đều có những bài tứ tuyệt hay, được người đời sau nhắc nhở Hơn thế, tứ tuyệt lại tiếp tục đồng hành với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại bằng khả năng tự điều chỉnh, đổi mới, để hôm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KIM CHÂU
THƠ TỨ TUYỆT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ
THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2000
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
PHẦN DẪN NHẬP 6
1 Ý nghĩa của đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 9
3 Mục đích nghiên cứu 14
4 Phương pháp nghiên cứu 15
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu và tư liệu 16
6 Kết cấu của luận án 17
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM THƠ TỨ TUYỆT 20
1.1 Những cách hiểu khác nhau về thơ tứ tuyệt: 20
1.1.1 Về thuật ngữ 20
1.1.2 Về nội dung khái niệm 22
1.1.3 Vấn đề nguồn gốc thơ tứ tuyệt 24
1.2 Xác định thuật ngữ sử dụng và nội dung khái niệm “Tứ tuyệt” 26
CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH THƠ TỨ TUYỆT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ THỨ X ĐẾN THẾ KỶ THỨ XIX 28
2.1 Thơ tứ tuyệt Việt Nam giai đoạn thế kỷ X - XII với nhu cầu thực hành các chức năng ngoài văn học 29
2.2 Hai khuynh hướng trữ tình trong thơ tứ tuyệt Việt Nam thế kỷ XIII - XIV 33
2.2.1 Khuynh hướng trữ tình trong thơ tứ tuyệt có nội dung chính trị, triết học 33
2.2.2 Khuynh hướng trữ tình trong thơ tứ tuyệt viết về đời sống thế tục thế kỷ XIII - XIV 36
2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống đối với sự phát triển của thơ tứ tuyệt thế kỷ XV 41
2.3.1 Ảnh hưởng của thơ ca Trung Hoa và truyền thống thơ ca Lý - Trần đối với sự phát triển của thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán thế kỷ XV 42
2.3.2 Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với sự phát triển của thơ tứ tuyệt bằng chữ Nôm thế kỷ XV 47
2.4 Thơ tứ tuyệt Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX 49
2.4.1 Sự hội nhập của cuộc sống đời thường vào thơ ca bác học hình thái ngắn bằng chữ Hán giai đoạn thế kỷ XVI - XIX 49
2.4.2 Ảnh hưởng của văn hóa và ngôn ngữ hội thoại dân gian đối với sự phát triển của thơ tứ tuyệt bằng chữ Nôm thể kỷ XVI - XIX 55
Trang 52.5 Nhận xét chung 62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX 64
3.1 Sự hình thành, phát triển của thơ tứ tuyệt - nhìn từ góc độ quan niệm nghệ thuật 64
3.2 Cách lựa chọn và tổ chức hình ảnh 72
3.2.1 Cách lựa chọn hình ảnh: 72
3.2.2 Cách tổ chức hình ảnh 81
3.2.3 Thơ tứ tuyệt và những khoảnh khắc chuyển biến đột ngột trong cảm xúc, nhận thức của nhà thơ 96
3.3 Bố cục bài thơ tứ tuyệt 103
3.3.1 Câu khởi 106
3.3.2 Câu thừa 109
3.3.3 Câu chuyển 111
3.3.4 Câu hợp (kết) 115
3 4 Đặc điểm ngôn ngữ thơ tứ tuyệt cổ điển việt nam 118
3.4.1 Những đặc điểm về từ ngữ 120
3.4.2 Những đặc điểm về cú pháp 134
3.4.3 Hiện tượng câu thơ 6 chữ trong bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn 148
PHẦN KẾT LUẬN 156
PHỤ LỤC 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 166
Trang 6PHẦN DẪN NHẬP
1 Ý nghĩa của đề tài
1.1 Một trăm lẻ sáu quyển thơ văn cùng với những lời bình luận về các tác giả được giới thiệu trong phần “Văn tịch chí” (Lịch triều hiến chương loại chí) đã chứng minh cho nhận định xác đáng của nhà khảo cứu Phan Huy Chú về truyền thống văn chương lâu đời của người Việt Nam [16, tr 41]:
Nước Việt ta tiếng khen lễ nghĩa đã hơn nghìn năm, vốn có thư tịch đã từ lâu lắm Kể
từ Đinh Lê dựng nước, đối địch với Trung Hoa, mệnh lệnh từ chương dần dần rõ rệt Đến
Lý Trần nội trị, văn vật mở mang, về tham định thì có những sách điển chương, điều luật, về ngự chế thì có các thể chiếu sắc thi ca Trị bình đời nối, văn nhã đủ đều Huống chi, nho sĩ đời nào cũng có, văn chương nảy nở như rừng; sách vở ngày ngày càng nhiều, nếu không trải qua binh lửa mà thành tro tàn thì hẳn là trâu kéo phải mệt, nhà chất phải đầy Đến khi nhà Lê dựng nước, văn hoá lại càng thịnh dần, hơn ba trăm năm, chế tác đầy đủ kỹ càng, văn hiến đứng đầu trung châu, điển chương rạng cả triều đại Trong khi ấy, các bậc vua sáng tôi hiền cùng bàn bạc, các nhà học rộng tài cao soạn thuật ra, tinh thần ngụ đó, tiếng tăm lẫy lừng Tóm lại mà xét, há chẳng phải là văn nghệ thịnh vượng sao!
Trong lời tựa tập “Tinh sà kỷ hành”, Ngô Thì Nhậm cũng phát biểu một cách tự hào rằng:
Nước Việt ta dựng nước bằng văn chương, thơ từ thời Đinh, Lý đến thời Trần, nổi nhất
vào khoảng Hồng Đức nhà Lê, một bộ Toàn Việt loại cổ thể nào thua Hán Tấn, nào thua
Đường Tống, Nguyên Minh, gõ ngọc khua vàng, thực đáng gọi là một nước của thơ” [136,
Trang 7đã từng diễn ra liên tục suốt chiều dài lịch sử Nó quy định sự hình thành, phát triển của dòng văn học bác học chủ yếu dựa trên văn tự Hán Một trong những biểu hiện cụ thể của ảnh hưởng đó chính là việc vay mượn thể loại mà phổ biến nhất là hiện tượng sử dụng các thể thơ Đường luật như bát cú, tứ tuyệt
Với tư cách những thành tựu nghệ thuật của thơ ca thời Đường, bát cú và tứ tuyệt được các nhà thơ cổ điển đặc biệt ưa chuộng ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam Tuy nhiên, so với bát cú, tứ tuyệt có số phận lịch sử đặc biệt hơn Có nguồn gốc từ trước thời Đường và hoàn chỉnh về thi luật trong thời Đường, tứ tuyệt là một thể thơ được sử dụng khá phổ biến trong văn chương cổ điển Trung Quốc 73 bài tuyệt cú (Thất ngôn và ngũ ngôn) được chọn giới thiệu trong “Đường thi tam bách thủ” [148] là một con số đáng kể cho phép ta hình dung được sự phát triển của thể thơ nhỏ gọn này suốt thời kỳ hoàng kim của thơ ca Trung Hoa
Ở Việt Nam, sự có mặt của tứ tuyệt được ghi nhận khá sớm qua một bài thơ mang tính chất đối đáp giữa nhà sư Pháp Thuận, trong vai một người “cai quản bến đò”, với Lý Giác,
sứ thần nhà Tống (năm 986) [129,tr 82 ] Nhiều bài tứ tuyệt thời Lý - Trần như “Nam quốc sơn hà”, “Tùng giá hoàn kinh sư”, “Thuật hoài” đã trở thành tiếng nói ngắn gọn nhưng hết sức tiêu biểu, có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với người Việt Nam buổi đầu dựng nước, giữ nước Đa số kệ của những nhà sư thời Lý - Trần được viết bằng dạng thức “tứ cú” Các ông vua - thi sĩ nổi tiếng thời Trần, thời Lê; các nhà thơ Huyền Quang, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Trương Hán Siêu, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Trần Tế
Xương, đều có những bài tứ tuyệt hay, được người đời sau nhắc nhở
Hơn thế, tứ tuyệt lại tiếp tục đồng hành với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại bằng khả năng tự điều chỉnh, đổi mới, để hôm nay, nó vẫn là một bộ phận không thể thiếu được trong sự phát triển các hình thức, thể loại thơ ca đương đại
Thực tế này khẳng định rằng thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam cần được nhìn nhận, đánh giá toàn diện, khách quan hơn về vị trí, quá trình phát triển, những đặc điểm, ưu thế nghệ thuật cũng như khả năng tự đổi mới để tiếp tục được sử dụng trong thơ ca đương đại
1.2 Những thập niên cuối của thế kỷ XX chứng kiến một bước chuyển biến mới của khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam bằng sự xuất hiện hướng tiếp cận các hiện tượng văn
Trang 8học từ góc độ khảo sát toàn bộ “các phương thức và phương tiện thể hiện một cách nghệ thuật cũng như khám phá đời sống bằng hình tượng” (Khrapchenco) [57], khảo sát “hình thức tác phẩm trong tính chỉnh thể, tính quan niệm”, “nghiên cứu cái lý bên trong sự tìm tòi, chọn lựa của nhà văn” (Trần Đình Sử) [116] Thực tế cho thấy: Dựa trên cơ sở khảo sát chính cấu trúc nội tại của tác phẩm trong mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức, hướng tiếp cận này đã mở ra nhiều khả năng trong việc đi sâu, phát hiện, lý giải quá trình sáng tạo nghệ thuật
Mặt khác, nếu “Bản chất của văn xuôi là để mất đi” như Paul Valéry từng nhận xét thì thơ cho phép người đọc tiếp nhận trọn vẹn nội dung và hình thức tác phẩm “Chỉ khi tiếp xúc với thơ, một câu thơ, một bài thơ thì người ta không thể quên hình thức của nó được,
nếu chỉ hiểu ý của thơ mà quên mất lời của thơ thì xem như quên cả thơ” [27, tr 8 ] Đặc điểm này càng khẳng định rằng việc kháo sát các yếu tố hình thức là hết sức quan trọng bởi chính nhờ hình thức mà toàn bộ văn bản bài thơ mới có thể được lưu giữ lại trong trí nhớ sau quá trình tri giác nghệ thuật Công việc nhớ, ngâm nga lại một bài thơ đã đọc trong quá khứ chính là khả năng tác động lâu dài của thơ, là nguồn cội của tính đa nghĩa, của những phát hiện mới mẻ qua nhiều thế hệ về các tầng nghĩa phong phú trong bài thơ Như vậy, việc tiếp cận tác phẩm phải “bắt đầu từ hình thức nghệ thuật, thâm nhập nội dung nghệ thuật và kết thúc với hình thức nghệ thuật Bởi vì, không thể có nghệ thuật nào mà không bắt đầu bằng hình thức, bằng sáng tạo về hình thức để thực hiện sự sáng tạo về nội dung và nội dung này cũng phải được hoàn tất trong hình thức hoàn thiện cuối cùng của nó” (Trần Thanh Đạm) [27, tr 9 ] Đối với hướng tiếp cận này, thơ tứ tuyệt không phải là một ngoại
lệ
Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến những tác động của hiện thực đời sống đối với sự hình thành tác phẩm hoặc chỉ tập trung vào văn bản tác phẩm thì thực chất vẫn không tránh khỏi cái nhìn phiến diện Sự hình thành tác phẩm còn tùy thuộc nhiều vào các quy luật tâm
lý sáng tạo, tiếp nhận văn học Vì lẽ đó, muốn phát hiện các quy luật nội tại, các yếu tố chi phối quá trình hình thành, phát triển cũng như khẳng định những ưu thế nghệ thuật đã giúp cho tứ tuyệt tồn tại lâu dài trong suốt tiến trình thơ ca cổ điển, vấn đề đặt ra là cần phải nhìn nhận tác phẩm như một chỉnh thể phức hợp của những mối liên hệ bên trong lẫn bên ngoài được thể hiện qua mối quan hệ giữa các yếu tố: “Cuộc sống - nhà văn - tác phẩm - người
thưởng thức” Một cái nhìn toàn vẹn từ nhiều góc độ sẽ mở ra những khả năng to lớn trong
Trang 9việc khảo sát, lý giải sâu sắc hơn những đặc điểm nghệ thuật hay khẳng định thuyết phục hơn những ưu thế của thơ tứ tuyệt trong miêu tả, biểu hiện
1.3 Thơ tứ tuyệt không chỉ được quan tâm trong quá trình giảng dạy phần văn chương
cổ điển Trung Quốc và Việt Nam ở bậc Đại học mà còn xuất hiện với tư cách là những tác phẩm được chọn giảng chính thức trong chương trình giảng văn ở bậc Phổ thông Thực tế cho thấy việc giảng dạy một bài thơ chỉ có bốn câu trong 45 phút của một tiết học quả không phải là điều dễ dàng Tình trạng “ướt giáo án” vẫn thường diễn ra nhất là đối với các
sinh viên thực tập lần đầu đứng lớp Là một giáo viên ngữ văn ở trường Đại học, qua luận
án này, người viết muốn đóng góp thêm một số hiểu biết nhất định của mình về thơ tứ tuyệt nói chung và thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam nói riêng nhằm phục vụ cho các sinh viên ngành
Sư phạm Văn trong công tác học tập, thực tập sư phạm và giảng dạy sau này
2 Lịch sử vấn đề
Lượng bài thơ tứ tuyệt trong sự nghiệp sáng tác của một tác giả hay trong các thi tuyển Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX thường ít hơn các bài thơ bát cú Trong văn học hiện đại, từ Phong trào Thơ mới trở đi, các thể thơ mới, thơ tự do lấn át khiến cho tứ tuyệt được
sử dụng khá hạn chế Mãi đến hai thập niên gần đây, văn học đương đại mới chứng kiến sự xuất hiện trở lại, ngày càng nhiều của thể thơ ngắn gọn này Trong tình hình đó, việc ít quan tâm đến tứ tuyệt của giới nghiên cứu văn học là hoàn toàn có lý do
2.1 Ngay từ thời kỳ trung đại, những nhà nghiên cứu, phê bình thơ Việt Nam rất ít bàn
về thơ tứ tuyệt Chúng tôi đã tìm đọc các công trình có tính chất giới thiệu tổng hợp về quan niệm thơ của các nhà thơ, nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học thời trung đại như:
“Thơ với người xưa” [137], “Từ trong di sản” [120], “Các tác gia cổ điển Trung Quốc và Việt Nam bàn về thơ” [138], “Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam” [73] ; các công trình khảo cứu, ghi chép hay phát biểu tản mạn về thơ của Nguyễn
Dữ trong “Truyền kỳ mạn lục” [24], Phạm Đình Hổ trong “Vũ trung tùy bút” [45], Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” [29] và “Vân đài loại ngữ” [28] (mục “Văn Nghệ” gồm 48 điều), Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí”[16], Nguyễn Văn Siêu trong
“Phương Đình tùy bút lục” [114] ; các quan niệm về thơ của Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” [43], một tác phẩm lý luận văn học đặc sắc ra đời từ rất sớm (cuối thế kỷ V đầu thế kỷ VI) ở Trung Quốc, tác phẩm “Thư gửi Nguyên Chẩn” của Bạch Cư Dị [19] hoặc các
Trang 10công trình có tính chất trích dẫn, giới thiệu ý kiến của các nhà thơ, nhà phê bình lý luận văn học cổ điển Trung Quốc về thơ và các lĩnh vực nghệ thuật khác như “Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc” của Phương Lựu [71], “Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc” của Khâu Chấn Thanh [126] Tình hình chung vẫn là bàn luận xung quanh các đặc điểm của thơ ca cổ điển nói chung chứ không riêng gì tứ tuyệt Tuy nhiên, những quan niệm
về thơ của các tác giả cổ điển Trung Quốc và Việt Nam là những cơ sở hết sức tin cậy giúp chúng tôi có thể vận dụng để khảo sát đặc điểm thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ X - XIX 2.2 Từ đầu thế kỷ XX đến 1985, việc nghiên cứu thơ tứ tuyệt đã được chú ý nhiều hơn nhưng trong hầu hết các công trình nghiên cứu hình thức và thể loại thơ ca ở Việt Nam giai đoạn này, tứ tuyệt chỉ có một vị trí hết sức khiêm tốn Các từ điển chuyên ngành như: “Từ điển văn học” [94], “Từ điển thuật ngữ văn học” [96], ; các công trình nghiên cứu văn học
sử như “Việt Nam văn học sử yếu” [39] của Dương Quảng Hàm, “Việt Nam cổ văn học sử” của Nguyễn Đổng Chi [11], “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” của Phạm Thế Ngũ [83] ; các giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” (Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX);
các công trình chuyên luận nghiên cứu hoặc dịch thuật về hình thức và thể loại thơ ca như:
“Phép làm thơ” của Diên Hương [50], “Khảo luận về thơ cũ Trung Hoa” (Phạm Thế Ngũ dịch) [82], “Thơ Đường” [ 111 và 112] của Trần Trọng San, “Thi pháp thơ Đường” của
Quách Tấn [121], “Thơ ca cổ điển Việt Nam, một số vấn đề về hình thức và thể loại” [78] của Lê Hoài Nam, “Tìm hiểu các thể thơ” [77] của Lạc Nam, hầu như chỉ đề cập đến việc định danh khái niệm và sơ lược đôi nét đặc thù của thơ tứ tuyệt Chủ yếu, các công trình này thường quan tâm đến việc giới thiệu bố cục, tổ chức kết cấu ngữ âm, vần điệu trong các dạng thức ngũ tuyệt hoặc thất tuyệt và nhấn mạnh đặc điểm hàm súc tối đa của ngôn từ thơ
tứ tuyệt Một số tác giả thường kết hợp giới thiệu các đặc điểm hình thức của thơ tứ tuyệt sau khi phân tích, giới thiệu kỹ về thể thơ bát cú Một số tác giả khác đã có cái nhìn khách quan và khoa học hơn để xác nhận nguồn gốc và khẳng định rằng tứ tuyệt là một thể thơ độc lập, thậm chí, nó còn có thể ra đời trước bát cú Tuy vậy, mức độ quan tâm của các tác giả này đối với tứ tuyệt cũng chỉ dừng lại ở chừng mực nhất định1
1Để tránh trùng lặp, ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu lên một số nhận xét khái quát Các chi tiết cụ thể
về nhữngquan niệm khác nhau đối với thơ tứ tuyệt sẽ được trình bày kỹ hơn trong mục “Khái niệm” của phần Nội dung
Trang 11Trong những công trình đề cập trên, cuốn “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại” [84] của Bùi Văn Nguyên là một công trình có chú ý đáng kể đến quá trình hình thành và phát triển của thơ tứ tuyệt từ giai đoạn Lý - Trần đến thơ ca hiện đại
Tác giả đã có nhiều kiến giải bao quát được những vấn đề liên quan đến nội dung và hình thức của thơ tứ tuyệt ở từng giai đoạn cụ thể Đặc biệt, tác giả quan tâm đến việc lý giải nguồn gốc, định danh khái niệm, xác định rõ nội dung khái niệm tứ tuyệt, khẳng định tính hoàn chỉnh, độc lập của bài thơ tứ tuyệt để kết luận rằng đó không phải là một thể thơ
“phái sinh” từ bát cú Khi khảo sát tiến trình thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam, ở mỗi giai đoạn cụ thể, người viết đều dừng lại, tập trung lý giải nguyên nhân hưng thịnh hoặc suy thoái của thể thơ chủ yếu là dựa vào sự tương thích của nó đối với nhu cầu miêu tả, biểu hiện của nhà thơ trong những biến động lịch sử đặc biệt của giai đoạn đó Mặt khác, tác giả cũng đã giới thiệu các đặc điểm về bố cục, cách lựa chọn hình ảnh, đặc điểm hàm súc tối đa của ngôn từ thơ và ưu thế thể hiện của thể thơ Công trình này là một trong những định hướng quan trọng bước đầu, giúp chúng tôi có thể kế thừa và phát triển sâu hơn các vấn đề cần được chú ý khi nghiên cứu về thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX
2.3 Một số công trình ra đời gần đây như: “Thi pháp thơ Đường” [37] của Nguyễn Thị Bích Hải, “Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế
kỷ thứ XIV” [140] của Đoàn Thị Thu Vân, “Một số đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” [25] của Nguyễn Sĩ Đại, “Thơ văn Lý Trần, nhìn từ góc độ thể loại” [47] của Nguyễn Phạm Hùng, đã có nhiều đóng góp giá trị trong việc khảo sát những ưu thế nghệ thuật và nhìn nhận thêm những vấn đề về nguồn gốc, khái niệm thơ tứ tuyệt Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải sau khi đưa ra những cách hiểu khác nhau về chữ “tuyệt” đã nhấn mạnh: “Về mặt nội dung, mỗi bài thơ tuyệt cú là một tác phẩm hoàn chỉnh, độc lập Nhà thơ dùng thể thơ này để trữ phát tình cảm, phát biểu trọn vẹn tình ý, xúc cảm chứ không phải bài thơ tuyệt cú chỉ là một nửa bài thơ bát cú mà thành” [37] Khái quát ý nghĩa thi pháp của
tứ tuyệt, tác giả cho rằng: “Đối với người Trung Hoa, hàm súc là một nhu cầu của nghệ thuật Nó là một giá trị Thơ trữ tình đời Đường hầu hết không miêu tả mà chỉ thể hiện bằng gợi ý Luật thi, nhất là tuyệt cú, là thể thơ phù hợp nhất với nhu cầu này mà tập trung là ở cái tứ của nó” [37, tr 78 ]
Trang 12Tác giả Nguyễn Sĩ Đại tập trung đi sâu nghiên cứu các phương diện: quan niệm nghệ thuật, cách lựa chọn hình ảnh, đặc điểm về cấu trúc, ngôn từ của tứ tuyệt Đường thi và đặc biệt là đã xác định rõ nguồn gốc, định danh khái niệm cũng như đưa ra một cách hiểu tương đối rộng về khái niệm thơ tứ tuyệt Tác giả nhấn mạnh: “Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm luật chặt chẽ nhưng phải vận dụng tối đa các thủ pháp nghệ thuật, phát huy thế mạnh của âm vận, đặc biệt là cách tổ chức hình ảnh để tạo ra một cấu trúc đa chiều vừa đủ sức phản ánh hiện thực, vừa mang tính khái quát cao, vừa ưu tiên cho sự tự thể hiện của sự vật, của các quan hệ, vừa
có chỗ cho tâm trạng cá nhân, cá tính của đối tượng cũng như của tác giả” [25, tr 36 ] Tác giả Đoàn Thị Thu Vân có nhiều đóng góp trong việc khảo sát các đặc điểm nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, đặc biệt là những nét độc đáo của các bài “Tứ cú kệ” cực kỳ ngắn gọn mang tính chất “điểm ngộ”, “khai mở” rất thích hợp với nhu cầu truyền phổ, thuyết giảng đạo lý nhà Phật Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu đặc điểm hay sự phát triển của tứ tuyệt trong một giai đoạn, một thời đại thi ca nhất định
2.4 Năm 1997, nhà xuất bản Giáo Dục cho in cuốn “Về thi pháp thơ Đường” [98], trong đó tập hợp một số bài viết của các tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cùng với công trình “Bút pháp thơ ca Trung Quốc” của François Cheng, nhà nghiên cứu văn học người Pháp gốc Trung Quốc và công trình “Sức quyến rũ của thơ Đường” của hai nhà nghiên cứu văn học người Trung Quốc, quốc tịch Mỹ là Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân Tập
sách này là sự đóng góp một cải nhìn mới mẻ về thơ Đường từ góc độ thi pháp thể loại, thi
pháp ngôn từ, các vấn đề về thời gian và không gian nghệ thuật (Bài viết “Thời gian, không gian trong thơ Đường” của Trần Đình Sử), về đặc điểm bố cục, phép đối trong thơ Đường (Các bài viết “Vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật”, “Về trình tự phân tích một bài thơ bát cú Đường luật” của Nguyễn Khắc Phi) Đặc biệt, các công trình “Bút pháp thơ ca Trung Quốc” và “Sức quyến rũ của thơ Đường” đã dựa trên cơ sở lý thuyết thi pháp ngôn ngữ của
R Jacobson để khảo sát một cách toàn diện đặc điểm lựa chọn và kết hợp ngôn từ của các nhà thơ thời Đường trong mối quan hệ đối sánh với ngôn ngữ thơ ca phương Tây Những kiến giải của François Cheng chủ yếu dựa trên cơ sở lý thuyết ký hiệu học bởi, theo ông,
“Toàn bộ thơ Đường là một bài ca được viết ra cũng như một bài viết được hát lên Qua những ký hiệu, vẫn tuân theo nhịp điệu nguyên sơ, lời nói đã bung ra, lan tràn tứ phía hoạt
Trang 13động tạo nghĩa của nó Khoanh lại trước tiên tính hiện thực của những ký hiệu này - những chữ viết ghi ý của người Trung Quốc - những đặc điểm của chúng, những mối liên quan giữa chúng với những hoạt động tạo nghĩa khác - đã làm nổi bật một vài nét chủ yếu của thơ
ca Trung Quốc” [98, tr 78] Hai tác giả Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân chú ý khảo sát các vấn đề về cú pháp, cách lựa chọn ngôn từ và sử dụng hình ảnh của thơ Đường trong quan hệ đối sánh với thơ ca phương Tây Các công trình nêu trên dù chuyên biệt nghiên cứu Đường thi nhưng đã gợi ý cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình khảo sát các đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX
2.5 Về các bài viết được đăng tải trên hệ thống báo chí và tạp chí chuyên ngành, chúng tôi lưu tâm đến loạt bài viết về thơ tứ tuyệt của Ngọc Chung Tử được đăng trên báo Văn Nghệ từ năm 1991, trong đó, ông đã thể hiện rõ một cách hiểu rất rộng về thơ tứ tuyệt khi chọn và bình cả những bài lục bát bốn câu Mãi đến năm 1997, khi việc sáng tác thơ tứ tuyệt ngày càng phổ biến, nảy sinh nhu cầu xác định một cách hiểu thống nhất về tứ tuyệt, tác giả Tạ Ngọc Liễn đã đặt ra vấn đề “Tứ tuyệt có phải là thể thơ bốn câu” [70] Tiếp tục vấn đề trên, tác giả Nguyễn Khắc Phi đã giới thiệu ý kiến của mình qua bài viết “Về khái niệm tứ tuyệt” trên báo “Văn Nghệ trẻ” [106] Đây là một bài viết chuyên sâu, giới thiệu nhiều cứ liệu khoa học và những kiến giải của tác giả về nguồn gốc, tên gọi và nội dung khái niệm tứ tuyệt trên cơ sở khảo sát quá trình hình thành và phát triển của thể thơ độc đáo này trong lịch sử văn chương Trung Hoa Tác giả cũng đặt ra những thực tế khó khăn khi chọn cách gọi tên hợp lý nhất cho thể thơ vì xét thấy khái niệm tứ tuyệt vẫn dùng trong thực tiễn sáng tác của văn học hiện đại Việt Nam từ trước đến nay là chưa thật ổn Qua những kiến giải về ưu thế nghệ thuật, tác giả đã đưa ra những dự báo khả quan cho sự phát triển mạnh mẽ của tứ tuyệt trong tương lai Bài viết này là một trong những cơ sở quan trọng giúp chúng tôi xác định cách hiểu hợp lý về thơ tứ tuyệt
Bài viết “Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên” [102] của hai tác giả Lê Lưu Oanh và Đinh Thị Nguyệt trên tạp chí Văn Học số 8/1998 vừa khảo sát được những đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt, một mảng thơ có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên, vừa giúp chúng tôi có một cái nhìn tương đối khái quát về sự vận động, cách tân, phát triển của
thể thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam hiện đại
Trang 14Tóm lại, việc nghiên cứu vị trí, quá trình phát triến và đặc biệt là việc nghiên cứu các đặc điểm, ưu thế nghệ thuật cũng như việc xác định những nét riêng của tứ tuyệt Việt Nam
từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX so với tứ tuyệt Đường thi và với các thể thơ khác vẫn còn là những vấn đề chưa được quan tâm triệt để
3 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những thành tựu cũng như những vấn đề chưa được giải quyết triệt để trong thực tiễn nghiên cứu thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, luận án này hướng tới việc giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
3.1 Xác định vị trí, miêu tả tiến trình thể loại của thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam
từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX qua việc thống kê và khảo sát một cách tương đối tỷ lệ
sử dụng thể thơ này trong phạm vi sáng tác từ văn học Lý - Trần đến văn học giai đoạn
cuối thế kỷ XIX qua các công trình khảo cứu, các hợp tuyển hoặc tuyển tập thơ của một số
tác giả tiêu biểu ở từng giai đoạn
3.2 Góp phần lý giải nguyên nhân hình thành, phát triển cũng như sức sống lâu bền của thơ tứ tuyệt trên cơ sở những nét đặc thù trong quan niệm nghệ thuật của văn chương cổ điển, những đặc điểm và ưu thế thích ứng của thể thơ đối với nhu cầu phản ánh và biểu hiện
ở từng giai đoạn văn học cụ thể
3.3 Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát các đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX trong mối quan hệ đối sánh với tứ tuyệt Đường thi
và với các thể thơ khác Như đã trình bày, chúng tôi đặt ra mục tiêu khảo sát, lý giải các đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố: cuộc sống - nhà văn - tác phẩm – người đọc Nói cách khác, trong quá trình khảo sát những đặc điểm nghệ thuật của thể thơ này, chúng tôi không những chỉ căn cứ vào chính cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn căn cứ vào mối quan hệ với những tác động sâu sắc, những nhu cầu cần phản ánh của hiện thực đời sống, với các quy luật tâm lý sáng tạo và tiếp nhận văn học
Trang 154 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Để xác định những đặc điểm, trên nguyên tắc chung, cần phải khảo sát thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX trong mối quan hệ đối sánh với nhiều hệ thống Cụ thể, luận án sẽ được triển khai trên cơ sở quan tâm đến các mối quan hệ giữa:
- Thơ tứ tuyệt với thơ ca nói chung và thơ ca cổ điển phương Đông nói riêng
- Thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX với thơ tứ tuyệt Đường thi
- Thơ tứ tuyệt với các thể thơ khác mà đặc biệt là thể thơ bát cú luật Đường trong thơ
ca Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX
- Thơ tứ tuyệt với các thể thơ khác trong sáng tác của các nhà thơ tiêu biểu hoặc trong các giai đoạn văn học cụ thể
Mối quan hệ phụ thuộc, ảnh hưởng qua lại giữa các bộ phận trong hệ thống hoặc giữa các hệ thống sẽ là cơ sở giúp xác định các đặc điểm nghệ thuật của bài thơ tứ tuyệt, bởi bên cạnh những đặc điểm mang tính loại biệt rõ rệt còn có những đặc điểm mà tính loại biệt chỉ được xác định thông qua tính chất và mức độ thể hiện các đặc điểm đó trong trường hợp cụ thể của thể thơ Chẳng hạn, tính hàm súc của ngôn từ là một đặc điểm của thơ ca nói chung chứ không riêng gì tứ tuyệt Cái khác là ở chỗ, đối với tứ tuyệt, yêu cầu này được thể hiện ở mức độ cao hơn Lượng càng ít thì chất càng phải tinh, bài thơ càng ngắn, sức cô đọng, hàm súc của ngôn từ càng phải cao Đó là một quy luật
Vì vậy, từ “đặc điểm” mà chúng tôi sử dụng không bó hẹp trong phạm vi loại biệt, chỉ
có ở thơ tứ tuyệt, mà được hiểu một cách rộng rãi hơn: Tứ tuyệt vẫn mang những đặc điểm chung với các bộ phận khác trong cùng hệ thống như đã nêu trên,
Sự khác biệt chỉ ở mức độ thể hiện những đặc điểm chung đó vào trường hợp cụ thể Đây là cách mà chúng tôi sử dụng nhất quán trong quá trình khảo sát các đặc điểm nghệ thuật của các bài thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX
4.2 Để giải quyết những yêu cầu cụ thể của đề tài, chủ yếu chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Trang 164.2.1 Phương pháp thống kê được sử dụng nhằm:
- Khảo sát tỷ lệ sử dụng thơ tứ tuyệt trong một số tập thơ tiêu biểu để đánh giá vị trí và tìm hiểu quá trình phát triển của thể thơ này trong văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế
kỷ thứ XIX
- Đặc biệt, không thể phủ nhận mối quan hệ ảnh hưỏng, tác động sâu sắc của thơ Đường nói chung và thơ tứ tuyệt thời Đường nói riêng đối với thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam Vì vậy, chúng tôi đã chọn 100 bài thơ tứ tuyệt Đường thi dùng làm cơ sở đối chứng1 khi cần thống kê, so sánh tỷ lệ để xác định mối quan hệ kế thừa và sáng tạo cũng như những nét khác biệt của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX so với thơ tứ tuyệt Đường thi
4.2.2 Phương pháp phân tích - so sánh được sử dụng nhằm tìm hiểu:
- Ảnh hưởng của Đường thi, của thơ ca bác học và thơ ca dân gian Việt Nam đối với quá trình phát triển của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X - XIX
- Đặc điểm nghệ thuật, những ưu thế thể hiện của tứ tuyệt cổ điển Việt Nam
Tóm lại, các phương pháp, thao tác nghiên cứu đều nhằm đến mục đích cố gắng làm rõ tính loại biệt về thể loại, xác định quá trình hình thành, phát triển, những đặc điểm nội dung
và nghệ thuật của thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với tứ tuyệt cổ điển Trung Quốc
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu và tư liệu
5.1 Văn học dân tộc bao gồm hai bộ phận: văn học viết và văn học dân gian Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu kiểu bài thơ bốn câu xuất hiện trong phần văn học viết từ thế kỷ thứ
X đến cuối thế kỷ thứ XIX
5.2 Đề tài chỉ tập trung thu thập tư liệu từ sự nghiệp sáng tác của một số nhà thơ tiêu
biểu ở các giai đoạn văn học
1Xin xem tên các bài thơ được chọn trong phần “Phụ Lục”
Trang 175.3 Những tác phẩm văn học cổ đã mất mát nhiều theo thời gian Thơ của hầu hết các tác giả, ngày nay, chỉ còn lại một phần ít ỏi dù đương thời, số lượng tác phẩm của mỗi người đôi khi đạt đến con số nghìn Đó là chưa kể đến những khó khăn khách quan trong việc giới thiệu toàn bộ tư liệu Hán Nôm còn giữ được đến ngày nay Thực tế đó khiến cho công việc thống kê của chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, để thực hiện yêu cầu khảo sát tỷ lệ sử dụng thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX, chúng tôi chỉ có thể căn cứ vào những dạng tư liệu đã được dịch thuật và giới thiệu như sau:
- Các công trình khảo cứu
- Các hợp tuyển thơ
- Các tập thơ được tuyến chọn và giới thiệu
6 Kết cấu của luận án
Luận án gồm ba phần
Phần Dẫn Nhập
Giới thiệu sơ lược về ý nghía của đề tài, điểm lại một số công trình chủ yếu có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu thơ tứ tuyệt trước đây, nhấn mạnh các mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và tiến hành giới hạn phạm vi nghiên cứu, tư liệu của đề tài
Phần Nội Dung
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM THƠ TỨ TUYỆT
Xác định cách sử dụng thuật ngữ và cách hiểu khái niệm thơ tứ tuyệt nhằm phục vụ cho việc thống kê tư liệu và kết luận về quá trình phát triển của thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thể kỷ XIX
CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH THƠ TỨ TUYỆT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX
- Thống kê số lượng các bài thơ tứ tuyệt trong các tập thơ, các hợp tuyển thơ ở từng giai đoạn cụ thể
Trang 18- Nhận xét khái quát về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ tứ tuyệt trong các giai đoạn văn học để có được cái nhìn bao quát về tiến trình thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam
Mặt khác, để phân tích, cảm thụ, người tiếp nhận phải khởi đầu từ ngôn ngữ, bố cục bài thơ để cảm nhận vẻ đẹp của hình ảnh và cuối cùng là hiểu được tư tưởng của tác phẩm Công việc sáng tác một bài thơ phải bắt đầu theo hướng ngược lại: Từ những ý tưởng phát sinh do hứng thú, cảm xúc trước tác động của ngoại cảnh, nhà thơ sẽ chọn lọc và tổ chức những hình ảnh từ thực tế cuộc sống để diễn đạt các ý tưởng Tuy nhiên, các hình ảnh thể hiện ý tưởng phải được sắp xếp trong một bố cục chặt chẽ tùy thuộc vào quy cách thể thơ hoặc ý đồ nghệ thuật của tác giả Đặc biệt, với thơ Đường luật (Chủ yếu là bát cú và tứ tuyệt), việc sắp xếp ý tưởng, hình ảnh trong mỗi câu thơ cần tuân thủ theo đúng quy cách bố cục “Khai - thừa - chuyển - hợp” Cuối cùng, tác giả dùng ngôn ngữ nghệ thuật để thể hiện những cảm nhận, suy tưởng qua bài thơ Vì vậy, ở chương này, đề tài giải quyết các vấn đề
cụ thể sau:
3.1 Sự hình thành, phát triển của tứ tuyệt nhìn từ góc độ quan niệm nghệ thuật
3.2 Cách lựa chọn và tổ chức hình ảnh
3.3 Bố cục bài thơ tứ tuyệt
3.4 Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt
Phần Kết Luận
Chúng tôi cố gắng đưa ra một số nhận định khái quát về sự phát triển của thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và phác thảo vài nét về sự phát triển
Trang 19của thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam hiện đại, khởi đi từ Phong trào Thơ mới đến thơ Cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thơ tứ tuyệt đương đại
Để có một cái nhìn xuyên suốt và toàn diện, chúng tôi khảo sát sự phát triển của thơ tứ tuyệt hiện đại Việt Nam thông qua các giai đoạn văn học sử được phân ký theo quan niệm truyền thống, Ở mỗi giai đoạn, bên cạnh những nhận định khái quát, chúng tôi điểm qua vài nét về thơ tứ tuyệt của một tác giả cụ thể, tiêu biểu Trên cơ sở điểm qua các chặng đường phát triển của tứ tuyệt hiện đại, chúng tôi hướng tới việc khẳng định những ưu thế giúp tứ tuyệt sẽ còn có thể đi tiếp vào thế kỷ XXI cùng với nhiều hình thức thơ khác và đề xuất một
số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 20CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM THƠ TỨ TUYỆT 1.1 Những cách hiểu khác nhau về thơ tứ tuyệt:
1.1.1 Về thuật ngữ
Hiện nay, thuật ngữ tứ tuyệt được sử dụng rất phổ biến trong thực tiễn sáng tác và
nghiên cứu phê bình ở Việt Nam (ở Trung Quốc, người ta không sử dụng thuật ngữ này) để chỉ một kiểu bài thơ ngắn gọn, chỉ gồm bốn câu Nhiều cuộc thi sáng tác, bình thơ tứ tuyệt được tổ chức trên báo chí những năm gần đây; nhiều tuyển thơ tứ tuyệt ra đời, trong đó xuất hiện những bài thơ bốn câu theo kiểu thơ mới (mỗi câu 8 chữ), thơ tự do (số chữ trong câu dài ngắn khác nhau), thơ lục bát, thơ bậc thang, ; nhiều công trình chuyên luận sử dụng
thuật ngữ tứ tuyệt ngay từ tên đề tài
Điều này chứng minh rằng việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ tứ tuyệt có quan hệ với một
cách hiểu có phân phóng khoáng hơn về những đặc trưng hình thức của thể loại Lý luận phải xuất phát từ thực tiễn sáng tác, cho nên, hầu hết các công trình nghiên cứu về hình thức
và thể loại thơ ca đều phải chú ý đến sự có mặt cùng lúc hai thuật ngữ tuyệt cú và tứ tuyệt để
chỉ một kiểu bài thơ bốn câu từng phát triển đến mức hoàn chỉnh về quy cách, cấu trúc trong Đường thi, từng dược sử dụng trong văn chương cổ điển Việt Nam và đã có nhiều cách tân, biến đổi trong quá trình hội nhập vào văn học hiện đại
Tác giả Dương Quảng Hàm giải thích cặn kẽ chữ “tứ tuyệt” như một cách thừa nhận
sự có mặt của thuật ngữ này trong sáng tác và nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam từ rất sớm: “Tứ là bốn, tuyệt là dứt, ngắt Lối này gọi thê vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành” [39, tr 27 ]
Tác giả Bùi Văn Nguyên cũng viết: “Thơ bốn câu người ta còn gọi là tứ tuyệt tức là bài thơ gồm bốn câu có ý nghĩa thật hay Trong văn học Trung Quốc, người ta không gọi tứ tuyệt mà gọi là tuyệt cú” [ 84, tr 213 ]
Tác giả Nguyễn Khắc Phi, trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, xác định: “ở ta, quen gọi là thơ tứ tuyệt Nghĩa rộng là những bài thơ bốn câu mỗi câu 5 hoặc 7 chữ Theo nghĩa hẹp là một dạng của thơ Đường luật, có quy định bằng trắc, niêm đối” [96, tr 272]
Trang 21Tác giả Lạc Nam trong “Tìm hiểu các thể thơ” cũng có định nghĩa cùng lúc sử dụng hai thuật ngữ để định danh một khái niệm: “Thơ bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú” [77, tr 108 ]
Việc sử dụng cùng lúc hai thuật ngữ tứ tuyệt và tuyệt cú tồn tại suốt một thời gian dài, thậm chí, ở Việt Nam, thói quen sử dụng rộng rãi thuật ngữ tứ tuyệt khiến thuật ngữ tuyệt cú
hầu như chỉ còn được sử dụng khi cần nghiên cứu chuyên sâu Mãi đến gần đây, trên tạp chí
“Văn Nghệ Trẻ” số 25 (1997), tác giả Tạ Ngọc Liễn mới đặt ra vấn đề có nên dùng thuật
ngữ tứ tuyệt hay không? [70] Theo ông, trong các tài liệu xưa chưa hề có chỗ nào dùng thuật ngữ tứ tuyệt Từ lúc khởi nguyên, người Trung Quốc chỉ sử dụng thuật ngữ tuyệt cú để
chỉ những bài thơ bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn, có quy định bằng trắc, niêm luật chặt chẽ Tiếp liền sau đó, trên báo “Văn Nghệ Trẻ”, tác giả Nguyễn Khắc Phi, trong bài “Về khái niệm tứ tuyệt” [106], có ý kiến trao đổi như sau: “Tứ tuyệt được hiểu như một
từ đồng nghĩa với tuyệt cú, một cách gọi hiện đại của một thể thơ xưa từng mang tên tuyệt cú” Theo ông, “một từ, khi đã có đời sống riêng, được hiểu một cách tương đối thống nhất thì bất tất phải xoá bỏ, cho dù nó đã mang một nghĩa nội hàm khác với lúc ban đầu xuất
hiện” Tuy nhiên, vẫn theo ông, dù có thể và nên dùng thuật ngữ tứ tuyệt nhưng cần phải
hiểu rằng thuật ngữ này “vẫn mang dấu hiệu khu biệt của tuyệt cú vốn đã tồn tại ổn định
ngót 1500 năm nay: bốn dòng, vần chân, số chữ ở bốn dòng bằng nhau”
Theo chúng tôi, cách hiểu hai thuật ngữ cùng mang một nội dung như nhau có chỗ bất
lợi vì tuyệt cú là một thuật ngữ có nội hàm rất hẹp, chỉ ứng với các bài thơ nhập luật hoặc
luật hóa trong thơ Đường và thơ ca cổ điển Việt Nam Cho nên, đối với những bài thơ bốn câu “không theo luật Đường, dù sáng tác trước hoặc sau đời Đường đều gọi là cổ tuyệt cú hoặc cổ tuyệt” [106]
Linh hoạt hơn, một số tác giả đã sử dụng cùng lúc hai thuật ngữ tương ứng với hai
cách hiểu rộng và hẹp về kiểu bài thơ bốn câu, theo đó, cách gọi tuyệt cú dùng để chỉ những bài thơ bốn câu tuân thủ đúng quy cách, niêm luật thơ Đường còn cách gọi tứ tuyệt dùng để
chỉ chung một kiểu bài thơ bốn câu có thể đúng và cũng có thể không đúng quy cách, niêm luật thơ Đường Vậy là việc xác định thuật ngữ được quy về một dấu hiệu chung nhất: một bài thơ chỉ gồm bốn câu
Trang 221.1.2 V ề nội dung khái niệm
Các tác giả Bùi Kỷ, Dương Quảng Hàm, Trần Trọng San, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Khắc Phi, đều cho rằng tứ tuyệt là một bài thơ bốn câu, mỗi câu gồm 5 chữ, 6 chữ hoặc 7 chữ (Phần lớn là 5 chữ và 7 chữ nên còn gọi là ngũ tuyệt và thất tuyệt), có những quy cách
về cấu trúc, niêm luật chặt chẽ tương ứng với quy cách của bài bát cú luật Đường
Ở Việt Nam, quy cách sáng tác thơ tứ tuyệt luật Đường nhìn chung được tuân thủ khá nghiêm ngặt nhưng vẫn tồn tại một số hiện tượng phá cách mà các bài thơ Nôm thất ngôn xen lục ngôn của Nguyễn Trãi là một trong số những hiện tượng đáng chú ý Như vậy, cách hiểu truyền thống này tuy có khái quát được những hiện tượng phố biến nhưng vẫn tỏ
ra bất cập trước những trường hợp cá biệt, sáng tạo ở các nhà thơ giàu bản lĩnh, muốn vượt thoát khỏi ràng buộc của thi ca Trung Hoa
Thời gian gần đây, khi thi pháp học phát triển mạnh mẽ trong khoa nghiên cứu văn học ở nước ta, các công trình có tính chuyên luận về thơ tứ tuyệt hoặc có liên quan đến sự phát triển của thơ tứ tuyệt trong một giai đoạn văn học nhất định như: “Khảo sát các đặc điểm nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIV” của Đoàn Thị Thu Vân [140], “Thi pháp thơ Đường’ của Nguyễn Thị Bích Hải [37], “Một số đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại [25] đã có những cách hiểu có khả năng bao quát các trường hợp phá cách của thơ tứ tuyệt Đặc biệt, tác giả Nguyễn Sĩ Đại đề xuất một cách hiểu khá rộng: “Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm luật chặt chẽ” [25, tr 4]
Vấn đề thứ hai là sự tồn tại của hai cách hiểu khác nhau về chữ “Tuyệt”:
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: “Tuyệt” là dứt, ngắt, cắt:
Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại, ở Trung Quốc, ngay từ thời Minh Thanh, những học giả như Ngô Nột, Truyền Nhữ Bảng, Tiền Mộc Am, đều xem tuyệt cú là thể thơ “tiệt luật thi chi bán” (Nửa bài cắt ra từ luật thi) [25]
“Từ Hải từ điển” cũng có một định nghĩa tương tự nhưng thận trọng hơn: “Hữu nhân thuyết tuyệt thi thị tiệt thủ luật thi đích nhất bán nhi thành” (Có người nói tuyệt thi là do cắt nửa bài luật thi mà thành) [127, tr 9]
Trang 23Ở Việt Nam, Dương Quảng Hàm là người chịu ảnh hưởng rất rõ của thuyết này: “Tứ
nghĩa là dứt, ngắt Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành” [39, tr 14]
Cuốn “Từ trong di sản” do Nguyễn Minh Tấn chủ biên cũng có một định nghĩa như vậy: “Theo lối thơ này (tức tứ tuyệt) thường cắt hai câu đầu, hai câu cuối hoặc bốn câu cuối (của bài bát cú) mà thành” [120, tr 69]
Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong “Từ điển văn học” [94] và “Từ điển thuật ngữ văn học” [96] cho rằng: “Luật tuyệt, còn gọi là tuyệt ngôn luật thi, là do luật của bài bát cú quy
định giống như cắt từ bài bát cú mà ra”
Cách hiểu này xuất phát từ nghĩa gốc của chữ “tuyệt” nên cũng có những hạt nhân hợp
lý nhưng lại rất dễ dẫn đến một quan niệm chưa thực sự khách quan về nguồn gốc của tứ tuyệt, cho rằng nó chỉ là một dạng thức “phái sinh” từ bát cú và vì vậy, chắc chắn phải ra đời sau bát cú
- Quan niệm thứ hai cho rằng: “tuyệt” là tuyệt diệu, tuyệt vời
Từ quan niệm “Tuyệt cú giả - nhất cú nhất tuyệt dã” của Dương Thận đời Minh và nhất là từ thực tiễn sáng tác của thể thơ “khó làm” này (chữ dùng của Hoàng Trung Thông), một số học giả có quan niệm khác về chữ “Tuyệt”
Trong công trình “Thơ Đường”, Trần Trọng San đã dẫn lại ý kiến của Bùi Kỷ trong
“Quốc văn cụ thể” như một cách giới thiệu có tính chất khách quan hai quan niệm cơ bản về chữ “tuyệt”: “Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt Chỉ trong bốn câu mà thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục đủ cả, cho nên gọi là tuyệt” [12, tr 32]
Bùi Văn Nguyên trong “Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại” nhấn mạnh: “Thơ bốn câu, người ta cũng gọi là tứ tuyệt, tức là bài thơ gồm bốn câu có ý nghĩa thật hay” [84,
tr 213] Để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa của chữ “Tuyệt”, ông nói thêm: “Chữ Tứ Tuyệt theo Trung Quốc nghĩa là bốn cái thật hay thí dụ như bia lầu Nhạc Dương (Thợ bia khéo, văn bia hay, chữ chân tốt, chữ triện tốt) hoặc bốn cái thật xấu như bốn ngày trước các ngày lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông”
Trang 24Tác giả Lạc Nam Phan Văn Nhiễm định nghĩa: “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt tức bài thơ hay tuyệt vời” [77, tr 106]
Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong “Thơ, tìm hiểu và thưởng thức” cũng xem tính chất tuyệt diệu, tuyệt vời như một phẩm chất nổi bật của bài thơ tứ tuyệt: “Bút pháp nghệ thuật thơ tứ tuyệt là dồn nén trong khuôn khổ ngôn từ tinh tế nhất một tứ thơ mới lạ, độc đáo, tạo sức hấp dẫn của ý ở ngoài lời và chính cái không nói ra lời ấy mới chính là cái đáng kể nhất,
ý vị nhất của thơ tứ tuyệt” [76, tr 175]
Tác giả Quách Tấn, trong “Thi pháp thơ Đường”, cũng nhấn mạnh: “Tuy có bốn câu
nhưng ý tứ phải sung mãn như tám câu thì mới xứng danh là Tuyệt cú, là Tứ tuyệt Bởi Tuyệt vừa có nghĩa là Tiệt (cắt) vừa có nghĩa là Tuyệt diệu” [121, tr 76]
Ngoại trừ những ý kiến khẳng định dứt khoát, một số tác giá khác vẫn còn dè dặt trong cách hiểu “tuyệt” là tuyệt diệu, tuyệt vời dù, trong khi lý giải những đặc điểm nghệ thuật của bài thơ tứ tuyệt, vô hình trung, họ đã thừa nhận sự “tuyệt vời” trong tất cả các phương diện hình thức của thể thơ nhằm đạt tới tính “hàm súc cao nhất” (Đoàn Thị Thu Vân) và một
“cấu trúc đa chiều vừa đủ sức phản ánh hiện thực vừa mang tính khái quát cao” (Nguyễn Sĩ Đại)
Cách hiểu này hợp lý hơn khi xem bài thơ tứ tuyệt là một chỉnh thể độc lập, hoàn hảo
về cấu trúc chứ không phải là kết quả của sự cắt ra từ bài bát cú Khi đứng độc lập với tư cách là một thể thơ nhỏ gọn nhất trong các thể thơ được sử dụng ở Trung Quốc từ đời Đường về sau và ở Việt Nam thời trung đại, bắt buộc tứ tuyệt phải là sự tinh lọc tối đa hình ảnh và cảm xúc, phải dồn nén được toàn bộ tài năng và tâm lực của nhà thơ sao cho bài thơ nhỏ gọn ấy có thể chuyển tải được những vấn đề lớn lao, đa dạng, sâu xa của đời sống và tâm linh Muốn vậy, mỗi câu, mỗi chữ cần phải có sức nặng, phải thật sự “tuyệt vời”
1.1.3 Vấn đề nguồn gốc thơ tứ tuyệt
Quan niệm bài thơ tứ tuyệt là do những cách cắt khác nhau của bài thơ bát cú mà thành
đã dẫn đến việc cho rằng tứ tuyệt xuất hiện sau bát cú Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại, “thuyết
này khá phổ biến với những tác giả như Ngô Nột đời Minh trong Văn Chương Biện Thể, Truyền Nhữ Bảng (đời Thanh) trong Thi Pháp Nguyên Lưu, Tiền Mộc Am (đời Thanh)
trong Đường Âm Thẩm Thể ”[25, tr 28]
Trang 25Mâu thuẫn với thuyết “tiệt luật thi chi bán”, các học giả Trung Quốc như Hồ Ứng Lân (đời Minh), Vương Sĩ Trinh, Lý Gia Ngôn, La Căn Trạch, Đổng Văn Hoán (đời Thanh) đều cho rằng “Luật thi thực do tuyệt cú bội phiên nhi thành”, tức tứ tuyệt xuất hiện trước bát
cú và có thể là tiền thân của bát cú Hồ Ưng Lân đặt vấn đề: “Ý kiến bảo rằng (tuyệt cú) là cắt hai liên đầu, cuối hoặc ở giữa của một bài thơ cận thể là không đáng tin Ngũ ngôn tuyệt
cú đã xuất hiện ở hai kinh (Trường An và Lạc Dương) khi chưa có ngũ ngôn luật thi; thất ngôn tuyệt cú cũng đã có từ thời tứ kiệt (Bốn nhà thơ nổi tiếng thời sơ Đường: Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương, Vương Bột) bấy giờ cũng chưa có thất ngôn luật thi” [ 106]
Ở Việt Nam, tác giả Trần Trọng San khẳng định: “Trong dân ca đời Lục Triều, đã thấy
có những bài bốn câu 5 chữ hoặc 7 chữ Các nhà quý tộc mới phỏng theo đó mà làm ra những bài bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn Đến đời Đường, lối thơ bốn câu này rất thịnh hành và được gọi là tuyệt cú Sau khi có luật thi, lối tuyệt cú vô hình trung đồng
hóa trong thể thơ này Vì thế người ta thường ngộ nhận tuyệt cú là do sự cắt bài luật thi mà thành” [ 112, tr 32]
Bắt đầu từ việc truy nguyên dạng bài thơ bốn câu trong Kinh Thi, Nhạc Phủ và thơ Cổ Phong, tác giả Bùi Văn Nguyên đã đi đến kết luận: “Thơ cổ phong cũng như dân ca không hạn định số câu, có thể ít nhất là hai hoặc bốn câu, hoặc sáu, tám, mười câu hoặc nữa là rất nhiều câu Tuy nhiên, thể thơ cổ phong phổ biến nhất là thể bốn câu, tám câu và thể hành” Cuối cùng, ông khẳng định: “Có ý kiến cho rằng thơ tuyệt cú là một thể hoàn chỉnh tự nó và
nó hình thành trước thể bát cú Ý kiến này xác đáng hơn” [85, tr 299]
Cuốn “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” [25] đã tập hợp được nhiều cứ liệu khoa học để khẳng định rằng tuyệt cú đã có mầm mống ngay từ trong Kinh Thi và dân ca thời Lục Triều Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại, tên gọi “Tuyệt cú” xuất phát từ tên gọi “Liên cú’ hai câu đối nhau gọi là nhất liên, tức lối làm thơ có hai người
trở lên, mỗi người đọc một câu Lối làm thơ này rất thịnh hành ở đời Lưỡng Tấn, Lục Triều
Và như vậy, chữ “Tuyệt”, theo tác giả, “Có lẽ chỉ việc cắt ra từ liên cú, sự dừng lại ở bốn câu với ý nghĩa trọn vẹn”
Tác giả Nguyễn Khắc Phi, trong bài viết “Về khái niệm tứ tuyệt”, phân tích cụ thể hơn: “Khái niệm tuyệt cú, thoạt đầu đưa ra không phải để phân biệt với bát cú mà là để khu
Trang 26biệt với liên cú, một hình thức sáng tác thơ ca tập thể (từ hai người trở lên) tương truyền
xuất hiện từ thời Hán Vũ Đế song rõ ràng là phát triển mạnh trong thời Lục Triều Ban đầu mỗi người làm một câu, đến đời Tấn mỗi người làm hai câu và cuối Tấn đầu Tống đã xuất hiện hình thức liên cú, trong đó, mỗi người làm bốn câu Trường hợp người xướng bài đầu
tiên mà không ai làm theo được thì bài độc xướng đó được gọi là Đoạn cú hay Tuyệt cú
Đoạn, Tuyệt nghĩa là như vậy chứ không phải cắt từ bài luật thi mà thành” [106]
Như vậy, có thể khẳng định rằng tứ tuyệt đã có nguồn gốc lâu đời từ trong Kinh Thi, Nhạc Phủ và dân ca Lục Triều để trên cơ sở đó mà phát triển đến mức hoàn chỉnh ở đỉnh cao Đường Thi Tuy nhiên, quan niệm cho rằng bát cú là do tứ tuyệt nhân đôi mà thành cần phải có những cứ liệu khoa học thuyết phục hơn
1.2 Xác định thuật ngữ sử dụng và nội dung khái niệm “Tứ tuyệt”
Như đã nêu trên, thời gian qua, nhiều vấn đề về thuật ngữ, nội dung khái niệm thơ tứ tuyệt vẫn chưa được giải quyết triệt để Nhằm tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi xin tạm xác định cách sử dụng thuật ngữ và cách hiểu nội dung khái niệm trong luận án như sau:
- Chúng tôi chọn sử dụng thuật ngữ tứ tuyệt để tạo điều kiện đưa vào một cách hiểu
tương đối rộng, có khả năng bao quát các trường hợp cụ thể trong thơ tứ tuyệt Việt Nam từ
thế kỷ X đến thế kỷ XIX (kể cả thơ chữ Nôm và thơ chữ Hán)
- Chúng tôi cũng tạm đưa ra cách hiểu: Bài thơ tứ tuyệt là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết mỗi câu đều 5 hoặc 7 chữ nhưng phải chịu ước thúc nhất định của những đặc điểm thi pháp thơ Đường luật Bằng cách hiểu này, chúng tôi có thể bao quát được hiện tượng các bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn của Nguyễn Trãi, vì, dù có những câu sáu chữ xen vào, chúng vẫn chịu sự chi phối rõ rệt của những đặc điểm thi pháp thơ Đường luật như vần, đối, bố cục, tiết tấu, giọng điệu, luật hài âm, Cũng trên cơ sở cách hiểu này, chúng tôi sẽ
không đưa dạng lục bát bốn câu bắt đầu xuất hiện trong thơ Trần Tế Xương (Trường hợp bài “Sông lấp”) vào phần thống kê, khảo sát thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam Lý do chủ yếu là
vì chúng tôi nghĩ rằng dạng thức này chịu ảnh hưởng của đặc điểm thi pháp thơ lục bát rõ rệt hơn
Trang 27- Với dung lượng ngôn từ ít ỏi, tứ tuyệt rất phù hợp với nhu cầu ghi nhận những phát hiện mới mẻ, những rung động bất chợt nhưng mãnh liệt của nhà thơ
Rất ngắn gọn, tứ tuyệt buộc phải hạn chế miêu tả cụ thể, hạn chế cả việc dồn chứa các
chi tiết, hình ảnh có khả năng khắc họa sự sinh động, phong phú của đời sống Để khắc phục điều này, người làm thơ tứ tuyệt cần phải chọn lọc, phát hiện một góc độ nhìn, một thời điểm nhìn, ở đó, toàn bộ thế giới và đời sống con người được lóe sáng, bật nổi trong dạng thức cô đọng nhất, bản chất nhất Từ một phạm vi đời sống hẹp, tứ tuyệt luôn có khả năng vươn đến một tầm nhìn khái quát, toàn vẹn hay đặt ra những vấn đề thuộc về bản chất, quy luật muôn đời Muốn vậy, tứ tuyệt cần đến sự tinh lọc tối đa hình ảnh, cần đến sự tổ chức, liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận để có được cách kiến tạo tứ thơ tối ưu cũng như cần đến tài năng của tác giả trong việc luyện câu đặt chữ sao cho mỗi từ, mỗi câu thơ đều có sức vang, sức gợi, sức ám ảnh lâu bền trong tâm hồn người đọc
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là ở chỗ: Qua tứ tuyệt, nhà thơ có thể diễn đạt một ý tưởng, một chiêm nghiệm sâu xa về cuộc đời bằng dạng thức ngôn từ đặc biệt ngắn gọn Thơ càng ngắn, càng dễ ghi nhớ, truyền tụng Tầm tư tưởng càng bao quát thì khả năng ứng dụng trong nhiều thời điểm, hoàn cảnh thực tế càng lớn Không nói hết ý, để chừa những khoảng trống bỏ lửng là cách buộc những thế hệ người đọc phải tiếp tục chặng hành trình đồng sáng tạo vô tận, tiếp tục suy ngẫm và chứng thực những ý tưởng giàu chất triết lý
mà nhà thơ “nói chưa hết” trong bài thơ tứ tuyệt Đó là một trong những nguyên nhân giải thích vì sao nhiều bài tứ tuyệt trong văn học cổ điển Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn sức sống lâu bền đến tận hôm nay
Trang 28CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH THƠ TỨ TUYỆT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ THỨ X ĐẾN THẾ KỶ THỨ XIX
Với cách làm việc “xét tìm sử cũ, tham khảo các nhà, biên hết tên sách”[16, tr 41], Phan Huy Chú đã tập hợp được trong “Văn tịch chí” “những tập ngự chế của các triều, những tác phẩm của các công khanh có tiếng, các văn nhân tài sĩ cùng là những bộ do các nhà soạn chép đều xếp vào loại thi văn, tên sách được 106 bộ” [16, tr 57] Một số hợp tuyển
ra đời trước đó như “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương, “Toàn Việt thi lục” của Lê Quý Đôn, cũng được giới thiệu tên sách, số lượng thơ văn và những lời bình khái quát về giá trị tư liệu
Tầm bao quát và độ tin cậy của sách cho phép chúng ta có thể chứng minh được sự phát triển của thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam Có 41 bài thơ tứ tuyệt trên tổng số 86 bài thơ được trích tuyển và khen tặng trong công trình khảo cứu toàn diện này (Không kể phần những câu thơ hay được tác giả trích tuyển) Hầu hết các bài tứ tuyệt trong “Văn tịch chí” đều được bình giá với ý thức trân trọng và lòng tự hào sâu sắc khi tác giả so sánh với tứ tuyệt Đường Tống Chẳng hạn, trong mục giới thiệu “Trần Thánh Tông thi tập” (cả tập đã mất, chỉ còn 5 bài), tác giả trích tuyển hai bài tứ tuyệt “Cảnh hè” và “Chơi phủ An Bang”
với nhận xét: “Các bài đều có phong vị thơ Đường” [16, tr 58] Trong mục giới thiệu “Giới Hiên thi tập” của Nguyễn Trung Ngạn, Phan Huy Chú ca ngợi: “Lời thơ phần nhiều hào mại, phóng khoáng, có khí phách và cốt cách Đỗ Lăng” [16, tr 65], “Ngoài ra, những câu hay rất nhiều, không thể kể hết Thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì đời Thịnh Đường” [16, tr 66 ] Thơ trong tập “Cổ tâm bách vịnh” gồm 10 quyển của ông vua thi sĩ Lê Thánh Tông được nhận xét là “đều làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú” [16, tr 76] Trong mục giới thiệu “Dưỡng Hiên vịnh sử thi” của Phạm Nguyễn Du (Đỗ tiến sĩ năm 1779 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40), tác giả cũng nhấn mạnh con số 130 bài thơ “đều là thất ngôn tuyệt cú” mang nội dung “vịnh sử từ Bàn Cổ trở xuống” [16, tr 108]
Cái nhìn tổng thể trên đây chỉ giúp xác định phần nào vị trí và sự quan tâm của các nhà thơ cổ điển Việt Nam đối với thể thơ đặc biệt ngắn gọn này Ở mỗi giai đoạn cụ thể, những biến động lịch sử, các nhu cầu miêu tả, biểu hiện đặc thù khiến cho thơ ca nói chung và thơ
tứ tuyệt nói riêng có những nét khác biệt Việc khảo sát những đặc điểm đó có khả năng xác
Trang 29định một cái nhìn xuyên suốt tiến trình thể loại và điều này là rất có ý nghĩa đối với yêu cầu khẳng định ưu thế nghệ thuật của một thể thơ Đường luật trong thơ ca cổ điển Việt Nam
2.1 Thơ tứ tuyệt Việt Nam giai đoạn thế kỷ X - XII với nhu cầu thực hành các chức năng ngoài văn học
Văn bản thơ sớm nhất còn giữ lại được đến ngày nay là bài thơ của Ngô Chân Lưu, một nhà sư và cũng là một vị quan chức dưới triều Lê Hoàn Thơ được làm theo lệnh vua với nội dung tiễn sứ giả nhà Tống nên tính chất sứ điệp thể hiện rất rõ trong khi nhà thơ vẫn chọn thi đề tống biệt cùng với những hình ảnh ước lệ thường thấy và thể từ khúc phóng khoáng, đậm chất trữ tình Một cánh buồm “vượt sóng xanh muôn dặm trùng dương” (Thiên
trùng vạn lý thiệp thương lang), một mối tình thảm thiết hòa trong chén rượu ly biệt (Tình thảm thiết - Đối ly trường) những hình ảnh giàu chất thơ ấy, thật thú vị, lại được dành cho
một “văn bản bang giao” với mục đích chính trị rõ rệt được nhắc đến trong hai câu thơ cuối
cùng: “ Nguyện tương thâm ý vị Nam cương - Phân minh báo ngã hoàng” (Xin đem thâm ý
vì Nam cương - Tâu vua tôi tỏ tường” [129, tr 46]
Khi được hỏi về vận nước, vị quốc sư Pháp Thuận, người rất được vua Lê Đại Hành kính trọng nhờ đạo hạnh, khả năng “dựng bàn, hoạch định sách lược”, đã trả lời bằng một bài thơ [129, tr 192] :
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
nước hết sức ngắn gọn, hào hùng
Trang 30Đây cũng là thời kỳ lưu hành khá phổ biến một số bài thơ ngắn gọn mang tính chất sấm vĩ của các nhà sư, những người được tôn vinh là có trí tuệ uyên bác, có khả năng đoán định chuyện vị lai quá khứ nên được cả chính quyền phong kiến lẫn nhân dân kính trọng Có một số hình ảnh ẩn dụ rời rạc và khó hiểu hàm chứa ẩn ý sâu xa hoặc đơn giản chỉ là hệ quả của cách chiết tự một từ nào đó được sử dụng trong những bài thơ này Chẳng hạn như những hình ảnh trong bài thơ tương truyền là do nhà sư Vạn Hạnh làm ra để
“tạo dư luận cho Lý Công Uẩn làm vua” [129, tr 192]:
“ Thụ căn diểu diểu Mộc biểu thanh thanh
(Gốc cây thăm thẳm - Ngọn cây xanh xanh - Cây hoà đao rụng - Mười tám hạt thành) Vai trò độc tôn của Phật giáo cùng với nhu cầu truyền phổ triết lý hay thể hiện tư tưởng, tình cảm các nhà sư và người học đạo trong quá trình tu tập cũng góp phần quy định đặc điểm hành chức của văn chương thời kỳ này Thơ ca trở thành một phương tiện hữu hiệu mà các nhà sư có thể vận dụng để phục vụ cho mục đích truyền đạo và ngộ đạo “Thiền uyển tập anh ngữ lục” ghi chép nhiều câu chuyện về các nhà sư có thói quen trả lời những câu hỏi chất vấn của người học đạo hoặc dặn dò các đệ tử trước khi qua đời bằng một bài thơ ngắn gọn, thường là bốn câu Trong những bài thơ được gọi chung là “tứ cú kệ” đó, các tác giả thường gửi gắm một nhận xét triết lý về bản chất cuộc sống, về lẽ Thiền thông qua các hình ảnh thiên nhiên cụ thể, sinh động
Thơ Thiền thời kỳ này chủ yếu thể hiện cách cảm nhận, lý giải những quy luật đời
sống, vũ trụ trên tinh thần Thiền học và ít nhiều bộc lộ cảm xúc, tâm trạng nhà thơ trước vẻ đẹp thiên nhiên hoặc thể hiện những cảm xúc của người học đạo trong quá trình tu tập Kệ thời Lý là một thể loại có tính chức năng cao Chất lý trí thể hiện rõ trong các bài kệ ngũ
1 Hoa, đao, mộc, lạc kết hợp lại thành chữ Lê để chỉ nhà Tiền Lê Thập, bát, tử kết hợp thành chữ
Lý để chỉ sự thành lập của triều đại nhà Lý khi nhà Tiền Lê kết thúc Trong “Việt sử tiêu án” của Ngô Thì Sĩ, bài sấm này còn có thêm hai câu thờ để chỉ sự thành lập nhà Trần và Hậu Lê: “Đông A nhập điạ - Dị mộc tái sinh” (Theo “Việt sử lược” (138, tr 111)
Trang 31tuyệt có bố cục đặc biệt, trong đó tác giả thường mở đầu bằng các hình ảnh thiên nhiên để đi đến kết luận về một vấn đề triết học Trong kệ đời Lý, các ước lệ, điển có nhà chùa được ưu tiên sử dụng; những đại từ phiếm chỉ, những dạng thức câu trần thuật, nghi vấn, cầu khiến cũng được quan tâm nhằm khơi gợi, thúc đẩy sự vận động của tư duy lý tính Tác giả Nguyễn Phạm Hùng, khi phân loại thơ Thiền dựa trên tiêu chí chức năng, đã giới thiệu con
số thống kê đáng chú ý theo đó các bài thơ trực tiếp phát biểu triết lý, quan niệm thiền học chiếm khoảng 94% tổng số thơ thiền thời Lý được chọn khảo sát (139/148 đơn vị tác phẩm) [47]
Rõ ràng, trong buổi bình minh của văn chương cổ điển Việt Nam, quan niệm gắn văn học với những chức năng ngoài văn học ảnh hưởng sâu sắc đến mức các tác giả hầu như không hề quan tâm đến việc phân biệt xem phát ngôn của họ là một văn bản chính trị, sấm
vĩ, triết học hay là một tác phẩm văn học mà chủ yểu là quan tâm đến hiệu quả tác động của
văn bản đó đối với mục đích đặt ra
Đáng chú ý là đã tồn tại một mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu cầu thực hành các chức năng ngoài văn học với việc ưu tiên sử dụng những hình thái thơ ca ngắn mà chủ yếu là thơ
tứ tuyệt Trong tổng số 90 bài thơ được giới thiệu từ “Hợp tuyển thơ văn Lý - Trần” tập I [90], có 65 bài tứ tuyệt, chiếm tỷ lệ 72%, trong đó nhiều nhất vẫn là dạng “tứ cú kệ”(ngũ
ngôn hoặc thất ngôn)
Việc sử dụng một cách rộng rãi thơ tứ tuyệt để phục vụ cho các chức năng ngoài văn học xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn của hoàn cảnh lịch sử Một bài thơ đối đáp, tiễn biệt đâu chỉ phục vụ cho mục đích bang giao mà còn nhằm chứng minh cho tài “ứng tác” nhanh nhạy, sắc sảo của những nhà sư được giao trọng trách bảo vệ quốc thể, nêu cao truyền thống thi chương Việt Nam Một bài thơ ngắn gọn mang màu sắc sấm vĩ rất phù hợp khi được đọc trong hoàn cảnh cuộc chiến đấu giữ nước gay go Mấy câu kệ ngắn gọn tận dụng các phương tiện nghệ thuật đặc thù của thơ ca cho phép người học đạo ghi nhớ nhanh chóng để tiếp tục nghiền ngẫm, khám phá những vấn đề triết học được trình bày theo phong cách “bỏ lửng”, giàu chất điểm ngộ, khai mở hơn là luận thuyết dài dòng Tất nhiên, còn phải kể đến tác động của văn chương Trung Hoa ngay trong buổi đẩu phát triển của thơ ca
Trang 32
bác học Việt Nam Những nguyên nhân nêu trên phần nào giải thích được sự quan tâm sử dụng các hình thái thơ ngắn mà chủ yếu là tứ tuyệt trong văn chương thế kỷ X-XII
Các bài thơ tứ tuyệt thời kỳ này không chỉ nhằm thực hành những chức năng ngoài văn học “Ngư nhàn” của nhà sư Không Lộ phác họa một bức tranh thủy mặc đầy chất thơ
với vạn dặm sông xanh, trời xanh, những vùng dâu đay, khói sóng và hình ảnh một ông chài
cô đơn bị chìm lấp mờ ảo trong vùng tuyết gợi nhớ cái không gian trắng mênh mông, quạnh vắng, lạnh lẽo trong “Giang tuyết” của Liễu Tông Nguyên Bài thơ tiêu biểu cho chất trữ
tình triết lý này thể hiện rõ cái nhìn thấm nhuần tinh thần sắc không nhưng các hình ảnh
Đường thi quen thuộc lại tạo được ấn tượng đặc biệt sinh động Chúng gợi những cảm xúc sâu lắng trong tâm hồn người đọc và sự ngạc nhiên khi nhận ra rang ấn sau chiêc áo cà sa
vẫn là trái tim nhạy cảm của một nhà thơ
Ngay cả khi xem thiên nhiên như một phương tiện để minh họa cho tư tưởng thiền học, các nhà sư thời kỳ này vẫn cố gắng thổi luồng sinh khí của tâm trạng, cảm xúc vào từng cành cây, ngọn cỏ để chúng không quá cứng nhắc, xám xịt trong cái vỏ triết lý Bài kệ
“Thị đệ tử” của nhà sư Vạn Hạnh rõ ràng là muốn chứng minh cho khoảnh khắc đời người ngắn ngủi, hư vô trong sự đối sánh với thời gian vũ trụ vô cùng tận nhưng trong cách thể hiện vấn đề triết học đó chừng như vẫn chứa đựng giọng điệu cảm thương, tâm trạng nuối tiếc, một chút băn khoăn, day dứt, một khoảnh khắc hồi tưởng, chiêm nghiệm quá khứ trước lúc nhà sư nhắm mắt lia đời:
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố uý Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”
(Tấm thân con người như ánh chớp, có rồi không - Cây cối mùa xuân xanh tươi nhưng mùa thu lại khô héo - Đừng sợ hãi chuyện thịnh suy của cuộc đời - Thịnh suy chỉ là giọt sương treo trên đầu ngọn cỏ)
Khi bàn về mối quan hệ giữa thơ ca với các nghi thức Phật giáo trong thời kỳ đầu của văn chương cổ điển Việt Nam, tác giả Niculin đã nhận xét xác đáng rằng “Nhiều bài kệ có
Trang 33nét đặc trưng là toát lên một tâm trạng trong sáng, có dấu ấn một cách hiểu tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và sự suy ngẫm bản chất cõi hư vô và cõi thực” nhưng dù sao “đây vẫn chưa phải là thơ trữ tình với ý nghĩa đúng của nó” [100, tr 33 và 34] Rõ ràng, trong đa số các bài
“tứ cú kệ” thời kỳ này, tính chất triết học vẫn chiếm ưu thế Chúng gần với kệ hơn với thơ
bởi việc thực hành các chức năng ngoài văn học vẫn là mục đích chủ yếu Yếu tố “trữ tình thiền” chưa thực sự đậm nét hoặc chỉ được thể hiện rõ trong một số ít các bài thơ có khuynh
hướng không xem thiên nhiên đơn giản là một phương tiện cụ thể hoá các vấn đề triết học
mà “Ngư nhàn” là một ví dụ tiêu biểu
2.2 Hai khuynh hướng trữ tình trong thơ tứ tuyệt Việt Nam thế kỷ XIII - XIV
Hai mươi ba tập thơ văn được giới thiệu trong “Văn tịch chí” cho phép Phan Huy Chú phác thảo một cái nhìn toàn vẹn về sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động văn học dưới triều Trần, một triều đại được xem là hùng mạnh nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Đáng chú ý là trong số rất ít các bài thơ được giới thiệu một cách chọn lọc từ các tập thơ văn, nhà khảo cứu này đã đưa vào 19 bài tứ tuyệt cùng với những lời khen tặng đầy tự hào (Tổng cộng, có 35 bài thơ được giới thiệu trong phần thi ca đời Trần) Ở các tập thơ của một
số tác giả như Trần Thánh Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Huyền Quang, những bài trích tuyển để khen ngợi đều là thơ tứ tuyệt
“Hợp tuyển thơ văn Lý - Trần” tập III [91] giới thiệu 88 bài tứ tuyệt trong tổng số 343 bài thơ thời Trần được trích tuyển, chiếm tỷ lệ 25% Ở “Tuyển thơ các vua Trần” [79], số bài thơ tứ tuyệt được giới thiệu cũng chiếm tỷ lệ khá cao (60 bài tứ tuyệt trong tổng số 101 bài thơ)
Vậy là, trong văn học thế kỷ XIII - XIV, thể thơ ngắn gọn này lại tiếp tục được các nhà thơ ưa chuộng Sự thực hành các chức năng ngoài văn học vẫn còn dễ nhận thấy nhưng trong khi thực hiện các yêu cầu hành chức, thơ tứ tuyệt thời kỳ này ngày càng bộc lộ rõ khuynh hướng ưu tiên cho sự bộc lộ cảm xúc, suy tư, tâm trạng hay cách nhìn nhận chủ quan của tác giả đối với những vấn đề về đời sống chính trị, xã hội hay đời sống tâm linh
2.2.1 Khuynh hướng trữ tình trong thơ tứ tuyệt có nội dung chính trị, triết học
Đặc điểm hành chức vẫn thể hiện rõ qua các bài tứ tuyệt mang nội dung sử thi mô tả một cách hàm súc, cô đọng cuộc chiến tranh vệ quốc thế kỷ XIII Chúng thể hiện niềm tự
Trang 34hào to lớn khi nói về chiến thắng vẻ vang (“Tụng giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải), khi ca ngợi những địa danh lừng lẫy (“Bạch Đằng giang” của Nguyễn Xưởng) hay ca ngợi tầm vóc kỳ vĩ và trách nhiệm công dân (“Thuật hoài’ của Phạm Ngũ Lão), Đặc điểm chung của những bài thơ tiêu biểu nêu trên là tính chất tuyên ngôn và sự chi phối của tình cảm công dân Chẳng hạn, trong một dung lượng ngôn từ cực kỳ ngắn gọn, Trần Quang Khải đã cố gắng thâu tóm những thành quả mà quân dân đời Trần đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cứu nước vẻ vang Khát vọng xây dựng đất nước cường thịnh của tác giả với tư cách một nhà quý tộc, một vị tướng lĩnh quân đội có nhiều công lao chinh chiến được thể hiện rõ trong lời thơ có tính chất tuyên ngôn Tác phẩm, vì vậy, trở thành một loại văn bản chính luận đặc biệt, có mục đích không khác mấy so với mục đích của bài Cáo bình Ngô
Đề tài tống biệt sứ giả được tiếp tục khai thác nhưng tính chất “văn bản bang giao” từng thấy trong bài từ khúc của Ngô Chân Lưu dần mờ nhạt để thay thế vào đó là tâm tình, cảm xúc của người đi và kẻ tiễn được thể hiện hầu như trọn vẹn khiến cho thơ tống biệt sứ giả đời Trần có được chất thanh tao, tiêu sái trong thơ biệt ly Đường Tống Bài thơ “Tống bắc sứ Ngưu Lượng” của Trần Nghệ Tông, khi ấy còn làm tướng quốc, được vị sứ giả nhà Nguyên lấy làm cảm phục vì ý đẹp lời hay:
Không bả trà âu tống khách quy Viên Tản sơn thanh, Lô thủy bích
(Tể tướng già An Nam không giỏi thơ - Chỉ mang bình chè tiễn khách về - Núi Tản Viên xanh, nước sông Lô biếc - Theo gió bay thẳng vào đám mây năm màu)
Một cách nói khiêm cung nhưng không kém phần tự hào, một khí vị cao khoát, chất chứa hoài bão lớn lao trong bài thơ và đặc biệt là khẩu khí “không phải tầm thường” [16, tr 62] trong câu kết giúp cho Ngưu Lượng có thể tiên đoán được hậu vận rạng rỡ của vị hoàng
đế trong tương lai Đặc biệt, tâm hồn thi nhân dào dạt nỗi niềm lưu luyến hoà quyện trong
Trang 35bức tranh non xanh nước biếc cho phép chúng ta xác nhận sự chi phối đậm nét của chất trữ tình trong một bài thơ thực hiện chức năng bang giao chính trị
Cũng trong khuynh hướng đó, các bài thơ tứ tuyệt đặc sắc như “Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc sứ” của Lê Quát, “Tống nhân Bắc hành” của Nguyễn Ức, “Đề thu giang tống biệt đồ” của Trần Đình Sâm, “Tống sứ ngâm” của Mạc Ký đều mang ý vị chia ly thắm thiết giữa những người bạn tri kỷ trong thơ ca Đường Tống
Ở đời Trần, Phật giáo dần đánh mất vai trò độc tôn nhưng vẫn còn thịnh Những bài
“tứ cú kệ” của các thiền sư và các ông vua nhà Trần thích chuyên tâm nghiên cứu Phật pháp
trong giai đoạn cuối đời vẫn có vị trí đáng kể trong các sáng tác thơ ca thời kỳ này Tuy nhiên, đã có bước chuyển hướng rõ rệt khi đa số kệ đời Trần thường ghi lại cảm xúc, suy tư, tâm trạng của người học đạo Chất trữ tình - triết lý ngày càng đậm nét thể hiện qua khuynh hướng gia tăng mạnh yếu tố cảm xúc, tâm trạng khiến cho kệ đời Trần trở nên gần gũi hơn với thơ ca thế tục Các hình ảnh thiên nhiên vẫn còn mang tính chất phương tiện nhưng nhà thơ ít sử dụng chúng với mục đích chuyển tải những ẩn ý bí hiểm để kích thích tư duy người học đạo trong quá trình tu tập như thường thấy trong kệ ngũ tuyệt đời Lý mà chủ yếu là nhằm giúp nhà thơ tự bạch những trạng thái cảm xúc tinh tế của người vừa “ngộ” được lẽ Thiền hay trình bày một thái độ ứng xử trong cuộc sống Niềm vui sướng chốn thanh tịnh, lặng lẽ trong bài thơ “Ký Thanh Phong am tăng” (Gửi nhà sư ở am Thanh Phong) là một minh chứng cho sự tâm đắc của ông vua Thái Tông đời Trần khi quyết định lựa chọn con đường tu hành:
Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh
Cá trung tư vị vô nhân thức Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh”
(Gió đập cổng thông, trăng sáng trước sân - Lòng hẹn với phong cảnh cùng trong sạch, lặng lẽ - Thú vị trong ấy không ai hay biết - Mặc cho nhà sư trong núi vui đến sáng)
Nhà sư Huyền Quang được Lê Quý Đôn khen tặng là “học rộng, thơ hay, trong Việt
âm thi tập có chép một bài thất ngôn tuyệt cú của thiền sư thì tựa hồ không có khẩu khiếu
Trang 36nhà chùa Trong Trích diễm thi tập có chép một bài thơ ngũ ngôn tuyệt cú và 21 bài thất
ngôn tuyệt cú, thơ văn tinh tế, có khí tượng cao siêu” [29, tr 392] Trong “Văn tịch chí”, Phan Huy Chú cũng ca ngợi rằng ông là người có “Văn thơ bay bướm, phóng khoáng” [16,
tr 73] Đối với các học giả này, Huyền Quang được xem là một thi nhân hơn là một vị thiền
sư Các bài thơ tứ tuyệt của ông được dẫn trong “Kiến văn tiểu lục” và “Văn tịch chí” đều mang đặc điểm chung: chất trữ tình đậm nét hơn chất triết lý Chẳng hạn, bài thơ sau đây gợi nhắc các bài thơ trữ tình triết lý của thi phật Vương Duy khi nhà sư miêu tả những cảm xúc thâm trầm sau giấc ngủ dài:
Phần quang trần thế giới
(Mưa xong khe núi tịch mịch - Ngủ một giấc dài dưới bóng cây - Tỉnh dậy ngoái nhìn đời bụi bặm - Mở mắt vẫn thấy say mênh mang)
Đối với kệ đời Trần, chất trữ tình triết lý ngày một đậm nét là cơ sở để có thể kết luận rằng nếu kệ đời Lý gần với kệ hơn thì kệ đời Trần lại có xu hướng gần với thơ hơn
2.2.2 Khuynh hướng trữ tình trong thơ tứ tuyệt viết về đời sống thế tục thế kỷ XIII - XIV
Trong các tập thơ thời Trần, mảng thơ trữ tình viết về đời sống thế tục ngày càng chiếm ưu thế và điều này thể hiện rõ xu hướng chung của thơ ca cổ điển Việt Nam trong quá trình cố gắng xác định một ranh giới tương đối giữa thơ trữ tình với thơ ca thực hiện những chức năng ngoài văn học Nội dung miêu tả cảnh thiên nhiên hay đề cập đến những mảng hiện thực đời sống đa diện và thế giới tâm tư tình cảm phong phú của nhà thơ được chú ý khai thác Thơ ngày một gần gũi với cuộc sống nên thực hơn, đẹp hơn và đặc biệt là chan chứa suy tư, cảm xúc Thơ tứ tuyệt thế kỷ XIII - XIV không nằm ngoài xu hướng đó
Sự chi phối của cái nhìn Thiền học là không tránh khỏi khi ông vua Trần Nhân Tông
miêu tả khung cảnh huyễn ảo nhàn nhạt màu khói, nửa có nửa không bao trùm vùng đồng
Trang 37quê Thiên Trường trong một buổi chiều hư không, tịch mịch (Thiên Trường vãn vọng) Tuy nhiên, đã có sự chuyển hướng rõ rệt khi thơ tứ tuyệt thời kỳ này bắt đầu quan tâm miêu tả
vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống thế tục với tư cách một đối tượng thẩm mỹ có khả năng kích thích sự trào dâng mạnh mẽ nguồn cảm hứng thi ca Trong “Xuân hiểu”, cảm xúc tinh
tế của ông vua thi sĩ Trần Nhân Tông trước vẻ đẹp đất trời một sớm xuân được khơi gợi từ hình ảnh đôi cánh bướm chấp chới giữa khu vườn đầy hoa:
“ Thụy khởi khải song phi
B ất tri xuân dĩ quy
Sơn thanh thủy lục hựu thu quang
Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương”
(Thuyền con thuận gió lênh đênh mặt nước mênh mông - Non xanh nước biếc lại có trăng thu sáng - Vài tiếng sáo thuyền câu ngoài rặng hoa lau - Trăng lặn dưới lòng sóng, sông đầy sương)
Các hình ảnh thiên nhiên không chỉ khơi gợi cảm xúc mà còn hàm chứa ngụ ý tinh tế
về tâm sự riêng tư, một điều gì đó mà nhà thơ mãi ân hận, day dứt nhưng không thể nói rõ Bài tứ tuyệt “Dạ vũ” của Trần Minh Tông cho biết rằng ông vua thi sĩ này thường mất ngủ
trong những đêm mưa qua tiếng chuối điểm canh khắc khoải và ngọn đèn thao thức đến tận
Trang 38bình minh Hình như, nhà vua bị ám ảnh bởi hồi ức về một sai lầm không thể sửa chữa được: Ông đã tử hình một người vô tội trong hoàng tộc:
Bích tiêu song ngoại độ tàn canh
Tự tri tam thập niên tiền thác Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh”
(Hơi thu đèn rạng buổi bình minh - Ngoài cửa thâu đêm chuối điểm canh - Tự biết sai lầm ba mươi năm trước - Giờ đành ôm sầu ngồi nghe mưa rơi)
Trong thơ tứ tuyệt Nguyễn Trung Ngạn, bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, gần gũi với cuộc sống thế tục thường hàm chứa những cảm xúc về quê hương đất nước rất đằm thắm, chân thành Có lẽ chuyến đi sứ đã giúp vị Thượng thư triều Trần Anh Tông này thấm thía
nỗi buồn tha hương nên những bài tứ tuyệt nổi tiếng của ông như “Quy hứng”, “Dạ bạc Kim Lăng thành”, đều ẩn chứa tâm trạng nhớ quê hương da diết:
Tảo đạo hoa hương giải chính phì Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo Giang Nam tuy lạc bất như quy” (Quy hứng)
(Dâu già lá rụng, tằm vừa chín - Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo - Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt - Giang Nam tuy vui thú nhưng chẳng bằng về nhà)
Tiếng mưa đêm trên sông Hoàng Giang (Hoàng Giang dạ vũ) gợi nhắc khát vọng tang bồng hồ hải giờ đã thành một nỗi đau nhức nhối trong tâm hồn nhà thơ Nguyễn Phi Khanh, người đỗ đến Nhị giáp tiến sĩ đời Trần Duệ Tông nhưng không được tuyển dụng làm quan:
Liễu phố tam thu vũ Quân bồng bán dạ thanh
Trang 39Cô đăng minh hựu diệt
Hồ hải thập niên tình”
đèn cô độc sáng rồi lại tắt - Bồi hồi vì tấm lòng hồ hải trong chục năm trời)
Tứ tuyệt đời Trần còn ghi nhận những khoảnh khắc xao động trong tâm hồn con người thông qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà thơ Bài thơ “Khuê oán” của Trần Nhân Tông là một ví dụ cho cách nhà thơ sử dụng các hình ảnh thiên nhiên như chiếc chìa khoá
mở cánh cửa bước vào thế giới tâm trạng chất chứa nỗi oán hận âm thầm của người cung
nữ Không có dấu hiệu ngôn ngữ nào chỉ rõ tâm trạng chủ thể Chỉ có những đoá hồng lặng
lẽ rụng, ánh mặt trời lặn ở phương Tây, gió đông, không gian quạnh quẽ bặt tiếng chim hót, bức tranh thiên nhiên vô tình gợi cảm xúc buồn thương cho thân phận người cung nữ:
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông”
(Ngủ dậy, cuốn rèm nhìn hồng rụng - Chim hoàng ly không hót, oán gió đông - Hờ hững mặt trời lặn phía lầu tây - Bóng hoa đều hướng về phía đông)
Cảm hứng thế sự cũng chi phối cái nhìn của các nhà thơ đối với hiện thực cuộc sống, nhất là vào lúc triều đại nhà Trần đi qua giai đoạn hoàng kim Nửa cuối thế kỷ XIV, khuynh
hướng cảm khái thời thế dần thể hiện rõ trong những bài thơ hàm ý phê phán triều đình phong kiến và bộc lộ niềm cảm thông sâu sắc đối với cuộc sống khốn khó của nhân dân Chẳng hạn, “Đề Đường Minh Hoàng dục mã đồ” của Chu Đường Anh, một nhà thơ sống ở giai đoạn cuối Trần, nhằm vào mục đích mỉa mai những ông vua không biết quan tâm đến dân đen:
Dục bãi khiên lai cận xích trì
Trang 40Nhược sử ái nhân như ái mã
(Ngựa Ngọc Hoa đêm chiếu sáng chạy giỏi tuyệt vời - Tắm xong dắt đến gần thềm son - Nếu vua yêu người như yêu ngựa - Thì dân đen đâu đến nỗi lầm than)
Nhà quý tộc Trần Nguyên Đán cũng không giấu được xúc động trước tình cảnh thiên tai đe dọa cuộc sống nhân dân Bài thơ “Nhâm dần lục nguyệt tác” của ông chan chứa nỗi buồn thương vì bất lực:
“ Niên lai hạ hạn hựu thu lâm
Tam vạn quyển thư vô dụng xứ Bạch đầu không phụ ái dân tâm”
(Mấy năm liền hè hạn hán, thu lụt lội - Lúa khô mạ hỏng, tổn hại rất nhiều - Đọc ba vạn cuốn sách cũng thành vô dụng - Đầu bạc luống phụ lòng yêu dân)
Trong “Kiến văn tiểu lục” [29, tr 171], Lê Quý Đôn kể: Khi đi sứ, ông đã từng cải chính sự đánh giá sai lầm của những nhà trí thức Trung Quốc về truyền thống văn hiến lâu đời của người Việt Nam bằng việc đưa cho Chu Bội Liên, tổng đốc Quảng Tây, cuốn “Trích diễm thi tập” do Hoàng Đức Lương biên soạn năm 1479 để chứng minh rằng “Triều nhà Trần đã có nhiều văn học thi chương” “Trích diễm thi tập” đã mai một “mười phần chỉ còn lại một hai phần” nhưng cũng giúp Lê Quý Đôn có cơ sở để ca ngợi: “Thơ văn đĩnh đạc, cao siêu của tiền bối về triều nhà Trần và hồi Lê sơ.” là “văn vật phồn thịnh, trứ tác phong phú” [29, tr 208] Phạm Đình Hổ cũng nói rõ thái độ ngưỡng mộ đối với giai đoạn được xem là mẫu mực trong thơ ca cổ điển Việt Nam: “Thơ đời Trần tinh vi, trong trẻo, có cái sở trường tột bậc của thơ đời Hán, đời Đường bên Trung Hoa” Khi phê bình thơ một số tác giả thời
Lê Trung Hưng, ông còn cho rằng: “Thi học đến đời ấy đã trung hưng lên được nhưng so
với các thi gia đời Lý, đời Trần thì cũng chưa thể sánh bằng” [45, tr 181]
Kiến thức quảng bác của các học giả trên giúp chúng ta xác nhận những thành tựu rực
rỡ của thơ ca Việt Nam thế kỷ XIII - XIV và tất nhiên trong đó có cả những thành tựu của