1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi

170 470 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế, đã có một số tài liệu đề cập đến các phương pháp, biện pháp giúp học sinh tự học môn hóa học nhưng chưa có tài liệu hướng dẫn tự học một cách cụ thể và thực sự hiệu quả ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Sỹ Hiện

THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 DÙNG CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Sỹ Hiện

THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC

PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11

DÙNG CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học

Mã số : 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ HUY HẢI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Hóa cùng các thầy cô trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức và thực hiện thành công khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học hóa học, tạo cơ hội học tập và nâng cao trình độ chuyên môn về lĩnh vực mà tôi tâm huyết

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các thầy cô giáo và các

em học sinh các trường THPT Quốc tế Á Châu, Lê Quý Đôn, Chuyên Lê Hồng Phong, Nguyễn Du – TP Hồ Chí Minh, THPT Vũng Tàu – TP Vũng Tàu đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm

Xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Sau Đại học, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng tiến độ

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Huy Hải và PGS.TS Trịnh Văn Biều đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn

Và điều quan trọng nữa là luận văn được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân và sự động viên, giúp đỡ của những người thân trong gia đình

Võ Sỹ Hiện

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Các đề tài về thiết kế website, e-book tự học hóa học 4

1.1.2 Các đề tài về thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn 4

1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 6

1.2.1 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học 6

1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực 6

1.3 Tự học 8

1.3.1 Khái niệm về tự học 8

1.3.2 Các hình thức tự học 8

1.3.3 Tự học có hướng dẫn 9

1.3.4 Chu trình tự học của học sinh 11

1.3.5 Năng lực tự học 12

1.3.6 Các kỹ năng tự học 15

1.3.7 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tự học môn hóa của HS THPT 16

1.4 Tài liệu tự học 18

1.4.1 Khái niệm tài liệu, tài liệu tự học 18

1.4.2 Tài liệu tự học lý thuyết 20

1.4.3 Tài liệu tự học về bài tập 20

1.4.4 Bài tập hóa học 21

1.4.5 Ý nghĩa của tài liệu tự học đối với việc học tập của học sinh 23

1.5 Học sinh khá giỏi hóa học 24

1.5.1 Khái niệm học sinh khá giỏi 24

1.5.2 Những phẩm chất và năng lực của HS khá giỏi hóa học 24

1.5.3 Hình thành và phát triển tư duy cho HS khá giỏi hóa học 25

1.6 Thực trạng về tự học môn hóa học ở một số trường THPT 26

1.6.1 Về vấn đề tự học của HS THPT 26

1.6.2 Về vấn đề thiết kế tài liệu tự học 30

Trang 5

Tóm tắt chương 1 33

Chương 2 THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 DÙNG CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI 34

2.1 Tổng quan về phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT 34

2.2 Những định hướng khi thiết kế tài liệu tự học 36

2.3 Quy trình thiết kế tài liệu tự học 38

2.3.1 Xác định mục đích, yêu cầu của việc thiết kế 38

2.3.2 Xác định nội dung và cấu trúc của tài liệu 39

2.3.3 Xác định các chủ đề tự học phần lý thuyết 40

2.3.4 Xác định loại bài tập sẽ đưa vào tài liệu 40

2.3.5 Thu thập thông tin để thiết kế tài liệu 41

2.3.6 Tiến hành thiết kế tài liệu 41

2.3.7 Tham khảo, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp và chỉnh sửa 42

2.3.8 Thực nghiệm, bổ sung và hoàn thiện 42

2.4 Cấu trúc tài liệu tự học 43

2.5 Nội dung tài liệu tự học 45

2.5.1 Hướng dẫn sử dụng tài liệu 45

2.5.2 Nội dung tài liệu tự học lý thuyết 48

2.5.3 Nội dung tài liệu tự học về bài tập 79

2.5.4 Tự kiểm tra đánh giá 110

2.6 Một số biện pháp giúp sử dụng tài liệu hiệu quả 116

Tóm tắt chương 2 121

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 123

3.1 Mục đích thực nghiệm 123

3.2 Đối tượng thực nghiệm 123

3.3 Tiến hành thực nghiệm 123

3.4 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 125

3.5 Kết quả thực nghiệm 127

3.5.1 Kết quả thực nghiệm về mặt định lượng 127

3.5.2 Phân tích kết quả học tập của các lớp thực nghiệm và đối chứng 133

3.5.3 Kết quả thực nghiệm về mặt định tính 134

Tóm tắt chương 3 136

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137

TÀ I LIỆU THAM KHẢO 142

PHỤ LỤC 146

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BTHH: bài tập hóa học CTPT: công thức phân tử CTCT: công thức cấu tạo

Dd (dd): dung dịch

ĐHSP: Đại học Sư phạm đktc: điều kiện tiêu chuẩn

THPT: trung học phổ thông TLTH tài liệu tự học

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ cần thiết của việc HS tự học 27

Bảng 1.2 Lý do HS cần phải tự học qua tài liệu 27

Bảng 1.3 Quan điểm của HS về tự học 28

Bảng 1.4 Công việc HS thực hiện trong tự học 29

Bảng 1.5 Phần trăm HS trong lớp biết cách tự học môn hóa 29

Bảng 1.6 Những khó khăn học sinh gặp phải khi tự học 30

Bảng 1.7 Nguồn tài liệu GV thường sử dụng 31

Bảng 1.8 Các yêu cầu đối với tài liệu tự học 31

Bảng 1.9 Những nội dung cần thiết trong tài liệu tự học 32

Bảng 2.1 Cấu trúc phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT 35

Bảng 3.1 Danh sách các lớp thực nghiệm và đối chứng 123

Bảng 3.2 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 127

Bảng 3.3 Tổng hợp phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 128

Bảng 3.4 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra số 1 129

Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 129

Bảng 3.6 Tổng hợp phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 130

Bảng 3.7 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra số 2 131

Bảng 3.8 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích tổng hợp 2 bài kiểm tra 131

Bảng 3.9 Tổng hợp phân loại kết quả học tập 2 bài kiểm tra 132

Bảng 3.10 Tổng hợp các tham số đặc trưng 2 bài kiểm tra 133

Bảng 3.11 Kết quả đánh giá TLTH 135

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Chu trình tự học của học sinh 11

Hình 2.1 Quy trình thiết kế tài liệu tự học dùng cho HS khá giỏi 43

Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 128

Hình 3.2 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 128

Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 130

Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 130

Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 2 bài kiểm tra 132

Hình 3.6 Biểu đồ phân loại kết quả học tập tổng hợp 2 bài kiểm tra 132

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức đã đặt ngành giáo dục đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi, đồng thời cũng phải đối mặt với những thử thách lớn trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực theo những yêu cầu mới Trước tình hình đó, toàn ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực, phát huy tối đa khả năng tự học của học sinh; từng bước rèn luyện tư duy độc lập nhằm tạo ra những lớp người mới năng động sáng tạo, giàu tính nhân văn

Trong thời đại ngày nay, để khẳng định giá trị của bản thân, mỗi người cần phải không ngừng học tập Vấn đề là ở chỗ không phải lúc nào cũng có thầy dạy và không thể lúc nào cũng đến trường Chúng ta phải biết tự học, tự đánh giá năng lực thông qua đó hoàn thiện và nâng cao tri thức, kỹ năng của bản thân, có như vậy mới đáp ứng được với yêu cầu của xã hội ngày càng phát triển

Đối với học sinh – những tri thức tương lai, thì việc tự học phải được đặt lên hàng đầu Học sinh nào biết tự học, tự đánh giá chính xác năng lực của bản thân thì

sẽ có kết quả học tập tốt hơn và thành công hơn trong cuộc sống Điều đó được minh chứng bằng kết quả thi đại học hàng năm đã có không ít các em học ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn đạt kết quả rất cao Kết quả đó phần lớn là do năng lực tự học, tự nghiên cứu của các em rất tốt

Sau một thời gian đổi mới phương pháp dạy và học, các em học sinh đã biết đầu tư cho việc tự học nhiều hơn Trong thực tế, đã có một số tài liệu đề cập đến các phương pháp, biện pháp giúp học sinh tự học môn hóa học nhưng chưa có tài liệu hướng dẫn tự học một cách cụ thể và thực sự hiệu quả cho đa số HS (nhất là HS có sức học khá giỏi) Nên chúng tôi mong rằng phần nghiên cứu này có thể làm tốt được nhiệm vụ đặt ra nhằm giúp HS tự học hiệu quả môn hóa học

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “THIẾT KẾ TÀI LIỆU

TỰ HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 DÙNG CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI” để nghiên cứu

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế tài liệu hướng dẫn học sinh khá giỏi tự học phần hóa hữu cơ lớp 11; nhằm phát huy năng lực vận dụng kiến thức, khả năng tư duy hóa học, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hóa học ở các trường THPT hiện nay

3 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự học của học sinh phổ thông + Tìm hiểu quá trình tự học và phương pháp dạy học hóa học ở THPT

+ Tìm hiểu thực trạng về khả năng tự học, tự kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng hóa học của học sinh hiện nay

- Thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT bao gồm các vấn đề lý thuyết, bài tập, các đề tự kiểm tra,… giúp học sinh khá giỏi tự học có hiệu quả

- Thử nghiệm đánh giá tính khả thi và hiệu quả việc sử dụng tài liệu tự học cho học sinh lớp 11

+ Tổ chức thực nghiệm sư phạm

+ Tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm

4 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học hóa học phần hữu cơ ở trường THPT

5 Đối tượng nghiên cứu

Việc thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ cho HS khá giỏi lớp 11 THPT

- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: năm học 2011-2012

7 Giả thuyết khoa học

Nếu tài liệu được thiết kế một cách khoa học, phù hợp đối tượng và sử dụng một cách hiệu quả thì sẽ phát huy tính tích cực, chủ động của HS, tạo hứng thú học

Trang 11

tập từ đó tăng cường năng lực tự học đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học hóa học ở trường phổ thông hiện nay

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Đọc và nghiên cứu tài liệu

- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, phân loại, trong nghiên cứu tài liệu lý luận có liên quan

8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu kế hoạch học tập của học sinh lớp 11 THPT

- Quan sát, trò chuyện với học sinh nhằm đánh giá thực trạng hoạt động tự học của học sinh hiện nay

- Tìm hiểu trình độ HS, mức độ nắm bắt kiến thức của các đối tượng HS để thiết kế quy trình tự học

- Trao đổi kinh nghiệm với các nhà giáo dục, các giáo viên lâu năm để hoàn thiện tài liệu tự học

- Điều tra thăm dò trước và sau thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8.3 Nhóm các phương pháp toán học

- Tính các tham số thống kê

- Kiểm định số liệu thực nghiệm bằng thống kê toán học

9 Đóng góp mới của đề tài

- Điều tra thực trạng hoạt động tự học môn hóa học của HS lớp 11 THPT, phân tích thực trạng hiện nay

- Định hướng cho HS tự học theo chu trình gồm 4 bước (có xét đến một số yếu

tố ảnh hưởng tới việc tự học môn hóa của HS THPT)

- Thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho các đối tượng HS, đặc biệt là HS khá giỏi có thể học tốt và hiệu quả

- Bước đầu nghiên cứu một số biện pháp giúp sử dụng hiệu quả tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 nhằm phục vụ việc dạy và học hóa học ở trường THPT

Trang 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Việc nghiên cứu, bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh THPT thông qua các môn học nói chung và môn Hóa học nói riêng là một vấn đề rất cần thiết Với quan điểm đó, trong những năm gần đây, đã có một số đề tài nghiên cứu bồi

dưỡng năng lực tự học hóa học cho học sinh bằng những nội dung và biện pháp

khác nhau Theo đó, có thể kể ra một số đề tài nghiên cứu của các tác giả theo hai hướng chủ yếu sau:

1.1.1 Các đề tài về thiết kế website, e-book tự học hóa học

1 “Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 - nâng cao chương nhóm halogen”,

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2008, ĐHSP TP HCM

2 “Thiết kế sách giáo khoa điện tử chương “Dung dịch – Sự điện li” lớp 10 chuyên hóa học”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Nhung năm

2009, ĐHSP TP HCM

3 “Xây d ựng website nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa

l ớp 11”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Hoa năm 2010, ĐHSP TP

HCM

4 “Xây d ựng học liệu điện tử hỗ trợ dạy và học phần cấu tạo nguyên tử và hệ

th ống tuần hoàn các nguyên tố hóa học – chương trình THPT chuyên”,

Luận văn thạc sĩ của Trịnh Lê Hồng Phương năm 2011, ĐHSP TP HCM

1.1.2 Các đề tài nghiên cứu về thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn

1 “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá vô cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”, Luận văn

thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Kiều Trang năm 2004, ĐHSP Hà Nội

2 “Nâng cao năng lực tự học cho HS giỏi hoá học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (Chương Ancol-phenol và chương Anđehit-xeton)”,

Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai năm 2008, ĐHSP Hà Nội

Trang 13

3 “Thi ết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm tăng cường năng

l ực tự học cho học sinh giỏi hóa học lớp 11 THPT”, Luận văn thạc sĩ của

tác giả Nguyễn Ngọc Nguyên năm 2010, ĐHSP TP HCM

4 “Thi ết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mođun nhằm nâng cao năng

l ực tự học cho Học sinh giỏi hóa lớp 12 THPT”, Luận văn thạc sĩ của

Trần Thị Thanh Hà năm 2010, ĐHSP TP HCM

5 “Biên so ạn tài liệu hướng dẫn tự học môn hóa học lớp 11 THPT”, Luận

văn thạc sĩ của Trần Thị Hiền năm 2011, ĐHSP TP HCM

Theo quan điểm của các tác giả trên thì việc thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn môn hóa học là một biện pháp hữu hiệu giúp cho học sinh có thể dễ dàng trong

việc tự học, tự kiểm tra đánh giá kiến thức đồng thời cung cấp cho các em một phương pháp học tập mới mẻ Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một trong nhiều hướng

tiếp cận vấn đề “hướng dẫn HS tự học” Bên cạnh đó nội dung của các công trình

vẫn còn nhiều chỗ cần được tiếp tục nghiên cứu và bổ sung

Thật vậy, những công trình nghiên cứu kể trên đều có điểm chung là giúp HS

có một công cụ tự học hiệu quả Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa quan tâm nhiều đến một số vấn đề sau:

- Đa số các công trình trên chỉ chú trọng đến đối tượng là sinh viên đại học, cao đẳng; HS lớp chuyên hoặc HS giỏi hóa học chứ chưa thật sự chú ý đến đa số

Trang 14

nhiệm vụ cấp bách của GV hiện nay là dạy cho HS cách học, một trong các cách học hiệu quả đó là tự học Không phải sinh viên cao đẳng, đại học hay HS giỏi THPT mới phải tự học, mà HS nào cũng có thể tự học, vì tự học giúp HS học tập tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Để hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc tự học, sau đây chúng ta nghiên cứu thêm về xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

1.2 Đổi mới phương pháp dạy học

1.2.1 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

Theo PGS TS Trịnh Văn Biều [3], một số xu hướng đổi mới phương pháp

dạy học trên thế giới và ở nước ta hiện nay là:

1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá

2 Cá thể hóa việc dạy học

3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học

4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức

5 Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức

6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời

7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)

Như vậy, để đáp ứng được những xu hướng đổi mới trên thì người giáo viên ngoài việc truyền đạt kiến thức, còn phải khơi dậy và phát triển tối đa năng lực tự học, tự sáng tạo của HS

1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực [3]

1.2.2.1 Tính tích cực

Tính tích cực là một trong những thuộc tính quan trọng của nhân cách, được biểu hiện qua hành động năng nổ, hăng hái của chủ thể và có ảnh hưởng lớn đến kết

Trang 15

quả của công việc

Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người mới năng động, góp phần phát triển xã hội

Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Trong học tập, HS phải tự “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên

1.2.2.2 Phương pháp học tập tích cực

Hiện nay việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học đến cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Mục đích của việc đổi mới phương pháp là chuyển đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác,

kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống mới trong thực tiễn; tạo niềm tin

và hứng thú trong học tập

Dạy học tích cực đồng nghĩa với việc học sinh là chủ thể hoạt động (HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất), GV là người thiết kế, tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách học, chú trọng hình thành cho các em năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác…

Như vậy, phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy năng lực giải quyết vấn đề, khả năng tự học của người học đồng thời tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy

và người học

Trang 16

1.3 Tự học

1.3.1 Khái niệm về tự học

Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng

các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí, biết biến khó khăn thành thuận lợi, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [34]

Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, giao tiếp với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau, Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, tham gia các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao

Từ những quan điểm trên cho thấy tự học là một hình thức học có tính cá nhân

do bản thân người học nỗ lực thực hiện Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân người học và để tiến hành được công việc này đòi hỏi cá nhân phải tự giác, huy động các năng lực trí tuệ, phẩm chất tâm lý trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học

1.3.2 Các hình thức tự học [27]

1.3.2.1 Tự học hoàn toàn (không có GV hướng dẫn)

Là sự học tập thông qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình

Trang 17

1.3.2.2 Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa)

HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức

tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình

1.3.2.3 Tự học qua tài liệu hướng dẫn (e-book)

HS tự học qua e-book Trong tài liệu e-book trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn vì không

có sự trợ giúp của GV

1.3.2.4 Tự học có hướng dẫn trực tiếp

HS có tài liệu và gặp trực tiếp GV một số tiết trong tuần, được GV chỉ dẫn, giảng giải, sau đó về nhà tự học Đây là hình thức cần được đưa vào phổ biến trong nhà trường phổ thông vì mức độ của nó phù hợp với khả năng của HS

Tự thực hiện một số hoạt động học tập ở lớp dưới sự hướng dẫn của GV: thí

dụ như khi dạy học GV nêu tình huống hay nêu vấn đề rồi hướng dẫn HS tự giải quyết; hoặc GV giao bài tập rồi hướng dẫn HS tự làm Hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định nếu được tiến hành hợp lý

Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm

bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà một cách dễ dàng, GV thiết kế tài liệu hướng dẫn tự học phù hợp, sau đó GV cần tăng cường kiểm tra - đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của HS, cuối cùng là giải đáp những thắc mắc của HS

1.3.3 Tự học có hướng dẫn

Mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển, còn

tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Hình thức

tự học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong tự học có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV

Trang 18

Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Hóa học thường chỉ trình bày

kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, không hiểu phương hướng, bước đi, kế hoạch như thế nào và sau khi học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho các bài sau Để khắc phục tình trạng đó tài liệu tự học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả

Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo quy

đinh của Bộ Giáo dục & Đào tạo, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian

từ 2-3 tiết/ tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức và luyện tập cho HS thì không đủ; nhưng nếu để HS hoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn

và rèn luyện cho HS những kĩ năng tự học cụ thể Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu như không có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao

và bổ sung thêm, do đó tốt nhất là nên dành một phần thời gian tiếp xúc giữa GV và

HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó

Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực,

tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS biết tự sắp xếp,

bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự học của chính mình

Trang 19

Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK với sự hướng dẫn của GV thông qua các phương tiện học tập như tài liệu tự học, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử, HS sử dụng tài liệu tự học kết hợp với SGK; TLTH sẽ cung cấp cho HS nội dung kiến thức, phương pháp học nội dung kiến thức đó và tự làm bài tập vận dụng

1.3.4 Chu trình tự học của học sinh

Trong quá trình học tập của HS, chúng tôi định hướng cho các em áp dụng chu trình gồm 4 bước như sau:

Hình 1.1 Chu trình tự học của học sinh Bước (1): Xây dựng kế hoạch tự học

Khi xây dựng kế hoạch tự học và nhất là thời gian biểu tự học, HS cần chú ý một số yêu cầu sau:

- Đảm bảo thời gian tự học phù hợp cho từng môn

- Đảm bảo luân phiên hợp lí trong việc tự học các bộ môn khác nhau

- Phải phân bố thời gian một cách hợp lí giữa tự học và nghỉ ngơi

- Đảm bảo tính mềm dẻo và tính thực tế của kế hoạch và thời gian biểu tự học

Bước (2): Tự nghiên cứu, tự thể hiện

HS tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (mới - đối với người học)

HS tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức của mình; tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với bạn bè và GV, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội

(1) Xây dựng kế hoạch tự học

Trang 20

của cộng đồng lớp học

Bước (3): Tự kiểm tra, đánh giá

Trong quá trình tự học, việc tự kiểm tra đánh giá của học sinh phải được thực hiện có hệ thống bằng nhiều hình thức như:

- Tái hiện những điều đã học theo bố cục, đề cương nhất định và tập trình bày cho bản thân hay cho người khác

- Trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa hoặc tài liệu tự học

- Làm bài tập hoặc các đề tự kiểm tra (nếu có) và tự đánh giá bằng đáp án sẵn

Bước (4): Tự điều chỉnh, bổ sung

- Tìm điểm yếu, lỗ hổng kiến thức

- Học lại phần chưa nắm vững, bổ sung kiến thức còn yếu

- Hệ thống, tổng kết lại kiến thức và đề ra biện pháp phòng ngừa sai sót, cải

tiến phương pháp học

1.3.5 Năng lực tự học

1.3.5.1 Khái niệm năng lực tự học [22]

Năng lực tự học hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào thế giới hiện đại và văn minh - thế giới của trí thức Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, GV cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó

1.3.5.2 Các năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho HS [32]

- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi người, đặc biệt là HS khá-giỏi Nhờ năng lực này HS vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi,…Năng lực này đòi hỏi

HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có

Trang 21

của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,…

Ngoài ra, để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương ứng Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện

“linh cảm”, và từ đó mạch suy luận được hình thành Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường và hướng đi để giải quyết

- Năng lực giải quyết vấn đề

Trong cuộc sống của mỗi người bao gồm một chuỗi các vấn đề khác nhau được giải quyết Nhờ vào việc đối mặt và giải quyết các vấn đề, mỗi người ngày càng trưởng thành và thích nghi hơn với cuộc sống, xây dựng cho mình cuộc sống

có chất lượng ngày càng phát triển

Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết cách xử lí để tìm ra con đường đạt được mục tiêu Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề

Nếu nói rằng trong dạy học, quan trọng nhất là dạy cho HS cách học, thì trong

đó cần coi trọng dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, HS có thể

áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công

cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương pháp tự học

- Năng lực xác định những kết luận đúng

Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận

Trang 22

đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng

so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu

- Năng lực vận dụng kiến thức(hoặc tự thu nhận thức kiến thức mới)

Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức

Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đề lại có cơ hội để rèn luyện và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động

cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc Giải quyết các vấn đề thực tiễn mới làm nảy sinh nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm

rõ thêm các kiến thức được học từ SGK, tài liệu HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình

- Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS, đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và

Trang 23

khuyến khích (thậm chí bắt buộc) HS đánh giá và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm

ra cái mới, cái hợp lí, cái có kết quả tốt hơn

Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình giải quyết vấn đề đòi hỏi

HS phải luôn đánh giá và tự đánh giá HS phải biết được mặt mạnh mặt hạn chế của mình, cái đúng- sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động của mình Không có khả năng đánh giá, HS khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học

Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực tự học ở HS Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học

Vì vậy, rèn luyện được các năng lực đó, chính là HS đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, hay nói cách khác, đó là sự rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà người GV phải đặt mình vào vị trí người hướng dẫn HS nghiên cứu

- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm,

- Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo

Trang 24

luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin

- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin

- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin

- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học

- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng

1.3.7 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tự học môn hóa của HS THPT

Khả năng tự học môn hóa của HS chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau:

1.3.7.1 Yếu tố khách quan

Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tác động đến tự học Đó là những yếu tố có liên quan đến sự phát triển, sự thay đổi của nhà trường, của xã hội cũng như đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học… Theo đó, chúng tôi đã đưa ra một số yếu tố sau:

- Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường: Do sự phát triển của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức ngày càng lớn, thời gian đào tạo không tăng lên, điều

đó đòi hỏi HS phải tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tự đọc tài liệu để bổ sung vào vốn tri thức của bản thân, để hoàn thiện nhân cách của mình

- Nội dung môn học: Nếu nội dung kiến thức trong các tài liệu học tập chứa đựng tính phong phú, hấp dẫn thì sẽ kích thích tự học của HS

- Cách thức giảng dạy của GV ảnh hưởng rất lớn đến tự học của HS: Hiện nay, trong các nhà trường, việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang là vấn đề có tính cấp bách Việc thay đổi cách dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập của người học tạo điều kiện cho họ trở thành chủ thể trong việc tìm tòi, lĩnh hội kiến thức mới GV là người thiết kế, tổ chức quá trình tự học của HS Việc thay đổi cách dạy của GV đòi hỏi HS phải thay đổi cách học, HS phải tự học dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV

- Mối quan hệ giữa thầy và trò: Những biểu hiện tích cực từ phía người dạy (cách dạy phát huy tính tích cực, có sức lôi cuốn, tạo hứng thú cho người học, sự nhiệt tình, hòa nhã, công bằng,…) có ảnh hưởng đến hứng thú tự học của HS

Trang 25

- Bầu không khí tâm lý trong tập thể HS góp phần lôi cuốn HS vào hoạt động

tự học Tập thể lớp có tinh thần đoàn kết, thi đua phấn đấu học tập sẽ kích thích HS

tự học có hiệu quả

- Cách tổ chức, quản lý HS tự học: mặc dù việc tự học của HS ở các trường THPT là tự quản song việc thực hiện nghiêm túc quy chế thi cử và kiểm tra sẽ tác động tích cực đến nhận thức và thái độ tự học của HS

- Truyền thống và điều kiện gia đình cũng ảnh hưởng đến tự học của HS: Nếu gia đình có truyền thống học tập, có sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi thì HS sẽ

nỗ lực tự học Trong hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế sẽ khiến HS gặp khó khăn trong tự học Tuy vậy, vẫn có trường hợp HS có quyết tâm tự học để vượt lên hoàn cảnh riêng Điều này phụ thuộc vào nhận thức, ý chí cũng như kỹ năng tự học của mỗi HS

- Các điều kiện tự học: Các yếu tố về điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt, các phương tiện học tập, tài liệu tham khảo,…Tất cả những yếu tố này, dù trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, nếu người học có ý chí, quyết tâm thì hoạt động tự học vẫn đạt kết quả cao

- Thời gian dành cho tự học: Tự học không những đòi hỏi phải có quỹ thời gian hợp lý mà còn phải được xếp vào những thời điểm thích hợp cho cá nhân Như vậy, việc tổ chức học tập trên lớp của GV cũng phải bố trí thật khoa học, tạo thời

gian và điều kiện cho HS tự học ở nhà một cách phù hợp

Như vậy, những nhân tố khách quan có ảnh hưởng đến tự học của HS ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, trong các yếu tố trên thì việc giảng dạy của GV nhất

là phương pháp giảng dạy sẽ có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tự học của HS

Trang 26

- Những yếu tố tâm lý: tính tích cực, tự giác, nhu cầu, động cơ, hứng thú, thế giới quan, ý chí, kiên trì khắc phục khó khăn,…ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động

cá nhân

+ Hứng thú: biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê hấp dẫn của bản thân với nội dung hoạt động tự học Hứng thú làm nảy sinh khát vọng tự học, làm tăng hiệu quả của hoạt động tự học hóa học

+ Ý chí kiên trì khắc phục khó khăn: tự học là hoạt động rất căng thẳng, nhiều khó khăn và phức tạp Muốn đạt kết quả trong tự học, HS phải kiên trì khắc phục những khó khăn trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ tự học đã đặt ra

+ Tính tự giác: tự giác trong tự học không chỉ thể hiện ở chỗ HS nhận thức được mục đích, ý nghĩa của tự học mà còn thể hiện ở chỗ HS làm chủ bản thân trong quá trình xây dựng kế hoạch tự học và tự tổ chức hoạt động học Tự học không cần phải nhắc nhở hay có sự thúc ép của những lực lượng bên ngoài mà chính đối tượng của hoạt động sẽ thôi thúc, lôi cuốn HS tự học

- Ngoài ra, các yếu tố cơ bản liên quan trực tiếp với hoạt động tự học như: nhận thức về tự học, kĩ năng tự học,…cũng là những yếu tố quyết định trực tiếp hoạt động tự học của HS

- Những yếu tố về thể chất: sức khỏe, thể lực, hệ thần kinh,…

Tóm lại, hoạt động tự học của HS chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Các yếu

tố chủ quan với tư cách là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tự học của HS, còn những yếu tố khách quan có ảnh hưởng một phần nhất định đến tự học, trong đó cách dạy của GV tác động nhiều nhất đến tự học của HS

1.4 Tài liệu tự học

1.4.1 Khái niệm tài liệu, tài liệu tự học

1.4.1.1 Khái niệm tài liệu

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về khái niệm “tài liệu” Theo Đại từ điển Tiếng Việt [47], tài liệu có hai nghĩa: (1) Sách báo, các văn bản giúp người ta tìm hiểu về vấn đề gì (2) Tư liệu (tài liệu dùng cho việc nghiên cứu,

Trang 27

học tập) Chung quy tài liệu được hiểu như một vật mang tin có chứa thông tin và các thông tin có trong tài liệu được mã hoá dưới dạng vật chất nhất định Hai yếu tố vật mang tin và thông tin trong tài liệu có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong

đó nội dung của thông tin có trong tài liệu đó đóng vai trò quyết định tới giá trị của

tài liệu

Theo TS Nguyễn Lệ Nhung thì khi phân tích sự phát triển của khái niệm “tài liệu” có thể khẳng định tính không tách rời của vật mang tin và của thông tin ghi trên nó [51] Nhưng những định nghĩa sớm hơn lại nhấn mạnh sự chú ý vào đối tượng vật chất - vật mang thông tin, còn những định nghĩa muộn hơn lại dành sự chú ý nhiều hơn tới thành tố thông tin của tài liệu

Ngày nay, khái niệm “tài liệu” được định nghĩa như sau: “Tài liệu - là thông tin được gắn trên vật mang tin với những tiêu chí cho phép nhận dạng nó” [51] Ngoài ra, theo cách hiểu của nhiều người thì tài liệu hiện nay không chỉ dừng ở dạng văn bản mà còn có thể lưu giữ trên băng, đĩa, các phần mềm máy tính, mạng internet,…

1.4.1.2 Tài liệu dạy học

Tài liệu dạy học là những tài liệu phục vụ cho việc dạy học (bao gồm việc dạy của giáo viên; việc học, tự học của học sinh, sinh viên,…)

Tài liệu dạy học (tài liệu hỗ trợ dạy và học) có thể được thiết kế, lưu trữ dưới nhiều hình thức khác nhau như e-book, website, các tài liệu dạng văn bản,…

1.4.1.3 Tài liệu tự học

Theo ý kiến của chúng tôi, tài liệu tự học (TLTH) là tư liệu học tập chứa đựng những thông tin, tri thức để HS tự học, tự nghiên cứu khi tiếp cận và lĩnh hội kiến thức TLTH được biên soạn theo những đặc trưng và cấu trúc của từng môn học, theo trình độ đối tượng Tài liệu có thể được phân thành nhiều loại: theo nội dung lý thuyết hoặc theo nội dung bài tập hoặc tổng hợp của cả hai

Hoạt động hướng dẫn HS tự học có thể được thực hiện trực tiếp giữa GV và

HS trong bài lên lớp; thực hiện bằng hình thức giao nhiệm vụ (ví dụ ra bài tập về nhà, hoặc các phiếu giao việc), cũng có thể thực hiện gián tiếp thông qua “TLTH”

Trang 28

Qua đó, người học tự trang bị cho mình không những tri thức mà còn cả cách tiếp cận và con đường để chiếm lĩnh tri thức ấy

Với việc học tập hóa học, tài liệu tự học có thể gồm hai phần là TLTH lý thuyết và TLTH về bài tập

1.4.2 T ài liệu tự học lý thuyết

Để việc tự học được hiệu quả thì theo chúng tôi trong TLTH lý thuyết phải có một số nội dung sau: mục tiêu và trọng tâm bài học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, câu hỏi hướng dẫn tự học, câu hỏi vận dụng (giúp HS tự kiểm tra kiến thức vừa đọc),

Vì hiện nay, trước khi đến lớp HS đều có thao tác chuẩn bị bài, nhưng đa số

HS chỉ đọc qua SGK một cách miễn cưỡng thụ động hoặc chỉ chú tâm vào một vài phần kiến thức có vẻ hấp dẫn, thú vị; đa phần kiến thức các em sẽ bỏ qua, chờ nghe giáo viên giảng trên lớp Tiếp theo đó khi học xong bài trên lớp nhiều HS cũng không nắm được kiến thức trọng tâm hoặc là cũng không thể tự vận dụng kiến thức

đó để làm bài tập Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có nguyên nhân là do các em chưa nắm được mục tiêu của bài học

Tài liệu lý thuyết sẽ giúp HS tự học bằng cách chỉ cho HS thấy rõ những kiến thức, kĩ năng và trọng tâm kiến thức nào HS cần phải nắm khi học xong bài Đồng thời, thông qua các câu hỏi, bài tập định tính các em HS có thể tự đánh giá được mức độ nắm kiến thức mà bản thân vừa nghiên cứu được

1.4.3 T ài liệu tự học về bài tập

Đây là một tài liệu cung cấp nội dung kiến thức và hướng dẫn hoạt động học tập của HS thông qua hệ thống bài tập; đồng thời hướng dẫn cả hoạt động kiểm tra đánh giá kiến thức của HS

Trong tài liệu này, chúng tôi thiết kế và phân loại bài tập theo từng chủ đề, từng dạng khác nhau Đây là các bài tập giúp HS rèn luyện kĩ năng và khắc sâu kiến thức Vì sau khi đã nắm tương đối đầy đủ, chắc chắn các lý thuyết trọng tâm thì HS

đã có thể vận dụng để làm các bài tập

Cụ thể là HS được vận dụng và rèn luyện qua việc làm bài tập bám sát kiến

Trang 29

thức SGK (các dạng bài tập cơ bản để củng cố, khắc sâu kiến thức) Đồng thời, trong tài liệu chúng tôi sẽ cung cấp thêm bài tập TNKQ ở mức độ khó hơn để HS (đặc biệt là HS khá giỏi) tiếp tục trau dồi, nâng cao kiến thức và giúp HS tự học hiệu quả hơn

Thực tiễn ở trường phổ thông, để việc học tập của HS hứng thú và hiệu quả thì bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức,

con đường dành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số

- một trạng thái hưng phấn - hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người Điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển

1.4.4 Bài tập hóa học [4], [40], [41]

1.4.4.1 Khái niệm bài tập hóa học

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, thì bài tập là những bài ra cho HS để vận dụng những điều đã học

Theo lý luận dạy học thì BTHH là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà sau khi hoàn thành HS nắm được một tri thức hay một kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: bài toán hoá học để chỉ bài toán định lượng và cả những bài toán nhận thức (chứa cả yếu tố lý thuyết và thực nghiệm)

Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy học, người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động Bài tập chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải”

Vì vậy, bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất Phương pháp luyện tập thông qua việc sử dụng bài tập – giúp người học vận dụng kiến thức, là một trong các phương pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Trang 30

1.4.4.2 Vai trò, vị trí của bài tập hóa học trong dạy học

Trong quá trình dạy - học hoá học ở trường phổ thông, không thể thiếu bài tập Bài tập hoá học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy - học, nó giữ một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo: BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được thành kiến thức của chính mình BTHH là phương tiện giúp

GV hoàn thành các chức năng: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Cụ thể là:

- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ có vận dụng những kiến thức đã học vào giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc

- BTHH là cái cụ thể, chi tiết mà ở đó GV có thể thể hiện, vận dụng nội dung của khái niệm trước khi hoặc sau khi đưa ra khái niệm GV càng đưa nhiều ví dụ, BTHH để minh họa, HS càng hiểu được sâu sắc bản chất của khái niệm Có nhiều khái niệm HS nhớ được nội dung của nó qua các BTHH vận dụng

- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất Khi giải BTHH, HS phải tái hiện lại những kiến thức có liên quan, đó là những công thức, phương trình phản ứng, phương pháp giải, tính chất lý, hóa,… Một số đáng kể bài tập thường là sự tổng hợp kiến thức của nhiều nội dung trong bài, trong chương Dạng bài tổng hợp buộc HS phải huy động vốn hiểu biết trong nhiều chương, nhiều bài Do vậy, kiến thức của bài học luôn được nhắc lại trong các bài tập

- BTHH thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện các kỹ năng, kĩ xảo cần thiết về hóa học như: kĩ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng, kĩ năng tính toán theo công thức và PTHH, kĩ năng thực hành như cân, đo, đun nóng, sấy, lọc, …

- BTHH tạo điều kiện để tư duy phát triển, khi giải một bài tập, HS bắt buộc phải suy luận: hoặc quy nạp hoặc diễn dịch hoặc loại suy Trong quá trình giải BTHH, các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượng… được rèn luyện Một số bài tập có định hướng đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn

Trang 31

có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất, đó là cách rèn tư duy thông minh cho HS Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc độ khác nhau, khả năng tư duy của HS tăng lên gấp nhiều lần so với HS giải nhiều bài toán nhưng không phân tích đến nơi đến chốn

- Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực,

tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi

HS làm bài tập thực nghiệm định lượng

- Bài tập hóa học phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý

- Bài tập hóa học có tác dụng giáo dục cho HS đạo đức, tác phong, rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học Thông qua việc giải bài tập, còn rèn luyện cho HS phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiên trì, tính chính xác khoa học, nâng cao hứng thú học tập bộ môn nói riêng và học tập nói chung Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm

- Bài tập hóa học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác HS có thể kiểm tra sự hiểu biết của mình qua việc làm các bài tập vận dụng nội dung khái niệm, từ đó có thể điều chỉnh kịp thời những sai lệch

1.4.5 Ý nghĩa của tài liệu tự học đối với việc học tập của học sinh

Với tài liệu tự học, người học qua quá trình học tập nghiên cứu tự trang bị cho mình không những tri thức mà còn cả con đường dẫn đến tri thức, cách tiếp cận để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại

Tri thức của loài người là vô tận vì vậy để việc học tập có hiệu quả cao thì người học cần phải biết mình cần học những gì, học như thế nào khi tiếp nhận một yêu cầu học tập Người học muốn học có hiệu quả thì tự bản thân họ phải biết cách đánh giá năng lực của mình Như vậy trong suốt quá trình tự học, bản thân người học sẽ chủ động thực hiện hoạt động nhận thức và hoạt động kiểm tra đánh giá quá trình học tập của mình

Trang 32

1.5 Học sinh khá giỏi hóa học

1.5.1 Khái niệm học sinh khá giỏi

Theo chúng tôi, HS khá giỏi trong nhà trường phổ thông có thể được phân thành hai đối tượng như sau:

- Thứ nhất: HS khá giỏi là đối tượng học sinh đủ điều kiện xếp loại học lực khá, giỏi theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo

- Thứ hai: HS khá giỏi là đối tượng học sinh có năng lực nổi trội ở một môn học; có khả năng vận dụng khá tốt các kiến thức cơ bản đã được học để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới; có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt và đạt được thành tích khá tốt trong môn học đó

1.5.2 Những phẩm chất và năng lực của HS khá giỏi hóa học

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm Vì vậy, một học sinh khá giỏi hóa

học thường có những phẩm chất và năng lực quan trọng sau:

- Có kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống (nắm vững bản chất của các hiện tượng hóa học)

- Có năng lực tư duy tốt và sáng tạo (biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có khả năng sử dụng phương pháp phán đoán mới: qui nạp, diễn dịch, loại suy…)

- Có kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứu khoa học (biết nêu ra những dự đoán, lí luận cho những hiện tượng xảy ra trong thực tế; biết dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại lí luận trên;…)

- Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường mòn Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tế

Ngoài ra, theo chúng tôi học sinh khá giỏi hóa học cần bổ sung những phẩm chất sau:

- Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng

- Có phương pháp học tập tốt, chuyên cần, có quyết tâm cao

- Luôn chủ động trong việc học, có ý thức vươn lên trong học tập

Trang 33

- Có khả năng diễn đạt những ý tưởng của bản thân một cách khá tốt

- Luôn hứng thú, tích cực trong các giờ học,…

1.5.3 Hình thành và phát triển tư duy cho HS khá giỏi hóa học

Việc phát triển tư duy cho học sinh trước hết là giúp học sinh nắm vững kiến

thức hóa học, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành Qua đó

kiến thức học sinh thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn

Học sinh chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển và

nhờ sự hướng dẫn của giáo viên mà học sinh biết phân tích, khái quát tài liệu có nội dung, sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết

Tư duy càng phát triển thì khả năng lĩnh hội tri thức ngày càng nhanh và sâu

sắc, khả năng vận dụng tri thức nhanh, hiệu quả hơn Như vậy sự phát triển tư duy

học sinh diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức, khi tư duy phát triển sẽ

tạo ra kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho học sinh trong hoạt động sáng tạo sau này

Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển:

- Trong quá trình học tập, học sinh đều phải giải quyết nhiều vấn đề đòi hỏi liên tưởng đến những kiến thức đã học trước đó Nếu học sinh độc lập chuyển tải tri

thức vào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển

- Tái hiện nhanh chóng kiến thức, các mối quan hệ cần thiết để giải quyết bài toán nào đó; thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất của các sự vật hiện tượng (giống, khác nhau)

- Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tiễn Đây là kết quả phát triển tổng

hợp của sự phát triển tư duy Để có thể giải quyết tốt bài toán thực tế, đòi hỏi học sinh phải có sự định hướng tốt, biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cách áp dụng thích hợp, cuối cùng là tổ chức thực hiện có hiệu quả

Sau khi nghiên cứu toàn bộ cơ sở lý luận về xu hướng đổi mới giáo dục, về tự học, về bài tập hóa học,… chúng tôi hiểu rằng để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng với yêu cầu xã hội thì GV phải dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của người học, giúp cho HS hình thành và phát triển khả năng tự

Trang 34

học, tự nghiên cứu Yêu cầu đặt ra là như thế, nhưng thực tế thì quá trình dạy học đã

và đang diễn ra như thế nào, sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu thực trạng về việc tự học của HS trong quá trình dạy và học hóa học hiện nay

1.6 Thực trạng về tự học môn hóa học ở một số trường THPT

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa cũng như tăng cường hiệu quả của việc sử dụng tài liệu tự học, chúng tôi đã tham khảo ý kiến của 78 thầy

cô giáo đang giảng dạy ở các trường thuộc nhiều tỉnh khác nhau và các học viên lớp cao học LL & PPDH Hóa học - K22 Trường ĐHSP TP HCM bằng phiếu thăm dò (phụ lục 3)về một số vấn đề

Đồng thời, chúng tôi cũng lấy ý kiến tham khảo của học sinh các trường thực nghiệm (254 HS) về những vấn đề này (phụ lục 4) Kết quả thu được khi thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh nói trên được tổng kết như sau:

1.6.1 Về vấn đề tự học của HS THPT

1.6.1.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của tự học

Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức

Kiến thức HS có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

Đối với HS THPT, nếu có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học… thì HS sẽ thích ứng dễ dàng hơn, từ đó có thể thu được một kết quả học tập tốt

Để kiểm tra lại nhận định của mình về vai trò, sự cần thiết của tự học nói chung và tự học môn hóa học nói riêng đối với HS THPT, chúng tôi đã tham khảo ý kiến của các thầy cô giáo và thu được kết quả như sau (bảng 1.1)

Trang 35

Bảng 1.1 Mức độ cần thiết của việc HS tự học

5 Kích thích hứng thú tìm tòi nâng cao mở rộng kiến thức 39 50,0

6 Nội dung phần hữu cơ thường đề cập trong các kì thi 46 59,0 Qua các dấu hiệu trên đây, có thể nhận xét rằng: đa số GV đánh giá rất cao yếu tố tự học của các em HS Thật vậy, với sự bùng nổ thông tin như hiện nay làm cho người GV không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu” Đối với HS THPT, quỹ thời gian được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được hết khối lượng kiến thức trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp HS giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời

Trang 36

gian ít ỏi ở nhà trường

1.6.1.2 Nhận thức của học sinh về tự học

Có thể nói tự học chính là con đường để mỗi cá nhân tự khẳng định khả năng của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS sẽ không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người GV Do đó,

để tìm hiểu quan điểm của HS về tự học, chúng tôi đã đưa ra các câu trả lời và thu được kết quả trong bảng dưới đây (bảng 1.3)

Bảng 1.3 Quan điểm của HS về tự học

Qua kết quả khảo sát có thể nhận thấy: đa số HS nhận thức tương đối đúng về

tự học Song bên cạnh đó vẫn còn một số HS quan niệm chưa đầy đủ, chưa đúng, họ mới dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài của tự học như: “Tự học là việc học của bản thân, không cần đến thầy/cô” Những HS này chưa nhận thức được vai trò của giáo viên trong việc tổ chức chỉ đạo tự học cho HS Trong tự học, họ đề cao vai trò của bản thân trong tự tìm tòi kiến thức, chưa chú ý đến việc hoàn thành nhiệm vụ học tập GV giao Chính những quan niệm về tự học khác nhau này đã định hướng cho HS trong quá trình tự học một cách khác nhau và ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả tự học của họ

Trang 37

Bảng 1.5 Phần trăm HS trong lớp biết cách tự học môn hóa học

% HS trong lớp biết tự học môn hóa Lựa chọn

Trang 38

Rõ ràng, việc tự học là rất quan trọng và cần thiết thế nhưng hiện nay GV cho rằng đa số HS vẫn chưa biết cách tự học môn hoá học Vì vậy, trong quá trình dạy học GV cần giúp HS hình thành và phát huy năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề;

và để thực hiện được điều này đòi hỏi phải bắt đầu từ việc thay đổi cách dạy của

GV

1.6.1.4 H iệu quả của việc tự học

Hơn 90% GV cho rằng hoạt động tự học của HS chưa đạt hiệu quả cao, chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng của Bộ GD & ĐT đề ra

Thật vậy, theo kết quả khảo sát của chúng tôi, các em HS cho biết nguyên

nhân hoạt động tự học của họ chưa đạt chuẩn là do HS chưa biết cách tự học, nguyên nhân tiếp theo là do chưa có tài liệu giúp HS tự học hiệu quả (bảng 1.6)

Bảng 1.6 Những khó khăn học sinh gặp phải khi tự học

1 HS chưa biết cách tự học hiệu quả 167 65,7

2 Chưa có tài liệu phù hợp giúp tự học 121 47,6

4 Quen lối học thụ động, không thích tự học 91 35,8

Như vậy, để giúp HS khắc phục những khó khăn trong tự học thì GV cần giúp cho các em tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả Dạy cho HS biết cách tự học chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại

1.6.2 Về vấn đề thiết kế tài liệu tự học

Theo khảo sát của chúng tôi, trong giảng dạy hiện nay các thầy cô giáo thường

sử dụng những nguồn tài liệu sau: SGK và SBT; tài liệu tham khảo trên thị trường hoặc từ internet;…(bảng 1.7)

Trang 39

Bảng 1.7 Nguồn tài liệu GV thường sử dụng

2 Tài liệu tham khảo trên thị trường/ từ internet 59 75,6

4 Tài liệu do GV thiết kế giúp HS tự học 32 41,0

Đa số ý kiến đều cho rằng tài liệu do GV thiết kế phù hợp sẽ giúp HS tự học tốt hơn, nhưng số lượng GV có tham gia thiết kế tài liệu không nhiều; lí do là vì GV hoặc không có nhiều thời gian hoặc chưa đủ kinh nghiệm thiết kế tài liệu, Nhưng tất cả GV đều có một ý kiến chung nhất là mong muốn có tài liệu phù hợp để hướng dẫn HS THPT hình thành và phát triển năng lực tự học

Để có tài liệu tự học phù hợp, theo các GV, những yêu cầu cần có đối với tài liệu tự học môn hóa học là phải thật sự hữu ích giúp HS tự học dễ dàng, phải bám sát nội dung, cấu trúc chương trình, đúng trọng tâm,…

Bảng 1.8 Các yêu cầu đối với tài liệu tự học

1 Bám sát nội dung, cấu trúc chương trình 58 74,4

2 Xác định đúng trọng tâm các nội dung kiến thức 53 67,9

3 Tạo điều kiện cho HS tham gia vào quá trình đánh giá 44 56,4

Bên cạnh đó, chúng tôi còn lấy ý kiến của các em HS về những nội dung cần thiết và thích hợp cho HS tự học đó là phải có phần hướng dẫn HS nắm lý thuyết trọng tâm, từ đó HS tự làm được bài tập (từ cơ bản đến nâng cao), tiếp theo là HS tự làm bài kiểm tra và tự đánh giá rút kinh nghiệm,… (bảng 1.9)

Trang 40

Bảng 1.9 Những nội dung cần thiết trong tài liệu tự học

1 Tóm tắt lý thuyết trọng tâm cần nhớ 203 79,9

3 Bài tập phong phú, phân loại theo các dạng 174 68,5

4 Có phương pháp giải và bài tập minh họa 178 70,1

5 Có bài tập nâng cao, bài tập liên hệ thực tế 157 61,8

6 Đề kiểm tra, đáp án cho HS tự kiểm tra, đánh giá 172 67,7

Ngoài ra, khi chúng tôi tìm hiểu vấn đề trên qua các GV thì cũng thu được kết quả tương tự

Kết quả điều tra trên đây là cơ sở quan trọng, định hướng cho tác giả nghiên cứu để thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho HS khá giỏi, đó cũng chính là nội dung nghiên cứu của đề tài

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  Chu trình tự học của học sinh  Bước (1): Xây dựng kế hoạch tự học - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Hình 1.1. Chu trình tự học của học sinh Bước (1): Xây dựng kế hoạch tự học (Trang 19)
Bảng 1.2. Lý do HS cần phải tự học qua tài liệu - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 1.2. Lý do HS cần phải tự học qua tài liệu (Trang 35)
Bảng 1.3. Quan điểm của HS về tự học - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 1.3. Quan điểm của HS về tự học (Trang 36)
Bảng 1.5. Phần trăm HS trong lớp biết cách tự học môn hóa học - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 1.5. Phần trăm HS trong lớp biết cách tự học môn hóa học (Trang 37)
Bảng 1.6. Những khó khăn học sinh gặp phải khi tự học - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 1.6. Những khó khăn học sinh gặp phải khi tự học (Trang 38)
Bảng 1.9. Những nội dung cần thiết trong tài liệu tự học - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 1.9. Những nội dung cần thiết trong tài liệu tự học (Trang 40)
Hình 2.1.  Quy trình thiết kế tài liệu tự học (dùng cho HS khá giỏi) - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Hình 2.1. Quy trình thiết kế tài liệu tự học (dùng cho HS khá giỏi) (Trang 51)
Hình 3.1.  Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 (Trang 136)
Bảng 3.3. Tổng hợp phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 3.3. Tổng hợp phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 (Trang 136)
Bảng 3.5. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 3.5. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 (Trang 137)
Hình 3.3.  Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 (Trang 138)
Hình 3.4.  Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Hình 3.4. Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 (Trang 138)
Hình 3.5.  Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 2 bài kiểm tra - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Hình 3.5. Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 2 bài kiểm tra (Trang 140)
Hình 3.6.  Biểu đồ phân loại kết quả học tập tổng hợp 2 bài kiểm tra - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Hình 3.6. Biểu đồ phân loại kết quả học tập tổng hợp 2 bài kiểm tra (Trang 140)
Bảng 3.11. Kết quả đánh giá TLTH - thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 dùng cho học sinh khá giỏi
Bảng 3.11. Kết quả đánh giá TLTH (Trang 143)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w