Nhờ sự phát triển của CNTT ứng dụng vào quá trình dạy học, sử dụng các video ghi lại các quá trình Vật lí bằng các chức năng quay nhanh, chậm, làm dừng hình và có thể xem nhiều lần nhờ m
Trang 1LÍ LỚP 10 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2
LÍ LỚP 10 NÂNG CAO
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lí
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và các em học sinh
Bằng tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban giám hiệu trường ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để học
viên hoàn thành khóa học
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:
TS Phạm Thế Dân, thầy đã hướng dẫn tận tình, động viên và theo dõi sát sao với tinh thần trách nhiệm cùng lòng thương mến trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này
TS Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng khoa Vật lý trường ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh Cảm ơn thầy đã dành rất nhiều thời gian, công sức và những lời chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình làm luận văn
Quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các em học sinh tại trường
THPT chuyên Trần Hưng Đạo, Tp.Phan Thiết đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, xin cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn
bè, đó là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành tốt luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc hẳn không tránh khỏi những thiếu sót, mong các thầy cô cùng các bạn ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn
Tp Hồ Chí Minh, năm 2012
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG E-BOOK ĐỂ HỖ TRỢ QUÁ TRÌNH DẠY – TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Định hướng đổi mới về phương pháp dạy học vật lí ở trường THPT hiện nay 8
1.3 Cơ sở lý luận của dạy – tự học 11
1.4 Thiết kế và sử dụng e-book hỗ trợ quá trình dạy - tự học trong dạy học vật lí 18
1.5 Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng e-book trong dạy học vật lý ở trường THPT hiện nay 32
1.6 Kết luận của chương 1 35
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ E-BOOK VÀ XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY – TỰ HỌC CHƯƠNG CHẤT KHÍ – VẬT LÍ LỚP 10 NÂNG CAO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-BOOK 36
2.1 Phân tích nội dung chương “Chất khí” - Vật lí lớp 10 nâng cao 36
2.2 Thiết kế e-book hỗ trợ quá trình dạy - tự học chương “Chất khí” – Vật lí 10 nâng cao 41
2.3 Xây dựng tiến trình dạy – tự học chương “Chất khí” - Vật lí 10 nâng cao với sự hỗ trợ của e-book 60
2.4 Kết luận của chương 2 81
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 82
3.2 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 82
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 84
3.4 Kết luận của chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CỦA LUẬN VĂN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 5Trung học phổ thông : THPT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Các lớp thực nghiệm và đối chứng ……… Trang 82 Bảng 3.2: Bảng điều tra về sự cần thiết của e-book……… Trang 87 Bảng 3.3: Bảng điều tra về nội dung của e-book……… Trang 88 Bảng 3.4: Bảng điều tra về bố cục và cách trình bày của e-book…… Trang 88 Bảng 3.5: Bảng điều tra về sự hấp dẫn của e-book……… Trang 88 Bảng 3.6: Bảng điều tra sự hỗ trợ của e-book trong dạy và học……… Trang 89 Bảng 3.7: Thống kê các điểm số xi của bài kiểm tra………
Trang 89 Bảng 3.8: Bảng phân bố tần suất……… Trang 90 Bảng 3.9: Bảng phân bố tần suất tích lũy…….……… … Trang 90 Bảng 3.10: Thống kê điểm của lớp TN và ĐC……… Trang 91 Bảng 3.11: Tham số thống kê của lớp TN……… Trang 92 Bảng 3.12: Tham số thống kê của lớp ĐC……… Trang 92
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố điểm số của các nhóm TN và ĐC……… Trang 89 Biểu đồ 3.2: Phân bố tần suất……… Trang 90 Biểu đồ 3.3: Phân bố tần suất tích lũy……… Trang 91
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Ba cấp độ của phương pháp e-learning……… Trang 5 Hình 1.2: Chu trình dạy – tự học……… Trang 17 Hình 1.3: Một số dụng cụ đọc e-book……… Trang 20 Hình 1.4: Mô hình lượng giá bốn bậc theo Kirkpatrick……… Trang 25 Hình 1.5: Cửa sổ làm việc của CourseLab 2.4……… Trang 25 Hình 1.6: Cửa sổ làm việc của Macromedia FlashPaper 2.0………… Trang 26 Hình 1.7: Cửa sổ làm việc của Adobe Photoshop CS4……… Trang 26 Hình 1.8: Cửa sổ làm việc của Sothink SWF Easy 5.1……… Trang 27 Hình 1.9: Cửa sổ làm việc của Sothink Glanda 4.2…….……… Trang 27 Hình 1.10: Cửa sổ làm việc của Macromedia Flash 8.0……… Trang 28
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt các kiến thức chương “Chất khí”……… Trang 40
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc của e-book ……… Trang 43 Hình 2.3: Trang “Trang chủ” ……… Trang 44 Hình 2.4: Trang “Giới thiệu”……… Trang 45
Hình 2.5: Trang “Giới thiệu e-book”….……… Trang 46 Hình 2.6: Trang “Giới thiệu tác giả” ……… Trang 47 Hình 2.7: Trang “Nhiệm vụ học tập”……… Trang 48 Hình 2.8: Trang “Bài học” ……….……… Trang 48 Hình 2.9: Trang “Kiến thức trọng tâm”……… Trang 50 Hình 2.10: Trang “Bài tập tự luận”……… Trang 52 Hình 2.11: Trang “Bài tập trắc nghiệm”……… Trang 54 Hình 2.12: Trang “Tư liệu vật lý”……… Trang 55 Hình 2.13: Trang “Lịch sử vật lý”……… Trang 56 Hình 2.14: Trang “Thí nghiệm vật lý”……… Trang 57 Hình 2.15: Trang “Ứng dụng vật lý”……… Trang 58 Hình 2.16: Trang “Vật lý vui”……… Trang 59 Hình 2.17: Sơ đồ mô phỏng tiến trình khoa học xây dựng kiến thức bài “ Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt”……… Trang 73
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỉ 21, thế kỉ của sự bùng nổ thông tin và khoa học kĩ thuật, thể hiện là
sự phát triển như vũ bão của công nghệ truyền thông vào các mặt của đời sống
xã hội Trong xã hội tri thức, con người là chủ thể kiến tạo nên xã hội, lấy tri thức xác định vị thế xã hội Yêu cầu xã hội đặt ra đối với giáo dục phải giải quyết mâu thuẫn là tri thức phát triển rất nhanh mà thời gian đào tạo có hạn, giáo dục phải tạo ra con người mới có năng lực đáp ứng thị trường lao động, có khả năng hoà nhập, cạnh tranh quốc tế
Trong những năm gần đây, chúng ta chú trọng đặc biệt đến việc áp dụng CNTT trong dạy học như là một hướng đổi mới PPDH tích cực góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Bộ Giáo dục – Đào tạo đã cụ thể hóa tinh thần này bằng chỉ thị số 29/2001/CT – BGD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong nghành giáo dục giai đoạn 2008 – 20012 Một trong bốn mục tiêu đặt ra là “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, nghành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ
hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất các các môn học”[3]
Cùng với sự bùng nổ thông tin và sự phát triển đi lên của xã hội, lượng kiến thức mà mỗi học sinh phải học ngày càng nhiều do đó việc rèn luyện cho các em phương pháp học tập là cần thiết Một trong những phương pháp học tập tích cực nhất là tự học Chỉ có tự học học sinh mới có lòng say mê học tập, phát huy hết năng lực sáng tạo của mình Có nhiều hình thức tự học khác nhau trong
đó có thể sử dụng e-book trong tự học E-book có những lợi thế mà sách in thông thường không thể có được đó là: rất gọn nhẹ, có thể điều chỉnh về kích
cỡ, màu sắc và các thao tác cá nhân tùy theo sở thích của người học Một đặc điểm nổi bật của e-book là khả năng lưu trữ thông tin, chuyển tải được thông tin kiến thức đầy đủ thông qua các media Tuy nhiên trong quá trình dạy học có những điểm khác biệt giữa học tập theo lớp học có GV giảng dạy và học tập thông qua e-book
Trang 9Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, việc áp dụng các phương tiện trực quan vào quá trình dạy học là cần thiết, đặc biệt là việc sử dụng các thí nghiệm Tuy nhiên, trong quá trình dạy học không phải lúc nào giáo viên cũng
có thể dùng các mô hình, tranh vẽ hay thí nghiệm cho HS sử dụng nhất là các thí nghiệm phức tạp không thể thực hiện do các điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất Nhờ sự phát triển của CNTT ứng dụng vào quá trình dạy học, sử dụng các video ghi lại các quá trình Vật lí (bằng các chức năng quay nhanh, chậm, làm dừng hình và có thể xem nhiều lần nhờ máy vi tính), cho phép ta quan sát cẩn thận và có thể nghiên cứu (dưới dạng khảo sát) sâu và rộng hơn, xoá bỏ ngăn cách giữa nhà trường và tự nhiên gây hứng thú học tập cho học sinh, tiết kiệm thời gian, giải phóng học sinh khỏi những thao tác không cần thiết
Về phần mềm dạy học có thể khai thác từ nhiều nguồn Thực tế ở Việt
Nam các tài liệu hướng dẫn tự học đặc biệt là e-book Vật lí chưa nhiều Trong các e-book Vật lí 10 đã có thì chỉ có một số e-book được xây dựng theo chương trình và SGK cũ, có e-book chưa chú ý tới nội dung luyện tập cho HS, chưa hướng dẫn HS cách tự học, chưa sát chương trình sách giáo khoa Vật lí 10 nâng cao hiện hành…Vì thế việc nghiên cứu xây dựng một e-book vận dụng vào dạy học Vật lí nhằm cung cấp cho học sinh một tài liệu hướng dẫn cụ thể, giúp học sinh tự học ở nhà cũng như khi học trên lớp, học sinh được đặt vào những tình huống có vấn đề, được tự mình tìm cách giải quyết các vấn đề để nâng cao hiệu quả học tập là rất cần thiết
Chính vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế và sử
dụng e-book hỗ trợ quá trình dạy – tự học chương “Chất khí” - Vật lí lớp
10 nâng cao” với mong muốn phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tạo hứng thú học tập cho học sinh, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Vật lí ở trường phổ thông
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một cách thiết kế e-book và thiết kế một e-book đẹp, hấp dẫn, có nội dung phong phú, phù hợp và dễ sử dụng để hỗ trợ quá trình dạy - tự học chương “Chất khí ” - Vật lí lớp 10 nâng cao nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy và học chương “Chất khí” – Vật lí 10 nâng cao của giáo viên và học sinh ở trường Trung học phổ thông
Xây dựng hệ thống nội dung bài học và bài tập luyện tập chương “Chất khí” dưới dạng e-book hỗ trợ quá trình tự học của học sinh
b Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế e-book và xây dựng phương án sử dụng e-book để hỗ trợ quá trình dạy – tự học chương “Chất khí ” - Vật lí lớp 10 nâng cao, sau đó tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT chuyên Trần Hưng Đạo, Tp Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận
4 Giả thuyết khoa học
- Có thể thiết kế được e-book cho chương “Chất khí” – Vật lí 10 nâng cao với giao diện đẹp, dễ sử dụng, có nội dung phong phú, hấp dẫn, theo hướng tăng cường hoạt động tự học của HS và sử dụng e-book này để hỗ trợ quá trình dạy –
tự học sẽ góp phần nâng cao tính tích cực học tập, năng lực tự học và kết quả học tập môn Vật lí của HS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp dạy – tự học vật lí
- Nghiên cứu thực trạng tự học môn Vật lí của học sinh lớp 10 ở trường THPT
- Nghiên cứu chương “Chất khí ” sách giáo khoa Vật lí 10 nâng cao
- Nghiên cứu e-book và cách thiết kế e-book cho phù hợp với mô hình dạy – tự học
- Nghiên cứu cách sử dụng e-book hướng dẫn học sinh tự học chương “Chất khí ” - Vật lí 10 nâng cao
- Thực nghiệm sư phạm
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp xây dựng e-book dưới sự hỗ trợ của một số phần mềm tin học (COURSELAB, MACROMEDIA FLASH, ADOBE PHOTOSHOP)
Trang 11- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị của luận văn, tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng e-book
để hỗ trợ quá trình dạy – tự học trong dạy học Vật lí
Chương 2: Thiết kế e-book và xây dựng tiến trình dạy – tự học chương
“Chất khí” – Vật lí lớp 10 nâng cao với sự hỗ trợ của e-book
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
QUÁ TRÌNH DẠY – TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 1.1 T ổng quan vấn đề nghiên cứu
“E-learning là phương pháp học tập được hỗ trợ bằng công nghệ thông tin
và truyền thông (Information and Communication Technology- ICT)” Như vậy, e-learning về bản chất chỉ là một phương pháp trong số rất nhiều phương pháp dạy-học đã tồn tại từ trước đến nay Điểm khác biệt chính là ở chỗ e-
learning sử dụng tối đa những tiện ích có thể đem lại nhờ sự phát triển mạnh mẽ của ICT
Khá nhiều người nghĩ rằng e-learning buộc phải gắn liền với Internet và các ứng dụng mạng Trên thực tế, e-learning có rất nhiều hình thức thể hiện khác nhau, từ cấp độ thấp đến cao, và không nhất thiết phải sử dụng đến mạng Internet Về cơ bản, có ba giai đoạn phát triển của công nghệ và phương pháp đào tạo trực tuyến như sau:
Hình 1.1: Ba cấp độ của phương pháp e-learning
Trang 13Ưu điểm: Đây là một phương pháp áp dụng e-leanring ít tốn kém chi phí
nhất, và không cần phải trang bị các công cụ và các phần mềm hỗ trợ đào tạo cao cấp
Hạn chế: Phương pháp học này không đảm bảo được khả năng quản lí
người học truy cập và học theo đúng thời lượng quy định và cũng không thể theo dõi được tiến trình học của họ Bên cạnh đó, phương thức này cũng không
hỗ trợ đầy đủ cho người học và giáo viên có một môi trường học tập thực sự qua mạng (không có sự tương tác) mà chỉ đơn thuần là chia sẻ nội dung các môn học cho nhiều đối tượng khác nhau
* Cấp độ 2: Học trực tuyến có giáo viên
Đây là hình thức học tập sử dụng hệ thống quản lý học (LMS) Hệ thống quản lí học LMS chịu trách nhiệm phát hành nội dung môn học cho người học khi người học truy cập vào nội dung của bài học
Ưu điểm: Có sự giao tiếp giữa giáo viên - người học, người học - người
học Giáo viên có thể trực tiếp trả lời câu hỏi, đặt câu hỏi, chấm điểm đánh giá người học Giáo viên có thể đánh giá khả năng của người học, đồng thời có thể chỉ dẫn người học tham gia các khóa học mức cao hơn
Hạn chế: Do hệ thống đề ra các chuẩn trong việc xây dựng môn học, do đó,
hệ thống phần mềm quản lí và điều hành cũng phải tương thích tương ứng với các chuẩn đặt ra (SCORM, AICC) Đồng thời, các phương pháp quản lí và phát hành môn học cũng như tạo ra các tiện ích hoặc bổ sung các phương pháp tiếp cận hoặc giảng dạy trong một hệ thống đào tạo trực tuyến cũng được xây dựng phức tạp hơn và ràng buộc chặt chẽ hơn
* Cấp độ 3: Học qua lớp học ảo
Đây là hình thức học thông qua mạng Internet/Intranet, sử dụng hệ thống quản lí học tập (LMS), cũng tương tự như hình thức học trực tuyến có giáo viên nhưng được phát triển ở mức cao hơn với sự trợ giúp của công nghệ thông tin
Ưu điểm: Người học có thể học trực tiếp hoặc xem lại các bài giảng và làm
bài tập offline với hình thức giống như đang tham gia lớp học trực tiếp Đặt biệt, người học có thể nhìn thấy giáo viên trên màn hình trình duyệt bằng trợ giúp của hệ thống camera đặt tại máy giáo viên Người học có thể thực hiện các
Trang 14hành động như xin phát biểu hoặc có thể đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi thông qua micro và hệ thống hỗ trợ multimedia có sẳn tại các máy của học viên
Hạn chế: Thành phần lớp học ảo sẽ tạo ra các kênh giao tiếp và thiết lập các
chuẩn giao tiếp cũng như phát hành nội dung môn học và tạo ra các giờ học dưới dạng ảo hóa trên mạng Internet Việc áp dụng một hệ thống đào tạo kiểu mẫu lớp học ảo đòi hỏi nhà trường hoặc đơn vị tổ chức đào tạo phải được trang
bị một cơ sở hạ tầng tốt và đường truyền kết nối của học viên đối với nhà trường phải đáp ứng ở mức tương đối và ổn định
Hiện nay, các phương pháp nặng về hoạt động thuyết giảng, áp đặt của thầy, nhẹ về hoạt động tích cực của trò đã và đang được thay thế bằng các phương pháp giáo dục tích cực, dựa trên quan điểm phát huy tính tích cực của
HS, đề cao vai trò tự học của HS, kết hợp với sự hướng dẫn của GV trong đó
HS là chủ thể, GV là tác nhân của quá trình dạy học
Trong vài năm qua cuộc cách mạng thông tin trên Internet đã khởi xướng
ra nhiều ý tưởng độc đáo Sách điện tử hay e-book (Electronic Book) là một ý tưởng còn khá mới mẻ, song đã thu hút được sự quan tâm chú ý của rất nhiều người, không chỉ bởi tính mới lạ của nó mà còn do e-book có nhiều tính năng, công dụng cũng như lợi ích độc đáo Dạy học với sự hỗ trợ của website đòi hỏi phải có điều kiện đường truyền internet để hỗ trợ học tập trực tuyến Riêng đối với e-book dưới dạng gần giống như website nhưng được ghi lên một CD-ROM giúp người học có thể dùng bất cứ lúc nào mà không cần đường truyền internet thì chưa được sinh viên cao học khoa vật lý khai thác nhiều và mới chỉ có một luận văn thạc sỹ thuộc chuyên ngành “Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý” khai thác đề tài này, đó là luận văn của học viên Dương Hương Ly do
TS Phan Gia Anh Vũ hướng dẫn, với nhan đề là: “Thiết kế E-book hỗ trợ dạy học chương "Dòng điện trong các môi trường "- Vật lí 11 THPT nâng cao theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh”
Đề tài trên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về xu hướng đổi mới PPDH và định hướng đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học, các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS trong giờ học Nêu bật
Trang 15vai trò của phương tiện dạy học nói chung và phương tiện trực quan nói riêng trong dạy học Vật lí
Chính vì vậy, tác giả tiếp tục khai thác mảng đề tài về e-book nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh nhưng khác với các luận văn trên là tác giả sử dụng e-book như một phương tiện hỗ trợ cho việc dạy-tự học, nâng cao khả năng tự học và tạo hứng thú học tập cho HS Bên cạnh đó còn cung cấp cho HS một hệ thống bài tập phong phú, đa dạng để HS có thể củng cố và nâng cao kiến thức, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí ở trường phổ thông
hi ện nay
1.2.1 Những tiền đề cơ bản của sự đổi mới
Môn vật lí ở trường Trung học phổ thông hiện nay nhằm góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS, đồng thời tạo điều kiện cho HS có thể tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, củng cố và phát triển tiếp tục các năng lực chủ yếu của HS đã hình thành ở cấp Trung học cơ sở, đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì mới Các năng lực đó là:
– Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng, phẩm chất đã được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp
– Năng lực hợp tác, phối hợp hành động trong học tập và đời sống
– Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống – Năng lực tự khẳng định bản thân
Như vậy, mục tiêu của môn Vật lí hiện nay đặt nặng vào việc hình thành
và rèn luyện cho HS các năng lực cần thiết của người lao động mới (trước đây, mục tiêu chính của môn Vật lí đặt nặng vào việc cung cấp cho HS các kiến thức Vật lí có hệ thống) Điều đó đặt ra những yêu cầu về đổi mới SGK và PPDH một cách phù hợp nhằm thực hiện các mục tiêu trên
Trang 16Có thể nói, việc đổi mới nội dung và cách thể hiện nội dung của SGK mới một mặt đòi hỏi phải đổi mới PPDH Vật lí, mặt khác lại góp phần để giáo viên thực hiện thành công quá trình đổi mới này
Hầu hết GV Vật lí đều hiểu được cùng với đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa, việc đổi mới PPDH là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất đến việc nâng cao chất lượng dạy học Vật lí Một khi chương
trình và SGK đã đổi mới thì việc đổi mới PPDH là một tất yếu
Trong một số năm gần đây, công tác bồi dưỡng thường xuyên GV đã góp phần quan trọng tạo nên những thay đổi trong nhận thức của GV về đổi mới
PPDH Ngoài việc nâng cao nhận thức và trình độ lí luận dạy học cho GV, chương trình bồi dưỡng thường xuyên còn tăng cường được năng lực thực thi các phương pháp dạy học tiên tiến và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại của GV trong thực tiễn dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông
Ngoài khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá ngày càng được phát triển, HS lứa tuổi này không thích chấp nhận một cách đơn giản những những áp đặt của GV Các em thích tranh luận, thích bày tỏ những ý kiến riêng biệt của cá nhân mình về những vấn đề lí thuyết và thực tiễn Đây là một thuận lợi cơ bản trong việc thực hiện đổi mới PPDH Vật lí
+ Về phương pháp dạy học, GV cần vận dụng mọi phương pháp dạy học hiện
có một cách linh hoạt, đồng thời từng bước vận dụng các PPDH hiện đại như PPDH hợp tác, PPDH giải quyết vấn đề, nhằm giúp HS biết cách tự học, biết cách hợp tác trong tự học; tích cực chủ động, sáng tạo trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề để vừa có được những kiến thức cần thiết, vừa rèn luyện được các năng lực hành động
Trang 17+ Về hình thức tổ chức dạy học, nên áp dụng các hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt, phối hợp dạy học cá nhân và dạy học theo nhóm nhỏ, theo lớp; phối hợp dạy học ở trong và ngoài lớp, ở nhà trường và ở gia đình
Các thiết bị dạy học vật lí là điều kiện, phương tiện và nguồn tri thức không thể thiếu được trong quá trình học tập của HS Thông qua hoạt động với các thiết bị, HS tiếp cận được với hình ảnh mô phỏng thực tế, rèn luyện các kĩ năng quan sát, thu thập và xử lí thông tin, hướng tới việc hình thành những năng lực cần thiết của người lao động mới Các thiết bị dạy học phải phù hợp nội dung, phương pháp của chương trình và sách giáo khoa
+ Yêu cầu của việc đánh giá là phải toàn diện, khách quan, chính xác và có tác dụng điều chỉnh hoạt động dạy học, động viên sự cố gắng học tập của HS + Để tránh việc kiểm tra kiến thức theo kiểu ghi nhớ máy móc và tạo nên sự thống nhất về đánh giá trong cả nước, sẽ tiến tới việc xây dựng hệ thống chuẩn
về kiến thức và kĩ năng của bộ môn là cơ sở cho việc đánh giá
+ Các yêu cầu cần được đánh giá phải bao gồm kiến thức, kĩ năng, các phẩm chất nhân cách khác Tuy vậy, trước hết nên tập trung vào đánh giá về kiến thức
và kĩ năng bằng cách bố trí hai yêu cầu này trong tất cả các lần kiểm tra:
+ Các bài kiểm tra cần tạo điều kiện để học sinh bộc lộ các năng lực như: năng lực xử lí thông tin, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo
+ Cần kết hợp các loại hình kiểm tra, đánh giá: trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Để khắc phục nhược điểm thụ động trong học tập của HS, đồng thời nâng cao chất lượng học tập, việc đổi mới PPDH là hết sức quan trong và cấp thiết Trong đó, ngoài việc vận dụng các PPDH truyền thống thì các PPDH tiên tiến cũng nên được sử dụng theo hướng tăng cường tính chủ động, tích cực học tập của HS Trong quá trình dạy học, GV dựa vào vốn tri thức, kĩ năng và khả năng học tập của HS, đề ra các bài tập hay nhiệm vụ phù hợp, có nâng cao hơn
so với khả năng hiện có của HS, đòi hỏi HS phải có những cố gắng nhất định
Trang 18trong học tập, như vậy tư duy của HS được phát triển, tính tích cực học tập của
HS được đề cao
1.3 Cơ sở lý luận của dạy – tự học
1.3.1 Khái niệm tự học
T heo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001, “…tự học là
quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…” [5]
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.[32]
lời thẳng vào câu hỏi về kinh nghiệm của riêng ông trong việc tự học: “ Mỗi khi
muốn hiểu sâu đề tài nào, tôi tự yêu cầu mình phải viết một bài về vấn đề đó Vậy là tôi phải tìm tài liệu đọc, hỏi han, lắng nghe và phải đào sâu, nắm vững mới viết ra mạch lạc được Đó là chưa kể còn phải chuẩn bị các phụ lục tài liệu cho những chỗ khúc mắc, phức tạp phòng khi cần trình bày có thể bị chất vấn”
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, ta thấy rằng tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua hoạt động tự học Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triễn lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đă đọc, đă nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu
Trang 19từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện…Đối với học sinh,
tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải
có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
1.3.2 Các hình thức của tự học
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, đòi hỏi khả năng tự học rất cao
- Tự học có hướng dẫn: Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
Lâu nay người ta thường quan niệm tự học là khi học ở nhà Nhưng sự thực việc tự học có phương pháp phải bắt đầu từ trên lớp học Không thể tách
rời việc học ở lớp với việc học ở nhà
Trên lớp học, phải biết chú ý lắng nghe lời thầy giảng, tập trung tư tưởng theo dõi một cách không thụ động , biết đề xuất những thắc mắc, những chỗ chưa hiểu được rõ để thầy giải đáp, cùng với người thầy xây dựng bài giảng Thầy chú ý phát huy năng lực trí tuệ của trò, trò biết tự phát huy để hưởng ứng Trò là chủ thể là thế, trò không phải nhân vật thụ động, tiếp thu máy móc Kinh nghiệm của các học sinh giỏi, các sinh viên thủ khoa là ở chỗ này Nếu nói bí quyết để học giỏi cũng bắt đầu từ đây Chúng ta thường thấy có những học sinh, sinh viên con nhà nghèo về nhà thường phải làm việc giúp đỡ gia đình nhưng vẫn học giỏi, chính là đã biết cách học như trên , họ đã hiểu bài, thuộc bài ngay tại lớp Đã từ lâu, các thầy giáo giảng dạy có kinh nghiệm cũng đã đề ra phương pháp dạy và học đạt yêu cầu này
Thời gian tự học ở nhà cũng rất quan trọng, đây là lúc học sinh có nhiều thời giờ suy ngẫm, đào sâu vấn đề, tiếp tục đề xuất những thắc mắc để thầy giải đáp, suy nghĩ liên hệ hoặc vận dụng vào thực tế Đây cũng là cách để tri thức
Trang 20khắc sâu trong bộ óc, khó bị quên lãng và trở thành hữu ích, là cách học kết hợp với hành mà Bác Hồ luôn luôn nhắc nhở Việc học ở nhà còn phải làm tốt việc chuẩn bị trước theo yêu cầu của từng bài giảng Những học sinh xuất sắc thường phải học theo hướng này Những em nhà nghèo học giỏi phải tranh thủ thời gian và cách học này đã giúp các em thành công
Trong việc đẩy mạnh phương pháp tự học, cũng cần chú ý đến sự tương trợ, giúp đỡ nhau giữa các HS trong học tập, tức là vấn đề “học thầy không tày học bạn” như ông cha ta đã từng đúc kết Đây là một cách phát động quần chúng HS cùng chung sức với GV và nhà trường để giải quyết vấn đề chất lượng HS kém học bạn, hỏi bạn cũng dễ dàng, thoải mái hơn do đó dễ tiến bộ
HS giỏi giúp đỡ bạn thì tự mình cũng giỏi thêm Mặt khác tinh thần đoàn kết trong lớp học cũng được tăng tiến
Những cách học trên, tưởng như không có gì mới nhưng thực ra vẫn xa lạ
và khó thực hiện với không ít học sinh hiện nay Thay đổi phương pháp học của học sinh đòi hỏi sự nỗ lực, tâm huyết của giáo viên và nhà trường và phải xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho các em, thì học mới say mê
* Các yếu tố cần để phát triển việc tự học ở học sinh
Theo tâm lý học, thì các thành phần bên trong thái độ học tập của người học là nền tảng quan trọng nhất cho việc hình thành và phát triển khả năng tự học Chỉ khi nào người học tự ý thức được khả năng tự học, có niềm tin vào bản thân, thì việc tự học mới trở thành sở thích, đam mê, tự giác mà không cần có
sự thúc giục của yếu tố bên ngoài
Đối với HS phổ thông, ý thức tự giác trong tự học mới hình thành, nên GV phải là người biết nhen nhóm, thắp sáng niềm tin, tạo hứng thú, động cơ tự học
và hướng dẫn HS biết cách tổ chức tự học hiệu quả Tự học không chỉ là việc chuẩn bị bài ở nhà, mà cả các hoạt động tự học trên lớp Nhiều giáo viên không dạy HS cách học và không chú ý rèn luyện và phát triển kĩ năng tự học cho HS Theo đó, HS rất thiếu và yếu về các kĩ năng tự học
Trang 21Trước hết cần tạo niềm tin, hứng thú và biết cách tổ chức tự học cho HS
Từ đó, phát triển kỹ năng thực hiện việc tự học của học sinh Cùng đó là nhóm giải pháp phát triển khả năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của HS Đối với HS, thông qua tự kiểm tra, các em phát hiện những kiến thức nào đã hiểu rõ, kiến thức nào còn mơ hồ, thiếu sót, từ đó chủ động khắc phục Trải qua một thời gian nhất định, các công việc được lặp đi, lặp lại nhiều lần, với sự hỗ trợ của GV, dần dần khả năng tự kiểm tra, đánh giá của HS được hình thành và ngày càng bền vững
Trong hoạt động dạy học ở trường phổ thông, cần nâng cao chất lượng dạy học Đối với GV, phải thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn và nghiệp
vụ sư phạm Cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học, chuyển từ cách dạy kiến thức sang dạy học sinh cách học và tự học Chú trọng bồi dưỡng HS các kĩ năng tự học cơ bản, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động trong nhận thức của các em
1.3.3 Mô hình dạy – tự học [ 20, 32]
1.3.3.1 Chu trình dạy – tự học của Nguyễn Kỳ [20]
Chu trình dạy – tự học bao gồm chu trình tự học của trò dưới tác động của chu trình dạy của thầy nhằm biến tri thức kho tàng văn hóa khoa học của nhân loại thành học vấn riêng của bản thân người học
♦Chu trình tự học của trò
Chu trình tự học của trò là một chu trình ba thời: Tự nghiên cứu; Tự thể
hiện; Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thời một (1): Tự nghiên cứu:
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá
nhân
Thời hai (2): Tự thể hiện
Trang 22Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các
bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Thời ba (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
* Chu t rình dạy của thầy
Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lý, phù hợp và cộng hưởng với chu trình tự học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự học
ba thời của trò: Hướng dẫn; Tổ chức; Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Thời một (1): Hướng dẫn
Thầy hướng dẫn cho từng cá nhân học sinh về các tình huống học, về các vấn đề cần giải quyết, về các nhiệm vụ phải thực hiện trong tập thể học sinh Học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi cách xử lý các tình huống , cách giải quyết vấn đề để tự mình tìm ra kiến thức, chân lý bằng hành động của chính mình, tạo
ra sản phẩm ban đầu
Thời hai (2) : Tổ chức
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: tổ chức các cuộc tranh luận, hội thảo, trao đổi trò – trò; trò – thầy, sinh hoạt nhóm, đội công tác trong lớp, các hoạt động tập thể trong và ngoài nhà trường nhằm tăng cường mối quan hệ giao tiếp trò – trò, trò – thầy và sự hợp tác của nhau tìm ra kiến thức, chân lý
Thầy là người đạo diễn và dẫn chương trình
Thời ba (3): Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Thầy là trọng tài, cố vấn kết luận về các cuộc tranh luận đối thoại, trò–trò, trò–thầy để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tự mình tìm ra
Trang 23Cuối cùng, thầy là người kiểm tra đánh giá kết quả tự học của trò trên cơ
Thời hai (2)
Sản phẩm ban đầu của học sinh thông qua sự trao đổi, thảo luận, hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học trở thành khách quan hơn; tri thức có tính chất cá nhân ở thời (1) giờ đây đã mang tính chất xã hội ( xã hội lớp học)
Thời ba (3)
Với kết luận cuối cùng của thầy, người học tự kiểm tra điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người học tự tìm ra giờ đây mới thật sự khách quan khoa học theo đúng nghĩa của tri thức
Ta có thể sơ đồ hoá chu trình dạy – tự học như sau:
Trang 24Hình 1.2 Chu trình dạy – tự học
- Đường tròn bên trong tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học
- Đường tròn giữa tượng trưng cho ngoại lực – tác động dạy của thầy
- Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức người học cần chiếm lĩnh
Các mũi tên đều xuất phát từ cực “thầy”: thầy là người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò:
+ (1): Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu để tìm ra một tri thức có tính chất cá nhân
+ (2): Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp tác với nhau để làm cho sản phẩm ban đầu của người học được khách quan hơn, tri thức có tính chất xã hội
+ (3): Thầy là trọng tài cố vấn, kết luận về cuộc đối thoại và hoạt động của trò, làm cơ sở cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người học tự tìm ra giờ đây mới có tính chất khoa học
1.3.3.2 Một số khó khăn và lợi thế của mô hình dạy – tự học
Trang 25- Mô hình này có giảm thời gian thầy giảng giải, truyền đạt ở trên lớp song đòi hỏi phải đảm bảo thời gian và điều kiện cho người tự học, tự nghiên cứu và đối thoại với các bạn và thầy Mô hình này cũng đòi hỏi một số điều kiện nào
đó như là tài liệu tự học, tổ chức lại không gian lớp học, đổi mới quản lí giáo dục theo hướng lấy người học làm trung tâm của hệ giáo dục…
- Mô hình dạy – tự học vấp phải tập quán, thói quen cổ hữu lâu đời của nhà trường dạy học thụ động, truyền thụ một chiều, lấy việc dạy (thầy) làm trung tâm
♦ Một số lợi thế của mô hình dạy – tự học
- Đó là mô hình dạy học “vì người học và bằng năng lực tự học của người học” của một nhà trường “vì người học, cho người học và của người học”, lấy người học (việc học) làm gốc, làm trung tâm; Người học tự học, tự nghiên cứu, hợp tác với các bạn dưới sự hướng dẫn của thầy để tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, do đó có hứng thú và động cơ học, phát triển được tính tự chủ, chủ động và sáng tạo, phát triển được các mối quan hệ giao tiếp phong phú trong cộng đồng xã hội lớp học, và dần dần hình thành được nhân cách con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo
- Mô hình dạy – tự học có khả năng đạt mục tiêu giáo dục thời kỳ đổi mới với chất lượng, hiệu quả và quy mô lớn nhất: chất lượng giáo dục đạt trình độ cao nhất khi quá trình dạy học kết hợp hữu cơ với quá trình tự học làm cho tự học và dạy học cộng hưởng với nhau Quy mô phát triển giáo dục lớn nhất khi
có phong trào toàn dân tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp
Vì mô hình dạy – tự học phù hợp với quy luật phát triển của sự vật Do đó,
mô hình dạy – tự học sẽ không ngừng phát triển hoàn chỉnh và chiếm ưu thế ở nhà trường Việt Nam trong một tương lai không xa Từ ý nghĩa đó, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn mô hình này vận dụng vào quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học
1.4 Thi ết kế và sử dụng e-book hỗ trợ quá trình dạy - tự học trong dạy học
vật lí
1.4 1.Những vấn đề chung về e-book
Trang 261.4.1.1 Khái niệm e-book
Theo trang web “http://thuvien.ucoz.com/”, e-book là từ viết tắt của electronic book (sách điện tử) Giống như e-mail (thư điện tử) e-book chỉ có thể dùng các công cụ máy tính như máy vi tính, máy trợ giúp kỹ thuật số cá nhân
(palm, pocket pc…) để xem
Theo trang web “http://svkqt.net/”, Một cuốn e-book là một cuốn sách điện tử, một cuốn sách ảo, hay đơn giản đó chỉ là một cuốn sách kỹ thuật số có thể đọc được trên máy vi tính hoặc thiết bị chuyên đọc e-book E-book có thể bao gồm các văn bản, hình ảnh minh hoạ, hay có thể chèn âm thanh và video Hơn thế nữa e-book còn chứa cả đường "liên kết nóng" (hot link) giúp cho khách hàng có thể ngay lập tức tới được các website liên quan tới thông tin mà
họ đang xem E-book có thể là các file kỹ thuật số được copy sang đĩa cứng, đĩa mềm hoặc CD-ROMs
Theo trang web “http://vi.wikipedia.org/”, Sách điện tử (tiếng Anh: electronic book; viết tắt: e-book) là một phương tiện số tương ứng của các loại sách in thông thường Loại sách này ngày càng phổ biến do việc dễ dàng phân phát, chia sẻ trên internet
Theo trang web “http://tek24h.info/”, e-book là viết tắt của book có nghĩa là sách điện tử, là những tài liệu, sách báo, truyện,… được lưu trữ và thể hiện thông qua một định dạng file nào đó E-book có rất nhiều định dạng khác nhau, có thể được đọc thông qua máy tính cá nhân, thiết bị đọc e-
electronic-book chuyên dụng hoặc một số thiết bị khác
Trang 27Trong đề tài này, tác giả thiết kế e-book đóng vai trò như một cuốn sách
kỹ thuật số có tích hợp văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, flash, phim thí nghiệm, video Sách được chép trên một đĩa CD-ROM hoặc chép và cài thẳng vào máy vi tính Cuốn sách này có vai trò hỗ trợ cho việc dạy – tự học của giáo viên và học sinh tại lớp và ở nhà
1.4.1.2 Một số định dạng của e-book
Không giống như sách in thông thường, sách điện tử cũng có những
“định dạng” khác nhau Nói một cách khác là sách có nhiều tập tin mở rộng như WORD, PDF, PRC, LIT v.v… Những tập tin này sở dĩ khác nhau là vì chúng được làm từ những chương trình khác nhau và vì thế, muốn đọc được chúng, bạn cần phải có những chương trình tương ứng:
1 – DOC ( Document)
Chắc không cần giới thiệu nhiều thì rất nhiều người cũng biết đây là định dạng được tạo ra bởi phần mềm Microsoft Word ( nằm trong bộ MS Office của Microsoft) Đây có thể nói là định dạng đơn giản nhất để lưu trữ một e-book Định dạng này có thể lưu trữ được chữ, hình ảnh, bảng, đồ thị,…
Hình 1.3: Một số dụng cụ đọc e-book
Trang 28Định dạng DOC có thể được mở và xem tốt nhất bằng MS Word, nhưng nếu bạn không có tiền để mua bản quyền bộ MS Office của Microsoft, bạn có thể sử dụng Writer trong OpenOffice.org là ứng dụng miễn phí, mã nguồn mở với những tính năng không thua kém gì sản phẩm của Microsoft Ngoài ra bạn cũng có thể mở một file doc thông qua các ứng dụng office online như Google Docs, ThinkFree Office, Zoho Office,…
Từ bản MS Office 2007, Microsoft cung cấp thêm DOCX, sử dụng định dạng Open XML giúp lưu trữ nội dung tốt hơn và đồng thời giảm kích thước của tập tin
2 – PDF ( Portable Document Format)
Một định dạng quen thuộc khác với chúng ta, PDF là viết tắt của Portable Document Format, định dạng file của hãng Adobe Systems, Inc dùng ngôn ngữ mô tả máy in PostScript và có mặt trên hầu hết các nền tảng
File PDF có thể được tạo ra nhờ phần mềm Adobe Acrobat và được đọc bởi Acrobat Reader Giống như Doc, chúng ta cũng có lựa chọn miễn phí để làm việc với tập tin PDF, đó là bộ sản phẩm Foxit PDF Creator và Reader của Foxit Software Bản thân mình đánh giá cao bộ sản phẩm này vì nó nhẹ và tốc
độ mở file nhanh
Ngoài ra còn một số chương trình khác như Inkscape ( có phiên bản cho Windows, Mac và Linux), Skim, Apple Preview ( dành cho Mac), KPDF, Okular ( dành cho Linux),…
3 – CHM ( Compiled HTML Help File)
Giống như tên gọi, đây vốn là định dạng để lưu trữ những tài liệu trợ giúp dưới dạng HTML được biên soạn và nén lại trong 1 file duy nhất Đây
Trang 29cũng là một trong những định dạng phổ biến để làm e-book vì khả năng lưu trữ
và sắp xếp tài liệu tốt, dễ truy cập thông tin Một số e-book CHM có thể được
mở bằng chính trình duyệt Web, một số khác thì phải sử dụng ứng dụng đọc CHM để mở
Trên Windows, để đọc được CHM chúng ta không cần bất cứ phần mềm nào Một số ứng dụng khác có thể mở được CHM như xCHM ( có phiên bản dành cho cả 3 hệ điều hành Windows, Linux và Mac), GNOCHM ( dành cho Linux), Chmox và CHM Viewer ( dành cho Mac)
Bạn có thể tạo và chỉnh sửa e-book định dạng CHM bằng phần mềm Fly Help ( bản cũ có tên là Pocket CHM)
Trong Windows Vista và Windows 7, đôi khi chúng ta mở file CHM lên nhưng không thấy nội dung và thấy các trang đều báo lỗi, bạn hãy click chuột phải vào file đó, chọn Properties và ấn vào nút Unblock
4 – PRC ( Mobipocket eBook File )
Định dạng e-book phổ biến và chuyên dụng PRC có thể được đọc trên máy tính cá nhân, điện thoại di động, PDA và thiết bị đọc e-book chuyên dụng
Trên Windows, PRC có thể được đọc bằng Mobilepocket Reader
Trên Mac, bạn có thể đọc PRC bằng ứng dụng FBReader ( có cả phiên bản dành cho Windows và Linux)
5 – CBR ( Comic Book RAR Archive ) và CBZ ( Comic Book Zip Archive )
Đây là định dạng nén các file ảnh thành một file duy nhất sử dụng công nghê nén ZIP ( CBZ ) hoặc RAR ( CBR ), được dùng chủ yếu để lưu trữ truyện tranh hoặc một số sách ảnh khác Chính vì thế, chúng ta có thể sử dụng một
Trang 30phần mềm nén và giải nén để giải nén file CBR và CBZ ra thành các file ảnh riêng biệt
Tuy nhiên để hiển thị tốt nhất và để đọc được như đọc một cuốn truyện tranh thật sự, chúng ta nên sử dụng chương trình đọc riêng như CDisplay ( dành cho Windows ), Stuff Deluxe ( dành cho Mac và Windows ), Comix ( dành cho Linux )
6 – DJVU ( DjVu Image )
Đây cũng là một định dạng nén các file ảnh lại thành một file duy nhất DJVU là định dạng e-book của Lizard Tech, được phát triển bởi AT&T, dùng
để lưu trữ các sách tranh ảnh, catalogs, tạp chí,…
DJVU có thể được đọc bởi MacDJView ( trên Mac ), WinDJView ( trên Windows ) hoặc trình duyệt web có cài plugin LizardTech DJVU
7 – LIT
Định dạng e-book của Microsoft, sử dụng công nghệ Microsoft ClearType và được đọc bằng ứng dụng Microsoft Reader
LIT chủ yếu sử dụng cho các thiết bị đọc e-book của Microsoft
Trên các hệ điều hành khác như Mac và Linux, định dạng LIT có thể được đọc bằng ConvertLIT
Trên đây là một số định dạng e-book phổ biến thường gặp, ngoài ra còn một số định dạng khác như PDB, PS, RB,…
1.4.1.3 Các yêu c ầu thiết kế e-book [34]
Trang 31Việc thiết kế e-book phục vụ cho giáo dục đòi hỏi phải đáp ứng những đặc trưng riêng về mặt nghe, nhìn, tương tác; do đó theo Nguyễn Trọng Thọ [35] để đáp ứng nhu cầu tự học, chúng ta phải tuân theo đầy đủ các bước của việc thiết kế dạy học
1 Analysis ( phân tích tình huống để đề ra chiến lược phù hợp):
* Hiểu rõ mục tiêu;
* Các tài nguyên có thể có;
* Đối tượng sử dụng
2 Design (thi ết kế nội dung cơ bản):
* Các chiến lược dạy học;
* Siêu văn bản (hypertext) và siêu môi trường (hypermedia);
* Hướng đối tượng, kết nối và phương tiện điều hướng
3 Development ( phát triển các quá trình):
* Thiết kế đồ họa;
* Phát triển các phương tiện 3D và đa môi trường (multimedia);
* Hình thức và nội dung các trang Web;
* Phương tiện thực tế ảo
4 Implementation ( triển khai thực hiện):
Cần tích hợp với chương trình công nghệ thông tin của trường học :
* Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế các phòng máy tính;
* Thủ tục tiến hành với thầy;
* Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học và quản lí;
* Quản lí tài nguyên (nhân lực và vật lực)
5 Evaluation ( lượng giá):
Đánh giá hiệu quả huấn luyện thường sử dụng mô hình bốn bậc do Donald Kirkpatrick phát triển (1994) Theo mô hình này, quá trình lượng giá luôn được tiến hành theo thứ tự vì thông tin của bậc trước sẽ làm nền cho việc lượng giá ở bậc kế tiếp:
* Bậc 1: Phản ứng tích cực hay tiêu cực (Reactions)
Trang 32* Bậc 2: Hiệu quả học tập (Learnings)
* Bậc 3: Khả năng chuyển giao hay chuyển đổi (Transfers)
* Bậc 4: Kết quả thực tế (Results)
Hình 1.4 Mô hình lượng giá bốn bậc theo Kirkpatrick
1.4.1.4 Các phần mềm tin học thiết kế e- book
1 CourseLab
Là một trong những công cụ mạnh nhất, dễ sử dụng, là công cụ được dùng
để thiết kế e-learning đòi hỏi một môi trường WYSIWYG (What you see is what you get – thấy gì được nấy) trong việc tạo ra một môi trường e-learning mang tính tương tác cao
Hình 1.5: Cửa sổ làm việc của CourseLab 2.4
Trang 33
2 Macromedia FlashPaper
Macromedia FlashPaper là một phần mềm của hãng Macromedia (nay là Adobe) dùng để chuyển các định dạng tài liệu văn phòng sang định dạng flash SWF hoặc PDF Như vậy, với công cụ này, văn bản được soạn bằng bất kỳ chương trình nào đều có thể đưa được vào trang web
Hình 1.6: Cửa sổ làm việc của Macromedia FlashPaper 2.0
3 Adobe Photoshop CS4
Adobe Photoshop CS4 là một phần mềm xử lí ảnh chuyên nghiệp cho
phép người dùng tút sửa ảnh (retouching), ghép ảnh (composing), phục chế ảnh (restoration ), tô màu ảnh (painting)… một cách dễ dàng và hiệu quả Để tạo e-
book rất cần đến Photoshop vì nhờ nó mà hình ảnh có màu sắc đẹp và phù hợp hơn
Hình 1.7: Cửa sổ làm việc của Adobe Photoshop CS4
Trang 344 Sothink SWF Easy 6.6
Sothink SWF Easy là phần mềm có thể tạo những file flash với rất nhiều hiệu ứng đẹp, đồng thời phần mềm này cũng có thể kết hợp những kiểu chữ động cùng những kiểu hiệu ứng sẽ tạo cho file flash đẹp đến không ngờ Tuy nhiên phần mềm rất dễ sử dụng với sự kéo thả chuột dễ dàng để tạo nên những file flash đẹp nhất
Hình 1.8: Cửa sổ làm việc của Sothink SWF Easy 5.1
5 Sothink Glanda 4.2
Phần mềm Sothink Glanda giúp tạo ra các banners Điểm đặc biệt của phần mềm là nó hỗ trợ nhiều định dạng ảnh như: *.bmp, *.jpg, *.png, *.gif, …
và âm thanh như: mp3, wav, …
Hình 1.9: Cửa sổ làm việc của Sothink Glanda 4.2
Trang 35Hình 1.10: Cửa sổ làm việc của Macromedia Flash 8
1.4.1.5 Ưu điểm và hạn chế của e-book
A Ưu điểm của e-book
* Đối với người thiết kế
Là sản phẩm của công nghệ, e-book có nhiều ưu điểm so với sách in giấy truyền thống như:
+ E-book là một phương tiện vô cùng hữu hiệu, nó bao gồm tất cả ưu điểm của những phương tiện khác Nó có thể được coi là một “quyển sách sống” chứa đựng tất cả các sản phẩm của tác giả với những minh hoạ cụ thể Ví dụ: e-book cũng có hình ảnh, âm thanh sống động như truyền hình, tranh ảnh minh hoạ như trên các tạp chí, ấn phẩm khác Vì vậy e-book tạo cho người đọc
Trang 36tâm lý thoải mái, thuận tiện, vui vẻ và từ đó giúp tác giả thu hút thêm nhiều đối tượng mới tham gia đọc sách của mình
+ Tác giả rất dễ đưa những thông tin mới nhất của mình vào e-book với thời gian nhanh hơn nhiều lần so với các phương tiện khác Nếu như tác giả muốn thay đổi nội dung trong cuốn sách in thông thường thì chỉ có cách in lại,
do đó sẽ tốn thêm chi phí in ấn, còn e-book có thể sửa đổi nội dung một cách nhanh chóng
+ Giữa tác giả và người đọc hầu như không còn khoảng cách về thời gian, địa lý, các bên có thể tham gia, trao đổi liên tục
+ Một đặc điểm nổi bật của e-book chính là khả năng lưu trữ của nó Mỗi tập tin sách trung bình vào khoảng 300 đến 500Kb Như vậy, với sức chứa của
1 CD-ROM , bạn có thể lưu trữ đến hơn 2.000 quyển sách Chỉ một tập tin có thể lưu trữ được thông tin của những cuốn sách lên tới hàng trăm trang
+ Chi phí phát hành và in ấn của sách điện tử rất thấp nên mang lại nhiều thuận lợi về kinh tế cho cả nhà xuất bản và bạn đọc
* Đối với người sử dụng
+ Rất gọn nhẹ, có thể tinh chỉnh về cỡ chữ, màu sắc, và các thao tác cá nhân hoá tuỳ theo sở thích của người đọc
+ Dễ dàng chia sẻ: Người đọc chỉ cần gửi e-book cho nhau bằng email hoặc bằng đĩa mềm hay đĩa CD
+ Bằng những chức năng của máy vi tính và những chương trình hiện nay, người đọc sẽ dễ dàng tra cứu thông tin mà họ đang tìm kiếm Việc tra cứu thông tin có thể thực hiện ngay trên máy tính cá nhân ở nhà mà không tốn nhiều thời gian như khi đi tìm những cuốn sách thông thường ở thư viện Ngoài ra người đọc có thể tra cứu tài liệu dễ dàng theo nhiều tiêu chí, tìm kiếm toàn văn với các thông tin mô tả giáo trình
Trang 37+ Tài liệu được tổ chức theo trình độ và sắp xếp theo cây thư mục ngành Giao diện dễ sử dụng, trình bày thông tin giới thiệu giáo trình chi tiết đầy đủ theo nội dung giáo trình gốc (nguồn gốc, tác giả, chuyên ngành,… và cả ảnh tác giả)
+ Nội dung Tài nguyên tổng hợp, phân loại, cung cấp nhiều phần mềm, sách, hướng dẫn, liên kết hỗ trợ học tập
+ E-book còn bao gồm cả những video hướng dẫn ( training video) hoặc những file âm thanh ( audio book hay còn gọi là “sách nghe” ), chính vì vậy e-
book đem đến cho người đọc những trải nghiệm sinh động và hấp dẫn, giúp người đọc dễ tiếp cận được với thông tin
Như vậy, với dung lượng nhỏ gọn nhưng chứa đựng một lượng tri thức lớn sách điện tử là một sự tuyệt vời cho nhu cầu lưu trữ và đọc sách mọi lúc, mọi nơi trên những thiết bị điện toán cá nhân như máy vi tính, máy tính bỏ túi (pocket PC), máy điện thoại,
B Hạn chế của e-book
+ Để đọc e-book, bắt buộc phải có một thiết bị đọc (máy vi tính, máy
trợ giúp kỹ thuật số cá nhân) đang hoạt động Đồng thời trong thiết bị đó phải cài đặt phần mềm tương thích với định dạng của e-book
+ Đọc e-book trên máy tính lâu sẽ có hại cho sức khỏe, đặc biệt là mắt
1.4.2 Khái niệm e-book dạy học
E-book dạy học là một cuốn sách kỹ thuật số có tích hợp văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, flash, phim thí nghiệm, video, nó đóng vai trò là phương tiện dạy học để hỗ trợ cho việc dạy và học Cuốn sách này chứa đựng các tài liệu liên quan đến chương trình học tập của học sinh và tài liệu tham khảo cho giáo viên
1.4 3.Vai trò của e-book dạy học
1.4 3.1.Vai trò của e-book dạy học trong dạy học
Trang 38+ Với e-book đã xây dựng theo một trình tự được lập sẵn theo ý đồ thiết kế của GV, HS có thể tự học với nhịp độ phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân + Tự học qua e-book nhằm cung cấp sự hướng dẫn cho bất cứ ai muốn học một chương trình nào đó hoặc xem lại, bổ sung, mở rộng phần kiến thức đã học
ở trường lớp
+ Việc tự học qua e-book dạy học sẽ giúp người học không bị ràng buộc vào thời khóa biểu chung, một kế hoạch chung, có thời gian để suy nghĩ sâu sắc một vấn đề, phát hiện ra những khía cạnh xung quanh vấn đề đó và ra sức tìm tòi học hỏi thêm Dần dài, cách tự học đó trở thành thói quen, giúp người học phát triển được tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo
+ Với hệ thống bài học được thiết kế công phu theo ý tưởng đã được định sẵn, giáo viên hướng dẫn giúp học sinh làm việc trên lớp nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
+ Với hệ thống bài tập, câu hỏi định sẵn được xắp xếp theo ý đồ sư phạm giúp giáo viên hướng dẫn học sinh ôn tập, và biết cách chuẩn bị bài mới
1.4.3.2 Vai trò của e-book dạy học trong dạy học vật lý
Ngoài những vai trò của e-book dạy học đối với dạy học nói chung thì đối với bộ môn Vật lý nói riêng, e-book còn có thêm những vai trò sau:
+ Một phương pháp dạy học đặc thù riêng của bộ môn Vật lý là “phương pháp trực quan”, tức là muốn HS hiểu bài một cách chính xác và sâu sắc thì phải xây dựng các khái niệm, các thuyết, các định luật từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng Nhưng trong lớp học không phải lúc nào cũng có điều kiện quan sát trực tiếp vì nhiều nguyên nhân khác nhau Chính vì vậy với nguồn tài liệu dồi dào trong e-book như hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, phim video đã tạo cho các em có thể quan sát các hiện tượng, từ đó có thể phát huy được hiệu quả dạy học
+ Đặc thù riêng của bộ môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nhưng với thời gian dạy học trên lớp chỉ có 45 phút thì HS khó có thể nắm bắt hết các vấn đề liên quan đến thí nghiệm Với mô hình thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, hoặc các bộ phim thí nghiệm thật đã được quay lại sẽ giúp GV có thể
Trang 39khai thác sử dụng hỗ trợ cho quá trình dạy học liên quan đến thí nghiệm một cách tích cực nhất, hiệu quả nhất
1.5 Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng e-book trong dạy học vật lý ở
trường THPT hiện nay
Trong giáo dục, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã và đang được áp dụng rất mạnh mẽ nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học Hơn thế nữa việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp giải quyết khó khăn hàng đầu cho giáo viên và học sinh là: khối lượng kiến thức thì quá nhiều trong khi thời gian giảng dạy trên lớp lại có hạn Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học chú trọng vào việc bồi dưỡng năng lực tự học của HS và sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học, đặc biệt là ICT đang được nhiều GV và HS quan tâm Thực tế, hiện nay hầu hết các GV thường xuyên khai thác internet để giúp ích cho việc soạn giảng, ứng dụng các phần mềm dạy học vào giảng dạy Không chỉ khai thác tốt nguồn tài liệu từ internet, rất nhiều GV, sinh viên,… đã tự mình thiết kế, xây dựng nhiều website, e-book, blog,… để phục vụ tốt hơn cho việc dạy học Tuy nhiên, việc thiết kế e-book để hỗ trợ quá trình dạy học môn Vật lí ở trường THPT thì chưa được các GV quan tâm
Ở tỉnh Bình Thuận, trong thời gian qua, được sự quan tâm của UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ và các Sở, Ngành liên quan, Sở GD&ĐT đã và đang chủ trì thực hiện 02 đề tài khoa học cấp tỉnh là: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy của giáo viên tại các trường phổ thông” (bộ môn: Vật lý, Hóa học, Sinh học THPT phân ban, thời gian thực hiện 36 tháng,
từ tháng 11/2007 đến tháng 11/2010 tổng kinh phí thực hiện: 320.600.000 đồng) và “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy bộ môn Toán, Lịch
sử, Địa lý lớp 10, 11, 12 phân ban tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Thuận” Hiệu quả rõ rệt qua hơn một năm triển khai:
- Từ những khó khăn ban đầu như: trình độ ứng dụng tin học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của đại bộ phận giáo viên tại các trường THPT còn rất nhiều hạn chế (giáo viên không có điều kiện tự học, tự bồi dưỡng
về tin học các phương tiện thiết bị để hỗ trợ giảng dạy bằng giáo án điện tử tại các trường còn nhiều thiếu thốn), đến nay 25 trường THPT trong tỉnh đã có 168
Trang 40giáo viên cốt cán ở 06 bộ môn đã tham gia các lớp đào tạo, tập huấn về tin học
và kỹ năng thiết kế, biên soạn giáo án điện tử Nhìn chung đội ngũ này đáp ứng được các yêu cầu về năng lực chuyên môn và trình độ tin học có khả năng khai thác các tiện ích về CNTT, sử dụng các phần mềm chuyên dụng vào trong thiết
kế, biên soạn (Vật lý: 29, Hóa học: 31, Sinh học: 25, Toán: 31, Lịch sử: 26, Địa lý: 26) Lực lượng giáo viên cốt cán đã làm tốt vai trò cốt cán của mình trong việc truyền đạt các kiến thức về kỹ năng tin học, ứng dụng CNTT, khai thác các
phần mềm dạy học trong thiết kế, soạn giảng cho 986 giáo viên còn lại tại 25 trường THPT
- Mặt khác, đã có một số giáo viên ở các trường phổ thông (xuất phát từ
sự yêu thích, say mê nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục)
đã chủ động tự học, tự tìm tòi nghiên cứu, tự trang bị máy tính cá nhân để biên soạn một số bài giảng điện tử phục vụ cho việc dạy học
Theo trang Web http://www.binhthuan.gov.vn, tại hội nghị chuyên đề
về ứng dụng CNTT trong giảng dạy vừa được Sở GD-ĐT tỉnh tổ chức, nhiều ý kiến của các trường cho rằng CNTT đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng như quản lý học sinh Nhiều trường đã triển khai ứng dụng thành công các chương trình phần mềm phục vụ giáo viên, học sinh, sinh viên như đăng ký môn học, quản lý điểm, quản lý kế hoạch học tập, đồ dùng dạy học, thư viện và còn thiết lập website để giao tiếp với phụ huynh học sinh
Theo báo cáo, cho đến thời điểm này, các trường đều được nối mạng internet Ngành giáo dục đã triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy từ nhiều năm nay, đặc biệt là soạn giảng bằng trình chiếu, sử dụng máy chiếu và các phần mềm trình diễn biết tích hợp hình ảnh, sơ đồ, âm thanh
và video clip đến nay đã đạt được những kết quả nhất định Bên cạnh đó, một số trường còn ứng dụng các phần mềm quản lý điểm, quản lý học sinh, các ứng dụng nghiệp vụ khác
Để có thông tin cụ thể hơn về tình hình ứng dụng CNTT vào dạy học Vật
lí trung học phổ thông ở tỉnh Bình Thuận, theo kết quả điều tra giáo viên dạy Vật lí và học sinh tại các trường THPT ở Bình Thuận, đã thu về 27 phiếu tham