giúp con người nỗ lực phấn đấu đạt được nó Giá trị sống có nguồn gốc hình thành, duy trì và biến đổi theo những quy
luật xã hội như mọi giá trị khác nói chung Nhưng khi đánh giá giá trị sống, người ta
chủ yếu hướng vào bình diện cá nhân, bởi vì giá trị sống là sống với từng giá trị chứ
không phải chỉ nói về giá trị đó
d Một số khái niệm liên quan