Còn lại những đánh giá khác về thơ Vương Duy xuất hiện trong các sách lịch sử về văn học Trung Quốc cùng với một vài nhà thơ khác thuộc thi phái Sơn thủy điền viên là Mạnh Hạo Nhiên, Trừ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người thực hiện Bùi Th ị Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ
Ngữ văn, chuyên ngành Văn học Việt Nam Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình luôn tiếp sức mạnh cho tôi đi hết chặng đường học tập và nghiên cứu vừa qua
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại
học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã luôn tận tụy truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong quá trình giảng dạy
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến thầy Lê Quang Trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu tham khảo quan trọng đối với đề tài của mình
Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến cô Lê Thu Yến, người đã truyền tình yêu thơ chữ Hán Nguyễn Du đến với tôi và là người luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng là lời cảm ơn đối với bạn bè đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian học tập cũng như nghiên cứu vừa qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Nguyễn Du và thơ chữ Hán 8
1.1.1 Thời đại 8
1.1.2 Cuộc đời 10
1.1.3 Thơ chữ Hán Nguyễn Du 13
1.2 Vương Duy và thơ Vương Duy 14
1.2.1 Thời đại 14
1.2.2 Con người 16
1.2.3 Sự nghiệp 18
1.3 Nguyên lí văn học so sánh 19
1.3.1 Nguyên lí chung của văn học so sánh 19
1.3.2 Cơ sở để so sánh Nguyễn Du và Vương Duy 21
Chương 2 NHỮNG ĐIỂM GẶP GỠ GIỮA THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ VƯƠNG DUY 25
2.1 Cảm hứng thế sự 25
2.1.1 Hiện thực xã hội 25
2.1.2 Số phận con người 39
2.2 Cảm hứng cá nhân 48
2.2.1 Tự thán 49
2.2.2 Nỗi sầu li biệt 59
2.3 Cảm hứng về không gian 66
2.3.1 Không gian lữ thứ 66
Trang 62.3.2 Không gian khép kín 76
Chương 3 NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA THƠ CHỮ HÁN
NGUY ỄN DU VÀ THƠ VƯƠNG DUY 86
3.1 Tinh thần Phật – Lão 86
3.1.1 Tinh thần Phật giáo 86
3.1.2 Tinh thần Lão Trang 98
3.2 Cảm hứng về thiên nhiên 107
3.2.1 Vương Duy – hòa vào thiên nhiên 107
3.2.2 Nguyễn Du – tả thực và độc lập với thiên nhiên 114
3.3 Cảm hứng về chủ thể trữ tình 120
3.3.1 Con người nhàn trong thơ Vương Duy 121
3.3.2 Con người ràng buộc, lo âu trong thơ Nguyễn Du 126
3.4 Cảm hứng về thời gian 134
3.4.1 Thời gian hiện tại trong thơ Vương Duy 134
3.4.2 Thời gian quá khứ trong thơ Nguyễn Du 139
K ẾT LUẬN 144
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 146
PH Ụ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có một nền văn học riêng biệt, tuy nhiên trong quá trình hội nhập giữa các đất nước nền văn học đó lại trải qua một quá trình tiếp
nhận, ảnh hưởng và tiếp biến Do đó văn học của mỗi quốc gia mang tính quốc tế,
nó vừa mang những nét chung của khu vực, của nhân loại lại đồng thời có những tính chất riêng biệt đặc trưng cho văn học của mỗi dân tộc Chính vì vậy việc so sánh các tác giả khác nhau của những dân tộc khác nhau sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn, đánh giá toàn diện hơn thành quả nghệ thuật của mỗi người Không chỉ vậy qua so sánh chúng ta còn rút ra được bản chất, quy luật tồn tại, phát triển và sáng
tạo của văn học Đồng thời cũng thấy được sự ảnh hưởng, tiếp nhận và tiếp biến
giữa những nền văn học khác nhau của từng khu vực, từng quốc gia khác nhau Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là “tập đại thành” của nền văn
học trung đại nước ta, những tác phẩm ông để lại đã trở thành tài sản quý giá, mẫu
mực cho nền văn học cổ điển nước nhà Vương Duy là nhà thơ nổi tiếng đời Đường, ông được tôn vinh là Thi Phật, là nhà thơ xuất sắc của phái thơ Điền viên sơn thủy cùng với Mạnh Hạo Nhiên Cả hai nhà thơ tuy sống ở thời đại khác nhau nhưng cùng dùng một ngôn ngữ (chữ Hán) và cùng thể thơ (Đường luật) để sáng tác, đồng thời đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Phật giáo cũng như Lão giáo Chính vì vậy giữa họ có những nét tương đồng và khác biệt nhất định và có
thể đối thoại, so sánh với nhau Qua so sánh Nguyễn Du và Vương Duy giúp chúng
ta hiểu rõ nét đặc sắc của mỗi nhà thơ, để tôn vinh những bản sắc riêng ấy cũng như đặc trưng của hai nền văn học Việt Nam – Trung Hoa
Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc đã hình thành từ lâu đời Sở dĩ hình thành mối quan hệ trên phương diện văn học bởi vì trong lịch sử dân tộc ta nhiều lần chịu sự xâm lăng cũng như đô hộ của Trung Hoa, nền văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa Việt Nam, văn học cũng là một
loại hình văn hóa cho nên tất yếu cũng chịu ảnh hưởng và hình thành nên mối quan
hệ này Trong thời kì trung đại, cùng với sự thống trị của nhà nước phong kiến, cả
Trang 8hai đất nước đều bị chi phối và ảnh hưởng bởi các học thuyết, tôn giáo, triết học, đạo đức như Nho, Phật, Lão… Tuy nhiên mỗi nhà thơ lại có một hoàn cảnh riêng,
một thời đại sinh sống và cách sáng tạo nghệ thuật khác nhau chính vì thế mà các sáng tác cũng sẽ có những khác biệt Để tìm ra sự khác biệt đó cũng như nhân tố
tạo nên sự khác biệt thì chúng ta cần so sánh để thấy rõ sự khác biệt của các học thuyết các tư tưởng thẩm thấu qua những nền văn hóa khác nhau sẽ có những biểu
hiện khác nhau ra sao Từ đó chúng ta đánh giá được sự đóng góp của mỗi tác giả cũng như đặc trưng dân tộc trong tác phẩm của họ
Các công trình nghiên cứu trước đây về Nguyễn Du đa phần thường tập trung vào kiệt tác Truyện Kiều, còn thơ chữ Hán chưa được tìm hiểu và nghiên cứu
nhiều, các công trình đã có trước đây chủ yếu đi sâu vào những vấn đề tư tưởng nghệ thuật, tâm sự cá nhân, tấm lòng nhân đạo…mà Nguyễn Du biểu hiện trong thơ
chữ Hán của ông Những công trình nghiên cứu theo hướng văn học so sánh về thơ
chữ Hán của Nguyễn Du lại càng ít ỏi Còn tác gia Vương Duy thì hiện tại ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu và ít người biết đến Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn góp thêm một tiếng nói về Nguyễn Du và Vương Duy Sau nữa, chúng tôi chọn thực hiện đề tài này vì sự yêu thích của bản thân đối
với Nguyễn Du nói chung và thơ chữ Hán Nguyễn Du nói riêng Và cũng yêu thích
những bài thơ đậm chất Thiền nhưng không khô cứng mà ngược lại là sự dung hợp hài hoà giữa con người và tự nhiên, giữa Phật lí và xúc cảm của Vương Duy
2 L ịch sử vấn đề
Về tác giả Vương Duy, chúng tôi chỉ tìm thấy vài ba công trình nghiên cứu đã
được xuất bản Một là Vương Duy thi tuyển của tác giả Giản Chi, hai là tác giả Vũ
Thế Ngọc với Vương Duy chân diện mục, và ba là nghiên cứu của Nguyễn Thị
Diệu Linh – Trần Thị Thu Hương: Tác giả tác phẩm văn học nước ngoài trong
nhà trường – Vương Duy Các công trình trên đều đi sâu nghiên cứu về cuộc đời,
sự nghiệp thơ văn, thậm chí cả hội họa của nhà thơ Vương Duy Khi bàn về thơ Vương Duy, những tác giả trên đều chú ý đến Vương Duy với tư cách là một hiện tượng “thi tăng” (chữ dùng của tác giả Trần Thị Thu Hương), thơ ông thể hiện nội
Trang 9dung “thiền thú” Riêng tác giả Trần Thị Thu Hương trước đó đã nghiên cứu sâu về
cảnh giới nghệ thuật trong thơ Vương Duy với công trình Một số đặc trưng cảnh
gi ới nghệ thuật thơ Vương Duy
Cùng hướng nghiên cứu đó chúng tôi cũng tìm thấy hai bài viết của tác giả Đinh Vũ Thùy Trang và Võ Thị Minh Phụng về tư tưởng thiền trong thơ Vương Duy Đặc biệt là tác giả Võ Thị Minh Phụng đã tiến hành so sánh chất thiền trong
thơ Vương Duy và thơ Huyền Quang để thấy rõ sự “xa rời trần tục mà tu theo tinh
th ần xuất thế của Phật giáo” Ngoài ra còn phải kể đến công trình đặc biệt chuyên
sâu của Nguyễn Diệu Minh Chân Như so sánh chất “đạm” trong thơ tuyệt cú của Vương Duy và wabi trong thơ Haiku của Basho Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu về Vương Duy đều thiên về tìm hiểu chất “thiền” trong thơ ông Còn lại
những đánh giá khác về thơ Vương Duy xuất hiện trong các sách lịch sử về văn học Trung Quốc cùng với một vài nhà thơ khác thuộc thi phái Sơn thủy điền viên là
Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy nhưng cũng chỉ đề cập ngắn gọn về cuộc đời và
sự nghiệp văn học của Thi Phật như Văn học sử Trung Quốc quyển 1 của Dịch
Quân Tả (Huỳnh Minh Đức dịch), Văn học sử Trung Quốc do Đặng Thai Mai
dịch
Còn về những công trình nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du, đã có những tác
giả trong các chuyên luận và bài viết của mình bàn luận, đánh giá về thơ chữ Hán
của Nguyễn Tiên Điền như Hoài Thanh, Nguyễn Lộc, Mai Quốc Liên, Nguyễn Huệ Chi, Lê Thu Yến, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thị Nương,…Các tác giả trên đã tiếp
cận thơ chữ Hán Nguyễn Du dưới những góc độ khác nhau
Nguyễn Lộc cho rằng thơ chữ Hán Nguyễn Du thể hiện tâm sự của nhà thơ trước cuộc đời; tác giả Lê Thu Yến khảo sát đặc điểm về nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du; Nguyễn Huệ Chi lại đi sâu phân tích thế giới nhân vật đa dạng trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du…
Chỉ có vài công trình nghiên cứu đi theo hướng văn học so sánh lấy Nguyễn
Du làm đối tượng chúng tôi tìm hiểu được là luận án Tiến sĩ của Hoàng Trọng Quyền tiến hành so sánh Nguyễn Du và Đỗ Phủ trên phương diện tư tưởng nghệ
Trang 10thuật, những tương đồng và dị biệt về tư tưởng nghệ thuật biểu hiện trong sáng tác
của hai nhà thơ
Tác giả Lê Quang Trường so sánh chất tài tử giữa Nguyễn Du và Lý Thương
Ẩn trong công trình Chất tài tử trong thơ Nguyễn Du và thơ Lý Thương Ẩn Ở
đây tác giả so sánh Nguyễn Du cùng với Lý Thương Ẩn dưới góc nhìn loại hình nhà nho tài tử để làm rõ tài năng, cá tính và hùng tâm của Nguyễn Du và Lý Thương Ẩn
Tác giả Đoàn Lê Giang trong bài viết “Basho – Nguyễn Trãi – Nguyễn Du,
nh ững hồn thơ đồng điệu” in trong Tạp chí văn học số 6, 2003, đã so sánh ba nhà
thơ và đưa ra những điểm tương đồng giữa họ về tình yêu thiên nhiên, tình cảm yêu thương con người sâu sắc, hướng về con người; Huỳnh Quán Chi trong bài viết
“Ph ật kinh trong thơ văn Nguyễn Trãi và Nguyễn Du” đã khảo sát những biểu
hiện của tinh thần Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, dù chưa sâu
sắc và đầy đủ nhưng cũng đã đưa ra kết luận về sự xuyên suốt của mạch thiền trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam
Các công trình so sánh trên đây tuy theo hướng so sánh Nguyễn Du với những nhà thơ, tác giả khác nhưng chưa hẳn lấy thơ chữ Hán của ông làm đối tượng chính
mà bao gồm cả những sáng tác khác của Nguyễn Du để đưa ra những ý kiến so sánh, bàn luận
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào nhìn thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Vương Duy dưới góc nhìn so sánh Trên tinh thần tiếp thu và sáng tạo, chúng tôi đã dựa vào những công trình nghiên cứu đi trước ở trên để tham khảo và chọn lựa đề tài này
3 Ph ạm vi, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chính là ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn
Du và những bài thơ của Thi Phật Vương Duy để qua đó tiến hành phân tích, so sánh những điểm tương đồng cũng như dị biệt giữa hai nhà thơ để thấy được những nét riêng của mỗi tác giả và của mỗi nền văn học dân tộc
Trang 11Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là đối sánh thơ của Nguyễn Du và Vương Duy dựa trên vấn đề cảm hứng trong sáng tác của cả hai nhà thơ Để từ đó hiểu thêm về Nguyễn Du trong góc nhìn so sánh với Vương Duy
Chúng tôi tiến hành khảo sát ba tập thơ của Nguyễn Du với 250 bài và 170 bài
thơ của Vương Duy chủ yếu trong tuyển tập của Giản Chi (134 bài), trong Vương
Duy chân di ện mục (Vũ Thế Ngọc) và các tuyển tập thơ Đường ở Việt Nam (36
bài)
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh – đối chiếu: Sử dụng phương pháp này chúng tôi nhằm đặt sáng tác của hai nhà thơ trong thế đối sánh với nhau, so sánh và đối chiếu để rút
ra những điểm gặp gỡ cũng như sự khác biệt trong việc thể hiện cảm hứng sáng tác mang tính bản chất, tính đặc thù riêng của mỗi tác giả, mỗi nền văn học Qua so sánh chúng tôi nhằm xác lập vị trí của hai nhà thơ trong hệ thống văn học cổ điển
mỗi nước
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng phương pháp này chúng tôi tiến hành phân tích, khảo sát những biểu hiện, những nét tương đồng của Tố Như và Vương Duy
Phương pháp lịch sử - xã hội: Mỗi một nhà thơ sống ở một thời đại khác nhau,
những yếu tố lịch sử, xã hội thời đại có tác động không nhỏ đến những sáng tác của
họ Thông qua tìm hiểu hoàn cảnh xã hội, thời đại, cũng như yếu tố văn hóa thời đại sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện và lí giải được những đặc trưng trong cảm hứng sáng tác của hai nhà thơ
Phương pháp tiểu sử - thực chứng: phương pháp này nhằm giúp chúng tôi dùng những cứ liệu lịch sử đã được xác thực để chứng minh, lí giải những ảnh hưởng của chúng đối với sáng tác của hai nhà thơ
Phương pháp hệ thống và thống kê: chúng tôi coi mỗi bài thơ của hai nhà thơ
là một yếu tố trong hệ thống toàn bộ sáng tác của họ, qua đó tiến hành khảo sát
những bộ phận đó đặt trong một hệ thống thống nhất để có thể bật lên phong cách riêng của từng người
Trang 125 Đóng góp của luận văn
Trong công trình của mình chúng tôi cố gắng để có thể làm rõ sự gặp gỡ,
những điểm tương đồng cũng như những sự khác biệt về vấn đề cảm hứng sáng tác trong thơ của Nguyễn Du và Vương Duy
Chúng tôi cũng mong muốn làm rõ thêm sự sâu sắc mang tính đặc thù của văn hóa mỗi dân tộc thể hiện qua mỗi tác giả, và chỉ ra sự khác biệt trong cách thể hiện tinh thần của hai học thuyết Phật giáo và Đạo giáo của hai nhà thơ Đồng thời mong muốn làm rõ rằng hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Quốc tương đồng nhưng không thống nhất sẽ có sự thể hiện khác biệt thế nào trong cảm hứng sáng tác của mỗi nhà thơ Qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam cũng như bản sắc văn hóa thẩm mỹ của dân tộc Việt trong thế đối sánh với dân tộc Trung Hoa
6 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Trong chương này chúng tôi giải quyết những vấn đề chung về hai tác giả Nguyễn Du và Vương Duy như: thời đại, cuộc đời, và những nét khái quát về sự nghiệp văn học Từ thời đại và cuộc đời riêng của hai nhà thơ cũng chính là cơ sở
để chúng tôi lí giải sự tương đồng hay khác biệt trong thơ của họ Đồng thời chúng tôi cũng nêu những nguyên lí và cơ sở so sánh hai tác giả này từ bộ môn Văn học
so sánh làm nền tảng lí thuyết cho công trình so sánh của chúng tôi
Chương 2: Sự gặp gỡ giữa thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Vương Duy
Ở chương này chúng tôi tiến hành phân tích những điểm gặp gỡ của thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Vương Duy Đó là sự gặp gỡ về cảm hứng thế sự, cảm
hứng cá nhân và đặc biệt là cảm hứng về không gian
Chương 3: Sự khác biệt giữa thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Vương Duy
Trong chương này, chúng tôi cố gắng làm rõ sự khác biệt giữa thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Vương Duy Sự khác biệt trong cách thể hiện tinh thần Phật giáo
Trang 13và Đạo giáo; sự khác biệt trong cách cảm hứng về thiên nhiên, về con người; cảm
hứng về thời gian Chính những dị biệt này đã tạo nên hai phong cách độc đáo của
mỗi người
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Nguyễn Du và thơ chữ Hán
1.1.1 Thời đại
Nguyễn Du sinh ra trong một thời đại có thể nói là hỗn loạn, rối ren
Xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX được coi là thời kì khủng hoảng sâu sắc
nhất của chế độ phong kiến, đồng thời đây cũng là thời kì diễn ra những sự kiện
lịch sử trọng đại
Th ứ nhất là sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của chế độ phong kiến Chiến tranh
giữa các phe phái bùng nổ mà tiêu biểu là cuộc đối đầu giữa họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong
Đàng Ngoài với cơ chế “Vua Lê chúa Trịnh” đã bức người dân vào tình thế
“một cổ hai tròng”, vua chúa, quan lại chỉ lo ăn chơi hưởng thụ hơn là việc cai trị
đất nước Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã dành khá nhiều trang viết để
lên án thực trạng sa đọa của quan lại, vua tôi nhà Nguyễn và bè lũ chúa Trịnh cũng
như tình cảnh thống khổ của người dân lúc ấy: “Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân
c ầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu l ấy, không thiếu một thứ gì…Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào” [49, tr.61] Tình trạng quan
liêu hối lộ, tham nhũng, lộng quyền ngày càng trầm trọng Không những vậy, thiên tai, hạn hán liên miên đã làm cho vô số người dân lâm vào cảnh đói khổ, chết chóc Trước tình cảnh ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra dưới sự lãnh đạo
của các thủ lĩnh như Thục Toại, Nguyễn Kim Phẩm… nhưng đều bị đánh tan Cũng chính vào thời điểm đó, nội bộ triều đình Lê – Trịnh ngày càng gia tăng mâu thuẫn
Bè phái Chúa Trịnh từ sau khi Trịnh Sâm lên ngôi ngày càng không xem vua Lê ra
gì, thái tử Duy Vĩ bị vu oan và giết chết Trịnh Sâm say mê Đặng Thị Huệ nên phế trưởng lập thứ lên làm vua khiến cho phe cánh của Đặng Thị Huệ ỷ thế làm càn Tuy nhiên sau khi Trịnh Sâm chết, cục diện trở nên hỗn loạn trầm trọng Bè cánh
của Trịnh Khải lật đổ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ sinh ra kiêu căng Chúng làm
Trang 15loạn khắp nơi, uy hiếp, áp bức cả quan lại lẫn dân chúng Hễ không vừa ý là đe dọa phá nhà, giết người Ngay cả Nguyễn Khản anh trai Nguyễn Du cũng bị bè lũ kiêu binh phá tư dinh ở Bích Câu và phải chạy nạn Dân chúng đã gọi đây là “loạn kiêu binh”, sự ra đời của kiêu binh là dấu hiệu báo động sự sụp đổ hoàn toàn của bè lũ Chúa Trịnh và càng khiến mâu thuẫn với nhân dân trở nên sâu sắc
Trong khi đó chế độ phong kiến ở Đàng Trong bắt đầu rơi vào khủng hoảng Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, cho tiến hành cải cách và tổ
chức lại bộ máy nhà nước Nhân đó bè lũ quan lại cũng tiến hành xây dựng dinh
thự phục vụ cho việc ăn chơi, hưởng lạc Việc cải cách không đem lại kết quả tốt đẹp mà kéo theo đó là cơ hội cho bọn quý tộc, quan lại đua nhau bóc lột nhân dân, chơi bời xa xỉ Nhân dân lầm than, xã hội rối ren, chính trị khủng hoảng Sau khi Nguyễn Phúc Khoát mất, Phúc Thuần lên thay nhưng vì còn nhỏ nên quyền lực rơi vào tay bọn quan tham khiến cho tình hình chính trị càng lúc càng thối nát do sự tranh giành quyền lực cũng như chém giết giữa các phe phái trong triều đình Cùng
với đó là hạn hán, đói kém xảy ra, tiền kẽm không tiện lợi để lưu thông dẫn đến buôn bán không thông Người dân lại nổi dậy đòi quyền sống Xã hội phong kiến
Việt Nam lúc này dường như đã đi vào con đường sụp đổ không thể cưỡng nổi
Th ứ hai là những cuộc nổi dậy đòi quyền sống của các phong trào nông dân
Xã hội phong kiến thối nát đã đẩy người dân vào tình cảnh thống khổ vô cùng, không thể chịu nổi những áp bức đó, họ đã đứng lên đấu tranh
Tiêu biểu là những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu
Cầu, Hoàng Công Chất…và thành công nhất là phong trào Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ lãnh đạo đã đánh bại cả ba tập đoàn phong
kiến Lê – Trịnh – Nguyễn Tiếc thay vị vua anh hùng, sáng suốt của phong trào nông dân là Nguyễn Huệ lại ra đi một cách đột ngột khi tuổi đời còn trẻ Người anh hùng áo vải Quang Trung đã ra đi khi những cải cách thay đổi đất nước còn dang
dở Từ sau khi ông mất nhân dân hai miền tiếp tục “oằn mình” chịu đựng những
cuộc chiến tranh
Trang 16Thời kì này chiến tranh diễn ra liên tục, hầu như năm nào cũng có những cuộc đụng độ giữa các triều đại, các phe phái xảy ra, tầng lớp thống khổ nhất không ai khác ngoài nhân dân lao động
Sau khi triều đại Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh xây dựng triều Nguyễn Dưới
sự cai trị khắc nghiệt theo Nho giáo chính thống của nhà Nguyễn, cuộc sống của người dân dưới chính sách thuế khóa, lao dịch nặng nề hơn thời trước đầy cơ khổ,
lầm than Chính vì vậy những cuộc khởi nghĩa nông dân tiếp tục nổ ra khiến giai
cấp thống trị hoảng sợ, khủng hoảng trầm trọng
Nói chung đó là “những cuộc bể dâu”, những “phen thay đổi sơn hà”
Như vậy, Nguyễn Du đã sống qua ba triều đại lần lượt là: Lê – Trịnh, Tây Sơn, và Nguyễn Ông đã chứng kiến tất cả những cuộc binh biến tàn khốc của các
tập đoàn phong kiến cũng như những cuộc khởi nghĩa nông dân đòi quyền sống Nhà thơ không chỉ chứng kiến mà còn trải nghiệm những nỗi cơ khổ của người dân, thấy rõ cảnh nghèo đói, thấy rõ cảnh “bãi bể thành nương dâu” Có thể kết lại
rằng thời đại Nguyễn Du là một thời đại biến động và khủng hoảng trầm trọng cả
bề mặt và chiều sâu tư tưởng và những biến động ấy đã để lại dấu vết không bao
giờ phai trong tư tưởng của nhà thơ
Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước, họ này hết quan Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm Ông là một sử gia, một nhà thơ và đồng
thời là quan lớn của triều Lê Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần, là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm Bà xuất thân ở vùng quan họ nổi tiếng và nhỏ hơn chồng 32 tuổi
Trang 17Anh lớn của Nguyễn Du là Nguyễn Khản (cùng cha khác mẹ) cũng là quan lớn trong phủ Chúa Nguyễn Khản có một cuộc sống phong lưu, thích thơ phú, soạn
nhạc, trong nhà lúc nào cũng có đàn ca hát xướng
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên Ông đỗ thấp (đỗ Tam trường) nhưng lại thông minh, học rộng, thông hiểu cả Nho, Phật, Đạo Dòng họ Nguyễn không chỉ nổi tiếng nhiều đời làm quan mà còn nổi tiếng với truyền thống văn học, có nhiều người viết sách và làm thơ Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du
là một nhà triết học chuyên nghiên cứu Kinh dịch; Nguyễn Nghiễm cha ông là một
sử gia, nhà thơ; Nguyễn Khản là anh cả của Tố Như cũng là một vị quan giỏi làm thơ, hay đối đáp với Trịnh Sâm; rồi cả Nguyễn Nễ anh cùng mẹ với Nguyễn Du, Nguyễn Thiện, Nguyễn Hành là cháu ông cũng đều là nhà thơ, nhà văn có tiếng bấy
giờ Có lẽ chính vì hai truyền thống ấy mà Nguyễn Du có một tâm hồn nhạy cảm
với văn chương, với nghiệp bút nghiên chăng?
Nguyễn Du sinh ra lúc gia đình còn có cuộc sống sung túc, êm đềm, song đến năm nhà thơ mười tuổi thì cha mất, hai năm sau đó mẹ cũng mất Lúc này Nguyễn
Du đến nương tựa tại nhà anh là Nguyễn Khản Xuất thân từ một gia đình quyền quý, tuổi thơ vàng son sống trong hạnh phúc ngắn ngủi của Nguyễn Du lại sớm kết thúc, có lẽ lúc ấy cậu bé họ Nguyễn hụt hẫng biết bao
Năm 1786, Nguyễn Khản mất, Nguyễn Quýnh (anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du) nổi lên chống Tây Sơn bị bắt và cũng bị giết, quân Tây Sơn đốt sạch dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Lúc này Nguyễn Du cùng những anh em còn lại cũng chia tay nhau mỗi người đi về một hướng khác nhau Bản thân Nguyễn Du về quê vợ ở Thái Bình Sau khi người vợ họ Đoàn mất Nguyễn Du về lại quê nhà Hà Tĩnh song nhà cửa đã bị quân Tây Sơn phá mất
Nguyễn Du từng có ý định vào Gia Định theo Nguyễn Ánh nhưng bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận bắt giam Song nhờ có anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn và anh ruột là Nguyễn Nễ đang làm quan cho nhà Tây Sơn nên chỉ bị giam ba tháng
rồi được tha Từ đó ông về ở hẳn ở Tiên Điền với những tâm sự nặng nề Có lẽ
Trang 18những năm gió bụi này đã để lại trong Nguyễn Du bao nỗi niềm giằng xé, đau đớn
với những điều bất đắc chí
Nguyễn Du sống ở Hồng Lĩnh cho đến năm 1802, tình hình đất nước đổi thay Triều Tây Sơn từ sau khi Quang Trung mất đã không còn hưng thịnh nữa, và rồi không lâu sau bị Nguyễn Ánh tiêu diệt hoàn toàn Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long Nguyễn Ánh cho vời những cựu thần nhà Lê ra làm quan, trong đó có Nguyễn Du
Dưới triều Nguyễn, Nguyễn Du làm quan được thăng chức rất nhanh, từ Tri huyện Phù Dung lên Tri phủ Thường Tín, Đông các học sĩ ở Kinh đô, giám khảo trường thi ở Hải Dương, Cai bạ ở Quảng Bình, rồi đến Cần Chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, lại phong thành Hữu Tham Tri bộ Lễ
Giỏi việc quan nhưng Nguyễn Du rất ít nói, trong lòng ông luôn có một nỗi
“canh cánh mối u sầu nghìn năm”, vẫn như một người bất đắc chí và nhà thơ luôn
cảm thấy day dứt trăn trở trước cuộc đời, đau đớn vì “những điều trông thấy” Trong suốt những năm tháng làm quan Nguyễn Du bốn lần xin về quê rồi mới ra làm việc lại Con đường hoạn lộ thông thoáng, ông cũng không bị đối xử quá khắt khe với tư cách là di thần nhà Lê, thế nhưng ông lúc nào cũng giữ một thái độ khiêm nhường bên ngoài, tránh đụng chạm mọi thứ Đến nỗi vua Gia Long phải lên
tiếng: “Nhà nước dùng người cứ kẻ hiền tài là dùng chứ không phân biệt Nam Bắc Ngươi với ta đã được ơn tri ngộ, làm quan đến bực Á khanh, biết việc gì ngươi phải nói cho h ết chức trách của mình, sao lại cứ sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuy ện” [53, tr.14]
Năm Canh Thìn (1820), Gia Long mất, Minh Mạng nối ngôi Nhà vua định cử Nguyễn Du làm chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong, nhưng chưa kịp đi thì Nguyễn Du mắc bệnh dịch và mất trong năm ấy Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc, là “tập đại thành” của văn học trung đại Việt Nam Trong thơ cũng như con người ông luôn đậm đà dấu ấn của truyền thống văn hóa, văn học của dân tộc
Cuối cùng, con người nặng tình và tài hoa ấy đã yên nghỉ giấc ngàn thu trong lặng
lẽ và cô đơn như chính ông suốt đời luôn cảm thấy cô đơn [36]
Trang 191.1.3 Thơ chữ Hán Nguyễn Du
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du gồm ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung
t ạp ngâm và Bắc hành tạp lục
Thanh Hiên thi t ập được sáng tác trong khoảng thời gian 18 năm, từ năm
1786 đến năm 1804, tức là trong chặng đường: “mười năm gió bụi” ở Thái Bình, về quê dưới chân núi Hồng Lĩnh và vài năm đầu ra làm quan Đó là khoảng đời thanh niên chí cao mộng lớn nhưng thời vận lỡ làng, số phận long đong Có thể nói nhà thơ sinh lầm thế kỉ chăng? Thời đại li loạn, gia đình tan tác, mang thân phiêu bạt, nương nhờ đất khách, sống đời cùng khó không anh em, bạn hữu Vì thế, trong tập thơ này mang nặng nỗi buồn cô đơn, ý thức thương cho bản thân mình, thân người,
và chính vì đang ở nơi đất khách, sống trong cảnh nương nhờ nên lời thơ đau đáu
một nỗi nhớ quê nặng trịch, đọc mà thấm thía đến tận xương tủy Toàn tập thơ gồm
78 bài, chia làm ba mốc: “Mười năm gió bụi” có 27 bài, “Dưới chân núi Hồng
Lĩnh” có 31 bài, “Ra làm quan ở Bắc Hà” có 18 bài
Nam trung t ạp ngâm sáng tác trong khoảng thời gian 1805 – 1812, thời gian
Nguyễn Du làm quan ở kinh đô Huế và làm Cai bạ ở Quảng Bình Tập thơ phản ánh con đường làm quan của Nguyễn Du Con người phải giữ mình để tránh va
chạm, tránh tị hiềm ghen ghét Ông làm thơ trong thời gian này để nói lên nỗi buồn
thế thái nhân tình bên cạnh nỗi nhớ quê nhà và nỗi niềm thương thân Toàn tập thơ
gồm 40 bài
B ắc hành tạp lục gồm 132 bài thơ chữ Hán, sáng tác trong vòng một năm, từ
tháng 2 đến tháng chạp năm Quý Dậu (1813) Khi ông dẫn đầu một phái đoàn sứ bộ sang Trung Quốc Mở đầu tập thơ là bài cảm tác khi trở ra Thăng Long để lên
đường sang Trung Quốc Cũng giống như hai tập thơ trên, những bài thơ trong Bắc
hành t ạp lục cũng là thơ tâm sự Tuy nhiên, Nguyễn Du có sự đổi mới, đã không
còn những bài thơ riêng về hoàn cảnh của mình nữa Thơ ông đề cập đến hiện thực
cuộc sống của người dân Trung Hoa và ngâm vịnh về những di tích lịch sử, đồng
thời bày tỏ tình cảm với những danh nhân lịch sử nước bạn Giọng điệu trong Bắc
hành t ạp lục dường như đã bớt u sầu so với hai tập thơ trước
Trang 20Có thể khái quát về đề tài trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du như sau:
một là đề tài hiện thực cuộc sống của con người, bao gồm cả hiện thực cuộc sống
của chính nhà thơ; hai là đề tài thiên nhiên Cũng như những nhà thơ trung đại khác, Nguyễn Du cũng làm thơ về thiên nhiên khá nhiều Ông đặc biệt viết nhiều
về thiên nhiên quê hương mình với tất cả những gì vốn có của nó, từ hiền hòa êm
dịu cho đến hoang dại, hiểm nguy Không chỉ vậy, thiên nhiên cũng là đối tượng hay gợi cho thi nhân những suy nghĩ sâu xa về cuộc đời, về thân phận Ba là đề tài
lịch sử, Nguyễn Du ngâm vịnh và đánh giá lịch sử Trung Hoa khá sâu sắc Nguyễn
Du viết nhiều về những nhân vật lịch sử, và cảm thông với cuộc đời những người tài, người trung nghĩa và phê phán những kẻ xấu xa trong lịch sử Trung Hoa Nói
như Mai Quốc Liên thì “Nguyễn Du đã làm một việc phi thường là bằng thơ ông đã đánh giá nền văn hóa Trung Hoa cổ đại, từ Tiên Tần cho đến Đường – Tống” [14,
tr.122] Cuối cùng, là những dòng thơ mang tâm sự cảm thương cho thân mình và
phận người trước biến động của cuộc sống Về thể thơ trong ba tập, khảo sát thơ Nguyễn Du thì chúng tôi thu được kết quả, thơ ngũ ngôn chỉ có 44/250 bài (chiếm khoảng 18%), còn thất ngôn thì có đến 206/250 bài (chiếm khoảng 80%), còn lại là
những bài thơ viết theo thể cổ phong tự do
1.2 Vương Duy và thơ Vương Duy
1.2.1 Thời đại
Vương Duy tên chữ là Ma Cật, ông là nhà thơ thuộc thời đại nhà Đường, nổi
tiếng ở những năm từ Khai Nguyên đến Thiên Bảo Đường là thời kì hoàng kim
của thơ ca Đó là thời kì thơ ca Trung Quốc phát triển rực rỡ nhất, nội dung thì phong phú, còn hình thức thì phải nói là đạt đến trình độ điêu luyện
Đời Đường kéo dài khoảng 300 năm (617 – 907), từ khi Lý Uyên lật đổ nhà Tùy lập lên nhà Đường cho đến khi Chu Ơn lật đổ nhà Đường
Trong 300 năm lịch sử đó nhà Đường có thể chia làm ba thời kì là: sơ Đường, trung Đường, và vãn Đường Vương Duy sinh năm 701, mất năm 761, ông sống trong thời kì Sơ Đường (còn gọi là Sơ thịnh Đường hay Thịnh Đường) đến vài năm đầu Trung Đường Thời kì này kéo dài hơn 100 năm từ Đường Cao tổ (Lý Uyên -
Trang 21617) đến loạn An Sử vào cuối niên hiệu Thiên Bảo (755) của Đường Huyền Tông (Lý Long Cơ)
Trong thời kì này kinh tế phát triển Đặc biệt đáng chú ý là hai niên hiệu Khai Nguyên và Thiên Bảo dưới triều Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) Nền chính trị lúc này trong sáng, các thế lực bè đảng được tiêu diệt hết Nhà vua trọng
dụng hai vị lương thần là Diêu Sùng và Tống Cảnh làm tể tướng Nhờ đó kinh tế
dần phát triển, nông nghiệp đã phát minh ra máy cày tay và đồng xa Nông nghiệp được đề cao và quan tâm, đất nước nhờ đó mà ổn định, bước vào thời kì thịnh vượng Kinh đô Trường An đông đúc và phồn thịnh bậc nhất
Bên cạnh đó, Đường Huyền Tông cũng trọng dụng tể tướng Trương Cửu Linh Nhà vua nghe theo chính sách cải cách quan lại của ông, đồng thời quan tâm đến
việc dùng người tài, lại yêu cầu các địa phương bồi dưỡng và tiến cử nho sĩ ưu tú cho đất nước
Tuy nhiên những năm cuối đời nhà thơ (755- 761) xã hội xảy ra biến loạn
Mốc đánh dấu chính là sự kiện loạn An Sử (755) Loạn An Lộc Sơn nổ ra đã làm cho xã hội nhà Đường rối loạn An Lộc Sơn là tiết độ sứ người Hồ, nổi lên định cướp ngôi nhà Đường Đường Huyền Tông cùng Dương Quý Phi chạy vào đất
Thục Tuy sau đó nhà Đường đã dẹp được loạn An Sử nhưng từ đây mâu thuẫn dân
tộc, giai cấp vẫn âm ỉ cháy, nhà Đường bắt đầu thời kì xuống dốc
Tóm lại, trong 300 năm đời Đường, có thể lấy năm 755 – xảy ra loạn An Sử làm mốc để đánh dấu hai thời kì khác nhau 100 năm đầu là thời kì thịnh vượng Từ sau loạn An Sử là thời kì mà mâu thuẫn xã hội trở nên sâu sắc, triều đình hủ bại, chiến tranh xảy ra liên miên, người dân bị đẩy vào cảnh điêu linh Diễn biến lịch sử này đã để lại dấu ấn trong thơ ca Đường
Vương Duy sống trong cả hai thời kì khác nhau của lịch sử nhà Đường, từ thời
kì hưng thịnh đến khi bắt đầu loạn lạc Tuy loạn lạc xảy ra vào những năm cuối đời nhà thơ nhưng nó cũng ảnh hưởng đến cuộc sống của ông
Trang 22Nhìn chung cuộc đời Vương Duy bình lặng hơn và nhà thơ ít trải qua nhiều
biến cố, thăng trầm lịch sử như Nguyễn Du Điều này cũng là một nhân tố tạo nên
sự khác biệt giữa hai nhà thơ
1.2.2 Con người
Vương Duy (701 – 761) tự là Ma Cật, người đất Kì, Thái Nguyên (nay thuộc huyện Kì, tỉnh Sơn Tây) Cha sớm qua đời nên suốt thời ấu thơ Vương Duy tuy
sống trong cảnh đủ đầy về vật chất nhưng lại thiếu thốn tình cảm cha con Gần gũi
với ông nhất là người mẹ, một người họ Thôi ở Bắc Lăng, bà thờ Phật hơn ba mươi năm và là một tín đồ Phật giáo Không khí trong nhà vì vậy lúc nào cũng đượm mùi nhang khói và tiếng tụng kinh, niệm Phật
Vương Duy từ khi còn nhỏ đã bộc lộ những năng khiếu văn chương, âm
nhạc…tâm hồn nhạy cảm của ông đã sớm tiếp thu không khí sùng đạo Phật trong gia đình từ rất sớm
Năm Vương Duy hai mốt tuổi, ông đậu tiến sĩ, được bổ nhiệm quan Đại nhạc
thừa Sau đó vì phạm lỗi nên bị biếm đi Tế Châu (nay là huyện Trường Thanh, Sơn Đông) làm Tư khố tham quan cũng tại đây người vợ của nhà thơ qua đời
Đến năm 734, Trương Cửu Linh chấp chính, Vương Duy làm thơ dâng lên xin được tiến cử, do đó ông được bổ làm Hữu thập di
Năm Khai Nguyên thứ 25, Trương Cửu Linh bị biếm, cũng trong mùa thu năm
đó Vương Duy phải đi sứ ngoài biên ải, ở Lương Châu một thời gian Sau khi đi sứ
ở Lương Châu, Vương Duy về Trường An làm quan một thời gian khá ổn định Trong thời gian này vì công việc nhà thơ có đi Tứ Xuyên, Hồ Bắc nhưng thời gian không lâu Ông sống tương đối ổn định tại ngoại thành Trường An, một nơi núi rừng tráng lệ
Trong khoảng thời gian mười lăm, mười sáu năm từ cuối Khai Nguyên đến
cuối Thiên Bảo (740 – 755), Vương Duy sống cuộc đời yên tĩnh của một vị quan văn, chức tước thăng dần: Khế Bộ Lang Trung năm 742, Cấp Sự Trung năm 755 Tuy nhiên, cuộc sống chủ yếu của ông lại là gảy đàn, chơi sáo, làm thơ trong dinh thự của mình tại Võng Xuyên Cũng vì vậy mà địa danh Võng Xuyên thường
Trang 23xuyên xuất hiện trong thơ ông Đây là thời kì chuyển từ tráng niên sang tuổi già của Vương Duy, thời kì này ông sáng tác rất nhiều thơ sơn thủy điền viên
Năm 755, An Lộc Sơn chiếm Trường An và Lạc Dương, Vương Duy bị bức ra làm quan cho ngụy triều Sau khi ngụy triều đổ, Vương Duy suýt bị tội nặng, may
nhờ có em trai là Vương Tấn đứng ra xin từ quan để chuộc tội, Vương Duy mới được tha Sau đó, ông tiếp tục ra làm quan thăng đến Thượng Thư Hữu Thừa
Tất cả những biến cố trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến tầng lớp trí thức, nho sĩ đương thời, Vương Duy cũng nằm trong số đó Chính vì vậy mà những năm cuối đời của Vương Duy, mỗi khi bãi triều nhà thơ thường ngồi lặng lẽ một mình đốt hương, đọc kinh, niệm Phật
Vương Duy sinh ra trong một xã hội mà nền giáo dục Nho giáo phát triển
mạnh mẽ Chịu sự giáo dục đó, Vương Duy cũng dùi mài kinh sử và đi thi lấy công danh Cả cuộc đời Vương Duy là một vị quan luôn làm tròn trách nhiệm Ngay cả khi về ở ẩn tại Võng Xuyên, Vương Duy vẫn ngày ngày lên triều rồi sau đó lui về dinh thự của mình vui với đạo
Vương Duy có một người mẹ là tín đồ Phật giáo trong nhiều năm, ngay từ thuở
nhỏ ông đã sống trong không khí đượm mùi đạo Tư tưởng của đạo Phật cũng từ đó
ngấm vào tâm hồn nhà thơ Những bài thơ sơn thủy của thi nhân tinh tế, nhẹ nhàng nhưng luôn hàm chứa ý vị Thiền sâu sắc Đối với Lão giáo, Vương Duy cũng thấu
hiểu và yêu thích Trong thơ mình ông nhắc đến tấm gương của những bậc cao nhân Đạo giáo với một tấm lòng ngưỡng vọng, ông cũng vô số lần bày tỏ ý muốn được ẩn cư nơi non xanh Và nửa cuộc đời sau của mình Vương Duy đã thực hiện
trọn vẹn ý định ấy
Như vậy, con người Vương Duy là sự thống nhất giữa ba tư tưởng Nho, Phật
và Đạo Ông sống với trách nhiệm làm quan của một nhà Nho, vui với Phật và Đạo Trong thơ Vương Duy cũng biểu hiện rõ nét sự thống nhất ấy
Năm 761, năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường Túc Tông (Lí Hanh), Vương Duy qua đời, thọ 61 tuổi
Trang 241.2.3 Sự nghiệp
Vương Duy (701 – 761), như vậy sự nghiệp sáng tác của ông nằm trọn trong giai đoạn Thịnh Đường Ông để lại khoảng 400 bài thơ, trong đó có những bài thơ
thời trẻ, bộc lộ tâm trạng của lớp tri thức có tài có chí không được dùng, sống trong
cảnh hàn vi, còn bọn công tử quý tộc dốt nát lại giàu có, rong chơi xa hoa, trụy lạc
Những tháng năm ở biên cương, Vương Duy cũng sáng tác những bài thơ biên tái Trong những bài thơ này của Vương Duy có tình điệu khẳng khái, hiên ngang,
đề cao lòng yêu nước, tinh thần hăng hái của những người lính canh giữ biên
cương, sẵn lòng vì một triều đại đang mở mang, hướng tới thịnh vượng như: Sứ chí
t ại thượng, Lũng đầu ngâm, Lão tướng hành,…
Thơ Vương Duy có một phần nổi bật quan trọng đó là thơ thiên nhiên Ông được coi là một nhà thơ tiêu biểu của phái thơ Sơn thủy điền viên cùng với Mạnh
Hạo Nhiên Do ưa thích một lối sống bình dị, tĩnh lặng, tâm hồn ông hoà nhập với
cảnh sống thanh bình của núi rừng nên thơ ông miêu tả núi sông hùng vĩ, cảnh làm
ruộng, gặt hái, lấy sự chất phác đôn hậu của đời sống dân chúng cần mẫn trên đồng
ruộng làm nền Vương Duy là người không chỉ yêu thích mà còn tinh thông Phật
học, do đó thơ ông thắm đượm tư tưởng của đạo Phật Vương Duy được người đời sau tôn là “Thi Phật” cùng với “Thi tiên” Lý Bạch, “Thi thánh” Đỗ Phủ là những nhà thơ nổi tiếng đời Đường
Vương Duy làm thơ chủ yếu là ngũ ngôn, qua thống kê chúng tôi thấy rằng có đến 131/170 (chiếm khoảng 77%) bài thơ là thơ ngũ ngôn, trong khi thất ngôn chỉ
có 26/170 bài (chiếm khoảng 15%) Sở trường của Vương Duy là thơ ngũ ngôn,
ông được người đời tôn xưng là “bậc thầy của thơ ngũ ngôn” [20, tr.95] nhất là
ngũ ngôn tứ tuyệt, những bài thơ làm theo thể này vô cùng ngắn gọn, súc tích, bộc
lộ được ý vị Thiền, cũng như triết lí nhân sinh mà nhà thơ gửi gắm Số bài thơ làm theo thể này chiếm đến 68/170 bài (chiếm khoảng 40%), những bài thơ nổi tiếng
của Vương Duy được nhiều người biết đến và yêu thích hầu như đều được làm theo
thể ngũ ngôn tứ tuyệt như: Điểu minh giản, Lộc trại, Sơn thù du, Tân Di ổ, Trúc
Lí quán, Văn hạnh quán…
Trang 25Với Vương Duy, để thể hiện triết lí Thiền tông cũng như đạt đến sự điêu luyện
của trạng thái giác ngộ thì ông chọn hình thức thơ nhỏ nhất về mặt dung lượng là ngũ ngôn tuyệt cú chỉ với hai mươi chữ để chuyển tải một nội dung tư tưởng sâu
sắc Thơ càng ngắn, càng ít chữ thì càng súc tích, từ đó tạo nên tính chất cô đọng, hàm súc Với dung lượng ít ỏi, thơ Vương Duy chú trọng gợi nhiều hơn tả, đọc
những bài thơ sơn thủy nhưng đậm chất Thiền và Đạo chúng ta phải nghiền ngẫm
thật lâu để có thể ngộ ra diệu ý trong đó Đó chính là hiệu quả của “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), lời thì giản mà ý thì sâu
Là một thi nhân, Vương Duy còn nổi tiếng với vai trò là một nhạc sư Có lần
Kỳ Vương mời Vương Duy lại cung Cửu công chúa, em Kỳ Vương và Đường Minh Hoàng, gẩy đàn chơi Sau khi đánh đàn xong công chúa hỏi tên khúc nhạc là
gì, Vương thưa: “Uất luân bào” Rồi hỏi do ai sáng tác, Vương thưa là của mình
Đến lúc này công chúa mới sửng sốt nói: “Ta thường đánh khúc đàn này cho Hoàng huynh nghe V ẫn tưởng là sáng tác của bậc nhạc sư xa xưa, không ngờ nay
m ới biết là của tiên sinh” [42, tr.25]
Ngoài sáng tác thơ ca Vương Duy còn tinh thông hội họa Ông là gương mặt tiêu biểu cho trường phái tranh sơn thủy của Trung Quốc, và đồng thời là người sáng lập ra Nam Tông họa phái Tài tử Tô Đông Pha khi nhận xét về Vương Duy
đã nói: “Vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa, quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi.” (Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có họa, ngắm họa của Ma Cật, trong
họa có thơ.)
1.3 Nguyên lí văn học so sánh
1.3.1 Nguyên lí chung của văn học so sánh
Văn học so sánh hiện nay đã trở thành một bộ môn khá ổn định và có triển
vọng trong giới nghiên cứu văn học Tuy vậy, không phải văn học nào cũng là văn
học so sánh, nó hoàn toàn khác với thao tác so sánh văn chương
So sánh văn chương là một phương pháp nghiên cứu văn học có đối tượng bất
kì Chúng ta có thể so sánh hai hay nhiều đoạn văn, đoạn thơ với nhau; hoặc có thể
so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia; tác giả này với tác giả khác; giai đoạn văn
Trang 26học này với giai đoạn văn học kia; so sánh trào lưu với trào lưu; so sánh niên đại,
lịch đại, và các hiện tượng tương đồng hoặc tương phản…Thông qua so sánh văn chương người nghiên cứu rút ra được quy luật vận động, phát triển của văn học Văn học so sánh khác so sánh văn học ở chỗ đối tượng nghiên cứu Theo đó, đối tượng của văn học so sánh là nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học, vượt qua ranh giới quốc gia, dân tộc Văn học so sánh nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học, văn hóa của các dân tộc khác nhau cũng như sự giao lưu văn học, văn hóa
của các quốc gia khác nhau trên thế giới Chính vì vậy mà văn học so sánh vừa có tính dân tộc lại vừa có tính quốc tế Để phân biệt rõ hơn giữa văn học so sánh và so sánh văn học, người nghiên cứu cần chú trọng đến những nguyên lí, đặc trưng riêng
của văn học so sánh
“Văn học so sánh vừa tìm cái chung, cái tương đồng của các thực tại văn học
có tính ph ổ quát với phương pháp loại hình, vừa tìm cái độc sáng, cái bản sắc, cái
đa dạng, cái khác biệt trong cái chung đó với phương pháp khu biệt” [58, tr.30]
Vì văn học so sánh có những nguyên lí riêng, có những đối tượng riêng nên khi tiến hành nghiên cứu theo hướng văn học so sánh người nghiên cứu cần xác định rõ đối tượng của mình Theo đó, có ba đối tượng chính của văn học so sánh như sau:
Th ứ nhất, văn học so sánh nghiên cứu các mối quan hệ trực tiếp giữa các nền
văn học dân tộc khác nhau Khi nghiên cứu đối tượng này nhà nghiên cứu cần chỉ
ra được sự vay mượn hay ảnh hưởng qua lại cũng như nguồn gốc của sự ảnh hưởng
và vay mượn để đánh giá sự đóng góp của cả hai bên Ví dụ Nguyễn Du vay mượn
cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Quốc để sáng
tạo nên Đoạn trường tân thanh; truyện Nửa đêm của Nam Cao chịu ảnh hưởng
cuốn Thérèse Raquin của Emile Zola một cách rõ rệt; Ghen của Đoàn Phú Tứ được viết theo vở La Jalousie của Shacha Guitry…[80, tr.389]
Th ứ hai, văn học so sánh nghiên cứu những điểm tương đồng (hay còn gọi là
nghiên cứu song song) Đó có thể là những tương đồng về đề tài, chủ đề, tư tưởng,
Trang 27hay phong cách v.v giữa hai đối tượng không có mối liên hệ trực tiếp dựa trên tính
phổ quát và khác biệt giữa văn hóa của các quốc gia
Việc nghiên cứu theo hướng này nhằm rút ra những đặc điểm chung giữa hai đối tượng từ đó tìm ra đặc điểm của nền văn hóa cũng như hệ thống văn học giữa các quốc gia khác nhau Đồng thời làm nổi bật đặc trưng của mỗi nền văn học
Ví dụ, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đi nghiên cứu kiểu truyện Tấm Cám ở các quốc gia Đông Nam Á, hay đề tài “dũng sĩ diệt đại bàng
cứu người đẹp” trong truyện cổ Đông Nam Á v.v
Th ứ ba, văn học so sánh nghiên cứu các điểm khác biệt độc lập Hướng nghiên
cứu này xuất phát từ thực tế văn học Bởi vì trong thực tiễn đôi khi chúng ta cần
phải nghiên cứu, so sánh hai hiện tượng văn học khác nhau để chứng minh sự khác nhau giữa hai đối tượng đó qua đó nhằm phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu cụ thể nào đó của nhà nghiên cứu
Ví dụ so sánh truyện Con chó săn của dòng họ Baskerville của Arthur Conan
Doyle với tác phẩm Tên của đóa hồng của Umberto Eco để chứng minh Tên của
đóa hồng không phải là tiểu thuyết trinh thám; so sánh tiểu thuyết Robinson Crusoe c ủa Daniel Defoe với Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật để thấy Quả
dưa đỏ chưa phải là tiểu thuyết phiêu lưu v.v
Như vậy, văn học so sánh có nhiệm vụ làm rõ cái đặc thù của dân tộc cũng như cái quốc tế, từ đó tìm ra bản chất của văn học, cũng như quy luật phát triển của văn
học
Tóm lại, “văn học so sánh vừa hướng tới cái thống nhất, cái đơn nhất trong sự
đa dạng của những khác biệt, hoặc ngược lại nó khởi đi từ những hiện tượng khác
bi ệt để tiến đến khái quát các chuỗi (séries) của cái chung Sự biện chứng giữa tính
lo ại hình và tính khác biệt cũng chính là sự biện chứng giữa cái chung và cái riêng, cái ph ổ quát và cái độc đáo” [58, tr.30]
1.3.2 Cơ sở để so sánh Nguyễn Du và Vương Duy
Nguyễn Du và Vương Duy sinh sống và sáng tác ở hai thời đại khác nhau, tại hai không gian khác biệt Một người sống ở thời nhà Đường (701-761), một người
Trang 28ra đời sau đó hơn một ngàn năm Một người là nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc, một người là đại thi hào của dân tộc Việt Nam
Khi tiến hành so sánh Nguyễn Du và Đỗ Phủ chúng ta có thể khẳng định mối liên hệ giữa hai nhà thơ Bởi vì sinh thời trong những tác phẩm của mình Nguyễn Tiên Điền đã nhiều lần nói đến Đỗ Phủ với một tấm lòng cảm thông, kính trọng vô vàn:
Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư) Bình sinh bội phục vị thường li
(L ỗi dương Đỗ Thiếu Lăng mộ 1)
(Văn chương để lại muôn đời, bậc thầy của muôn đời
Suốt đời ta khâm phục chưa chút đơn sai) Còn Vương Duy và Nguyễn Du thì không có một căn cứ nào cho chúng ta thấy
sự liên hệ giữa họ Nói đến Vương Duy chúng ta nghĩ ngay đến một Thi Phật với
những bài thơ độc đáo ý vị Thiền, còn Nguyễn Du là một nhà thơ với tâm hồn đa
cảm mang nặng tâm sự về cuộc đời và nhà thơ với tấm lòng nhân đạo cao cả Vậy
cơ sở nào để so sánh hai nhà thơ có sự khác biệt nhiều như vậy?
Cơ sở để chúng tôi so sánh Nguyễn Du và Vương Duy là dựa trên nguyên lí
của văn học so sánh đã trình bày khái quát ở phần trên Nguyên lí của văn học so sánh cho phép chúng tôi tiến hành so sánh hai đối tượng khác biệt và hoàn toàn độc
lập, đây là đối tượng thứ ba của văn học so sánh Khi tiến hành nghiên cứu các điểm khác biệt độc lập giữa Nguyễn Du và Vương Duy chúng tôi muốn chứng minh nét nổi bật của Nguyễn Du – con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam trong
thế đối sánh với Vương Duy – con người Trung Hoa, văn hóa Trung Hoa
Cơ sở tiếp theo dẫn dắt chúng tôi đến với đề tài này là do văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc có một mối liên hệ chặt chẽ, hay có thể nói nền văn học Việt Nam, nhất là văn học trung đại chịu ảnh hưởng từ văn học cổ Trung Quốc Trong
đó thơ ca là thể loại mang đậm dấu ấn của Đường thi Mối quan hệ này hình thành trên cơ sở lịch sử đất nước ta từ xa xưa đã bị Trung Quốc xâm lược, đô hộ cả nghìn năm Từ đó có sự giao lưu văn hóa, văn học cũng như vay mượn chữ viết trong
Trang 29sáng tác văn nghệ cho nên sự gặp gỡ giữa nhà thơ Việt Nam là Trung Hoa là không
Đó chính là tinh thần ham sống, tinh thần luôn hướng đến sự thanh cao trong
mọi hoàn cảnh của cuộc sống Cả Vương Duy và Nguyễn Du đều theo đuổi con đường hoạn lộ đến cuối đời Song không giống những người khác, họ giữ cho mình
một tâm hồn liêm khiết trong việc quan Nguyễn Du sống thanh bần đến cuối đời, trong khi Vương Duy ngoài thời gian ở triều đình thì lui về vui với thiên nhiên, kinh kệ, không quan tâm đến vinh nhục thế sự Cả hai thi nhân dù nhìn cuộc sống
với thái độ thế nào cũng không từ bỏ cuộc sống, thân “hiện hữu” tại thế gian với
một tinh thần luôn hướng về một cuộc sống
Cả Vương Duy và Nguyễn Du đều có một tấm lòng luôn hướng đến vẻ đẹp của
cuộc sống Vương Duy trân trọng cuộc sống với từng chi tiết bình dị nhất như một
tiếng chim hót, một đóa hoa sen, một đàn trẻ chăn trâu nô đùa dưới mưa… Còn Nguyễn Du khi phản ánh hiện thực xã hội với những gì thối nát nhất nhưng vẫn hướng đến một cuộc sống hạnh phúc và trân trọng những vẻ đẹp của con người trong cuộc sống ấy
Trang 30Ti ểu kết chương 1
Trên đây chúng tôi đã trình bày những vấn đề khái quát về cuộc đời, con người cũng như sự nghiệp văn học của Vương Duy và Nguyễn Du Đồng thời chúng tôi cũng xin nêu ra những cơ sở để so sánh thơ Vương Duy và Nguyễn Du Đó là cơ sở
lí luận xuất phát từ nguyên lí và đặc trưng cho phép của bộ môn Văn học so sánh
Có thể nói đây là hai hiện tượng văn học hoàn toàn khác biệt Tuy vậy dựa trên
những gì thu được từ quá trình nghiên cứu khái quát chúng tôi tiến hành so sánh Nguyễn Du và Vương Duy nhưng chỉ giới hạn ở phạm vi nhỏ là cảm hứng sáng tác
và sự thể hiện tinh thần của Phật giáo, Lão giáo
Trang 31Chương 2 NHỮNG ĐIỂM GẶP GỠ GIỮA THƠ CHỮ HÁN
2.1 Cảm hứng thế sự
Văn học luôn có chức năng phản ánh hiện thực dù nó ở trong thời kỳ nào đi
nữa Mỗi một nhà văn, nhà thơ khi cầm bút sáng tác đều ý thức được việc phản ánh
hiện thực là chức năng cao cả nhất của văn nghệ Nguyễn Du và Vương Duy có gốc
là một nhà Nho Mà đối với mỗi người chịu ảnh hưởng từ học thuyết Nho giáo sẽ
hiểu được thế nào gọi là trách nhiệm đối với đời Xuất phát từ cảm hứng trách nhiệm đối với cuộc sống, con người, trong thơ họ hình thành nên một loại cảm
hứng văn học gọi là cảm hứng thế sự
Cảm hứng theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là trạng thái tâm lí đặc biệt nảy sinh khi con người có một sự tập trung cao độ kết hợp với một cảm xúc mãnh liệt tạo điều kiện cho óc tưởng tượng và năng lực sáng tạo hoạt động hiệu quả nhất Cảm
hứng thế sự chính là cảm hứng nảy sinh khi các thi nhân quan sát hiện thực cuộc
sống với một sự tập trung, một trạng thái tình cảm sâu sắc nhất để biến cảm hứng
ấy thành câu chữ thể hiện cuộc sống một cách hiệu quả nhất
Xuất phát từ đặc tính phản ánh hiện thực của thơ văn cho nên các nhà thơ, nhà văn luôn lấy chất liệu sáng tác nghệ thuật từ chính cuộc sống mà họ trải qua, cũng như hiện thực mà họ chứng kiến.Cũng như bao nhà thơ khác, Nguyễn Du và Vương Duy đều hướng về con người và xã hội họ sống
2.1.1 Hiện thực xã hội
Những bài thơ của Vương Duy tuy đậm đặc ý muốn hướng đến một cuộc sống thanh nhàn với thiên nhiên nhưng điều đó không có nghĩa là Vương Duy bỏ mặc
thế sự, dửng dưng với cuộc đời Ngược lại Vương Duy vẫn có những bài thơ cho
thấy ông không hề xa rời cuộc sống, không chỉ mải mê tìm lối thoát tục
Trong loạn An Lộc Sơn, trước cảnh người dân thống khổ, triều thần hoảng
loạn, nhà thơ xót xa:
Trang 32Vạn hộ thương tâm sinh dã yên
Bách quan hà nhật cánh triều thiên?
Thu hòe diệp lạc không cung lí
Ngưng Bích trì đầu tấu quản huyền
(Tư Thành Khẩu hào tụng thị Bùi Địch)
(Muôn nhà dân đau lòng trước những ngọn khói quê
Bao giờ trăm quan mới lại được chầu vua?
Lá hòe mùa thu rụng hoài trong cung vắng
Nơi ao Ngưng Bích vẫn vang dội tiếng sáo, tiếng đàn)
Trong cuộc phản loạn của An Lộc Sơn, Vương Duy bị ép làm quan cho ngụy triều, ông không có cách chống lại Sau khi loạn An Sử trôi qua, Vương Duy suýt
bị tội vì đã làm quan cho ngụy triều, song nhờ có em xin tha tội mà được tha Bài thơ này Vương Duy làm khi bị An Lộc Sơn giam lỏng, ông viết cho bạn mình là Bùi Địch Bài thơ phản ánh hiện thực lúc kinh đô Trường An bị chiếm, khói lửa chiến tranh khiến nơi nơi nhân dân lâm vào loạn lạc, sợ hãi Trong khi đó các quan
lại ngơ ngác, bàng hoàng, không biết ngày nào mới được chầu vua, phải chăng Vương Duy đang nói tâm trạng mình trước hiện thực ấy Cung điện vắng vẻ, chỉ có
lá thu rơi, cảnh vật tiêu điều, vắng lặng Ấy vậy mà tiếng nhạc, tiếng hát của quân
phản loạn lại vẫn vang đều khiến cho nhà thơ không sao cầm nổi xót xa
Những ngày tháng còn trẻ, với chức trách của một vị quan miền biên tái Vương Duy có cái nhìn khá khắt khe đối với hiện thực cuộc sống sa đọa của những thiếu niên trai tráng:
Tân phong mỹ tửu đấu thập thiên
Hàm Dương du hiệp đa thiếu niên
Tương phùng ý khí vi quân ẩm
Hệ mã cao lâu thùy liễu biên
(Thi ếu niên hành)
(Ở Tân Phong, rượu ngon có cả muôn đấu
Hiệp khách đất Hàm Dương phần nhiều là người trẻ
Trang 33Gặp nhau, cảm nhau về ý khí mà cùng nhau uống
Lên lầu cao sau khi buộc ngựa bên gốc liễu rũ tơ)
Những người trẻ tuổi không ra trận cống hiến cho nước nhà, ngược lại say đắm trong men rượu Ngựa không dùng để chinh chiến sa trường mà bị buộc cùng bên
gốc liễu yếu ớt Trong khi đó những vị tướng đã già nhưng vẫn rong ruổi miền biên
ải, chiến đấu vì đất nước:
Nhất thân chuyển chiến tam thiên lí
Nhất kiếm tằng đương bách vạn sư
Hán binh phấn tấn như tích lịch
Nỗ kỵ bôn đằng úy tật lê
(Lão tướng hành)
(Một thân luân chuyển đánh trận ba ngàn dặm
Một thanh kiếm địch trăm vạn quân
Quân Hán đoạt ngựa tiến nhanh như sét đánh
Ngựa giặc chạy miết sợ đám gai chông)
Bản thân Vương Duy cũng bôn ba nơi biên cương thời còn trẻ, ông làm nhiều bài thơ phản ánh hiện thực cuộc sống nơi biên cương Hiện thực cuộc sống miền biên tái bên cạnh những hào khí ngút trời, những cuộc hành quân giết giặc gian khổ còn là nỗi cô đơn, hoài niệm “đất cũ” – quê nhà chăng?
Khói buồn cao đại mạc
Ráng chiều phơi trường hà)
Trang 34Vị quan Vương Duy nhiều lần phải thay đổi trong việc quan, ông phải đi từ nơi này sang nơi khác nhận những nhiệm vụ mới Trên những con đường rong ruổi ấy nhà thơ vẫn quan sát một cách tinh tế cuộc sống của con người nơi đó Đó là cảnh
sống thanh bình, tĩnh lặng của thôn dân:
Tình giang nhất nữ cán
Triêu nhật chúng cầm minh
Thủy quốc châu trưng nhị
(Hi ểu hành Ba Giáp)
(Bên sông lúc trời tạnh ráo một cô gái làm việc giặt giũ
Dưới ánh mai, chim hót líu lo
Nơi sông nước người ta họp chợ trong đò)
Một bức tranh hiện thực êm đềm, giản dị nhưng ấm áp Dưới ánh ban mai là
tiếng chim hót vang, bên sông là thiếu nữ giặt áo, tắm mình trong nắng sớm, thật là tràn trề sức sống, sức trẻ Nơi sông nước càng thêm nhộn nhịp với phiên họp chợ
Chỉ bằng vài nét chấm phá nhưng Vương Duy đã cho người đọc thấy được hiện
thực cuộc sống tuyệt vời ở chốn này Khung cảnh nơi đây còn đặc biệt có ý nghĩa
với nhà thơ, bởi vì nó khiến ông vơi bớt niềm nhớ nhung đối với quê nhà:
Nhân tác thù phương ngữ
Oanh vi cựu quốc thanh
Lại am sơn thủy thú
Sảo giải biệt ly tình
(Hi ểu hành Ba Giáp)
(Người ở đây nói tiếng xứ khác
Oanh vẫn hót giọng xưa nơi nước nhà
Nhờ có nhiều cảnh non nước đẹp mắt
Nên cũng đỡ phần nào niềm nhớ nhung khi chia lìa)
Lần khác trên đường nhà thơ đi biên ải (do bị biếm), nhà thơ ngủ lại ở Trịnh Châu một đêm Với một tâm trạng không hề dễ chịu, Vương Duy đã nói về chuyến
đi của mình là đến vùng biên cương chỉ để kiếm đồng lương còm, thế nhưng thi
Trang 35nhân vẫn hết sức tinh tế để quan sát cuộc sống người dân nơi đây Một bức tranh
cuộc sống giản dị nhưng êm đềm, lão nông phu về nhà sau một ngày làm đồng; lũ
trẻ chăn trâu nghịch mưa vui vẻ; dế kêu bên khung dệt vải; chim hót báo mùa lúa chín
Điền phụ thảo tế quy
Thôn đồng vũ trung mục
Chủ nhân đông cao thượng
Thì giá nhiêu mao ốc
Trùng tu cơ trữ minh
Tước huyên hòa thử thục
(Túc Tr ịnh Châu)
(Lão nông phu từ cánh đồng cỏ trở về
Trẻ trong xóm chăn trâu bò dưới mưa
Ông chủ bên cánh đồng phía đông
Mạ mùa mọc quanh ngôi nhà tranh
Dế nỉ non nhớ khung cửi
Se sẻ ríu rít báo tin mùa lúa chín)
Vương Duy có cái nhìn về cuộc sống theo cách riêng của mình Dưới nhãn quan của Vương Duy, cuộc sống dường như bình lặng và luôn đơn giản Thiên nhiên và con người nơi đây đã hòa quyện vào nhau để dệt nên bức tranh hiện thực
ấm áp và hạnh phúc khiến thi nhân chạnh lòng nghĩ đến con đường hoạn lộ thăng
trầm của ông chăng?
Trên con đường ấy vị quan họ Vương không phải chỉ thấy những khung cảnh
êm đềm, ông còn chứng kiến những cảnh ngộ khiến con người phải rơi lệ:
Thanh thanh dương liễu sắc
Mạch thượng biệt li nhân
Ái tử du Yên, Triệu
Cao đường hữu lão thân
Bất hành vô khả dưỡng
Trang 36Hành khứ bách ưu tân
(Quan bi ệt giả)
(Đường quê liễu rũ xanh xanh
Trên đường quê đó có người tiễn đưa nhau
Người con yêu đi sang các nước Yên, Triệu
Nơi thềm cao, còn cha mẹ già
Không đi thì không có gì để phụng dưỡng
Mà đi thì trăm mối lo mới làm bận lòng)
Đó là một cuộc chia li của những người con với cha mẹ để sang đất khác mưu sinh Nghịch cảnh ở chỗ cha mẹ đã già mà phải tiễn con đi, biết sống đến ngày con
trở về được chăng? Con cái tất nhiên muốn ở lại phụng dưỡng nhưng nếu ở lại thì
“vô khả dưỡng”, không có khả năng nuôi dưỡng nổi cha mẹ Chỉ với một câu thơ vài chữ ngắn ngủi, nhà thơ đã bày ra trước mắt người đọc một tấm gương soi rõ
hiện thực đời sống nơi đây Đó là nơi đây con người phải khổ sở như thế nào mới khiến họ buộc phải đi nơi khác để kiếm nguồn nuôi dưỡng cha mẹ già Cha mẹ đã già có cầu gì nhiều, người con cũng chỉ có cha mẹ già mà không nuôi nổi Hoàn
cảnh phải cơ cực đến mức nào mới ép được con người đến bước đường này Người
ra đi với trăm mối lo, vừa phải lo cha mẹ già ở lại quê nhà mà mình không túc trực
sớm hôm, vừa phải lo cách mưu sinh ở đất lạ Người đi mang thân phận một kẻ xa quê vừa cô đơn, vừa nặng nề chồng chất gánh nặng cơm áo trên vai Chứng kiến
cuộc chia li này, nhà thơ không giữ nổi những giọt lệ cảm thông, thương xót, ông thương cho mình và xót cho người Như vậy, nào có phải Vương Duy chỉ biết đến
ẩn dật, yếm thế Ông vẫn quan tâm đến con người, đến cuộc sống, nhưng là cuộc
sống dường như phần nào đã được chọn lọc qua lăng kính riêng của mình Đó là
một lăng kính đã được lọc qua những triết lí của Phật, của Lão, và của chính riêng Vương Duy
Vương Duy luôn có sự quan tâm đến cuộc sống thường ngày của những con người gần gũi với mình Ông viết những gì ông thấy, không tham khái quát hay đi
Trang 37sâu vào những gì phức tạp của thế sự Chỉ đơn giản là cảm nhận từ cuộc sống con
người:
Tà quang chiếu khư lạc
Cùng hạng ngưu dương qui
Dã lão niệm mục đồng
Ỷ trượng hậu sài phi
(V ị Xuyên điền gia)
(Bóng tà rọi vào thôn ấp
Trâu dê trở về trong xóm sâu
Ông già quê nghĩ tới lũ trẻ chăn trâu
Tựa gậy đứng đợi nơi cổng tre)
Đó là khung cảnh của một buổi chiều tà nơi xóm ấp Lũ trẻ chăn trâu lùa trâu,
dê trở về nhà sau một ngày làm việc mệt mỏi Hay chỉ đơn giản là ông lão chống
gậy đợi bầy trẻ về nhà nơi cổng tre Con người hiện lên trong bức tranh cuộc sống
thật hiền hòa và bình thản, phải chăng hạnh phúc bình dị mà bất cứ người dân nào cũng mong mỏi là đây? Phải chăng ngắm bức tranh này Vương Duy cũng cảm thấy
nhẹ nhàng và vui sướng, đó chính là niềm khao khát của thi nhân Cuộc sống vẫn theo nhịp đều đặn song lại toát lên ý vị của sự nhàn rỗi, thanh bình tuyệt đối Đó là
sự nhàn rỗi có được do không có chiến tranh, không có bóc lột, không có bất công Con người nơi đây cũng không chịu thiên tai, không phải li biệt như cảnh ngộ nhà thơ nói ở trên Đây chẳng phải là cuộc sống, là hiện thực sao?
Dường như đôi mắt của Vương Duy luôn hướng về thiên nhiên, những con người gần gũi với thiên nhiên, nhất là những người nông dân luôn được nhà thơ nhìn một cách trìu mến:
Nông nguyệt vô nhàn nhân
Khuynh gia sự nam mẫu
(Tân tình vãn v ọng)
(Ngày mùa không có người ngồi rồi
Cả nhà đổ ra làm việc đồng áng)
Trang 38Ông nhìn ra sự bận rộn của người nhà nông, nhìn thấy nhịp quay của cuộc
sống đồng áng Ngày mùa người nông dân rất bận rộn, không có người rỗi rãi Người đọc theo ngòi bút của thi nhân mà dường như đã mường tượng ra khung
cảnh người người đổ ra đồng làm việc, với những niềm vui, những nụ cười, những
giọt mồ hôi đổ trên cánh đồng Cả nhà được cùng nhau làm việc, đó chính là niềm
hạnh phúc giản đơn nhất nhưng cũng to lớn nhất Cái nhìn của Vương Duy tinh tế,
nhẹ nhàng, có vẻ như ông chỉ lướt ngòi bút qua cảnh ngày mùa, vậy nhưng ý vị câu thơ mang lại thì vô cùng sâu sắc Nó chứa đựng tình cảm yêu mến của nhà thơ, và đồng thời tái hiện lại cuộc sống nông thôn một cách chân thật nhất
Vương Duy hơn một lần viết về những con người chân lấm tay bùn, gắn bó với đồng ruộng:
Mênh mông đầy ắp, nước dâng nơi bờ ao
Đào mận tuy chưa trổ hoa
Mà đài hoa giá đậu đã nhú đầy cành
Xin chú sửa soạn roi ngựa mà về đi
Báo chú biết ngày mùa tới rồi đó)
Bài thơ là những dòng nhắn gởi của Vương Duy với người bạn tên Bùi Thập Địch, trong bài thơ Vương Duy báo cho bạn biết ngày mùa đã về “Nông thì” được miêu tả với những dấu hiệu của cây cỏ, non nước Ruộng tốt với nước tràn trề, giá
Trang 39đậu nhú mầm chờ ngày sinh trưởng mạnh mẽ Con người cũng mang một tâm trạng vui vẻ, thoải mái cười đùa, chào hỏi lẫn nhau Một cuộc sống vui tươi, ấm áp đang
chờ bạn của nhà thơ, dường như nhà thơ nhắn với bạn của mình rằng nơi đây đang
chờ bạn về tận hưởng, bạn còn chờ gì mà không sửa soạn về đi thôi Đối với Vương Duy, cuộc sống thực tại là chốn yên bình nhất để ông rũ bỏ những phiền não, ông không tránh đời, luôn có mặt trong hiện thực với một tâm hồn thoát tục Cho nên
hiện thực trong thơ Vương Duy vừa thật mà vừa giản dị
Như vậy, hiện thực trong thơ Vương Duy hiện lên trong thơ ông với một vẻ ngoài đã được chau chuốt Dường như Vương Duy vẽ lại bức tranh cuộc sống với
một ngòi bút thấm đẫm sự tinh tế, thanh thoát Đó chính là hồn thơ riêng của thi nhân Một hồn thơ của ý vị Thiền, nhẹ nhàng, giản đơn nhưng vô cũng sâu sắc Chính bởi lẽ ấy mà hiện thực cuộc sống, cảm hứng thế sự trong thơ Vương Duy có
một vẻ ngoài nhạt và thanh Tuy nhiên, khi người đọc bước qua bức rèm ấy sẽ thấy
hiện thực cuộc sống hiện lên trong thơ ông vô cùng chân thành và sâu sắc
Nguyễn Du cũng giống Vương Duy, xuất thân trong một gia đình Nho học, có truyền thống làm quan lâu đời, Nguyễn Du lúc trẻ luôn mong lập thân giúp đời Song hiện thực cuộc sống và những biến đổi của thời cuộc vô tình biến ông thành người tha hương, chạy loạn Những ngày tháng ấy đã cho Nguyễn Du cơ hội trải nghiệm cuộc sống của nhiều lớp người Chính bản thân ông cũng rơi vào cảnh tha hương, khất thực, bệnh tật, ăn nhờ ở đậu Đối với Nguyễn Du, hiện thực cuộc sống,
thế thái nhân tình, nỗi khổ của con người luôn là điều khiến ông day dứt không thể nào nguôi
Nguyễn Du quan sát cuộc sống với tất cả những tình cảm ông có được Trên đường đi sứ, ông nhận ra cuộc sống con người luôn phải đối mặt với nhiều điều khó khăn Trước là với thiên nhiên khắc nghiệt:
Vũ sư thế khấp Bằng Di nộ
Ngũ chỉ sơn tiền thủy bạo chú
Bạch ba chung nhật tẩu xà long
Trang 40Thanh sơn lưỡng ngạn giai sài hổ
(B ất tiến hành)
(Thần mưa khóc sướt mướt, thần nước giận dữ
Trước núi Ngũ Chỉ, nước như trút xuống
Sóng bạc suốt ngày như rắn rồng đua chạy
Hai bên bờ núi xanh như sói cọp)
Bài thơ thuộc dạng vịnh cảnh, đúng là Nguyễn Du đang vịnh cảnh, nhưng là
cảnh đáng sợ mà ông thấy Thiên nhiên nơi đây không thơ mộng mà ngược lại luôn rình rập sự an toàn của con người Đất nước Trung Hoa trong mắt nhà thơ không như lời đồn:
Cộng đạo Trung Hoa lộ thản bình
Trung Hoa đạo trung phù như thị
(Ninh Minh giang chu hành)
(Mọi người đều nói đường trên đất Trung Hoa bằng phẳng
Hóa ra đường Trung Hoa lại như thế này)
Như thế này là thế nào? Là núi cao, sóng dữ, đường núi gập ghềnh hiểm trở
với rừng rậm đầy thú dữ (Bất tiến hành, Chu hành tức sự, Ninh Minh giang chu
hành…) Có khi đi một mạch ba ngày còn chưa tơi nơi cần tới Trước hiện thực đáng sợ ấy thi nhân không khỏi bồn chồn lo lắng Nếu nhà thơ chỉ đi ngang qua vùng đất này đã thấy hiểm nguy đến vậy thì những con người sống nơi đây há
chẳng phải quanh năm nhọc nhằn chống chọi với hiểm nguy từ tự nhiên sao?
Đất nước Trung Hoa mà Nguyễn Du thấy không phải một đất nước thanh bình,
êm ả, càng không phải đất nước có con dân được an nhàn
Ngô văn nội cố tần niên khổ hoang hạn
Chỉ hữu xuân tác vô thu thành
Hồ Nam, Hà Nam cửu vô vũ
Tự xuân tồ thu điền bất canh
(Tr ở binh hành)
(Ta nghe người vùng này nhiều năm khổ vì lúa mất trắng và nắng cháy