1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới

148 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của hai yếu tố này trong giảng dạy môn hoá học, tôi đã chọn đề tài “THIẾT KẾ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI GIẢNG MÔN HOÁ HỌC LỚP 11 THPT THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI ”

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin g ửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường Đại học

Sư phạm TP.HCM, quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện để các sinh viên h ọc tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

Em xin g ửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:

- PGS.TS Tr ịnh Văn Biều, ThS Trịnh Lê Hồng Phương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành khóa luận

- Các th ầy cô giáo ở trường THPT Thạnh Đông, THPT Nguyễn Hùng Sơn đã nhiệt tình cộng tác, giúp em rất nhiều trong quá trình thực nghiệm đề tài

- Cảm ơn những người bạn đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho

em trong su ốt quá trình thực hiện đề tài

Cu ối cùng, em xin cám ơn những người thân yêu trong gia đình đã luôn bên c ạnh, ủng hộ, động viên, giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt khóa

lu ận

Thành ph ố Hồ Chí Minh – năm 2013 Tác giả

Lê Th ị Ngọc Đang

Trang 3

MỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH M ỤC CÁC BẢNG 6

DANH M ỤC CÁC HÌNH 7

M Ở ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.2 BÀI GI ẢNG HÓA HỌC 8

1.3 M Ở ĐẦU BÀI GIẢNG 12

1.4 C ỦNG CỐ BÀI GIẢNG 19

1.5 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI TRONG D ẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT 25

1.6 M ỤC TIÊU, NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC LỚP 11 THPT 34

1.7 ĐỔI MỚI PPDH 36

CHƯƠNG 2 MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI TRONG DẠY H ỌC HÓA HỌC LỚP 11 THPT THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI 39 2.1 NGUYÊN T ẮC THIẾT KẾ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI 39

Trang 4

2.2 QUY TRÌNH THI ẾT KẾ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI

GI ẢNG 43

2.3 PH ẦN MỞ ĐẦU MỘT SỐ BÀI HÓA HỌC LỚP 11 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI 45

2.4 PH ẦN CỦNG CỐ MỘT SỐ BÀI HÓA HỌC LỚP 11 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI 66

2.5 M ỘT SỐ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 96

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 107

3.1 M ỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 107

3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 107

3.3 TI ẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 108

3.4 K ẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 110

3.5 BÀI H ỌC KINH NGHIỆM VỀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HI ỆU QUẢ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ 116

K ẾT LUẬN 121

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 124

PH Ụ LỤC 1

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ quan tâm đến một số kĩ năng dạy học 26

Bảng 1.2 Mức độ sử dụng các hình thức vào bài 27

Bảng 1.3 Một số khó khăn khi mở đầu bài giảng 28

Bảng 1.4 Mức độ sử dụng các hình thức củng cố bài 29

Bảng 1.5 Một số khó khăn khi củng cố bài giảng 30

Bảng 1.6 Tác dụng phát huy tính tích cực của các phương pháp dạy học khi mở đầu và củng cố bài 31

Bảng 1.7 Mức độ nắm vững các PPDH khi mở đầu và củng cố bài 32

Bảng 1.8 Mức độ khả thi khi sử dụng các PPDH trong mở đầu và củng cố bài 33

Bảng 2.1 Hình thức mở đầu một số bài học hóa học lớp 11 THPT 45

Bảng 2.2 Hình thức củng cố một số bài học hóa học lớp 11 THPT 67

Bảng 2.3 So sánh TCHH của CO và CO2 75

Bảng 2.4 So sánh TCHH của CO2 và SO2 77

Bảng 2.5 Nhận biết : CO, CO2, SO2, H2 77

Bảng 2.6 Nhận biết : NaNO3, Na2CO3, Na2SiO3, NH4Cl 78

Bảng 2.7 So sánh đồng đẳng và đồng phân 79

Bảng 2.8 So sánh Ankan và Anken 84

Bảng 2.9 So sánh Anken và Ankađien 86

Bảng 2.10 So sánh TCHH Benzen, Alkylbenzen,Stiren 90

Bảng 2.11 So sánh Anđehit và Xeton 94

Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm và đối chứng 108

Bảng 3.2 Nội dung thực nghiệm 108

Bảng 3.3 Các tham số đặc trưng kết quả bài kiểm tra 111

Trang 7

Bảng 3.4 Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy lớp 11CB4 và 11CB2

(bkt1) 111

Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả học tập lớp 11CB4 và 11CB2 ( btk 1) 112

Bảng 3.12 Các tham số đặc trưng kết quả bài kiểm tra 2 113

Bảng 3.13 Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy lớp 11CB4 và 11CB2 ( bkt 2) 113

Bảng 3.14 Tổng hợp kết quả học tập lớp 11 CB4 và 11CB2 ( bkt 2) 114

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Cấu trúc của bài giảng 8

Hình 1.2 Mối liên quan giữa hidrocacbon, rượu, andehit và axit cacboxylic 16

Hình 2.1 Xvante Areniuyt 44

Hình 2.2 Mô phỏng thí nghiệm tính dẫn điện của dd NaCl 45

Hình 2.3 Joseph Priestly 49

Hình 2.4 Photpho thường có trong Xương 52

Hình 2.5 Que diêm 53

Hình 2.6 Nến màu 57

Hình 2.7 Lốp xe 59

Hình 2.8 Giấc mơ của Kê-ku-lê 61

Hình 2.9 Cấu tạo vòng benzen 61

Hình 2.10 Trò chơi ô chữ bài “An đehit – Xeton” 64

Hình 2.11 HCOOH có trong Kiến 65

Hình 2.12 Sơ đồ củng cố bài “ Sự điện li” 67

Hình 2.13 Sơ đồ Grap củng cố bài “Nitơ” 70

Trang 8

Hình 2.14 Sơ đồ chuyển hóa củng cố bài “Nitơ” 70

Hình 2.15 Sơ đồ chuyển hóa củng cố bài “Amoni và muối amoniac” 70

Hình 2.16 Sơ đồ chuyển hóa củng cố bài “Axit nitric và muối nitrat” 73

Hình 2.17 Sơ đồ Grap củng cố bài “Axit nitric và muối nitrat” 74

Hình 2.18 Sơ đồ Grap củng cố TCHH Cacbon 75

Hình 2.19 Sơ đồ Grap củng cố TCHH của Muối Cacbonat 77

Hình 2.20 Sơ đồ Grap củng cố TCHH của Silic và các hợp chất của Silic 78

Hình 2.21 Sơ đồ Grap bài “Ankan” 80

Hình 2.22 Sơ đồ Grap TCHH “Anken” 82

Hình 2.23 Sơ đồ Grap TCHH “Ankađien” 84

Hình 2.24 Sơ đồ Grap TCHH “Ankin” 86

Hình 2.25 Sơ đồ Grap TCHH của Benzen 89

Hình 2.26 Sơ đồ Grap TCHH hóa học của Ancol 92

Hình 2.27 Sơ đồ Grap TCHH của Anđehit và Xeton 93

Hình 2.28 Sơ đồ Grap TCHH của Axit cacboxylic 94

Hình 3.1 Đồ thị đường tích lũy lớp 11CB4 và 11CB2 – bkt 1 110

Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả học tập của lớp 11CB4 và 11CB2– btk 1 110

Hình 3.9 Đồ thị đường tích lũy lớp 11CB4 và 11CB2 – bkt 2 114

Hình 3.10 Biểu đồ so sánh kết quả học tập lớp 11CB4 và 11CB2- bkt 2 114

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI

Trong vòng 10 năm gần đây, giáo dục Việt Nam đã và đang chú trọng nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Để nâng cao hiệu quả dạy và học bộ môn Hoá học ở trường phổ thông, người giáo viên ngoài việc khắc sâu kiến thức trọng tâm trong mỗi bài giảng còn phải biết khơi dậy niềm hăng say và hứng thú học tập cho học sinh ngay từ đầu tiết học

Ấn tượng đầu tiên là rất quan trọng Mỗi bài học đều cần có phần mở đầu thuyết phục vì ba phút mở đầu sẽ dẫn dắt cả buổi học Nhưng làm thế nào để mở đầu bài giảng được hay và hấp dẫn? Đó là một vấn đề khó đối với các giáo viên trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm Một sự khởi đầu thú vị, hấp dẫn sẽ giúp phá vỡ những lo lắng, e ngại tạo nên sự thân thiện giữa giáo viên và học sinh Các em học sinh sẽ phát huy được tính tích cực, sáng tạo và hứng khởi khi bắt đầu vào bài học mới Chỉ khi nào

có sự chuẩn bị sẵn sàng, học sinh mới có thể học tốt

Bên cạnh đó, các thầy cô còn quan tâm đến vấn đề làm thế nào để đáp ứng yêu cầu “vào lớp thuộc bài, ra lớp hiểu bài” đối với bộ môn hóa học? Và làm thế nào để tác động đến tư duy tích cực của học sinh, giúp các em học được cách vận dụng những tri thức đã tiếp thu vào cuộc sống ? Một bài giảng dù hay và hấp dẫn đến đâu, nếu không có khâu củng cố thì chưa thể coi là tiết dạy tốt Theo N.M IACÔPLEP

“Củng cố bài là một khâu không thể thiếu trong quá trình giảng dạy Nó thể hiện được tính toàn vẹn của bài giảng Thông qua việc củng cố, ôn luyện mà giáo viên có thể khắc sâu kiến thức cho học sinh” Mở đầu bài giảng và củng cố bài giảng là những yếu tố góp phần quyết định tính toàn vẹn của bài học Tùy theo mục tiêu, nội dung của bài học, năng lực của học sinh và năng lực của bản thân người giáo viên

mà họ có sự lựa chọn cách mở đầu và củng cố bài thích hợp

Qua thực tế tìm hiểu, trò chuyện với một số giáo viên và dự giờ tại trường THPT

đã thực tập, tôi nhận thấy không ít giáo viên chưa quan tâm đến khâu mở đầu bài giảng, chưa thấy hết tác dụng của việc củng cố bài và thường bỏ qua hay làm một

Trang 10

cách chiếu lệ, hình thức Nhận thức được tầm quan trọng của hai yếu tố này trong

giảng dạy môn hoá học, tôi đã chọn đề tài “THIẾT KẾ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ

CỦNG CỐ BÀI GIẢNG MÔN HOÁ HỌC LỚP 11 THPT THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI ” cho khóa luận tốt nghiệp đại học của mình

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thiết kế phần mở đầu và củng cố bài lên lớp theo hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học hóa học ở lớp 11 trung học phổ thông (THPT)

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc mở đầu và củng cố bài giảng hóa học

- Điều tra thực trạng về việc mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học ở

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của đề tài

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu:

Việc thiết kế, sử dụng phần mở đầu và củng cố bài môn hóa học lớp 11 ở trường THPT theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

- Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông

Trang 11

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Nội dung nghiên cứu: thiết kế phần mở đầu và củng cố bài lên lớp hóa học lớp

11 ban cơ bản THPT theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

- Địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT ở tỉnh Kiên Giang

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2012 đến tháng 5/2013

6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu thiết kế và sử dụng tốt phần mở đầu và củng cố bài sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên; phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập,

nâng cao mức độ hứng thú đồng thời khắc sâu kiến thức cho học sinh

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

+ Tham khảo tài liệu sách, báo, tạp chí chuyên nghành, truy cập thông tin trên internet

+ Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết và nội dung của đề tài

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phát phiếu điều tra các giáo viên phổ thông về việc mở đầu và củng cố bài lên lớp, trên cơ sở đó đề xuất một số hình thức mở đầu và củng cố bài có hiệu quả

+ Phương pháp quan sát

+ Thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

- Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận của việc mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học ở trường THPT

Trang 12

- Xây dựng nguyên tắc, qui trình thiết kế phần mở đầu và củng cố bài theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

- Thiết kế phần mở đầu và củng cố bài lên lớp môn hóa học lớp 11 THPT theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

- Thiết kế một số bài lên lớp hóa học lớp 11 có sử dụng phần mở đầu và củng

cố bài đã thiết kế

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các giáo trình, tài liệu viết về mở đầu và củng cố bài giảng

Về vấn đề mở đầu và củng cố bài đã có một số các tài liệu sau đây:

• Trịnh Văn Biều (2005), Các phương pháp dạy học hiệu quả, Trường ĐHSP

TP.HCM [9]

Đây là tài liệu dành cho sinh viên khoa Hóa ĐHSP năm thứ 3 và 4 nhằm giúp

SV nâng cao hiệu quả dạy học Tài liệu gồm những nội dung sau:

- Giới thiệu những tư tưởng mới nhất về phương pháp dạy học hiện nay ở nước ta và trên thế giới

- Nghiên cứu bài lên lớp hóa học, cấu trúc bài giảng và các bước lên lớp Trong phần này, tác giả có đề cập đến mở đầu và củng cố bài như nhiệm vụ, những

gợi ý về các hình thức mở đầu và củng cố bài có thể sử dụng

- Nghiên cứu các vấn đề tâm lí giáo dục học có liên quan đến việc nâng cao

hiệu quả bài lên lớp hóa học

- Trình bày những nội dung cơ bản về phương tiện dạy học, việc sử dụng một

số phương tiện dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài lên lớp hóa học

Tài liệu trên đây cung cấp những tư liệu, những gợi ý cần thiết giúp sinh viên trao đổi thực hành, thảo luận qua đó mở rộng thêm vốn hiểu biết và rèn luyện các năng lực sư phạm

thông tập II, NXB Giáo dục, người dịch Nguyễn Hữu Chương, Phạm

Trang 14

việc củng cố bằng thí nghiệm Tài liệu luôn có ví dụ minh họa đa dạng cho các môn

học giúp độc giả dễ hình dung hơn về các hình thức củng cố

• R.G.IVANOVA (1984), Bài giảng hóa học trong nhà trường phổ thông,

NXB Giáo dục, người dịch Đỗ Tất Hiển [25]

Trong tài liệu này, tác giả thực nghiệm sư phạm ở các lớp IX trường số 156 Matxcơva trong các năm học 1967 – 1968, 1968 – 1969, với mục đích so sánh bốn cách tiến hành mở đầu bài giảng nhằm làm sáng tỏ các phương pháp được vận dụng

ở phần mở đầu có ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình và hiệu quả bài giảng; chính xác hóa những mặt ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp vận dụng nhằm mục đích giúp HS tiếp thu kiến thức mới tốt nhất

1.1.2 Các đề tài nghiên cứu về mở đầu và củng cố bài giảng

Cho đến nay, đề tài về mở đầu và củng cố bài chưa được nghiên cứu nhiều Ở ĐHSP TP.HCM chỉ có một khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu đề tài trên và một số

tiểu luận môn học của các học viên cao học

• KLTN: “Nghiên cứu thực trạng các hình thức mở đầu và củng cố bài trong dạy học hóa học ở trường THPT”, Phạm Ngọc Thùy Linh, sinh viên

khoá 1998 - 2002

Trong đề tài nghiên cứu, tác giả đã:

- Hệ thống lí luận về bài giảng và các bước lên lớp, đặc điểm, vai trò, tác

dụng, những yêu cầu khi mở đầu và củng cố bài giảng hóa học

- Tác giả đã sử dụng các phương pháp điều tra như: phiếu thăm dò ý kiến 57 giáo sinh hóa 4A và 4B, phỏng vấn, dự giờ các GV THPT, xem băng ghi hình Khảo sát được mức độ quan tâm, rèn luyện và sử dụng một số hình thức mở

đầu và củng cố bài đối với giáo sinh và một số giáo viên ở các trường THPT Hình

thức mở đầu, củng cố bài phổ biến nhất mà giáo sinh và các giáo viên sử dụng, một

số khó khăn gặp phải khi tiến hành các công việc trên lớp

Trang 15

- Đề tài cũng đã đề xuất được một số hình thức mở đầu và củng cố bài trong chương trình hóa học lớp 10, 11,12 thông qua việc thu thập, tham khảo ý kiến của các thầy cô, qua dự giờ và xem một số băng ghi hình các giờ dạy thành công ở các trường THPT nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của bài lên lớp Đồng thời giúp sinh viên trước khi đi TTSP có thể làm quen, tiếp xúc với một số hình thức mở đầu và củng cố bài có hiệu quả

- Đây là tài liệu thiết thực cho sinh viên và giáo viên trong việc rèn luyện kĩ năng dạy học, tuy nhiên vì công việc chính của đề tài là điều tra thực trạng nên chưa có phần thiết kế giáo án và thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu

quả của việc mở đầu và củng cố Bên cạnh đó khi thết kế các phần mở đầu và củng

cố bài, tác giả chỉ đưa ra minh họa ở lớp 10, 11 hoặc 12, chứ không đi vào chương nào hay lớp nào cụ thể

Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “ Mở đầu và củng cố bài giảng hóa học lớp

10 theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học”, Phan Thị Thùy Trang,

Lớp cao học K20 (2011)

học hóa học của học viên cao học chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học hóa học trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh dưới đây:

- Đặng Thị Duyên (2010), Kĩ năng vào bài, Lớp cao học K19

- Nguyễn Trí Ngẫn (2010), Củng cố hệ thống kiến thức, Lớp cao học K19

- Tô Quốc Anh (2010), Củng cố hệ thống kiến thức, Lớp cao học K19

- Nguyễn Vinh Quang (2010), Kĩ năng vào bài, Lớp cao học K19

- Lại Tố Trân (2008), Kĩ năng vào bài, Lớp cao học K17

 Các tiểu luận trên của các học viên cao học, mỗi tiểu luận khoảng từ 20-25 trang, nêu được một số lí luận và các minh họa cụ thể cho bài dạy Do giới hạn ít ỏi

của một tiểu luận môn học mà các tác giả chưa có điều kiện đi sâu vào các phần lí

luận, thực trạng cũng như không thể thực nghiệm sư phạm được

Trang 16

Nhận xét chung: Các đề tài nghiên cứu về phần mở đầu và củng cố bài còn rất

ít Tuy nhiên các tài liệu nêu trên là những tài liệu quý, có giá trị cả về lí luận lẫn

thực tiễn từ đó rút ra được nhiều bài học bổ ích, những gợi ý quan trọng

Tham khảo một số trang web – diễn đàn giáo viên thì thấy rất ít thậm chí không có các bài viết, trao đổi về mở đầu và củng cố Điều này chứng tỏ phần mở đầu và củng cố bài còn ít được quan tâm, chú ý

1.2 BÀI GIẢNG HÓA HỌC

1.2.1 Khái niệm bài giảng

Theo R.G IVANOVA [25], bài giảng là một hình thức dạy học tập thể cơ bản, chính yếu ở trường THPT Nó là một quá trình sơ đẳng, toàn vẹn, đa cấu trúc

Nói đến khái niệm bài giảng có nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau Theo cách nhìn của người thầy trong phương pháp dạy học truyền thống có thể cho rằng đây là một quá trình truyền thụ kiến thức cho học sinh Ngược lại đứng dưới góc độ nhận thức của học sinh quá trình này chính là sự tiếp thu, vận dụng và tái hiện kiến thức Một cách tổng quát, bài giảng được xem là một đoạn hoàn chỉnh của quá trình dạy học trong một thời lượng xác định Bài giảng là một phần của toàn bộ quá trình dạy

học

Sự toàn vẹn trong bài giảng hóa học là sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa

ba thành phần: mục đích, nội dung, phương pháp, giáo viên và học sinh dưới tác động của môi trường dạy học Thông qua bài giảng, dưới sự điều khiển sư phạm của người giáo viên, học sinh có thể tự giác, tích cực tự lực lĩnh hội tri thức Để làm được điều này, người giáo viên trước hết phải phối hợp tốt các yếu tố: mục đích, nội dung, phương pháp dạy học thể hiện trong bài giảng đó Không chỉ thế còn vận dụng tốt các khâu, các bước của bài lên lớp nhằm kích thích, khơi dậy niềm hăng say hứng thú học tập cho học sinh, chuẩn bị cho các em điều kiện tố nhất để lĩnh hội

và khắc sâu tri thức

Hóa học là một môn học mang tính trừu tượng, bởi thế bài học hóa học luôn mang những đặc điểm riêng, đặc thù Nó được qui định bởi các yếu tố nội dung, phương pháp đa dạng phù hợp với mục đích dạy học Chính vì lẽ đó mà học sinh có

Trang 17

thể phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan khoa học và rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo từ những bài giảng hóa học

Nói tóm lại bài giảng hóa học là một phần của toàn bộ quá trình dạy học hóa học Qua đó người giáo viên giúp học sinh có cách làm việc khoa học, có phương pháp lĩnh hội kiến thức tốt, có khả năng tư duy sáng tạo và thêm yêu mến bộ môn

1.2.2 Phâ n loại bài giảng

Có nhiều cách phân loại bài giảng hóa học tuỳ theo mục đích, nội dung hoặc phương pháp mà nó thể hiện

Theo R.G IVANOVA [25] khi nghiên cứu về lí luận các phương pháp dạy học đã phân bài giảng thành ba loại hình (kiểu) khác nhau Mỗi một kiểu lại bao gồm nhiều khâu riêng biệt

Nhằm giúp học sinh tri giác tài liệu mới, bước đầu hiểu rõ tài liệu này, phát

hiện và nắm được ý nghĩa của các mối liên hệ và quan hệ trong đối tượng nghiên

cứu Trong những bài giảng kiểu này khâu học sinh thu nhận kiến thức và kĩ năng mới là khâu cơ bản, còn các khâu khác được thực hiện trong mối quan hệ tương hỗ với khâu chủ yếu

Nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc những kiến thức đã học, đưa kiến thức đã lĩnh hội vào một hệ thống thống nhất, đồng thời rèn luyện kĩ năng ứng dụng kiến

thức vào những tình huống mới Đây là những kiểu bài giảng có mục đích ôn tập và củng cố kiến thức hoặc khái quát và hệ thống hóa kiến thức Các bài giảng này giống nhau vì có cùng bản chất

Mỗi một loại bài giảng đều có các khâu, các bước thể hiện mục đích dạy học riêng biệt Thực tế hiện nay thường gặp nhất là các kiểu bài 1 và 2, bởi vì nó thể hiện được sự liên hệ giữa các khâu trong quá trình giảng dạy một cách rõ ràng nhất

Trang 18

Mục đích xác dịnh trình độ lĩnh hội kiến thức, trình độ hình thành kĩ năng, kĩ

xảo Củng cố và hệ thống hóa kiến thức Sửa chữa, uốn nắn kiến thức, kĩ năng, kĩ

xảo

1.2.3 Cấu trúc bài giảng

Cấu trúc của bài giảng là tổ hợp của năm thành tố cơ bản của quá trình dạy học luôn luôn tương tác với nhau dưới tác động của môi trường dạy học và tạo nên một thể thống nhất, toàn vẹn

Hình 1.1 Cấu trúc của bài giảng

Trong bài giảng có sự thống nhất chặt chẽ của những mặt cấu trúc sau:

- Cấu trúc của mục đích dạy học (mục đích bộ ba: trí dục, phát triển, giáo dục)

- Cấu trúc logic của nội dung trí dục của bài giảng

- Cấu trúc quy trình các bước của bài giảng

- Cấu trúc về phương pháp dạy học, sự tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh

Bài giảng hóa học là phương thức giúp học sinh lĩnh hội, khắc sâu kiến thức

và phát triển tư duy sáng tạo, là hình thức rèn luyện các kĩ năng học tập nhất là khả năng lĩnh hội các kiến thức kĩ thuật tổng hợp Điều này thể hiện rất rõ thông qua

Trang 19

– Trên đây chỉ mới nêu những kiểu cơ bản của bài giảng hóa học và các cấu trúc điển hình của nó Thực tiễn lý luận dạy học càng phát triển thì kiểu và cấu trúc của bài giảng hóa học càng phát triển phong phú

– Cấu trúc bài giảng luôn đa dạng và linh hoạt Điều quan trọng cần nắm vững

đó là: cấu trúc bài giảng phải tuân theo quy luật về mối liên hệ mục đích – nội dung – phương pháp – giáo viên – học sinh, và chú ý tới những quy luật riêng của môn học và của đối tượng học sinh

– Không thể có một cấu trúc cứng nhắc, rập khuôn, bất biến cho mọi kiểu bài giảng

1.2.4 Mở đầu và củng cố bài trong cấu trúc bài giảng

1.2.4.1 M ở đầu bài giảng trong cấu trúc bài lên lớp

Theo N.M.IACÔPLEP [25], mở đầu bài giảng là khâu chuẩn bị cho học sinh tiếp nhận tri thức mới đồng thời ôn tập, củng cố lại kiến thức cũ ở các bài học trước

hướng dạy học tích cực được chuẩn bị theo các bước sau đây:

- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài

- Bước 2: Chuẩn bị thiết bị dạy học

- Bước 3: Xác định PPDH chủ yếu cho từng trọng tâm của bài

- Bước 4: Thiết kế các hoạt động của tiết lên lớp

- Bước 5: Cuối cùng là hoạt động kết thúc tiết học

 Như vậy mở đầu bài giảng được thiết kế ở bước 4

theo quá trình của tiết học có thể được phân thành:

- Hoạt động khởi động (mở đầu bài giảng): hoạt động này có thể là mở đầu có nêu mục tiêu của tiết học, kiểm tra bài cũ để nêu vấn đề của bài mới (Cần chú ý là

ho ạt động này rất quan trọng và nhất thiết phải có mỗi khi vào bài hoặc chuyển

ph ần, chuyển nội dung để gây hứng thú học tập.)

Trang 20

- Tiếp hoạt động khởi động là các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của bài

học về kiến thức, kỹ năng bao gồm: hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức mới, hoạt động củng cố, hoạt động để hình thành kỹ năng

 Vào bài là hoạt động đầu tiên trước khi bắt đầu bài mới

1.2.4.2 C ủng cố bài giảng trong cấu trúc bài lên lớp

Cấu trúc một bài lên lớp thường gồm 5 bước:

 C ủng cố là hoạt động cuối trước khi kết thúc bài mới

1.3 MỞ ĐẦU BÀI GIẢNG

1.3.1 Đặc điểm

Theo N.M.IACÔPLEP [25], không riêng gì bộ môn hóa học, bất kì bài học nào cũng được bắt đầu từ việc tổ chức sơ bộ bộ lớp học gồm những nhân tố như sau:

- Chào hỏi: Thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh

- Điểm danh: Thể hiện mối quan tâm của giáo viên đối với học sinh giúp các

em có ý thức hơn trong học tập đồng thời đảm bảo được tiến trình học tập cho học sinh

- Kiểm tra tình trạng bên ngoài của phòng học: Giúp học sinh giữ gìn sạch sẽ nơi làm việc chung của tập thể, giáo dục hành vi kỷ luật

Trang 21

- Kiểm tra địa điểm làm việc, tư thế làm việc, tác phong của học sinh: Chấn chỉnh những học sinh cẩu thả, ăn mặc không đúng qui định, tư thế, tác phong học tập chưa nghiêm túc Giáo dục cái nhìn chân, thiện, mĩ cho học sinh

- Tổ chức sự chú ý: Gây hứng thú đặc biệt đối với công việc Học sinh sẽ tham gia xây dựng bài tốt hơn, hiệu quả hơn Tránh tình trạng vào bài trong lúc học sinh chưa tập trung sự chú ý vì như thế mức độ tiếp thu tri thức sẽ rời rạc, có học sinh còn mải việc riêng mà không nghe được lời nói của giáo viên Như thế hiệu quả học tập sẽ thấp

- Kiểm tra bài cũ: Đây là khâu củng cố lại kiến thức đã học ở tiết trước Thông qua đó đánh giá phương pháp truyền đạt ở tiết trước Phát hiện những lỗ hổng kiến thức ở học sinh mà chấn chỉnh kịp thời

- Vào bài mới: Đây là khâu trọng tâm của phần mở đầu giúp học sinh hình dung công việc sẽ làm trong tiết học sắp tới Là một trong những khâu dễ kích thích học sinh hứng thú và hăng hái hơn trong học tập Tuy nhiên để gây ấn tượng và hiệu quả của phần mở đầu trong giờ lên lớp giáo viên nên linh hoạt trong việc thể hiện từng khâu, từng đoạn không nhất thiết phải đúng một trật tự như trên tránh gây nhàm chán, mất hứng thú khi vào bài Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua các khâu, các bước của phần mở đầu Ngày nay các giáo viên trẻ thường đánh giá thấp ý nghĩa của việc tổ chức sơ bộ và biến nó thành “nhân tố tổ chức” tiến hành một cách hình thức Điều này ngày càng làm cho mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh thêm có khoảng cách, học sinh ít tìm thấy hứng thú và yêu thích bộ môn

1.3.2 Nhiệm vụ của mở đầu bài giảng

Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều [9], ở khâu mở đầu bài giảng giáo viên có các nhiệm vụ sau:

- Giới thiệu mục đích bài học và các mục tiêu cần đạt được

- Giới thiệu những công việc sẽ làm, dàn ý nội dung bài học để học sinh chủ động, thuận lợi trong việc ghi nhớ

- Giới thiệu về tầm quan trọng ý nghĩa và những lợi ích của bài học, tạo động

cơ học tập

Trang 22

- Chuẩn bị cho học sinh tiếp thu tri thức mới: gây sự chú ý, kích thích tính tò mò ham hiểu biết, mong chờ được tiếp nhận tri thức, khơi dậy niềm hứng thú học tập và không khí vui vẻ thoải mái cho học sinh bước vào bài mới

1.3.3 Tác dụng của việc mở đầu bài giảng

Theo quan điểm của N.M.IACÔPLEP [23]:

- Mở đầu bài giảng là một trong những yếu tố quyết định tính toàn vẹn của bài

học, có tác dụng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho HS, tạo không khí hứng khởi

cho các em khi bắt đầu vào bài học mới

- Tổ chức sơ bộ lớp học nhằm đảm bảo hoàn cảnh bên ngoài bình thường đối

với công việc và ổn định về mặt tâm lý cho HS trước khi học bài mới

- Tạo không khí thân thiện, tôn trọng lẫn nhau giữa thầy và trò giúp cho bài học được tiến hành một cách nhẹ nhàng thoải mái

- Thể hiện sự quan tâm của GV đến tình hình lớp học thông qua việc kiểm tra sĩ

số và lí do vắng mặt của HS từ đó có biện pháp giúp đỡ các em nắm được bài học

và theo kịp bạn bè

- Chuẩn bị cho HS tiếp thu tri thức mới gây sự chú ý, kích thích tính tò mò ham

hiểu biết, mong chờ được tiếp nhận tri thức

- Củng cố lại kiến thức cho HS thông qua việc kiểm tra bài bằng các hình thức

đàm thoại, đặt câu hỏi, giải bài tập

- Đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho HS từ đó có phương pháp giảng dạy

thích hợp Ngoài ra còn rèn luyện cho HS cách diễn đạt, tái hiện lại những tri thức

đã tiếp thu

- Kiểm tra kiến thức và kỹ năng của một số HS để đánh giá tiết học Vận dụng

qui luật hướng đích giúp HS hình dung công việc của tiết học, nội dung trọng tâm cần phải nắm được trong giờ lên lớp đó

- Sử dụng các hình thức mở bài đa dạng tránh gây nhàm chán, lơ là trong học tập đối với HS Đặc biệt thông qua các phương tiện trực quan HS sẽ ngày càng

hứng thú và yêu thích bộ môn hơn

Trang 23

- Bằng việc liên hệ thực tế để vào bài giúp cho HS có hứng thú trong học tập, mong muốn giải thích được các hiện tượng thực tế xung quanh các em Ngoài ra

còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, thấy được mức độ quan trọng của việc ứng dụng

hóa học vào đời sống hằng ngày

 Một giờ học mở đầu tốt coi như đã thành công được một nửa

1.3.4 Những yêu cầu khi mở đầu bài giảng

Để một mở bài được thực hiện tốt GV phải rèn luyện nhiều thông qua một số yêu cầu sau:

- Nắm được tâm lý, trình độ HS:

+ Tạo không khí vui vẻ, thoải mái khi mới bắt đầu bước vào lớp học

+ Thông qua cử chỉ chào hỏi tạo cảm giác gần gũi, thân thiện từ phía HS

+ Thể hiện sự quan tâm đến các em thông qua việc điểm danh hỏi thăm lý do vắng mặt của HS (nếu có)

- Gây sự chú ý ngay từ đầu và duy trì suốt giờ học:

+ Nói to, chậm, nhắc lại nhiều lần các vấn đề trọng tâm, sử dụng các câu hỏi nêu vấn đề

+ Khi viết bảng thường gạch chân, đóng khung hoặc viết phấn màu các phần quan trọng, nhấn mạnh sự chú ý cho HS

+ Sử dụng các phương tiện trực quan để mở đầu bài giảng như: hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, thí nghiệm hoặc mô hình đôi khi là một đoạn video tùy từng loại bài giảng, tùy từng nội dung bài học và điều kiện vật chất của trường

+ Liên hệ thực tế, nói vui, nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết học, tập trung sự chú ý của HS

Nói tóm lại tùy từng nội dung giảng dạy, tùy từng trình độ học sinh, tùy vào điều kiện vật chất của từng trường mà giáo viên nên chọn các hình thức vào bài phù hợp Thậm chí phải phối hợp nhiều phương pháp nhằm gây hứng thú cho học sinh, tránh

sự lặp lại, nhàm chán Muốn vậy, người giáo viên phải không ngừng rèn luyện các

kỹ năng dạy học, các năng lực chuyên môn lẫn kiến thức xã hội giúp cho chất lượng bài giảng ngày càng phong phú và hiệu quả hơn

Trang 24

1.3.5 Một số hình thức mở đầu bài giảng

Đối với mỗi kiểu bài lên lớp, mỗi bài học cụ thể và thời gian cho phép, hình

thức mở đầu có khác nhau Không có kiểu mở bài nào là tốt nhất Bí quyết thành công là sự đa dạng và sáng tạo Giáo viên có thể mở bài bằng cách làm một điều gì khác thường hay bất ngờ khiến cho học sinh phải ngạc nhiên Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều [9], có thể kể ra 7 kiểu mở đầu sau:

Giáo viên dẫn dắt từ kiến thức bài cũ sang bài mới bằng mối liên hệ logic hoặc

đi từ kiến thức tổng thể chung đến kiến thức bộ phận của bài học

VD:

đơn giản bằng cách dẫn dắt từ bài trước: “Tiết trước, chúng ta đã học xong bài

“NITƠ” Hôm nay, cô và các em sẽ cùng tìm hiểu thêm những hợp chất quan trọng

của nitơ đó là: “ Amoniac và muối amoni””

Kể một câu chuyện, một mẩu chuyện vui (có liên quan đến bài chuẩn bị dạy)

rồi từ kiến thức trong câu chuyện dẫn vào bài học

VD:

Có thể kể chuyện về lịch sử ra đời của axetilen để vào bài “ANKIN” GV cung cấp thêm: “Axetilen là chất đầu tiên trong dãy đồng đẳng của Ankin Hôm nay, cô và các em sẽ cùng nhau tìm hiểu về Ankin qua bài học cùng tên”

Giáo viên qua một câu chuyện, một ví dụ thực tế rồi dẫn dắt vào bài mới Kiểu vào bài này giúp cho học sinh có hứng thú trong học tập, mong muốn giải thích được các hiện tượng xung quanh các em Ngoài ra nó còn làm cho học sinh yêu thích môn học do thấy mức độ quan trọng của hóa học trong đời sống hằng ngày

Trang 25

VD:

vào bài bằng câu hỏi: Hãy giải thích hiện tượng sau:

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên’’

Cho học sinh xem những vật thật, mô hình, bức tranh hay bằng thí nghiệm hóa

học, thường tạo nên những ấn tượng mạnh Thông qua các phương tiện trực quan

học sinh sẽ ngày càng hứng thú và yêu thích bộ môn hơn

VD:

Khi giảng dạy phần hiđrocacbon lớp 11, giáo viên có thể sử dụng mô hình phân tử để vào bài

Giáo viên đặt một câu hỏi thách đố, khêu gợi trí tò mò sau đó dẫn dắt vào bài

mới: “ Để trả lời câu hỏi trên chúng ta hãy nghiên cứu bài ’’

VD:

Khi dạy bài “CACBON” có thể đặt câu hỏi vào bài như sau: “Tại sao than chì

rất mềm còn kim cương lại rất cứng, mặc dù chúng đều cấu tạo từ cacbon ?”

Gọi học sinh trả lời câu hỏi hay giải bài tập (đứng tại chỗ hoặc lên bảng) rồi từ

kiến thức trong nội dung kiểm tra dẫn vào bài học

Trang 26

C2H4  C2H6  C2H5Cl  C2H5OH  CH3CHO 

Sau đó, GV gọi một HS khác dựa vào chuỗi biến hóa trên ghi thành sơ đồ tổng quát:

Hình 1.2 M ối liên quan giữa hidrocacbon, rượu, andehit và axit cacboxylic

Cho cả lớp giải một bài tập hay thực hiện một nhiệm vụ rồi dẫn dắt vào bài

giảng

VD:

Khi dạy bài “PHENOL’’, GV có thể đưa ra một bài tập cho cả lớp làm

Hãy chỉ ra sự khác nhau giữa các hợp chất dưới đây:

OH

(D)

GV tiếp nhận câu trả lời của HS và cung cấp cho HS: (A), (B), (D) có nhóm

-OH liên kết trực tiếp với vòng benzen còn (C) thì nhóm - OH không liên kết trực

D ẫn xuất

halogen

Rượu (Nếu là R-CH 2 OH) Hidro hóa

Andehit R-CH=O

Axitcacboxylic

R-COOH

Hirocacbon

no

Trang 27

tiếp với vòng benzen, (C) là ancol thơm Ba hợp chất còn lại được gọi là Phenol

Từ đó, GV dẫn dắt vào bài “PHENOL’’

+ Sơ bộ ôn luyện những kiến thức trọng tâm của bài

+ Giáo viên vận dụng các phương pháp thích hợp để khắc sâu kiến thức

và mang lại hứng thú học tập cho học sinh

Nhìn chung vấn đề củng cố bài không chỉ dừng lại trong một tiết học Việc

củng cố thường được lặp lại ở những bài học tiếp theo với nội dung kiến thức tương

tự hoặc bổ sung cho nhau

• Củng cố bước đầu và củng cố tiếp theo

Củng cố tiếp theo nhằm mục đích khắc sâu kiến thức trọng tâm cho học sinh đồng thời kiểm tra học sinh lĩnh hội tài liệu một cách có ý thức hay không Có nhiều

học sinh hiểu bài nhưng không vận dụng được vào thực tế, giải bài tập, do đó giáo viên không chỉ củng cố sơ bộ trong một tiết học mà còn phải củng cố tiếp theo VD: Dạng bài tập lập công thức phân tử của các hợp chất hữu cơ cứ lặp đi lặp

lại trong chương trình hóa học lớp 11 và hóa học lớp 12

Củng cố tiếp theo được thực hiện bằng kiểm tra thường kì các kiến thức đã

học Thông qua:

- Khi nghe bạn trả lời, HS tái hiện bài học trong trí nhớ và sửa chữa những

nhận thức sai của mình

Trang 28

- Khi làm bài kiểm tra viết, làm thí nghiệm

- Tiếp thu tri thức mới trên nền tảng kế thừa tri thức cũ Giáo viên dựa vào

những điều đã học để ôn tập thì hiệu quả của việc củng cố sẽ được nâng lên Như

vậy tri thức cũ sẽ là nền tảng để tiếp thu tri thức mới, còn cái mới lại là sự mở rộng đào sâu từ cái cũ Nhờ đó tri thức mà học sinh tiếp nhận sẽ logic chặt chẽ hơn

- Các quá trình học tập ngoài lớp như: quan sát và giải thích các hiện tượng trong cuộc sống, tham quan các quy trình sản xuất

• Củng cố giản đơn và củng cố phát triển

Nếu củng cố chỉ được tiến hành bằng sự tái hiện giản đơn, không có một cái gì

mở rộng thì sẽ dẫn đến sự ghi nhớ những điều đã học một cách thô sơ (củng cố giản đơn) Vì vậy khi củng cố, GV có thể hệ thống hóa kiến thức đồng thời kết hợp mở rộng thêm vốn hiểu biết của học sinh (củng cố phát triển)

1.4.2 Nhiệm vụ của củng cố bài giảng

Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều [9], củng cố bài giảng phải thực hiện được một

số nhiệm vụ sau:

• Xác định và làm rõ trọng tâm bài học

• Nhắc lại kết hợp với mở rộng những kiến thức cơ bản

Nhắc lại (có thể kết hợp mở rộng) những kiến thức cơ bản để HS nhớ lâu Tuy nhiên, củng cố không chỉ đơn giản nhắc lại kiến thức hoặc giúp học sinh mau nhớ bài Người giáo viên ngoài củng cố sơ bộ nội dung bài học còn mở rộng và

củng cố tiếp theo tri thức mà học sinh vừa lĩnh hội

• Tập cho học sinh vận dụng kiến thức đã học

Nhìn lại nhiệm vụ giáo dục tổng thể, giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức cho học sinh mà còn dạy các em cách tìm lấy tri thức, cách nghiên cứu, vận dụng

những tri thức vào cuộc sống để ứng dụng và giải thích được một số hiện tượng

thực tế xung quang các em Có những vấn đề mặc dù học sinh hiểu nội dung lý thuyết nhưng khi ứng dụng giải bài tập thường lúng túng hoặc mắc phải sai phạm

Trang 29

• Hệ thống hóa kiến thức

Nâng cao tính tích cực và khả năng tư duy sáng tạo của học sinh

1.4.3 Tác dụng của việc củng cố bài giảng

Theo N.M.IACÔPLEP [23], củng cố bài là một khâu không thể thiếu trong quá trình giảng dạy Nó thể hiện được tính toàn vẹn của bài giảng Thông qua việc củng

cố, ôn luyện mà giáo viên có thể khắc sâu kiến thức cho học sinh

Bài giảng dù hay, hấp dẫn đến đâu nếu không có củng cố thì chưa thể coi là

dạy tốt Bởi vì nếu không củng cố thì bài không sâu, học sinh dễ quên Củng cố là giai đoạn giáo viên chốt lại những tri thức và kĩ năng quan trọng đã truyền thụ, đồng

thời đây là khâu hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy, sáng tạo cho

học sinh Vì vậy nó là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá tiết dạy tốt

Có không ít giáo viên chưa thấy hết tác dụng của củng cố thường bỏ qua hay làm

một cách chiếu lệ Thực tế dạy học đã chứng minh thông qua củng cố sẽ giúp học sinh:

- Ghi nhớ tốt các kiến thức đã học Việc nhắc lại kiến thức khi cũng cố giúp ích

rất nhiều cho sự ghi nhớ

- Nắm bài (kiến thức trọng tâm, những ý chính của bài học) một cách vững

chắc hơn

- Hệ thống hóa kiến thức đã học

- Rèn luyện kĩ năng vận dụng tri thức mới vào thực tế học tập, sản xuất và đời

sống, giải thích một số hiện tượng thực tế đang diễn ra hằng ngày

- Bằng các câu hỏi, bài tập để củng cố bài giáo viên sẽ rèn luyện cho học sinh cách diễn đạt, trả lời và tái hiện những nội dung mà các em đã lĩnh hội Học sinh sẽ

học tập hiệu quả hơn

- Củng cố bài thường xuyên còn giúp giáo viên đánh giá được chất lượng bài

giảng, mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh, từ đó có biện pháp bổ sung và sửa

chữa kịp thời phương pháp lên lớp của mình

Trang 30

1.4.4 Những yêu cầu sư phạm khi củng cố bài giảng

Thời gian dành cho củng cố trong một tiết học là 5 phút do đó người giáo viên cần linh hoạt và thành thạo ở khâu này nhằm đạt hiệu quả dạy học tốt nhất Điều này đòi hỏi người giáo viên phải rèn luyện, trau dồi các kĩ năng dạy học của mình,

cụ thể như:

- Xác định đúng trọng tâm kiến thức, mục tiêu của bài học để xây dựng câu hỏi củng cố Các câu hỏi củng cố phải phong phú, đa dạng phù hợp với từng trình độ của học sinh, phải kích thích được sự tư duy của học sinh

- Nắm vững tâm lí và trình độ học sinh nhằm đưa ra hình thức củng cố hiệu quả nhất

- Sưu tầm, sáng tạo những hình thức củng cố phải mới lạ để kích thích ứng thú học tập của học sinh

- Có thể sử dụng phương pháp họat động nhóm để củng cố

- Rèn luyện thao tác thí nghiệm sử dụng để củng cố

- Thiết lập các sơ đồ tư duy theo phương pháp grap hoặc dùng các phần mềm thiết lập sơ đồ tư duy để học sinh nhanh nhớ bài hơn

- Sưu tầm các hình ảnh, sáng tạo các hình vẽ liên quan đến nội dung bài học

- Tự trau dồi và liên tục cập nhất những kiến thức mới những vấn đề thực tế đời sống liên quan đến bài học

- So sánh với những kiến thức cũ nhằm giúp HS hiểu bài kỹ, nhớ bài lâu hơn

1.4.5 Một số hình thức củng cố bài giảng

Củng cố không đơn thuần là lặp lại những vấn đề đã trình bày, nếu lặp lại nguyên si thì học sinh sẽ mau chán Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều [9] có thể củng

cố dưới các hình thức sau:

VD: Khi dạy bài “ANĐEHIT” để củng cố bài học giáo viên yêu cầu học sinh

nhắc lại tính chất hóa học của ANĐEHIT (vừa thể hiện tính chất khử vừa thể hiện

Trang 31

tính oxh) Giáo viên yêu cầu học sinh viết 2 phương trình phản ứng hóa học chứng minh Anđehit thể hiện tính chất khử và thể hiện tính oxi hóa (lấy ví dụ mới, không trùng với những phản ứng đã trình bày)

VD: Khi giảng bài kể một câu chuyện, dừng lại khi vấn đề tương đối trọn vẹn Khi củng cố kể lại thêm một đoạn mới

ưu điểm của thuyết Bronsted?

VD: Khi dạy bài “ANKEN”, để củng cố bài giáo viên yêu cầu học sinh cho

biết mối liên hệ về số mol của CO2 và H2O trong phản ứng cháy Học sinh sẽ trả

lời: số mol CO2 bằng số mol H2O Giáo viên đặt câu hỏi ngược lại: “Nếu đốt cháy

một hidrocacbon mà số mol CO2 và H2O bằng nhau ta suy ra hidrocacbon đó là anken được không?” Giáo viên dẫn dắt học sinh trả lời đúng câu hỏi này sẽ giúp các em nhớ bài lâu hơn: “Không được vì có thể là anken nhưng cũng có thể là xicloankan, chỉ có thể kết luận CTPT của hidrocacbon là CnH2n mà thôi”

VD: Khi dạy bài “ANKIN” để củng cố bài GV đặt hệ thống câu hỏi:

a Công thức cấu tạo của anken và ankin khác nhau như thế nào?

Trang 32

b Ankin tham gia những phản ứng hóa học của? Phản ứng nào là phản ứng đặc trưng?

c Điều kiện để một ankin tham gia phản ứng thế với AgNO3/NH3 là gì?

CHẤT ĐIỆN LI”, giáo viên củng cố bài học bằng cách ra một bài tập sau:

Viết phương trình phân tử và ion rút gọn của các phản ứng nếu xảy ra

Al2(SO4)3 + Ba(NO3)2 → FeS + HCl →

Na2CO3+ H2SO4 →

CH3COONa + H2SO4 →

VD: Khi dạy bài PHENOL, để củng cố bài học giáo viên yêu cầu học sinh so

Thông qua việc so sánh này học sinh sẽ nhớ bài lâu hơn

thể trong chương 2)

• Hình thức 10: Củng cố bằng hoạt động của người học: cho học sinh phát biểu những suy nghĩ, nhận thức của bản thân

VD: Khi dạy bài “PHENOL”, GV củng cố bài học bằng hoạt động của người

học như sau: “Hãy phân biệt 3 lọ mất nhãn ancol etylic, Glixerol, phenol?” HS dựa trên kiến thức đã học sẽ suy nghĩ và trình bày cách nhận biết 3 hợp chất trên

Các câu hỏi được chuẩn bị sẵn trên giấy hoặc dùng bản trong chiếu cho học sinh quan sát, cũng có thể tiến hành dưới hình thức kiểm tra viết ngắn rồi củng cố bài dựa trên những câu trả lời của học sinh Tất nhiên việc tiến hành trả lời và nhận

Trang 33

xét của giáo viên là công khai trước lớp để học sinh có thể thấy được những chỗ sai

của mình Đây cũng là cách giúp học sinh ghi nhớ tốt bài học

giải đáp

VD: Khi kết thúc bài “PHÂN BÓN HÓA HỌC”, giáo viên đặt câu hỏi về nhà cho học sinh suy nghĩ như sau:

Dùng kiến thức hóa học giải thích hai câu ca dao này:

“Lúa chiêm l ấp ló đầu bờ

H ễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”

1.5 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI

TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT

- Tìm hiểu mức độ sử dụng các hình thức mở đầu và củng cố bài giảng

- Tìm hiểu một số khó khăn khi vận dụng các hình thức mở đầu và củng cố bài trong giảng dạy hóa học

- Tìm hiểu một số hình thức mở đầu và củng cố bài có hiệu quả ở trường THPT hiện nay

- Đánh giá về tác dụng phát huy tính tích cực của các phương pháp dạy học khi mở đầu và củng cố bài của GV

- Mức độ nắm vững các phương pháp dạy học trong thực tế của GV

- Mức độ khả thi khi sử dụng các PPDH trong mở đầu và củng cố bài của GV

1.5.2 Đối tượng điều tra

Trang 34

- 36 SV Trường ĐHSP TPHCM, lớp Hóa KG khóa 34

tỉnh Kiên Giang

1.5.3 Phương pháp tiến hành

Tại lớp Hóa KG phát 36 phiếu và thu phiếu về 100%, xử lí kết quả

Tại Kiên Giang phát 12 phiếu và thu phiếu về 100%, xử lí kết quả

1.5.4 Kết quả điều tra

Thông qua 36 phiếu tham khảo ý kiến SVTT lớp Hóa KG, chúng tôi đã thu được kết quả thống kê trong các bảng từ 1.1 đến 1.5 (Các giá trị trong bảng được sắp xếp theo điểm trung bình từ cao đến thấp)

Cách tính điểm trung bình:

Điểm TB = (% RTX.4 + % TX.3 + % KTX.2 + % KKN.1) x 1001

Bảng 1.1 Mức độ quan tâm đến một số kĩ năng dạy học

Mức độ thường xuyên

Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Không thường xuyên (2)

Không khi nào (1)

Điểm

TB

a Xác định và làm rõ trọng tâm bài 63% 32% 5% 0% 3.58

Nh ận xét: So sánh mức độ của các công việc giáo viên thường chú ý khi giảng

dạy, chúng tôi nhận thấy việc xác định, làm rõ trọng tâm bài và sử dụng hệ thống

Trang 35

câu hỏi được các giáo viên quan tâm nhất, mở bài và củng cố bài là hai khâu ít được chú ý hơn Con số 22% giáo viên không thường xuyên chú ý đến việc mở đầu bài

giảng cho thấy hiện nay việc mở đầu bài giảng còn chưa được quan tâm đầy đủ Để

có một mở đầu hay, hấp dẫn không phải là điều dễ dàng đối với mọi giáo viên nhất

Thường xuyên (3)

Không thường xuyên (2)

Không khi nào (1)

Điểm

TB

a Từ bài cũ dẫn vào bài mới bằng mối

b Từ kiểm tra bài cũ dẫn vào bài mới 25% 65% 10% 0% 3.15

Nhận xét: Dựa vào kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy sử dụng hình thức

“Từ bài cũ dẫn vào bài mới bằng mối liên hệ logic” đạt điểm TB cao nhất là 3.28

Đây là hình thức mở bài được giáo viên sử dụng phổ biến hơn cả vì khi liên hệ kiến

Trang 36

thức cũ sẽ có sự kết nối liên tục các tri thức phổ thông mà học sinh cần nắm vững,

là hình thức vừa dễ sử dụng lại vừa mang tính chất giới thiệu cho học sinh kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, học sinh có thể tiếp thu kiến thức mới một cách logic hơn Tuy nhiên, giáo viên cần linh hoạt, có thể kết hợp nhiều phương pháp, phương tiện trực quan để làm bài giảng thêm phong phú và hấp dẫn hơn còn hình thức vào bài ít

được sử dụng nhất là “Dùng trò chơi ô chữ” điểm TB chỉ có 1.65 Kiểu mở bài

dùng trò chơi ô chữ mới, lạ, khá giống các trò chơi truyền hình, giúp học sinh hứng khởi tham gia và ấn tượng với phần vào bài hơn Tuy nhiên, để chuẩn bị được trò chơi giáo viên phải đầu tư thời gian, công sức, có sức sáng tạo cao do đó ít khi được

giáo viên sử dụng

B ảng 1.3 Một số khó khăn khi mở đầu bài giảng

Nh ận xét: Qua khảo sát xử lí số liệu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Khó khăn nhiều nhất mà giáo viên gặp phải khi mở đầu bài giảng là chưa biết cách

tốt mọi phương pháp, có người kể chuyện rất hay nhưng sử dụng trực quan kém, cũng có người sử dụng câu hỏi tốt nhưng liên hệ thực tế còn nhiều lúng túng Như

Những khó khăn khi mở đầu bài giảng

Rất nhiều (4)

Nhiều (3)

Vừa phải (2)

Không đáng

kể (1)

Điểm

TB

b Chưa biết nhiều hình thức mở bài

Trang 37

vậy với mỗi cá nhân người GV cần nắm rõ sở trường cũng như sở đoản để tận dụng

tối đa khả năng làm việc của bản thân cũng như rèn luyện những kĩ năng còn yếu

Bảng 1.4 Mức độ sử dụng các hình thức củng cố bài

Mức độ thường xuyên

Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Không thường xuyên (2)

Không khi nào (1)

g Cho kiểm tra viết ngắn rồi củng

k Cho học sinh phát biểu những

suy nghĩ, nhận thức của bản thân 0% 9% 59% 32% 1.77

Nhận xét: Ở bảng 1.4, chúng tôi nhận thấy hình thức củng cố cho học sinh

làm bài tập áp dụng được giáo viên sử dụng nhiều nhất, điểm TB là 3.5 Cách củng

cố này có rất nhiều ưu điểm như rèn luyện cho học sinh vận dụng được các kiến thức vừa mới học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo về hóa, rèn luyện thêm thao tác tư duy, trí thông minh sáng tạo, kiểm chứng mức độ tiếp thu của học sinh và hiệu quả của

Trang 38

phương pháp lên lớp mà giáo viên sử dụng Điểm TB thấp nhất 1.77 là hình thức

củng cố cho học sinh phát biểu những suy nghĩ, nhận thức của bản thân Kiểu

củng cố này ít được sử dụng nhất vì không phải lúc nào học sinh cũng chủ động bày

tỏ ý kiến, dám nêu lên vấn đề chưa rõ, tâm lí ngại thầy cô, ngại bạn bè Do đó giáo viên cần động viên học sinh, khuyến khích các em bày tỏ chính kiến, những gì còn

thắc mắc sau tiết học

Bảng 1.5 Một số khó khăn khi củng cố bài giảng

Nhận xét: Theo kết quả điều tra ở bảng 1.5, giáo viên nhận thấy khó khăn nhất

ở khâu củng cố là thời gian của giờ học ngắn điểm TB là 2.93 Thực tế hiện nay

vẫn còn có trường hợp giáo viên chỉ củng cố ở cuối bài và việc củng cố đôi khi lại được tiến hành vội vã sau tiếng chuông hết giờ Vì thế phân phối thời gian hợp lí phù hợp với từng nội dung giảng dạy, khắc sâu trọng tâm tránh ôm đồm kiến thức là

một việc mà giáo viên cần phải rèn luyện

Thông qua 12 phiếu tham khảo ý kiến giáo viên THPT tỉnh Kiên Giang, chúng tôi đã thu được kết quả thống kê trong các bảng từ 1.6 đến 1.8 (Các giá trị trong bảng được sắp xếp theo điểm trung bình từ cao đến thấp)

Những khó khăn khi củng cố bài

Rất nhiều (4)

Nhiều (3)

Vừa phải (2)

Không đáng kể (1)

Điểm

TB

c Ít có thời gian chuẩn bị nhiều hình thức

Trang 39

Cách tính điểm trung bình:

Điểm TB = (5.% cột 5 + 4.% cột 4 + 3.% cột 3 + 2.% cột 2 + 1.% cột 1) x 1001

1.5.4.6 Đánh giá về tác dụng phát huy tính tích cực của các phương

pháp dạy học khi mở đầu và củng cố bài

Bảng 1.6 Tác dụng phát huy tính tích cực của các phương pháp

dạy học khi mở đầu và củng cố bài

Tác dụng phát huy tính tích cưc của các PPDH

Nhận xét: Ở bảng 1.6, chúng tôi nhận thấy phương pháp trực quan có tác dụng

phát huy tính tích cực nhiều nhất điểm TB là 4.75 vì học sinh tập trung chú ý, lớp học sinh động, các em hoạt động tích cực hơn.nhất Trong khi đó phương pháp

Trang 40

nghiên cứu là phương pháp bị đánh giá kém nhất điểm TB lả 3.77 trong việc phát

huy tính tích cực vì phương pháp dạy học này khó áp dụng với kiến thức trừu tượng, đòi hỏi HS có khả năng tự làm việc cao

cố bài trong thực tế của thầy cô

Bảng 1.7 Mức độ nắm vững các phương pháp dạy học khi

mở đầu và củng cố bài

Tác dụng phát huy tính tích cưc của các PPDH

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Mô ph ỏng thí nghiệm tính dẫn điện của dd NaCl - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.2. Mô ph ỏng thí nghiệm tính dẫn điện của dd NaCl (Trang 55)
Hình 2.10.  Trò chơi ô chữ bài “An đehit – Xeton”. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.10. Trò chơi ô chữ bài “An đehit – Xeton” (Trang 72)
Hình 2.13.  Sơ đồ Grap củng cố bài “Nitơ”. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.13. Sơ đồ Grap củng cố bài “Nitơ” (Trang 78)
Hình 2.17.   Sơ đồ Grap củng cố bài “Axit nitric và muối nitrat”. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.17. Sơ đồ Grap củng cố bài “Axit nitric và muối nitrat” (Trang 80)
Hình 2.18.  Sơ đồ Grap củng cố TCHH Cacbon. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.18. Sơ đồ Grap củng cố TCHH Cacbon (Trang 82)
Hình 2.19.  Sơ đồ Grap củng cố TCHH của Muối Cacbonat. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.19. Sơ đồ Grap củng cố TCHH của Muối Cacbonat (Trang 82)
Hình 2.20.   Sơ đồ Grap củng cố TCHH của Silic và các hợp chất của Silic. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.20. Sơ đồ Grap củng cố TCHH của Silic và các hợp chất của Silic (Trang 85)
Hình 2.22.  Sơ đồ Grap bài “Ankan”. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.22. Sơ đồ Grap bài “Ankan” (Trang 89)
Hình 2.23.  Sơ đồ Grap TCHH “Anken”. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.23. Sơ đồ Grap TCHH “Anken” (Trang 90)
Hình 2.24.  Sơ đồ Grap TCHH “Ankađien”. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.24. Sơ đồ Grap TCHH “Ankađien” (Trang 94)
Hình 2.26.  Sơ đồ TCHH của Benzen. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.26. Sơ đồ TCHH của Benzen (Trang 99)
Hình 2.27.   Sơ đồ Grap TCHH hóa học của Ancol. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 2.27. Sơ đồ Grap TCHH hóa học của Ancol (Trang 99)
Hình 3.1. Đồ thị đường tích lũy lớp 11 CB4 và 11 CB2 – bkt 1. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 3.1. Đồ thị đường tích lũy lớp 11 CB4 và 11 CB2 – bkt 1 (Trang 120)
Hình 3.2. Bi ểu đồ so sánh kết quả học tập của lớp 11CB4 và 11CB2– btk 1. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 3.2. Bi ểu đồ so sánh kết quả học tập của lớp 11CB4 và 11CB2– btk 1 (Trang 121)
Hình 3.10. Bi ểu đồ so sánh kết quả học tập lớp 11 CB4 và 11CB2- bkt 2. - thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới
Hình 3.10. Bi ểu đồ so sánh kết quả học tập lớp 11 CB4 và 11CB2- bkt 2 (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w