Chủ trương này được cụ thể hóa trong Chỉ thị số 5289/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2012-2013, với yêu cầu tích cực ứng dụng CNTT phù hợp với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: Thái Hoài Minh Sinh viên thực hiện: Danh Thị Bạch Thúy
Trang 2Xin cảm ơn thầy Hoàng Ngọc Thạch – tổ Hóa, cùng các thầy cô tổ Hóa, trường trung học phổ thông Thạnh Đông đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và các em học sinh lớp 12TN1, 12TN3 đã hợp tác, hỗ trợ trong thời gian thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả những người thân trong gia đình cùng bạn bè, là những người đã cùng tôi trao đổi và chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Danh Thị Bạch Thúy
Trang 3MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Tổng quan về phương pháp và PTDH Hóa học ở trường PT 8
1.2.1 Đặc trưng của phương pháp DHHH 8
1.2.2 Một số xu hướng đổi mới cơ bản PPDH hiện nay 9
1.2.3 Đổi mới PPDH bằng việc sử dụng tối ưu các PTDH 10
1.3 Tổng quan về ứng dụng CNTT trong DHHH hiện nay 12
1.3.1 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học 12
1.3.2 Thuận lợi và thách thức khi ứng dụng CNTT trong DHHH ở trường PT 13
1.3.3 Một số hướng ứng dụng CNTT trong DHHH ở Việt Nam 15
1.4 Tổng quan về BGĐT 16
1.4.1 Khái niệm BGĐT 16
1.4.2 Cấu trúc của BGĐT 18
1.4.3 Các dạng BGĐT môn Hóa h ọc 18
1.4.4 Quy trình thiết kế BGĐT 20
1.4.5 Hệ thống các tiêu chuẩn của BGĐT Hóa học có tích hợp các PMDH 22
1.4.6 Yêu cầu khi soạn BGĐT 27
1.4.7 Ưu điểm của việc sử dụng BGĐT trong DHHH 29
1.4.8 Một số sai lầm mắc phải khi thiết kế BGĐT 29
1.4.9 Thực trạng về việc sử dụng BGĐT trong DHHH ở trường PT hiện nay 31
Chương II THIẾT KẾ HỆ THỐNG BGĐT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP CÁC PMDH MÔN HÓA HỌC 12 NÂNG CAO 36
Trang 42.1 Các phần mềm được tích hợp khi thiết kế hệ thống BGĐT trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài 36
2.1.1 Phần mềm Violet phiên bản 1.7 36
2.1.2 Phần mềm Chemoffice 36
2.1.3 Phần mềm Crocodile Chemistry 6.5 37
2.1.4 Phần mềm Periodic Table Classic 3.8.1 37
2.1.5 Phần mềm Wondershare QuizCreator 38
2.1.6 Phần mềm Mindjet MindManager 9.1 38
2.1.7 Phần mềm ProShow Gold 39
2.2 Cách thiết kế BGĐT có tích hợp các PMDH 39
2.3 Giới thiệu hệ thống các BGĐT Hóa học 12 Nâng cao có tích hợp PMDH 53
Chương III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55
3.1 Mục đích thực nghiệm 55
3.2 Phương pháp thực nghiệm 55
3.3 Nội dung thực nghiệm 56
3.4 Đối tượng thực nghiệm 56
3.5 Tiến hành thực nghiệm 57
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng so sánh điểm mạnh – yếu của các đề tài 4
Bảng 1.2 Danh sách các trường đã điều tra 32
Bảng 1.3 Danh sách số lượng GV phản hồi 32
Bảng 1.4 Kết quả điều tra từ câu 1 đến câu 9 33
Bảng 1.5 Kết quả điều tra câu 10 35
Bảng 3.1 Bảng các lớp thực nghiệm và đối chứng 57
Bảng 3.2 Bảng phân phối kết quả kiểm tra 61
Bảng 3.3 Phân loại kết quả kiểm tra 62
Bảng 3.4 Phân phối tần suất kết quả kiểm tra 65
Bảng 3.5 Phân phối tần suất lũy tích kết quả kiểm tra 66
Bảng 3.6 Điểm trung bình cộng lớp thực nghiệm – đối chứng 70
Bảng 3.7 Bảng độ lệch tiêu chuẩn 70
Bảng 3.8 Bảng hệ số biến thiên 70
Bảng 3.9 Bảng sai số tiêu chuẩn 71
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của BGĐT 18
Hình 1.2 Sơ đồ quy trình thiết kế BGĐT 20
Hình 1.3 Sơ đồ thư viện tư liệu trong BGĐT 22
Hình 1.4 Sơ đồ hệ thống các tiêu chuẩn BGĐT 23
Hình 2.2 Thư viện tư liệu trong BGĐT bài kim loại kiềm 40
Hình 2.3 Trang đặt vấn đề vào bài kim loại kiềm 41
Hình 2.4 Hướng dẫn liên kết hyperlink bước 1 41
Hình 2.5 Hướng dẫn liên kết hyperlink bước 2 42
Hình 2.6 Hướng dẫn mở phim từ liên kết hyperlink 42
Hình 2.7 Trang tên bài học 43
Hình 2.8 Giao diện của phần mềm Periodic Table 43
Hình 2.9 Giao diện của phần mềm Periodic Table Crocodile Chemistry 6.5 44
Hình 2.10 Giao diện chỉnh sửa hình nền 44
Hình 2.11 Hóa chất thí nghiệm 45
Hình 2.12 Mô phỏng thí nghiệm kim loại kiềm tác dụng với phi kim 45
Hình 2.13 Mô phỏng thí nghiệm kim loại kiềm tác dụng với axit 46
Hình 2.14 Giao diện phần mềm MindManager 9.1 46
Hình 2.15 Hướng dẫn tạo Main Topic 47
Hình 2.16 Hướng dẫn điền nội dung vào Topic 47
Hình 2.17 Hướng dẫn chèn, xóa icon cho Topic và Subtopic 48
Hình 2.18 Hướng dẫn tạo ghi chú 48
Hình 2.19 Hướng dẫn hiệu chỉnh hình dạng, màu sắc cho Topic hay Subtopic 49
Hình 2.20 Sơ đồ tư duy bài kim loại kiềm 49
Hình 2.21 Giao diện phần mềm Violet 1.7 50
Hình 2.22 Giao diện nhập liệu câu hỏi trắc nghiệm 50
Hình 2.23 Câu hỏi trắc nghiệm 51
Hình 2.24 Giao diện tạo trò chơi ô chữ 52
Hình 2.25 Trò chơi ô chữ 52
Trang 8Hình 3.1 Biểu đồ phân loại điểm bài kiểm tra “Amin” (bài 11) của lớp thực nghiệm-đối
chứng 63
Hình 3.2 Biểu đồ phân loại điểm bài kiểm tra “Kim loại kiềm” (bài 28) của lớp thực
nghiệm-đối chứng 63
Hình 3.3 Biểu đồ phân loại điểm bài kiểm tra “Một số hợp chất quan trọng của kim loại
kiềm” (bài 29) của lớp thực nghiệm-đối chứng 64
Hình 3.4 Biểu đồ phân loại điểm bài kiểm tra “Kim loại kiềm thổ” (bài 30) của lớp thực
nghiệm-đối chứng 64
Hình 3.5 Biểu đồ phân loại điểm bài kiểm tra “Một số hợp chất quan trọng của kim loại
kiềm thổ” (bài 31) của lớp thực nghiệm-đối chứng 65
Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích ứng với bài 11 “Amin” 67 Hình 3.7 Đồ thị đường lũy tích ứng với bài 28 “Kim loại kiềm” 68 Hình 3.8 Đồ thị đường lũy tích ứng với bài 29 “Một số hợp chất quan trọng của kim loại
kiềm” 68
Hình 3.9 Đồ thị đường lũy tích ứng với bài 30 “Kim loại kiềm thổ” 69 Hình 3.10 Đồ thị đường lũy tích ứng với bài 31 “Một số hợp chất quan trọng của kim
loại kiềm thổ” 69
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra những con người năng động sáng tạo, có khả năng tự học và tự đánh giá, biết cách cộng tác với mọi người, để phát triển cá nhân hòa hợp với sự phát triển chung của cộng đồng Việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là yêu cầu hàng đầu đặt ra cho ngành giáo dục ở tất cả các nước trên thế giới Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các hướng khác nhau Một trong những xu hướng đổi mới PPDH là tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học (PTDH), đặc
biệt là ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và khuyến khích ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học ở các bậc học Chủ trương này được cụ thể hóa trong Chỉ thị số 5289/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2012-2013, với yêu cầu tích cực ứng dụng CNTT phù hợp với nội dung bài học bên cạnh các nhiệm vụ khác
Hoá học là một môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm Tuy nhiên còn nhiều thí nghiệm độc hại, nguy hiểm, khó thành công, tốn nhiều thời gian…không thể tiến hành trên lớp được Trong chương trình Hóa học phổ thông (PT) giáo viên (GV) thường gặp khó khăn khi dạy những khái niệm trừu tượng như orbital nguyên tử, sự lai hoá của các
chuộng bởi sự hữu ích của nó trong việc chuyển tải kiến thức một cách trực quan, sinh động và thuận tiện đến người học, làm tăng hiệu quả giờ giảng và giảm rất nhiều chi phí cho công tác thiết kế bài giảng Tuy nhiên, đa số BGĐT hiện nay trên thị trường chưa được kiểm định, đánh giá theo các tiêu chuẩn, chất lượng nhất định Một số BGĐT được biên soạn đơn điệu, sơ sài, chưa phát huy được hết những ưu điểm của BGĐT Hầu hết các BGĐT được thiết kế bằng phần mềm Microsoft PowerPoint mà chưa phối hợp được các phần mềm khác để rút ngắn thời gian biên soạn và phát huy được tối đa hiệu quả BGĐT mang lại
Với mong muốn thiết kế hệ thống BGĐT có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu
Trang 10HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ THEO HƯỚNG TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC 12 NÂNG CAO
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế hệ thống BGĐT Hóa học lớp 12 theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học (PMDH) nhằm nâng cao chất lượng DHHH ở các trường trung học phổ thông
(THPT)
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc thiết kế BGĐT
- Nghiên cứu một số PMDH để tích hợp vào BGĐT
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của một BGĐT Hóa học
- Thiết kế hệ thống BGĐT trong chương trình Hóa học 12 Nâng cao có tích hợp PMDH
- Thực nghiệm (TN) để đánh giá kết quả của đề tài nghiên cứu
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình DHHH ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế hệ thống BGĐT Hóa học 12 Nâng cao có tích
hợp các PMDH
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Thiết kế hệ thống BGĐT Hóa học lớp 12 Nâng cao gồm 26 BGĐT có tích hợp các PMDH
- Địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT ở tỉnh Kiên Giang và tỉnh Khánh Hòa
6 Giả thuyết khoa học
Nếu hệ thống BGĐT được thiết kế đạt chất lượng cao thì hệ thống bài giảng này sẽ
là tài liệu tham khảo tốt cho GV khi thiết kế bài giảng riêng cho họ Bên cạnh đó, các bài giảng sẽ là gợi ý về mặt phương pháp nhằm giúp GV định hướng, phối hợp các phương pháp giảng dạy, là phương tiện góp phần trong việc đổi mới PPDH từ chỗ tăng cường tối
đa việc tương tác giữa thầy và trò, tích cực hóa hoạt động học của HS, hỗ trợ việc tự học của HS, nâng cao hứng thú học tập về bộ môn Hóa học của các em, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phân tích, tổng hợp các thông tin
- Sử dụng máy tính và các phần mềm tin học: Microsoft powerpoint 2007 và các phần mềm khác để xây dựng hệ thống BGĐT
- Điều tra thực trạng
- TN sư phạm
- Tổng hợp và xử lí kết quả điều tra, kết quả TN sư phạm theo phương pháp thống kê toán học
Trang 12Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đầu thế kỷ XXI, việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học nhằm đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học đã trở thành một xu thế mạnh trên thế giới Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và khuyến khích ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học ở các bậc học Chủ trương này được cụ thể hóa trong Chỉ thị số 5289/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2012-2013, với yêu cầu tích cực ứng dụng CNTT phù hợp với nội dung bài học bên cạnh các nhiệm vụ khác Chính vì vậy, nhiều sinh viên và học viên đã có nhiều đề tài nghiên cứu phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong DHHH
Giới thiệu và đánh giá một số công trình gần gũi với đề tài nghiên cứu
Bảng 1.1 Bảng so sánh điểm mạnh – yếu của các đề tài
rõ các bước để soạn thảo một BGĐT qua những tiện ích của phần mềm để tạo hình ảnh minh họa cho bài dạy
- Tác giả sưu tầm đa dạng hình ảnh, phim thí nghiệm để
GV đưa vào bài dạy cụ thể
- Cơ sở lý luận chưa nói rõ
ưu, nhược điểm của BGĐT
- Khóa luận chỉ có 2 giáo
11 được soạn tốt, chi tiết và
Tác giả thiếu quan tâm đến việc tích hợp thêm một số phần mềm hỗ trợ Đặc biệt
là bộ phần mềm Chemoffic
để vẽ những công thức hữu
Trang 132005) [21] khá đầy đủ cơ thì sẽ nhanh chóng, đẹp
và chính xác
3
Ứng dụng phần mềm
vào thiết kế giáo án
điện tử môn Hóa học
Khóa luận chỉ áp dụng trên một số bài cụ thể chưa thể hiện tính hệ thống cho toàn thể chương trình Hóa học lớp 11
- Kết quả TN có tính thuyết phục cao
Phần cơ sở lý luận hướng dẫn cách sử dụng phần mềm PowerPoint chưa chi tiết
5
Ứng dụng CNTT để
thiết kế hệ thống
BGĐT và tìm kiếm
các tư liệu hỗ trợ việc
đổi mới PPDH môn
- Các tư liệu hỗ trợ các chương 1, 2, 3 được thiết kế, biên soạn như trang web thu nhỏ rất hay, gồm nhiều chương mục như: BGĐT, bài đọc thêm, thư giãn, lịch sử Hóa học, đố vui Hóa học,…
Hệ thống BGĐT chỉ thể hiện qua chương 1, 2, 3 lớp
10, do đó chưa thể hiện được tính hệ thống của toàn chương trình Hóa học lớp 10
- Cơ sở lý luận: nghiên cứu chi tiết, rõ ràng, nhận xét kỹ
Chỉ có một cặp đối chứng (ĐC) – TN với 4 bài lên lớp còn ít chưa thuyết phục
Trang 14Khóa luận thể hiện được một số BGĐT điển hình chưa có tính hệ thống cho toàn chương trình
- Kết quả TN sư phạm có độ tin cậy cao
Khóa luận chỉ thiết kế 4 bài giảng chưa thể hiện được tính hệ thống
thiết kế bài lên lớp
- Cơ sở lý luận rõ ràng, chi tiết
Luận văn chỉ thiết kế được một số bài lên lớp
Trang 15- Tác giả đã sưu tầm được
203 phim thí nghiệm trong và ngoài nước phục vụ cho thiết
kế BGĐT
- Thiết kế 20 sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức trong các BGĐT
- Sử dụng quá nhiều màu sắc trên một trang làm cho
HS thấy khó chịu khi quan sát
- Kết quả TN có độ tin cậy cao Ngoài ra, luận văn còn đưa ra một số bài học kinh nghiệm khi thiết kế và sử dụng giáo án điện tử theo hướng dạy học tích cực
Chưa có tính hệ thống cho toàn chương trình
- Tác giả đã sử dụng rất thành thạo phần mềm PowerPoint, ngoài ra còn tích hợp nhiều phần mềm ứng dụng khác để thiết kế các bài giảng sinh động, hấp dẫn, ít tốn kém
Hướng dẫn sử dụng các phần mềm chưa được rõ ràng, chi tiết
Trang 16thời gian
Nhận xét chung:
Các đề tài trên đều thể hiện những điểm chung thống nhất như sau:
CNTT có tác dụng mạnh mẽ trong việc nâng cao hiệu quả DHHH Chương trình Microsoft PowerPoint được sử dụng phổ biến trong các đề tài nhờ tính hữu ích và tiện lợi của nó đối với GV trong quá trình soạn BGĐT
Việc tích hợp các phần mềm ứng dụng khác vào bài giảng là rất hữu ích, GV ít tốn kém thời gian vào việc soạn BGĐT và hoạt động giảng dạy đạt hiệu quả hơn Tuy nhiên, chỉ có một số đề tài có sự tích hợp các phần mềm ứng dụng khác như: Violet, Chemoffic,…vào việc soạn BGĐT Bên cạnh đó, các đề tài đã xây dựng được tiêu chí đánh giá BGĐT nhưng chưa được chi tiết, rõ ràng
Vì thế thông qua đề tài này, chúng tôi mong muốn tạo nên những điểm mới cho các BGĐT và xây dựng một hệ thống BGĐT trong chương trình của một khối lớp, cụ thể
là khối lớp 12 Nâng cao đồng thời có tích hợp các PMDH Tuy vậy, những đề tài trên là những tư liệu quý giá, có nhiều giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn, giúp chúng tôi
có thể rút ra nhiều điều bổ ích và những gợi ý quan trọng cho đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Tổng quan về phương pháp và PTDH Hóa học ở trường PT
1.2.1 Đặc trưng của phương pháp DHHH [4]
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết Trong DHHH, thí nghiệm
là một phương tiện không thể thiếu được
Trong DHHH, các phương pháp nhận thức sau đây được sử dụng một cách thường xuyên:
- Phương pháp diễn dịch - quy nạp: sử dụng khi dạy về mối liên hệ giữa vị trí - cấu tạo - tính chất; khi hình thành khái niệm chu kì Nhóm trong hệ thống tuần hoàn…
- Phương pháp cụ thể, trừu tượng: Môn hóa học đòi hỏi HS phải có một trình
độ nhất định về tư duy trừu tượng (không thể dạy sớm hơn) GV phải sử dụng các phương tiện trực quan (hình vẽ, mô hình…) khi đề cập đến các vấn đề mà HS không thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường
Trang 17Các học thuyết, định luật có vai trò rất lớn trong DHHH:
- Là công cụ cho phép quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp
- Là công cụ để tiên đoán khoa học
Những đặc trưng trên là cơ sở để các nhà giáo dục đưa ra các biện pháp đổi mới PPDH nhằm phát huy tối đa hiệu quả trong DHHH hiện nay
1.2.2 Một số xu hướng đổi mới cơ bản PPDH hiện nay [2]
Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách giáo dục nói chung cũng như cải cách cấp THPT nói riêng Chiến lược phát triển giáo dục (2010 – 2020) đã nêu một trong những giải pháp thực hiện mục tiêu giáo dục là đổi mới phương pháp giáo dục: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển việc truyền đạt tri thức thụ động: thầy giảng, trò ghi sang hướng người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách
có hệ thống và tư duy phân tích tổng hợp phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS…”
PGS.TS Trịnh Văn Biều đã đưa ra 7 xu hướng đổi mới PPDH là:
Thứ nhất, phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học
Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá Tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo
Thứ hai, phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt
đời Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời
Trang 18Thứ ba, tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào
cuộc sống thực tế Chuyển từ lối học nặng nề về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức
Thứ tư, cá thể hóa việc dạy học Việc dạy học thích ứng với năng lực và điều kiện
của từng người học ở mức độ từ thấp đến cao Biện pháp: chia nhỏ lớp, dạy học theo nhóm nhỏ…
Thứ năm, tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các PTDH đặc
biệt là tin học và CNTT vào dạy học
Thứ sáu, từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn
thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học
Thứ bảy, gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự
phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)
1.2.3 Đổi mới PPDH bằng việc sử dụng tối ƣu các PTDH
1.2.3.1 Khái niệm và tác dụng của PTDH [2]
- Khái niệm: PTDH là những đối tượng vật chất (sách vở, đồ dùng, máy móc,
thiết bị,…) dùng để dạy học
- Tác dụng:
+ Giúp GV dễ dàng tăng cường lượng thông tin một cách hiệu quả
+ Giúp GV tiết kiệm thời gian
+ Giúp GV đỡ vất vả (giảm cường độ làm việc)
+ Giúp bài giảng hấp dẫn, HS chú ý, hứng thú học tập
+ Giúp cho lớp học sinh động (góp phần tạo không khí lớp học)
+ Giúp nâng cao hiệu quả dạy học, HS dễ hiểu bài, nhớ lâu
1.2.3.2 Yêu cầu chung về PTDH Hóa học
- Đảm bảo tính khoa học và sư phạm
+ Phục vụ thiết thực nội dung bài học, chương trình sách giáo khoa, góp phần đổi mới PPDH
+ Khi sử dụng phải đảm bảo thành công trong thời gian hợp lí
Trang 19+ Phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, phục vụ tốt quá trình dạy học
- Đảm bảo tính thuận lợi và an toàn trong sử dụng:
+ Đảm bảo nguyên tắc chế tạo hợp lý, bền chắc
+ Tạo điều kiện hợp lý các thao tác kĩ thuật khi sử dụng, dễ tháo lắp, tiết kiệm thời gian trên lớp học
+ Chất liệu các đồ dùng sử dụng được lâu dài
+ An toàn trong vận chuyển, bảo quản, sử dụng, đặc biệt đối với hóa chất thí nghiệm độc hại
- Đảm bảo tính thẩm mỹ: PTDH có hình dạng, kích thước và màu sắc hợp lý, gọn đẹp, giúp HS hứng thú trong học tập và sử dụng
- Đảm bảo tính kinh tế: PTDH có cấu tạo đơn giản, dễ sản xuất, giá thành hạ, để các trường học có điều kiện trang bị nhiều hơn, tạo điều kiện HS có thể thực hành theo từng nhóm nhỏ
1.2.3.3 Nguyên tắc sử dụng PTDH
Để nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện trong quá trình dạy học cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Sử dụng PTDH phải đúng lúc, đúng chỗ: cần trình diễn phương tiện theo trình tự
bài giảng, phân biệt thời điểm sử dụng, tránh trưng bày đồng loạt các phương tiện GV khi chọn vị trí đặt PTDH phải đảm bảo cho tất cả HS đều được quan sát, tiếp xúc với các PTDH một cách rõ ràng
- Sử dụng PTDH phải đủ cường độ: từng loại phương tiện có mức độ sử dụng tại
lớp khác nhau, không nên kéo dài việc trình diễn PTDH hoặc dùng lặp lại một loại phương tiện quá nhiều lần trong tiết giảng
- Sử dụng PTDH phải theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS: GV
cần tổ chức các hoạt động của HS sau khi được xem giới thiệu PTDH Có thể đặt các câu hỏi, bài tập, các nhiệm vụ khác nhau mang tính thực hành
- Sử dụng phương tiện phải đảm bảo tính vừa sức của HS: trong quá trình GV tổ
chức HS khai thác tri thức trên phương tiện, GV không nên đặt câu hỏi quá dễ hoặc quá khó
Trang 20- Sử dụng PTDH phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, thẩm mỹ: phải đáp ứng
mục tiêu và phù hợp với nội dung của việc dạy học
1.3 Tổng quan về ứng dụng CNTT trong DHHH hiện nay
1.3.1 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học [13]
1.3.1.1 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục Thứ nhất, CNTT giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Chiến lược phát
triển của bộ GD & ĐT đã nêu rõ: “từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT CNTT
và đa phương tiện sẽ tạo ra thay đổi lớn trong hệ thống quản lí giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và phương pháp học.”
Thứ hai, CNTT giúp GV tiếp cận và chia sẻ nhiều nội dung, phương pháp, mô
hình dạy học, việc thiết kế giáo án trở nên sinh động hơn, dễ dàng hơn, chỉ cần vài động tác đơn giản là trên màn hình hiện ra ngay nội dung bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi HS
Thứ ba, CNTT góp phần đổi mới PPDH, tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ
của HS Nếu trước kia GV là nguồn tài liệu duy nhất cho HS học tập và HS phải đến trường để học Thì ngày nay với sự hỗ trợ của CNTT, GV dần dần trở thành người hướng dẫn HS biết dùng máy tính và Internet để phát hiện kiến thức mới Vì thế phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, khai thác nhiều giác quan của người học để lĩnh hội tri thức
Thứ tư, ứng dụng CNTT vào dạy học giúp GV rút ngắn thời gian giảng dạy trên
lớp, có thời gian đầu tư cho quá trình dẫn dắt, tạo tình huống có vấn đề để kích thích tư duy sáng tạo của HS HS có thể nhanh chóng hình dung và có khái niệm chính xác về các
sự vật, hiện tượng khi tiếp xúc với chúng bằng những hình ảnh trực quan (tư liệu, sơ đồ, những đoạn phim,…)
Thứ năm, CNTT tạo nên hứng thú học tập cho HS vì đã góp phần hiện đại hóa các
PTDH, giúp GV tạo bài giảng phù hợp với nhu cầu của HS, giúp HS dễ dàng tiếp thu kiến thức Đặc biệt, nó sẽ tạo ra một lớp học mang tính tương tác hai chiều: GV – HS và ngược lại, giúp HS tiếp nhận thông tin bài học hiệu quả hơn
Trang 21Như vậy, ngày nay việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một nhu cầu cấp thiết đối với hệ thống giáo dục Việt Nam và chiếm giữ vị trí quan trọng trong dạy học
1.3.1.2 Tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong DHHH
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, với con đường hình thành kiến thức, kĩ năng thông qua các thí nghiệm Thí nghiệm Hóa học không những giúp cho HS hình thành, củng cố kiến thức mới trong quá trình học tập tại lớp mà còn thúc đẩy HS tích cực
áp dụng được kiến thức của mình vào thực tiễn đời sống hàng ngày Để phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS, phải tăng cường sử dụng linh hoạt và hiệu quả các PTDH hiện đại với các phần mềm thí nghiệm Hóa học, đặc biệt là dùng các thí nghiệm
mô phỏng và thí nghiệm ảo để biểu diễn các thí nghiệm phức tạp và nguy hiểm không thể thực hiện được trên lớp
Trong vài năm trở lại đây, nhìn chung CNTT đang được ứng dụng rộng rãi trong việc dạy Hóa học ở các trường PT Rất nhiều GV đã sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint để thiết kế BGĐT, cài đặt thêm tư liệu, hình ảnh, băng hình, trình bày bài giảng gọn đẹp, sinh động và thuận tiện Các phần mềm được sử dụng trong DHHH để thực hiện các thí nghiệm ảo, sơ đồ, biểu đồ, trình chiếu phim hoặc bài tập thực hành, đặt câu hỏi thảo luận Vì vậy, người dạy tiết kiệm được thời gian và có điều kiện đi sâu vào bản chất bài học, và do đó chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao
Với sự hỗ trợ của CNTT trong một thời gian ngắn của tiết học, GV có thể hướng dẫn cho HS tiếp cận một lượng kiến thức lớn, phong phú và sinh động Một hình ảnh, một đoạn phim có thể thay thế cho rất nhiều lời giảng Những hình ảnh mô phỏng thực tế một cách hợp lý, sinh động sẽ thu hút được sự quan tâm, hứng thú học tập của HS, tạo cho lớp học sôi nổi, các em tiếp thu bài nhanh hơn, giờ dạy có hiệu quả cao hơn
1.3.2 Thuận lợi và thách thức khi ứng dụng CNTT trong DHHH ở trường
PT
1.3.2.1 Thuận lợi
Hiện nay các trường PT điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng Internet và tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang bị thêm thiết bị
Trang 22ghi âm, chụp hình, quay phim và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho GV sử dụng vào quá trình dạy học của mình
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ ChemOffice, Crocodile, ChemWin, Violet,…kỹ thuật đồ họa nâng cao có thể mô phỏng nhiều thí nghiệm, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường Nhờ có sử dụng các PMDH này mà HS trung bình, thậm chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập
Ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua mạng Internet
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ,
âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của CNTT và truyền thông trong quá trình đổi mới PPDH Có thể khẳng định rằng, môi trường CNTT sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS
1.3.2.2 Thách thức
Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa CNTT vào lĩnh vực giáo dục bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn khiêm tốn, khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những
vấn đề nảy sinh từ thực tiễn
Tuy CNTT mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trong các bài giảng
Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng trang như khi dạy trên máy tính
Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặt khác, PPDH cũ vẫn còn
Trang 23như một lối mòn khó thay đổi Việc dạy học tương tác giữa người – máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho HS cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa các PPDH mới để khắc phục những nhược điểm của PPDH truyền thống Điều đó làm cho CNTT, dù đã đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó
Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới PPDH bằng phương tiện chiếu projector,…còn thiếu và không đồng bộ nên việc triển khai chưa được rộng khắp và hiệu quả
Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại ở việc xóa mù tin học nên
GV chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả
Nhiều HS rất ít có điều kiện tiếp xúc với máy tính hoặc một số em chưa từng biết
sử dụng máy tính cũng là khó khăn cần được quan tâm
1.3.3 Một số hướng ứng dụng CNTT trong DHHH ở Việt Nam
Dưới đây là một số hướng ứng dụng CNTT trong dạy học và nghiên cứu Hóa học
do chúng tôi tổng hợp trong quá trình nghiên cứu:
- Sử dụng các phương pháp tính số, giải quyết các bài toán lý thuyết Hóa học (Hóa học lượng tử, động Hóa học, nhiệt Hóa học, động Hóa học ): rất quan trọng nhưng số người tham gia còn ít và cần được tăng cường
- Ghép nối trợ giúp cho các đo đạc thí nghiệm, nâng cao tính năng các công cụ đo
Trang 24- Xây dựng các đĩa CD thí nghiệm mô phỏng hoặc thí nghiệm ảo, xây dựng trang Web dạy học một số nội dung Hóa học có các mô hình, xây dựng khái niệm và có thí nghiệm mô phỏng
- Thiết kế các BGĐT, giáo án điện tử để nâng cao hiệu quả dạy học phục vụ cho quá trình dạy học ở các trường trung học, đồng thời kết hợp với việc ứng dụng một số phần mềm như là phương tiện hỗ trợ thực hiện các PPDH tích cực
- Thiết kế các phần mềm quản lí, chấm bài trắc nghiệm
- Cập nhật các thông tin mới về Hóa học có liên quan đến kiến thức bài học để làm bài giảng phong phú hơn
- Tạo môi trường giao tiếp với người học và đồng nghiệp, người dạy có thể giao tiếp với tất cả các đối tượng: đồng nghiệp, người học, cấp trên và các đối tượng với nhau bằng email hay các công cụ điện tử khác như các Web 2.0, các công cụ giao tiếp trực tuyến, các trang bookmark, các mạng xã hội…
- Hiệu chỉnh thiết kế tư liệu: thông qua việc cập nhật những kiến thức mới và kiến thức thực tiễn liên quan đến bài dạy, GV có thể hiệu chỉnh ngay trên bài giảng một cách
dễ dàng và lưu trữ hiệu quả những tài liệu quan trọng
Trang 25Theo từ điển bách khoa toàn thư Tiếng Việt: “BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp nhằm thực thi giáo án điện tử Khi đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá, do GV điều khiển thông qua môi trường đa phương tiện với sự hỗ trợ của CNTT Nếu như bài giảng truyền thống là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy - học truyền thống thì BGĐT là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy - học có sự
hỗ trợ của CNTT” [14]
Do đó, có rất nhiều mức độ tham gia của CNTT trong một BGĐT Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một chuẩn mực nào để đánh giá BGĐT Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng đơn vị mà mức độ BGĐT sẽ khác nhau
Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra định nghĩa về BGĐT như sau: “BGĐT là một tập
hợp các học liệu điện tử được tổ chức lại theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp
kiến thức và kĩ năng cho người học một cách hiệu quả thông qua sự trợ giúp của các phần
mềm quản lí học tập (Learning Management SyStem_ LMS) Một BGĐT thường tương ứng với một học phần hoặc một môn học” [10] Định nghĩa này của Đại học Quốc gia Hà Nội cho người đọc thấy rõ cấu trúc cần có cũng như kích thước của một BGĐT
Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi sử dụng khái niệm BGĐT là một hình thức tổ
chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá
do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cũng có thể hiểu BGĐT là những tệp tin có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến HS
Trang 261.4.2 Cấu trúc của BGĐT [1]
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của BGĐT
Cấu trúc của BGĐT bao gồm: tên bài giảng, các nội dung bài học tương ứng với các mục trong sách giáo khoa thể hiện lý thuyết bài học, ví dụ minh họa cho đơn vị kiến thức đó và bài tập vận dụng Cuối cùng là tóm tắt kiến thức bài học và nội dung bài tập củng cố
1.4.3.1 Dạng bài về khái niệm, định luật, học thuyết
Các định nghĩa, học thuyết, định luật Hóa học giữ vai trò cơ sở lí thuyết cho toàn
bộ chương trình, giúp cho việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể của chương trình Hóa học Dạng bài về khái niệm, học thuyết được phân bố ở đầu chương trình hoặc phần đầu của các lớp, cấp học để thể hiện sự phát triển liên tục của các thuyết và vai trò chủ đạo của nó
Bài (tên bài giảng)
Mục 2
Mục n
Mục 1.1
Mục 1.2 Mục 1.n
Minh họa
Bài tập Tóm tắt kiến thức
Bài tập củng cố Mục 1
Lý thuyết
Trang 27ví dụ thuyết sự điện li được đặt ở đầu chương trình lớp 11 hay thuyết cấu tạo hợp chất hữu cơ được đặt phần đầu của Hóa học hữu cơ…
Dạng bài này thường là các khái niệm trừu tượng, HS khó tiếp thu do đó, GV cần thiết kế các hình ảnh, mô phỏng hay mô hình minh họa có liên quan đến nội dung khái niệm trước khi đưa ra các khái niệm Bên cạnh đó, GV nên cho HS quan sát nhiều thí nghiệm để giải thích cho các khái niệm đó Các học thuyết thường liên quan đến nhà bác học, GV có thể nêu giới thiệu sơ lược về tiểu sử nhà bác học đã tìm ra học thuyết và cho
HS chia nhóm để thảo luận và trình bày trước lớp
1.4.3.2 Dạng bài về chất - nguyên tố
Đây là những dạng bài về chất cụ thể như vô cơ (nhôm, sắt, crom…) hay hữu cơ (glucozơ, saccarozơ , tinh bột…) giúp trang bị cho HS những kiến thức cơ sở về chất, tính chất đặc trưng cơ bản của các đơn chất, hợp chất hữu cơ, vô cơ Để trang bị những kiến thức đó, GV có thể sử dụng CNTT để trình chiếu:
- Hình ảnh, mô hình công thức nguyên tử, phân tử của nguyên tố, chất
- Sơ đồ, biểu bảng so sánh các chất trong cùng một loại, một nhóm
- Hình ảnh, mẫu chất về tính chất vật lí và trạng thái tự nhiên của chất, nguyên tử
- Các đoạn phim, mô phỏng thí nghiệm xảy ra giữa các chất với nhau
- Các mô phỏng về quy trình sản xuất chất, nguyên tố đó trong phòng thí nghiệm
và trong công nghiệp
- Hình ảnh về các ứng dụng thực tiễn của chất và nguyên tố
- Sơ đồ tóm tắt và bài tập củng cố nội dung trọng tâm của bài học
1.4.3.3 Dạng bài về sản xuất Hóa học
Kiến thức về sản xuất Hóa học là một trong những nội dung kiến thức cơ bản, quan trọng của giáo trình Hóa học PT, nhằm trang bị cho HS những kiến thức tổng hợp của ngành sản Hóa học nói riêng và ngành công nhiệp nói chung, giúp HS có những hiểu biết
cơ bản về sản phẩm, quy trình công nghệ, nguyên tắc kĩ thuật… trong sản xuất Nếu những kiến thức này mà chỉ sử dụng cách GV lên lớp giảng dạy, thuyết trình thì HS sẽ rất nhàm chán và lãng quên một cách nhanh chóng Thay vào đó, nếu GV sử dụng mô phỏng, mô hình, sơ đồ… về các giai đoạn của quá trình sản xuất các chất cụ thể, hoặc có
Trang 28thể cho HS tự tìm hiểu, nghiên cứu dưới sự giúp đỡ của GV rồi thuyết trình trước lớp… thì HS sẽ dễ hình dung và nhớ được lâu hơn
Bên cạnh đó, những hình ảnh về các sản phẩm của Hóa học như nước hoa, xăng dầu, phân bón… hay những đoạn phim về ảnh hưởng, tác động của Hóa học với môi trường khi cho HS quan sát sẽ giúp HS thấy được mối quan hệ qua lại giữa khoa học Hóa học với thực tiễn cuộc sống, lao động sản xuất, từ đó thêm yêu môn học và có ý thức hơn trong vấn đề bảo vệ môi trường
1.4.3.4 Dạng bài về luyện tập, ôn tập - củng cố
Bài ôn tập, tổng kết giúp HS tái hiện lại kiến thức đã học, hệ thống hóa, tìm ra mối liên hệ, bản chất đặc thù của từng loại kiến thức, giúp đào sâu, vận dụng kiến thức đã học
để so sánh, nhận biết, giải bài toán…
Để tiết kiệm thời gian cho các tiết ôn tập, luyện tập GV có thể sử dụng BGĐT với bảng hệ thống hóa kiến thức đã soạn sẵn, các sơ đồ tóm tắt lí thuyết, các câu hỏi kiểm tra củng cố lí thuyết có thể tổ chức dưới hình thức tổ chức trò chơi ô chữ, bài tập trắc nghiệm, hóa chất bí mật…để giúp HS khắc sâu kiến thức
1.4.4 Quy trình thiết kế BGĐT [1]
Hình 1.2 Sơ đồ quy trình thiết kế BGĐT
Quy trình thiết kế BGĐT Bước 1: xác định mục tiêu bài học Bước 2: xác định trọng tâm bài học Bước 3: multimedia hóa kiến thức Bước 4: xây dựng thư viện tư liệu Bước 5: thiết kế bài trình chiếu Bước 6: lập kế hoạch bài dạy chi tiết
Trang 29Dưới đây là nội dung cụ thể của từng bước:
1.4.4.1 Xác định mục tiêu [2]
Nội dung đầu tiên của mỗi giáo án là xác định mục tiêu của bài giảng Đây là định hướng cho mọi hoạt động của thầy và trò, là cái đích cần đạt được của tiết học Phần này
có thể nêu những ý sau đây:
- Những nội dung kiến thức của bài HS cần nắm theo các mức độ: biết, hiểu, vận dụng
- Những kiến thức cũ cần củng cố
- Những kỹ năng cần rèn luyện
- Giáo dục đạo đức, tư tưởng (nếu có)
1.4.4.2 Xác định trọng tâm bài học [2]
Căn cứ để xác định kiến thức trọng tâm:
- Những kiến thức cốt lõi, bản chất của sự vật, hiện tượng hay vấn đề nghiên cứu
- Có ý nghĩa nền tảng, liên quan đến nhiều kiến thức khác
- Giải quyết được nhiều vấn đề về lý luận hoặc thực tiễn
- Sử dụng thường xuyên
- Ngoài ra, có thể dựa vào hướng dẫn chương trình của Bộ, các câu hỏi cuối mỗi bài
1.4.4.3 Multimedia hóa kiến thức
Đây là bước quan trọng cho việc thiết kế BGĐT, việc multimedia hoá kiến thức được thực hiện qua các bước:
- Dữ liệu hoá thông tin kiến thức
- Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, hình ảnh,…
- Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng nguồn mới dữ liệu sẽ sử dụng trong bài học
- Chọn lựa các PMDH có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết
- Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh
1.4.4.4 Xây dựng thư viện tư liệu
Trang 30Sau khi có được đầy đủ các tư liệu cần dùng cho BGĐT, phải tiến hành sắp xếp, tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cần phải xác
lập sự liên kết giữa các bài giảng trong hệ thống các bài giảng đã được tổ chức lưu trữ
Hình 1.3 Sơ đồ thư viện tư liệu trong BGĐT 1.4.4.5 Thiết kế bài trình chiếu
Sau khi đã có các thư viện tư liệu, giáo viên cần lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phầm mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng BGĐT Hiện nay để xây dựng BGĐT
ta có thể áp dụng các phần mềm căn bản như: Microsoft PowerPoint, Macromedia Flash, Frontpage, LectureMaker
Trước hết cần chia quá trình dạy học trong giờ lên lớp thành các hoạt động nhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các trang (trong PowerPoint) hoặc các trang trong Frontpage Sau đó xây dựng nội dung cho các trang (hoặc các trang) Tuỳ theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi trang/trang có thể là văn bản, đồ hoạ, tranh ảnh, âm thanh, đoạn phim
1.4.4.6 Lập kế hoạch bài dạy chi tiết
Trong kế hoạch bài dạy chi tiết phải ghi rõ các hoạt động của GV và HS đối với mỗi đơn vị kiến thức trên trang của bài trình chiếu
1.4.5 Hệ thống các tiêu chuẩn của BGĐT Hóa học PT có tích hợp các PMDH [26]
Hệ thống các tiêu chuẩn của BGĐT được chúng tôi xây dựng dựa trên:
- Các tiêu chí đánh giá bài lên lớp của bộ GD & ĐT (công văn số 10227/THPT ngày 11 tháng 9 năm 2001) [2]
- Các tiêu chí đánh giá BGĐT của Sở GD & ĐT Lâm đồng thẩm định các bài dự thi “Thiết kế giáo án và BGĐT E-learning” của GV ở các bộ môn [11]
- Ưu và nhược điểm của BGĐT như đã phân tích ở phần cơ sở lí luận
Thư viện tư liệu
Trang 31Sau đây là hệ thống các tiêu chuẩn của BGĐT gồm 5 tiêu chuẩn chính:
Hình 1.4 Sơ đồ hệ thống các tiêu chuẩn BGĐT
1.4.5.1 Tiêu chuẩn 1: Về nội dung của BGĐT
Để đảm bảo đạt được các tiêu chuẩn về nội dung BGĐT, chúng tôi đưa ra 5 tiêu chí sau:
a Tiêu chí 1: Bảo đảm tính chính xác, khoa học của nội dung bài giảng
BGĐT hỗ trợ dạy học phải đảm bảo đúng với chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng của sách giáo khoa của lớp học, bậc học Nội dung bài giảng đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn và nội dung, PPDH, chính xác về chính tả,
b Tiêu chí 2: Nội dung của BGĐT ngắn gọn và chuyển tải đầy đủ nội dung tiết học
Trình bày cô đọng không đưa quá nhiều nội dung lý thuyết từ sách giáo khoa mà phải lựa chọn những ý chính, trọng tâm đưa vào BGĐT, hạn chế sử dụng chữ để diễn giải
Hệ thống các tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn
về hiệu quả BGĐT
Tiêu chuẩn về khả năng ứng dụng công nghệ
Tiêu chuẩn
về cách thức
tổ chức và trình bày
Tiêu chuẩn về hình thức
Tiêu
chuẩn về
nội dung
Trang 32thường ≤ 30 trang/1tiết) Thông thường nên bố trí một đơn vị kiến thức nằm gọn trong một trang để dễ quan sát, theo dõi
Hàm lượng lý thuyết, kỹ năng vận dụng, câu hỏi gợi mở, kiến thức trọng tâm và bài tập củng cố cần thiết kế hợp lý và được chuyển tải đầy đủ trong BGĐT
c Tiêu chí 3: Kiến thức tổ chức có hệ thống làm nổi bật trọng tâm bài dạy
và BGĐT phải thể hiện được tính kết nối
Khi thiết kế BGĐT cần có mục lục của bài dạy, phần tóm tắt nội dung chính của cả bài để đảm bảo kiến thức cần được tổ chức khai thác một cách có hệ thống, cấu trúc chặt chẽ, logic nhưng phải làm nổi bật được kiến thức trọng tâm của bài Những kiến thức nào chỉ cần thông báo, những kiến thức nào có thể chuyển thành bài tập cho HS về nhà tự nghiên cứu, kiến thức nào cần tổ chức cho HS tìm hiểu, khai thác tại lớp phải được thể hiện rõ trong bài giảng
Bên cạnh đó, các thông tin có sự liên kết, dễ dàng chuyển đến các trang, menu cần thiết để tạo tính kết nối cho toàn BGĐT giúp HS tập trung chú ý một cách liên tục, không gây phân tán chú ý của HS và giúp cho HS dễ tiếp thu bài mới hay ôn lại bài cũ
d Tiêu chí 4: Tận dụng được các ưu thế của BGĐT
Khi thiết kế BGĐT cần chú ý đến đa dạng cách truyền tải thông tin (nghe, nhìn )
cụ thể như BGĐT có các đoạn phim, hình ảnh thực tế, biểu đồ, sơ đồ phù hợp liên quan đến kiến thức bài học, những thí nghiệm nguy hiểm, độc hại không thể trực tiếp thực hiện cũng được đưa vào bài giảng một cách dễ dàng thông qua các mô phỏng đây là thế mạnh của CNTT
e Tiêu chí 5: Qua nội dung bài soạn, khai thác được tính ứng dụng thực tế
và tính giáo dục cho HS
Môn Hóa học là môn học thực nghiệm, gắn liền với đời sống nên trong nội dung BGĐT phải liên hệ thực tế phù hợp và có tính giáo dục; có sử dụng tài liệu minh họa cho BGĐT (phương tiện multimedia: văn bản, phim, âm thanh, phần mềm hỗ trợ…) chính xác, có ý nghĩa, sát với nội dung bài học, đúng lúc, đúng liều lượng sẽ giúp HS hiểu sâu sắc hơn về tầm quan trọng của bài học, vận dụng những kiến thức bài học vào cuộc sống xung quanh, phát huy được óc sáng tạo của HS
Trang 33Đồng thời nội dung bài giảng còn phải mang tính giáo dục cho HS về đạo đức, phẩm chất và về giáo dục môi trường , từ đó HS sẽ yêu thích môn Hóa học hơn Bài giảng phải được viết dưới dạng mở để GV có thể chủ động bổ sung hoặc thay đổi cho phù hợp với tiết dạy thực tế và dễ dàng cập nhật những thông tin mới về Hóa học
1.4.5.2 Tiêu chuẩn 2: Về hình thức của BGĐT
a Tiêu chí 1: Thiết kế kênh chữ, kênh hình, âm thanh, đoạn phim, mô phỏng trong BGĐT
Font chữ, cỡ chữ cần thống nhất, không nên sử dụng các kiểu chữ rườm rà, cỡ chữ
đủ lớn để xem, không có lỗi chính tả, dùng embedded font để dễ di chuyển sang máy khác
và gọn lời không nên quá nhiều chữ trong 1 trang sẽ gây rối mắt Đối với màu chữ, nên chọn một màu chủ đạo xuyên suốt một trang, một màu cho các đề mục và một màu cho những ý cần làm nổi bật
Hình phải rõ nét, các công thức Hóa học phải cân đối với kích cỡ của chữ và số trong công thức; âm thanh không ồn ào, chói tai khi chuyển trang hoặc đánh dấu trắc nghiệm; hình ảnh thực tế hay hình ảnh động sát hợp với nội dung bài giảng, tạo sự phấn khích và ấn tượng với HS, mô phỏng hay trò chơi cần thiết cho nội dung bài học nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả của tiết học
b Tiêu chí 2: Giao diện của BGĐT
Cần có sự phối hợp hài hòa giữa các màu trong cùng một trang, nếu màu sắc phông nền sặc sỡ, lòe loẹt hay phối màu không khoa học khiến các dòng chữ mờ nhạt, khó nhìn, khó thấy chữ, …, không nên dùng những phông nền động ngộ nghĩnh, lạ mắt sẽ làm phân tán sự chú ý của HS vào nội dung của bài học
c Tiêu chí 3: Các hiệu ứng sử dụng trong BGĐT
Hệ thống hiệu ứng phù hợp với từng loại nội dung, màu sắc, font chữ phù hợp và hài hoà với yêu cầu, đặc trưng bộ môn Những thông tin cần xuất hiện một lúc thì cho xuất hiện ngay, không nên cho xuất hiện từ từ
1.4.5.3 Tiêu chuẩn 3: Về tổ chức và trình bày của BGĐT
a Tiêu chí 1: Thực hiện các bước của quá trình lên lớp
Trang 34Trong BGĐT cần thực hiện đầy đủ các bước lên lớp gồm: Đặt vấn đề, hình thành tri thức mới, luyện tập, hệ thống hoá, củng cố, kiểm tra
b Tiêu chí 2: Phân bổ thời gian hợp lý cho từng phần, các khâu
Phân phối thời gian hợp lý giữa các bước lên lớp, các nội dung (chính, phụ), các khâu (ôn, giảng, luyện), tổ chức và điều khiển HS học tập tích cực, chủ động phù hợp với nội dung của kiểu bài; đảm bảo tính tương tác GV - HS, HS - GV, HS - HS
c Tiêu chí 3: Trình bày BGĐT
Phối hợp nhịp nhàng giữa trình chiếu với ghi bảng, ghi vở, ăn khớp giữa các trang với lời giảng, giữa hoạt động của thầy - trò với tiến trình bài dạy Nhịp độ trình chiếu và triển khai bài dạy vừa phải, phù hợp với sự tiếp thu của phần đông học HS
Khi trình bày BGĐT cần xem xét sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc sử dụng phương pháp đặc thù của bộ môn; chú ý đến việc tận dụng các thế mạnh của BGDT và phối hợp với các phương pháp giảng dạy tích cực, hiện đại khác
14.5.4 Tiêu chuẩn 4: Về công nghệ của BGĐT
a Tiêu chí 1: Về phần mềm
Lựa chọn các PMDH của bộ môn và sử dụng nó thích hợp với từng nội dung bài học được nhúng vào các trang hoặc liên kết động với các đối tượng (hình ảnh, đoạn phim ) trên các trang hoặc file khác
b Tiêu chí 2: Về tính phổ dụng
Khi thiết kế BGĐT cần đảm bảo tính phổ biến, dễ sử dụng, phù hợp với hệ thống máy tính, cấu hình phổ biến và sử dụng được trên các hệ điều hành khác nhau
c Tiêu chí 3: Về kĩ thuật thiết kế
Có thể có các siêu liên kết (hyperlinks) ghép nối giữa các trang, các PMDH, các đoạn phim,… khéo léo, dễ dàng trở về trang trước, các phần đã học khi cần thiết, có thể liên kết với các bài học cũ có liên quan hay với hệ thống bài tập, ví dụ minh hoạ phù hợp trình tự bố cục bài dạy, làm cho bài dạy dễ hiểu, logic và không mất thời gian tìm kiếm
1.4.5.5 Tiêu chuẩn 5: Về hiệu quả của BGĐT
a Tiêu chí 1: Đối với HS
Trang 35- Thực hiện được mục tiêu bài học - HS hiểu bài và hứng thú học tập
- HS được thực hành - luyện tập (rèn luyện kỹ năng)
- Tổ chức các hoạt động học tập, HS tích cực, chủ động tìm ra bài học
b Tiêu chí 2: Đối với GV
- Truyền tải được đầy đủ nội dung kiến thức bài học cho HS
- Tổ chức được các hoạt động kiểm tra, đánh giá
- GV làm chủ được kỹ thuật, trình chiếu không bị trục trặc
1.4.6 Yêu cầu khi soạn BGĐT [1]
1.4.6.1 Đáp ứng đầy đủ yêu cầu của bài giảng truyền thống
- Về nội dung: chính xác, khoa học, đầy đủ nội dung cơ bản, làm rõ trọng tâm bài
giảng, có tính hệ thống, liên hệ thực tế (nếu có), có tính giáo dục
- Về hình thức: trình bày nội dung hợp lí, không sai chính tả, trực quan sinh động
1.4.6.2 Đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc khi xây dựng một BGĐT
- Đảm bảo tính khoa học sư phạm:
+ Nội dung bài giảng phải chính xác, khoa học, đủ nội dung, rõ trọng tâm + Nội dung thể hiện được thái độ tích cực, sử dụng đa phương tiện (multimedia) để cho quá trình nhận thức của HS theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”
+ Các trang trình chiếu, các công cụ và phương tiện phải phù hợp với mục đích dạy và học
- Đảm bảo việc lựa chọn các phương pháp và PTDH:
+ Phối hợp tốt các PPDH
+ Khai thác triệt để PPDH tích cực
+ Tăng cường liên hệ thực tiễn
+ Đảm bảo tính liên môn
+ Tăng cường sử dụng phiếu học tập, tổ chức hoạt động nhóm
+ Kết hợp kiểm tra tự luận và kiểm tra trắc nghiệm
+ Tạo cơ hội cho HS hoạt động
Trang 36+ phương pháp dạy học kết hợp tốt với các PTDH phù hợp nội dung, kiểu bài lên lớp
- Đảm bảo tính hiệu quả: xây dựng BGĐT cần phải lấy tính hiệu quả làm tiêu chí hàng đầu Cần đáp ứng được:
- Đảm bảo tính tối ưu của cấu trúc cơ sở dữ liệu:
+ Dữ liệu phải được cập nhật dễ dàng và thuận lợi, yêu cầu kích thước lưu trữ phải tối thiểu, truy cập nhanh chóng khi cần (nhất là đối với các dữ liệu multimedia), dễ dàng chia sẻ
+ Cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tới việc hình thành các thư viện điện tử trong tương lai, như thư viện các bài tập, đề thi; thư viện các tranh ảnh, các phim học tập; thư viện các tài liệu giáo khoa, tài liệu GV,…
- Đảm bảo tính cập nhật nội dung kiến thức bài giảng
- Đảm bảo các yêu cầu cơ bản về hình thức:
+ Về màu sắc của hình nền: cần tuân thủ nguyên tắc tương phản, chỉ nên sử dụng chữ màu sậm (đen, xanh đậm, đỏ đậm,…) trên nền trắng hay nền màu sáng và ngược lại
+ Về font chữ: nên dùng font chữ đậm, rõ và gọn, phổ biến như Arial, Time New Roman,…
+ Về kích cỡ chữ: kích cỡ phải từ 20 trở lên
Trang 37+ Về trình bày nội dung: cần chừa ra khoảng trống đều ở hai bên và trên dưới theo tỷ lệ thích hợp (thường là 1/5)
+ Ngoài ra, những tranh ảnh hay đoạn phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì không nên sử dụng
1.4.7 Ƣu điểm của việc sử dụng BGĐT trong DHHH
Tích hợp truyền thông đa phương tiện có khả năng đem lại lượng thông tin phong phú, đa dạng, làm cho giờ dạy trở nên hấp dẫn, sinh động Thuận lợi cho việc áp dụng các PPDH hướng vào người học
Cung cấp thêm nhiều kiến thức thực tế mà sách giáo khoa không truyền tải hết qua những âm thanh, hình ảnh thông qua hình ảnh, đoạn phim,…
Qua BGĐT, GV có thể sử dụng thí nghiệm mô phỏng cho các quá trình xảy ra quá nhanh hay quá chậm, những thí nghiệm độc hại và nguy hiểm mà GV và HS không thể hay khó thực hiện trong phòng thí nghiệm (kể cả những thí nghiệm đơn giản nhưng thiếu hóa chất, dụng cụ)
BGĐT giúp tiết kiệm thời gian lên lớp do không cần phải mang theo những dụng
cụ dạy học như tranh ảnh, mô hình, bảng phụ,…
GV dễ dàng cập nhật, sửa đổi, nâng cao chất lượng bài giảng theo thời gian, GV có thể chuẩn bị BGĐT trước để giảng dạy nhiều nơi, thuận lợi cho việc trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm
1.4.8 Một số sai lầm mắc phải khi thiết kế BGĐT
Một số nhận xét rất tinh tế của thầy giáo Hoàng Ngọc Lân, GV Toán, chuyên viên Tin học của Sở GD & ĐT tỉnh Đồng Nai, về những lỗi thường gặp ở người mới bắt đầu soạn giảng với PowerPoint
- Lỗi ở khâu chuẩn bị:
Về nội dung, GV đưa quá nhiều kiến thức lên các trang Lỗi này có thể do
GV chưa biết chắt lọc và tinh giản kiến thức cần trình bày trên các trang hoặc do tâm lý sợ dạy thiếu chương trình, sợ HS không nắm đủ kiến thức Cũng có thể do không có kinh nghiệm và kỹ năng tóm lược nội dung
Trang 38Về cấu trúc, GV bắt chước nguyên xi cấu trúc bài học trong SGK, thiếu
sáng tạo ra các cấu trúc mới, đơn giản và hợp với quy luật nhận thức của HS trong môi trường giảng dạy có thiết bị
Về tư liệu hình ảnh và multimedia, thường rơi vào hai tình huống, thừa hoặc
thiếu Nếu tư liệu quá nhiều thì gây mất tập trung, rườm rà không cần thiết còn tư liệu quá ít hoặc không có thì không phát huy được hiệu quả BGĐT
- Lỗi ở khâu thiết kế:
Về số lượng trang, thường nhiều hơn mức cần thiết, tốc độ lật nhanh gây
cho HS cảm giác không kịp tiếp thu
Về font chữ, trang chứa quá nhiều chữ, kích cỡ nhỏ, người xem không thấy
hoặc phải điều tiết mắt liên tục ra gây cảm giác mệt mỏi, HS không ghi chép kịp
Việc phối hợp màu sắc: không chuẩn và thiếu các nguyên tắc cơ bản về độ
sáng/tối, độ đậm/nhạt, độ tương phản khiến cho các trang không đạt tới sự hài hòa
cần thiết, gây ức chế tâm lý cho HS
Về hiệu ứng và âm thanh: lạm dụng các hiệu ứng chuyển động là vấn đề
thường gặp nhất là các GV mới bắt đầu sử dụng, nếu có quá nhiều hiệu ứng sẽ gây phản tác dụng Âm thanh cũng là một yếu tố kích thích tốt cho giác quan, nhưng
đồng thời cũng là một yếu tố gây nhiễu bài giảng của GV nếu lạm dụng
- Lỗi ở khâu dạy học trên lớp:
GV quá phụ thuộc vào thiết bị và công nghệ, đến mức mất khả năng linh hoạt, coi việc chuẩn bị nội dung của mình là cố định, cứ thế mà làm, bất kể tình huống trên lớp đòi hỏi phải điều chỉnh thay đổi
Không những thế, theo Lê Văn Huân [14] (Phòng GD & ĐT huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) thì có nhiều nguyên nhân khiến cho các thầy, cô giáo soạn, giảng không đúng yêu cầu
Thứ nhất, chưa phân biệt thế nào là giáo án điện tử, BGĐT Chính vì chưa
phân biệt rõ ràng 2 khái niệm này nên có thầy, cô giáo khi lên lớp đã trình diễn luôn các phần không nên trình chiếu như giới thiệu “mục tiêu yêu cầu của bài học”, các bước làm việc của thầy, của trò
Trang 39Thứ hai, trình chiếu không đúng với phương pháp giảng dạy “phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS” Ví dụ: khi thầy giáo chỉ đạo cho trò thực hiện một công đoạn nhằm để chiếm lĩnh một nội dung kiến thức nào đó nhưng khi thầy “nhấn phím”, “nhắp chuột” thì màn hình lại xuất hiện nhiều nội dung, trong đó có những nội dung mà thầy và trò chưa kịp đề cập đến trong các hoạt động trên, dẫn đến “lộ” nội dung
Thứ ba, trình chiếu những phần không nhất thiết phải trình chiếu như
những câu chữ đã có sẵn trong sách giáo khoa (khái niệm, định nghĩa, ví dụ bằng chữ…) Nếu trình chiếu y như sách giáo khoa thì không cần phải dạy bằng BGĐT
Thứ tư, thiết kế màu nền, màu chữ không phù hợp với nội dung bài học,
cách chọn hiệu ứng không thông thống nhất khi thì từ trên chạy xuống, lúc ở dưới chạy lên, rồi phải qua trái, trái qua phải Như thế thì chỉ có gây rối và phân tán sự tập trung của HS
Ngoài những nhược điểm mà thầy Hoàng Ngọc Lân và thầy Lê Văn Huân đã nêu ở trên thì GV còn mắc một số sai lầm như: lạm dụng BGĐT áp dụng cho những bài giảng cần dạy theo phương pháp truyền thống, làm hiệu quả bài giảng không tốt Bên cạnh, khi soạn BGĐT, GV thường chỉ sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint mà không phối hợp với các phần mềm khác nên tốn nhiều thời gian, công sức trong quá trình soạn bài
1.4.9 Thực trạng về việc sử dụng BGĐT trong DHHH ở trường PT hiện nay
1.4.9.1 Mục đích điều tra
Xem xét thực trạng sử dụng BGĐT và các PPDH tích cực trong DHHH ở các trường THPT:
- Tìm hiểu mức độ quan tâm việc sử dụng BGĐT
- Tìm hiểu mức độ sử dụng BGĐT và các PPDH tích cực
- Tìm hiểu một số khó khăn khi sử dụng BGĐT
- Tìm hiểu một số hình thức sử dụng BGĐT và PPDH tích cực có hiệu quả ở trường THPT hiện nay
1.4.9.2 Đối tượng điều tra
Trang 40GV đang giảng dạy bộ môn Hóa học tại một số trường THPT ở tỉnh Kiên
Giang và tỉnh Khánh Hòa
1.4.9.3 Phương pháp tiến hành
Chúng tôi phát phiếu điều tra đến các GV dạy bộ môn Hóa học tại một số trường THPT ở tỉnh Kiên Giang và Khánh Hòa
Bảng 1.2 Danh sách các trường đã điều tra
1.4.9.4 Kết quả điều tra
Bảng 1.3 Danh sách số lượng GV phản hồi
Chúng tôi đã thống kê được một số kết quả phản ánh tình hình sử dụng BGĐT theo hướng đổi mới PPDH đối với môn Hóa học của GV ở các trường THPT như sau: