1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập

101 469 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tự lực, tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh, bên cạnh những hình thức tự học qua sách báo, t

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ”-VẬT LÝ 12

CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ”-VẬT LÝ 12

CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

Chuyên ngành : LL&PP d ạy học bộ môn Vật lí

Mã số : 60 14 01 11

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN GIA ANH VŨ

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN VÀ CẢM ƠN

Tôi xin cam đoan nội dung luận văn là kết quả quá trình nghiên cứu cơ sở lý

luận và thực tế của bản thân từ đó bắt tay vào xây dựng và thực hiện đề tài có thông qua quá trình thực nghiệm kiểm chứng một cách nghiêm túc và trung thực Nội dung

đề tài là thiết kế và sử dụng e-book dạy học chương “Dao động cơ” Vật lý

12-Chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập Tôi xin cam đoan đề tài này

chưa được thực hiện trước đây

Trong quá trình làm luận văn, tôi đã nhận được sự động viên và hỗ trợ từ gia đình, bạn bè, thầy cô trong nhà trường Thông qua luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến:

- Gia đình luôn ủng hộ và giúp đỡ mọi mặt cho tôi

- TS Phan Gia Anh Vũ đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉnh sửa và góp ý giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Quý thầy cô giáo khoa Vật lý và phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí

- Ban giám hiệu và quý thầy cô giáo tổ Vật lý trường THPT Phước Vĩnh cũng như thầy cô dạy Vật lý ở một số trường THPT thuộc tỉnh Bình Dương đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

- Các bạn học viên lớp Lý luận và Phương pháp dạy học Vật lý K22 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013

Nguyễn Văn Hạnh

Trang 4

M ỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN VÀ CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 2

CÁC CH Ữ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5

M Ở ĐẦU 6

1 Lý do ch ọn đề tài và thực trạng 6

2 M ục đích của đề tài 8

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Gi ả thuyết khoa học 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 T ổng quan về phương pháp dạy học theo xu hướng tích cực 11

1.1.1 Các đặc trưng của dạy học tích cực 12

1.1.2 Các y ếu tố tác động trong phương pháp dạy học tích cực 15

1.1.3 Thu ận lợi và khó khăn của phương pháp dạy học tích cực 16

1.2 T ổng quan về tự học và hoạt động ôn tập củng cố 17

1.2.1 T ổng quan về tự học 17

1.2.2 T ổng quan về hoạt động ôn tập củng cố 21

1.3 T ổng quan về kiểm tra đánh giá 30

1.3.1 Khái ni ệm chung về đánh giá 30

1.3.2 Vai trò c ủa kiểm tra, đánh giá 31

1.3.3 Các phương pháp đánh giá 33

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG E-BOOK DẠY HỌC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” – VẬT LÝ LỚP 12 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) GIÚP HỌC SINH TỰ HỌC VÀ ÔN TẬP 42

2.1 Phân tích n ội dung chương “Dao động cơ” sách giáo khoa vật lý 12 chương trình chu ẩn 42

2.1.1 Đặc điểm của chương “dao động cơ” 42

2.1.2 Phân ph ối chương trình và mục tiêu của từng bài học 43

2.1.3 T ầm quan trọng của chương 46

2.1.4 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức của chương “Dao động cơ” Vật lý 12 – chương trình chu ẩn 47

2.1.5 M ột số sai lầm của học sinh khi học chương “dao động cơ” – Vật lý 12- chương trình chu ẩn 47

Trang 5

2.2 Đề xuất hình thức tự học tự ôn tập và phương pháp ôn tập 49

2.2.1.Ôn t ập thông qua việc hệ thống hoá-tóm tắt lại bài học 49

2.2.2 Ôn t ập thông qua việc xây dựng đồ thị (Graph) 50

2.2.3 Ôn t ập thông qua việc trả lời các câu hỏi ôn tập dạng tự luận 51

2.2.4 Ôn t ập thông qua việc làm bài tập luyện tập 52

2.3 Đề xuất về phương tiện tự học thông qua e-book 52

2.3.1.V ề nội dung 53

2.3.2 V ề hình thức 54

2.3.3.V ề phương pháp 54

2.4 Biên so ạn cơ sở dữ liệu 55

2.4.1 H ệ thống - tóm tắt kiến thức sau mỗi bài học theo phân phối chương trình của chương “dao động cơ” 55

2.4.2 Các d ạng toán và phương pháp giải từng dạng toán 55

2.4.3 Đề ôn luyện cho mức độ thi tốt nghiệp - Đề ôn luyện cho mức độ thi đại học, cao đẳng 56

2.4.4 L ựa chọn công cụ xây dựng e-book 56

2.5 Xây d ựng e-book 58

2.5.1 Xây d ựng giao diện và tương tác 58

2.5.2 Xây d ựng nội dung 59

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 M ục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 67

3.1.1 M ục đích 67

3.1.2 Nhi ệm vụ 67

3.2 Xây d ựng mô hình thực nghiệm-lựa chọn đối tượng và nội dung thực nghiệm 68

3.2.1 Xây d ựng mô hình thực nghiệm 68

3.2.2 L ựa chọn đối tượng và nội dung thực nghiệm định tính 69

3.2.3 L ựa chọn đối tượng và nội dung thực nghiệm định lượng 69

3.3 T ổ chức thực nghiệm sư phạm 71

3.3.1 Quy trình th ực nghiệm sư phạm 71

3.3.2 K ết quả định lượng 71

3.4 Phân tích- đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 74

3.4.1 V ề mặt định tính: thông qua quan sát, phiếu điều tra 74

3.4.2 V ề mặt định lượng 78

K ẾT LUẬN 89

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

PH Ụ LỤC 93

Trang 7

CÁC CH Ữ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNTT : Công nghệ thông tin

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài và thực trạng

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông trong những năm gần đây đã tác động vào hầu hết các lĩnh vực, làm thay đổi rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là giáo dục Để hòa nhập với tốc độ phát triển của nền khoa học kĩ thuật trên thế giới, sự nghiệp giáo

dục cũng phải nhanh chóng đổi mới nhằm tạo ra những con người có đủ kiến thức, năng lực trí tuệ sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt Một trong những trọng tâm của

việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường THPT là phát huy tính tích cực

và khả năng tự học của học sinh Trong luật Giáo dục (2005), Điều 28.2 nêu rõ:

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Để thực hiện điều

này, giáo viên cần phải áp dụng những phương pháp và hình thức dạy học thích hợp, bên cạnh đó cần cung cấp cho HS những công cụ tự học có hiệu quả Bởi lẽ, tự học là

một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức, kĩ năng

cần phải có với quĩ thời gian học tập ít ỏi ở trường

Để đáp ứng việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tự lực, tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh, bên cạnh những hình

thức tự học qua sách báo, truyền hình, tham quan … thì việc tự học với sự trợ giúp

của e-book đang trở nên hết sức phổ biến Trong những năm gần đây, hướng nghiên

cứu thiết kế e-book để phục vụ quá trình dạy học đã được thực hiện và áp dụng vào

một số môn học Ưu điểm nổi bật của e-book là khả năng lưu trữ lớn, cung cấp cho

HS nhiều thông tin, hình ảnh, phim minh họa rõ nét, hấp dẫn mà sách in thông thường không có được, do đó nâng cao hiệu quả tự học thông qua những kiến thức được minh họa một cách sinh động, hấp dẫn Vì thế việc nghiên cứu xây dựng một e-book vận dụng vào dạy học Vật lí nhằm cung cấp cho học sinh một tài liệu hướng

Trang 9

dẫn cụ thể, giúp học sinh tự học ở nhà như là khi học trên lớp, học sinh được đặt vào

những tình huống có vấn đề, được tự mình tìm cách giải quyết các vấn đề để nâng cao hiệu quả học tập là rất cần thiết

Mặt khác, từ năm học 2006-2007 Bộ GD&ĐT triển khai đổi mới hình thức thi

tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng từ hình thức tự luận thành hình thức thi trắc nghiệm khách quan cho các môn Vật Lý, Hóa Học, Sinh Học và Ngoại Ngữ

Vì vậy, ngoài những kiến thức cần đạt được so với mục tiêu giáo dục, HS còn phải rèn luyện kĩ năng làm bài thi trắc nghiệm

Trong thời đại CNTT bùng nổ như hiện nay, việc sử dụng chúng vào đời sống,

sản xuất giúp hoàn thành công việc hiệu quả, nhanh chóng, chính xác Ngành giáo

dục cũng vậy, đã ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, kiểm tra đánh giá ở nhiều cấp học, nhiều đối tượng đã làm tăng khả năng chủ động, cũng như tiết kiệm được rất nhiều thời gian cho người học, làm cho người học hứng thú hơn, nắm bắt được tri thức nhanh hơn

Với môn Vật Lý nói riêng, việc áp dụng CNTT vào đã làm cho bài giảng sinh động và trực quan hơn, người học được tiếp cận với phương pháp giáo dục tiên tiến Đặc biệt, việc chuyển từ hình thức thi tự luận sang hình thức thi trắc nghiệm khách quan đòi hỏi người học phải có những kĩ năng giải bài tập trắc nghiệm rất khác so với

tự luận, nhất là đối với họ sinh lớp 12 chuẩn bị cho thi tốt nghiệp và đại học Trong chương trình Vật Lý lớp 12 thì chương quan trọng nhất là chương “dao động cơ” Bởi

vì, Theo cấu trúc của đề thi tốt nghiệp THPT, đề thi đại học, cao đẳng thì số câu trong chương này là 6 đến 7 câu chiếm khoảng 15 % đến 17,5% đối với đề thi tốt nghiệp và

8 đến 9 câu chiếm khoảng 16% đến 18% đối với đề thi đại học, cao đẳng Mặt khác, đây còn là chương mà kiến thức của nó dùng cho các chương khác rất nhiều (như trong chương “dao động điện từ”, “sóng cơ”, “dòng điện xoay chiều”) Một lí do nữa,

đó là việc “dạy thêm, học thêm” Đây là vấn đề thời sự hiện nay, Bộ giáo dục đã đưa

ra nhiều biện pháp để cấm dạy thêm học thêm, nhưng những biện pháp này vẫn thật

sự chưa hiệu quả và có rất nhiều ý kiến trái chiều nhau Nhu cầu học thêm của HS là

có thật, nhưng bên cạnh đó có một số bộ phận GV ép HS phải đi học làm cho ý nghĩa

thật sự của việc “dạy thêm, học thêm” bị biến dạng, nên trở thành vấn đề mà xã hội

Trang 10

rất quan tâm.Vì vậy, cần có một nguồn tài liệu nào đó giúp HS có thể tự học ở nhà để

giảm bớt việc phải đi học thêm, giảm chi phí cho gia đình HS và thời gian đi lại

của HS

Chính vì những lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế và sử

d ụng e-book dạy học chương “dao động cơ” Vật lý lớp 12-Chương trình chuẩn giúp h ọc sinh tự học và ôn tập” Với đề tài này, chúng tôi mong muốn HS sẽ tích

cực tự lực học tập, hứng thú trong việc học Vật lý, đồng thời một phần nào đó rèn luyện được kĩ năng cần thiết cho làm bài tập trắc nghiệm, tự kiểm tra đánh giá chính

khả năng của mình để điều chỉnh phương pháp học tập cho phù hợp với điều kiện của

bản thân cũng như những kiến thức quan trọng để tiếp tục học các chương tiếp theo

và chuẩn bị tốt nhất cho ki thi tốt nghiệp và đại học Chúng tôi cũng mong muốn đề tài của mình sẽ đóng góp phần nào đó cho công cuộc đổi mới và nâng cao chất lượng cho giáo dục phổ thông

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới GD nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về một số phương pháp tự học, các mức độ của nhận

thức, hình thức trắc nghiệm khách quan

- Nghiên cứu cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và thi đại học, cao đẳng Nghiên

cứu chương trình, nội dung của Vật Lý 12

- Biên soạn: Tổng kết kiến thức sau mỗi bài học theo phân phối chương trình, phân loại các dạng toán của chương “dao động cơ”, đưa ra các phương pháp giải

Trang 11

cho mỗi loại toán đồng thời đưa ra những kiến thức liên quan đến các chương sau, xây dựng bài kiểm tra cho 2 mức độ: thi tốt nghiệp và thi đại học, cao đẳng

- Xây dựng e-book từ nội dung đã biên soạn

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông nhằm xác định hiệu quả của

đề tài

- Tổng kết đánh giá đề tài

- Đề xuất ý kiến

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Nội dung kiến thức chương 1 “Dao động cơ”- vật lý

lớp 12, cơ sở lí luận về một số phương pháp tự học, cấu trúc đề thi tốt nghiệm THPT,

đề thi cao đẳng đại học và kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệp khách quan + Phạm vi nghiên cứu:

- Kiến thức chương 1 “dao động cơ”_Vật lý lớp 12_chương trình chuẩn theo phân phối chương trình của Bộ giáo dục Việt Nam.Xây dựng e-book với nội dung

kiến thức của chương 1 “dao động cơ”-Vật lý lớp 12-Chương trình chuẩn theo phân

phối chương trình của Bộ giáo dục Việt Nam

- Đối tượng HS lớp 12 của trường THPT Phước Vĩnh – Phú Giáo – Bình Dương trong tháng 8 và nửa đầu tháng 9 của học kì 1 năm học 2013-2014

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu cơ sở lý luận về đổi mới giáo dục

nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, cơ sở lý luận về một số phương pháp tự học, ôn tập củng cố, các mức độ của nhận thức, hình thức trắc nghiệm khách quan Nghiên cứu cấu trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi đại học, cao đẳng Nghiên cứu chương trình, nội dung của Vật Lý 12, rồi từ đó đi sâu vào nghiên cứu nội dung chương 1 “dao động cơ”

- Nghiên cứu điều tra, phân tích: Khả năng tự học của HS Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đại học, cao đẳng môn Vật Lý

Trang 12

- Thống kê, đánh giá: kết quả thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Phước Vĩnh – Phú Giáo – Bình Dương trong tháng 8 và nửa đầu tháng 9 của học kì 1 năm

học 2013

6 Gi ả thuyết khoa học

Nếu thiết kế được e-book dạy học chương “Dao động cơ” với hình thức đẹp, hấp

dẫn, nội dung phù hợp thì có thể làm cho học sinh hứng thú và tích cực tự lực học tập

ở trên lớp cũng như ở nhà

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 T ổng quan về phương pháp dạy học theo xu hướng tích cực

Thực tế đã chứng minh, việc học chỉ thực sự có được khi học sinh tích cực và

chủ động tham gia vào quá trình dạy – học Trong quá trình dạy học, khối lượng kiến

thức, kĩ năng và kĩ xảo của học sinh tăng lên, tầm hiểu biết được mở rộng, quan điểm

và niềm tin chính trị được hình thành Chỉ trong quá trình hoạt động tích cực, HS mới

tiếp thu kiến thức, rèn luyện được kĩ năng, có được sự say mê học tập và sự hoàn thiện những năng lực nhận thức chung và riêng Tất cả những cái đó dẫn tới việc hoàn thiện nhân cách nói chung, và làm phong phú thêm những nhu cầu nhận thức

Vậy tính tích cực nhận thức là gì? Đó là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng, sự cố gắng, sự quyết tâm và thể hiện nghị lực cao trong quá trình

học tập lĩnh hội kiến thức Để HS có được tính tích cực trong nhận thức, cần phải có

chủ trương và biện pháp đúng đắn, phải có sự đổi mới về mặt phương pháp giáo dục

Trong Lu ật giáo dục, điều 24.2 đã ghi : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của

từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng

kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[3] Vì vậy, phương pháp dạy học tích cực ra đời, thay thế cho phương pháp dạy học truyền thống chỉ truyền thụ kiến thức một chiều Vậy phương pháp dạy học tích cực là gì?

Phương pháp là hệ thống những cách thức, nguyên tắc để điều chỉnh hoạt động

dựa trên sự vận động khách quan và có quy luật của đối tượng Vậy, nếu xét theo vai trò giữa người dạy và người học thì gọi đó là phương pháp lấy người học (học sinh)

làm trung tâm hay làm gốc Nếu xét theo mức độ làm việc của người học thì gọi đó là

phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Dạy học lấy HS làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của

Trang 14

học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của người GV

Lịch sử phát triển GD cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt" Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều GV giảng Cách dạy này dẫn đến cách học tập

thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của HS, thực hiện "dạy học phân hóa", quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân HS trong tập thể lớp Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy HS làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó

Trên thực tế, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động hoàn thiện bản thân về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì phải phát

huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung

tâm kh ông phải là một phương pháp dạy học cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm

GD, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả qúa trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học

1.1.1 Các đặc trưng của dạy học tích cực

a Dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học là đối tượng của hoạt động

"dạy", đồng thời cũng là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều

Trang 15

mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này thì GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hoạt động Trong quá trình dạy học, GV phải giúp cho từng HS biết cách hoạt động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong xã hội hiện đại đang phát triển nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc HS khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho HS phương pháp học ngay

từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện

cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho

họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học

trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học

chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học

ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV

c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin

Trang 16

trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động

xã hội

Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác đang trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh

d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây, GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn

Trang 17

nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Với

sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

1.1.2 Các y ếu tố tác động trong phương pháp dạy học tích cực

Trong dạy học tích cực, người học là trung tâm của quá trình dạy – học Nhưng vai trò của người thầy giáo và các phương tiện vật chất là những yếu tố đóng vai trò

vô cùng quan trọng

1.1.2.1 Vai trò c ủa người thầy

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, người thầy không còn đóng

vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, người thầy trở thành người thiết kế, tổ

chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, người thầy có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, người thầy đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động thì mới có thể thực hiện bài lên lớp với

vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm

tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Người thầy phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của chính người thầy

Với vai trò là người đi trước, có trình độ cao, người thầy phải là người hướng

dẫn thường xuyên cho HS, có trách nhiệm định hướng, uốn nắn, hỗ trợ, khuyến khích

hoạt động học tập của HS

Tùy theo yêu cầu, có lúc người thầy đóng vai trò “trung gian, hòa giải, cố vấn”

và đôi khi là “người trọng tài thông thạo trong mọi tình huống”[1] trong quản lý, điều

Trang 18

khiển quá trình dạy – học Đôi khi không phải kiến thức nào học sinh cũng có thể tự tìm hiểu, khám phá ra, mà kiến thức đó phải do người thầy đem lại

Tóm lại, điều khác biệt giữa phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy

học truyền thống, chính là ở chỗ: “thầy giáo là chất xúc tác, không đảm nhận một hành động trực tiếp nào Thầy là người kích thính nhằm thường xuyên thức tỉnh một

số khuynh hướng, một số quy trình bỏ sung cần thiết cho sự thăng bằng nhân cách” [1]

1.1.2.2 Phương tiện vật chất

Phương tiện vật chất luôn luôn là một yếu tố cần thiết, nếu được sử dụng hợp lí

có thể dẫn tới biến đổi lớn đối với hiệu quả, chất lượng giáo dục Học cụ được sử

dụng đúng liều lượng sẽ thích hợp với hứng thú và mục tiêu học tập Trật tự lớp học cũng biến đổi: từ kiểu trật tự bất động và im lặng của kiểu “lớp học - thỉnh giảng” hay

lớp học truyền thống đến trật tự “vận động” của kiểu lớp học “xưởng thợ”

Sách giáo khoa cũng đổi hướng, cung cấp nhiều dữ liệu hơn là quy tắc, nhiều bài

tập hơn là bài giải, nhiều lời khuyên giải sưu tầm hơn là bài tóm tắt, nhiều gợi ý hơn

là giảng dạy

Hiện nay, không thể cá thể hóa dạy học nếu không có sự liên kết với phương

tiện và nghe nhìn và liên kết các phương tiện vật chất khác nhằm phát huy tính tích

cực của HS Do đó, để hỗ trợ cho phương pháp tích cực, không gian học đường cần

phải được trang bị thật sinh động

1.1.3 Thu ận lợi và khó khăn của phương pháp dạy học tích cực

1.1.3.1 Nh ững thuận lợi

Đứng về mặt hiểu biết, xây dựng nhân cách phương pháp tích cực có hiệu quả hơn phương pháp độc đoán vì huy động được nhân cách học sinh vào hành động hiểu

biết Câu thành ngữ “Tôi nghe thì tôi quên, tôi thấy thì tôi nhớ, tôi làm thì tôi hiểu” đã

có trên hai ngàn năm tuổi, đây chính là con đường, là phương pháp phát triển cả kỹ năng thực hành lẫn kĩ năng tư duy trí tuệ ở HS Chỉ có tự vận động suy nghĩ, tự tham gia trực tiếp vào công việc mới đạt được cấp cao hơn của nhận thức trong chuỗi quá trình nhận thức “Biết (ghi nhớ) - hiểu – vận dụng – phân tích – tổng hợp – đánh giá”

Trang 19

Sự phát triển của CNTT và sự bùng nổ thông tin cũng đem đến những thuận lợi không nhỏ cho phương pháp này Việc vận dụng CNTT giúp cho bài học sinh động,

trực quan hơn, làm cho HS phải vận dụng nhiều giác quan khi tham gia học tập

Những lớp học trực tuyến, những web side tài nguyên giáo dục, những phần mềm

dạy học, sách điện tử (e-book) giúp HS rất nhiều trong quá trình tự học

1.1.3.2 Nh ững khó khăn

Mặc dù phương pháp dạy học tích cực có nhiều ưu điểm, nhiều thuận lợi, phù

hợp với xu hướng giáo dục hiện nay, nhưng phương pháp này cũng không thể bao quát toàn bộ lĩnh vực GD Có những kiến thức không thể do HS phát hiện mặc dù đã cung cấp cho HS bất cứ phương tiện nào

Qua thực tiễn dạy học, chúng tôi nhận thấy, có rất nhiều bài học, khi HS tự giải quyết được vấn đề, phát hiện ra một quy tắc, hay thực hiện được một thí nghiệm , thì các công việc này chiếm mất quá nhiều thời gian, không còn thời gian cho toàn bộ chương trình Mặt khác, do một số HS rất kém về ý thức cá nhân (trong lớp học thường không đồng đều), trình độ tư duy thấp nên để đạt được kết quả mong muốn, người thầy phải dìu dắt, chỉ bảo tận tình, thậm chí phải thông báo một số kiến thức cho những HS này Cách làm này đi ngược lại tinh thần của phương pháp tích cực Trong những lớp học mà HS có trình độ chênh lệch nhau quá nhiều thì sẽ xảy ra mâu thuẫn trong việc khuyến khích mục tiêu tự chủ, ưu tiên tuyệt đối cho mục tiêu phát triển (vốn nhắm đến các HS khá giỏi) và chỉ dừng lại ở các mức kĩ năng thấp, chỉ yêu

cầu nhớ bài, hay đạt được những thành tựu thấp nhất, dễ dãi nhất (phù hợp với các

HS yếu kém)

1.2 Tổng quan về tự học và hoạt động ôn tập củng cố

1.2.1 T ổng quan về tự học

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện

cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho

họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học

trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học

Trang 20

chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học

ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV

1.2.1.1 Các khái niệm về tự học

Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ cùng các

phẩm chất khác của mình, cả động cơ và tình cảm, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sử hữu của mình Có thể nói một cách ngắn gọn, tự

học là quá trình độc lập khám phá và sáng tạo

Có nhiều cách tự học như: Tự mình mò mẫm ( đối với người không có điều

kiện đi học, các tri thức của họ tìm được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc sống); Tự học ở nhà, không có sự hướng dẫn của người thầy (đối

với người học đã có một trình độ học vấn nhất định, đã trải qua một thời gian học với

thầy); Tự học với sự hướng dẫn của người thầy (đối với người đang theo học, hoạt động tự học này gắn với quá trình dạy-học)

Ở cấp học phổ thông, hoạt động tự học của HS thường gắn liền với sự hướng

dẫn của người thầy Hoạt động này diễn ra ở hai phạm vi: tự học trên lớp với sự hướng dẫn trực tiếp của người thầy và tự học ngoài giờ lên lớp

• Tự học trên lớp:

- Nghe GV giảng và hướng dẫn

- Lập luận, đánh giá, rút ra kết luận

- Nghi chép theo cách hiểu của bản thân

- Trao đổi với GV và HS khác những vấn đề còn thắc mắc

• Tự học ngoài giờ lên lớp:

- Đọc sách tham khảo, học trực tuyến qua truyền hình, qua mạng, qua các phần

mềm học tập, e-book

- Học theo chủ đề: hệ thống lý thuyết – bài tập vận dụng – tự giải những bài tập tương tự; ghi chép lại những vấn đề cần chú ý

- Lập nhóm học để thảo luận vấn đề theo nhóm: phân công công việc, lên lịch

thảo luận, tìm tài liệu và nghiên cứu, thảo luận, kết luận chung, tập hợp thành đề cương để ôn tập chung

Trang 21

Ngày nay, khi khoa học, công nghệ phát triển mạnh, thông tin bùng nổ thì

những kiến thức trong nhà trường chỉ là những kiến thức nền tảng làm cơ sở đó người

học vươn ra tiếp thu kiến thức trong gia đình và xã hội trong tươnglai Vấn đề tự học lúc này trở thành con đường cơ bản để nâng cao trình độ hiểu biết cho bản thân Để

HS có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ cho mỗi cấp học và để chuẩn bị cho mình một hành trang tốt hơn khi bước tiếp lên cấp học cao hơn hay bước vào cuộc đời, chúng tôi thiết nghĩ, dưới góc độ là nhà giáo dục, mỗi chúng ta cần hướng dẫn, hình thành cho HS biết xây dựng kết hoạch học tập khoa học và sáng tạo cho phù hợp với năng

lực bản thân mỗi HS

1.2.1.2 Nh ững khó khăn

Một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của tự học đó là sự vận

dụng phương pháp này đối với mỗi người học Có thể là nguyên nhân khách quan như xa GV, xa bạn, phải tự mình giải quyết việc học, dẫn đến bế tắc không biết hỏi ai; nguyên nhân chủ quan như: tâm lý thiếu tự tin, dễ nản khi gặp bế tắc, không biết

quản lý thời gian, không biết lựa chọn nguồn tài liệu Trong số những khó khăn này, thì hạn chế về kĩ năng tự học là chủ yếu nhất Có thể kể ra những kĩ năng đó như sau:

- Lập kế hoạch học tập, kiểm soát và quản lý quá trình tự học: Đây là kĩ năng

mà hầu hết HS thường chưa được trang bị HS thường học một cách tự phát, không

có kế hoạch rõ ràng, phụ thuộc vào thời khóa biểu các môn học trên trường, do đó không đề ra được kế hoạch cụ thể dẫn đến việc không kiểm soát và quản lý quá trình

- Khắc phục khó khăn trong trường hợp không có GV trợ giúp: Từ việc lựa

trọn tài liệu không phù hợp, dẫn tới gặp khó khăn trong lúc giải quyết các vấn đề của bài học, khi đó HS dễ nản chí, không còn hứng thú nghiên cứu tài liệu

- Đánh giá kết quả và hiệu quả của việc tự học: tự học rất khó kiểm soát, khó đánh giá kết quả

Trang 22

1.2.1.3 M ột số biện pháp

Có rất nhiều tài liệu nói về phương pháp tự học cũng như tác dụng của phương pháp này Vấn đề cốt lõi là phải làm thế nào để giúp HS thực hiện được phương pháp này, cũng như giải quyết được những khó khăn khi tự học Sau đây là một số biện pháp

- Thi ết kế các bài tập tự học cho học sinh

Các bài tập tự học bao hàm nội dung học tập mà HS phải tự hoàn thành Đồng

thời bài tập tự học này cũng chỉ dẫn cách học cho HS, đây cũng là cơ sở để GV đánh giá kết quả tự học của HS Do đó, việc thiết kế bài tập tự học cho HS có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hướng dẫn tự học

* Trước khi thiết kế bài tập tự học, GV cần lựa chọn và quyết định nội dung tự

học Thông thường, các nội dung được chọn là những vấn đề cơ bản, đơn giản, mang tính thực tiễn cao, gắn liền với nội dung học tập chính khóa của HS, có nhiều nguồn tài liệu Tiếp theo, phải phân tích nội dung đã được chọn thành những đơn vị kiến

thức nhỏ và theo các đề mục rõ ràng, để dễ thiết kế cũng như HS dễ soạn thảo thành

đề cương

* Mỗi bài học có thời lượng học cụ thể, không quá ngắn, cũng không quá dài

Mỗi bài học khoảng 1 tiết học (45 phút) đến 1 giờ (60 phút) là mức độ vừa phải Điều này đảm bảo cho lượng kiến thức vừa phải, không quá nặng nề

* Các bài tập tự học này có thể được thiết kế theo hai hình thức: Bài tập theo bài học và bài tập theo chủ đề

+ Bài tập theo bài học là các bài tập được soạn thảo rất chi tiết, cụ thể và bám sát với nội dung của từng đơn vị kiến thức của sách giáo khoa Bài tập này được

cấu trúc theo hệ thống phù hợp với kiến thức, trình độ mà HS đang lĩnh hội trên lớp Khi hoàn thành hệ thống bài tập này, HS sẽ nắm vững được kiến thức được học ở cấp

học theo phân phối chương trình

+ Bài tập theo chủ đề thường được dùng để ôn tập Các bài tập được

soạn theo chủ đề, phân loại theo từng dạng

* Độ khó của bài tập cũng là vấn đề cần quan tâm trong việc thiết kế bài tập tự

thọc Khó khăn của HS khi tự học là không có người trợ giúp khi gặp bế tắc, do đó,

Trang 23

các bài tập không nên quá khó, mà chỉ nên ở mức độ trung bình Nhìn chung, nên cấu trúc bài tập ở mức độ tìm hiểu nội dung ghi nhớ và tìm cách giải thích các sự kiện

thực tế, tránh ra các bài tập phức tạp Việc sắp xếp các bài tập cũng cần theo logic

chặt chẽ từ dễ đến khó và đánh số thứ tự rõ ràng

- Giám sát quá trình t ự học

Đặc điểm của quá trình tự học là rất khó đánh giá Điều này gây khó khăn không nhỏ cho HS cũng như GV trong việc kiểm soát quá trình tự học cũng như đánh giá mức độ tiến bộ của việc học Theo sự nghiên cứu của chúng tôi GV có thể thực

hiện như sau:

* Phần cuối của mỗi bài học cho các câu hỏi tự kiểm tra để HS làm và tự đánh giá được tiến bộ và mức độ hiểu bài của mình Yêu cầu HS nộp lại bài để biết HS có

học bài và làm bài hay không

* Cho đáp án và cung cấp các bài mẫu cũng như cách giải tối ưu sau khi HS đã hoàn thành bài tự kiểm tra, khi đó HS sẽ tự so sánh và đánh giá

* Khuyến khích HS tìm cách giải mới, cũng như tìm kiếm các câu hỏi tự kiểm tra ở các tài liệu khác Sau đó yêu cầu HS phát biểu tự đánh giá về quá trình và hiệu

quả việc tự học của mình

* Khuyến khích HS việc tự học theo nhóm, cho HS đóng vai trò người GV để giúp đỡ nhau trong học tập cũng như đánh giá và nâng cao trách nhiệm đối với nhau Đây cũng là cách để khắc phục khó khăn trong việc tự học khi không có GV

- Hướng dẫn lựa chọn nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu góp phần rất lớn cho chất lượng của việc tự học Vì vậy, GV nên lập các loại danh mục tài liệu cho HS Trong đó nên chỉ rõ tài liệu nào là bắt buộc

phải có và tài liệu nào là tài liệu tham khảo Với tài liệu bắt buộc nên chỉ rõ số trang

phải đọc và câu hỏi cho bài học tương ứng

Sưu tầm và phân loại nguồn tài liệu là một trong những kĩ năng cần được hình thành trong hoạt động tự học Hướng dẫn cho HS sưu tầm những tài liệu có nguồn

gốc rõ ràng, được viết gắn liền với nội dung, chương trình mà HS đang học, không quá dàn trải Tác giả của tài liệu phải có uy tín trong hoạt động nghiên cứu khoa

học

1.2.2 T ổng quan về hoạt động ôn tập củng cố

Trang 24

1.2.2.1 Ôn t ập củng cố và mục đích của ôn tập củng cố

Theo cách hiểu thông thường, ôn tập củng cố là hệ thống lại, nhớ lại, xây dựng

lại kiến thức một cách chắc chắn hơn Theo tâm lý học thì ôn tập không chỉ là nhớ lại

mà còn là cấu trúc lại các kiến thức đã được lĩnh hội, sắp xếp các thông tin, kiến thức theo một cấu trúc mới, kết hợp với các thông tin, kiến thức cũ để tạo nên sự hiểu biết

mới Theo đó, việc ôn tập phụ thuộc vào chủ quan của HS Mỗi HS có một cách sắp

xếp, cấu trúc nội dung kiến thức, thông tin khác nhau, tùy thuộc vào tính cách, cách

thức học và trình độ kiến thức của mỗi HS khác nhau Khi cần thiết, HS có thể tái

hiện thông tin và sử dụng những thông tin đó cho những mục đích học tập khác nhau Cách thức tái hiện thông tin ở mỗi HS cũng rất khác nhau Do cách sắp xếp, cấu trúc thông tin của HS có khoa học, logic hay không mà việc tái hiện thông tin có dễ dàng hay không

Sự lưu giữ thông tin bắt đầu từ quá trình ghi nhớ Thông tin được lưu giữ trong trí nhớ có thể là rất ngắn, chỉ tồn tại vài giây trong quá trình HS làm việc hoặc thao tác với thông tin; cũng có những thông tin cần được lưu giữ trong thời gian dài, có

thể suốt cả cuộc đời Muốn vậy thì các thông tin đó cần được xử lý, sắp xếp, cấu trúc sao cho có nghĩa đối với HS Có nghĩa là các thông tin cần được sắp xếp một cách khoa học, logic, biểu thị được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức và thông tin

với nhau một cách mạch lạc, dễ hiểu và dễ tiếp thu đối với HS Đồng thời thông qua

việc sắp xếp đó HS phải thấy được mối quan hệ cũng như nguyên nhân, kết quả của chuỗi các sự kiện có liên quan

Thực chất của hoạt động này là thực hiện việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận và tổ chức lại các thông tin đã thu nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với HS Để tổ chức được thông tin thì điều đầu tiên

HS phải thông hiểu, thấu hiểu được thông tin Thông qua các thao tác trí tuệ HS cần xác nhận, bổ sung và chỉnh lý thông tin để tìm ra những vấn đề cơ bản, mấu chốt,

thậm chí tìm ra những chỗ chưa hiểu, chưa rõ về thông tin Tiếp tục với sự hướng dẫn

và giúp đỡ của GV, trao đổi, góp ý với bạn bè, HS có thể hoàn thiện hiểu biết về thông tin một cách sâu sắc Sau khi đã thông hiểu thông tin, HS sử dụng các thao tác

tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ

chức và sắp xếp lại các thông tin đã lĩnh hội theo một cấu trúc mới Có tổ chức ghi

Trang 25

nhớ được thông tin một cách khoa học và thấu hiểu được thông tin một cách sấu sắc thì mới chuyển sang ghi nhớ một cách lâu dài có hiệu quả Theo sự phân tích ở trên thì hoạt động này đòi hỏi khả năng tự học của HS rất nhiều, hay nói cách khác, hoạt động ôn tập là hoạt động tự ghi nhớ, tự sắp xếp và cấu trúc lại nội dung kiến thức đã được thu nhận của mỗi bản thân HS Tuy nhiên muốn làm được điều này đòi hỏi không chỉ tính tự giác, năng lực cá nhân của HS mà còn phụ thuộc vào nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức ôn tập của GV

Sự lưu trữ thông tin trong trí nhớ giống như một tủ hồ sơ lưu giữ những thông tin đã được lập thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai Tuy nhiên không phải bất cứ thông tin nào được lưu giữ trong trí nhớ cũng tồn tại suốt đời Vì trí nhớ có xu hướng chỉ cho phép tái hiện lại những thông tin, dữ kiện hữu ích khi các

dữ kiện này được tái hiện thường xuyên Do đó, muốn thông tin được lưu giữ lâu dài trong trí nhớ thì cần được sử dụng và gợi nhớ thông tin này một cách thường xuyên Điều này đồng nghĩa với việc nếu thông tin mà không sử dụng thường xuyên thì cũng

sẽ bị lãng quên Vì vậy, trong quá trình dạy học, để thông tin được lưu giữ lâu dài thì

GV cần tổ chức cho HS thường xuyên sử dụng kiến thức đã được lĩnh hội dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn, thực hành Theo giáo dục học thì ôn tập là giúp HS củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tạo cơ

hội cho GV sửa chữa những sai lầm trong nhận thức của HS, rèn luyện kỹ năng, kỹ

xảo, phát huy tính tích cực, độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý của HS Ôn tập còn giúp HS mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa

những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành

Một số tác giả khác cho rằng ôn tập là quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin

đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hoặc thấy có chỗ tối ưu hơn, góp phần củng cố và phát họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau

Như vậy, theo tôi, ôn tập là quá trình học sinh tự xây dựng, tổ chức lại tri thức, thông tin đã thu nhận được, đồng thời cấu trúc và sắp xếp thông tin một cách khoa

học, logic, có hệ thống, có xử lý, bổ sung và chỉnh sửa để việc ghi nhớ thông tin được

dễ dàng, lâu dài và sử dụng một cách hiệu quả các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã thu

nhận được

Trang 26

1.2.2.2 Vai trò và v ị trí của ôn tập củng cố trong quá trình nhận thức của

h ọc sinh

Ôn tập có vai trò hết sức quan trọng trong việc củng cố kiến thức cho HS, giúp

HS nắm vững và hoàn thiện tri thức Thông qua việc ôn tập, HS có thể khắc sâu hơn các kiến thức đã học theo một trình tự logic giúp thể hiện rõ mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức và thông tin Nhờ đó HS có cái nhìn sâu rộng và hệ thống hơn về các thông tin đã thu nhận được Đồng thời thông qua việc ôn tập, HS có điều kiện tái hiện

lại các kiến thức thường xuyên và nhờ đó giúp thông tin được lưu giữ trong trí nhớ dài lâu hơn Không những thế, HS còn có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào thực hành và trong cuộc sống, tạo điều kiện cho HS hình thành và phát triển các

kỹ năng, kỹ xảo và cả năng lực tư duy của HS Muốn hoạt động ôn tập đạt hiệu quả thì người GV cần có phương pháp ôn tập thích hợp và nội dung ôn tập khái quát, hệ

thống và hoàn chỉnh Nếu nội dung ôn tập được người GV truyền đạt một cách rời

rạc, không có hệ thống thì thông tin sẽ khó có thể đọng lại trong trí nhớ của HS và

HS cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận dụng và thực hành kiến thức Do

đó để việc ôn tập phát huy được vai trò tích cực của mình thì người GV cần có phương pháp ôn tập thích hợp, đồng thời hướng HS có phương pháp tự ôn tập thích

hợp

Trong dạy học Vật lý nói riêng và trong quá trình dạy học nói chung, ôn tập là

một hoạt động không thể thiếu nhằm giúp HS khắc sâu kiến thức đã học, tinh lọc kiến

thức một cách logic, cấu trúc lại kiến thức một cách khoa học và sáng tạo, nhờ đó mà quá trình dạy học mới đạt được hiệu quả như mong muốn Ôn tập là một khâu quan

trọng trong quá trình dạy học, giúp HS ghi nhớ được các kiến thức đã thu nhận, đồng

thời rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo của mình Nhờ có ôn tập mà thông tin được lưu

giữ trong trí nhớ lâu hơn, cô đọng, súc tích hơn vì như đã phân tích ở trên thì thông tin sẽ không được ghi nhớ dài lâu nếu không được vận dụng và thực hành thường xuyên và ôn tập là hoạt động cụ thể để HS vận dụng và thực hành các kiến thức đã được lĩnh hội

1.2.2.3 M ột số hình thức chính của việc ôn tập củng cố

Trang 27

Ôn tập có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, nhưng trong quá trình dạy học có hai hình thức ôn tập củng cố chính là: ôn tập trên lớp (có sự hướng dẫn trực tiếp của GV) và ôn tập ngoài giờ lên lớp (hay có thể nói đây là hoạt động tự ôn tập ở nhà)

a/ Ôn t ập trên lớp

Trong các giờ học trên lớp, HS có thể ôn tập dưới sự hướng dẫn, tổ chức trực

tiếp của GV vào các thời điểm sau:

- Ôn tập trong quá trình tiến hành nhận thức kiến thức mới Hình thức ôn tập này được tiến hành nếu việc tiếp thu kiến thức mới cần vận dụng các kiến thức cũ GV có

thể thực hiện ôn tập cho HS thông qua việc kiểm tra bài cũ của HS, đặt các câu hỏi có liên quan đến kiến thức cũ GV có thể dặn dò HS chuẩn bị, ôn lại kiến thức cũ cần thiết và trong quá trình dạy học, GV có thể lồng ghép đặt các câu hỏi có liên quan để

ôn tập và kiểm tra mức độ hiểu bài cũng như chuẩn bị bài của HS Đồng thời việc đặt các câu hỏi đan xen trong quá trình dạy kiến thức mới có thể giúp HS xâu chuỗi các

kiến thức đã học với kiến thức mới, thấy được mối tương quan giữa các nội dung

kiến thức đồng thời qua đó kích thích động cơ học tập của HS, khiến các em năng động hơn, không còn thụ động, phụ thuộc vào GV theo kiểu chấp nhận kiến thức mà

GV đưa cho mà không biết tại sao có được kiến thức đó

- Ôn tập được thực hiện ngay sau khi kiến thức hoặc nội dung mới được học xong Hình thức ôn tâp này nhằm củng cố cho HS các kiến thức vừa học, nắm được

trọng tâm bài học và các phần kiến thức cốt lõi Việc ôn tập này có thể thực hiện bằng cách đặt các câu hỏi ở cuối bài có liên quan đến nội dung vừa học để các em có thể hệ

thống hóa kiến thức vừa được học Đồng thời có thể nêu lên các ứng dụng trong thực

tế của kiến thức đã học để các em thấy được ý nghĩa của bài học, sau đó GV yêu cầu

HS giải thích các ứng dụng đó dựa trên kiến thức đã học để giúp các em phát triển năng lực tư duy Bên cạnh đó, GV có thể đưa ra một số các bài tập có liên quan để

HS tổng kết các nội dung kiến thức cơ bản đã được học

- Ôn tập thực hiện sau khi kết thúc một chương hoặc một phần của chương Hoạt động này thường được thực hiện trong một tiết hoặc một vài tiết để hệ thống lại,

chỉnh lý lại và cấu trúc lại nội dung sao cho thấy được mối quan hệ giữa các kiến

thức một cách logic và dễ ghi nhớ nhất

Trang 28

b/ Ôn tập ngoài giờ lên lớp

Hình thức ôn tập này là hoạt động ôn tập của HS dưới sự hướng dẫn gián tiếp

của GV Hoạt động này được HS thực hiện ở nhà, trong quá trình tự học của mình Thông qua các câu hỏi mang tính định hướng của GV, các bài tập củng cố, vận dụng

hoặc nâng cao, học sinh tự ôn tập, tự đọc lại hoặc cấu trúc lại các kiến thức đã học để

giải quyết các câu hỏi của GV Thông qua việc hoàn thành nhiệm vụ của mình, HS

củng cố được kiến thức, ghi nhớ và tổ chức lại nội dung bài học theo cách hiểu của mình Đồng thời, HS có thể mở rộng được kiến thức thông qua việc đi sâu tìm hiểu thông tin có liên quan, giải đáp các thắc mắc thông qua việc tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau hoặc trao đổi với bạn bè Tất cả các hoạt động trên được bản thân HS tự thực hiện vừa với tinh thần trách nhiệm vừa với ý thức của bản thân cá nhân HS trong quá trình tự học ở nhà Hoạt động này là một hoạt động rất quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của HS vì thời lượng mỗi môn học trên lớp không nhiều, GV không thể lúc nào cũng ôn tập cho HS Do đó việc tự ôn tập tại nhà đóng một vai trò rất quan trọng, giúp HS vừa ghi nhớ kiến thức, cập nhật thêm các nguồn kiến thức mới, giúp mở rộng kiến thức cho HS Chính vì vậy, đòi hỏi học sinh

phải có một tinh thần tự giác, một thái độ tự học tích cực và một phương pháp tự ôn

tập đúng đắn để việc ôn tập củng cố đạt hiệu quả như mong muốn

Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng của việc ôn tập củng cố ngoài giờ lên lớp

và quan điểm lấy HS làm trung tâm trong dạy học hiện nay thì việc tạo điều kiện và khuyến khích HS tự ôn tập củng cố là một việc làm cần thiết Cần cho HS thấy được vai trò của việc tự ôn tập củng cố và ôn tập củng cố theo nhóm, đồng thời hướng dẫn cho HS các phương pháp, cách thức và con đường để các em phát huy hết khả năng

của mình trong việc tự học Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của khoa học

và kỹ thuật, của công nghệ thông tin như hiện nay thì có rất nhiều phương tiện hỗ trợ cho việc tự ôn tập củng cố của HS Thông qua các diễn đàn, các trang web, các nguồn thông tin trên mạng Internet, HS có thể tìm kiếm và trao đổi thông tin, củng cố kiến

thức với các bài kiểm tra trực tuyến và các trang web hỗ trợ HS tự học…Nói tóm lại, trong điều kiện hiện nay, có rất nhiều hình thức hỗ trợ cho hoạt động ôn tập củng cố ngoài giờ lên lớp của HS đạt hiệu quả mong muốn

Trang 29

1.2.2.4 Phương tiện hỗ trợ việc tự học và ôn tập

Phương tiện dạy học, theo Nguyễn Ngọc Quang, "bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật

từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo"[15]

Các phương tiện dạy học thay thế cho những sự vật hiện tượng và các quá trình

xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thể tiếp cận được Chúng giúp phát huy

tất cả các giác quan của HS trong quá trình truyền thụ kiến thức, từ đó giúp học sinh

nhận biết được quan hệ giữa những hiện tượng và tái hiện được những khái niệm, quy

luật làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vào thực tế

và đời sống

Trong việc tự học cũng như ôn tập củng cố, phương tiện dạy học được sử dụng

rộng rãi hiện nay là:

a/ Các lo ại sách viết trên giấy (sách giáo khoa, các sách tham khảo )

Sách là nguồn kiến thức vô tận cho HS Một câu danh ngôn “sách là thầy của các thầy” đã nói lên vai trò đặc biệt quan trọng của sách Khi đọc sách, trước hết HS

có thể củng cố lại kiến thức, làm rõ các vấn đề còn chưa thông suốt hoặc mở rộng, nâng cao kiến thức của bản thân Để ôn tập củng cố, trước hết HS đọc lại sách giáo khoa để nắm vững kiến thức, đào sâu kiến thức và vận dụng kiến thức HS cũng có

thể luyện tập và vận dụng kiến thức thông qua sách bài tập và các sách tham khảo Đồng thời, khi đọc sách HS có thể đi sâu nghiên cứu vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau trong thực tế Đọc sách còn giúp HS rèn luyện và phát triển khả năng tư duy,

khả năng làm việc với sách của bản thân Do vậy việc đọc sách không chỉ giúp ích cho HS trong việc ôn tập củng cố mà còn có nhiều tác dụng tích cực khác trong việc phát triển tư duy trí tuệ của HS

b/ Ngu ồn tài nguyên trên mạng Internet

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật như hiện nay, đặc biệt sự phát triển của CNTT và mạng Internet đã tạo nhiều điều kiện hỗ trợ cho việc ôn tập

củng cố của HS Thông qua các trang web tự học, HS có thể tìm kiếm các tư liệu hỗ

trợ cho việc tự học và tự ôn tập củng cố giúp củng cố và mở rộng kiến thức Đặc biệt

với các tư liệu về hình ảnh, các video clip minh họa các thí nghiệm hay các ứng dụng

Trang 30

của các kiến thức Vật lý, các thí nghiệm ảo được thực hiện trên các trang web giúp

HS có được các hình ảnh sinh động và niềm tin vào khoa học hơn vì HS thấy được ứng dụng của các kiến thức đã học vào thực tế

Không những thế, với các bài trắc nghiệm và tự luận được chuẩn bị một cách công phu, có các đáp án phản hồi giúp HS đánh giá được khả năng của mình, rèn kỹ năng làm bài tập đồng thời tìm ra và khắc phục các sai lầm thường gặp trong việc giải các bài tập Vật lý Mục đích của hoạt động này trước hết là giúp HS tự đánh giá khả năng của mình từ đó tự điều chỉnh và khắc phục các sai lầm của mình

Mạng Internet còn là một môi trường giúp HS cũng như GV trao đổi và trau dồi

kiến thức HS có thể trao đổi và giúp đỡ lẫn nhau trong việc giải các bài tập hay giải thích các vấn đề thắc mắc Thông qua các trang web này HS cũng có thể trao đổi và tìm sự giúp đỡ từ GV và đồng thời GV cũng có thể trao đổi với các GV khác để tìm

ra các không ngừng cập nhật và bổ sung kiến thức cũng như phương pháp dạy học tích cực

Nói chung, đây là một môi trường mở cho cả HS và GV không ngừng nâng cao

và mở rộng kiến thức, rèn luyện, củng cố và phát triển các kỹ năng cần thiết

c/ Ph ần mềm học tập, E-book

CNTT phát triển đã góp phần rất nhiều cho sự phát triển của giáo dục đào tạo

Những phần mềm ứng dụng cho việc dạy học ngày càng phong phú và càng có chất lượng tốt hơn Ngoài các trang web, có thể kể đến một dạng khác trong ứng dụng CNTT và dạy học là các E-book E-book (electronic book) mang lại sự thuận tiện và

hiệu quả rất lớn trong việc tự học và ôn tập Với dung lượng nhỏ gọn, chiếm ít bộ

nhớ, nhưng chứa rất nhiều thông tin và đặc biệt là có thể đọc được hầu hết trên các thiết bị điện tử cá nhân (máy vi tính, điện thoại di động, máy trợ giúp kĩ thuật số )

1.2.2.5 Th ực trạng của việc sử dụng phương tiện trong tự học và ôn tập hiện nay

Thực tế hiện nay cho thấy sách giáo khoa, sách bài tập, các bài tập trắc nghiệm

và tự luận trên giấy vẫn là các phương tiện hỗ trợ chủ yếu cho GV trong việc tổ chức

ôn tập Trong khi đó, các tư liệu, bài tập dưới dạng giáo án điện tử hay các phần mềm máy tính ít được sử dụng trong các giờ ôn tập Đa số GV còn ít sử dụng các tư liệu,

Trang 31

bài tập trắc nghiệm dưới dạng web để ôn tập mặc dù có rất nhiều website hỗ trợ HS như: truongthi.com, violet.com.vn, hocmai.vn, onthi.net, thuvienvatly.vn Đây vẫn còn là một hạn chế trong việc sử dụng phương tiện trong việc tổ chức ôn tập hiện nay

Theo tìm hiểu của chúng tôi ở một số trường thuộc tỉnh Bình Dương (nguồn: www.sgdbinhduong.edu.vn), có những lý do chính như sau: Thứ nhất, trình độ tin

học của GV còn yếu, để tạo được một bài giảng điện tử thật sự hấp dẫn không phải dễ dàng; Thứ hai là thời gian và công sức Để soạn được một bài giảng điện tử phải mất

cả tuần lễ, trong khi soạn một bài giảng trên giấy chỉ mất một đêm, GV không đủ điều kiện về thời gian cũng như tài chính để làm tốt; Thứ ba là trang thiết bị không đồng đều, không phải trường nào, địa phương nào cũng có đầy đủ máy vi tính, internet, máy chiếu đa năng

Đó là về phía GV Còn về HS, các em rất hứng thú trong việc sử dụng CNTT vào giảng dạy, những bài giảng của thầy cô trực quan hơn, hấp dẫn hơn Nhưng để

HS sử dụng vào tự học và ôn tập thì cũng rất hạn chế Thứ nhất, khi lên mạng (online) có rất nhiều thông tin tác động đến các em, các em rất dễ lạc lối, bị cuốn hút vào các trò chơi, vào những web giải trí hơn là những web về học tập; Thứ hai, không

phải HS nào cũng có điều kiện mua máy vi tính và nối mạng internet hay có tiền để ra các tiệm internet công cộng; Thứ ba là trình độ vận dụng tin học vào học tập cũng không đồng đều.(nguồn: www.sgdbinhduong.edu.vn)

Khi tiến hành dự giờ chính khóa và một số giờ hướng dẫn HS ôn tập dưới hình

thức học tự chọn, quan sát hoạt động của GV và HS chúng tôi có một số nhận định: trong các tiết học GV cũng đã chú ý tới việc hướng dẫn HS ôn tập như: ôn lại kiến

thức cũ liên quan trực tiếp đến việc tiếp thu kiến thức mới; củng cố lại kiến thức vừa

học; hướng dẫn HS trả lời câu hỏi và giải bài tập, … Tuy nhiên, việc hướng dẫn HS

chủ yếu là do GV chuẩn bị sẵn nội dung ôn tập, giảng giải cho HS các nội dung đó

hoặc giải theo mẫu, yêu cầu HS thực hiện lại như GV đã hướng dẫn Việc chỉ ra cách

thức thực hiện và yêu cầu HS tự thực hiện ít được GV quan tâm, nếu có giao nhiệm

vụ về nhà cho HS thì hầu hết GV phát cho học sinh một tập tài liệu yêu cầu HS về nhà làm rồi tiếp ôn tập tiếp theo chữa bài Do đó HS rất thụ động trong việc tự học,

Trang 32

lúng túng khi được yêu cầu tóm tắt những ý cơ bản, bản chất theo tiến trình lôgic của bài học, đa phần các em sao chép lại như trong vở ghi hoặc sách giáo khoa, các em thuộc lòng trong vở ghi và làm bài tập Lập dàn ý, thảo luận với bạn; các biện pháp như đọc hay xem các thí nghiệm có liên quan, đọc tài liện thao khảo, lập sơ đồ hệ

thống hóa kiến thức bài cũ… ít được HS sử dụng

Khảo sát về mong muốn của HS với câu hỏi: “Khi được tổ chức ôn tập một kiến

thức nào đó trong chương trình vật lí thì em thích được các thầy/cô tổ chức hoạt động gì?” thì hầu hết các em mong muốn được hướng dẫn lập sơ đồ hệ thống hóa kiến thức bài cũ, làm bài tập trắc nghiệm và có được tài liệu hệ thống kiến thức một cách logic,

hệ thống bài tập theo từng chuyên đề rõ ràng và trực quan… để làm tài liệu học ở nhà Theo chúng tôi, những nhu cầu đó của HS là hợp lí, và GV cần thay đổi cách

thức tổ chức các tiết ôn tập để đáp ứng những yêu cầu đó Đồng thời tăng cường việc hướng dẫn HS tự ôn tập ở lớp cũng như ở nhà

1.3 T ổng quan về kiểm tra đánh giá

1.3.1 Khái ni ệm chung về đánh giá

Việc dạy-học luôn luôn phải gắn liền với quá trình kiểm tra đánh giá, hai quá trình này song song với nhau

Theo giáo sư Phan Trọng Ngọ “Đánh giá trong dạy học bao gồm việc thu thập thông tin về một lĩnh vực nào đó trong dạy học; nhận xét và phán xét đối tượng đó, trên cơ sở đối chiếu các thông tin thu nhận được với mục tiêu được xác định ban đầu”[2]

Theo Từ điển Tiếng Việt (1997), đánh giá được hiểu là: Nhận định giá trị Các

kết quả kiểm tra thành tích học tập, rèn luyện của HS được thể hiện trong việc đánh giá những thành tích học tập, rèn luyện đó

Để hiểu rõ khái niệm đánh giá, chúng ta cùng tìm hiểu các khái niệm có liên quan

+ Đo lường: Theo Từ điển Tiếng Việt, đo lường được hiểu là xác định độ lớn

của một đại lượng bằng cách so sánh với một đại lượng cùng loại được chọn làm đơn

vị Khái niệm đo lường ở trên phù hợp với khoa học vật lý Còn khái niệm “đo

Trang 33

lường” trong khoa học xã hội, có thể hiểu được là: sự so sánh một vật hay một hiện tượng với một thước đo hoặc chuẩn mực và khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng

+ Nhận xét: là đưa ra ý kiến có xem xét, xét đoán về một đối tượng nào đó + Đánh giá: là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực

trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc

Từ đó, chúng ta thấy: Đánh giá là một khái niệm bao hàm một quá trình Đo lường, nhận xét chỉ là các khâu của quá trình ấy

Vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ HS

Muốn đánh giá kết quả học tập của HS thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét toàn

bộ công việc học tập của HS sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin

cần thiết, cuối cùng là đưa ra quyết định

Trong đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét

thực chất, thực tế” Theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá Theo Từ điển Tiếng Việt (1997), kiểm tra được hiểu là: “Xem xét tình hình thực tế để nhận xét, đánh giá” Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá

HS Trong giáo dục, kiểm tra có những hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra hằng ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết phần, hết chương ), kiểm tra tổng kết (kiểm tra cuối học kì)

Do vậy, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá là thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu này hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra-đánh giá

1.3.2 Vai trò c ủa kiểm tra, đánh giá

Vai trò cơ bản của việc kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS là làm sáng tỏ tình trạng các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo của HS, nghĩa là đánh giá xác định

trình độ đạt tới những chỉ tiêu của mục đích dạy học dự kiến

Trang 34

Việc kiểm tra kiến thức phải chỉ ra cho HS thấy họ đã tiếp thu những điều vừa học như thế nào, đã hiểu rõ những gì, còn những lỗ hổng kiến thức nào và phải đánh giá như thế nào kết quả học tập của họ Dựa trên cơ sở đánh giá ấy, HS có thể hiểu được những đòi hỏi đặt ra đối với mỗi em về học tập và các em phải làm gì để thực hiện được những điều đó nhằm bổ sung, nâng cao kiến thức và kĩ năng, kĩ xảo

Công tác kiểm tra đánh giá phải kích thích được việc học tập và khả năng nâng cao chất lượng kiến thức của HS Nếu kiểm tra một cách có hệ thống, giáo viên có thể nắm được một cách khá chắc chắn mức độ kiến thức và chức năng của học sinh;

từ đó có thể biểu dương, khuyến khích, giúp đỡ hay trừng phạt từng người, góp phần ngăn chặn tình trạng học kém của HS và nâng cao chất lượng học tập chung của các

em

Vai trò thứ hai, không kém phần quan trọng, là phát hiện lệch lạc Việc kiểm tra đánh giá kiến thức HS ở trường phổ thông, trong đa số trường hợp, là một bộ phận hữu cơ của bài học Vì vậy, việc kiểm tra đánh giá còn nhằm mục đích phát hiện, củng cố, đào sâu và làm chính xác thêm kiến thức, đồng thời có liên hệ chặt chẽ và phục vụ trực tiếp cho việc học bài mới Trước hết điều đó liên quan tới nhiều HS được kiểm tra, bởi khi chuẩn bị và trả lời, HS phải sắp xếp hệ thống kiến thức của mình và làm cho chúng chính xác thêm Sự nhắc lại kiến thức cũ, sửa những kiến thức thiếu chính xác của HS có tác dụng hoàn thiện kiến thức không phải chỉ cho HS đang trả lời những câu hỏi của GV mà còn cho tất cả HS khác khi nghe những câu trả lời ấy của bạn mình Do đó, việc phát hiện ra thiếu sót, lệch lạc trong kiến thức, kĩ năng của học sinh, tìm ra nguyên nhân của những thiếu sót ấy là việc rất quan trọng Tiếp đến, thông qua việc phát hiện lệch lạc từ việc kiểm tra đánh giá, GV sẽ uốn nắn lệch lạc và điều chỉnh kế hoạch dạy học Dựa vào kết quả kiểm tra kiến thức của

HS trong lớp, GV có thể đánh giá hiệu quả phương pháp dạy học nào đó và chất lượng công tác nói chung của bản thân, nhờ đó GV đề ra được những bổ khuyết cần thiết Đồng thời việc kiểm tra đánh giá cũng sẽ cung cấp cho nhà trường những tài liệu để đánh giá tình hình dạy học ở trong nhà trường và kết quả học tập từng thời gian của mỗi HS

Kết quả kiểm tra đánh giá còn giúp các bậc phụ huynh biết được tình hình học tập của con em mình và có được sự phối hợp cần thiết với nhà trường để giúp con em

Trang 35

mình học tập tốt hơn.Việc kiểm tra đánh giá có hệ thống và thường xuyên có ý nghĩa giáo dục rất lớn: rèn luyện cho HS tinh thần trách nhiệm trong học tập, thói quen làm việc đều đặn và hoàn thành đúng hạn định những công việc được giao Việc HS phát biểu những câu trả lời trước lớp coi như báo cáo không chỉ với GV mà cả với tập thể cùng học đã nâng cao ý nghĩa của việc kiểm tra miệng (nói) Những câu hỏi kiểm tra

và những nhận xét góp ý kiến của GV về câu trả lời có tác dụng dạy cho HS cách học tập bộ môn và cách chuẩn bị cho mỗi giờ lên lớp Xét ở tầm vĩ mô, kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vậy đổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập

- Liên hệ nội dung bài học với thực tế cuộc sống, từ đó vận dung những kiến

thức đã học để giải quyết các vấn đề nảy sinh từ cuộc sông hợp lý nhất Qua đó thúc đẩy và đòi hỏi việc học tập trong cả quá trình; thúc đẩy tạo mối liên hệ giữa nhận

thức và hành động, giữa kiến thức và thực tế cuộc sống

- Việc kiểm tra đánh giá phải phải phù hợp với đặc thù bộ môn, phù hợp với lứa

tuổi, tâm sinh lý của học sinh

- Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định, thuận tiện; phải khách quan, rõ ràng, có hệ thống và công khai

- Không chỉ kiểm tra kiến thức mà còn phải chú trọng đến kiểm tra thái độ, kĩ năng nhận xét, đánh giá, phân biệt đúng, sai; khả năng vận dụng thực hành trong cuộc

sống HS Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức của

Trang 36

người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy

học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo

dục

Để đảm bảo những yêu cầu đó, hiện nay có khá nhiều phương pháp Ở trường

phổ thông thì phương pháp chủ yếu là bài kiểm tra, bài thi Có các hình thức sau: bài

kiểm tra vấn đáp, bài kiểm tra tự luận, bài kiểm tra trắc nghiệm

* Bài ki ểm tra vấn đáp_(kiểm tra miệng)

- Đây là phương pháp đánh giá rất phổ biến Khi sử dụng phương pháp này,

GV đưa ra các câu hỏi ngắn cho HS trả lời Những câu hỏi này có thể HS được chuẩn

bị trước hoặc không Thông qua câu trả lời của HS, GV có thể đánh giá được mức độ

học bài và hiểu bài của HS

- Bài kiểm tra này được dùng phổ biến bởi vì: có thể tiến hành mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm; tính linh hoạt và cơ động, có thể dùng để đánh giá kiến thức đã được học hoặc kiến thức mới; có thể kiểm tra trí nhớ, tư duy hoặc các phẩm chất tâm

lí khác; thông qua trao đổi trực tiếp, GV có điều kiện hiểu rõ HS hơn, kịp thời uốn

nắn, kích thích động cơ cũng như tâm tư tình cảm của HS

- Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế sau: hạn chế đáng kể

nhất đó là tính chủ quan ( phụ thuộc hoàn toàn vào người GV, từ câu hỏi GV nêu ra đến tâm tư tình cảm của GV, đến cả cách nhận xét đánh giá của GV); hạn chế thứ hai

là tốn nhiều thời gian trong khi kết quả thu được không thật sự bao quát, nhiều HS rất

ngại nói trực tiếp với GV; một hạn chế nữa đó là khó so sánh giữa các HS với nhau

- Để tránh những hạn chế trên, GV có thể lưu ý một số điểm sau:

+ Thái độ của GV khi tiến hành: Điều này rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý HS, khi hỏi GV tránh kiểu hỏi như kiểu “tra khảo”, phải có thái độ thoải mái nhất cho HS tự tin trả lời,có thể hỏi thêm những câu hỏi phụ mang tính gợi

mở cho HS, tuyệt đối không đánh giá theo cảm tính

+ Câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, không mang tính đánh đố, tránh đặt câu hỏi

dạng đúng-sai ( có-không), dung lượng câu hỏi không qua dài, không đề cập đến nhiều nội dung trong một câu hỏi, nên hạn chế câu hỏi có tính chất học thuộc, khuyến khích các câu hỏi mang tính chất tư duy, suy luận

Trang 37

+ Xác định rõ mục đích của bài kiểm tra khi đưa ra câu hỏi, như kiểm tra bài

cũ, hay kiểm tra tổng kết bài học, hay kiểm tra hết môn hết khóa học từ đó mới đưa

ra câu hỏi cho phù hợp

+ Các câu hỏi nên được biên soạn trước cho HS có thời gian chuẩn bị, tránh

việc gọi HS lên rồi mới nêu câu hỏi

* Bài ki ểm tra tự luận (bài thi viết)

- Đây là hình thức kiểm tra trong đó HS trình bày kiến thức của mình bằng hình thức bài viết, các câu hỏi dạng những câu hỏi mở, đòi hỏi HS phải tự xây dựng câu trả lời Câu trả lời có thể là một đoạn ngắn, một bài tóm tắt… Kiểm tra viết có

thể tiến hành ở lớp trong các kì kiểm tra, kì thi hoặc bằng hình thức cho về nhà làm

- Ưu điểm nổi bật của câu hỏi tự luận là HS có quyền xây dựng phần trả lời một cách tự do Vì thế mà câu hỏi tự luận rất lý tưởng cho việc đánh giá năng lực viết,

cảm thụ, phân tích và kĩ năng diễn đạt, tổ chức của HS Câu hỏi tự luận có thể sử

dụng để đánh giá khá sâu các năng lực nhận thức của HS, nhất là năng lực cấp cao

như: phân tích, tổng hợp, diễn đạt, giải quyết vấn đề, đánh giá… Qua hình thức kiểm tra này, GV cũng có thể đánh giá được thái độ của HS

- Nhược điểm lớn nhất đó là độ bao phủ nội dung thấp vì không thể sử dụng nhiều câu hỏi tự luận trong một bài kiểm tra Việc chấm bài tự luận tốn nhiều thời gian Điểm số của bài kiểm tra tự luận bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như chữ viết, chính tả, văn phong … của HS và nhất là chính GV chấm bài (phụ thuộc khá nhiều vào tính chủ quan của GV)

- Khi sử dụng phương pháp này, GV cần chú ý một số điểm sau:

+ Câu hỏi phải phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học, đồng thời xác định rõ mục tiêu đánh giá

+ Sử dụng nhiều câu hỏi dạng khuyến khích tư duy độc lập sáng tạo cũng như cảm xúc, thái độ học tập của HS, đặc biệt phải tiên lượng được khả năng

viết của học sinh (có thể có những bài viết đặc biệt, cách giải hay)

+ Trình tự các câu hỏi nên từ dễ đến khó, để tạo cơ hội cho HS đều làm được, và trình tự như này cũng tránh được sự rối trí, phân bố thời gian làm bài không

hợp lý của HS

Trang 38

+ Thời gian làm bài và điểm số trong mỗi câu hỏi phải rõ ràng Khi

chấm bài phải có đáp án cụ thể, chi tiết

* Bài ki ểm tra trắc nghiệm_(trắc nghiệm khách quan)

- Trắc nghiệm khách quan là dạng kiểm tra trong đó mỗi câu hỏi có kèm theo

những câu trả lời sẵn Loại câu hỏi này cung cấp cho HS một phần hay tất cả những thông tin cần thiết và đòi hỏi HS phải chọn một câu trả lời hoặc chỉ cần điền thêm

một vài từ (loại câu hỏi đóng) Gọi là trắc nghiệm khách quan vì việc chấm điểm đảm

bảo tính khách quan cao hơn so với bài tự luận Tuy nhiên tính khách quan cũng không hoàn toàn tuyệt đối vì việc ra đề và xây dựng đáp án phần nào đã mang tính

chủ quan của tác giả

Có các loại câu trắc nghiệm như: loại câu trắc nghiệm đúng – sai (Đ/S), loại câu

trắc nghiệm ghép đôi, loại trắc nghiệm điền khuyết, loại câu trắc nghiệm trả lời ngắn,

loại câu nhiều lựa chọn… Cụ thể như sau:

Lo ại câu trắc nghiệm đúng – sai (Đ/S):

Câu Đ/S là dạng câu hỏi có kèm theo 2 phương án trả lời là Đúng (Đ) hoặc Sai (S), HS phải chọn một trong hai phương án đó

Loại câu Đ/S chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức sự kiện (mốc lịch

sử, phân biệt khái niệm, tính chất, đặc điểm của vấn đề…, tính chính xác của định nghĩa, khái niệm, … và thường để kiểm tra trí nhớ, năng lực hiểu, ít có giá trị kích thích tư duy, ít có khả năng phân loại HS giỏi kém

Mỗi câu hỏi chỉ nên gồm một ý, tránh loại câu hỏi một phạm vi kiến thức rộng, nhiều chi tiết, cách diễn đạt phải trong sáng, dễ hiểu

Ưu điểm: dễ xây dựng; Có thể sử dụng cho mọi môn học; Độ bao phủ kiến thức

cao cho một bài kiểm tra vì có thể sử dụng nhiều câu Đ/S trong một bài kiểm tra, dù

thời gian không nhiều; Việc chấm bài nhanh, đơn giản, khách quan và có độ tin cậy cao

Nhược điểm: Không thích hợp với việc đánh giá các năng lực nhận thức cấp cao

Xác suất đúng sai là 50/50 trong trường hợp HS đoán mò

Loại câu trắc nghiệm ghép đôi:

Trang 39

Loại câu hỏi này thường gồm hai cột thông tin Cột thứ nhất là những câu hỏi (hay câu dẫn), cột thứ hai là những câu trả lời (hay câu lựa chọn) HS phải chọn câu

trả lời ở cột 2 sao cho phù hợp với câu hỏi ở cột 1 để ghép với nhau

Loại trắc nghiệm ghép đôi thích hợp với việc đánh giá những năng lực nhận

thức cơ bản như năng lực ghi nhớ, khả năng phân biệt cao, thích hợp với việc kiểm tra những nhóm kiến thức có mối quan hệ gần gũi, chủ yếu là kiến thức sự kiện và

kiến thức ngôn ngữ

Ưu điểm: Khả năng HS trả lời đúng ngẫu nhiên là thấp nhiều so với loại câu

Đ/S; Có thể sử dụng để kiểm tra lượng kiến thức lớn trong thời gian ngắn; Việc chấm bài nhanh, đơn giản, khách quan và có độ tin cậy cao

Nh ược điểm: Không hiệu quả trong việc đánh giá các năng lực nhận thức cấp

cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá; Việc thiết kế câu hỏi không dễ dàng

Loại trắc nghiệm điền khuyết:

Loại trắc nghiệm này đòi hỏi HS phải điền lại vào những chỗ trống trong câu do

một hay vài từ đã được người ta đề ra cố ý bỏ đi

Ví dụ:

1 Một dao động điều hòa xác định, biên độ A là giá trị của ly độ x

Trong quá trình dao động, li độ x luôn nhưng A Li độ x có thể âm, dương hoặc bằng không, còn biên độ A

2 Trong dao động điều hòa, khi động năng của vật tăng, thì thế năng của vật

và ngược lại, còn cơ năng của vật thì

Loại trắc nghiệm điền khuyết chủ yếu thích hợp với việc kiểm tra hai năng lực

nhận thức cơ bản: ghi nhớ và thông hiểu Tuy nhiên, cũng có thể sử dụng loại câu này

để đánh giá những kiến thức cơ bản của HS về từ vựng, thuật ngữ, hiện tượng, điền vào các chỗ trống trên bản đồ, biểu đồ, hình vẽ…

Ưu điểm: Việc xây dựng câu điền khuyết không quá khó khăn; Giảm được xác

xuất HS trả lời đúng do đoán mò hay gặp may so với dạng câu đúng – sai; Thích hợp

với việc kiểm tra những kiến thức cơ bản và năng lực tính toán, xác định loại từ, chức năng ngữ pháp của từ, nghĩa của từ…

Nh ược điểm: Khó kiểm tra các năng lực nhận thức cấp cao của HS; Khó xây

Trang 40

dựng được những câu có từ điền khuyết tuyệt đối đơn nhất, do vậy việc chấm bài khó

hơn và độ khách quan khi chấm giảm so với các dạng câu khác

Loại câu trắc nghiệm trả lời ngắn:

Câu trả lời ngắn là loại câu trắc nghiệm đòi hỏi trả lời bằng một, nhiều từ, một

mệnh đề hoặc có thể một câu đơn giản …

Ví dụ:

1 Thế nào là dao động điều hòa?

2 trong biểu thức x = Acos(ωt + φ), ω gọi là gì? ω liên hệ với chu kỳ T và tần số

f theo biểu thức nào?

Loại câu nhiều lựa chọn:

Một câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn bao gồm hai phần cơ bản:

Phần dẫn (hay phần gốc) nêu lên vấn đề Đó có thể là một câu hỏi trực tiếp hoặc

một câu chưa hoàn chỉnh

Phần thứ hai: bao gồm một số phương án đề nghị giải quyết vấn đề đã nêu ở

phần dẫn Các phương án này còn được gọi là các “câu trả lời” hay các “lựa chọn” Trong số các phương án được đề nghị, chỉ có một phương án đúng nhất, những

phương án còn lại gọi là “phương án nhiễu” Độ gây nhiễu càng cao thì câu hỏi càng

tốt Nhiệm vụ của HS là chọn ra câu đúng nhất Chẳng hạn, bằng cách khoanh tròn

chữ cái đứng đầu phương án trả lời đúng Loại câu này có tầm sử dụng rất rộng, có

thể được dùng để đáng giá hầu hết những năng lực nhận thức của HS từ đơn giản đến

phức tạp

Ưu điểm: Độ bao phủ nội dung rất tôt vì có thể sử dụng nhiều câu trong một thời

gian ngắn để kiểm tra nhiều vấn đề; Có khả năng chẩn đoán những sai sót, khiếm khuyết trong nhận thức của HS qua các câu nhiễu; Việc chấm bài dễ dàng, nhanh chóng, khách quan, chính xác và tin cậy

Nhược điểm: Việc thiết kế một câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn tốt khá khó khăn

và tốn nhiều thời gian, nhất là việc xây dựng những câu nhiễu; Khó đánh giá khả năng tư duy sáng tạo, diễn đạt, trình bày một vấn đề của HS; HS có thể trả lời đúng

một cách ngẫu nhiên từ việc đoán mò

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Giao diện và tổ chức thông tin trang chủ của bài học - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.1. Giao diện và tổ chức thông tin trang chủ của bài học (Trang 61)
Hình 2.3. Giao diện trang con của phần hệ thống lý thuyết - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.3. Giao diện trang con của phần hệ thống lý thuyết (Trang 62)
Hình 2.4. Giao diện trang con của phần bài tập củng cố - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.4. Giao diện trang con của phần bài tập củng cố (Trang 63)
Hình 2.5. Giao diện trang chủ của phần các dạng toán - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.5. Giao diện trang chủ của phần các dạng toán (Trang 64)
Hình 2.6 Giao diện phần bài tập mẫu - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.6 Giao diện phần bài tập mẫu (Trang 64)
Hình 2.7 Giao diện phần bài tập củng cố - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.7 Giao diện phần bài tập củng cố (Trang 65)
Hình 2.8.  Trang các đề ôn luyện cho mức độ tuyển sinh ĐH-CĐ - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.8. Trang các đề ôn luyện cho mức độ tuyển sinh ĐH-CĐ (Trang 66)
Hình 2.9.  Câu hỏi trong đề thi - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.9. Câu hỏi trong đề thi (Trang 66)
Hình 2.11 . Kết quả làm bài tập trắc nghiệm của học sinh - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.11 Kết quả làm bài tập trắc nghiệm của học sinh (Trang 67)
Hình 2.10. Hướng dẫn làm bài ( HS click vào nút HELP để xem) - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 2.10. Hướng dẫn làm bài ( HS click vào nút HELP để xem) (Trang 67)
Hình 3.1 Học sinh tự ôn tập và thảo luận trong phòng máy - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 3.1 Học sinh tự ôn tập và thảo luận trong phòng máy (Trang 78)
Bảng 3.4: Điểm kiểm tra sau tác động của lớp ĐC - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Bảng 3.4 Điểm kiểm tra sau tác động của lớp ĐC (Trang 82)
Hình 3.2.  Đồ thị đường phân phối tần suất cho lớp TN và lớp ĐC - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 3.2. Đồ thị đường phân phối tần suất cho lớp TN và lớp ĐC (Trang 87)
Hình 3.3.  Đồ thị đường phân phối tần suất tích lũy cho lớp TN và lớp ĐC - thiết kế và sử dụng e book dạy học chương “dao động cơ” vật lý 12 chương trình chuẩn giúp học sinh tự học và ôn tập
Hình 3.3. Đồ thị đường phân phối tần suất tích lũy cho lớp TN và lớp ĐC (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w