Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Thực trạng công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông” để làm đề tài nghiên cứu nhằm góp ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Khắc Thịnh
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ
CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Khắc Thịnh
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ
CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN TUẤN LỘ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục với đề tài “Thực trạng công tác tổ chức cán
bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông” cơ bản đã hoàn thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
PGS.TS Trần Tuấn Lộ, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ cho tác giả hoàn thành luận văn này;
Quý Thầy Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục khoá 22 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
Lãnh đạo, chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Ban Giám hiệu và giáo viên các trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Bình Dương, các đồng chí đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện và có những đóng góp quý giá trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Do thời gian và khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý Thầy Cô để góp phần hoàn thiện luận văn
Bình Dương, ngày 25 tháng 9 năm 2013
Tác giả Phạm Khắc Thịnh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
4 Giả thuyết khoa học 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG10 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Quản lý giáo dục 15
1.2.3 Quản lý trường học 16
1.2.4 Công tác tổ chức cán bộ 17
1.2.5 Trường trung học phổ thông 21
1.3 Lý luận về công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với các trường trung học phổ thông 23
1.3.1 Yêu cầu cơ bản về tiêu chuẩn đối với Hiệu trưởng trường trung học phổ thông 23 1.3.2 Yêu cầu cơ bản về tiêu chuẩn đối với giáo viên trường trung học phổ thông 28
1.3.3 Yêu cầu về số lượng và cơ cấu đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên trường trung học phổ thông 31
1.3.4 Tuyển dụng giáo viên 33
1.3.5 Quy hoạch đội ngũ 33
1.3.6 Luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ quản lý 33
1.3.7 Điều động, thuyên chuyển giáo viên 34
1.3.8 Đào tạo, bồi dưỡng 34
1.3.9 Thực hiện chế độ chính sách 35
1.3.10 Kỷ luật 35
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG 37
2.1 Giới thiệu sơ lược về tỉnh Bình Dương 37
2.2 Thực trạng công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương 42
2.2.1 Thực trạng công tác tuyển dụng giáo viên 42
2.2.2 Thực trạng công tác quy hoạch cán bộ 50
2.2.3 Thực trạng công tác luân chuyển cán bộ quản lý 59
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 70
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 70
3 1.1 Cơ sở lý luận về công tác tổ chức cán bộ 70
3.1.2 Cơ sở pháp lý về công tác tổ chức cán bộ 70
3.1.3 Cơ sở thực tiễn về công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương 70
3.2 Những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông 70
3.2.1 Bi ện pháp tăng cường kiểm tra công tác tổ chức cán bộ đối với các đơn vị trường học 71
3.2.2 Biện pháp điều chỉnh, bổ sung nội dung xét tuyển dụng 73
3.2.3 Biện pháp tăng cường công tác rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ 76
3.2.4 Biện pháp thực hiện công tác luân chuyển cán bộ quản lý thường xuyên hàng năm 80
3.3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của 4 biện pháp nêu trên 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 94
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước với mục tiêu là công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh nhằm thực hiện lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội phát triển bền vững Trong đó, giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng, giáo dục đã tác động vào nhận thức, vào hành động của từng tổ chức, từng cá nhân trong công cuộc đổi mới của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Điều 35 của Hiến pháp nước ta có ghi rõ: "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu" và điều 36 "nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác", bởi vì phát triển nguồn lực con người chính là bí quyết, là chìa khoá dẫn đến thành công của mọi quốc gia trong thời đại mới Phát triển nguồn lực con người nhằm tạo nên những con người mới, những con người của nền văn minh hậu công nghiệp và nền kinh tế tri thức
Giáo dục là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục đã có những phát triển mới, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc mở rộng quy mô, tăng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người và chuẩn bị nguồn nhân lực cho thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy vậy, sự phát triển giáo dục của nước ta còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vị trí giáo dục là quốc sách hàng đầu Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, công tác quản lý giáo dục còn chưa hiệu quả
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục của đất nước, đòi hỏi phải có rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng, căn bản là đội ngũ nhà giáo Ðội ngũ nhà giáo đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục Nhà giáo không chỉ đơn thuần là người chia sẻ kiến thức và kỹ năng mà còn là người góp phần nuôi dưỡng, phát triển tâm hồn, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ
Ðánh giá về thực trạng đội ngũ nhà giáo, các nghiên cứu gần đây đều thống nhất ở một số nhận định như: hầu hết các nhà giáo đều đạt chuẩn nghề nghiệp, nhưng còn một bộ phận chưa đạt yêu cầu về năng lực chuyên môn, nhất là năng lực sư
Trang 7phạm Ðội ngũ nhà giáo vừa thừa, lại vừa thiếu, nhất là thiếu hụt ở các vùng núi, vùng khó khăn; không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn Trong thực tiễn giáo dục ở nhà trường, các nhà giáo còn làm việc dựa trên kinh nghiệm, chưa thật sự đổi mới phương pháp, đổi mới đánh giá; chưa gắn kết hoạt động giảng dạy với thực tiễn đời sống; chưa tổ chức tốt các hoạt động dạy học, giáo dục Ðáng chú ý, một bộ phận nhà giáo có biểu hiện thiếu trách nhiệm, thiếu tâm huyết với nghề, thậm chí lối sống suy thoái về đạo đức, ảnh hưởng xấu tới uy tín của nhà giáo trong xã hội,
Ðể cải thiện tình hình và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cần đổi mới căn bản và toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để từng bước đáp ứng các yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Về phương châm đổi mới, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nêu rõ "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt" Từ những nội dung trong chiến lược có thể khẳng định rằng, Ðảng đã xác định tiếp tục đẩy mạnh đổi mới giáo dục ở một tầm cao mới, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn và triệt để hơn nhằm tạo ra những chuyển biến mới, thật sự hiệu quả và thiết thực về chất lượng giáo dục
Những nguyên nhân tạo nên bất cập về chất lượng nhà giáo cũng được xác định là do công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ chưa theo kịp những yêu cầu đổi mới giáo dục của đất nước và thế giới, hoặc do những bất cập về chế độ, chính sách, chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo
Nhà giáo là lực lượng quan trọng tạo nên chất lượng giáo dục, để nâng cao chất lượng giáo dục nhất thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, trong đó quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên hướng tới sự phát triển bền vững, đáp ứng tốt những yêu cầu nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2020 Muốn vậy, các nhà quản
lý cần phải có những đổi mới thật sự từ khâu tạo nguồn, quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ, quản lý và sử dụng đội ngũ nhà giáo,
Trang 8Trong giáo dục, tất cả những vấn đề nêu trên đều là những nội dung cơ bản của công tác tổ chức cán bộ vì công tác tổ chức cán bộ là một công tác đặc biệt quan trọng đối với một đơn vị trường học, nó quyết định đến chất lượng hoạt động của đơn
vị đó
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi việc tốt hay xấu đều xuất phát từ công tác cán bộ Cán bộ nào phong trào ấy” Để có một nhà trường vững mạnh, phát triển toàn diện, đạt các mục tiêu đề ra thì điều quan trọng phải có được người lãnh đạo giỏi và công tác tổ chức cán bộ phải tốt Hiệu trưởng phải có đầy đủ trình độ, lý luận và năng lực quản lý cơ bản cùng với sự năng động sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm thì kết quả giáo dục của nhà trường sẽ ngày một nâng cao
Trung học phổ thông là cấp học nhằm đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực để các em có đủ năng lực học tập tiếp theo lên cao đẳng, đại học hoặc ra đời là lực lượng lao động chính, có chất lượng, chuẩn bị cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và tạo nên nguồn lực cho tỉnh nhà nói riêng
Từ những vấn đề nêu trên, để xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, quy hoạch được đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới, đảm bảo thực hiện tốt các chế
độ chính sách, cho đội ngũ công chức, viên chức, nhân viên ngành giáo dục và đào tạo trong thời gian tới, đặc biệt là cấp học trung học phổ thông thì cần phải có sự quản lý chặt chẽ, sâu sát, toàn diện và có biện pháp quản lý hiệu quả hơn nữa từ các
cấp quản lý giáo dục Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Thực trạng công tác tổ chức cán
bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông” để làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý các đơn vị trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh, cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà trong thời gian tới
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được thực trạng về công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào
tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông Từ đó đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo
đối với các trường trung học phổ thông
Trang 93 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông
4 Giả thuyết khoa học
Công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông trong thời gian qua đã đạt được một số thành tựu nổi bật, nhưng vẫn còn một số hạn chế ở các mặt như tuyển dụng, quy hoạch cán bộ, luân chuyển cán bộ quản lý
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông
- Đề xuất một số biện pháp cần thiết và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: chỉ nghiên cứu các mặt tuyển dụng giáo viên, quy hoạch cán bộ và luân chuyển cán bộ quản lý ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bình Dương;
- Về đối tượng khảo sát: chỉ khảo sát hiệu quả công tác tổ chức cán bộ ở 07 (bảy) trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Trường THPT chuyên Hùng Vương thuộc thành phố Thủ Dầu Một, Trường THPT Trịnh Hoài Đức thuộc thị xã Thuận An, Trường THPT Dĩ An thuộc thị xã Dĩ An, Trường THPT Bến Cát thuộc huyện Bến Cát, Trường THPT Thanh Tuyền thuộc huyện Dầu Tiếng, Trường THPT Nguyễn Huệ thuộc huyện Phú Giáo, Trường THPT Thường Tân thuộc huyện Tân Uyên)
Trang 10đại diện cho 7 huyện, thị xã, thành phố; đại diện cho các loại hình trường hiện có (trường chuyên, trường chất lượng cao, trường thường); đại diện cho vùng địa lý (vùng đồng bằng, vùng sâu, vùng xa)
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc, giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác tổ chức cán bộ với các công tác khác trong nhà trường, cũng như xem công tác quản lý đối với trường trung học phổ thông là một hệ thống mà quản lý công tác tổ chức cán bộ là một bộ phận trong hệ thống này
Từ đó, tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo về công tác
tổ chức cán bộ đối với các trường trung học phổ thông
Quan điểm lịch sử logic giúp cho người nghiên cứu tìm hiểu thực trạng có tính logic từ trước đến nay, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của công tác tổ chức cán
bộ trong những khoảng thời gian và không gian cụ thể với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể ở trường trung học phổ thông Từ đó, người nghiên cứu có được những nhận xét, đánh giá chính xác mang tính khách quan quá trình lịch sử vận động và phát triển nhằm đề ra những biện pháp quản lý công tác tổ chức cán bộ một cách cụ thể
Quan điểm thực tiễn đòi hỏi người nghiên cứu phải bám sát thực tiễn vì thực tiễn nghiên cứu là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả nghiên cứu Vì khảo sát thực trạng sẽ giúp chúng ta có thể phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu cùng những nguyên nhân của vấn đề Từ đó, đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông
7 2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 11Thu thập thông tin từ tài liệu, sách báo, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài qua nhiều phương tiện thông tin như sách, báo, đài, internet, … như các vấn đề liên quan đến công tác quản lý, quản lý nhân sự, từ đó tổng hợp lại để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương đối với các trường trung học phổ thông
- Phương pháp điều tra: Lập phiếu điều tra bằng bảng câu hỏi về vấn đề nghiên cứu đối với cán bộ quản lý, giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, thăm dò ý kiến của các chuyên gia về công tác tổ chức cán bộ
Để xử lý và phân tích các số liệu từ các phiếu điều tra thu thập được
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Triển khai các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đối với sự phát triển giáo dục, đã
có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về lý luận quản lý giáo dục và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Đối với cấp độ luận văn thạc sĩ, trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về công tác xây dựng, quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp của một số địa phương như:
Ngô Đoàn Nguyễn: “Những giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Bạc Liêu” Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2005
Huỳnh Thị Ẩm: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” Luận văn thạc sĩ QLGD năm 2005
Phùng Quang Thơm: “Một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2005
Lưu Bích Thuận: “Quy hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (Giai đoạn từ 2006 đến 2015)” Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2006
Nguyễn Thanh Tú: “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở của phòng giáo dục huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2008
Đỗ Trọng Thân: “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học
cơ sở huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang” Luận văn Thạc sĩ QLGD năm 2009,
Các luận văn này đi sâu vào việc nghiên cứu năng lực quản lý, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và đưa ra các giải pháp như quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ quản lý, nhằm nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng quản lý và chất lượng đội ngũ
Trang 13cán bộ quản lý giáo dục ở các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn của một huyện, một tỉnh cụ thể Các luận văn kể trên chưa có tác giả nào tập trung đi sâu vào nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức cán bộ trong đơn
vị trường học, đặc biệt là công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với các cấp học trên địa bàn tỉnh, đây là một trong những điểm then chốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực quản lý và chất lượng đội ngũ công chức, viên chức ngành giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà
Trên thực tế, công tác tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo cũng còn những vấn
đề bất cập mà chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách cụ thể Nhằm nâng cao năng lực quản lý và chất lượng công chức, viên chức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng được nhu cầu phát triển của giáo dục hiện nay Sau thời
gian tìm hiểu và nghiên cứu, tôi nhận thấy đề tài: “Thực trạng công tác tổ chức của
Sở Giáo dục và Đào tạo đối với trường trung học phổ thông” cần được quan tâm
nghiên cứu, từ đó tìm ra biện pháp cụ thể, hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng công tác tổ chức cán bộ trong việc quản lý các đơn vị trường học, đặc biệt là các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau Theo góc độ tổ chức thì quản lý là sự cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra Theo góc độ điều khiển thì quản lý là sự lèo lái, là điều khiển, điều chỉnh Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định
Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp nỗ lực hoạt động của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều
Trang 14hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc
thì cần phải có một nhạc trưởng” Theo quan điểm này thì trong quá trình lao động
con người phải có sự phân công, hợp tác với nhau, sự tổ chức phân công lao động đó chính là một chức năng quản lý, như vậy quản lý là một chức năng xã hội, xuất hiện
và phát triển cùng với xã hội
Theo Bách khoa toàn thư (Liên Xô cũ): “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động Quản lý bao gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích”
Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”
Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý là nhằm phối hợp nổ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [18,15]
Theo tác giả Vũ Hào Quang, “Quản lý chính là sự tác động liên tục có tổ chức,
có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [23,105]
Theo Henri Fayol (người Pháp), người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”
Theo Taylor F.W (người Mỹ), “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và
rẻ nhất”
Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý, theo nghĩa rộng thì quản lý là hoạt động có mục đích của con người, nếu xét quản lý với tư cách là một hành động thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng
quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”
Quản lý là sự cộng tác có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong mỗi tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động và đạt được mục tiêu đặt ra Quản lý là sự tác động, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn các quá trình
Trang 15xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích đề ra Quản lý còn là một quá trình tác động có mục đích vào hệ thống nhằm làm thay đổi hệ thống, thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để thực hiện hoạt động quản lý
Trong các định nghĩa trên, tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng đều chứa đựng những dấu hiệu chung:
Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, mọi hoạt động xã hội loài người Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại và phát triển
Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
Hoạt động quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
Yếu tố con người (người quản lý và người bị quản lý) giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý
Bản chất của quản lý: Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (đối tượng quản lý) nhằm đạt được mục tiêu chung Trong đó:
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức
Đối tượng quản lý là những con người cụ thể, nhóm người…
Nội dung quản lý các yếu tố cần quản lý của đối tượng quản lý
Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách…
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới đối tượng quản lý Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và đối tượng quản lý
Quản lý có một số đặc điểm:
Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống
Quản lý là sự thể hiện tổ hợp các biện pháp nhằm vận hành hệ thống đạt được mục tiêu đặt ra
Trang 16Trong quản lý, chủ thể quản lý phải sắp xếp hợp lý các hoạt động và phải có các tác động phù hợp, kết hợp giữa tri thức và kinh nghiệm quản lý để đạt được mục tiêu, đồng thời để phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý thì phải có cơ chế quản
lý đúng đắn Để thực hiện tốt các quá trình quản lý, ngoài các điều kiện phương tiện quản lý như máy móc, thiết bị thì nhân cách, phong cách của nhà quản lý là không thể thiếu được
Xét dưới góc độ hành động thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Xét dưới góc độ hoạt động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản:
Chức năng lập kế hoạch:
Dự kiến các hoạt động của một quá trình, một giai đoạn hoạt động hợp lý và các điều kiện, những tình huống dự báo sẽ xảy ra và biện pháp giải quyết các tình huống đó
Chức năng tổ chức:
Sự phân công, phối hợp giữa các bộ phận trong tổ chức để thực hiện các mục tiêu đặt ra Do có chức năng này mà chủ thể quản lý có thể phối hợp, phân phối tốt nhất các nguồn lực hiện có Hiệu quả đạt được nhiều hay ít, thành công hay thất bại phụ thuộc nhiều vào năng lực và phong cách của chủ thể quản lý, phụ thuộc vào việc
sử dụng, huy động các nguồn lực cũng như tạo động lực và khơi dậy tiềm năng của mỗi cá nhân trong tổ chức
Chức năng chỉ đạo:
Là sự chỉ huy, hướng dẫn, tác động để bộ máy hoạt động, đây chính là quá trình tác động của chủ thể quản lý, sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu của tổ chức đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng Thực hiện tốt chức năng này người quản lý phải biết phối hợp, gắn kết giữa các thành viên lại với nhau, có hình thức, phương pháp động viên khích lệ để họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức, xong trong quá trình hoạt động có điều chỉnh và thúc đẩy
Chức năng kiểm tra:
Trang 17Đây là chức năng cơ bản và rất quan trọng của quản lý, lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo, kiểm tra nhằm nắm tình hình hoạt động của bộ máy, từ đó điều chỉnh hoạt động của bộ máy theo mong muốn của nhà lãnh đạo để đạt được mục tiêu của tổ chức
Qua những khái niệm trên, tác giả đồng tình với khái niệm: “Quản lý chính là sự tác động liên tục có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra”
1.2.2 Quản lý giáo dục
Từ điển giáo dục định nghĩa khái niệm quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục (theo nghĩa rộng) là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng nhiều hơn so với trước, do chỗ mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội Tuy nhiên, giáo dục thế hệ trẻ vẫn là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội
Quản lý giáo dục (theo nghĩa hẹp) thì chủ yếu là quản lý giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân
Quản lý giáo dục gồm hai mặt lớn là quản lý nhà nước về giáo dục, quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác Quản lý giáo dục là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở giáo dục
Quản lý giáo dục còn là một ngành, một bộ phận khoa học có tính chất liên ngành nhằm vận dụng những khoa học quản lý sao cho phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của hệ thống giáo dục
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục có nhiều khái niệm như sau:
Theo TS.Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình thành nhân cách thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em”
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác
Trang 18động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp Đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo
Nội dung của quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản:
Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục
Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, cơ
sở vật chất, trang thiết bị trường học
Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục
Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng CBQL, giáo viên
Huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực
Qua những khái niệm trên, theo tác giả hiểu: “Quản lý giáo dục là sự tác động
có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định”
1.2.3 Quản lý trường học
Trường học nằm trong hệ thống giáo dục và hệ thống xã hội, đặc điểm thể chế
là có sự kết hợp chặt chẽ hữu cơ giữa đặc điểm nhà nước và đặc điểm xã hội Vì thế trường học luôn có mối quan hệ tác động qua lại với môi trường xã hội
PGS.TS Đặng Quốc Bảo đã viết: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với hoạt động tương tác của hai nhân tố “thầy -
trò” “Trường học là bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”
Theo GS.Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
Trang 19hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” Quản lý trường học về bản chất là quản lý con người Trong nhà trường, đối tượng bị quản lý là tập thể giáo viên
và tập thể học sinh, chủ thể quản lý là lãnh đạo nhà trường Có thể nói rằng: quản lý nhà trường chủ yếu là tác động đến tập thể giáo viên để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo
Căn cứ nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường được quy định trong Luật Giáo dục năm 2005, có thể hiểu quản lý trường học là quản lý hoạt động dạy và học, quản
lý các hoạt động bên trong của nhà trường, đồng thời phải bao gồm việc quản lý các quan hệ giữa nhà trường với xã hội bên ngoài
Qua những khái niệm trên, theo tác giả hiểu: “Quản lý trường học là sự quản lý của người Hiệu trưởng đó đối với toàn bộ những hoạt động của giáo viên, học sinh, các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường, những phương tiện kỹ thuật, tài chính của trường, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”
có bản lĩnh hiện nay là then chốt, nếu không thì tất cả các mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn"
Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010
có quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
Trang 20sách nhà nước.” Do đó, đối với các đơn vị trường học trong ngành giáo dục và đào tạo không có khái niệm “cán bộ”, mà chỉ có khái niệm “công chức”, “viên chức”, vì vậy trong luận văn này, khi nói đến “công tác tổ chức cán bộ” thì không đề cập đến công tác cán bộ, mà chỉ đề cập đến công tác tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với các đơn vị trường trung học phổ thông
Khi nghiên cứu các chức năng của quản lý, người ta đều thống nhất rằng tổ chức là một trong những chức năng cơ bản của quản lý Muốn lãnh đạo một tập thể thì người quản lý phải thông qua công tác tổ chức và bằng con đường tổ chức để lãnh đạo tập thể Trên thực tế thì chức năng tổ chức đã trở thành một chức năng đặc biệt, quan trọng giúp cho một cơ quan, đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, cũng như nhiệm vụ chính trị của mình trong suốt quá trình hoạt động của đơn vị
Thuật ngữ "Tổ chức" - Oganization (Tiếng Anh); Organisation (Tiếng Pháp) bắt nguồn từ chữ Hy Lạp - Onganou, có nghĩa là công cụ, dụng cụ Khái niệm công
cụ ở đây chỉ dùng chức năng chung của các loại hình tổ chức: tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức đoàn thể, tổ chức doanh nghiệp, v.v… Trên thực tế, chúng ta có thể tổ chức các phương tiện vật chất, công việc, tổ chức con người hay cả bản thân mình Như vậy, khái niệm tổ chức bao hàm nhiều khía cạnh và được coi là một trong những hoạt động tự giác quan trọng nhất của con người khi sống và làm việc trong cộng đồng xã hội
Cho đến nay, tuỳ thuộc góc độ nhìn nhận khác nhau mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về tổ chức:
Dưới góc độ xã hội học, người ta hiểu tổ chức là những thực thể xã hội phối hợp với nhau có mục đích, là những hệ thống xã hội được cơ cấu theo mục tiêu
Dưới góc độ kinh tế, người ta lại hiểu tổ chức như là công cụ của các nhà quản
lý doanh nghiệp để sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ
Dưới góc độ tâm lý xã hội, tổ chức được hiểu là một nhóm có tổ chức của các
cá nhân hoặc là những hệ thống tương tác xử lý các thông tin và đưa ra quyết định
Theo lý thuyết hệ thống thì tổ chức là những hệ thống được tạo bởi những nhân
tố lệ thuộc chung với nhau, được vận hành theo mục tiêu, trong một giới hạn và trạng thái cân bằng
Trang 21Như vậy, chúng ta thấy rằng bản thân khái niệm tổ chức có chứa tính đa nghĩa
và bất định Có ít nhất 2 xu hướng quan niệm về tổ chức và chúng có liên quan, bổ sung cho nhau:
Xu hướng thứ nhất: hiểu tổ chức với tư cách là một động từ hay nhấn mạnh đến đặc tính động, đến phương diện mang tính tiến trình của khái niệm Ở đây tổ chức đóng vai trò như một công cụ
Xu hướng thứ hai: hiểu tổ chức với tư cách như một danh từ hay nhấn mạnh đến phương diện cơ cấu của tổ chức, một trật tự đã được xây dựng, một mối tương quan nhân sự đã được sắp xếp
Qua hai xu hương trên, ta có thể nhận thấy một điểm chung là tổ chức luôn phản ảnh hình ảnh của xã hội, là sợi dây liên kết, gắn bó con người, các thành viên lại với nhau thành các nhóm, các bộ phận xã hội tồn tại và hoạt động trên cơ sở mục tiêu chung, có sự quy định của pháp luật
Max Weber (1864-1920), người sáng lập ra thuyết tổ chức đã đề ra mô hình tổ chức để quản lý các doanh nghiệp lớn Những yếu tố chủ yếu trong mô hình tổ chức
là sự phân công lao động rõ ràng, sắp xếp vị trí từng người trong tổ chức, quy định nội quy và thủ tục quản lý, lựa chọn người một cách nghiêm ngặt cùng với chế độ lương, thưởng, đề bạt, hợp lý
Chester Barnard (1886-1961), người sáng lập ra lý thuyết về tổ chức lại đã đề
ra 3 yếu tố hợp thành của một tổ chức, đó là sự sẵn sàng hợp tác, có mục đích chung
và có thông tin, đồng thời nghiên cứu những vấn đề khoa học quản lý trong tổ chức như ra quyết định, lãnh đạo, đạo đức, nội dung sâu sắc của thuyết này là sự phản ánh các lực lượng tinh vi và phức tạp hình thành nên hoạt động của con người trong một tổ chức, là một hình thức hợp tác cơ bản, chặt chẽ của những con người và có tính khách quan với mỗi cá nhân, trong đó không chỉ chú ý tới yếu tố kinh tế, kỹ thuật, chuyên môn mà còn coi trọng yếu tố đạo đức tinh thần của tổ chức
Từ những vấn đề trên có những khái niệm tổ chức như sau:
"Tổ chức là một nhóm xã hội chính thức (một tập thể) bao gồm những cá nhân được tập hợp lại theo sự phân công lao động, thống nhất về mục đích và hoạt động chặt chẽ; tồn tại trên cơ sở các văn bản pháp quy" [17; 159,160]
Trang 22Tác giả Tô Tử Hạ đưa ra định nghĩa tương đối đơn giản hơn: "Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung”
[12; 6]
Mục đích của tổ chức là làm cho những mục tiêu trở nên có ý nghĩa và góp phần tăng thêm tính hiệu quả về mặt tổ chức Một cơ cấu tổ chức được coi là có hiệu quả nếu nó cho phép mỗi cá nhân góp phần công sức vào các mục tiêu của đơn vị
Khái niệm "công tác tổ chức" còn có thể được xem xét với những nghĩa khác nhau Nó có thể được xem xét với nghĩa rộng dùng để chỉ hoạt động tổ chức của Đảng, Nhà nước, của công đoàn hay Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc với nghĩa hẹp khi chỉ một người nào đó đang tổ chức một dạng hoạt động chung của một nhóm người cụ thể
Công tác tổ chức còn có thể xem xét với tư cách là một chức năng quan trọng của hoạt động lãnh đạo, quản lý Có thể chia công tác này thành 2 nội dung cơ bản: làm công tác tổ chức con người và bố trí sử dụng con người Hai nội dung cơ bản này
có quan hệ mật thiết với nhau và chúng ta tạo dựng một tổ chức từ những con người
và bố trí họ vào những công việc nhất định để rồi điều khiển, kiểm tra hoạt động của
họ
Vậy, công tác tổ chức có thể hiểu là hoạt động nhằm thiết lập, vận hành một tập thể, một tổ chức thông qua việc bố trí, sắp đặt con người cũng như tác động đến nhu cầu, lợi ích, tổ chức, ý chí, năng lực hoạt động thực tiễn của con người nhằm hướng vào mục đích chung
Khái quát lại, tổ chức là cấu trúc của những người kết lại thành nhóm hoạt động theo lý tưởng, mục tiêu xác định có tính chất bền vững lâu dài mà từng thành viên khi hoạt động riêng lẻ thì không thực hiện được lý tưởng, mục tiêu đó Có thể nói tổ chức và công tác tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt Các nhà nghiên cứu cho rằng 70% công việc quản lý con người thất bại là do công tác tổ chức kém Lênin đã khẳng định vai trò của tổ chức: "Trong công cuộc dành chính quyền về tay, giai cấp
vô sản không có một vũ khí nào hơn đó là tổ chức của mình, lĩnh vực trọng yếu nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức"
Trang 23Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay đã luôn luôn chú ý đến công tác tổ chức cán bộ và coi đó là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta ở từng thời kỳ, nhất là trong giai đoạn hiện nay Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII một lần nữa Đảng ta lại khẳng định: "Đổi mới một bước tổ chức và cán bộ, nâng cao trình độ và sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên" và
"Đảng phải lo cán bộ cho cả hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị trong công tác cán bộ"
Có thể nói tổ chức, khoa học tổ chức có mặt ở khắp nơi, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên con người đã không ngừng nghiên cứu để hoàn thiện tổ chức
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói chung và phạm vi một tỉnh nói riêng, công tác tổ chức cán bộ là một trong những công tác quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại trong lĩnh vực giáo dục của địa phương đó Thực hiện tốt
công tác tổ chức cán bộ tức là thực hiện tốt việc chuẩn bị, xây dựng và củng cố đội ngũ nhà giáo của ngành để thực hiện nhiệm vụ được giao qua từng năm học một cách tốt nhất với kết quả đạt được cao nhất có thể Công tác tổ chức cán bộ có thể nói gần như đã phản ánh toàn bộ bộ mặt của đơn vị, bởi vì một đơn vị muốn hoạt động có hiệu quả, có chất lượng thì phải có một đội ngũ đầy đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có trình độ chuyên môn, có năng lực làm việc, đặc biệt phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nhiệt tình, biết cách quản lý, chỉ đạo, biết cách điều hành công việc của đơn vị một cách nhịp nhàng, khoa học
1.2.5 Trường trung học phổ thông
1.2.5.1 Khái niệm
Trường trung học phổ thông là một loại hình đào tạo chính quy ở Việt Nam, dành cho lứa tuổi từ 15 tới 18 (không kể một số trường hợp đặc biệt), gồm các khối học: lớp 10, lớp 11, lớp 12 Sau khi tốt nghiệp hệ giáo dục này, học sinh được nhận bằng tốt nghiệp phổ thông trung học, có một tên gọi khác cho loại bằng này là "Bằng
tú tài"
Trường trung học phổ thông được lập tại các địa phương trên cả nước Người đứng đầu một ngôi trường được gọi là "Hiệu trưởng" Trường được sự quản lý trực
Trang 24tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) Quy chế hoạt động của trường trung học phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Trường trung học phổ thông là một bộ phận hữu cơ của giáo dục phổ thông, là
cầu nối giữa cấp tiểu học, trung học cơ sở với bậc đại học Đây là cấp học làm cho hệ
thống giáo dục - đào tạo mang tính chỉnh thể, hệ thống và liên thông Bởi vì: Trung
học phổ thông là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là giai đoạn xác định
chất lượng, hiệu quả của giáo dục phổ thông, là giai đoạn xác định chất lượng của giáo dục đại học sau này Từ cấp học này sẽ đào tạo được lực lượng có trình độ học
vấn, có điều kiện học hỏi để nâng cao tay nghề và cũng là cơ sở để lựa chọn và đào
tạo đội ngũ trí thức cho đất nước Lực lượng chủ chốt góp phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông chính là đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông làm công tác giảng dạy cho các em học sinh lớp 10, lớp 11 và
lớp 12
Điều 4 Luật Giáo dục năm 2005, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
- Giáo dục mầm non
- Giáo dục phổ thông
- Giáo dục nghề nghiệp
- Giáo dục đại học
- Giáo dục thường xuyên
Trường trung học phổ thông là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là cầu nối giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học
Trường trung học phổ thông có vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đây là cấp học nhằm chuẩn bị nguồn lực cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bậc học phổ thông là một bậc học quan trọng nhằm tạo học vấn cơ bản cho học sinh ở lứa tuổi trưởng thành và góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Trang 25Điều 27 Luật Giáo dục 2005 đã nêu rõ:
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
“Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hoặc đi vào cuộc sống lao động”
Với các mục tiêu như trên, giáo dục trung học phổ thông có chức năng trang bị cho thế hệ trẻ khả năng thích ứng và đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, làm việc một cách khoa học Nhà trường trung học phổ thông có nhiệm vụ chuẩn bị cho thế hệ trẻ những tầm nhìn rộng rãi Khả năng sống và làm việc độc lập, tự chủ được phát triển đầy đủ về trí tuệ
Giáo dục trung học phổ thông xem xét việc trang bị kiến thức các môn học như một bộ phận của việc giúp cho học sinh bước vào đời Hoạt động giáo dục - dạy học
ở trường trung học phổ thông phải tập trung vào việc trang bị cho học sinh kiến thức
cơ bản và kỹ năng để các em biết định hướng nghề nghiệp, tiếp tục học lên, sẵn sàng bước vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học và học suốt đời Những năng lực đó phải được hình thành ngay khi các em hoàn thành chương trình đào tạo ở trường trung học phổ thông
1.3 Lý luận về công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với các trường trung học phổ thông
1.3.1 Yêu cầu cơ bản về tiêu chuẩn đối với Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
Theo Thông tư số 29/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định chuẩn Hiệu trưởng trường trung học cơ sở,
Trang 26trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học thì tiêu chuẩn đối với người Hiệu trưởng gồm có 3 tiêu chuẩn với 23 tiêu chí, cụ thể:
• Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp
+ Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích dân tộc;
+ Gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; hiểu biết và thực hiện đúng pháp luật, chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước, các quy định của ngành, địa phương;
+ Tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội;
+ Có ý chí vượt khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
+ Có khả năng động viên, khích lệ giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ; được tập thể giáo viên, cán bộ, nhân viên tín nhiệm
+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;
+ Trung thực, tâm huyết với nghề nghiệp và có trách nhiệm trong quản lý nhà trường;
+ Ngăn ngừa và kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực;
+ Không lợi dụng chức vụ hiệu trưởng vì mục đích vụ lợi, đảm bảo dân chủ trong hoạt động nhà trường
- Tiêu chí 3 Lối sống
Có lối sống lành mạnh, phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc trong xu thế hội nhập
Có tác phong làm việc khoa học, sư phạm
- Tiêu chí 5 Giao tiếp, ứng xử
Có cách thức giao tiếp, ứng xử đúng mực và có hiệu quả
• Tiêu chuẩn 2: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
Hiểu đúng và đầy đủ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông
Trang 27- Tiêu chí 7 Trình độ chuyên môn
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục đối với cấp học; đạt trình độ chuẩn ở cấp học cao nhất đối với trường phổ thông có nhiều cấp học;
+ Nắm vững môn học đã hoặc đang đảm nhận giảng dạy, có hiểu biết về các môn học khác đáp ứng yêu cầu quản lý;
+ Am hiểu về lí luận, nghiệp vụ và quản lý giáo dục
Có khả năng tổ chức, thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học và giáo dục tích cực
Có ý thức, tinh thần tự học và xây dựng tập thể sư phạm thành tổ chức học tập, sáng tạo
+ Sử dụng được một ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc (đối với hiệu trưởng công tác tại trường dân tộc nội trú, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số);
+ Sử dụng được công nghệ thông tin trong công việc
• Tiêu chuẩn 3: Năng lực quản lý nhà trường
+ Hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, địa phương; + Nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách và quy định của ngành giáo dục; + Phân tích tình hình và dự báo được xu thế phát triển của nhà trường
+ Xây dựng được tầm nhìn, sứ mạng, các giá trị của nhà trường hướng tới sự phát triển toàn diện của mỗi học sinh và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường;
+ Tuyên truyền và quảng bá về giá trị nhà trường; công khai mục tiêu, chương trình giáo dục, kết quả đánh giá chất lượng giáo duc và hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường tạo được sự đồng thuận và ủng hộ nhằm phát triển nhà trường
Trang 28+ Xác định được các mục tiêu ưu tiên;
+ Thiết kế và triển khai các chương trình hành động nhằm thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường;
+ Hướng mọi hoạt động của nhà trường vào mục tiêu nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh, nâng cao hiệu quả làm việc của các thày cô giáo; động viên, khích lệ mọi thành viên trong nhà trường tích cực tham gia phong trào thi đua xây dựng ”Trường học thân thiện, học sinh tích cực”;
+ Chủ động tham gia và khuyến khích các thành viên trong trường tích cực tham gia các hoạt động xã hội
Có khả năng ra quyết định đúng đắn, kịp thời và dám chịu trách nhiệm về các quyết định nhằm đảm bảo cơ hội học tập cho mọi học sinh, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường
Tổ chức xây dựng kế hoạch của nhà trường phù hợp với tầm nhìn chiến lược và các chương trình hành động của nhà trường
+ Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường hoạt động hiệu quả;
+ Quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng và thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên;
+ Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá, đảm bảo sự phát triển lâu dài của nhà trường;
+ Động viên đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên phát huy sáng kiến xây dựng nhà trường, thực hành dân chủ ở cơ sở, xây dựng đoàn kết ở từng đơn vị và trong toàn trường; mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo;
+ Chăm lo đời sống tinh thần, vật chất của giáo viên, cán bộ và nhân viên
- Tiêu chí 17 Quản lý hoạt động dạy học
+ Tuyển sinh, tiếp nhận học sinh đúng quy định, làm tốt công tác quản lý học sinh;
Trang 29+ Thực hiện chương trình các môn học theo hướng phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nhằm đạt kết quả học tập cao trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng theo các quy định hiện hành;
+ Tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên theo yêu cầu đổi mới, phát huy dân chủ, khuyến khích sự sáng tạo của từng giáo viên, của các tổ bộ môn và tập thể sư phạm của trường;
+ Thực hiện giáo dục toàn diện, phát triển tối đa tiềm năng của người học, để mỗi học sinh có phẩm chất đạo đức làm nền tảng cho một công dân tốt, có khả năng định hướng vào một lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với tiềm năng sẵn có của mình và nhu cầu của xã hội
+ Huy động và sử dụng hiệu quả, minh bạch, đúng quy định các nguồn tài chính phục vụ các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường, thực hiện công khai tài chính của trường theo đúng quy định;
+ Quản lý sử dụng hiệu quả tài sản nhà trường, thiết bị dạy học phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông
+ Xây dựng nếp sống văn hoá và môi trường sư phạm;
+ Tạo cảnh quan trường học xanh, sạch, đẹp, vệ sinh, an toàn và lành mạnh; + Xây dựng và duy trì mối quan hệ thường xuyên với gia đình học sinh để đạt hiệu quả trong hoạt động giáo dục của nhà trường;
+ Tổ chức, phối hợp với các đoàn thể và các lực lượng trong cộng đồng xã hội nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, tạo dựng niềm tin, giá trị đạo đức, văn hoá và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
+ Xây dựng và cải tiến các quy trình hoạt động, thủ tục hành chính của nhà trường;
+ Quản lý hồ sơ, sổ sách theo đúng quy định
+ Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua;
Trang 30+ Động viên, khích lệ, trân trọng và đánh giá đúng thành tích của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong nhà trường;
+ Tổ chức xây dựng hệ thống thông tin phục vụ hiệu quả các hoạt động giáo dục;
+ Ứng dụng có kết quả công nghệ thông tin trong quản lý, dạy học;
+ Tiếp nhận và xử lý các thông tin phản hồi để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường;
+ Hợp tác và chia sẻ thông tin về kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý với các cơ sở giáo dục, cá nhân và tổ chức khác để hỗ trợ phát triển nhà trường;
+ Thông tin, báo cáo các lĩnh vực hoạt động của nhà trường đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định
+ Tổ chức đánh giá khách quan, khoa học, công bằng kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, kết quả công tác, rèn luyện của giáo viên, cán bộ, nhân viên và lãnh đạo nhà trường;
+ Thực hiện tự đánh giá nhà trường và chấp hành kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định
1.3.2 Yêu cầu cơ bản về tiêu chuẩn đối với giáo viên trường trung học phổ thông
Theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ
sở, giáo viên trung học phổ thông thì tiêu chuẩn đối với người giáo viên gồm có 6 tiêu chuẩn với 25 tiêu chí, cụ thể:
• Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chính trị - xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân
Trang 31Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học; chấp hành Luật Giáo dục, điều lệ, quy chế, quy định của ngành; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; sống trung thực, lành mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh
- Tiêu chí 3 Ứng xử với học sinh
Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinh khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt
Đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp; có ý thức xây dựng tập thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục
- Tiêu chí 5 Lối sống, tác phong
Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học
• Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin thường xuyên về nhu cầu và đặc điểm của học sinh, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục
Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin về điều kiện giáo dục trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục
• Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học
- Tiêu chí 8 Xây dựng kế hoạch dạy học
Các kế hoạch dạy học được xây dựng theo hướng tích hợp dạy học với giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm học sinh và môi trường giáo dục; phối hợp hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS
Làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy học chính xác, có hệ thống, vận dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản, hiện đại, thực tiễn
Trang 32- Tiêu chí 10 Đảm bảo chương trình môn học
Thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ được quy định trong chương trình môn học
Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của học sinh, phát triển năng lực tự học và tư duy của học sinh
Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng hiệu quả dạy học
Tạo dựng môi trường học tập: dân chủ, thân thiện, hợp tác, cộng tác, thuận lợi,
an toàn và lành mạnh
Xây dựng, bảo quản, sử dụng hồ sơ dạy học theo quy định
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bảo đảm yêu cầu chính xác, toàn diện, công bằng, khách quan, công khai và phát triển năng lực tự đánh giá của học sinh; sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học
• Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục
Kế hoạch các hoạt động giáo dục được xây dựng thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế, thể hiện khả năng hợp tác, cộng tác với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ thông qua việc giảng dạy môn học và tích hợp các nội dung giáo dục khác trong các hoạt động chính khoá
và ngoại khoá theo kế hoạch đã xây dựng
Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng
Trang 33- Tiêu chí 19 Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng
Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng như: lao động công ích, hoạt động xã hội theo kế hoạch đã xây dựng
dục
Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục học sinh vào tình huống sư phạm cụ thể, phù hợp đối tượng và môi trường giáo dục, đáp ứng mục
tiêu giáo dục đề ra
Đánh giá kết quả rèn luyện đạo dực của học sinh một cách chính xác, khách quan, công bằng và có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của học sinh
• Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội
Phối hợp với gia đình và cộng đồng trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường
Tham gia các hoạt động chính trị, xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm phát triển nhà trường và cộng đồng, xây dựng xã hội học tập
• Tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp
Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục
Phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục
1.3.3 Yêu cầu về số lượng và cơ cấu đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên trường trung học phổ thông
Số lượng và cơ cấu đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên trường trung học phổ thông được quy định tại Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV
Trang 34ngày 23/8/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập
- Biên chế cán bộ quản lý:
+ Mỗi trường có một hiệu trưởng và một số phó hiệu trưởng được quy định cụ thể như sau:
+ Trường hạng 1 có không quá 3 phó hiệu trưởng;
+ Trường hạng 2 có không quá 2 phó hiệu trưởng;
+ Trường hạng 3 có 1 phó hiệu trưởng
- Biên chế giáo viên:
+ Mỗi lớp được bố trí biên chế không quá 2,25 giáo viên;
+ Giáo viên làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: mỗi trường được bố trí 01 Bí thư đoản chuyên trách (theo Quyết định số 13/2013/QĐ-TTg ngày 06 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, Hội Liên
hiệp Thanh niên Việt Nam trong các cơ sở giáo dục và cơ sở dạy nghề)
- Biên chế viên chức làm công tác thư viện, thiết bị, thí nghiệm, văn phòng: + Công tác thư viện: Mỗi trường được bố trí 01 biên chế;
+ Công tác thiết bị, thí nghiệm: Trường hạng 1 được bố trí 02 biên chế, trường hạng 2, hạng 3 được bố trí 01 biên chế
- Công tác văn phòng (Văn thư, Thủ quỹ, Kế toán, Y tế trường học):
Mỗi trường được bố trí 03 biên chế : 01 Văn thư và Thủ quỹ, 01 Kế toán, 01 Y
tế trường học; trường có từ 40 lớp trở lên được bố trí thêm 01 biên chế
Trang 351.3.4 Tuyển dụng giáo viên
Tuyển dụng giáo viên là một công việc được thực hiện thường xuyên hàng năm nhằm tuyển chọn giáo viên mới bổ sung thêm cho đội ngũ giáo viên của ngành còn thiếu trong năm học mới do nhiều nguyên nhân khác nhau như giáo viên chuyển công tác, nghỉ hưu, nghỉ việc, tăng quy mô trường lớp, Tuyển dụng giáo viên ngành giáo dục và đào tạo được thực hiện thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Việc tuyển dụng giáo viên được thực hiện công khai, công bằng, nghiêm túc theo đúng quy định Công tác này giúp cho ngành bổ sung thêm số lượng giáo viên còn thiếu, giúp cho đơn vị
ổn định đội ngũ, chủ động trong công tác phân công chuyên môn, giúp cho người giáo viên ngoài thời gian giảng dạy thì có nhiều thời gian hơn để đầu tư chuyên môn nhằm giảng dạy có hiệu quả hơn, chất lượng giáo dục ngày một nâng cao hơn
1.3.5 Quy hoạch đội ngũ
Quy hoạch đội ngũ là một bước chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý kế cận, dự nguồn nhằm để bổ sung, thay thế cho đội ngũ cán bộ quản lý hiện tại đã lớn tuổi chuẩn bị nghỉ hưu, bổ sung cho những đơn vị còn thiếu hụt cán bộ quản lý do nhiều nguyên nhân khác nhau như luân chuyển cán bộ quản lý, tăng quy mô trường lớp theo quy định, cán bộ quản lý bị kỷ luật cách chức, hoặc vì một lý do nào đó lại xin thôi giữ chức vụ, Công tác quy hoạch đội ngũ cần phải được quy hoạch một cách đồng bộ ở tất cả các chức danh lãnh đạo, quy hoạch ở nhiều bộ môn khác nhau, quy hoạch cần phải có kế hoạch ngắn hạn, dài hạn với một đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn, có năng lực quản lý và nhiệt huyết trong công tác Đây là một công việc thực hiện thường xuyên hàng năm nhằm điều chỉnh, bổ sung cán bộ kế cận cho hợp
lý, phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị
1.3.6 Luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ quản lý
Luân chuyển, bổ nhiệm là một trong những công việc rất quan trọng trong công tác tổ chức cán bộ nhằm giúp cho các cấp lãnh đạo kịp thời bổ sung, thay thế những nơi còn thiếu cán bộ quản lý, củng cố đội ngũ cán bộ quản lý ở những nơi còn yếu kém nhằm tạo nên sự đồng bộ trong công tác quản lý ở tất cả các đơn vị trường
Trang 36học, tạo nên sự đồng bộ về chất lượng giáo dục ở tất cả các địa phương trên địa bàn tỉnh Nếu thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho ngành có được một đội ngũ cán bộ quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng đối đầu với mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ được cấp trên giao với bất cứ nhiệm vụ gì, phân công công tác ở bất cứ nơi đâu Công tác luân chuyển, bổ nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đồng thời củng cố, điều chỉnh và bổ sung kịp thời đội ngũ cán
bộ quản lý để đáp ứng nhu cầu của ngành giáo dục và đào tạo trong tình hình mới của đất nước, với yêu cầu công tác ngày càng cao của ngành
1.3.7 Điều động, thuyên chuyển giáo viên
Điều động, thuyên chuyển giáo viên là công việc mà ngành giáo dục và đào tạo thực hiện vào cuối năm học hàng năm, thứ nhất là nhằm giải quyết nhu cầu của cá nhân xin chuyển công tác về gần gia đình vì những lý do cá nhân khác nhau; thứ hai
là nhằm giải quyết tình trạng mất cân đối về đội ngũ giáo viên do thừa bộ môn này nhưng lại thiếu bộ môn kia trong cùng một đơn vị, trong cùng một bộ môn thì trường này thừa trường kia lại thiếu Công tác điều động, thuyên chuyển được thực hiện nhằm điều hòa giáo viên trước khi tuyển dụng chính thức giáo viên mới để bổ sung cho đội ngũ giáo viên còn thiếu trong năm học mới Công tác điều động, thuyên chuyển đã phần nào giúp cho đội ngũ giáo viên ổn định cuộc sống, yên tâm công tác
vì họ được công tác gần gia đình, gần người thân nên sẽ yên tâm công tác từ đó họ sẽ
có nhiều thời gian và điều kiện để chăm lo cho gia đình được nhiều hơn, gắn bó với nghề lâu hơn, có nhiều thời gian để đầu tư chuyên môn, giảng dạy có hiệu quả hơn, nên chất lượng giáo dục đào tạo cũng được nâng cao
1.3.8 Đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những công tác nhằm giúp cho đội ngũ cán
bộ, giáo viên của ngành được nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao, đồng thời cũng nâng cao được chất lượng giảng dạy của bản thân, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị và của tỉnh nhà qua từng năm học Tuy nhiên, việc đưa đi đào tạo, bồi dưỡng không thực hiện ồ ạt, tràn lan, không có kế hoạch mà việc đưa đi đào tạo, đưa đi bồi dưỡng được
Trang 37thực hiện một cách có kế hoạch rõ ràng, cụ thể, từng đơn vị phải xây dựng một kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn và cụ thể cho từng năm, cho từng đối tượng ở từng bộ môn trong đơn vị Việc xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cụ thể từng năm nhằm tránh tình trạng bị động trong công tác phân công chuyên môn khi cho giáo viên đi học, mỗi năm mỗi môn chỉ cử giáo viên đi học một hoặc hai người, nhằm đảm bảo phải còn đủ giáo viên để giảng dạy ở trường khi có giáo viên đi học
1.3.9 Thực hiện chế độ chính sách
Thực hiện tốt công tác này là nhằm đảm bảo quyền lợi cho đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên về chế độ, chính sách của ngành theo quy định của trung ương được thực hiện đầy đủ, kịp thời, không bỏ sót Ngoài những quy định của trung ương, ngành còn chủ động xây dựng những chế độ, chính sách mới để tham mưu cho
Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định ban hành nhiều chế độ, chính sách của địa phương dành cho ngành giáo dục, nhằm góp phần động viên, khuyến khích đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên ngành giáo dục và đào tạo tỉnh nhà công tác tốt hơn, gắn bó với nghề hơn để có động lực thực hiện tốt công tác trồng người của cả nước nói chung và của tỉnh nhà nói riêng vì hiện nay chế độ tiền lương dành cho ngành giáo dục và đào tạo còn quá thấp, chưa xứng đáng với công sức của đội ngũ giáo viên
đã bỏ ra trong việc giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người có ích cho xã hội
1.3.10 Kỷ luật
Kỷ luật là một công việc có lẻ là không một nơi nào muốn thực hiện nhưng trong một tổ chức, một đơn vị thì cần phải có kỷ luật để mọi nội quy, quy định đảm bảo được thực hiện một cách tốt nhất Kỷ luật được thực hiện mỗi khi có cá nhân vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của ngành, vi phạm nội quy của đơn vị Tùy theo tính chất sự việc, tùy theo mức độ vi phạm và tùy theo hậu quả của hành động vi phạm gây ra mà có những hình thức kỷ luật khác nhau được dụng áp theo quy định hiện hành của pháp luật Dù cho mức độ vi phạm có nặng hay nhẹ, hậu quả có nghiêm trọng hay không thì vẫn phải được xem xét kỷ luật một cách công bằng, nghiêm minh, đúng pháp luật nhằm răng đe, giáo dục những đối tượng đã vi phạm,
Trang 38cũng như rút kinh nghiệm cho bản thân và cho những người khác trong khi thực hiện những nhiệm vụ tương tự để tránh những sai lầm mắc phải
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tổ chức cán bộ là một khâu rất quan trọng trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với tất cả các đơn vị thuộc ngành giáo dục và đạo tạo của một tỉnh Nó giúp cho Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện tốt các công tác
có liên quan đến đội ngũ nhà giáo của ngành như tuyển dụng, phân công, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính sách, điều động thuyên chuyển, quy hoạch cán bộ, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, kỷ luật, Qua công tác tổ chức cán bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ xây dựng đội ngũ nhà giáo đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, ổn định về tổ chức, giúp cho giáo viên yên tâm công tác, gắn bó hơn với nghề nghiệp, Nói tóm lại, công tác tổ chức cán bộ
đã góp phần rất quan trọng vào việc quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo của một đơn vị trường học nói riêng, đến chất lượng giáo dục của toàn tỉnh nói chung
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Giới thiệu sơ lược về tỉnh Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước, phía nam và tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Tây Ninh, phía đông giáp Đồng Nai Bình Dương hiện có 01 thành phố, 02 thị xã và 04 huyện (bao gồm 91 xã/phường/thị trấn) với diện tích tự nhiên là 2.695,22 km2
Hiện nay, tỉnh lỵ của Bình Dương được đặt tại thành phố Thủ Dầu Một, cách trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 35km Dự kiến đến năm 2020, Bình Dương là đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 6 quận nội thành,
4 huyện ngoại thành với 112 xã, phường, thị trấn (60 phường, 39 xã, 13 thị trấn)
Bình Dương là vùng đất chiến trường năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là Chiến khu
Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên, vùng Tam giác sắt
Lịch sử hình thành
Bình Dương là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa kia Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập tháng 12 năm 1899 từ Sở Tham biện Thủ Dầu Một, tách từ tỉnh Biên Hòa Tháng 10 năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập các tỉnh Bình Dương, và một phần tỉnh Bình Long Như vậy Bình Dương là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 Tỉnh lị là Phú Cường Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã (ngày 30 tháng 8 năm 1957) trong đó các quận là Quận Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát, Trị Tâm, Củ Chi
Năm 1959, cắt một phần đất, cùng với phần đất của 2 tỉnh Biên Hòa và Phước Long lập ra tỉnh Phước Thành Tỉnh này tồn tại đến năm 1965 thì giải thể Ngày 18 tháng 12 năm 1963, lập thêm quận Phú Hòa, quận lị đặt tại Bến Cỏ, xã Phú Hòa Đông, đến ngày 18 tháng 5 năm 1968 dời về xã Tân Hòa Quận Phú Hòa hiện nay nhập với quận Củ Chi thành huyện Củ Chi thuộc Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 40Năm 1976 chính quyền mới hợp nhất tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước (gồm hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ) thành tỉnh Sông Bé, nhưng đến ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra thành hai tỉnh như cũ
Khi tách ra, tỉnh Bình Dương có diện tích 2.718,5 km², dân số 646.317 người (tính cả 4 xã và thị trấn của huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước chuyển sang), gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An Đến ngày 23 tháng 7 năm 1999, huyện Thuận An được chia tách thành 2 huyện Thuận An và Dĩ
An, huyện Bến Cát được chia tách thành 2 huyện Bến Cát và Dầu Tiếng, huyện Tân Uyên được chia tách thành 2 huyện Tân Uyên và Phú Giáo Như vậy, từ tháng
8 năm 1999, Bình Dương có 7 đơn vị hành chính cấp huyện
Ngày 13 tháng 01 năm 2011, Chính phủ ra Nghị quyết 04/NQ-CP thành lập 2 thị xã mới là Dĩ An và Thuận An, trên cơ sở 2 huyện Dĩ An và Thuận An cũ Ngày 02 tháng 5 năm 2012, Chính phủ ra Nghị quyết thành lập thành phố Thủ Dầu Một trên cơ sở thị xã Thủ Dầu Một cũ
Về điều kiện kinh tế
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích 2.695,22 km2, xếp thứ 4 trong vùng Đông Nam Bộ Địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên phong phú Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau
Bình Dương là cửa ngõ giao thương với Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế - văn hóa của cả nước, có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á, … cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 km, … thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội toàn diện Hiện nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung có tổng diện tích hơn 8.700 ha với hơn 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động có tổng vốn đăng ký hơn 13
tỷ đôla Mỹ
Về hành chính
Bình Dương có 01 thành phố, 02 thị xã và 04 huyện với 91 xã/phường/ thị trấn: