1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 6 tuổi

152 1,9K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ 5 - 6 tuổi đã có khả năng nhận thức về bản thân nhưng thực tế vẫn chưa được quan tâm, chưa tạo ra các bài tập riêng trong các hoạt động giáo dục lẫn vui chơi.. Phương pháp quan sát

Trang 1

Nguy ễn Nữ Quỳnh Trâm

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

Tôi xin cam đoan đề tài “Thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5- 6 tuổi” là công trình nghiên cứu của bản thân

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa nhận được công bố trong các công trình khác, các trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tp H ồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2014

H ỌC VIÊN CAO HỌC

Nguyễn Nữ Quỳnh Trâm

Trang 4

Để hoàn thành luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, truyền đạt những kiến thức quý báu của quý Thầy Cô trong khóa học sau đại học chuyên ngành giáo dục mầm non của Trường Đại Học Sư Phạm

Tôi xin cảm ơn quý Thầy Cô phòng sau đại học trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM đã hỗ trợ cho tôi trong suốt khóa học

Tôi xin cảm ơn đến Tiến sĩ Trần Thị Ngọc Chúc đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn sự hỗ trợ của BGH và các giáo viên trường mầm non

Cảm ơn bạn bè đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ tôi trong học tập và cũng như trong khi tôi hoàn thành luận văn này

Tp H ồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2014

H ỌC VIÊN CAO HỌC

Nguyễn Nữ Quỳnh Trâm

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu

Danh mục các biểu đồ

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 10

1.2 Lý luận về ý thức, tự ý thức, nhận thức về bản thân 12

1.2.1 Khái niệm ý thức 12

1.2.2 Khái niệm tự ý thức 13

1.2.3 Khái niệm nhận thức về bản thân 15

1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý liên quan đến nhận thức về bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi 18

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 21

1.2.6 Nội dung giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi trong chương trình giáo dục mầm non và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của Bộ giáo dục và đào tạo 24

1.3 Các cơ sở thiết kế bài tập 28

1.3.1 Khái niệm thiết kế 28

1.3.2 Khái niệm về bài tập 28

1.3.3 Các nguyên tắc thiết kế bài tập 30

1.3.4 Các yêu cầu khi áp dụng bài tập giáo dục trẻ nhận thức về bản thân 32

Ti ểu kết chương 1 35

Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG BÀI TẬP GIÁO DỤC NHẬN TH ỨC VỀ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 36

2.1 Tổ chức nghiên cứu 36

Trang 6

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng bài tập giáo dục nhận thức về bản thân

cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non, Tp.HCM 40

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non và Ban giám hiệu về giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường MN Tp.HCM 40

2.2.2 Thực trạng các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường MN Tp HCM 45

2.2.3 Những khó khăn của giáo viên khi giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 54

Ti ểu kết chương 2 58

Chương 3 THIẾT KẾ VÀ KHẢO SÁT TÍNH KHẢ THI MỘT SỐ BÀI T ẬP GIÁO DỤC NHẬN THỨC VỀ BẢN THÂN CHO TR Ẻ 5 -6 TUỔI 59

3.1 Thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 59

3.1.1 Các bài tập giúp trẻ phân biệt bản thân với người khác: hiểu vị thế và các quan hệ xã hội, xúc cảm của bản thân 59

3.1.2 Các bài tập giúp trẻ bộc lộ năng lực, phẩm chất, tính cách khí chất 65

3.1.3 Các bài tập giúp trẻ nhận ra bản thân và người khác có xu hướng khác nhau: thái độ tích cực trong quan hệ với bạn bè và người lớn; hợp tác với bạn bè; hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội; tôn trọng người khác 71

3.2 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 77

3.2.1 Khảo sát bằng phiếu hỏi 77

3.2.2 Khảo sát bằng hình thức giáo viên tổ chức giờ học dựa trên các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 87

Ti ểu kết chương 3 93

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 97

PH Ụ LỤC

Trang 7

Bảng 2.1 Danh sách các trường mầm non khảo sát 36

Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của BGH và GV các trường khảo sát 37

Bảng 2.3 Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát 37

Bảng 2.4 Nhận thức của giáo viên mầm non về khái niệm giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ (N = 79) câu 1 (xem phụ lục 4) 40

Bảng 2.5 Sự cần thiết giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 42

Bảng 2.6 Sự phân bố thời gian tổ chức giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5- 6 tuổi 43

Bảng 2.7 Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 45

Bảng 2.8 Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi của giáo viên 46

Bảng 2.9 Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi của BGH 46

Bảng 2.10 Những khó khăn trong quá trình giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 54

Bảng 3.1 Quy ước tính cần thiết và khả thi của bài tập 78

Bảng 3.2 Điểm trung bình và mức độ cần thiết của các bài tập đề xuất 78

Bảng 3.3 Điểm trung bình mức độ khả thi của các bài tập đề xuất 81

Bảng 3.4 So sánh về tính cần thiết và tính khả thi của các bài tập đề xuất 84

Trang 8

Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn của BGH và GV 38

Biều đồ 2.2 Thâm niên công tác của BGH và GV 38

Biểu đồ 2.3 Nhận thức của BGH và GV về sự cần thiết giáo dục nhận

thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 43

Biểu đồ 2.4 Sự phân bố thời gian giáo dục nhận thức về bản thân cho

trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường 44

Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các bài tập giáo dục nhận thức về

bản thân cho trẻ 5- 6 tuổi 81

Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các bài tập giáo dục nhận thức về bản

thân cho trẻ 5- 6 tuổi 84

Biểu đồ 3.3 Trung bình cần thiết và trung bình khả thi của các bài tập

giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi 86

Trang 9

BGH : Ban giám hiệu

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội hiện nay đã và đang làm biến đổi cuộc sống của con người, nhiều

vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh Con người luôn mong muốn vươn tới thành công, trong guồng quay đó luôn có những câu hỏi: Tại sao có những người kém thông minh nhưng lại thành công hơn những người thông minh? Do họ may

mắn, làm việc chăm chỉ, hay họ có những năng lực đặc biệt? Cuốn sách bán chạy

nhất thế giới của Daniel Goleman (Emotional intelligence) đã lập luận rằng tầm nhìn của chúng ta về trí tuệ con người quá hạn hẹp Với kết quả nghiên cứu về trí não và khoa học hành vi, Goleman lý giải cho chúng ta những câu hỏi trên “Hãy

hiểu chính mình”, nói lên nguyên tắc cơ bản của xúc cảm: phải có ý thức về

những tình cảm của mình ngay từ khi nó xuất hiện Các nhà tâm lý học gọi ý

thức về tư duy của mình là siêu nhận thức và ý thức về những xúc cảm của mình

là siêu tâm trạng [15]

Ý thức của đứa trẻ được hình thành bởi chính đứa trẻ, bởi sự dạy dỗ của người lớn trong quá trình dạy chữ và dạy người Ý thức điều khiển và uốn nắn hành động của trẻ, làm cho hành động đó từng bước mang tính sáng tạo và vượt lên những sự kiện thông thường của đời sống hàng ngày Hành động của trẻ tác động vào chính đứa trẻ bằng hoạt động có ý thức, đứa trẻ thực hiện tái tạo bản thân mình bởi chính mình [25, tr.80]

Việc lĩnh hội kiến thức của người đi học nói chung và trẻ em mầm non nói riêng phần lớn là do tính chủ động trong học tập, tự tìm tòi và có nhu cầu học

tập Mà sự phát triển của trẻ em là sự lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nhân loại bằng hoạt động của bản thân trẻ để phát triển Qua hoạt động tích lũy

kiến thức, phát triển trí tuệ, nhận thức bản thân, trẻ biết về bản thân mình có nghĩa là biết: Điều gì mình muốn, điểm mạnh, điểm yếu, những động cơ thúc đẩy bản thân hành động và khiến bản thân vui vẻ, muốn thay đổi bản thân, tự

nhận thức về bản thân, tự đánh giá về bản thân, tự điều chỉnh – điều khiển bản

Trang 11

thân theo mục đích tự giác

Nếu mỗi cá nhân càng hiểu về bản thân mình tốt, cá nhân đó có thể chấp

nhận hoặc thay đổi bản thân mình Chỉ khi nhận thức rõ, hiểu rõ về mình, cá nhân mới nhận ra được điều gì chưa phù hợp để hướng đến thay đổi, thích ứng Mình luôn trả lời cho các câu hỏi: Mình là ai? Mình đang ở đâu? Mình muốn gì? Mình sẽ đi đến đâu?

Trong xu hướng chung đổi mới toàn diện giáo dục, phát huy tính chủ động của trẻ mầm non để chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một Đó cũng là mục tiêu trong chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo: “Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, nhận thức, thẫm mỹ, ngôn

ngữ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp

một”

Đặc biệt trong chương trình Giáo dục mầm non 2010 Bộ Giáo dục và Đào

tạo Việt Nam đã ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi Trong đó, chuẩn

7, chuẩn 8, chuẩn 9, chuẩn 10, chuẩn 11, chuẩn 12, chuẩn 13 đưa ra các chỉ số đánh giá: thể hiện sự nhận thức về bản thân, sự tin tưởng vào khả năng của bản thân, trẻ biết thể hiện cảm xúc và một số quy tắc ứng xử của bản thân đối với các

mối quan hệ xung quanh trẻ

Việc giáo dục nhận thức về bản thân là một quá trình rèn luyện và giáo

dục lâu dài Đặc biệt, là trẻ 5 – 6 tuổi là lứa tuổi chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa trường phổ thông Do đó cần sớm giáo dục cho trẻ nhận thức về bản thân đó sẽ làm hành trang cho trẻ thích nghi tốt với sự thay đổi môi trường và tăng tính tự

lập cho trẻ

Trẻ 5 - 6 tuổi đã có khả năng nhận thức về bản thân nhưng thực tế vẫn chưa được quan tâm, chưa tạo ra các bài tập riêng trong các hoạt động giáo dục

lẫn vui chơi Từ tình hình trên đề tài “Thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về

bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi” được xác lập

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 -

6 tuổi, từ đó thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế bài tập như là phương tiện giáo dục giúp trẻ: phân biệt bản thân với người khác; bộc lộ năng lực, phẩm chất, tính cách khí chất; nhận ra bản thân và người khác có xu hướng khác nhau thì trẻ sẽ nhận thức về bản thân tốt hơn

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi

tại huyện Nhà Bè, theo nội dung chương trình giáo dục mầm non và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của Bộ giáo dục và đào tạo

5.2 Gi ới hạn địa bàn nghiên cứu

Một số trường mầm non thuộc huyện Nhà Bè và trường mầm non thuộc

Quận 7 (8 trường)

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa một số lý luận nhận thức về bản thân nhằm tạo cơ sở cho

vấn đề nghiên cứu

Khảo sát thực trạng các bài tập giáo dục của giáo viên nhằm phát triển khả năng nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non thuộc huyện Nhà Bè và Quận 7

Trang 13

Thiết kế và thử nghiệm các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ

5 – 6 tuổi

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tìm kiếm một số vấn đề lý luận cơ bản và các công trình nghiên cứu từ luận án, sách báo, tạp chí, trang web… có liên quan đến đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát và ghi chép lại biểu hiện nhận thức về bản thân của trẻ khi thực hiện bài tập trong một số hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non: giờ học, vui chơi trong lớp, nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức về bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi

và khảo sát tính cần thiết và khả thi của các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân

Tìm hiểu các loại bài tập giáo dục nhận thức về bản thân (mặt tình cảm –

kỹ năng xã hội ) trong kế hoạch năm, tháng, tuần của giáo viên mầm non thuộc địa bàn khảo sát

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

- Phỏng vấn phó hiệu trưởng chuyên môn, giáo viên để tìm hiểu về việc

sử dụng bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ

- Những khó khăn của giáo viên khi giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi và các bài tập hỗ trơ

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Nhằm tìm hiểu ý kiến của giáo viên mầm non về:

- Nhận thức của giáo viên mầm non về giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi

- Các bài tập giáo viên sử dụng nhằm giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi

- Những nguyên nhân giáo viên chưa thực hiện tốt việc giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi

Trang 14

- Điều tra tính cần thiết và khả thi của các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

7.3 Phương pháp xử lý thông tin

Các tư liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học

8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hóa lý luận nhận thức về bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi

- Tìm hiểu thực trạng về việc thực hiện các bài tập giáo dục nhận thức về

bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi và xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc giáo

dục nhận thức về bản thân tại một số trường mầm non thuộc thành phố Hồ Chí Minh

- Đề tài thiết kế một số bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ

mầm non 5 - 6 tuổi

Trang 15

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới đã đề cập đến sự nhận thức về

bản thân (tự nhận thức) trong các công trình nghiên cứu về tự ý thức

Phân tâm học do S.Freud sáng lập cho rằng, trong đời sống tâm lý, ý thức

chỉ là một phần rất nhỏ bé so với cái bản năng, cái vô thức (nguyên lý tảng băng trôi) Phân tâm học đi đến khẳng định động lực của đời sống tâm lý và sự phát triển nhân cách của con người nằm ở tầng sâu vô thức Những nhà phân tâm học

tập trung, đề cao vô thức mà xem nhẹ các vấn đề về ý thức cũng như vai trò của

nó trong đời sống con người [31]

Đầu thế kỉ XX, trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thì vấn đề ý thức, tự ý thức mới dần được làm sáng tỏ và nghiên

cứu sâu

Nhà tâm lý học ngưởi Đức A.Pfender, đầu thế kỉ XX, đã xây dựng khái

niệm tự ý thức từ sự phân biệt “cái tôi” và tự ý thức Theo ông, tất cả các hiện tượng tâm lý là cảm xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không được hiểu là sự phản ánh mà như cái bên trong có sẵn Chủ thể tâm lý hình thành

khả năng tự nhận thức về bản thân mình, hình ảnh của chính mình, hình ảnh này

có hạt nhân và ngoại biên Ngoại biên là những gì nằm ngoài tâm lý như: quần

áo, thân thể, tài sản Khi chính hình ảnh đó của chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức tâm lý đặc biệt là tự ý thức [21]

GS Philippe Rochat, thuộc khoa tâm lý học, đại học Emory, Mỹ đã có công trình nghiên cứu về “Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc lộ ở những năm đầu đời” Trong đó ông đã phân tích năm mức độ tự ý thức của trẻ gồm có: Mức 0 -

sự hỗn loạn; Mức 1 - sự khác biệt; Mức 2 - sự định vị; Mức 3 - sự nhận ra; Mức

Trang 16

4 - sự bền vững; Mức 5 - sự tự ý thức Thông qua các bài tập thí nghiệm, tác giả

đã khẳng định mức độ của tự ý thức xuất hiện theo thứ tự thời gian, tương ứng

với độ tuổi của trẻ Tác giả đã rất xem trọng yếu tố trải nghiệm mà bỏ qua các

yếu tố cơ sở là đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ [60]

Nhà tâm lý học Pháp, P.Janet, đã có bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết

bản chất của tự ý thức Quan niệm của Janet thừa nhận tâm lý của con người bị

chế ước bởi quá trình tác động qua lại của xã hội Trong hoạt động tập thể và giao tiếp con người nhập tâm những phương thức hành vi, quan hệ, thái độ đối

với thế giới bên ngoài của người khác Những phương thức hành vi được nhập tâm đó sẽ thể hiện thành phương thức hành vi của con người đó Quan điểm của ông về tự ý thức, như thuộc tính cơ bản của nhân cách được hình thành trong hệ

thống các mối quan hệ xã hội phức tạp Quan điểm này, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quan niệm duy vật về bản chất của tự ý thức [31, tr.424-425]

Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học” (1977), I.I.Trexnocova đã đưa ra các nguyên tắc duy vật biện chứng của việc phân tích

tự ý thức nói chung và tự nhận thức nói riêng I.I.Trexnocova cho rằng tự nhận

thức là một phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong đó gồm 3 mặt thống nhất:

nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc – giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động – ý chí, điều khiển (tự điều chỉnh – điều khiển) Trong tác phẩm này, I.I.Trexnocova đã phân tích quá trình phát triển tự ý thức trong sự phát triển cá

thể, phân tích bản chất ba mặt của ý thức [21]

Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách:

Trong tác phẩm “Hoạt động, ý thức, nhân cách” A.N.Leonchiep đã đề cập

đến vấn đề tự ý thức của con người Ông nói: “Ý thức cá nhân không chỉ là kiến

th ức, hệ thống ý nghĩa, hoặc các khái niệm thu nhận được mà còn là sự vận động bên trong, phân biệt sự hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình” Theo

ông cần phân biệt giữa hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình “Ngay từ hồi còn rất bé người ta cũng đã tích lũy được nhiều hiểu biết, những biểu tượng về

Trang 17

bản thân Còn ý thức bản ngã, ý thức về cái tôi, của mình, là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách [4, tr.136 – 137]

Nửa cuối thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu, cũng bắt đầu quan tâm đến vấn

đề “năng lực hiểu xúc cảm của bản thân và năng lực kiểm soát các xúc cảm đó,

có ý thức về những tình cảm của mình ngay từ khi nó xuất hiện và hiểu hơn về

bản thân” Đại biểu cho những nghiên cứu trên là các nhà khoa học:

E.I Thorndike (1970) – giáo sư tâm lý giáo dục ở trường Đại học tổng hợp Columbia là một trong những người đầu tiên tìm ra cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc mà lúc đó ông gọi là trí tuệ xã hội Theo ông trí tuệ xã hội là “năng lực hiểu

và kiểm soát của một người dùng để hành động một cách khôn ngoan trong các

mối quan hệ của con người” [68]

Nhà tâm lý học Isarel, Reuven Bar – On là người đầu tiên đưa ra thuật

ngữ EQ (Emotional Intelligence Quotient) trong luận án tiến sĩ của mình năm

1985 Ông đặt trí tuệ cảm xúc trong trong phạm vi lý thuyết nhân cách, đưa mô hình Well – being (1997) với ý định trả lời câu hỏi “Tại sao một người nào đó lại

có khả năng thành công trong cuộc sống hơn người khác” Ông đã nhận diện được 5 khu vực bao quát về mặt chức năng phù hợp với thành công trong cuộc

sống: các kỹ năng làm chủ cảm xúc của mình; các kỹ năng làm chủ cảm xúc liên

cá nhân, tính thích ứng, kiểm soát stress, tâm trạng chung [69]

Năm 1997 John Mayer và Salovey chính thức định nghĩa: “ Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết, bày tỏ cảm xúc, hòa cảm xúc vào suy nghĩ, hiểu, suy

luận, với xúc cảm, điều khiển, kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” [57]

Daniel Goleman, tiến sỹ tâm lý học của Đại học Havard – người phụ trách chuyên mục khoa học của tờ Times, tập hợp kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và đã viết cuốn sách gây tiếng vang lớn ở Mỹ với nhan đề “Trí tuệ cảm xúc;

Tại sao nó lại có thể quan trọng hơn IQ đối với tính cách, sức khỏe và sự thành công trong suốt cuộc đời?” Ông đưa ra chương trình học về nhận thức bản thân:

ý thức về bản thân, đưa ra các quyết định, chế ngự cảm xúc, làm dịu những căng

Trang 18

thẳng, đồng cảm với người khác, giao tiếp, cởi mở với người khác, sự sáng suốt:

Nhận ra ở bản thân và ở người khác những xu hướng sống và phản ứng tình cảm,

chấp nhận bản thân: Cảm thấy tự hào và tự nhìn nhận bản thân theo hướng tích

cực; nhận biết những chỗ mạnh và chỗ yếu; có khả năng tự “cười nhạo” bản thân, trách nhiệm cá nhân, tự tin, hoạt động nhóm, giải quyết các xung đột [15]

Với tác giả Travis Bradberry và Jean Greaves trong tác phẩm “Thông minh cảm xúc – nâng cao EQ để hạnh phúc và thành công” Tác giả đã đề cập đến biểu hiện của trí tuệ cảm xúc hiểu về bốn kĩ năng: năng lực cá nhân bao gồm

kĩ năng tự nhận thức và kĩ năng làm chủ bản thân; năng lực xã hội bao gồm kĩ năng nhận thức xã hội và kĩ năng làm chủ mối quan hệ Bốn kĩ năng này kết hợp

với nhau tạo thành trí tuệ cảm xúc Tự nhận thức (hay nhận thức về bản thân) là

khả năng bạn nhận biết một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó

xảy ra và hiểu mình có khuynh hướng làm gì trong tình huống đó Tự nhận thức bao gồm việc kiểm soát được những phản ứng thông thường của bản thân đối

với những sự việc, thách thức và đối tượng cụ thể Hiểu biết thấu đáo về các khuynh hướng của bản thân đóng vai trò rất quan trọng; nó giúp bạn nhanh chóng nắm bắt được cảm xúc của mình Khả năng tự nhận thức tốt đòi hỏi bạn

sẵn sàng chịu đựng sự khó chịu khi phải chú ý đến những cảm xúc đôi khi tiêu

cực [3, tr.22 - 23]

Như vậy, các khái niệm về tự nhận thức được các nhà khoa học đề cập trong các công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc mà trước đó được gọi là trí

tuệ xã hội Các nghiên cứu trên đều đề cập đến việc hiểu về cảm xúc bản thân,

quản lý cảm xúc, hiểu thấu đáo về khuynh hướng của bản thân, xử lý các mối quan hệ Có thể nói, nếu mỗi cá nhân càng hiểu về bản thân mình tốt, cá nhân đó

có thể chấp nhận hoặc thay đổi bản thân mình Chỉ khi nhận thức rõ, hiểu rõ về mình, cá nhân mới nhận ra được điều gì chưa phù hợp để hướng đến thay đổi, thích ứng Càng hiểu rõ về mặt tốt đẹp và mặt hạn chế bao nhiêu thì chúng ta càng phát huy toàn bộ tiềm năng của mình tốt bấy nhiêu

Trang 19

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế kể trên, các nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam có một số công trình như sau:

Công trình nghiên cứu lý luận của tác giả Lê Khanh (Bản chất của ý thức, 2003) [23], Đỗ Long (Vấn đề ý thức trong tâm lý học tộc người, 2005) [26],

Trần Ninh Giang (Vấn đề ý thức, tự ý thức trong tâm lý học 2005) [14]…Các công trình này tập trung nghiên cứu về vấn đề về bản chất, cấu trúc của ý thức,

tự ý thức trong quá trình phát triển tâm lý người

Các công trình nghiên cứu thực tiễn về sự ý thức và tự ý thức:

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thạc về tự ý thức của trẻ mẫu giáo 5 - 6

tuổi được tiến hành trên 326 trẻ tại các trường mẫu giáo ở Hà Nội năm học 1998 – 2000 Kết quả nghiên cứu cho thấy tự ý thức của trẻ 5 - 6 tuổi thể hiện cao ở tất

cả các mặt; đa số trẻ có mức độ đánh giá phù hợp cao Tự ý thức của trẻ phát triển không đồng đều ở các mặt tự ý thức và ở từng cá nhân trẻ Đồng thời, đề tài cũng đi đến khẳng định tự ý thức của trẻ mẫu giáo mang tính trực quan [40]

Mặc khác, những vấn đề “cái tôi”, tự nhận thức, tự đánh giá… đã được quan tâm nghiên cứu khá nhiều, có thể kể đến như:

- Đề tài “Kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên đang sống tại các trung tâm

bảo trợ xã hội trên đại bàn TP.HCM” của tác giả Bùi Hồng Quân, luận văn thạc

sĩ tâm lý học năm 2010 Trong đề tài này, tác giả chú ý phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự đánh giá của trẻ, đặt biệt là thầy cô và bạn bè ở trung tâm Đề tài nêu rõ tự đánh giá là mức độ cao của tự ý thức, để đánh giá trước tiên trẻ phải

tự nhận thức rõ các giá trị của bản thân [35]

- Đề tài “Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh” của Cao Hải Anh năm, 2010 Tác giả tiến hành nghiên

cứu trên 200 sinh viên, 20 cán bộ Đoàn thanh niên và Hội sinh viên, 20 giáo viên

chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu luận văn cho thấy sinh viên trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh có mức độ đánh giá về bản thân ở mức trung bình Sự đánh

Trang 20

giá về bản thân của sinh viên trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh có mối tương quan nhất định với kết quả học tập của sinh viên ở trường [2]

- Đề tài “Biểu hiện tự ý thức của học sinh một số trường THPT tại Thành

phố Hồ Chí Minh” của Kiều Thị Thanh Trà, năm 2010 Nghiên cứu được thực

hiện tại 4 trường: Trường trung học thực hành Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường THPT Hùng Vương, Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Trường THPT Lê Thánh Tôn Nghiên cứu được thực hiện trên 465 học sinh thuộc 4 trường trên Kết quả nghiên cứu thu được đa số học sinh THPT ở TP.HCM hiện nay có biểu hiện tự ý thức ở mức khá, có mối liên hệ ở mức trung bình giữa biểu

hiện tự ý thức biểu hiện trên ba mặt Và yếu tố giáo dục gia đình và bản thân là hai yếu tố ảnh hưởng lớn đến tự ý thức của học sinh [44]

- Đề tài nghiên cứu về “cái tôi” với tư cách là hạt nhân ý thức “Tính cộng đồng – tính cá nhân và “ cái tôi” của con người Việt Nam hiện nay” do Đỗ Long

và Phan Thị Mai Hương làm chủ nhiệm Đề tài bổ sung những quan điểm truyền

thống về tính cộng đồng – tính cá nhân cũng như khái niệm “cái tôi” của người

Việt Nam từ góc độ tâm lý học [26]

- Đề tài “Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10 – 15 tuổi” do Văn Thị Kim Cúc thực hiện trên khách thể là 120 trẻ ( 60 nam – 60 nữ) ở một số trường THCS tại Hà Nội Kết quả nghiên cứu đề tài đã cho thấy ở thanh thiếu niên 10 -

15 tuổi, tự đánh giá bản thân bộc lộ tính tích cực ở lĩnh vực học đường thể hiện

rõ khả năng đáp ứng thích hợp của trẻ vào hoạt động chủ đạo, vào cuộc sống học đường [8]

- Đề tài “Sự tự đánh giá của học sinh cuối cấp tiểu học” của Vũ Thị Nho Tác giả đề cập đến sự tự đánh giá của học sinh tiểu học Tác giả nhấn mạnh sự tự

nhận thức bản thân của học sinh lứa tuổi này chưa ổn định và chịu ảnh hưởng từ đánh giá của người khác, ở đây là thầy cô, bạn bè [32]

- Đề tài nghiên cứu “Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê

Ngọc Bảo Trân, năm 2011 Kết quả nghiên cứu trên 100 học sinh cho thấy, học

Trang 21

sinh lớp 4, lớp 5 tự nhận thức về: các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình, tính cách và năng lực học tập ở mức độ trên trung bình Kết quả nghiên cứu của

đề tài trên rất gần với đề tài nghiên cứu, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nhận thức về bản thân cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi và các bài tập giáo

dục nhận thức về bản thân cho trẻ độ tuổi 5 – 6 tuổi [51]

1.2 Lý luận về ý thức, tự ý thức, nhận thức về bản thân

Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới đã đề cập đến sự nhận thức về

bản thân (tự nhận thức) trong các công trình nghiên cứu về tự ý thức Vì vậy, để tìm hiểu khái niệm nhận thức về bản thân, trước hết phải tìm hiểu khái niệm về ý

thức và tự ý thức

1.2.1 Khái niệm ý thức

* Định nghĩa

Tâm lý học nghiên cứu quá trình nảy sinh, cấu trúc và chức năng của ý

thức cá nhân Ý thức có tính tích cực, tính định hướng lên đối tượng, tính suy xét

những gì có trong ý thức, tính động cơ – giá trị Có các mức độ ý thức khác nhau Ý thức bị quy định bởi những yếu tố bên ngoài và không phụ thuộc vào

bản thân nó Tâm lý học Mác xít nghiên cứu quá trình hình thành ý thức trong quá trình phát triển cá thể Cấu trúc ý thức của cá nhân được hình thành từ thời thơ ấu do đứa trẻ lĩnh hội cấu trúc giao tiếp với người lớn Quá trình lĩnh hội này

dựa trên cơ sở phát triển loài

Từ điển tâm lý học định nghĩa ý thức là: mức độ cao của sự phản ánh tâm

lý, của khả năng tự điều chỉnh và chỉ có ở người như một sinh vật xã hội – lịch

sử Theo kinh nghiệm cá nhân thì ý thức xuất hiện như tổng hòa các hình ảnh

cảm tính và trí tuệ Tổng hòa này biến đổi không ngừng và xuất hiện trước chủ

thể dưới các hình thức kinh nghiệm “bên trong” và các dự định hoạt động thực

Trang 22

ph ức tạp của hành vi con người, Nó buộc hạn chế bằng việc giải thích các mối liên h ệ đơn giản nhất của cơ thể thống nhất với thế giới” [31, tr.500 - 502]

- Theo quan điểm tâm lý học hoạt động, A.N Leonchep cho rằng ý thức

trực tiếp là bức tranh về thế giới bày ra trước chủ thể, hành động và trạng thái

của chủ thể Đối với người thông thạo thì sự tồn tại của bức tranh chủ quan ấy ở

chủ thể, dĩ nhiên, không đặt ra một vấn đề lý luận nào cả: trước mắt chủ thể là

thế giới, chứ không phải thế giới là bức tranh về thế giới [19, tr.201]

Qua việc phân tích khái niệm về ý thức dưới các quan điểm khác nhau, chúng tôi đồng ý quan điểm của GS TS Vũ Dũng được trình bày trong từ điền tâm lý học Ý thức là hình ảnh phản ánh hiện thực cao nhất của con người Cũng như tâm lý, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao (bộ não) của con người [12, tr 1030 – 1032] Ý thức là: năng lực hiểu cái tri thức về thế giới khách quan và năng lực hiểu được thế giới chủ quan trong chính bản thân; là sự

thống nhất của tất cả các hình thức và trải nghiệm của con người cùng thái độ

của người đó đối với cái được phản ánh; là sự tích lũy và sử dụng thông tin về xung quanh và về chính bản thân mình để giải quyết các vấn đề của cuộc sống [14]

1.2.2 Khái niệm tự ý thức

* Định nghĩa tự ý thức

Theo triết học duy vật biện chứng, tự ý thức được xem xét ở việc con người tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan, ý thức về bản thân mình trong

mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài, tự nhận thức về bản thân mình như

một thực thể hoạt động có cảm giác có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, nhận thức các cử chỉ, hành động, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng

lợi ích của mình Với vai trò là một hiện tượng tâm lý cá nhân, tự ý thức xuất

hiện đồng thời với ý thức, là cái phát sinh của ý thức nhưng thễ hiện ở một giai đoạn phát triển cao hơn, giúp con người nhận rõ bản thân mình, tự điều chỉnh

bản thân theo quy tắc, các tiêu chuẩn xã hội đề ra

Trang 23

* Cấu trúc tự ý thức

Cấu trúc của tự ý thức bao gồm: tự nhận thức về bản thân; tự đánh giá về

bản thân; tự điều chỉnh, tự điều khiển bản thân theo mục đích tự giác Cấu trúc

của tự ý thức cụ thể như sau:

Tự nhận thức về bản thân

Tự nhận thức về bản thân là quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm,

phẩm chất,… của bản thân, làm cơ sở cho việc định hướng Tóm lại, Tự nhận

thức về bản thân là quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm, phẩm chất… của

bản thân, làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình

Bộ phận cấu thành trung tâm của tự ý thức là tự đánh giá của nhân cách –

sự suy xét của con người về mức độ của những phẩm chất, thuộc tính của bản thân so với khuôn mẫu chuẩn – biểu hiện thái độ con người đánh giá bản thân mình ( ở cấp độ có thể nó phần nào được đồng nhất với ý kiến của “cái tôi”) Cũng như nhà tâm lý học V.P Levcôvich đã định nghĩa: “Tự đánh giá là

một giai đoạn cao của tự ý thức, nó bao gồm không những nhận thức bản thân

mà còn có sự đánh giá đúng sức lực và khả năng của mình, bao gồm cả thái độ phê phán đối với bản thân [47]

Sự tự đánh giá chung của nhân cách có thể dựa trên cấu trúc các đánh giá

bộ phận: đánh giá trí tuệ, khả năng tiếp xúc và ảnh hưởng đến những người khác trong giao tiếp, về ổn định cảm xúc và tốc độ phản ứng, sự tự tin, tự nhận thức

Tự điều chỉnh điều khiển hành vi của bản thân theo mục đích tự giác

Cá nhân tự giác điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với mục đích của bản thân Qua việc tự nhận thức về bản thân, tự đánh giá những đặc điểm của bản

Trang 24

thân mình, cá nhân có thể tự điều chỉnh, điều khiển hành vi bản thân, từ đó có

khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình [52, tr.67]

Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, với cấu trúc gồm có: tự

nhận thức bản thân; tự đánh giá; tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân

để từ đó cá nhân có thể tự giáo dục và tự hoàn thiện mình Chính nhờ tự ý thức

về bản thân, con người tự tách mình khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí và vai trò của mình trong thế giới đó Tự ý thức hình thành không những trong từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ

1 2.3 Khái niệm nhận thức về bản thân

Như đã phân tích ở phần tự ý thức, thì nhận thức là một trong 3 thành

phần của tự ý thức

Nhân thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người Hoạt động nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh thế giới khách quan Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan (những đặc điểm, thuộc tính, tính chất của sự vật, hiện tượng) Hay nói cách khác, nhận thức là quá trình chủ thể tiếp nhận những thông tin thu được làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình nhằm đảm bảo sự thích ứng và phát triển của

cá nhân

* Định nghĩa

Theo định nghĩa “tự nhận thức” từ điển tâm lý Vũ Dũng: nhận thức về bản thân Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất và phức tạp nhất của chủ

thể sự phức tạp này do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, con người cần phát triển

khả năng nhận thức của mình, tìm kiếm những phương thức, qua đó đi tới sự tự

nhận thức; Thứ hai, con người cần tích lũy những cơ sở cần thiết cho sự tự nhận

thức của bản thân, tức là sự tích lũy để mình trở thành ai Trong quá trình đó cá nhân không ngừng phát triển sự tự nhận thức; Thứ ba, bất kì những kiến thức nào mà cá nhân nhận được cũng đều có thể là nhân tố để thay đổi bản thân, nhận

biết về bản thân mình và để trở thành một người khác Do vậy, nhiệm vụ của tự

Trang 25

nhận thức luôn mang tính chủ quan Đó là con đường dẫn tới sự hoàn thiện, tự phát triển cá nhân

Tự nhận thức bắt đầu từ rất sớm của tuổi thơ và khi đó nó đã có những hình thức và nội dung đặc trưng Đầu tiên đứa trẻ học cách phân biệt bản thân nó

với thế giới vật chất – hiện tại của đứa trẻ chưa biết cái gì liên quan tới cơ thể

của nó Sau đó, nó nhận thức bản thân với một tư duy khác – nó là thành viên

của môi trường xã hội vi mô Trong giai đoạn này, đứa trẻ đã bắt đầu quan sát các hiện tượng giống nhau Mặc dù vậy, đứa trẻ vẫn còn khó khăn trong việc phân biệt nó với những người khác Đến tuổi vị thành niên, cá nhân bắt đầu nhận

thức về “cái tôi lý tưởng” của mình qua hiểu biết về các đặc điểm tâm lý, tính cách và các phẩm chất đạo đức cùa bản thân

Quá trình tự nhận thức là quá trình kích thích mạnh mẽ sự lĩnh hội một cách tích cực các kinh nghiệm văn hóa của cá nhân Đối với lứa tuổi vị thành niên, quá trình này bắt đầu với câu hỏi : “ tôi là ai?”, “ tại sao mình lại không như vậy?”, “ tôi sẽ cần trở thành người như thế nào?” Đó là sự nhận thức về cái tôi lý tưởng và đây chính là bắt đầu của sự hoàn thiện cá nhân [12, tr.968 – 969]

Qua nghiên cứu các tài liệu chúng tôi nhận thấy Nhận thức về bản thân (hay còn gọi là tự nhận thức) là khả năng bạn nhận biết một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó xảy ra và hiểu mình có khuynh hướng làm gì trong tình huống đó Tự nhận thức bao gồm việc kiểm soát được những phản ứng thông thường của bản thân đối với những sự việc, thách thức và đối tượng

cụ thể Hiểu biết thấu đáo về khuynh hướng của bản thân đóng vai trò rất quan trọng; nó giúp bạn nhanh chóng nắm bắt được cảm xúc của mình Khả năng tự nhận thức tốt đòi hỏi bạn sẵn sàng chịu đựng sự khó chịu khi phải chú ý đến những cảm xúc đôi khi tiêu cực

Cách duy nhất để thấu hiểu cảm xúc của mình là dành một khoảng thời

gian cần thiết để suy nghĩ về chúng, nhằm tìm ra nguồn cơn và tại sao chúng lại

xuất hiện Cảm xúc bao giờ cũng có lý do của nó Bởi cảm xúc phản ánh những trải nghiệm trong cuộc sống của bạn, và chúng luôn bắt nguồn từ một nguyên do

Trang 26

nào đó Đôi khi, cảm xúc như từ trên trời rơi xuống, và quan trọng là hiểu được tại sao sự việc đó lại khiến mình phản ứng như vậy Những ai làm được việc này

sẽ nhanh chóng tìm ra cốt lõi của cảm xúc Những tình huống gây ra xúc cảm mạnh mẽ thường đòi hỏi bạn phải suy nghĩ kỹ càng, và chính việc bình tâm suy

nghĩ này sẽ giúp bạn tránh được những hành động đáng tiếc về sau

Theo tác giả Travis Bradberry “Tự nhận thức là kỹ năng căn bản, một khi

đã có nó, bạn sẽ vận dụng những kĩ năng trí tuện cảm xúc khác sễ dàng hơn nhiều Khi mức độ tự nhận thức tăng lên, sự thỏa mãn của con người trong cuộc sống – được định nghĩa là khả năng họ có thể đạt được những mục tiêu trong công việc và cuộc sống gia đình - sẽ gia tăng đột biến Tự nhận thức đóng vai trò

cực kì quan trọng đối với thành tích cá nhân, đến mức 83% những người có mức

độ tự nhận thức cao là những người đứng đầu về hiệu suất công việc, và chỉ có 2% những người có kết quả làm việc kém lại có khả năng tự nhận thức cao mà thôi Tại sao lại có chuyện như vậy? Khi bạn tự biết nhận thức, nhiều khả năng bạn theo đuổi đúng cơ hội hơn, bạn biết cách vận dụng thế mạnh của mình vào công việc và – có lẽ điều quan trọng nhất – không để cho cảm xúc ngăn trở mình” [3, tr.24]

Nếu tự nhận thức bản thân tốt, ý thức được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, sẽ giúp chúng ta phát huy điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu và trả lời các câu hỏi trả lời cho các câu hỏi: Mình là ai? Mình đang ở đâu? Mình

muốn gì? Mình sẽ đi đến đâu? Sự tự nhận thức sẽ mở đường cho quá trình lớn lên của một đứa trẻ: hiểu về những đặc điềm bên ngoài và bên trong của bản thân; hiểu rõ những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân; biết giao tiếp trân

trọng những người xung quanh Đây là cơ sở để con người hình thành khát vọng hoàn thiện bản thân bằng con đường tự giáo dục bản thân, và hoàn thiện nhân cách

Trang 27

1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý liên quan đến nhận thức về bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi

Nếu nói rằng giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi là giai đoạn kiến tạo những cấu trúc

về mặt cơ thể và tâm lý thì giai đoạn từ 3 – 5 tuổi là giai đoạn tiếp nhận những

kỹ năng và kiến thức làm nền tảng cho sự hình thành nhân cách và năng lực

1.2.4.1 Đặc điểm

Khi trẻ được 5 tuổi thì bé đã có khả năng tiếp thu một lượng kiến thức

không nhỏ Theo A.X Macarenco, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nga thì: “ Nền tảng của giáo dục chủ yếu được xây dựng từ khi trước 5 tuổi, nó chiếm đến 90% chất lượng của cả quá trình giáo dục”

Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi chứng kiến những hoạt động chơi đùa không mệt mỏi của các em, không chỉ là sự vui thích mà trẻ còn có khả năng tập trung để hiểu và chấp nhận luật lệ của các trò chơi, còn trong lớp thì đã biết ngồi yên để lắng nghe các câu chuyện kể Đa số trẻ trong giai đoạn này phát triển tốt kỹ năng sử dụng bàn tay, biết cầm viết chì và cắt bằng kéo, nhận ra phần lớn các mẫu tự và cách đọc các mẫu tự này, nhận ra sự khác biệt của các hình khối, biết phân biệt lớn – bé , cao – thấp, xa – gần …Vì thế, cần phải tích cực giúp các

em đạt được những kỹ năng quan trọng và cần thiết, nhưng mặt khác không nên nhồi nhét những điều vượt quá mức phát triển mà các em có thể đạt được để khi bước vào lớp một

Một đặc điểm tâm lý quan trọng trong độ tuổi này là ý thức về Bản Ngã (Cái Tôi) – Trẻ bắt đầu biết phân biệt một cách rõ ràng giữa bản thân và những người xung quanh Trẻ có ý thức về tính sở hữu, biết cái gì của mình và cái gì của người khác Tuy nhiên, điều này tùy thuộc khá nhiều vào cách giáo dục của cha mẹ Nếu trẻ là con một hay được cưng chiều thì khả năng phân biệt và nhận thức về những giới hạn của quyền sở hữu có thể rất kém, chỉ biết ích lợi của bản thân mà không để ý đến quyền lợi của những người xung quanh [65]

Trang 28

1.2.4.2 Sự phát triển xúc cảm và ngôn ngữ

Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ gắn

bó mẹ - con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm nhiều hơn giữa mẹ - con ở trẻ trai và bố - con ở trẻ gái Trẻ đòi hỏi sự quan tâm chăm sóc một cách cụ thể

và đa dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biểu hiện về tình cảm rõ ràng cũng như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau Điều này khiến cho trẻ dễ có những tổn thương sâu sắc nếu không nhận được sự cảm thông hay được đáp ứng từ phía cha mẹ

Hoạt động và sở thích của trẻ 5 tuổi xoay quanh gia đình và nhà trường Trẻ thích chơi với đồ chơi của mình ở nhà nhưng cũng biết chia sẻ đồ chơi với bạn bè ở trường Ngoài các buổi học thì một vài buổi học vẽ hay chơi thể thao mỗi tuần không phải là nhiều, nhưng đừng bắt trẻ tham gia quá nhiều hoạt động ngoại khóa trong giai đoạn này vì đây mới chỉ là những bước khởi động cho cả một hành trình dài sau khi trẻ đã vào lớp một Trẻ 5 tuổi vẫn thích chơi qua trí tưởng tượng Con gái thường thích chơi nấu nướng, chăm sóc búp bê, tái hiện cuộc sống ở gia đình và nhà trường trong khi chơi Con trai bên cạnh việc chơi những trò chơi sắm vai làm siêu nhân hay hiệp sĩ, robot hay quái vật …cũng có thể chơi như vậy, nếu như không bị diễu cợt và chắc chắn là chúng ta không nên diễu cợt!

Ở lứa tuổi mẫu giáo, là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo hầu hết trẻ em đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hằng ngày [49, tr.305] Đây là phương tiện

để trẻ hòa nhập giao tiếp cùng xã hội và khám phá chính mình

Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có thể nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những câu nói dài của người khác

Trang 29

Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào [49,tr.312]

Khi lên 5 thì trẻ đã có ý thức về những vật dụng như quần áo, đồ chơi cái

gì của mình, cái gì là của bạn Từ đó đưa tới thái độ so sánh, ganh tỵ hay tự tin hơn và thường có những suy nghĩ nhận định độc lập, thích tự tay làm chứ không thích nhờ người khác Ta gọi đó là ý thức về Ý thức về bản thân cũng giúp cho trẻ 5 tuổi có ý thức chan hòa giá trị bản thân hay lòng tự trọng

Ở tuổi mẫu giáo, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này, trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình Người lớn đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn phát triển này của một đứa trẻ Trẻ trai thường bắt chước hành vi của đàn ông, còn em gái thì bắt chước dáng điệu của phụ nữ Từ sự nhận biết về bản thân

dẫn đến sự ý thức về giới tính Bé gái ở lứa tuổi này đã biết được mình là gái,

sau sẽ trở thành một người như mẹ Từ đó, bé gái lấy hình tượng người mẹ để làm mẫu chỉ dẫn cho mình, học cách đối xử và học cách nội trợ của mẹ Bé trai cũng ý thức được rằng sau này lớn lên sẽ là trai Vì thế mà từng động tác, cử chỉ

bé đều cố gắng làm giống như bố Đương nhiên đôi khi nhu cầu tự tích luỹ ở một

Trang 30

mức độ nào đó cũng bắt chước luôn cả hành động cử chỉ cả cha lẫn mẹ, cho nên qua con trẻ có thể nhìn thấy hình ảnh của cả cha lẫn mẹ [49, tr.313]

Đến tuổi mẫu giáo lớn sự chú ý đã tập trung hơn Điều đó thể hiện ở thời gian chơi, “tiết học” được kéo dài hơn và đặc biệt là khi trẻ xem tranh Ở tuổi mẫu giáo, việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường được thể hiện rất rõ nét Điều đó thúc đẩy các hành động định hướng bên trong (tức là các quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định rõ ràng Làm cho các hành động ý chí của trẻ ngày càng được bộc lộ rõ nét trong hoạt động vui chơi và trong cuộc sống Có thể coi sự phát triển về mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức, khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định [49, tr.315 – 316]

Nhận thức về bản thân là một nhận thức mà ai cũng có, nhưng nhiều hay ít

là do ảnh hưởng từ môi trường gia đình và sự giáo dục (nhà trường, xã hội) Trẻ chỉ có thể phát triển tốt ý thức về bản thân nếu có được sự chăm sóc, giáo dục một cách đúng đắn từ gia đình đến nhà trường và sẽ có thái độ ích kỷ, hay tự ti

về bản thân thậm chí là hung hăng, cư xử độc ác với người khác nếu không được

sự quan tâm từ gia đình và sự giáo dục cần thiết Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ nhận ra các nhu cầu bản thân, thể hiện cảm xúc, mối quan hệ với mọi người xung quanh, tự đánh giá, điều chỉnh hành vi của bản thân

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Để việc giáo dục trẻ nhận thức về bản thân đạt hiệu quả giáo viên cần xem xét các yếu tố sau:

1.2.5.1 Mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ

Trung bình, mỗi đứa trẻ sẽ có khoảng 6 giờ mỗi ngày để tiếp xúc với giáo viên ở trường – họ chính là những người có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với sự phát triển về nhân cách, trí tuệ của trẻ Giáo viên định hướng các hoạt động của

trẻ, trẻ tham gia các hoạt động để đạt được mục đích giáo dục giáo viên đã đề ra

Trang 31

Có thể nói trẻ lĩnh hội kiến thức, kĩ năng thông qua hoạt động trong mối quan hệ tương tác giữa trẻ và giáo viên Mà tuổi mầm non sự chủ định chưa rõ ràng, nên vai trò định hướng và tổ chức của giáo viên đóng vai trò quan trọng

Giáo viên ngoài là người hướng dẫn trẻ, thì còn phải là người bạn để trẻ

gần gũi và tâm sự vì giáo dục nhân thức về bản thân là nội dung thuộc lĩnh vực tình cảm – kỹ năng xã hội Trẻ có tinh tường và thân thiện với giáo viện thì trẻ

mới bộc lộ bản thân một cách chân thực nhất

Vì vậy, trẻ em rất nhạy cảm và hay bắt chước nên cô là người gần gũi trẻ nhiều nhất khi ở trường nên trước hết cô phải làm gương từ cử chỉ, lời nói đến

việc làm

1.2.5.2 Môi trường giáo dục

Môi trường tạo cơ hội cho trẻ lựa chọn hoạt động phù hợp, khuyến khích

trẻ tham gia tích cực, qua đó cung cấp kiến thức và kĩ năng cho trẻ

Môi trường như người giáo viên thứ 2 trong công tác tổ chức, hướng dẫn

trẻ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động, thông qua đó, nhân cách trẻ được hình thành và phát triển Môi trường phải đảm bảo an toàn về thể

chất và tâm lý trẻ: nguyên vật liệu đa dạng nhằm mở rộng cơ hội học tập ở trẻ; môi trường có không gian, cách sắp xếp phù hợp, gần gũi, quen thuộc với cuộc

sống thực hàng ngày của trẻ; trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi có màu sắc, hình

dạng, kích thước, chức năng sử dụng phù hợp, hứng thú đối với trẻ Môi trường giáo dục không chỉ ở trường mà còn ở gia đình và cộng đồng

1.2.5.3 Môi trường gia đình và xã hội

Giáo dục nói chung và giáo dục trẻ em nói riêng luôn luôn đòi hỏi có sự

phối hợp, kết hợp của nhiều lực lượng đoàn thể xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm thực sự sâu sắc của mọi người trong xã hội

Ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp giáo dục, giáo dục trong nhà trường chỉ

là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho

việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt

Trang 32

đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn

Khi thiếu sự phối hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất tác động giáo dục,

thậm chí có sự đối nghịch giữa nhà trường và xã hội hoặc gia đình thì hậu quả

xấu trong giáo dục sẽ xuất hiện, nếu không kịp thời khắc phục hậu quả sẽ rất tai

hại Trong việc tổ chức kết hợp các lực lượng giáo dục, gia đình có vai trò và tác động vô cùng quan trọng, là trọng tâm của các hoạt động kết hợp Gia đình là nơi

trẻ được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của mình Ảnh hưởng giáo dục

của gia đình đến với trẻ là sớm nhất Vì vậy, nhà trường thường xuyên liên hệ

chặt chẽ với gia đình, đoàn thể để tuyên truyền mục đích giáo dục, có sự phối

hợp chặt chẽ

1.2.5.4 Chương trình dạy

Chương trình dạy học cũng là yếu tố quan trọng trong hoạt động giáo dục,

là nội dung định hướng cho hoạt động giáo dục của giáo viên và là kiến thức trẻ đạt được sau khi tìm tòi

Chương trình được giáo viên lập thành kế hoạch năm, tháng, tuần, ngày Giáo viên phân nội dung giáo dục nhận thức về bản thân vào các chủ đề, sự

kiện…Nội dung giáo dục phải phù hợp với kinh nghiệm, nhu cầu của trẻ và nhu

cầu của xã hội

1.2.5.5 Đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm khí chất

Để đảm bảo nguyên tắc đối xử cá biệt thì giáo viên cũng phải nắm rõ đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm khí chất của trẻ Vì các đặc điểm này chi phối toàn bộ đời sống tình cảm của trẻ và tùy vào mỗi khí chất mà trẻ sẽ biểu hiện thái độ tình

cảm ra bên ngoài khác nhau

Khí chất ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, và các biểu hiện nhận thức

của trẻ về bản thân:

- Trẻ có khí chất hăng hái: trẻ có thể hoàn thành tốt bất cứ công việc nào

trừ các việc cần sự khéo léo, đơn điệu, chậm Khi thực hiện các công việc đòi hỏi

sự nhanh trí, tính tích cực, gậy nhiều ấn tượng, có thể thể hiện sự kiên trì, bền bỉ

Trang 33

- Trẻ có khí chất bình thản: Trẻ có loại khí chất này có thể hoàn thành tốt công việc đơn điệu, đã thành thạo, không đòi hỏi hành động nhanh, đa dạng

- Trẻ có khí chất ưu tư: trẻ có thể hoàn thành tốt công việc trong hoàn

cảnh an toàn, không đòi hỏi sự phản xạ nhanh, thay đổi liên tục

Trên cơ sở nắm bắt đặc điểm tâm lý lứa tuổi và đặc điểm khí chất của trẻ, giáo viên tìm các phương pháp giáo dục, hinh thức giáo dục phù hợp với nhóm

trẻ và các nhân trẻ Trên cơ sở đó, giáo viên thông cảm với trẻ, và đánh giá trẻ so

với chính trẻ với những gì trẻ cố gắng trước đây với những biểu hiện tại thời điểm đánh giá trẻ

Việc giáo dục nhận thức về bản thân cần nắm rõ đặc điểm khí chất của

từng trẻ để giáo dục đạt hiệu quả và tránh ép trẻ làm những gì trẻ không muốn và phát huy sở trường của trẻ

1.2.6 Nội dung giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi trong chương trình giáo dục mầm non và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của

Bộ giáo dục và đào tạo

Như đã phân tích trong phần cấu trúc tự ý thức, thì tự nhận thức ( nhận

thức về bản thân) là một trong ba thành phần của tự ý thức - Tự nhận thức có từ

sớm, khi đó đã có những hình thức và nội dung đặc trưng: phân biệt bản thân với

thế giới vật chất

- Nhận thức về cái tôi lý tưởng, cá nhân nhận thức về bản thân cụ thể là: + Hình thức bên ngoài: mái tóc: màu, dài ngắn; màu da, màu mắt

+ Nội dung bên trong: năng lực, phẩm chất: tính cách khí chất

+ Vị thế và các quan hệ xã hội: trong gia đình, nhà trường, xã hội

+ Các quan hệ xã hội: ba, mẹ, thầy cô, bạn bè

Nhận thức về bản thân là quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm,

phẩm chất,… của bản thân, làm cơ sở cho việc định hướng hoạt động của cá nhân Vì vậy, việc giáo dục trẻ nhận biết về bản thân là một nhiệm vụ quan trọng của bậc học mầm non, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi 5 – 6 tuổi, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào trường phổ thông Giáo dục sẽ làm nhiệm vụ giáo dục nhận thức về bản

Trang 34

thân cho trẻ ở độ tuổi này Giáo dục được xem là một quá trình tích cực, có sự tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục Các chuyên ngành tâm lý học khác nhau như tâm lý học đại cương, tâm lý học phát triển, tâm lý

học sư phạm, tâm lý học nhân cách…Có đóng góp rất lớn cho sự nghiệp giáo

dục Những chuyên ngành khoa học này nghiên cứu các quy luật phát triển tâm

lý người, quá trình phát triển nhân cách, quá trình cá nhân lĩnh hội tri thức, cung

cấp những cơ sở tâm lý nhằm xây dựng các phương pháp và điều kiện tối ưu đem lại hiệu quả giáo dục [12]

Nhận thức về bản thân = tự nhận thức ( theo từ điển tâm lý): đầu tiên đứa

trẻ học cách phân biệt bản thân nó với thế giới vật chất – hiện tại của đứa trẻ chưa biết cái gì liên quan tới cơ thể của nó Sau đó, nó nhận thức bản thân với

một tư duy khác – nó là thành viên của môi trường xã hội vi mô ( kết hợp với chương trình giáo dục tình cảm – kĩ năng xã hội và chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi) [12]

Căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non theo thông tư BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 và bộ chuẩn phát triển trẻ năm tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì có thể phân chia nội dung giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ theo ba nội dung:

17/2009/TT-1.2.6.1 Nội dung giáo dục trẻ phân biệt bản thân với người khác: hiểu vị thế và các quan hệ xã hội, xúc cảm của bản thân

* N ội dung từ chương trình giáo dục mầm non:

- Nói được tên tuổi giới tính bản thân, tên bố mẹ địa chỉ nhà hoặc điện thoại

- Nói được mình có điểm giống và khác bạn ( dáng vẻ bên ngoài, giới tính)

* N ội dung từ bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi:

- Chỉ số 27 Nói được một số thông tin quan trọng về bản thân và gia đình

- Chỉ số 28 Ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân

- Chỉ số 29 Nói được khả năng và sở thích riêng của bản thân

Trang 35

1.2.6.2 Nội dung giáo dục trẻ bộc lộ năng lực, phẩm chất, tính cách khí chất

* N ội dung từ chương trình giáo dục mầm non:

- Nói được điều bé thích, không thích, những việc bé làm được và việc bé làm không được

- Biết vâng lời, giúp đỡ bố mẹ cô giáo những việc vừa sức

- Tự làm một số việc đơn giản hằng ngày ( vệ sinh cá nhân, trực nhật)

- Cố gắng hoàn thành công việc được giao

* N ội dung từ bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi:

- Chỉ số 30 Đề xuất trò chơi và hoạt động thể hiện sở thích của bản thân

- Chỉ số 31 Cố gắng thực hiện công việc đến cùng

- Chỉ số 32 Thể hiện sự vui thích khi hoàn thành công việc

- Chỉ số 33 Chủ động làm một số công việc đơn giản hằng ngày

- Chỉ số 34 Mạnh dạn nói ý kiến của bản thân

- Chỉ số 35 Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ của người khác

- Chỉ số 36 Bộc lộ cảm xúc của bản thân bằng lời nói, cử chỉ và nét mặt

- Chỉ số 37 Thể hiện sự an ủi và chia vui với người thân và bạn bè

- Chỉ số 38 Thể hiện sự thích thú trước cái đẹp

- Chỉ số 39 Thích chăm sóc cây cối, con vật quen thuộc

- Chỉ số 41 Biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực khi được an ủi, giải thích

1.2.6.3 Nội dung giáo dục trẻ nhận ra bản thân và người khác có xu hướng khác nhau: thái độ tích cực trong quan hệ với bạn bè và người lớn; hợp tác với bạn bè; hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội; tôn trọng người khác

Từ việc trẻ nhận biết được bản thân, trẻ nhận biết được một số trạng thái

cảm xúc : vui, buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên xấu hổ qua tranh, qua nét mặt

cử chỉ của người khác từ đó trẻ biết biểu lộ cảm xúc vui buồn sợ hãi, tức giận,

ngạc nhiên, xấu hổ Từ đó, trẻ điều chỉnh các hành vi bản thân cho phù hợp:

Trang 36

* N ội dung từ chương trình giáo dục mầm non:

- Biết lắng nghe trao đổi, thỏa thuận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn

- Biết an ủi và chia vui với người thân và bạn bè

- Thực hiện nội quy ở lớp, gia đình nơi công cộng: cảm ơn, chờ đến lượt,

biết lắng nghe, nói lời cảm ơn, xin phép, trao đổi ý kiến thỏa thuận, chia sẽ kinh nghiệm với bạn, biết giải quyết mâu thuẫn

- Quan tâm bảo vệ môi trường

* N ội dung từ bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi:

- Chỉ số 40 Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh

- Chỉ số 42 Dễ hoà đồng với bạn bè trong nhóm chơi

- Chỉ số 43 Chủ động giao tiếp với bạn và người lớn gần gũi

- Chỉ số 44 Thích chia sẻ cảm xúc, kinh nghiệm, đồ dùng, đồ chơi với những người gần gũi

- Chỉ số 45 Sẵn sàng giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn

- Chỉ số 46 Có nhóm bạn chơi thường xuyên

- Chỉ số 50 Thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè

- Chỉ số 51 Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn

- Chỉ số 52 Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác

- Chỉ số 53 Nhận ra việc làm của mình có ảnh hưởng đến người khác

- Chỉ số 54 Có thói quen chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn

- Chỉ số 55 Đề nghị sự giúp đỡ của người khác khi cần thiết

- Chỉ số 56 Nhận xét được một số hành vi đúng hoặc sai của con người đối với môi trường

- Chỉ số 58 Nói được khả năng và sở thích của bạn bè và người thân

- Chỉ số 59 Chấp nhận sự khác biệt giữa người khác với mình

- Chỉ số 60 Quan tâm đến sự công bằng trong nhóm bạn [6] [7]

Nếu thực hiện tốt việc giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi theo những nội dung trên thì trẻ sẽ nhận thức về bản thân tốt hơn và có nhiều cơ hội hòa nhập vào xã hội,

Trang 37

ngày càng phát triển và hoàn thiện nhân cách Mục đích cuối cùng của việc giáo dục giúp trẻ nhận thức về bản thân là: giúp trẻ hiểu hơn về những đặc điềm bên ngoài và bên trong của bản thân; hiểu rõ những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân; biết giao tiếp trân trọng những người xung quanh, để trẻ tự tin hòa nhập vào xã hội

1.3 Các cơ sở thiết kế bài tập

1.3.1 Khái niệm thiết kế

Theo từ điển tâm lý học, thiết kế là lập tài liệu kỹ thuật toàn bộ gồm có các bảng tính toán, bản vẽ… để có thể theo đó mà xây dựng công trình, sản xuất thiết bị, sản phẩm [33, tr.926)]

1.3.2 Khái niệm về bài tập

Theo từ điển tâm lý học thì bài tập được hiểu là:

Việc lặp đi lặp lại một hành động với mục đích lĩnh hội hành động đó Tùy theo từng điều kiện cụ thể, bài tập có thể chia ra các dạng sau:

- Bài tập là một quy trình duy nhất, theo đó tất cả các thành phần của quá trình học như: làm rõ nội dung hành động, học và củng cố hành động, khái quát hóa, tự động hóa được thực hiện

- Bài tập chỉ là một trong những quy trình của quá trình lĩnh hội hành động Trong trường hợp này ý thức về hành động và học thuộc cách thức hành động đã được thực hiện trước khi làm bài tập.Việc ý thức về hành động và học thuộc cách thức hành động đảm cho cho người học có hiểu biết sơ bộ về hành động và việc thực hiện hành động bước đầu được củng cố Thực hiện bài tập sẽ đảm bảo quá trình hoàn thiện những hiểu biết về hành động và củng cố hành động, làm cho khái quát hóa và tự động hóa trở nên tốt hơn, nhờ đó quá trình lĩnh hội hành động có hiệu quả hơn và hành động sẽ trở thành kỹ năng hoặc kỹ

xảo

- Bài tập cũng có thể được thực hiện ngay sau khi ý thức về hành động mà không cần học thuộc cách hành động sẽ diễn ra hoàn toàn trong quá trình thực

hiện bài tập

Trang 38

Có các loại bài tập sau:

- Bài tập có hình ảnh: những bài tập có sử dụng hình ảnh như các bức tranh, bức vẽ, sơ đồ Loại bài tập này đòi hỏi người thực hiện phải tích cực sử

dụng tưởng tượng, tư duy để hiểu các hình ảnh

- Bài tập đóng: những bài tập mà để trả lời người thực hiện phải lựa chọn

một trong những phương án đã được cho sẵn

- Bài tập lý thuyết: các bài tập mà việc giải quyết chúng đòi hỏi người

thực hiện phải thể hiện khả năng tư duy lý luận Với nghĩa này, bài tập lý thuyết

gần tương tự như bài tập dạng khóa ngôn ngữ, người thực hiện cũng phải làm

việc với các khái niệm, song bài tập lý thuyết đòi hỏi phải sử dụng các thao tác

tư duy có mức độ trừu tượng cao hơn

- Bài tập mở: những bài tập, nhiệm vụ, câu hỏi đòi hỏi người thực hiện tự đưa ra câu trả lời

- Bài tập phi ngôn ngữ: những bài tập mà việc thực hiện chúng hoàn toàn

dựa trên sự quan sát, suy nghĩ lập luận và các thao tác bằng tay

- Bài tập thực hành: những bài tập mà người thực hiện phải giải quyết chúng theo cách hành động – trực quan nghĩa là phải thao tác với những vật thay

thế các đối tượng đó

- Bài tập trắc nghiệm: những bài tập dưới dạng các trắc nghiệm dựa trên

cơ sở kết quả thực hiện các bài tập này người ta sẽ đánh giá được các phẩm chất

mà trắc nghiệm định đo ở các nghiệm thể (người thực hiện trắc nghiệm) Có

những bài tập trắc nghiệm mang tính tổng hợp, bao gồm cả bài tập hành động

thực hành và bài tập lý luận, bài tập ngôn ngữ và bài tập hình ảnh Bài tập trắc nghiệm phải được thiết kế dễ hiểu và đơn nghĩa, những yêu cầu trong bài tập (bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ) không được chứa đựng những thành phần có

thể hiểu hoặc tri giác theo nhiều cách khác nhau

Bài tập giáo dục: là việc lập đi lặp lại những hành động một cách có mục đích và kế hoạch, nhằm rèn luyện cho trẻ một số kiến thức, kỹ năng; hình thành

Trang 39

nhân cách con người theo yêu cầu của xã hội, chuẩn bị tâm thế cho trẻ tham gia vào hoạt động

Xuất phát từ cơ sở lý luận của đề tài và của tâm lý học hoạt động, đặc điểm tâm sinh lý trẻ 5 – 6 tuổi có liên quan đến nhận thức về bản thân Việc xây

dựng các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân được xem như là một trong

những biện pháp giáo dục trẻ, bài tập giúp cho quá trình dạy học: trẻ đóng vai trò

chủ thể của hoạt động, giáo viên là người hướng dẫn, gợi ý và sau đó trẻ dùng

những hướng dẫn này thực hiện bài tập và kết quả mong đợi là trẻ có thể điều

chỉnh bản thân khi tham gia các mối quan hệ xung quanh trẻ Giai đoạn trẻ từ 3 –

5 tuổi là giai đoạn tiếp nhận những kỹ năng và kiến thức làm nền tảng cho sự hình thành nhân cách và năng lực và các hành động định hướng bên trong (tức là các quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định rõ ràng Tính chủ định này được phát triển cùng với sự tiến triển của hoạt động vui chơi ở trẻ được sự chăm sóc, giáo dục một cách đúng đắn từ gia đình đến nhà trường Vì vậy, việc thiết

kế các bài tập làm phương tiện giáo dục trẻ là một việc làm cần thiết, dựa vào đặc điểm tâm sinh lý trẻ 5 – 6 tuổi và cơ sở lý luận đã phân tích thì các dạng bài tập được thiết kế trong đề tài này là: bài tập có hình ảnh, bài tập mở, bài tập thực hành và bài tập trắc nghiệm

1.3.3 Các nguyên tắc thiết kế bài tập

1.3.3.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, giáo dục

Các bài tập phải thống nhất và hỗ trợ hoạt động giáo dục khác nhằm giúp

trẻ phát triển toàn diện Các bài tập phải hướng tới mục đích nhằm đạt được kết

quả mong đợi của chương trình giáo dục mầm non và các chỉ số của bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi như đã phân tích ở phần cơ sở lý luận 1.2.6 Mục đích cơ bản

của việc thiết kế các bài tập là giúp trẻ nhận thức về bản thân Thông qua các bài

tập chính trẻ sẽ hình thành hay củng cố những biểu tượng cảm xúc, tình cảm tích

cực, hay hành vi đúng đắn trong mối quan hệ giao tiếp giữa người và người và

với môi trường xung quanh trẻ

Trang 40

Bài tập phải thể hiện được nội dung giáo dục thông qua: mục đích bài tập

và cách tiến hành bài tập Vì vậy, các bài tập khi thiết kế phải bám sát nội dung chương trình giáo dục mầm non và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của Bộ giáo dục

và đào tạo

1.3.3.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, phù hợp với lứa tuổi

Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học đòi hỏi trong việc thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi cần phải căn cứ vào những cơ

sở khoa học chân chính: các công trình nghiên cứu nhận thức về bản thân trong

và ngoài nước, chương trình giáo dục mầm non, bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi

Sự hình thành và phát triển khả năng nhận thức về bản thân là nền tảng cho sự phát triển về mặt nhận thức xã hội vì trẻ thu nhận thông tin đều xuất phát từ

những người gần gũi trẻ, gắn bó với trẻ vì thế việc thiết kế các bài tập giáo dục

nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi còn phải đảm bảo căn cứ vào điều kiện

và đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Nguyên tắc phù hợp với lứa tuổi yêu cầu người tham gia thiết kế các bài

tập phải nắm được đặc điểm của đối tượng trẻ, xem xét trẻ mẫu giáo 5 tuổi đã phát triển đến đâu Mỗi trẻ có những điểm riêng về đời sống: gia đình, bố mẹ, hoàn cảnh sống…Các bài tập phải được thiết kế phù hợp tâm lý lứa tuổi chung nhưng cần linh hoạt điều chỉnh các hệ thống câu hỏi, nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành có hiệu quả trên từng trẻ

Nhận thức về bản thân của trẻ được nảy sinh trong các hoạt động giao

tiếp, đặc biệt là trong các trò chơi, trong khi nghe kể chuyện, khi giao tiếp với người lớn, khi được sống trong môi trường tập thể với các bạn trong trường mầm non Vì thế các bài tập thiết kế phải đảm bảo các điều kiện trên, bài tập phải đa

dạng hình thức hoạt động khai thác được các yêu tố: cá nhân, tập thể, hoạt động nhóm

1.3.3.3 Nguyên tắc khả thi

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Danh sách các trường mầm non khảo sát - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Bảng 2.1 Danh sách các trường mầm non khảo sát (Trang 45)
Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của BGH và GV các trường khảo sát. - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của BGH và GV các trường khảo sát (Trang 46)
Bảng 2.4. Nhận thức của giáo viên mầm non về khái niệm giáo dục nhận  thức về bản thân cho trẻ (N = 79) câu 1 (xem phụ lục 4) - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Bảng 2.4. Nhận thức của giáo viên mầm non về khái niệm giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ (N = 79) câu 1 (xem phụ lục 4) (Trang 49)
Bảng 2.6. Sự phân bố thời gian tổ chức giáo dục nhận thức về bản thân cho  trẻ 5- 6 tuổi - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Bảng 2.6. Sự phân bố thời gian tổ chức giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5- 6 tuổi (Trang 52)
Bảng 2.7. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục nhận thức về bản  thân cho trẻ 5 – 6 tuổi - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Bảng 2.7. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi (Trang 54)
Bảng 2.8. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục nhận thức về bản  thân cho trẻ 5 – 6 tuổi của giáo viên - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Bảng 2.8. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi của giáo viên (Trang 55)
Bảng 3.2. Điểm trung bình và mức độ cần thiết của các bài tập đề xuất - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Bảng 3.2. Điểm trung bình và mức độ cần thiết của các bài tập đề xuất (Trang 87)
Hình th ức cô tổ chức hoạt động : - thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5  6 tuổi
Hình th ức cô tổ chức hoạt động : (Trang 138)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w