1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau

195 7,8K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề giáo viên mầm non là một nghề lao động đa năng, hoạt động sư phạm của GVMN có một sắc thái riêng, khác hẳn so với giáo viên của các bậc học khác là tạo bước đầu quan trọng trong việ

Trang 1

Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng

THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM

CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ

Ở THÀNH PHỐ CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng

THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM

CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ

Ở THÀNH PHỐ CÀ MAU

Chuyên ngành : Tâm lý học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ XUÂN HỒNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

xin cam đoan công trình nghiên cứu này là do chính tôi thực hiện.Các số

liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

nếu có sự khiếu nại, tố cáo bản quyền tác giả

Học viên

Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng

Trang 4

Thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy cô khoa Tâm lý giáo dục đã tận tình giảng dạy

và hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Lê Xuân Hồng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Phòng Sau đại học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và bảo vệ luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Cao đẳng sư

phạm Cà Mau đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình học tập Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và giáo viên các trường: MG Bông

Hồng, P5; MN Hương Sen; MN Hương Tràm; MG Sơn Ca, P2; MG Hoa Hồng, P9;

MN Phường 4; Măng Non 2, P8; MN Tư Thục Dầu Khí; MN Tư thục Phổ Trí Nhân, P5; MN tư thục Tân Hương, P8; MG Phường 7 đã nhiệt tình cộng tác trong quá trình nghiên cứu đề tài

Xin cảm ơn các bạn học viên lớp Tâm lý học K21 đã quan tâm chia sẻ, động viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Cà Mau, tháng 9 năm 2012

Học viên Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các chữ viết tắt

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Một số vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm 12

1.2.1 Kỹ năng 12

1.2.2 Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp 16

1.2.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm 21

1.2.4 Giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non 42

Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN M ẦM NON VỚI TRẺ Ở THÀNH PHỐ CÀ MAU 54

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 54

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 54

2.1.2 Về khách thể nghiên cứu 55

2.2 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở TP Cà Mau 55

2.2.1 Mục đích nghiên cứu 55

2.2.2 Khách thể nghiên cứu 55

2.2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 55

Trang 6

ở TP Cà Mau 60

2.3.1 Nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò của KNGTSP 60

2.3.2 Đánh giá về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ 64 2.3.3 Đánh giá theo nhóm về các kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Tp Cà Mau 95

2.3.4 Những khó khăn giáo viên mầm non gặp phải trong quá trình giao tiếp sư phạm với trẻ 102

2.3.5 Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ ở Tp Cà Mau 106

2.4 Đề xuất một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non ở Thành phố Cà Mau 112

2.4.1 Cơ sở của việc đề xuất biện pháp 112

2.4.2 Đề xuất một số biện pháp tác động 113

2.4.3 Kết quả khảo sát về mức độ khả thi của các biện pháp 119

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125 TÀI LI ỆU THAM KHẢO

PH Ụ LỤC

Trang 7

CBQL : Cán bộ quản lý ĐTB : Điểm trung bình GDMN : Giáo dục mầm non

GT : Giao tiếp GTSP : Giao tiếp sư phạm

Trang 8

Bảng 2.2 : Mức độ đánh giá của GVMN về vai trò của KNGTSP 60

Bảng 2.3 : Nhận thức của GV về tầm quan trọng của các KN bộ phận của KNGTSP 61

Bảng 2.4 : Nhận thức của GV về tầm quan trọng của KNGTSP 63

Bảng 2.5 : Tự đánh giá kỹ năng định hướng giao tiếp của GVMN 65

Bảng 2.6 : Thực trạng nhận thức về KNĐH giao tiếp của GVMN 67

Bảng 2.7 : Thực trạng biểu hiện KNĐH giao tiếp của GVMN 68

Bảng 2.8 : Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐH của GVMN 72

Bảng 2.9 : Tự đánh giá KNĐV của GVMN 74

Bảng 2.10 : Thực trạng nhận thức về KNĐV của GVMN 75

Bảng 2.11 : Thực trạng biểu hiện KNĐV của GVMN 77

Bảng 2.12 : Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐV của GVMN 80

Bảng 2.13 : Tự đánh giá KNĐK quá trình giao tiếp của GVMN 82

Bảng 2.14 : Thực trạng nhận thức về KNĐK quá trình GT của GVMN 83

Bảng 2.15 : Thực trạng biểu hiện KNĐK quá trình GT của GVMN 84

Bảng 2.16 : Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐK quá trình GT của GVMN 92

Bảng 2.17 : Đánh giá chung thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ ở Tp Cà Mau 94

Bảng 2.18 : Thực trạng nhận thức vai trò của KNGTSP của GVMN theo thâm niên 95

Bảng 2.19 : Thực trạng nhận thức về các KNGTSP của GVMN theo thâm niên 98

Bảng 2.20 : Thực trạng biểu hiện KNGTSP của GVMN theo thâm niên 99

Bảng 2.21 : Đánh giá chung thực trạng KNGTSP của GVMN theo thâm niên 102

Bảng 2.22 : Những khó khăn GVMN gặp phải trong quá trình GTSP với trẻ 103

Bảng 2.23 : Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP xuất phát từ phía GVMN 106

Bảng 2.24 : Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP xuất phát từ phía nhà trường110 Bảng 2.25 : Mức độ quan tâm đến việc rèn luyện nâng cao KNGTSP cho GV 119

Bảng 2.26 : Ý kiến của GVMN về mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao KNGTSP cho GVMN 120

Bảng 13 : Ý kiến của CBQL về mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao NGTSP cho GVMN 122

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Giao tiếp có vai trò quan trọng trong đời sống con người, là điều kiện tồn tại

của con người, bởi vì con người không thể sống, lao động, học tập…mà không giao

tiếp với người khác Nhờ giao tiếp, mỗi cá nhân tham gia vào các mối quan hệ xã

hội, lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội lịch sử, chuyển hóa thành những kinh nghiệm riêng của cá nhân, thành phẩm chất và năng lực của chính mình để tham gia

vào đời sống xã hội Karx Marx đã khẳng định: “Bản chất con người không phải là

cái gì tr ừu tượng, tồn tại riêng biệt; trong tính hiện thực của nó, bản chất con người

là t ổng hòa các mối quan hệ xã hội” [35,tr.69]

Giao tiếp không chỉ quan trọng đối với cuộc sống con người mà còn ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách nghề nghiệp Đối với nghề dạy học,

GT vừa có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên vừa là một bộ phận cấu thành hoạt động sư phạm, là thành phần chủ đạo trong

cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên Đồng thời GT còn là con đường giúp học sinh hình thành nhân cách, những chuẩn mực đạo đức, tri thức khoa học

… đã đi vào từng học sinh thông qua GT Đặc biệt trong môi trường sư phạm của trường mầm non, GTSP của GVMN có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc hình thành và phát triển xúc cảm, hình thành những phẩm chất nhân cách cho trẻ Bởi vì, đối với trẻ mầm non, cô giáo chính là khuôn mẫu, là chuẩn mực để trẻ bắt chước

Mọi phẩm chất nhân cách của đứa trẻ chỉ được hình thành trong GT với người xung quanh, chính trong quá trình GT trẻ lĩnh hội được những yêu cầu, nguyên tắc, chuẩn

mực đạo đức xã hội về các cách ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xã hội,

biết tự đánh giá mình và đánh giá người khác, cũng như biết tự rèn luyện những

phẩm chất của nhân cách để được mọi người chấp nhận

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân

Điều 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là

giúp tr ẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu

t ố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một” [30] Muốn đạt được

Trang 10

mục tiêu này thì mỗi giáo viên phải nổ lực thực hiện nhiệm vụ của mình, phải chăm

lo rèn luyện, phát triển năng lực sư phạm cho bản thân, bởi vì giáo viên là nhân tố quyết định trực tiếp đến kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục Để có được năng lực

sư phạm người giáo viên cần phải có những kiến thức và KN cần thiết, trong đó KNGTSP là một trong những KN ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của công tác dạy

học và giáo dục Chính vì vậy, đòi hỏi người GVMN phải có KNGTSP phù hợp với yêu cầu giáo dục trẻ

Nghề giáo viên mầm non là một nghề lao động đa năng, hoạt động sư phạm

của GVMN có một sắc thái riêng, khác hẳn so với giáo viên của các bậc học khác là

tạo bước đầu quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách của con người Trong nhân cách của họ vừa có cả những nét của người mẹ vừa có cả những nét của nhà giáo dục, của người nghệ sĩ, người thầy thuốc, người cấp dưỡng,…và người bạn

của trẻ mầm non Đặc điểm quan trọng nhất của lao động sư phạm mầm non là trong suốt quá trình lao động luôn có sự tương tác giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ, giáo viên với giáo viên, giáo viên với phụ huynh… Đối tượng của GVMN chính là trẻ

em, công cụ chủ yếu của lao động sư phạm là nhân cách của giáo viên, sản phẩm

của lao động sư phạm là nhân cách của trẻ mầm non theo mô hình mà xã hội đòi

hỏi Đặc điểm này cho thấy, nhân cách và năng lực giao tiếp sư phạm của người GVMN là những tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá chất lượng giáo viên

Thực tế cho thấy GVMN có KNGTSP tốt sẽ thiết lập được mối quan hệ hợp lý

với từng trẻ, với cả nhóm trẻ, với đồng nghiệp, phụ huynh và với cộng đồng, Mối quan hệ này không chỉ giúp cho giáo viên có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ, mà còn là một trong những điều kiện quan

trọng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục đã đề ra Song bên cạnh đó cũng có không ít giáo viên còn hạn chế về kỹ năng này, đặc biệt là KNGTSP của cô

với trẻ như: cô chưa tạo được mối quan hệ tốt đẹp với trẻ, chưa gần gũi để hiểu được nhu cầu, suy nghĩ, tình cảm, sở thích…của trẻ, hành vi giao tiếp chưa dịu dàng, cởi mở, dễ bực tức, cáu gắt, quát nạt trẻ, thậm chí có những hành động thiếu tôn trọng, xúc phạm đến nhân cách của trẻ, … từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả và chất

Trang 11

lượng của việc tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ Tuy nhiên, để có được KNGT tốt với trẻ là vấn đề đầy khó khăn và thách thức đối với đa số GVMN hiện nay Do đó, việc rèn luyện nâng cao KNGTSP của GVMN với trẻ là vấn đề cần

phải đặc biệt quan tâm, bởi đây là một trong những yêu cầu quan trọng của ngành

học nhằm giúp GVMN nâng cao phẩm chất, năng lực của mình, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của ngành học, đáp ứng được yêu cầu của xã hội đặt

ra

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng kỹ năng

giao ti ếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Thành phố Cà Mau” để

nghiên cứu

2 M ục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ

ở Thành phố Cà Mau Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ

năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non ở Thành phố Cà Mau

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp sư

phạm, đặc điểm hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non, giao tiếp sư phạm trong

hoạt động của giáo viên mầm non

3.2 Khảo sát thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên

mầm non với trẻ ở Thành phố Cà Mau

3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non ở Thành phố Cà Mau

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Tp Cà Mau

4.2 Khách th ể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu chính: 150 giáo viên đang công tác tại một số trường

mầm non trên địa bàn Thành phố Cà Mau

Trang 12

Khách thể nghiên cứu bổ trợ: 20 cán bộ quản lý các trường mầm non ở Thành

phố Cà Mau

5 Gi ả thuyết khoa học

Giáo viên mầm non ở Thành phố Cà Mau đã có kỹ năng giao tiếp sư phạm

với trẻ nhưng thể hiện trong thực tế chỉ đạt mức trung bình do nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng KNGTSP của giáo viên

mầm non với trẻ thì sẽ đưa ra được những biện pháp góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non ở Tp Cà Mau

6 Gi ới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên

mầm non như: kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

- Nghiên cứu KNGTSP của GVMN với trẻ mẫu giáo trong một số hoạt động (đón trẻ, hoạt động ngoài trời, hoạt động chung, hoạt động góc, giờ ăn) tại một số trường mầm non Thành phố Cà Mau

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với sự phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận:

Thu thập các nguồn tài liệu, sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu,…

có liên quan đến đề tài để tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực

tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2.Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp chính của đề tài Sử dụng bảng câu hỏi để tìm hiểu ý kiến

của giáo viên mầm non, cán bộ quản lý các trường mầm non về:

- Nhận thức của GVMN về vai trò của KNGTSP

- Tự đánh giá về KNGTSP của giáo viên mầm non

- Những khó khăn trong quá trình giao tiếp sư phạm của GVMN với trẻ

Trang 13

- Những nguyên nhân ảnh hưởng đến KNGTSP của giáo viên mầm non

- Đề xuất của giáo viên mầm non đối với nhà trường và bản thân trong việc nâng cao KNGTSP cho giáo viên

7.2.2 Phương pháp quan sát

Tiến hành quan sát một số hoạt động của cô và trẻ ở 2 trường mầm non để tìm

hiểu rõ hơn về thực trạng KNGTSP của giáo viên mầm non với trẻ

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn một số GV và CBQL trường mầm non nhằm tìm hiểu thêm về thực trạng KNGTSP của GVMNvới trẻ, đặc biệt là nguyên nhân của thực

trạng và đề xuất các biện pháp cần thực hiện để nâng cao KNGTSP cho GVMN

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng toán thống kê theo chương trình phần mềm vi tính: SPSS for windows 13.0

Trang 14

C hương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP

Đến thời kỳ Phục Hưng (1452 – 1512), Leonardo De Vince, họa sĩ thiên tài người Ý, đã mô tả sự GT mẹ con

Đến thế kỉ 18, nhà triết học Hà Lan M.Phemtecloi đã viết một tiểu luận dưới

nhan đề “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác”, trong

đó có đoạn: “… trái tim và lương tâm trong con người chỉ bộc lộ khi người ấy cùng

sống với người khác” [2]

Đến thế kỉ 19, nhà triết học Đức Phơbach (1804 – 1872) đã viết: “Bản chất người chỉ biểu hiện trong GT, trong sự thống nhất của con người, trong sự thống

nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn” [2]

Đến thế kỉ 20, vấn đề GT ngày càng được các nhà triết học, xã hội học, tâm lý

học quan tâm nhiều hơn Có thể kể đến một vài hướng nghiên cứu sau đây:

- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về GT như bản

chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu GT, mối liên hệ giữa GT và

hoạt động… Hướng nghiên cứu này được thể hiện trong nhiều công trình nghiên

cứu của các nhà TLH Liên Xô (cũ) như: “Về bản chất giao tiếp người” (1973) của Xacopnhin, “Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” (1976) của I.L.Kolominxki, “Tâm lý học giao tiếp” (1978) của A.A.Leonchiev, “Giao tiếp trong tâm lý học” (1981) của K.Platonov, “Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học’ của B.P.Lomov [42,tr.8]

- Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp với nhân cách có công trình “Nhân cách trong cấu trúc giao tiếp sư phạm” (1980) của Pơlotnhicova, “Những trở ngại tâm lý trong giao tiếp giữa các nhân cách” (1985) của Sakanova…[23,tr.14]

Trang 15

- Hướng thứ ba: nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp trong đó có GTSP

là một loại GT nghề nghiệp được nhiều nhà TLH quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến một vài tác giả có những nghiên cứu về giao tiếp sư phạm như A.A.Leonchiev

với “Giao tiếp sư phạm” (1979), A.V.Petropxki với “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý

học sư phạm”, V.A.Krutetxki với “Những cơ sở của tâm lý học sư phạm” (1980), Ph.N.Gonobolin với “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” [42]

- Hướng thứ tư: Nghiên cứu các dạng giao tiếp như KNGT trong quản trị kinh doanh và những bí quyết trong quan hệ giao tiếp có công trình của Allan Pease đã

xuất bản cuốn “Body language” (1988) với bản tiếng Việt là “Cuốn sách hoàn hảo

về ngôn ngữ cơ thể” (Lê Huy Lâm dịch – 2008) đã phân tích KN phát hiện các trạng thái tâm lý thông qua những động tác, cử chỉ, điệu bộ, tư thế… của con người trong

GT, Derak Torrington viết cuốn “Tiếp xúc đối mặt trong quản lý” (1994) đã đi sâu phân tích các hình thức GT thường gặp giữa người quản lý với người bị quản lý qua

đó đòi hỏi người quản lý cần có ngững KNGT nhất định như KN nghe, KN hỏi và

gợi vấn đề, KN truyền đạt…[23], [50]

1.1.2 Ở Việt Nam

1.1.2.1 Nh ững nghiên cứu về giao tiếp

Nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề GT với các khía cạnh khác nhau về bản chất

của GT, vai trò, vị trí của GT trong sự hình thành nhân cách như “Các Mác và phạm trù giao tiếp” (1963) của Đỗ Long, “Giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981), “Giao

tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Bàn về phạm trù giao tiếp” của Bùi Văn Huệ, “Nhập môn khoa học giao tiếp” (2006) của Nguyễn Sinh Huy, Trần

Trọng Thủy [21], [50]

Hiện nay, GT cũng là một nội dung quan trọng được giảng dạy trong các trường Cao đẳng, Đại học… Trong “Giáo trình TLH xã hội – những vấn đề lý luận”

của Mai Thanh Thế, “Đặc điểm giao tiếp sư phạm” (1985) của tác giả Trần Trọng

Thủy, “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn, “Giao

tiếp sư phạm” (1997) của tác giả Hoàng Anh, “Giáo trình giao tiếp sư phạm” (2002)

của Lê Thanh Hùng (Đại học An Giang), “Khoa học giao tiếp” (2002) của Nguyễn

Trang 16

Ngọc Lâm (Đại học mở Tp HCM), “Ứng xử sư phạm” (2006) của Trịnh Trúc Lâm,

… đã đề cập đến khái niệm GT, chức năng, vai trò của GT, phong cách GT, hệ

thống GT,… cũng như nguyên tắc, quy trình ứng xử và các tình huống ứng xử trong GTSP, cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong GTSP Đây là cơ sở quan trọng góp phần giúp cho đề tài hình thành các vấn đề lý luận trong nghiên cứu KNGTSP của GVMN [1], [11], [24], [25]

Bên cạnh đó, một số luận án, luận văn nghiên cứu về GT và các vấn đề liên quan như:

Luận án Tiến sĩ TLH giáo dục “Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi” của Lê Xuân Hồng (1996) đã hệ thống các lý

luận về GT của trẻ, nghiên cứu việc tổ chức chơi và những ảnh hưởng của tác động qua lại giữa trẻ trong nhóm chơi không cùng lứa tuổi ở trường mẫu giáo Những nghiên cứu của đề tài giúp chúng tôi có cơ sở xem xét đặc điểm giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo ở các lứa tuổi khác nhau [18]

Luận án Tiến sĩ “Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp sư phạm” (1997) của Nguyễn Thanh Bình đã khẳng định GTSP là một loại GT nghề nghiệp giữa giáo viên và học sinh cần có sự tiếp xúc tâm lý, xây dựng bầu không khí thuận lợi nhằm

tạo kết quả tối ưu trong hoạt động dạy và hoạt động học Qua đó, cho thấy GTSP có

vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm Đây là vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu vấn đề GT và KNGTSP của GVMN [50]

Luận văn Thạc sĩ TLH “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng sư

phạm An Giang” (1999) của Đỗ Văn Thông, đã khái quát một số vấn đề cơ bản về

lý luận GT, KNGT, GTSP Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng trắc nghiệm

của IP.Dakharov để đo khả năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Cao đẳng

sư phạm An Giang Qua đó, tác giả khẳng định giao tiếp có vai trò quan trọng đối

với sự hình thành và phát triển nhân cách của người giáo viên [48]

Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của sinh viên có kiểu nhân cách hướng nội và hướng ngoại” (1999) của Trần Thị Kim Thoa đã nghiên cứu một

số vấn đề lý luận như khả năng GT, nhu cầu GT, ấn tượng GT…của những sinh

Trang 17

viên có kiểu nhân cách hướng nội và hướng ngoại Đồng thời qua khảo sát thực tế đặc điểm GT của sinh viên sư phạm Yên Bái, tác giả đề xuất một số biện pháp sư

phạm phù hợp với từng loại sinh viên có kiểu nhân cách hướng nội hoặc hướng ngoại nhằm nâng cao khả năng GT cho sinh viên để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai [50]

1.1.2.2 Nh ững nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp

Những năm cuối thế kỉ 20, ở trong nước đã có một số tác giả quan tâm nghiên

cứu vấn đề KNGT trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp Có thể kể đến một số nghiên cứu như:

Trần Trọng Thủy với bài “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp” (1998)

đã phân tích mối quan hệ giữa tình người, văn hóa và giao tiếp GT là phương tiện

thể hiện tình người, là hình thức tác động qua lại của con người trong quá trình sống

và hoạt động cùng nhau… Thông qua GT, bản chất con người được thể hiện, thu

nhận được các tri thức về thế giới, về người khác, về bản thân… Tác giả đã đề cập đến một số KNGT như KN chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen họ, KN bước vào GT với người khác một cách không có định kiến [50,tr.20]

Tác giả Nguyễn Đình Xuân nghiên cứu GT trong quản lý, tác giả đã đề cập đến một số KNGT như KN lựa chọn địa điểm, thời gian tiếp khách, KN làm chủ

cảm xúc của mình trong GT,… [50,tr.21]

Tác giả Nguyễn Văn Đính đề cập đến một số KNGT mà người hướng dẫn viên

cần có khi tiếp xúc với khách du lịch trong “Giáo trình tâm lý và nghệ thuật giao

tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch” (1997) như KN định hướng, KN định vị, KNĐK giao tiếp [50]

Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh, Phạm Ngọc Uyển trong “Tâm lý học quản lý” (1998) đề cập đến vấn đề GT, GTSP và GT quản lý trong đó nêu lên KNGTSP với

cấu trúc bao gồm các thành phần như biết định hướng, hiểu được các dấu hiệu bên ngoài của ngôn ngữ trong GT, biết điều kiển quá trình GT [50]

Bên cạnh đó, các luận án, luận văn nghiên cứu KNGT có thể kể đến như:

Trang 18

Luận án Tiến sĩ TLH “Kỹ năng giao tiếp nghiệp vụ của trinh sát an ninh và phương pháp đánh giá chúng” (2002) của Võ Sĩ Lục Đề tài đã trình bày những KNGT nghiệp vụ cần thiết cho hoạt động nghiệp vụ an ninh theo các nhóm KN định hướng, KN định vị, KNĐK trong GT [50]

Đề tài nghiên cứu khoa học (mã số CS.2000-04) “Tìm hiểu những khó khăn (về mặt kỹ năng) trong giao tiếp của trẻ 4-5 tuổi với bạn cùng độ tuổi và biện pháp

khắc phục” (2002) của tác giả Phan Thị Thu Hiền đã nghiên cứu, tìm hiểu những khó khăn về KNGT của trẻ 4-5 tuổi với bạn cùng độ tuổi Trên cơ sở đó, tác giả đề

xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn trong GT và nâng cao KNGT của trẻ [50]

Luận án Tiến sĩ TLH “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” (1992) của Hoàng Thị Anh đã khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về GTSP và nghiên cứu

thực trạng KNGTSP theo các nhóm như nhóm KN định hướng gồm KN nhận thấy

sự thay đổi trạng thái tâm lý qua nét mặt, ánh mắt, lời nói, KN phán đoán nhanh được ý định, thái độ của đối phương,…; nhóm KN điều khiển bản thân gồm KN

biết chủ động đề xuất GT theo mục đích của mình, KN tự kiềm chế,…; nhóm KN điều khiển đối phương gồm các KN hướng đối tượng theo ý mình để đạt múc đích

GT, KN kích thích hứng thú học tập của học sinh trên lớp,…[3]

Các luận văn Thạc sĩ nghiên cứu KNGTSP của sinh viên như luận văn Thạc sĩ TLH “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo sinh người dân tộc trong trường trung

học sư phạm” (1995) của Lã Thị Thu Hà, “Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên Cao đẳng sư phạm” (1996) của Trịnh Thị Ngọc Thìn, “Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội có nhu cầu giao

tiếp khác nhau” (1997) của Lê Minh Nguyệt, “Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư

phạm của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn” (1999) của Lô Thị Na,

“Nghiên cứu khả năng giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sơn La” (2001) của Lò Mai Thoan, “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng sư

phạm Vĩnh Phúc có nhu cầu giao tiếp ở những mức độ khác nhau” (2001) của Phạm Văn Đại, “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ”

Trang 19

(2010) của Châu Thúy Kiều, đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về GT, GTSP, KNGTSP và nghiên cứu thực trạng KNGT, KNGTSP của sinh viên Cao đẳng sư phạm, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm rèn luyện và nâng cao KNGTSP cho sinh viên Cao đẳng sư phạm [23], [50]

1.1.2.3 Nh ững nghiên cứu về giao tiếp sư phạm ở ngành giáo dục mầm non

Các công trình nghiên cứu về GTSP ở ngành GDMN đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ những năm thập niên 30 Nổi bật nhất về vấn đề này vẫn là các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ như: A.G.Ruzxkaia: “Hành vi của trẻ mầm non trong điều kiện tác động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của người lớn” (Kỹ yếu hội nghị TLH lần thứ 3 Liên Xô – NXB GD 1968), A.V Daporpzet –M.I Lixina: “ Sự phát triển giao tiếp ở trẻ mầm non” (1974), ….các tác giả này đã nói lên được các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non và cách giao tiếp với trẻ

Ở trong nước vấn đề GTSP trong ngành mầm non mới chỉ được chú trọng

những năm gần đây Các tác giả Lê Xuân Hồng và Vũ Thị Ngân biên dịch “Những

vấn đề về giao tiếp sư phạm mầm non” (1994); Ngô Công Hoàn “Giao tiếp và ứng

xử sư phạm (dùng cho giáo viên mầm non)” (1997); Lê Xuân Hồng “Những kỹ

năng sư phạm của giáo viên mầm non” (2000); “Một số vấn đề về giao tiếp và giao

tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên mầm non” (2004); Vũ Mạnh Huỳnh

“Tư vấn ứng xử sư phạm với trẻ ở độ tuổi mẫu giáo” (2006), đã đề cập đến vấn đề

GT, ứng xử, GTSP, KNGTSP, những đặc điểm phát triển nhu cầu GT của trẻ mầm non, đặc điểm GTSP của người lớn với trẻ, những nguyên tắc và phương thức GT, ứng xử giữa cô giáo và trẻ …Đây là cơ sở quan trọng góp phần giúp cho đề tài hình thành các vấn đề lý luận trong nghiên cứu KNGTSP của GVMN [10], [13], [19] Nhìn chung vấn đề KNGT và KNGTSP được quan tâm nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau, với các khách thể và thời điểm nghiên cứu khác nhau đã cho

thấy tầm quan trọng của KNGT trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về KNGTSP của GVMN Do đó, việc nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố Cà Mau là rất cần thiết

Trang 20

1.2 Một số vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm

1.2.1 Kỹ năng

1.2.1.1 Khái ni ệm kỹ năng

Trong lịch sử nghiên cứu các vấn đề về KN, có nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm khác nhau về KN Trong TLH tồn tại hai quan niệm về kỹ năng:

- Quan ni ệm thứ nhất: xem KN là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động hay

hoạt động Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như:

Ph.N.Gônôbôlin (1973) cho rằng: “KN là những phương thức tương đối hoàn

chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo - những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động” [2, tr.95]

V.A.Krutretxki (1980) cho rằng: “KN là các phương thức thực hiện hoạt động

- cái mà con người lĩnh hội được” Tác giả cho rằng: “Trong một số trường hợp thì

KN là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thực hành, con người cần phải áp

dụng và sử dụng chúng vào trong cuộc sống, vào trong thực tiễn Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành KN trở nên được hoàn thiện và trong mối quan

hệ đó và hoạt động của con người cũng trở nên được hoàn hảo hơn trước” [2]

Trong “Tâm lý học lao động” (1978) tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: “KN

là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật của hành động, có kỹ năng” [42, tr.103]

Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng:

“KN là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức

mà có, chúng đòi hỏi có sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý,

cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” [32, tr.90]

Các tác giả này cho rằng, muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải

có tri thức về hành động đó, tức là phải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực

hiện được nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau, tức là ta đã có kỹ năng

Trang 21

hành động

- Quan ni ệm thứ hai: cho rằng KN không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành

động mà còn là một biểu hiện về năng lực của con người Theo quan niệm này, KN

vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, và tính mục đích Đại

diện cho quan điểm này có các tác giả:

N.D.Lêvitôv cho rằng: “KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [2, tr.96]

Tác giả V.V.Bôgxloxki (1973) cho rằng, KN có hai mức độ: KN sơ đẳng và

KN thành thạo KN sơ đẳng ban đầu là những KN hành động - những cái được hình thành trên cơ sở của các tri thức hay là kết quả của sự bắt chước Còn KN thành

thạo được hình thành trên cơ sở của các tri thức và kỹ xảo – những cái được lĩnh hội

từ trước X.I.Kixegof cũng có quan niệm như V.V.Bôxloxki Theo ông thì có hai

loại KN: KN bậc thấp (kỹ năng nguyên sinh) và KN bậc cao (kỹ năng thứ sinh)

“KN nguyên sinh” được hình thành lần đầu tiên qua các hành động đơn giản, nó là

cơ sở để hình thành kỹ xảo Còn “KN thứ sinh” là kỹ năng nảy sinh lần thứ hai sau khi đã có các tri thức và kỹ xảo [2,tr.97]

Các tác giả K.K.Platônôv và G.G.Golubev cho rằng: “KN là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm – những cái đã được lĩnh hội từ trước Hay nói cách khác, KN được hình thành trên cơ sở của các tri thức và các kỹ xảo” [2]

Nhà Tâm lý học người Nga A.V.Barabasicoov (1963) cho rằng: “KN là khả năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình của hoạt động thức tiễn Khả năng này là khả năng tự tạo của con người” [2]

A.V.Petrovxki cho rằng: “KN là cách thức cơ bản để chủ thể được thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Đồng thời,trong Từ điển tiếng Nga thì: KN là khả năng làm

một cái gì đó Khả năng này được hình thành bởi tri thức và kinh nghiệm và khi có

Trang 22

Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng: “KN là năng lực vận dụng có

kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực

hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ KN, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục

và còn phải tập trung chú ý căng thẳng KN được hình thành qua luyện tập” [5] Tác giả Lê Văn Hồng cho rằng: “KN là khả năng vận hành kiến thức (khái

niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [2, tr.97]

Theo tác giả Nguyễn Bá Minh: “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một loạt hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những

kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một

cấp độ tiêu chuẩn xác định” [31, tr.90]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [42, tr.20]

Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, KN vừa là mặt kỹ thuật của hành động hay còn gọi là cách thức thực hiện hành động hay công việc cụ thể nào đó, vừa là

biểu hiện năng lực của con người Cơ sở của KN là tri thức, kinh nghiệm đã có từ trước

KN được hình thành do luyện tập

Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm KN của tác

giả Vũ Dũng trình bày trong từ điển Tâm lý học vì khái niệm này có sự kết hợp của cả hai quan điểm trên

1.2.1.2 Các m ức độ và quá trình hình thành kỹ năng

Mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân chia khác nhau về giai đoạn hình thành

và phát triển KN Nhưng đa phần các tác giả đều phân chia KN thành năm mức độ

Trang 23

từ KN ban đầu đến KN đạt ở mức độ hoàn hảo Theo quan điểm của V.P.Bexpalko,

có năm mức độ sau: [42, tr.106]

- M ức độ 1: Kỹ năng ban đầu

Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng KN nào đó, và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động

nhất định Tuy nhiên, ở mức độ KN ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện được yêu cầu của KN này dưới sự hướng dẫn của người dạy

- M ức độ 2: Kỹ năng mức thấp

Khác với ở mức 1, ở mức độ KN mức thấp, con người có thể tự thực hiện được những thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết Song, ở mức độ

KN này, người học chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình

huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới

- M ức độ 3: Kỹ năng trung bình

Ở mức này, con người tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển của các KN sang tình huống mới còn hạn chế

- M ức độ 4: Kỹ năng cao

Một sự khác biệt thể hiện KN ở mức độ cao là người học đã tự lựa chọn hệ

thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên

cạnh đó, người học đã biết di chuyển KN trong phạm vi nhất định

- M ức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo

Đây là mức độ cao nhất của KN Khi đó, con người nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hanh động khác nhau, biết chon lựa những thao tác, hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì

Theo K.K.Platônôv và G.G.Golubev (1963) thì KN được hình thành và phát triển qua năm giai đoạn với năm hình thức biểu hiện và có cấu trúc tâm lý như sau: [2,tr.116]

Trang 24

- Mức độ 1: Có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai,

dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm

- Mức độ 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ

- Mức độ 3: Có những KN chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ

- Mức độ 4: Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động

- Mức độ 5: Vận dụng sáng tạo những KN trong các tình huống khác nhau Tác giả Hoàng Thị Oanh cho rằng, KN được hình thành theo 4 giai đoạn sau: [37]

- Giai đoạn nhận thức

- Giai đoạn làm thử

- Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành

- Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hoàn thiện

Một số nhà tâm lý học như: Cruchetxki, Levitov, Petropxki, Phạm Minh Hạc,

Trần Quốc Thành… cho rằng, quá trình hình thành KN gồm 3 bước: [34, tr.41]

- Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động

- Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu

- Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đặt ra

Như vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề hình thành KN, song những ý kiến này đều thống nhất là KN được hình thành trong hoạt động Do đó, người GV cần nắm được các giai đoạn hình thành KN để tổ chức và điều khiển hoạt động giáo dục của mình sao cho hình thành được những KN sư phạm là điều cần thiết và quan trọng Các KN sư

phạm của người GV được hình thành và hoàn thiện trong quá trình dạy học và chúng ta hoàn toàn có thể nâng cao mức độ KN cho từng cá nhân thông qua các phương pháp cụ

thể

1.2.2 Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp

1.2.2.1 Khái ni ệm giao tiếp

GT là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp biểu hiện ở nhiều mặt, nhiều cấp độ khác nhau Có nhiều định nghĩa khác nhau về GT Mỗi định nghĩa đều dựa trên một quan điểm riêng Có thể kể đến một số quan điểm:

Trang 25

Ở góc độ tiếp cận nhận thức, K.K.Platonôv cho rằng: “GT là những mối liên

hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người” Và L.X.Vưgotxki cho rằng

“GT là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc” [2],[42]

Dưới góc độ nhân cách, V.N.Miaxixev cho rằng: “GT là một quá trình quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể” A.Ph.Lomov cho rằng: “GT là

mối quan hệ tác động qua lại giữa con người, với tư cách là chủ thể” Theo Ia.L.Kolôminxki: “GT là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con người, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành” [32], [42]

Ở góc độ tiếp cận về chức năng giao tiếp, B.D.Đarưghin: “GT là quá trình tác động lẫn nhau, trao đổi thông tin ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn nhau” [42]

Ở góc độ xem xét GT là một dạng hoạt động, A.N.Lêônchiev cho rằng: “GT là

một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ, bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội của nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn

ngữ” Cùng với quan điểm trên L.P.Bueva xem: “GT không chỉ là một quá trình tinh

thần, mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn ra sự trao đổi hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động” [11, tr.6]

Ở khía cạnh hệ thống, Georgen Thiner cho rằng: “GT là sự truyền đạt thông tin, qua đó các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng tới trạng thái của hệ nhận thông tin” [42, tr.12]

David K.Berlo định nghĩa: “GT của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và

tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ GT

của con người diễn ra ở các mức độ: trong con người, giữa con người với con người

và cộng đồng GT của con người là một quá trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tình chất ngữ cảnh” [42]

Trang 26

Ở Việt Nam, vấn đề GT được nghiên cứu từ những năm 1970 - 1980 và cũng

có nhiều khái niệm khác nhau về GT

Theo từ điển tâm lý học: “GT là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa

cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động GT gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác GT có ba khía cạnh chính là giao lưu, tác động tương hổ và tri giác” [5]

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “GT là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau” [2,tr.166]

Tác giả Trần Tuấn Lộ quan niệm: “GT là hoạt động trong đó người này, do có một nhu cầu nào đó, tiếp cận và tác động vào tâm lý của người kia, để tạo ra được một sự giao lưu tâm lý giữa hai người, nhằm mục đích biết nhau, thông cảm với nhau và đồng ý thực hiện những điều gì đó theo thỏa thuận của cả hai bên để đáp ứng nhu cầu của mỗi bên” [28, tr.165]

Theo tác giả Ngô Công Hoàn: “GT là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp” [32, tr.10]

Các tác giả Nguyễn Thạc và Hoàng Anh thì: “GT là hình thức đặc trưng cho

mối quan hệ giữa con người với con người qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý, được

biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua

lại lẫn nhau” [2]

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: “GT là sự tiếp xúc tâm lý giữa người

và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói khác đi, GT xác lập và

vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [42]

Các tác giả Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc cho rằng: “GT là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong một cộng đồng xã hội Loài động vật không làm thành những xã hội vì chúng không có GT với nhau, như loài ong, loài

Trang 27

kiến” [42, tr.12]

Tác giả Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “GT là sự trao đổi giữa người và người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ Ngày nay, từ này hàm ngụ sự trao đổi ấy thông qua một bộ giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được” [42]

Tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa đưa ra khái niệm: “GT là mối liên hệ và quan hệ giữa người và người trong các nhóm và các tập thể xã hội nhờ đó con người mới có thể thực hiện các hoạt động của mình nhằm cải tiến hiện thực khách quan xung quanh hoặc chính bản thân mình” [42]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích: “GT là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau” [42]

Với tác giả Trần Hiệp: “GT là một trong những dạng thức cơ bản của hoạt động của con người Nó làm tăng cường hay giảm bớt khả năng thích ứng hành vi lẫn nhau trong quá trình tác động qua lại” [42]

Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “GT là quá trình hình thành và phát triển sự tiếp xúc giữa người với người được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược tương tác thống nhất tri giác và tìm hiểu người khác’ hay “GT là sự tác động tương hổ của các chủ thể phát sinh từ nhu cầu hoạt động chung được thực hiện bằng những công cụ quen thuộc và hướng đến những thay đổi có ý nghĩa trong trạng thái, hành vi và cấu trúc ý - cá nhân của đối tác’ [5]

Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “GT là tiếp xúc tâm lý có tính đa chiều và đồng chủ thể giữa người với người được quy định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân GT có chức năng thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, trao đổi thông tin, cảm xúc định hướng và điều chỉnh nhận thức, hành vi của bản thân và của nhau, tri giác lẫn nhau, tạo dựng quan hệ với nhau

và tác động qua lại lẫn nhau” [42]

Trang 28

Qua các khái niệm trên có thể thấy rằng GT là quá trình tác động qua lại, trao đổi thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, nhận biết lẫn nhau giữa hai chủ thể GT GT thường tham gia vào hoạt động thực tiễn của con người, tham gia vào quá trình thực

hiện và kiểm tra hoạt động của con người Đó là quá trình thiết lập mối quan hệ đa chiều giữa một người với một người hoặc với nhiều người, là quá trình mà con người ý thức được mục đích, nội dung và những phương tiện cần thiết để đạt kết

quả khi tiếp xúc với người khác Qua đó, mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình và hòa

nhập vào xã hội trong quá trình GT

Qua xem xét các khái niệm về GT, theo quan điểm của người nghiên cứu,

chúng tôi thống nhất với quan điểm của tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng GT là

s ự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau v ề thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói khác đi, GT xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện

th ực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác

1.2.1.2 K ỹ năng giao tiếp

KNGT tốt là cơ sở cho việc giao tiếp có hiệu quả Để rèn luyện KNGT tốt cần thông qua rèn luyện hiệu quả những KNGT cụ thể Có nhiều quan điểm khác nhau

về KNGT:

Tiếp cận ở khía cạnh KN xã hội, các tác giả Michelson, Sugai, Wood và Kazdin (1983) cho rằng KNGT có thể hiểu đó là KN được hình thành qua giáo dục, rèn luyện bao gồm các hành vi ứng xử thích hợp bằng lời và không lời trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao trong GT với người khác [42] Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “KNGT là năng lực vận dụng có hiệu quả

những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao

tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật để đạt được mục đích đã định trong giao tiếp” Như vậy, KNGT bao gồm các yếu tố như tri thức về quá trình GT,

chủ thể GT, môi trường GT, mục đích GT… sử dụng phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật khác [42,tr,111]

Trang 29

Nhóm tác giả Hoàng anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc cho rằng: “KNGT là

khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm lý bên trong của đối tượng và bản thân của chủ thể GT; là khả năng sử dụng

hợp lý những phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích GT” [2, tr.201]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Lâm: “KNGT là khả năng nhận biết nhanh chóng

những biểu hiện bên ngoài và đoán biết tâm lý bên trong của con người (với tư cách

là đối tượng GT) trong quá trình GT, đồng thời biết sử dụng ngôn ngữ có lời và không lời, biết cách định hướng để điều chỉnh và điều khiển quá trình GT nhằm đạt

mục đích đã định’ [25]

Theo tác giả Huỳnh văn Sơn: “KNGT là khả năng vận dụng hiệu quả các tri

thức và kinh nghiệm về GT, các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ vào trong

những hoàn cảnh khác nhau của quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích GT” [42, tr.112]

Qua nghiên cứu các khái niệm khác nhau về KNGT, chúng tôi thống nhất với

quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng “KNGT là năng lực vận dụng

có hi ệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật để đạt được mục đích đã định trong giao tiếp”

1.2.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm

1.2.3.1 Giao ti ếp sư phạm

1.2.3.1.1 Khái ni ệm giao tiếp sư phạm

GT của con người diễn ra trong các lĩnh vực khác nhau mang sắc thái khác nhau GT diễn ra trong hoạt động sư phạm mang những đặc trưng riêng của hoạt động giáo dục đào tạo con người Hiện nay có rất nhiều quan niệm về GTSP, theo

những xu hướng khác nhau Có thể xét đến hai xu hướng sau đây:

- Xu hướng thứ nhất: Một số tác giả có xu hướng giới hạn phạm vi của GTSP

trong việc truyền thụ tri thức, đồng nhất GTSP với các quá trình thông báo, thông

Trang 30

tin [48]

A.P.Levitov cho rằng: “GTSP là năng lực truyền đạt tri thức cho trẻ bằng cách trình bày rõ ràng, hấp dẫn, ngắn gọn”

F.N.Gonobolin cho rằng: “Năng lực GTSP là năng lực truyền đạt một cách dễ

hiểu để các em nắm được và ghi nhớ tài liệu đó, năng lực thu hút học sinh, truyền nhiệt tình cho các em, cuốn hút và kích thích các em có những cảm xúc thích hợp, năng lực thuyết phục mọi người, có ảnh hưởng giáo dục đối với họ (bằng lời nói,

việc làm, bằng tấm gương của bản thân)”

- Xu hướng thứ hai: Một số tác giả coi GTSP như là một quá trình thể hiện

mối quan hệ liên nhân cách và cụ thể hóa GTSP ở khả năng thuyết phục, khéo léo đối xử nhằm thiết lập các mối quan hệ [48]

T.V.Trakhov quan niệm: “GTSP là năng lực tiếp xúc với học sinh, KN tìm được cách đối xử đúng đắn với trẻ, thiết lập mối quan hệ hợp lý theo quan điểm sư

phạm”

Trong tác phẩm GTSP, A.N.Lêônchiev đã khẳng định: “GTSP là giao tiếp có tính nghề nghiệp của giáo viên với học sinh ở trên lớp và ngoài giờ lên lớp” Nói về giao tiếp sư phạm, E.V.Sukhanôva đã viết: “GT là một phương thức chủ yếu tác động lên các quan hệ của học sinh… GT giữa thầy và trò là một khâu quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách, phát triển tính tích cực nhận thức và tính xã

hội của học sinh trong quá trình hình thành tập thể học sinh” [11]

Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về GTSP, có thể kể đến một

số tác giả như:

Tác giả Ngô Công Hoàn: “GT giữa con người với con người trong hoạt động

sư phạm được gọi là GTSP” Tác giả cho rằng: “GTSP là sự tiếp xúc giữa giáo viên

và học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa học, vốn sống kinh nghiệm, KN kỹ xảo nghề nghiệp, xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện ở học sinh” [11, tr.14]

Tác giả Nguyễn Văn Lê quan niệm: “GTSP là sự tiếp xúc, trao đổi giữa giáo viên và học sinh, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thực

Trang 31

hiện các nhiệm vụ giảng dạy - giáo dục có hiệu quả” [26, tr.59]

Theo tác giả Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị: “GTSP là những nguyên tắc,

những biện pháp và kỹ xảo tác động lẫn nhau giữa nhà giáo dục với người học mà

nội dung của nó là trao đổi thông tin, chỉ ra các tác động giáo dục - học tập, tổ chức

mối quan hệ lẫn nhau và cũng là “truyền lại” nhân cách nhà giáo dục cho người học Quá trình đó diễn ra nhờ vào việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn

ngữ” [45, tr.188]

Tác giả Hồ Lam Hồng cho rằng: “GTSP là GT có tính nghề nghiệp giữa giáo viên với học sinh trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáo dục, có chức năng

sư phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng bầu không khí tâm lý thuận

lợi cùng các quá trình tâm lý khác (chú ý, tư duy…) tạo ra kết quả tối đa của quan

hệ thầy trò trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy học” [14]

Tác giả Lê Xuân Hồng quan niệm: ‘GTSP diễn ra như điều kiện của hoạt động

sư phạm Đó là sự tiếp xúc, trao đổi giữa người dạy và người học, bằng các phương

tiện GT ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục

có hiệu quả” [13, tr.23]

Như vậy, GTSP là GT mang tính nghề nghiệp giữa giáo viên với học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, trong đó giáo viên là chủ thể GT với tư cách là người tổ chức các quá trình giao tiếp, người đặt mục đích và xác định nội dung GT; còn học sinh là đối tượng GT

Từ các quan niệm trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi chọn khái niệm GTSP của tác giả Ngô Công Hoàn: “GTSP là sự tiếp xúc giữa giáo viên

và h ọc sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa học, vốn sống kinh nghi ệm, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện

ở học sinh”

1.2.3.1.2 Đặc điểm của giao tiếp sư phạm

Theo tác giả Ngô Công Hoàn, GTSP có một số đặc trưng sau: [11, tr.21]

- Trong GTSP, giáo viên không chỉ tiếp xúc với học sinh qua nội dung bài

giảng và tri thức khoa học, mà còn là tấm gương mẫu mực về nhân cách cho học

Trang 32

sinh noi theo, đúng với yêu cầu của xã hội quy định Nghĩa là, ở thầy giáo thì bao

giờ cũng có sự thống nhất giữa lời nói, việc làm với hành vi ứng xử Vì thế, nhân cách của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách

của học sinh

- Trong GTSP, giáo viên dùng các biện pháp giáo dục tình cảm để thuyết

phục, vận động… đối với học sinh, không được dùng những biện pháp, hành vi xâm

phạm thân thể và danh dự của học sinh Giáo viên phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm giảng dạy, giáo dục và quản lý trường lớp, gương mẫu trong mọi hoạt động ở nhà trường, trong đời sống xã hội Trong GTSP, giáo viên phải biết khéo léo ứng xử

sư phạm, phải luôn quan tâm gần gũi để hiểu biết tâm lý của học sinh, dự đoán trước được những phản ứng có thể xảy ra ở học sinh để có biện pháp giáo dục thích

hợp

- Trong GTSP, người giáo viên được nhà nước, xã hội, nhân dân tôn trọng Theo tác giả Nguyễn Văn Lê, GTSP có đặc trưng sau: [26]

- GTSP là thành phần cấu trúc cơ bản của các phương pháp giảng dạy, giáo

dục Mọi yêu cầu về cải tiến phương pháp giảng dạy, giáo dục sẽ kéo theo sự cải

tiến các phương pháp GTSP

- Trong GTSP, cần phát huy tính tích cực của học sinh, để trò tự đào tạo và trở thành một chủ thể thực sự cuả GTSP, thông qua đó mà lĩnh hội tốt các tri thức, KN

- GTSP là thực hiện những nguyên tắc, biện pháp và kỹ xảo tác động lẫn nhau

giữa giáo viên và tập thể học sinh mà nội dung là trao đổi thông tin, là tác động về giáo dục và giảng dạy để xây dựng hệ thống tri thức, KN, kỹ xảo, để phát triển nhân cách học sinh

- GTSP (giữa GV và HS) là một hệ thống phức tạp và là quá trình sáng tạo trong việc tổ chức các mối quan hệ thầy - trò, tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục

- đào tạo

- GTSP được thực hiện trên ba quy mô: quy mô một thầy một trò, quy mô thầy

và một nhóm học sinh, quy mô thầy với toàn lớp học

Trang 33

Từ những đặc điểm trên, chúng ta thấy rằng, nếu không có GTSP thì hoạt động sư phạm sẽ không còn ý nghĩa Bởi vì, hoạt động sư phạm trong nhà trường

chủ yếu là sự GT giữa GV và HS, trong đó GV là chủ thể GT còn HS là người lĩnh

hội tri thức, KN, kỹ xảo do GV truyền đạt, đồng thời HS cũng là chủ thể của quá trình GT Và trong quá trình GT, nhân cách của học sinh được hình thành và phát triển

1.2.3.1.3 Các giai đoạn giao tiếp sư phạm

GTSP là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thực hiện những

chức năng khác nhau Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô: A.Abôđalov, V.A.Cancalic, N.V.Cudơmina, A.N.Lêonchiev thì giao tiếp có thể chia thành một số giai đoạn sau: [1, tr.15]

* Giai đoạn định hướng trước khi thực hiện giao tiếp

* Giai đoạn mở đầu của quá trình giao tiếp

* Giai đoạn điều chỉnh, điều khiển và phát triển quá trình giao tiếp

* Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp

Các tác giả Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh xem quá trình GTSP có 3 giai đoạn: [11, tr.41]

* Giai đoạn 1: Mở đầu quá trình giao tiếp sư phạm

* Giai đoạn 2: Diễn biến quá trình giao tiếp sư phạm

* Giai đoạn 3: Kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm

Theo tác giả Nguyễn Bá Minh, quá trình GTSP gồm 3 giai đoạn: [32, tr.82]

* Giai đoạn 1: Lập kế hoạch giao tiếp

* Giai đoạn 2: Triển khai cuộc giao tiếp sư phạm

* Giai đoạn 3: Kết thúc – đánh giá quá trình giao tiếp sư phạm

Qua tham khảo một số tài liệu, ý kiến của các tác giả về các giai đoạn GTSP Chúng tôi thống nhất cách phân chia các giai đoạn GTSP của tác giả Lê Xuân

Hồng, gồm 4 giai đoạn như sau: [13,tr.23]

* Giai đoạn 1: Giai đoạn định hướng trước khi giao tiếp

Ở giai đoạn này người giáo viên phải xác định mục đích và nhiệm vụ giáo dục,

phải nắm vững các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, các đặc điểm nhân cách của

Trang 34

chính bản thân mình Trên cơ sở đó lựa chọn và chuẩn bị các phương pháp và phương tiện GT thích hợp để xử lý những tình huống sư phạm diễn ra thường xuyên hay đột xuất nhằm tác động có hiệu quả đến công tác giảng dạy và giáo dục

* Giai đoạn 2: Giai đoạn mở đầu quá trình giao tiếp

Ở giai đoạn này giáo viên cần gây ấn tượng ban đầu tốt đẹp với học sinh Tổ

chức nhóm lớp tạo điều kiện thuận lợi cho GTSP: Trang trí lớp học đẹp, thoáng, sáng, phù hợp với độ tuổi học sinh, thái độ của giáo viên gần gũi, cới mở, chân thành nhưng nghiêm túc

* Giai đoạn 3: Giai đoạn triển khai quá trình GT thông qua việc tổ chức các

ho ạt động giảng dạy và giáo dục

Ở giai đoạn này, lời nói của GV phải rõ ràng, rành mạch, ngắn gọn, dễ hiểu Thái độ dứt khoát, luôn khẳng định những cái đúng của từng học sinh, của nhóm,

lớp, nhận xét cụ thể và tế nhị về thiếu sót của học sinh nhằm giúp cho các em điều

chỉnh, tránh áp đặt, chụp mũ Yêu cầu khen ngợi và trách phạt trên nền tảng tình yêu thương học sinh thật sự qua lời nói, cở chỉ và điệu bộ… sẽ tạo ra hiệu quả cao trong giảng dạy và giáo dục Tạo bầu không khí dân chủ trong khuôn khổ kỉ luật

của lớp học giúp học sinh mạnh dạn GT, trao đổi với GV Tạo hứng thú học tập.Từ

đó giúp HS chủ động, sáng tạo trong lĩnh hội tri thức và rèn luyện KN

* Giai đoạn 4: Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp

Giáo viên phân tích hệ thống GT đã được thực hiện để rút kinh nghiệm và xây

dựng mô hình GT cho hoạt động tiếp theo

Sự phân chia các giai đoạn GTSP ở trên chỉ mang tính chất tương đối, các giai đoạn của quá trình GTSP không tồn tại độc lập mà chúng có quan hệ mật thiết với nhau, giai đoạn trước sẽ là cơ sở cho giai đoạn sau Trong mỗi giai đoạn cần phải có

một số KNGT nhất định Vì vậy, muốn GTSP đạt kết quả thì việc hiểu mục đích,

nội dung, phương tiện GT vẫn chưa đủ mà còn cần phải có được kỹ năng và thủ thuật GT

1.2.3.1.4 Các phương tiện giao tiếp sư phạm

Phương tiện GTSP có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng

của quá trình GTSP Bởi vì cho dù tri thức của người giáo viên có uyên thâm đến

Trang 35

đâu mà khả năng sử dụng phương tiện GT kém thì việc chuyển tải tri thức và KN sẽ không đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học Trong các phương tiện GTSP thì phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong quá trình

dạy học và giáo dục

Phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp sư phạm

Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu (âm thanh hoặc chữ viết) dưới dạng từ ngữ chứa đựng ý nghĩa nhất định (tượng trưng cho sự vật, hiện tượng cũng như thuộc tính và các mối quan hệ của chúng) được con người quy ước và sử dụng trong quá trình

GT Hay nói cách khác, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu dùng để tư duy và GT xã hội

Trong GTSP phương tiện ngôn ngữ giữ một vị trí hàng đầu, giáo viên thường sử

dụng hai loại ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết [11], [50]

- Ngôn ngữ nói: là phương tiện được sử dụng nhiều nhất, hiệu quả nhất trong quá trình GTSP, đặc biệt trên lớp học Ngôn ngữ nói là phương tiện để mã hoá các thông tin (những suy nghĩ, tri thức…) trong đầu con người (GV, người học) khi chuyển tải ra ngoài bằng lời Trong dạy học, những thông tin từ GV sẽ giúp cho HS

hiểu đúng ý tưởng của GV, nội dung khoa học, thực hiện chính xác các yêu cầu của

GV, lưu trữ các thông tin từ GV, GT giữa người học với nhau Ngôn ngữ nói có hai hình thức: ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại

+ Ngôn ngữ độc thoại: là hình thức nói của một người, nhưng người khác chỉ nghe, đó là hình thức GV giảng bài cho HS nghe Để GTSP trên lớp có hiệu quả, ngôn ngữ nói độc thoại của GV cần đạt được những yêu cầu sau:

• Cách diễn đạt dễ hiểu, mạch lạc, rõ ràng, chuẩn xác về tiếng Việt

• Giàu hình ảnh, diễn cảm, dễ nhớ, hấp dẫn

• Nội dung lời giảng súc tích, có nhiều thông tin hữu ích

• Đảm bảo tính khoa học, hợp lý, hệ thống và tính thuyết phục cao

• Kiến thức mới, khái niệm mới cần đươc liên hệ gần gũi với hiện thực cuộc

sống của HS

Trang 36

• Phải có kỹ năng làm chủ lời nói của mình KN này thể hiện qua: Cách diễn đạt ngôn ngữ, ngữ điệu, giọng nói, cách dùng từ, sự nắm vững nội dung bài giảng

một cách sâu sắc, biết kích thích sự chú ý, hoạt động trí tuệ và tình cảm ở HS

+ Ngôn ngữ đối thoại: là hình thức thầy cô hỏi, học sinh trả lời hoặc ngược lại

Để GTSP trên lớp có hiệu quả, ngôn ngữ nói độc thoại của GV cần đạt được những yêu cầu sau:

• Câu hỏi và trả lời phải ngắn, gọn, dễ hiểu, có nội dung rõ ràng

• Nằm trong văn cảnh, hoàn cảnh cụ thể

• Có nội dung cụ thể

• Rút gọn, khái quát cao

+ Ngôn ngữ viết: Đối với người GV, KN này cũng hết sức cần, chủ yếu thể

hiện ở soạn giáo án và viết bảng Ngôn ngữ viết không những có yêu cầu như ngôn

ngữ nói để thể hiện trong các giáo án mà còn có yêu cầu về khả năng lựa chọn từ

ngữ để viết tóm tắt những nội dung giảng bài lên bảng; chữ viết phải rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu, đúng ngữ pháp tiếng Việt, lời văn phải trong sáng, mạch lạc, chính xác

và rõ ý, rõ nghĩa

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ

Phương tiện GT phi ngôn ngữ còn gọi là ngôn ngữ không lời được sử dụng để

biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, tình cảm, thái độ,… của chủ thể GT (GV) Các phương tiện GT phi ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình GTSP như hành vi, cử

chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười, tư thế, dáng đi, trang phục…

thẳng, bực tức thường tạo ra bầu không khí tâm lý nặng nề cho HS

Trang 37

Ánh mắt là phương tiện chuyển tải tâm trạng, trạng thái xúc cảm, tình cảm của con người, là nơi tiếp nhận các thông tin từ môi trường bên ngoài Qua ánh mắt cho

ta thấy biểu hiện của chủ thể và đối tượng GT như nhu cầu, mong muốn, sự đồng ý hay không đồng ý, thích hay ghét, hiểu bài hay không hiểu bài, …qua đó điều chỉnh hành vi, thái độ của hai bên Ánh mắt còn thể hiện nét tính cách của con người; tần

số nhìn vào mắt HS của GV ít hoặc nhiều cũng thể hiện sự quan tâm của GV đối

với HS Trong GTSP, ánh mắt dịu hiền, trìu mến, tự tin của GV thường đem lại nhiều thành công trong công việc

Nụ cười là phương tiện thể hiện xúc cảm, tình cảm của con người Nụ cười

biểu lộ một phần tâm trạng, tính cách của con người Để diễn giải đúng ý nghĩa của

nụ cười cần kết hợp quan sát cả đôi mắt và khóe miệng của người đang cười

- Điệu bộ, cử chỉ, tư thế, dáng đi, đứng

Điệu bộ, cử chỉ là sự phối hợp vận động của các cơ ở đầu, cổ, mặt, tay, chân, thân mình, được con người dùng để biểu lộ cảm xúc và thái độ Điệu bộ, cử chỉ thường được dùng để minh họa, nhấn mạnh, bổ sung cho những gì đang nói thậm chí có thể thay thế cho lời nói thông qua các dấu hiệu của điệu bộ, cử chỉ Mỗi điệu

bộ, cử chỉ là một trạng thái xúc cảm, một tín hiệu GTSP của GV đối với HS Ví dụ

lắc đầu là không đồng ý, gật đầu là tán thành, mi mắt mở to thể hiện sự ngạc nhiên,

sợ hãi, dáng đi đứng thể hiện sự tự tin, hối hả, hay bình thản … Tuy nhiên, cần chú

ý trong nhiều trường hợp cử chỉ có thể là thói quen của cá nhân Vì vậy, đối với

GV, các cử chỉ, điệu bộ cần mang ý nghĩa giáo dục đối với HS; đó là việc thể hiện qua nhịp điệu hài hòa, hợp lý, cường độ và tốc độ của cử chỉ, điệu bộ phù hợp với tình huống, hoàn cảnh và đối tượng GT cụ thể Điệu bộ, cử chỉ của GV dù vận động như thế nào cũng cần giữ được một thái độ thiện cảm với HS, với thiện ý tốt, luôn luôn đứng về vị trí của HS mà đồng cảm với trình độ nhận thức của các em

Tư thế là sự vận động của toàn thân hướng theo một chủ đích nào đó Tư thế là

yếu tố quan trọng trong GT Tư thế của con người tác động vào nhận thức cảm tính,

vì thế trong quan hệ thầy - trò (quan hệ trên - dưới), GV cần thể hiện tư thế mẫu

mực của mình để HS noi theo, GV cần rèn luyện tư thế sao cho đĩnh đạc, đường

Trang 38

hoàng, ung dung, thư thái, tự tin… để xây dựng cho HS những phản ứng, hành vi,

tư thế đáp lại tương tự Khi đã trở thành thói quen, chúng sẽ là những nét tính cách đẹp của nhân cách các em

- Hành vi là sự phối hợp vận động của toàn bộ các bộ phận, giác quan, tư

thế… của cơ thể, hướng vào một đối tượng nhất định Hành vi GTSP thể hiện ở thái

độ, nhận thức của GV đối với HS và ngược lại Hành vi trong GTSP là thứ “ngôn

ngữ đặc biệt”, ngôn ngữ của thái độ cá nhân, của thế giới nội tâm, đôi khi nó không

chịu sự kiểm soát của ý thức, vì vậy đôi khi nhìn vào hành vi người ta hiểu nhau hơn là qua ngôn ngữ nói Hành vi trong GTSP biểu hiện rõ rệt, sâu sắc, mờ nhạt

hoặc hời hợt… tùy thuộc vào mức độ quan hệ giữa GV và HS Hành vi GTSP của

GV hướng vào mục tiêu giáo dục của bậc học, xây dựng đạo đức, phát triển trí tuệ,

thể lực và năng lực thẩm mỹ của HS Sự tinh tế trong GTSP thể hiện ở hành vi tiếp xúc giữa GV với HS Hành vi GTSP mang rất nhiều thông tin, thực hiện nhiều chức năng, nhưng dù trong bất kì trường hợp nào GV cũng phải xuất phát từ lòng yêu thương, nhân hậu đối với HS

- Trang phục bổ sung cho diện mạo con người gồm sự phối hợp kiểu quần áo, màu sắc vải, vật trang điểm Trang phục trong GTSP là một phần của định hướng

GT, góp phần cho GTSP thành công Do đó, trang phục của GV cần đúng kiểu cách (gọn gàng, sạch sẽ, lịch sự, văn minh), màu sắc trang nhã, hài hòa, tạo thiện cảm cho HS, được các em noi theo và học tập

Bên cạnh đó, các đồ dùng, vật dụng được GV sử dụng trong GTSP như sơ đồ, tranh ảnh,… cũng có ý nghĩa GT về mặt tâm lý Do đó, cần sử dụng các phương

tiện này đúng lúc, đúng chỗ, nhằm minh họa, chứng minh cho bài giảng lúc cần thiết

1.2.3.1.5 Các nguyên t ắc giao tiếp sư phạm

Nguyên tắc GTSP được hiểu là hệ thống những quan điểm nhận thức có tính

chất chỉ đạo, định hướng hệ thống thái độ, hành vi ứng xử của GV đối với HS và ngược lại GTSP gồm những nguyên tắc cơ bản sau: [11]

Trang 39

* Nhân cách m ẫu mực trong GTSP

Dạy học là một nghề đặc biệt, sản phẩm lao động của người GV là những nhân cách phát triển toàn diện ở thế hệ trẻ Công cụ lao động quan trọng tạo nên

sản phẩm ấy lại chính là nhân cách của người GV Đó là những phẩm chất chính trị,

ý thức nghề nghiệp, lòng yêu nghề, mến trẻ, năng lực chuyên môn, KNGT…Người

GV trực tiếp dùng nhân cách của mình để tác động đến HS

Đối với xã hội, nhà trường là trung tâm văn hóa, mỗi GV là đại diện, là điểm sáng của nền văn hóa Không những thế nhân cách mẫu mực còn là yếu tố tạo nên

uy tín của người GV, đảm bảo sự thành công trong GTSP Với những đặc trưng nghề nghiệp của mình đòi hỏi mỗi GV phải thường xuyên tự rèn luyện mình, trong quan hệ GT với HS phải đảm bảo tính mô phạm Nghĩa là nhân cách của người GV luôn luôn phải mẫu mực, có sự thống nhất giữa lời nói và hành động Thể hiện:

- Ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, điệu bộ, trang phục của GV thể hiện sự chuẩn

mực, làm gương sáng cho HS noi theo ở mọi lúc, mọi nơi

- Lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau

- Để thể hiện được tính mô phạm trong GT mỗi GV phải ý thức rõ được vị trí, trách nhiệm của mình trong nghề nghiệp, tích cực phấn đấu toàn diện về chuyên môn và lối sống, luôn làm chủ được bản thân mình

* Tôn tr ọng nhân cách học sinh trong GTSP

- Trong GTSP cần tôn trọng nhân cách HS, phải coi HS là một cá nhân, một con người và đầy đủ các quyền được vui chơi, học tập, nhận thức… với những đặc điểm tâm lý riêng, bình đẳng với mọi người trong các quan hệ xã hội Học sinh đang hình thành và phát triển nhân cách, các em là chủ thể hoạt động tích cực, có đặc điểm nhận thức, thái độ và kiểu hành vi ứng xử riêng (chịu ảnh hưởng của giáo

dục gia đình) GV không nên áp đặt, ép buộc thái quá các em phải tuân theo ý kiến

thầy cô một cách máy móc, duy ý chí, mà phải gây được ấn tượng ban đầu tốt đẹp

với HS Phải biết đặt vị trí của mình vào vị trí của HS để tạo ra sự thông cảm, hiểu

biết và tôn trọng lẫn nhau

- Người giáo viên biết tôn trọng nhân cách HS thường có biểu hiện:

Trang 40

+ Biết lắng nghe HS nói chuyện, trình bày diễn đạt ý muốn, nhu cầu nguyện

vọng của mình… và cố gắng đáp ứng những nhu cầu chính đáng của học sinh + Biết thể hiện các phản ứng biểu cảm của mình một cách chân thành, trung

thực khi tiếp xúc với các em, với mục đích khích lệ hoặc uốn nắn một cách rõ ràng + Tôn trọng nhân cách của các em, thể hiện rõ nhất qua hành vi, ngôn ngữ Bất

luận trong trường hợp nào, cũng không nên dùng những từ, câu xúc phạm đến nhân cách các em

+ Hành vi, cử chỉ, điệu bộ là phương tiện GT phi ngôn ngữ cần giữ ở trạng thái cân bằng, cần tránh những biểu hiện hành vi bột phát khi tiếp xúc với các em + Trang phục gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách của giáo viên Sự tôn trọng nhân cách HS cũng chính là sự tôn trọng nhân cách và nghề nghiệp của mình

* Có thi ện ý trong giao tiếp sư phạm

Nền tảng đạo đức là lòng thiện, tính thiện Bản chất cái thiện trong GTSP là dành những điều kiện thuận lợi, dành những tình cảm tốt đẹp cho HS, khuyến khích các em học tập tốt, chăm học chăm làm, đem lại niềm vui cho các em Do vậy

những biểu hiện của tính thiện, lòng thiện của giáo viên trong GTSP thể hiện rất phong phú và sinh động

- Thiện ý của GV thể hiện ở thái độ, trách nhiệm đối với công việc

- Thiện ý của GV thể hiện qua việc thầy cô luôn đặt quyền lợi của HS lên trên

hết, luôn dốc lòng đem tài năng, trí lực phục vụ cho việc giảng dạy HS

- Thiện ý của GV thể hiện rõ nét nhất trong sự đánh giá, nhận xét HS một cách công bằng, khách quan, khích lệ các em học tốt hơn Không được định kiến với HS

- Thiện ý của GV thể hiện ở cách xử sự, phân xử của thầy cô trước những tình

huống mà thầy cô cần tham gia giải quyết Trong mọi việc, GV cần xét đoán công

bằng, khách quan và tế nhị để các em có khuyết điểm nhận ra sai lầm của mình mà không bị xấu hổ trước bạn bè, trường lớp Thiện tâm của GV sẽ tạo cho HS sự tin

cậy ở thầy cô và lòng mong muốn phấn đấu để ngày càng tiến bộ

* Đồng cảm trong giao tiếp

J.J Rutxo (Pháp) từ thế kỷ XVIII đã khẳng định: “Trẻ em là trẻ em, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ Trẻ em có cách suy nghĩ riêng không giống với

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Anh (Ch ủ biên), Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc (2007), Ho ạt động -Giao ti ếp – Nhân cách, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động -Giao tiếp – Nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh (Ch ủ biên), Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
3. Hoàng Th ị Anh (1992), K ỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên , Lu ận án Tiến sĩ Tâm lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên
Tác giả: Hoàng Th ị Anh
Năm: 1992
4. Vũ Cao Đàm, (2011), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học , NXB giáo d ục Việt Nam 5. Vũ Dũng (2000), Từ điển tâm lý học, NXB Khoa h ọc xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học", NXB giáo dục Việt Nam 5. Vũ Dũng (2000), "Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Cao Đàm, (2011), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học , NXB giáo d ục Việt Nam 5. Vũ Dũng
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam 5. Vũ Dũng (2000)
Năm: 2000
6. Adele Faber, Elaine Mazlish, Nhân Văn dịch (2006), Ngh ệ thuật giao tiếp với trẻ thơ , NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật giao tiếp với trẻ thơ
Tác giả: Adele Faber, Elaine Mazlish, Nhân Văn dịch
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2006
7. Carol Kinsey Goman (2012), Đặng Thanh Thảo, Minh Tươi dịch, S ức mạnh của ngôn ng ữ không lời , NXB T ổng hợp Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh của ngôn ngữ không lời
Tác giả: Carol Kinsey Goman
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp. HCM
Năm: 2012
8. Ph ạm Minh Hạc (2002), Ho ạt động giao tiếp và chất lượng giáo dục , NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp và chất lượng giáo dục
Tác giả: Ph ạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
9. Nguy ễn Thi Bích Hạnh (2009), C ẩm nang nghiệp vụ quản lý Giáo dục mầm non , NXB Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiệp vụ quản lý Giáo dục mầm non
Tác giả: Nguy ễn Thi Bích Hạnh
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
10. Ngô Công Hoàn (1997), Giao ti ếp và ứng xử sư phạm (dùng cho giáo viên mầm non), NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp và ứng xử sư phạm (dùng cho giáo viên mầm non)
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
11. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh (2002), Giao ti ếp sư phạm , NXB Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp sư phạm
Tác giả: Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002
12. H ội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam (2009) Văn hóa học đường - Lý luận và th ực tiễn , K ỉ yếu Hội thảo Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học đường - Lý luận và thực tiễn
13. Lê Xuân H ồng (2004), M ột số vấn đề về giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong ho ạt động của giáo viên mầm non , NXB Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên mầm non
Tác giả: Lê Xuân H ồng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2004
14. H ồ Lam Hồng (2008), Ngh ề giáo viên mầm non , Giáo trình, NXB Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề giáo viên mầm non
Tác giả: H ồ Lam Hồng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2008
15. Lê Xuân H ồng (Chủ biên) (2000), C ẩm nang dành cho giáo viên trường mầm non, NXB Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang dành cho giáo viên trường mầm non
Tác giả: Lê Xuân H ồng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2000
17. Lê Xuân H ồng (1995), Giao ti ếp - Con đường giúp trẻ hình thành nhân cách , T ạp chí nghiên cứu giáo duc, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp - Con đường giúp trẻ hình thành nhân cách
Tác giả: Lê Xuân H ồng
Năm: 1995
18. Lê Xuân H ồng (1996), Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi, Lu ận án Tiến sĩ tâm lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi
Tác giả: Lê Xuân H ồng
Năm: 1996
19. Lê Xuân H ồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai (2000), Những kỹ năng sư phạm mẩm non, NXB Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỹ năng sư phạm mẩm non
Tác giả: Lê Xuân H ồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
23. Châu Thúy Ki ều (2010), K ỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm Trường Cao đẳng Cần Thơ , Lu ận văn Thạc sĩ Tâm lý, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm Trường Cao đẳng Cần Thơ
Tác giả: Châu Thúy Ki ều
Năm: 2010
24. Tr ịnh Trúc Lâm (2005), Ứng xử sư phạm, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử sư phạm
Tác giả: Tr ịnh Trúc Lâm
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
25. Nguy ễn Ngọc Lâm (1998), Khoa h ọc giao tiếp, NXB Đại học mở Tp. H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học giao tiếp
Tác giả: Nguy ễn Ngọc Lâm
Nhà XB: NXB Đại học mở Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1998
26. Nguy ễn Văn Lê (2006), Giao ti ếp sư phạm, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp sư phạm
Tác giả: Nguy ễn Văn Lê
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đặc điểm nhóm khách thể nghiên cứu - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.1 Đặc điểm nhóm khách thể nghiên cứu (Trang 63)
Bảng 2.3: Nhận thức của GV về tầm quan trọng của các KN bộ phận của KNGTSP - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.3 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của các KN bộ phận của KNGTSP (Trang 69)
Bảng 2.5: Tự đánh giá kỹ năng định hướng giao tiếp của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.5 Tự đánh giá kỹ năng định hướng giao tiếp của GVMN (Trang 73)
Bảng 2.6: Thực trạng nhận thức về KNĐH giao tiếp của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức về KNĐH giao tiếp của GVMN (Trang 75)
Bảng 2.8: Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐH của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.8 Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐH của GVMN (Trang 80)
Bảng 2.9: Tự đánh giá KNĐV của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.9 Tự đánh giá KNĐV của GVMN (Trang 82)
Bảng 2.10 : Thực trạng nhận thức về KNĐV của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.10 Thực trạng nhận thức về KNĐV của GVMN (Trang 83)
Bảng 2.11: Thực trạng biểu hiện KNĐV của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.11 Thực trạng biểu hiện KNĐV của GVMN (Trang 85)
Bảng 2.12: Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐV của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.12 Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐV của GVMN (Trang 88)
Bảng 2.14: Thực trạng nhận thức về KNĐK quá trình GT của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.14 Thực trạng nhận thức về KNĐK quá trình GT của GVMN (Trang 91)
Bảng 2.16: Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐK quá trình GT của GVMN - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.16 Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐK quá trình GT của GVMN (Trang 100)
Bảng 2.17: Đánh giá chung thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ ở Tp Cà Mau - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.17 Đánh giá chung thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ ở Tp Cà Mau (Trang 102)
Bảng 2.24: Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP xuất phát từ phía nhà trường - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.24 Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP xuất phát từ phía nhà trường (Trang 118)
Bảng 2.25: Mức độ quan tâm đến việc rèn luyện nâng cao KNGTSP cho GV - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 2.25 Mức độ quan tâm đến việc rèn luyện nâng cao KNGTSP cho GV (Trang 127)
Bảng 13 : Ý kiến của CBQL về mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao - thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thành phố cà mau
Bảng 13 Ý kiến của CBQL về mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w