1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học

110 758 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 3,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ nhận thức tầm quan trọng mà BGĐT đem lại và mong muốn nghiên cứu, xây dựng hệ thống BGĐT có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học môn hóa học, chúng tôi đã

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu

TP Hồ Chí Minh 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng và nổ lực của bản thân em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm từ thầy cô, gia đình và bạn bè Nhân đây, em xin kính gửi lời cám ơn chân thành đến:

Các thầy cô giáo trong Khoa, các thầy cô đã giảng dạy, đào tạo, hướng dẫn và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt là Cô Thái Hoài Minh đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp

em trong thời gian thực hiện đề tài

Em cũng xin trân trọng gửi lời cám ơn đến PGS - TS Trịnh Văn Biều, người thầy đã dành thời gian quý báu của mình để hướng dẫn và cung cấp nhiều tài liệu giúp em thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện khóa luận

Các thầy, cô giáo và các em học sinh trường THPT Nguyễn Trung Trực, Tân Hiệp, Thạnh Đông, Hòn Đất - Kiên Giang và THPT Lý Tự Trọng - Khánh Hòa đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị đi trước đã giúp đỡ, góp

ý cho em trong quá trình thực hiện đề tài Cùng với những người bạn trong lớp Hóa KG đã sát cánh bên em giúp em vượt qua những khó khăn, trở ngại

Cuối cùng em xin cảm ơn đến gia đình - những người luôn động viên, khuyến khích để em có đủ nghị lực hoàn thành khóa luận

Trong quá trình làm khóa luận, do chưa có kinh nghiệm và thời gian có hạn nên không tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô và các bạn thông cảm Sau cùng, em xin gửi lời chúc sức khỏe, thành công đến tất cả mọi người !

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2013

Sinh viên Nguyễn Thị Thu

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Dạnh mục các hình

MỞ ĐẦU 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 10

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10

1.2 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 13

1.2.1 Khái niệm PPDH và PTDH 13

1.2.2 Đặc trưng của bộ môn hóa học và PPDH hóa học 15

1.2.3 Một số xu hướng đổi mới PPDH hiện nay 17

1.2.4 Đổi mới PPDH bằng việc sử dụng các PTDH 18

1.3 TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 19

1.3.1 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học 19

1.3.2 Thuận lợi và thách thức khi ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học 21

1.4 TỔNG QUAN VỀ BGĐT 23

1.4.1 Khái niệm BGĐT 23

1.4.2 Cấu trúc chung của BGĐT 24

1.4.3 Yêu cầu của một BGĐT 25

1.4.4 Ưu điểm của việc sử dụng BGĐT trong dạy học hóa học 26

1.4.5 Một số sai lầm mắc phải khi thiết kế BGĐT 27

1.4.6 Thực trạng về việc sử dụng BGĐT trong dạy học hóa học ở trường phổ thông 29

Chương 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN HÓA HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC 37

2.1 HỆ THỐNG CÁC TIÊU CHUẨN CỦA BGĐT HÓA HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC 37

2.1.1 Tiêu chuẩn 1: Về nội dung của BGĐT 37

2.1.2 Tiêu chuẩn 2: Về hình thức của BGĐT 39

2.1.3 Tiêu chuẩn 3: Về tổ chức và trình bày của BGĐT 40

2.1.4 Tiêu chuẩn 4: Về công nghệ của BGĐT 40

2.1.5 Tiêu chuẩn 5: Về hiệu quả của BGĐT 41

2.2 CÁC DẠNG BGĐT MÔN HÓA HỌC 41

Trang 4

2.2.1 Dạng bài về khái niệm, định luật, học thuyết 41

2.2.2 Dạng bài về chất - nguyên tố 42

2.2.3 Dạng bài về sản xuất hóa học 42

2.2.4 Dạng bài về luyện tập, ôn tập 43

2.3 QUY TRÌNH THIẾT KẾ BGĐT 43

2.4 HỆ THỐNG CÁC PHẦN MỀM ĐƯỢC TÍCH HỢP VÀO BGĐT TRONG PHẠM VI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 46

2.4.1 Phần mềm Chemoffice 46

2.4.2 Phần mềm Crocodile Chemistry 46

2.4.3 Phần mềm McMix 47

2.4.4 Phần mềm Mindjet MindManager 47

2.4.5 Phần mềm ProShow Gold 47

2.4.6 Phần mềm Violet 47

2.4.7 Phần mềm Wondershare QuizCreator 48

2.5 CÁCH THIẾT KẾ BGĐT CÓ TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM HÓA HỌC 48

2.6 GIỚI THIỆU HỆ THỐNG CÁC BGĐT HÓA HỌC 11 NÂNG CAO CÓ TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC 64

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66

3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 66

3.2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 66

3.3 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 67

3.4 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 67

3.5 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 68

3.5.1 Điều tra cơ bản 68

3.5.2 Chọn bài thực nghiệm, lớp thực nghiệm - đối chứng 69

3.5.3 Chuẩn bị cho tiết lên lớp 69

3.5.4 Tiến hành giảng dạy, kiểm tra và chấm điểm 69

3.5.5 Xử lí số liệu 70

3.6 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 71

3.6.1 Kết quả định lượng 71

3.6.2 Kết quả định tính 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 93

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BGĐT : Bài giảng điện tử

CNTT : Công nghệ thông tin

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh ưu - nhược điểm của một số công trình đi trước 10

Bảng 1.2 Danh sách các trường đã điều tra thực trạng việc sử dụng BGĐT 30

Bảng 1.3 Danh sách số lượng GV phản hồi phiếu điều tra ở các trường 30

Bảng 1.4 Kết quả điều tra câu 1 30

Bảng 1.5 Kết quả điều tra câu 2 31

Bảng 1.6 Kết quả điều tra câu 3 31

Bảng 1.7 Kết quả điều tra câu 4 32

Bảng 1.8 Kết quả điều tra câu 5 33

Bảng 1.9 Kết quả điều tra câu 6 33

Bảng 1.10 Kết quả điều tra câu 7 34

Bảng 1.11 Kết quả điều tra câu 8 35

Bảng 3.1 Danh sách trường, GV giảng dạy, lớp TN - ĐC 68

Bảng 3.2 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 1 71

Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 2 71

Bảng 3.4 Phân loại kết quả kiểm tra nhóm 1 và nhóm 2 73

Bảng 3.5 Giá trị các tham số nhóm 1 và nhóm 2 74

Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 3 75

Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 4 75

Bảng 3.8 Phân loại kết quả kiểm tra nhóm 3 và nhóm 4 77

Bảng 3.9 Giá trị các tham số nhóm 3 và nhóm 4 78

Bảng 3.10 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 5 78

Bảng 3.11 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 6 79

Bảng 3.12 Phân loại kết quả kiểm tra nhóm 5 và nhóm 6 80

Bảng 3.13 Giá trị các tham số nhóm 5 và nhóm 6 81

Bảng 3.14 Kết quả điều tra câu 1 82

Bảng 3.15 Kết quả điều tra câu 2 83

Bảng 3.16 Kết quả điều tra câu 3 83

Bảng 3.17 Kết quả điều tra câu 4 84

Bảng 3.16 Kết quả điều tra câu 5 85

Bảng 3.17 Kết quả điều tra câu 6 85

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc chung của một BGĐT 25

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thiết kế BGĐT 43

Hình 2.2 Sơ đồ thư viện tư liệu trong BGĐT 45

Hình 2.3 Thư viện tài liệu trong BGĐT bài Axit cacboxylic 49

Hình 2.4 Slide chào mừng, kiểm tra bài cũ bài Axit cacboxylic 50

Hình 2.5 Giao diện phần mềm Wondershare QuizCreator 50

Hình 2.6 Màn hình soạn thảo phần mềm Wondershare QuizCreator 51

Hình 2.7 Màn hình soạn thảo câu hỏi ghép đôi 51

Hình 2.8 Màn hình sau khi soạn thảo 52

Hình 2.9 Màn hình soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm có hình ảnh 52

Hình 2.10 Xuất câu hỏi trắc nghiệm 53

Hình 2.11 Bài tập ghép đôi 53

Hình 2.12 Bài tập trắc nghiệm 54

Hình 2.13 Slide giới thiệu bài học 54

Hình 2.14 Slide giới thiệu nội dung bài học 55

Hình 2.15 Giao diện phần mềm ChemBioDraw Ultra 55

Hình 2.16 Vẽ công thức cấu tạo 56

Hình 2.17 Slide cấu trúc axit cacboxylic 56

Hình 2.18 Giao diện phần mềm ChemBio3D Ultra 57

Hình 2.19 Cấu trúc không gian của axit fomic và axit axetic 57

Hình 2.20 Cấu trúc không gian dạng khối 58

Hình 2.21 Slide cấu trúc không gian của axit cacboxylic 58

Hình 2.22 Giao diện phần mềm Mindjet MindManager 59

Hình 2.23 Cách thiết kế bản đồ tư duy 59

Hình 2.24 Hiệu chỉnh màu nền cho bản đồ 60

Hình 2.25 Hiệu chỉnh cho từng topic 60

Hình 2.26 Sơ đồ tư duy bài Axit cacboxylic 61

Hình 2.27 Giao diện phần mềm Violet 61

Hình 2.28 Nhập chủ đề, tên bài cho bài tập 62

Trang 8

Hình 2.29 Giao diện nhập câu hỏi trắc nghiệm 62

Hình 2.30 Câu hỏi trắc nghiệm được soạn bằng phần mềm Violet 63

Hình 2.31 Các câu hỏi trắc nghiệm đã được soạn 63

Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 1 72

Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 2 73

Hình 3.3 Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 1 73

Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 2 74

Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 3 76

Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 4 76

Hình 3.7 Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 3 77

Hình 3.8 Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 4 77

Hình 3.9 Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 5 80

Hình 3.10 Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 6 80

Hình 3.11 Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 5 81

Hình 3.12 Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 6 81

Trang 9

MỞ ĐẦU

Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) Sự xuất hiện của nó đã và đang mang lại những thay đổi sâu sắc về mọi mặt trong đời sống xã hội Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (GD & ĐT), việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học là xu hướng tất yếu, không chỉ thúc đẩy tính tích cực, hứng thú đối với học sinh (HS) mà còn góp phần nâng cao chất lượng dạy học CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước: dạy học lấy người học làm trung tâm, ngày càng nhiều giáo viên (GV) tổ chức hoạt động dạy học theo hướng cho HS thuyết trình, làm việc nhóm, dạy học theo dự án… Tất cả những hoạt động đó nhằm mục đích giúp HS chủ động tiếp cận kiến thức, tích cực tìm kiếm thông tin và từ

đó phát triển khả năng tư duy, khả năng tự học của bản thân

Trong những năm gần đây, bài giảng điện tử (BGĐT) đang dần dần thay thế

những tiết học truyền thống với bảng đen, phấn trắng Cả những GV lâu năm, những sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường cũng như các HS đều không thể phủ nhận

những hiệu quả to lớn mà BGĐT đã mang lại Ngoài việc tiết kiệm thời gian, BGĐT không những cung cấp được một lượng kiến thức lớn mà còn đem lại cho HS những hình ảnh sinh động, những sơ đồ - biểu bảng dễ hiểu … làm tăng hiệu quả tiếp thu bài

học và gây hứng thú học tập ở HS Tuy nhiên, việc thiết kế một bài giảng tương đối khó Thiết kế một bài giảng sao cho sinh động, hấp dẫn cũng như đem lại hiệu quả cao đòi hỏi người GV phải bỏ nhiều thời gian, công sức để sưu tầm tài liệu và soạn bài

Bất cứ môn học nào cũng có những đặc trưng riêng, môn hóa học cũng không

nằm ngoài quy luật ấy Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm (TN) Do đó để

giảng dạy hóa học có hiệu quả cao thì người GV phải biết cách trình bày, minh họa bài

giảng sao cho sinh động, hấp dẫn, kết hợp được cả lý thuyết và thực tiễn Trong quá trình giảng dạy hóa học việc viết các phương trình phản ứng, trưng bày các mẫu vật,

biểu diễn thí nghiệm minh họa và các bài tập ứng dụng đóng một vai trò quan trọng, đảm bảo tính trực quan của bộ môn Do đó, BGĐT hóa học ngày càng được nhiều GV

ưa chuộng bởi sự hữu ích của chúng trong việc truyền tải kiến thức đến HS Tuy nhiên,

Trang 10

đa số BGĐT hiện nay trên thị trường chưa được kiểm định, đánh giá theo các tiêu chuẩn, chất lượng nhất định, còn soạn rất đơn điệu, sơ sài, chưa phát huy được hết

những ưu điểm của BGĐT Chủ yếu chỉ sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint mà

chưa phối hợp được các phần mềm hiện đại hỗ trợ để đơn giản hóa quá trình soạn BGĐT, rút ngắn thời gian và đạt kết quả tốt nhất

Từ nhận thức tầm quan trọng mà BGĐT đem lại và mong muốn nghiên cứu, xây dựng hệ thống BGĐT có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học môn hóa học, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “THIẾT KẾ HỆ THỐNG BGĐT MÔN HÓA HỌC LỚP 11 NÂNG CAO THEO HƯỚNG TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC”

Xây dựng hệ thống BGĐT môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học hóa học ở trường trung học

phổ thông (THPT)

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý thuyết về BGĐT

- Nghiên cứu về nội dung, phương pháp của chương chương trình hoá học lớp 11 nâng cao

- Nghiên cứu một số phần mềm dạy học để tích hợp vào BGĐT môn hóa học

- Điều tra, đánh giá cơ bản thực trạng sử dụng BGĐT ở các trường THPT hiện nay

- Thiết kế hệ thống BGĐT trong chương trình hóa học 11 nâng cao có tích hợp

các phần mềm dạy học

- Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá kết quả của đề tài nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu: thiết kế hệ thống BGĐT trong chương trình hóa học lớp

11 nâng cao có tích hợp các phần mềm dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa

học ở trường THPT

Trang 11

- Xây dựng hệ thống BGĐT hóa học lớp 11 nâng cao có tích hợp các phần mềm dạy học

Nếu thiết kế hệ thống BGĐT theo hướng tích hợp các phần mềm đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ, dễ sử dụng thì chất lượng bài lên lớp hóa học có ứng dụng CNTT

sẽ được nâng cao, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Phân tích, tổng hợp thông tin

- Sử dụng máy tính, các trang web trên mạng và các phần mềm dạy học để thiết

Tiến hành xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của một BGĐT hóa học và thiết kế hệ thống BGĐT hóa học lớp 11 nâng cao gồm 27 BGĐT có tích hợp 7 phần mềm dạy học

Trang 12

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Hóa học là môn khoa học TN với khối lượng kiến thức khá lớn và trừu tượng,

do đó trong một thời gian ngắn của tiết học GV khó có thể hướng dẫn cho HS tiếp cận được lượng kiến thức đó một cách nhanh chóng và hiệu quả Để có thể nâng cao hiệu quả dạy học, gây được sự hứng thú, quan tâm của HS, GV có thể nhờ vào CNTT GV

sử dụng CNTT để thiết kế các BGĐT, có thêm các tài liệu, hình ảnh, đoạn phim… bởi

nó có thể thay thế cho rất nhiều lời giảng mà HS lại có thể nhớ được lâu hơn Bên cạnh

đó, GV có thể sử dụng các phần mềm trong dạy học hóa học để thực hiện các thí nghiệm ảo, làm các sơ đồ, mô hình cấu tạo nguyên tử - phân tử hoặc các bài tập thực hành để khắc sâu kiến thức cho HS, giúp các em tiếp thu bài nhanh, giờ dạy có hiệu quả cao hơn

Chính vì vậy, nhiều sinh viên và học viên đã có nhiều đề tài nghiên cứu phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học

Giới thiệu và đánh giá một số công trình gần gũi với đề tài nghiên cứu

Bảng 1.1 So sánh ưu - nhược điểm của một số công trình đi trước

Khóa luận chỉ sử dụng phần mền Powerpoint

để thiết kế, nếu sử dụng thêm một số phần mềm dạy học khác để

Trang 13

án điện tử của chương trình hóa hữu cơ lớp 11 được soạn tốt, chi tiết và khá đầy

đủ

Tác giả thiếu quan tâm đến việc tích hợp thêm một số phần mềm hỗ trợ khác Đặc biệt là bộ phần mềm Chemoffice

để vẽ những công thức phân tử nhanh chóng, đẹp và chính xác hơn

hóa học, khá chi tiết, có sự đầu tư nghiên cứu về phần mềm Violet qua cách sử dụng, các tính năng của phần mềm này và có kèm theo một số phần mềm hỗ trợ khi soạn BGĐT

Khóa luận chỉ thiết kế

4 bài giảng, chưa thể hiện được tính hệ thống

Khóa luận chỉ áp dụng trên một số bài cụ thể, chưa thể hiện tính hệ thống cho toàn thể chương trình hóa học

11

Trang 14

kế một BGĐT, cụ thể là bài Hiđrosunfua Khóa luận còn có giá trị trong việc ứng dụng các phần mềm vào dạy học hóa học, khá chi tiết, có sự đầu với phần mềm chính là Powerpoint

và thêm 5 phần mềm dạy học tích cực

Khóa luận mới xây

dựng được hệ thống 21 BGĐT có tích hợp 5 phần mềm dạy học cho chương trình lớp 10 ban nâng cao

kế và sử dụng giáo án điện

tử

Luận văn chỉ tập trung thiết kế được 7 giáo án điện tử cho phần hiđrocacbon ở chương trình lớp 11 với 3 phần mềm được tích hợp (Lecture Maker, PowerPoint, Violet) mà

không sử dụng bộ phần mềm Chemoffice để vẽ những công thức phân

tử cũng như mô hình

Trang 15

và chương “Nhóm cacbon”

lớp 11 Các bài lên lớp được soạn tốt, chi tiết và khá đầy đủ

Luận văn cũng chỉ giới thiệu được 17 bài lên lớp trong phần hóa học

vô cơ lớp 11 nâng cao với một phần mềm được sử dụng mà chưa tích hợp được các phần mềm dạy học khác

Các đề tài trên đều thể hiện những điểm chung thống nhất như sau:

- Ứng dụng CNTT vào dạy học hóa học là một xu hướng tất yếu đổi mới PPDH

- Chương trình Microsoft Powerpoint được sử dụng phổ biến trong các đề tài nhờ tính thiết thực, hữu ích và tiện lợi của nó đối với GV ở trường phổ thông trong quá trình soạn BGĐT

- Ngoài việc sử dụng phần mềm Powerpoint thì việc ứng dụng các phần mềm khác vào bài giảng đã làm cho nội dung bài giảng hay và phong phú hơn

Tuy vậy, đa số các luận văn trên chỉ chú trọng đi sâu tìm hiểu một phần mềm dạy học cụ thể và ứng dụng phần mềm đó vào một số BGĐT mà chưa phát huy được khả năng phối hợp các phần mềm khác nhau để quá trình thiết kế đạt kết quả tốt nhất

Nội dung nghiên cứu còn tương đối ít, chỉ có một số lượng nhỏ các BGĐT được soạn hay chỉ mới tập trung được ở khối lớp 10 Bên cạnh đó, các đề tài chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá BGĐT

a Khái niệm phương pháp, PPDH

Có nhiều cách hiểu khác nhau về phương pháp vì nó là một khái niệm rất trừu tượng:

Trang 16

o Theo lí thuyết hoạt động phương pháp là cách thức của chủ thể tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra

o Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện, là tổ hợp các bước mà chủ thể phải đi theo để đạt được mục đích

o Phương pháp là tổ hợp những nguyên tắc, quy tắc dùng để chỉ đạo hành động

o “Phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung” (Hêghen)

PPDH là một trong những thành tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một nội dung nhưng HS có hứng thú, tích cực hay không, có hiểu bài một cách sâu sắc không phần lớn phụ thuộc vào PPDH của người thầy PPDH có tầm quan trọng đặc biệt nên nó luôn luôn được các nhà giáo dục quan tâm [2]

PPDH là cách thức hoạt động có trình tự, phối hợp, tương tác giữa GV và HS nhằm đạt được mục đích dạy học [9]

Theo PGS TS Nguyễn Xuân Trường, tác giả cuốn “PPDH hóa học ở trường

phổ thông” thì PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học

- Phương pháp dạy: Cách thức hoạt động của thầy trong việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động nhận thức của trò

- Phương pháp học: Cách thức hoạt động của trò trong việc chủ động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng

nhận thức của trò nhằm giúp trò đạt các mục tiêu dạy học [29]

Còn theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang thì “PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho học trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích học tập” [20]

b Khái niệm PTDH

PTDH theo Nguyễn Ngọc Quang, bao gồm mọi thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kĩ năng

PTDH là những đối tượng vật chất (sách vở, đồ dùng, máy móc, thiết bị …) dùng để dạy học PTDH bao gồm: SGK và tài liệu tham khảo (SGK, sách GV, sách tham khảo, tạp chí chuyên đề, sách báo các loại, thư viện điện tử, các thông tin trên

Trang 17

mạng internet); các đồ dùng dạy học (bảng các loại, tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, mô hình, mẫu vật); các phương tiện kĩ thuật dạy học (máy chiếu hình và bảng trắng, máy ghi âm, tivi, máy vi tính, camera) và các thí nghiệm dạy học [2]

PTDH giúp cụ thể hóa những cái trừu tượng, làm sinh động nội dung học tập, giúp HS phát triển năng lực nhận thức, khả năng quan sát, tư duy… nâng cao hứng thú của HS Bên cạnh đó, PTDH còn giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp, kiểm tra

và đánh giá kết quả học tập của HS được thuận lợi

a Đặc trưng của bộ môn hóa học

Hóa học là một môn khoa học có khối lượng kiến thức khá lớn cả về phương diện TN lẫn lý thuyết Thực tế hiện nay cho thấy hóa học là một môn rất khó hiểu đối với nhiều HS vì các kiến thức hóa học mang tính trừu tượng cao, mặt khác có thể do cách truyền đạt của GV còn quá khô khan, chưacó nhiều sáng tạo gây sự nhàm chán cho HS Để HS có thể nắm vững kiến thức GV cần phải biết cách trình bày, minh họa bài giảng sao cho hấp dẫn, sinh động, kết hợp được cả lí thuyết và thực tiễn, phải biết phối hợp cả hình ảnh, sơ đồ, biểu bảng, mô phỏng, âm thanh để kích thích tư duy HS, giúp HS nhớ bài lâu hơn

Hóa học là môn khoa học TN, trong đó thí nghiệm như một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học hóa học Nó là một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của một tiết học, giúp phát triển tư duy, kích thích hứng thú học tập đối với HS Tuy nhiên, một số thí nghiệm không thể thực hiện trên lớp do tốn nhiều thời gian để chuẩn bị, tiến hành hay thí nghiệm đó sẽ gây độc hại đối với GV và

HS, do đó GV có thể sử dụng các đoạn phim, những mô phỏng thí nghiệm, hay sử dụng phần mềm thí nghiệm ảo để tái hiện thí nghiệm cho HS quan sát

Bài tập hóa học là một trong những phần không thể thiếu của hóa học giúp HS

ôn tập, củng cố kiến thức lí thuyết đã học và làm các bài tập vận dụng Tuy nhiên, thời gian cho mỗi tiết dạy chỉ có 45 phút, GV không đủ để vừa truyền đạt kiến thức vừa dành thời gian cho HS củng cố lại kiến thức Để khắc phục vấn đề này, GV có thể sử dụng các phần mềm soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm, bài tập vận dụng trước rồi cho

HS làm tại lớp để khắc sâu kiến thức

Trang 18

b Đặc trưng của PPDH hóa học [2]

- Hóa học là một môn khoa học TN và lí thuyết Trong dạy học hóa học, thí nghiệm là một phương tiện không thể thiếu được

- Trong dạy học hóa học, các phương pháp nhận thức sau đây được sử dụng một cách thường xuyên:

+ Phương pháp diễn dịch - quy nạp: sử dụng khi dạy về mối liên hệ giữa vị trí - cấu tạo - tính chất; khi hình thành khái niệm chu kì Nhóm trong hệ thống tuần hoàn…

+ Phương pháp cụ thể, trừu tượng: Môn hóa học đòi hỏi HS phải có một trình độ nhất định về tư duy trừu tượng (không thể dạy sớm hơn) GV phải sử dụng các phương tiện trực quan (hình vẽ, mô hình…) khi đề cập đến các vấn đề mà HS không thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường

- Các học thuyết, định luật có vai trò rất lớn trong dạy học hóa học:

+ Là công cụ cho phép quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp

+ Là công cụ để tiên đoán khoa học

Tóm lại, hóa học là môn khoa học TN và lí thuyết Trong dạy học hóa học cũng

có nhiều phương pháp như thuyết trình, đàm thoại, nghiên cứu, trực quan, sử dụng bài tập… Vì vậy, để HS có thể lĩnh hội được các kiến thức về hóa học, GV cần phải biết phối hợp nhiều PPDH khác nhau Không chỉ đơn giản là thuyết trình những kiến thức quan trọng, cần nhớ mà còn phải cho HS xem những hình ảnh về chất, nguyên tố đó; những đoạn phim hay làm các thí nghiệm mô phỏng tính chất hóa học của các nguyên

tố để HS có thể nhớ lâu; cho HS thảo luận nhóm để giải quyết một vấn đề nào đó đến bài học hay thực tế cuộc sống có liên quan đến bài học Đặc biệt, không thể thiếu các

Trang 19

bài tập vận dụng, các bài tập trắc nghiệm để củng cố kiến thức Do đó, để nâng cao chất lượng dạy và học hóa học, GV cần phải kết hợp các PPDH khác nhau một cách khéo léo

Theo PGS TS Trịnh Văn Biều, trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các hướng khác nhau Sau đây là một số xu hướng đổi mới cơ bản:

Thứ nhất là, PPDH phải phát huy được tính tích cực, tự lực, tự chủ, sáng tạo

của người học; chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS tức là chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá, từ đó tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo Thực tế cho thấy nhiều nơi, nhiều trường đã làm được điều này,

chẳng hạn như một số trường phổ thông ở TP HCM, bên cạnh những tiết học chính khóa trên lớp, trường còn tổ chức cho HS đi thực tế, tham quan, tham gia nhiều buổi học ngoại khóa… nhằm phát huy sự tìm tòi, học hỏi và sáng tạo của HS Tuy nhiên xu hướng đổi mới này cũng chưa được phổ biến Điều này còn tùy thuộc vào từng vùng, từng địa phương và trình độ của HS mà GV có thể áp dụng phương pháp này

Thứ hai là, PPDH phải phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương

châm học suốt đời Cụ thể là GV không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang

bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời Ngày nay trên mọi phương tiện truyền thanh, truyền hình có nhiều chương

trình học tập giúp cho hoạt động tự học như chương trình Em yêu khoa học đến những chương trình Bổ túc kiến thức phổ thông, Ôn thi tốt nghiệp, đại học… Các chương trình trò chơi truyền hình phục vụ cho phương châm học suốt đời như Vui để học,

Đường lên đỉnh Olympia…

Thứ ba là, PPDH phải tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận

dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế, chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức Đây chính là cách giúp HS gắn kết được kiến thức đang học với thực tế cuộc sống Ví dụ khi học bài “Phân bón hóa học”

HS có thể vận dụng kiến thức đã học bằng cách biết các tính chất, đặc tính, cách bón,

ưu - nhược điểm của các loại phân … để lựa chọn, bón cho hợp lí với loại cây trồng

mà gia đình đang chăm sóc

Trang 20

Thứ tư là, tích cực sử dụng PPDH giải quyết vấn đề vào dạy học Dạy học giải

quyết vấn đề là phương pháp trong đó GV đặt ra cho HS một (hoặc hệ thống) vấn đề nhận thức, chuyển HS vào tình huống có vấn đề, sau đó GV hướng dẫn, điều khiển HS giải quyết vấn đề, đi đến những kết luận cần thiết của nội dung học tập Phương pháp này không phải chỉ sử dụng đối với tiết bài mới lên lớp mà còn được sử dụng để củng

cố, ôn tập và học bài ở nhà của HS

Thứ năm là, tăng cường vận dụng các PPDH tiên tiến đề cao chủ thể nhận thức

của HS Một tiết học không nên áp dụng một PPDH riêng biệt mà cần phối hợp một cách hợp lí các PPDH khác nhau Nếu chỉ GV thuyết trình từ đầu đến cuối tiết học thì

HS sẽ rất nhàm chán, còn nếu cho HS làm các bài tập động não thì HS sẽ rất mệt mỏi, không còn hứng thú với học tập Do đó, GV phải biết phối hợp một cách hợp lí các PPDH khác nhau, tùy vào nội dung của từng phần, từng mục mà sử dụng phương pháp nào cho hiệu quả GV có thể cho HS thảo luận nhóm, động não, tranh luận, đóng vai…

có như vậy thì HS mới không nhàm chán và việc tiếp thu bài cũng dễ hơn, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao

Thứ sáu là, tăng cường sử dụng PTDH và CNTT trong dạy học PTDH có vai

trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Đa phương tiện và CNTT có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học, nó vừa là phương tiện trình diễn, vừa có thể sử dụng các phần mềm dạy học mô phỏng cấu trúc, thí nghiệm… giúp cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, thu hút được nhiều HS tham gia Thực tế hiện nay rất nhiều GV đã sử dụng các phần mềm như Microsoft Powerpoint, Violet, Chemoffice để thiết kế BGĐT, cài đặt thêm nhiều tư liệu, hình ảnh, mô phỏng, biểu bảng… để bài giảng gọn đẹp, sinh động và hấp dẫn

Cuối cùng là, GV từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá Đổi mới PPDH

cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học cũng như quá trình học tập, thành tích của HS bằng cách giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức, sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với đặc trưng môn học

Sử dụng các PTDH giúp:

Trang 21

o Đẩy mạnh hoạt động nhận thức của HS

Con người nhận thức được thế giới bên ngoài là nhờ nghe được, thấy được, cảm xúc được thông qua các giác quan Đối với HS khi bắt đầu học môn hóa học, các

em đã có được một số biểu tượng ban đầu do trao đổi hoặc quan sát thực tiễn, nhưng

để cho HS hiểu bài một cách sâu sắc và chính xác thì phải xây dựng các khái niệm, các thuyết từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng Nhưng trong lớp học không phải lúc nào cũng có điều kiện, do đó GV nên sử dụng các phương tiện trực quan để kích thích tư duy của HS, giúp HS hiểu bài nhanh hơn, sâu hơn

Thí nghiệm biễu diễn của GV là hình thức thí nghiệm quan trọng nhất trong dạy học hóa học Thí nghiệm giúp HS hình thành kĩ năng thí nghiệm, nắm vững kiến thức một cách độc lập, sâu sắc nhờ sự quan sát mà rút ra được kiến thức, từ đó giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên

Các phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học hóa học sẽ kích thích hứng thú cho HS, tạo ra động lực học tập, không khí lớp học trở nên sinh động

Mục đích của việc dạy học là trang bị cho HS tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là phát triển tư duy sáng tạo Vì vậy việc sử dụng hợp lí các phương tiện trực quan kết hợp với lời dẫn dắt thích hợp của GV giúp HS phát triển óc quan sát, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh…

Việc sử dụng các phương tiện trực quan góp phần hình thành ở HS hệ thống các khái niệm và nhận thức về thế giới xung quanh Từ đó giải thích được nhiều hiện tượng, sự vật đang xảy ra trong tự nhiên và cuộc sống Bên cạnh đó, giúp HS thêm tự tin vào bản thân, say mê khoa học, tăng khả năng độc lập, tự chủ, sáng tạo

a Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục [10]

Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo đến mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội CNTT đã góp phần quan trọng cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin

Trang 22

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trong những năm gần đây đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống con người CNTT đã tác động mạnh mẽ đến muôn mặt của đời sống

xã hội, hệ thống giáo dục, nhà trường cũng không nằm ngoài sự tác động đó

CNTT giúp cho GV không những nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường, mà còn là một công cụ, phương tiện để làm một cuộc “cách mạng” trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học Những PPDH tích cực như theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học nêu vấn đề càng có điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, … cũng có nhiều đổi mới trong môi trường CNTT CNTT đã làm tích cực hóa quá trình dạy học,

không còn lối truyền thụ thầy đọc trò ghi mà mang đến luồng sinh khí mới cho các trường học hiện nay Vì vậy, vai trò của người thầy và người học cũng cần phải thay đổi: Thầy làm nhiệm vụ hướng dẫn, người học tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức Như vậy người dạy và người học phải biết sử dụng một số phương tiện khác để hỗ trợ Trong

đó, sử dụng CNTT để thực hiện tất cả các nội dung, các thao tác của quá trình dạy và học sẽ giúp người thầy nâng cao khả năng sử dụng các phương pháp mới, học trò chủ động tìm tòi, phát huy sáng kiến trong học tập

b Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học

Hóa học là một môn khoa học TN, việc ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học

sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, PPDH Cụ thể là:

- CNTT là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng các kiến thức mới trong quá trình dạy học

- CNTT phục vụ cho việc đổi mới PPDH, GV có thể tùy theo từng nội dung bài học, mảng kiến thức hoặc tùy theo đối tượng HS mà có thể vận dụng sáng tạo CNTT trong từng giờ dạy, từng kiểu bài lên lớp

- CNTT giúp cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, thu hút được nhiều HS tham gia, ví dụ thay vì kiểm tra miệng bằng lí thuyết như thông thường thì có thể cho

HS chơi trò chơi ô chữ, điền khuyết … hay là ở phần củng cố bài cho HS làm một số câu hỏi trắc nghiệm, ghép đôi… bằng các phần mềm có sẵn và kết hợp các phần mềm

đó với các PPDH khác thành PPDH phức hợp sẽ làm không khí lớp học sinh động, HS

sẽ hứng thú hơn so với những tiết ôn tập, củng cố lí thuyết nặng nề, khô khan Ngoài

ra, các phần mềm hiện đại giúp biểu diễn các thí nghiệm phức tạp, nguy hiểm, không

Trang 23

thực hiện được trên lớp thông qua các thí nghiệm ảo, HS có thể quan sát được hiện tượng xảy ra thay vì chỉ được mô tả bằng lời, làm cho HS có niềm tin vào khoa học, thêm yêu môn học hơn Bên cạnh đó, những đoạn phim, hình ảnh thực tế trong những phần ứng dụng, quy trình sản xuất … sẽ giúp HS liên hệ kiến thức bài học với thực tế cuộc sống, nâng cao khả năng hiểu biết và vận dụng kiến thức, rèn luyện cho HS các

kĩ năng mềm

So với PPDH truyền thống, việc giảng dạy bằng CNTT có một số tính năng vượt trội hơn:

hàng ngày hàng giờ, hiệu quả phù hợp với thực tế xã hội, tạo điều kiện cho HS đi sâu hơn các kiến thức trong sách giáo khoa (SGK), gắn liền kiến thức với thực tiễn cuộc sống Khi cần thiết GV có thể chỉnh sửa, bổ sung nội dung bài giảng ngày càng hoàn thiện mà không phải soạn lại từ đầu

giảng về phương trình, công thức, khái niệm, hình ảnh hoặc các biểu đồ, sơ đồ sẽ được hiện ra, mà GV không cần mất nhiều thời gian để ghi, vẽ hình lên bảng, bên cạnh

đó còn sử dụng được cho nhiều lớp khác nhau Chính CNTT tạo thêm nhiều phần sinh động cho các bài giảng, có tính tương tác cao, kích thích việc học tập và rèn luyện của

và phần mềm được sử dụng phổ biến nhất là Microsoft Powerpoint Các phần mềm được sử dụng trong dạy học hóa học để thực hiện các thí nghiệm ảo, sơ đồ, biểu đồ, trình chiếu phim hoặc bài tập thực hành, đặt câu hỏi thảo luận Vì vậy người dạy tiết

Trang 24

kiệm được thời gian và có điều kiện đi sâu vào bản chất bài học, chất lượng dạy học được nâng cao

Nhờ có CNTT, GV có thể thu thập thêm thông tin, hình ảnh, thí nghiệm minh họa, các mô phỏng … liên quan đến nội dung bài học, nhờ đó GV có thể hướng dẫn cho HS tiếp cận một lượng thông tin lớn, phong phú và sinh động Những đoạn phim, hình ảnh mô phỏng thực tế một cách hợp lí, sinh động sẽ thu hút được sự quan tâm, hứng thú học tập của HS, tạo cho lớp học sôi nổi, các em tiếp thu bài nhanh hơn, giờ dạy có hiệu quả cao hơn

Trình độ tin học của HS ngày càng cao, do đó GV có thể cho các em làm các bài báo cáo, bài thuyết trình tìm hiểu các vấn đề liên quan đến bài học, qua đó GV có thêm nhiều thông tin mới cho bài học

Hiện nay nhiều trường đã có phòng nghe nhìn (nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)) với những trang thiết bị hiện đại hỗ trợ cho GV có thể sử dụng BGĐT cho nhiều lớp khác nhau, làm không khí lớp học thêm sinh động

b Thách thức

chưa có nhiều tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để đánh giá việc ứng dụng CNTT vào bài giảng

và các phương tiện hỗ trợ của GV không đồng đều, thậm chí có người chỉ dùng máy tính với mục đích duy nhất là soạn thảo văn bản Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại ở việc xóa mù tin học nên GV chưa

đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để soạn một BGĐT có ứng dụng CNTT một cách có hiệu quả Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn mang tính chất thời vụ, theo phong trào thậm chí là để đối phó mà chưa được sử dụng một cách thường xuyên, liên tục trong quá trình dạy học Phần lớn GV rất ngại việc ứng dụng CNTT trong dạy học do thiết kế một BGĐT mất rất nhiều thời gian để thu thập các tài liệu điện tử và việc tổ chức một bài giảng có ứng dụng CNTT cũng rất phiền phức (đối với những trường chưa có phòng máy chiếu)… Các BGĐT thông thường được tải từ mạng về chỉnh sửa hoặc tự làm và chủ yếu là trình chiếu nội dung bài học, chất lượng

Trang 25

chưa cao, chưa phát huy được điểm mạnh của CNTT Có rất ít giáo án được tích hợp Multimedia, các thí nghiệm mô phỏng, các tư liệu cần thiết cho mỗi bài giảng

từng biết sử dụng máy tính cũng là khó khăn, thử thách đáng quan tâm

học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế, thiếu các phòng chức năng,

số máy tính phục vụ cho tin học còn ít, việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu, sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền

thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới PPDH bằng phương tiện trình chiếu còn thiếu và do chưa có hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp

Theo Thạch Trương Thảo, tác giả cuốn giáo trình thiết kế BGĐT đã đưa ra định

nghĩa về BGĐT dựa trên định nghĩa của Lê Công Triêm (2005): “BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền thông dưới dạng văn bản (text), đồ họa (graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh (image), âm thanh (audio) và đoạn phim (video clip) Đặc trưng cơ bản nhất của BGĐT là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của GV đều được multimedia hóa” [24]

Theo từ điển Giáo dục học (Nhà xuất bản (NXB) Từ điển Bách khoa, năm

2011 Tr.14) BGĐT là một phần nội dung trong chương trình của một môn học được

GV trình bày trước HS Các yêu cầu cơ bản đối với bài giảng là: định hướng rõ ràng

về chủ đề, trình bày có mạch lạc, có hệ thống và truyền cảm nội dung, phân tích rõ ràng, dễ hiểu các sự kiện, hiện tượng cụ thể có liên quan và tóm tắt khái quát chúng, sử

Trang 26

dụng phối hợp nhiều thủ pháp thích hợp như: thuyết trình, chứng minh, giải thích đàm luận, chiếu phim, ghi hình v.v BGĐT luôn được xem như một đơn vị nội dung của chương trình có độ dài tương ứng với một hoặc hai tiết học [27]

Theo hướng dẫn xây dựng BGĐT ở Đại học Quốc gia Hà Nội thì “BGĐT là một tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức lại theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kĩ năng cho người học một cách hiệu quả thông qua sự trợ giúp của các phần mềm quản lí học tập (Learning Management System _ LMS) Một BGĐT thường tương ứng với một học phần hoặc một môn học” [7]

Định nghĩa này cho người đọc thấy rõ cấu trúc cần có cũng như kích thước của một BGĐT

Tóm l ại, BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch

dạy học đều được chương trình hóa do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra Cũng có thể hiểu BGĐT là những tệp tin có chức năng truyền tải nội dung giáo dục đến HS

Một BGĐT được phân thành nhiều nội dung (nội dung 1, nội dung 2…) khác nhau, những nội dung này tương ứng với các mục trong SGK Trong mỗi nội dung đó,

có thể tách thành các mục nhỏ hơn như lí thuyết bài học, ví dụ minh họa, bài tập vận

dụng… Việc phân chia thành các nội dung, các mục như vậy sẽ giúp cho bài giảng có tính hệ thống, logic và đạt nhiều kết quả tốt trong dạy học

Trước khi tiến hành giảng dạy bài mới, GV cần giới thiệu cho HS cấu trúc chung của bài học, tức là những nội dung chính mà HS sẽ học trong bài, việc giới thiệu như vậy sẽ giúp HS dễ hình dung được bài hơn và biết là mình đã học những nội dung

gì của bài, còn nội dung nào chưa học

Cuối mỗi BGĐT, GV cần hệ thống hóa lại kiến thức đã học cho HS và cho HS làm thêm các bài tập củng cố để HS khắc sâu kiến thức, nhớ bài lâu hơn Đó chính là

những ưu điểm lớn mà BGĐT mang lại

Cấu trúc cơ bản của một BGĐT được minh họa bằng sơ đồ như sau:

Trang 27

Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc chung của một BGĐT

a Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của bài giảng truyền thống

- Chính xác, khoa học

- Đầy đủ nội dung cơ bản, làm rõ trọng tâm bài giảng, có tính hệ thống

- Liên hệ thực tế (nếu có), có tính giáo dục

- Trước khi có ý tưởng thiết kế BGĐT cần chú ý những điểm sau: lựa chọn chủ

đề thích hợp, không phải chủ đề nào cũng thiết kế BGĐT Chủ đề dạy học thích hợp là

Trang 28

những chủ đề có thể dùng BGĐT để hỗ trợ việc dạy học và tạo ra hiệu quả dạy học tốt

hơn khi sử dụng các thiết bị dạy học truyền thống

- Khi thiết kế các hoạt động giúp HS tự chiếm lĩnh nội dung bài học nên về cấu trúc, hình thức của bài dạy cần phải rõ ràng, có mục lục, nội dung bài dạy để HS dễ nắm bắt và ghi chép được bài Ngoài ra cần phải có phần củng cố cho HS bằng các sơ

đồ, mô hình, bài tập vận dụng để HS khắc sâu kiến thức

- Thường xuyên cập nhật các thông tin mới, hay và bổ ích bổ sung vào bài dạy cho bài giảng ngày càng hoàn thiện, phong phú giúp HS có thêm nhiều kiến thức

không có trong SGK

- Đơn giản, rõ ràng, giao diện thân thiện, phù hợp với bộ môn

- Tinh giản và biểu tượng hóa nội dung

- Chọn đồ họa, hiệu ứng đơn giản, phù hợp

- Chỉ nên có một ý tưởng lớn trên mỗi slide

- Không quá năm ý nhỏ trên mỗi slide

Để bổ sung vào các nguyên tắc trên, TS Đoàn Việt Nga - trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội còn góp ý thêm: “BGĐT cần góp phần tích cực vào việc tổ chức hoạt động dạy học giúp người học phát huy được khả năng tư duy sáng tạo trong quá trình tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức Muốn vậy, người GV phải hình dung được tiến trình giờ dạy và cách tổ chức hoạt động trong giờ dạy BGĐT hoàn toàn chỉ là công cụ giúp cho người GV tổ chức giờ giảng tốt hơn chứ không thể thay thế người GV trong phương pháp truyền thụ kiến thức mới hoặc ôn luyện kiến thức cũ”

Trong quá trình dạy học hóa học, BGĐT có những ưu điểm sau:

- BGĐT làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Thuận lợi cho việc áp dụng PPDH hướng vào người học

- BGĐT có thể cung cấp nhiều kiến thức từ thực tế mà SGK không truyền tải hết thông qua âm thanh, đoạn phim, hình ảnh thật trong cuộc sống…

- Qua BGĐT, GV có thể sử dụng thí nghiệm mô phỏng cho các quá trình xảy ra quá nhanh hoặc quá chậm, những thí nghiệm độc hại và nguy hiểm… mà GV và HS

Trang 29

không thể hay khó thực hiện trong phòng thí nghiệm (kể cả những thí nghiệm đơn giản nhưng thiếu hóa chất, dụng cụ)

- GV dễ dàng cập nhật, sửa đổi nhanh chóng, nâng cao chất lượng bài giảng theo từng năm thích hợp mà không phải soạn lại

- BGĐT giúp tiết kiệm thời gian trên lớp do không cần phải mang theo những dụng cụ dạy học như tranh ảnh, mô hình, bảng phụ… mà còn có nhiều thời gian cho

HS làm các câu trắc nghiệm, ghép đôi… để ôn lại kiến thức đã học

- GV có thể chuẩn bị BGĐT trước để giảng dạy ở nhiều nơi

Một số nhận xét rất tinh tế của thầy giáo Hoàng Ngọc Lân, GV dạy toán, chuyên viên Tin học của sở GD & ĐT tỉnh Đồng Nai về những lỗi thường gặp ở người mới bắt đầu soạn giảng với Powerpoint [11]

Về nội dung, GV đưa ra quá nhiều kiến thức trên các slide Lỗi này có thể do

GV chưa biết chắt lọc và tinh giản kiến thức cần trình bày trên các slide hoặc do tâm lí

sợ dạy thiếu chương trình, sợ HS không nắm đủ kiến thức Cũng có thể do không có kinh nghiệm và kĩ năng tóm lược nội dung

Về cấu trúc, GV bắt chước nguyên xi nội dung bài học trong SGK, thiếu sáng

tạo ra cấu trúc mới, đơn giản và phù hợp với quy luật nhận thức của HS Dường như việc sử dụng slide là chỉ để minh họa thay cho phấn, bảng

Về tư liệu hình ảnh và multimedia, thường rơi vào hai tình huống là thừa hoặc

thiếu Nếu tư liệu quá nhiều thì gây mất tập trung, rườm rà, không cần thiết Còn nếu

tư liệu quá ít hoặc không có thì không phát huy được hiệu quả của BGĐT

Về số lượng slide, thường nhiều hơn mức cần thiết, tốc độ chuyển slide nhanh

gây cho HS cảm giác không tiếp thu kịp Trong khi chỉ cần ít slide (khoảng 15 đến 18 slide/tiết) với những nội dung, hình ảnh thật cô đọng và đắt

Về font chữ, slide quá nhiều chữ, kích cỡ nhỏ, người xem không thấy hoặc phải

điều tiết mắt liên lục gây cảm giác mệt mỏi, không biết đâu là nội dung quan trọng cần phải nắm, HS không ghi chép kịp

Trang 30

Việc phối hợp màu sắc không chuẩn và thiếu các nguyên tắc cơ bản về độ sáng

- tối, độ đậm - nhạt, độ tương phản khiến cho các slide không đạt tới sự hài hòa cần thiết làm cho HS khó quan sát

Về hiệu ứng và âm thanh, lạm dụng các hiệu ứng chuyển động là vấn đề thường

gặp nhất ở các GV mới bắt đầu sử dụng Các hiệu ứng về văn bản, đồ họa có thể gây

sự “chú ý không chỉ định” nơi HS, nếu có quá nhiều sẽ gây phản tác dụng Âm thanh cũng là một yếu tố kích thích tốt cho giác quan, nhưng cũng là một yếu tố gây nhiễu bài giảng của GV nếu lạm dụng quá nhiều

GV quá phụ thuộc vào thiết bị và công nghệ, coi việc chuẩn bị nội dung của mình là cố định, cứ thế mà làm, bất kể tình huống trên lớp đòi hỏi phải điều chỉnh, thay đổi Nguyên nhân sâu xa là do GV chưa làm chủ được công nghệ, không kết hợp được các phương pháp giảng dạy khác nhau GV mới sử dụng thường mất rất nhiều thời gian cho các thao tác kĩ thuật như ghép nối các thiết bị máy tính, loa, màn hình…

Không những thế, theo thầy Lê Văn Huân (Phòng GD & ĐT huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) thì có nhiều nguyên nhân khiến cho các thầy, cô giáo soạn giảng không đúng yêu cầu [13]:

chưa phân biệt rõ ràng hai khái niệm này nên có thầy, cô giáo khi lên lớp đã trình diễn luôn các phần không nên trình chiếu như giới thiệu “mục tiêu yêu cầu của bài học”, các bước làm việc của thầy, của trò

tích cực, chủ động, sáng tạo của HS” Ví dụ, khi GV yêu cầu HS thực hiện một nhiệm

vụ để chiếm lĩnh kiến thức nào đó nhưng khi thầy “nhấp chuột” thì trên màn hình lại xuất hiện nhiều nội dung, trong đó có những nội dung mà thầy và trò chưa kịp đề cập đến trong các hoạt động trên, dẫn đến “lộ” nội dung

câu chữ có sẵn trong SGK (khái niệm, định nghĩa, ví dụ bằng chữ…) Nếu trình chiếu

y như SGK thì không cần phải dạy bằng BGĐT

hiện hình, chạy chữ ở slide không nhất quán khi thì từ trên chạy xuống, lúc ở dưới

Trang 31

chạy lên, rồi phải qua trái, trái qua phải… Như thế làm gây rối và phân tán sự tập trung chú ý của HS

Ngoài những nhược điểm mà thầy Hoàng Ngọc Lân và thầy Lê Văn Huân đã nêu ở trên thì GV còn mắc một số sai lầm như: lạm dụng BGĐT cho những bài giảng cần dạy theo phương pháp truyền thống, làm hiệu quả bài giảng không tốt Bên cạnh

đó, khi GV soạn BGĐT thường chỉ sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint mà không có sự phối hợp các phần mềm khác nhau nên tốn nhiều thời gian, công sức trong quá trình soạn bài

- Tìm hiểu một số khó khăn khi sử dụng BGĐT vào dạy học hóa học

- Đánh giá về việc ứng dụng CNTT trong việc phát huy tính tích cực của việc sử dụng BGĐT vào dạy học hóa học

- Tìm hiểu mức độ khả thi khi sử dụng các phần mềm dạy học trong BGĐT

d Đối tượng điều tra

GV THPT đang giảng dạy hóa học tại một số trường THPT ở tỉnh Kiên Giang

và Khánh Hòa

e Phương pháp điều tra

Chúng tôi thực hiện phát phiếu điều tra đến các GV dạy học hóa học tại một số trường THPT ở tỉnh Kiên Giang và Khánh Hòa

Trang 32

Bảng 1.2 Danh sách các trường đã điều tra thực trạng việc sử dụng BGĐT

STT Tên trường

1 Trường THPT Nguyễn Trung Trực - Kiên Giang

2 Trường THPT Thạnh Đông - Kiên Giang

3 Trường THPT Tân Hiệp - Kiên Giang

4 Trường THPT Hòn Đất - Kiên Giang

5 Trường THPT Lý Tự Trọng - Khánh Hòa

f Kết quả điều tra

Số phiếu điều tra thu hồi lại được là 36 phiếu

Bảng 1.3 Danh sách số lượng GV phản hồi phiếu điều tra ở các trường

STT Tên trường Số lượng GV

1 Trường THPT Nguyễn Trung Trực - Kiên Giang 9

2 Trường THPT Thạnh Đông - Kiên Giang 8

3 Trường THPT Tân Hiệp - Kiên Giang 6

4 Trường THPT Hòn Đất - Kiên Giang 4

Bảng 1.4 Kết quả điều tra câu 1

Trang 33

thoảng sử dụng BGĐT trong dạy học, không xuất hiện trường hợp GV chưa từng sử dụng BGĐT

Câu 2: Nếu đã từng sử dụng BGĐT, theo quý thầy cô giáo BGĐT có những ưu điểm gì?

Học sinh tham gia tiết học sôi

nổi hơn, hoạt động tích cực hơn 23 63.89%

Nội dung bài học được truyền

tải dễ hiểu hơn nhờ có nhiều

Thông qua kết quả thống kê trên, đã thấy được những ưu điểm mà BGĐT mang

lại 91.67% các GV cho rằng nội dung của bài học được truyền tải dễ hiểu hơn nhờ có nhiều hình ảnh minh họa thông qua BGĐT, 63.89% GV cho rằng khi sử dụng BGĐT thì GV đỡ mất thời gian khi viết bảng, HS tham gia tiết học sôi nổi hơn, hoạt động tích

cực hơn Qua đó cho thấy rằng, sử dụng BGĐT trong hóa học góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Câu 3: Nếu chưa từng sử dụng BGĐT trong giảng dạy, theo quý thầy cô là do:

Trang 34

kế các slide, trò chơi, bài tập

củng cố, mô phỏng thí nghiệm

Trường sở tại không trang bị

Ý kiến khác:

- Kiến thức tin học còn hạn hẹp

- Một số bài không thể dạy bằng BGĐT

- Chưa được tập huấn nên chủ yếu lấy tư liệu trên mạng

- Không có thời gian đầu tư cho bài giảng mình biên soạn

 Nhận xét

Thông qua kết quả thống kê cho thấy hiện nay có hai khó khăn lớn nhất trong quá trình thiết kế BGĐT mà đa số các thầy cô gặp phải là các phần mềm khó sử dụng (33.33%) và khó khăn lớn nhất là tốn nhiều thời gian để thiết kế các slide, trò chơi, bài

tập củng cố, mô phỏng thí nghiệm ( 83.33%) Để khắc phục được khó khăn lớn này,

GV có thể tích hợp thêm các phần mềm chuyên dụng riêng cho từng phần, và đây cũng là hướng đề tài của chúng tôi nghiên cứu

Câu 4: Theo quý thầy cô, một BGĐT hay phải đạt các tiêu chuẩn nào?

Khai thác hiệu quả các hiệu

ứng, phông chữ và màu sắc hài

Trang 35

 Nhận xét

Theo bảng thống kê trên cho thấy, khi thiết kế BGĐT, các thầy cô rất chú trọng đến nội dung bài học sao cho đảm bào tính chính xác, khoa học, logic (83.33%), 80.56% các GV đồng ý với tiêu chuẩn sử dụng hình ảnh và âm thanh thích hợp Tóm lại, khi thiết kế BGĐT, đa số các GV đều đặt tiêu chí về nội dung lên hàng đầu, bên cạnh đó cũng phải đảm bảo về tính thẩm mỹ ( phông chữ, màu sắc) và cũng không nên lạm dụng quá nhiều hình ảnh không cần thiết

Câu 5: Thầy cô có ý kiến như thế nào về việc ứng dụng CNTT vào dạy học hóa học?

Theo ý kiến của đa số các thầy cô cho rằng BGĐT nên sử dụng nhưng chỉ giới

hạn ở một số tiết nhất định (83.33%) Điều này đúng với thực tế chương trình học của

HS, một số bài sẽ đạt hiệu quả tốt khi sử dụng BGĐT nhưng cũng có những bài dạy đạt kết quả tốt hơn khi sử dụng PPDH truyền thống

Câu 6: Quý thầy cô đã sử dụng phần mềm nào để thiết kế BGĐT?

Trang 36

lại đã được một số thầy cô biết đến và từng sử dụng qua, nhưng phần mềm được đa số các thầy cô sử dụng thường xuyên nhất là phần mềm Microsoft Powepoint (83.33%)

Câu 7: Theo thầy cô, các dạng bài nào phù hợp để thiết kế BGĐT?

Trang 37

thiết khá cao (hơn 50%) Nhưng đa số GV (58.33%) cho rằng khi thiết kế BGĐT cho các bài dạy về sản xuất hóa học là rất cần thiết Những quy trình mô phỏng, đoạn phim sinh động sẽ giúp HS dễ hiểu bài và khắc sâu kiến thức hơn so với những lời giảng bằng hình ảnh đơn giản

Câu 8: Trong tiết dạy bằng BGĐT, thầy cô cho HS chuẩn bị bài trước ở nhà bằng cách nào?

Tự soạn bài vào tập trước ở nhà 9 25%

Soạn vào phiếu học tập (do thầy

Câu 9: Xin thầy cô chia sẻ một vài kinh nghiệm khi dạy học bằng BGĐT?

- Soạn đầy đủ các nội dung

- Sử dụng hình ảnh minh họa

- Sử dụng thí nghiệm dùng để chứng minh

- Phải có một slide chứa toàn bộ cấu trúc bài học

- Hệ thống hóa nội dung kiến thức

- Yêu cầu HS phải chuẩn bị bài mới và bài cũ liên quan

- Không nên quá lạm dụng CNTT (nội dung phải cô động, logic, không nên sử dụng quá nhiều âm thanh, hình ảnh không cần thiết, màu sắc hài hòa, không quá nhiều hiệu ứng)

Trang 38

- GV phải biết kết hợp tốt giữa viết bảng và BGĐT, không để bảng trống, cho dù nội dung đã có trên slide nhưng những nội dung chính, quan trọng phải lưu giữ trên

bảng để khắc sâu kiến thức trong quá trình theo dõi bài

- Cho HS thảo luận theo nhóm, rút ra những nội dung chính viết lên bảng hoặc bảng phụ

g Nhận xét kết quả điều tra

Tóm lại, qua kết quả điều tra thực trạng sử dụng BGĐT theo hướng đổi mới trong dạy học hóa học ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi rút ra một số nhận xét chung như sau:

Việc ứng dụng CNTT vào dạy học hóa học được các trường THPT ở Kiên Giang và Khánh Hòa thực hiện khá tốt, một số GV (19.44%)sử dụng BGĐT thường xuyên trong tiết dạy của mình Song bên cạnh đó, cũng có đa số thầy cô (80.56%) chỉ

sử dụng BGĐT một vài lần do khi soạn BGĐT, GV gặp phải một số khó khăn như: tốn nhiều thời gian để thiết kế các slide, trò chơi, bài tập củng cố, mô phỏng thí nghiệm (83.33%) và cảm thấy các phần mềm còn khó để sử dụng (33.33%)

Tuy GV gặp phải những khó khăn đó, nhưng một số GV vẫn luôn tìm kiếm và khai thác những phần mềm dạy học để tích hợp vào bài giảng của mình, trong đó phần mềm được hầu hết các thầy cô sử dụng là phần mềm Microsoft Powerpoint (83.33%) Thầy cô cũng chia sẽ rất trung thực và phù hợp với thực tế dạy học về những kinh nghiệm khi giảng dạy bằng BGĐT Đây là những ý kiến quý báu không những giúp chúng tôi hoàn thiện đề tài của mình về mặt cơ sở lí luận mà còn thiết kế được hệ thống BGĐT được hiệu quả hơn

Trang 39

Chương 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN HÓA HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY

HỌC

THEO HƯỚNG TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC [22]

Hệ thống các tiêu chuẩn của BGĐT được chúng tôi xây dựng dựa trên:

- Các tiêu chí đánh giá bài lên lớp của Bộ GD & ĐT (công văn số 10227/THPT ngày 11 tháng 9 năm 2001) [2]

- Các tiêu chí đánh giá BGĐT của Sở GD & ĐT Lâm Đồng thẩm định các bài dự thi “Thiết kế giáo án và BGĐT E-learning” của GV ở các bộ môn [6]

- Ưu nhược điểm của BGĐT như đã phân tích ở phần cơ sở lí luận

Sau đây là hệ thống các tiêu chuẩn của BGĐT gồm 5 tiêu chuẩn chính

Để đảm bảo đạt được các tiêu chuẩn về nội dung của BGĐT, chúng tôi đưa ra

5 tiêu chí sau:

a Tiêu chí 1: Bảo đảm tính chính xác, khoa học của nội dung bài giảng

BGĐT hỗ trợ dạy học phải đảm bảo đúng chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng mà Bộ GD & ĐT đã đưa ra cho từng lớp học, bậc học Nội dung của bài giảng đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn và nội dung, phương pháp bài dạy, chính xác về chính tả, từ ngữ…

Đây là tiêu chí đánh giá trình độ chuyên môn, khả năng thấu hiểu kiến thức cũng như nội dung bài dạy của GV một cách sâu sắc để tổ chức cách học cho HS có hiệu quả

b Tiêu chí 2: Nội dung của BGĐT ngắn gọn và truyền tải đầy đủ nội dung tiết học

Trình bày cô đọng, không đưa quá nhiều nội dung lí thuyết từ SGK mà phải lựa chọn những ý chính, trọng tâm để đưa vào BGĐT, hạn chế sử dụng chữ để diễn giải chỉ nên đưa một ý tưởng lớn cho một slide và đảm bảo các slide không quá nhiều (bình thường < 30 slide/1 tiết) Thông thường nên bố trí một đơn vị kiến thức nằm gọn trong một slide để dễ quan sát, theo dõi

Trang 40

Hàm lượng lí thuyết, kĩ năng vận dụng, câu hỏi gợi mở, kiến thức trọng tâm và bài tập củng cố phải cần thiết kế hợp lí và được truyền tải đầy đủ trong BGĐT

c Tiêu chí 3: Kiến thức tổ chức có hệ thống làm nổi bật trọng tâm bài dạy và BGĐT phải thể hiện được tính kết nối

Khi thiết kế BGĐT cần có mục lục của bài dạy, phần tóm tắt nội dung chính của toàn bài để đảm bảo kiến thức cần được tổ chức khai thác một cách có hệ thống, cấu trúc chặt chẽ, logic nhưng phải làm nổi bật được kiến thức trọng tâm của bài Những kiến thức chỉ cần thông báo, những kiến thức nào có thể chuyển thành bài tập cho HS

về nhà tự nghiên cứu, kiến thức nào cần tổ chức cho HS tìm hiểu, khai thác tại lớp phải được thể hiện rõ trong bài giảng

Bên cạnh đó, các thông tin cần có sự liên kết, dễ dàng chuyển đến các slide, menu cần thiết để tạo kết nối cho toàn BGĐT giúp HS tập trung chú ý một cách liên tục, không gây phân tán sự chú ý và giúp HS dễ tiếp thu bài, biết mình đã học tới nội dung nào của bài học và dễ hệ thống hóa được kiến thức đã học

d Tiêu chí 4: Tận dụng được các ưu thế của BGĐT

Khi thiết kế BGĐT cần chú ý đến sự đa dạng cách truyền tải thông tin (nghe, nhìn…) cụ thể như BGĐT cần có các đoạn phim, hình ảnh thực tế, biểu đồ, sơ đồ phù hợp, liên quan đến nội dung bài học, những thí nghiệm nguy hiểm, độc hại không thể trực tiếp thực hiện được trên lớp cũng được đưa vào bài giảng một cách dễ dàng thông qua các mô phỏng… đây chính là thế mạnh của CNTT

e Tiêu chí 5: Qua nội dung bài soạn, khai thác được tính ứng dụng thực

tế và tính giáo dục cho HS

Hóa học là môn khoa học TN, gắn liền với đời sống nên trong nội dung của BGĐT phải có tính liên hệ thực tế phù hợp và có tính giáo dục, sử dụng tư liệu minh họa cho BGĐT (hình ảnh, âm thanh, đoạn phim, các phần mềm hỗ trợ…) chính xác,

có ý nghĩa, sát với nội dung bài học, đúng lúc sẽ giúp HS hiểu sâu sắc hơn về tầm quan trọng của bài học, vận dụng những kiến thức bài học vào cuộc sống xung quanh, phát huy được tính sáng tạo của HS Đồng thời nội dung bài giảng còn phải mang tính giáo dục cho HS về đạo đức, phẩm chất và về giáo dục môi trường… từ đó giúp HS thêm yêu thích môn học Bài giảng phải được viết dưới dạng mở để GV có thể chủ động sửa

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. 5. Giao diện phần mềm Wondershare QuizCreator - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2. 5. Giao diện phần mềm Wondershare QuizCreator (Trang 52)
Hình 2. 8. Màn hình sau khi soạn thảo - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2. 8. Màn hình sau khi soạn thảo (Trang 54)
Hình 2. 9. Màn hình soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm có hình ảnh - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2. 9. Màn hình soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm có hình ảnh (Trang 54)
Hình 2.12.  Bài tập trắc nghiệm - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2.12. Bài tập trắc nghiệm (Trang 56)
Hình 2. 23. Cách thiết kế bản đồ tư duy - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2. 23. Cách thiết kế bản đồ tư duy (Trang 61)
Hình 2. 24. Hiệu chỉnh màu nền cho bản đồ - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2. 24. Hiệu chỉnh màu nền cho bản đồ (Trang 62)
Hình 2.25 . Hiệu chỉnh cho từng topic - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2.25 Hiệu chỉnh cho từng topic (Trang 62)
Hình 2. 27. Giao diện phần mềm Violet - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2. 27. Giao diện phần mềm Violet (Trang 63)
Hình 2.29 . Giao diện nhập câu hỏi trắc nghiệm - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2.29 Giao diện nhập câu hỏi trắc nghiệm (Trang 64)
Hình 2.31 . Các câu hỏi trắc nghiệm đã được soạn - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2.31 Các câu hỏi trắc nghiệm đã được soạn (Trang 65)
Hình 2.30 . Câu hỏi trắc nghiệm được soạn bằng phần mềm Violet - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 2.30 Câu hỏi trắc nghiệm được soạn bằng phần mềm Violet (Trang 65)
Hình 3.4.   Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 2 - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 3.4. Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 2 (Trang 76)
Hình 3.5 . Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 3 - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 3 (Trang 78)
Hình 3.7.   Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 3 - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 3.7. Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra nhóm 3 (Trang 79)
Hình 3.9. Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 5 - thiết kế hệ thống bài giảng điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao theo hướng tích hợp các phần mềm dạy học
Hình 3.9. Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra nhóm 5 (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w