1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông

122 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quỹ đạo chung của tiến trình đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục, chuyển từ việc tiếp nhận tri thức thụ động sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN THANH BÌNH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: -Quý thầy cô Phòng Sau đại học

-Quý thầy cô Khoa Ngữ Văn

Tên tôi là: Đoàn Thị Ngọc Lan

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Văn học

Tên đề tài luận văn: Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông

Giảng viên hướng dẫn khoa học: TS Trần Thanh Bình

Tôi xin cam đoan luận văn “Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông” là do tôi tự làm dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thanh Bình

Tôi xin cam đoan những tư liệu khảo sát đều là do tôi thực nghiệm tại trường trung

học phổ thông Hùng Vương- quận 5- Thành phố Hồ Chí Minh

Người cam đoan

Đoàn Thị Ngọc Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn một cách hoàn chỉnh, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Trần Thanh Bình, người đã hết lòng hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn các anh chị và bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn một cách hoàn chỉnh

TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013

Học viên thực hiện

Đoàn Thị Ngọc Lan

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

M ỤC LỤC 3

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

M Ở ĐẦU 6

1 Lí do ch ọn đề tài 6

2 L ịch sử vấn đề 8

3.Nhi ệm vụ và mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10

7 C ấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Cơ sở lý luận dạy học 11

1.1.2 Cơ sở tâm lý học và giáo dục học 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Những hạn chế chủ yếu của học sinh khi viết văn nghị luận 17

1.2.2 Một số ví dụ cụ thể 18

1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế 21

1.2.4 Tình hình lập dàn ý của học sinh 26

CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý MẪU CHO ĐỀ VĂN NGH Ị LUẬN 34

2.1 Văn nghị luận và các đề văn nghị luận trong nhà trường phổ thông 34

2.1.1 Quan niệm về kiểu bài văn nghị luận 34

2.1.2 Phân loại các đề văn nghị luận 34

2.2 Dàn ý m ẫu cho đề văn nghị luận 52

2.2.1 Quan niệm về ý và dàn ý mẫu 52

2.2.2 Các bước triển khai dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận 54

2.3 Bi ện pháp rèn luyện lập dàn ý mẫu 57

2.3.1 Trong tiết dạy học Đọc - hiểu văn bản văn học 58

2.3.2 Trong tiết dạy học lý luận văn học 63

Trang 6

2.3.3.Trong tiết dạy học làm văn nghị luận 68

2.4 Thi ết kế một số mô hình dàn ý mẫu văn nghị luận 77

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 84

3.1 M ục đích thực nghiệm 84

3.2 N ội dung thực nghiệm 84

3.3 Đối tượng và địa điểm thực nghiệm 85

3.4 Phương pháp thực nghiệm 85

3.5 K ết quả thực nghiệm 86

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PH Ụ LỤC 110

Trang 7

SGV Sách giáo viên TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh TNĐT Thực nghiệm điều tra

THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng và Nhà nước đã khẳng định phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỉ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau Chiến lược cũng đã xác định rõ một trong ba

đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập

trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát

triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục

Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2010 – 2020”, Đảng và Nhà nước cũng xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng”

Trong quỹ đạo chung của tiến trình đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục, chuyển từ việc tiếp nhận tri thức thụ động sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thời đại, nâng cao chất lượng dạy học môn văn, đổi mới PPDH Làm văn chính là một trong những nhiệm vụ phải làm để góp phần hiện thực hoá chiến lược giáo dục của đất nước trong thời kì mới

Từ trước tới nay, hai phương diện cơ bản mà các môn học nói chung hướng tới trang

bị và rèn luyện cho học sinh là hệ thống kiến thức và kĩ năng Hướng tới phương diện kiến

Trang 9

thức là trả lời câu hỏi: dạy học cái gì; hướng tới kĩ năng là trả lời câu hỏi: dạy học như thế nào Cả hai câu hỏi trên đều hết sức quan trọng, không thể nói học cái gì quan trọng hơn là học thế nào, và ngược lại Tuy nhiên, dạy học hiện đại luôn đứng trước một mâu thuẫn: một bên là yêu cầu truyền đạt khối lượng kiến thức khổng lồ của tri thức văn minh nhân loại đang ngày càng phát triển nhanh chóng, một bên là thời lượng thời gian học tập của học sinh đang ngày càng ít đi do sự chi phối của nhiều yêu cầu trong cuộc sống hiện đại Để giải quyết mâu thuẫn đó, càng ngày người ta càng chú ý tới phương diện thứ hai, tức là thông qua việc học cái gì mà mà tập trung trang bị và cung cấp cho người học cách học, phương pháp học để có thể “tự học suốt đời”…

Hiện nay, Chương trình Ngữ văn phổ thông coi khâu đọc-hiểu và thực hành làm văn

là hai trục tích hợp chủ yếu, trong đó đọc-hiểu là hoạt động tự chiếm lĩnh văn bản của học sinh, làm văn là hoạt động tự tạo lập văn bản của học sinh

Nhìn lại thực tiễn dạy học Ngữ văn thời gian qua, có thể nhận thấy khá rõ một điều: trong khi lĩnh vực đọc-hiểu văn bản đã thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận thì lĩnh vực tạo lập văn bản (Làm văn) vẫn đang gặp phải nhiều vướng mắc, chất lượng làm văn của HS vẫn chưa thực sự khả quan

Khi gặp một đề văn, người viết cần phải hình dung ra một dàn ý cơ bản Đề bài làm

văn thì vô cùng đa dạng nhưng giữa các đề trong cùng một kiểu đề thì lại có sự thống nhất tương đối về khung ý mà ta gọi là dàn ý mẫu (hay dàn ý cơ bản) Trong quá trình dạy học

làm văn, GV không thể giúp HS xây dựng dàn ý cho mọi đề văn nghị luận mà chỉ có khả năng hướng dẫn HS xây dựng một cách thành thạo cácdàn ý mẫu (khung ý) cho các kiểu dạng đề Trên cơ sở của những dàn ý mẫu này, HS có thể xây dựng những dàn ý cụ thể tuỳ theo yêu cầu của đề văn Việc rèn luyện kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu sẽ góp phần hình

thành và phát triển tư duy thiết kế cho HS C.Mác đã từng viết trong bộ Tư bản: “Con nhện

thực hiện các thao tác giống các thao tác của người thợ dệt, con ong xây tổ sáp làm cho mỗi nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng ngay một nhà kiến trúc tồi từ đầu đã khác một con ong cừ nhất ở chỗ, trước khi dùng sáp xây tổ, nhà kiến trúc đã xây nó trong đầu của mình rồi.” Dàn

ý mẫu chính là khung thiết kế cơ bản nhất tương ứng với từng kiểu dạng đề làm văn mà HS phải định hình trước khi triển khai thành những dàn ý tương ứng với từng đề văn cụ thể Hơn nữa, qua thực tế giảng dạy và thực nghiệm điều tra, người viết nhận thấy một trong những khó khăn, lúng túng lớn nhất của HS khi viết văn nghị luận không chỉ là làm thế nào

Trang 10

để xác định được những ý cơ bản (dàn ý mẫu) của một đề văn cụ thể mà còn ở chỗ làm thế nào để xác định được một khung ý cho một kiểu dạng đề nhất định

Chính vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở Trung học phổ thông mong góp phần làm sáng tỏ

hơn những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng các dàn ý mẫu và cụ thể hoá cơ chế vận hành của nó trong những giờ dạycụ thể

2 L ịch sử vấn đề

Văn nghị luận là một trong sáu kiểu văn bản (miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính-công vụ) được dạy trong chương trình Ngữ văn THCS, là một trong bốn kiểu văn bản được dạy trong chương trình Ngữ văn THPT (thuyết minh, nghị luận, tự sự, hành chính-công vụ) Vì vậy, các công trình nghiên cứu, tài liệu, sách tham khảo dạy học về văn nghị luận nói chung khá nhiều và đa dạng

Ngoài những tài liệu của Bộ Giáo dục-Đào tạo như Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực

hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10, 11, 12, Về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trung học phổ thông giới thiệu những định hướng trong quá trình dạy học làm

văn nói chung, văn nghị luận nói riêng, nhiều tài liệu tham khảo khác như: Làm văn nghị

luận-lý thuyết và thực hành (Hà Thúc Hoan), Nâng cao kỹ năng làm bài văn nghị luận

(Nhiều tác giả), Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông (Nguyễn Quốc Siêu), Rèn kỹ năng

làm văn nghị luận (Trần Thị Thành), Phân loại và hướng dẫn giải đề thi Đại học-Cao Đẳng môn Ngữ văn (Triệu Thị Huệ), Hướng dẫn làm văn lớp 12 (Hoàng Thị Phi Hồng), Hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn (Vũ Nho chủ biên), Phương pháp giải nhanh Ngữ văn trọng tâm (Phùng Ngọc Kiếm) v.v cũng đề cập đến nhiều nội dung hết sức bổ ích về

rèn luyện kỹ năng phân tích đề, lập luận, kỹ năng lập dàn ý, kỹ năng diễn đạt, liên kết Tuy nhiên, trong các tài liệu trên, các tác giả chủ yếu chỉ tập trung hướng dẫn HS lập dàn ý cho những đề văn cụ thể mà chưa chú ý nhiều đến việc hướng dẫn HS quan tâm đến cácdàn

ý mẫu (khung ý) chung cho những kiểu dạng đề Hơn nữa, việc xây dựng dàn ý trong các tài liệu này chủ yếu được trình bày dưới hình thức gạch đầu dòng, liệt kê ý theo lối truyền thống; những cách tạo lập dàn ý mới bằng bản đồ tư duy, Graph chưa được nhiều người quan tâm

Trên cơ sở đó, có thể khẳng định: rèn luyện kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu cho đề văn

nghị luận ở Trung học phổ thông là một vấn đề còn khá mới mẻ, thực hiện đề tài này sẽ góp

Trang 11

phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung, Làm văn nói riêng

3.Nhi ệm vụ và mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm thực hiện những nhiệm vụ và mục đích sau:

– Góp phần giải quyết một trong những vấn đề trọng tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học làm văn hiện nay: hướng dẫn HS xây dựng các dàn ý mẫu cho các kiểu dạng

đề làm văn nghị luận trong chương trình THPT

– Nghiên cứu những ưu thế và tính khả thi của hướng đi này trong việc vận dụng vào thực tế dạy học làm văn, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

– Đề xuất một quy trình, cách thức tổ chức hoạt động dạy học và thử nghiệm vận dụng vào thực tế khi tiến hành dạy học một số bài học làm văn ở trường THPT

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ và mức độ của luận văn, đề tài giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:

– Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng các dàn ý mẫu trong hoạt động dạy học làm văn

– Vận dụng các dàn ý mẫu vào việc tổ chức hoạt động dạy học làm văn trong chương trình THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, trong quá trình thực hiện, người viết kết hợp, vận dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, cụ thể là:

– Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Giáo dục học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học,

Lý luận và Phương pháp dạy học văn,… có liên quan trực tiếp đến phạm vi đề tài

– Phương pháp điều tra, khảo sát: được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế về tình hình dạy học làm văn đang diễn ra ở một số trường THPT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Trang 12

– Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm các giáo án đề xuất để kiểm nghiệm khả năng ứng dụng của dàn ý mẫu vào quá trình dạy làm văn cũng như đánh giá mức độ đúng đắn, tính khả thi của phương pháp này

– Phương pháp thống kê: được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát, bổ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

– Đề tài góp phần khẳng định ưu điểm của phương pháp vận dụng dàn ý mẫu trong dạy học làm văn - một phương pháp có khả năng hình thành và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh một cách bền vững trong quá trình dạy học nói chung và phù hợp với đặc trưng của việc dạy học làm văn nói riêng trên con đường hiện thực hoá luận điểm cơ bản học sinh là trung tâm của quá trình dạy học

– Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng quy trình vận dụng dàn ý mẫu vào những giờ dạy học làm văn cụ thể ở trường THPT, góp thêm một tiếng nói mới, một cách nhìn mới trong nỗ lực tìm kiếm cách thức đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

7 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm

3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng dàn ý mẫu

Chương 3 Thực nghiệm

Trang 13

C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở lý luận dạy học

Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết sức quan trọng trong số các môn học ở nhà trường phổ thông Đây là bộ môn đi đầu về việc áp dụng nguyên lí tích hợp ba phân môn Tiếng Việt, Văn học và Làm văn; trong đó, Làm văn được xem là một phân môn thực hành tổng hợp tất cả những kiến thức, kỹ năng của Văn học và Tiếng Việt

Xung quanh vấn đề đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học làm văn

đã có nhiều chuyên luận, bài báo, báo cáo khoa học Nhìn chung, các ý kiến đều đề cao việc rèn luyện kỹ năng trong quá trình hướng dẫn tạo lập văn bản

Ngoài ra, những năm gần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát huy toàn diện cho HS về kiến thức cũng như kỹ năng, đề thi Văn cũng có nhiều đổi mới Một đề thi thường có hai phần: NLXH (3 điểm) và NLVH (5 điểm) Đây là một khó khăn cho HS vì NLXH đòi hỏi lối viết sắc sảo, tư duy xã hội sâu rộng, khiến người viết phải huy động vốn

hiểu biết đến năng lực trình bày một vấn đề xã hội nào đó cho giàu sức thuyết phục Ngược

lại, NLVH đòi hỏi vốn văn học chắc chắn, lối viết thiên về cảm xúc; là trình bày những

nhận xét, đánh giá của mình về giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể nào

đó Đó là những nhận xét, đánh giá phải xuất phát từ nội dung (đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm

hứng nghệ thuật ) và từ nghệ thuật ( ngôn từ, kết cấu, tình huống ) của tác phẩm mà người viết phải tự phát hiện và khái quát HS sẽ phải tự mình dung hòa hai cách viết, hai lối

tư duy khác nhau trong cùng một bài thi Vì vậy, để tiết kiệm thời gian, tránh được lỗi triển khai các ý thiếu hệ thống (ý trùng lặp; ý rời rạc, lan man; ý lộn xộn), lỗi triển khai các nội dung thiếu chính xác và lỗi văn bản (thiếu nội dung); việc giúp HS luyện kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu là việc làm cần thiết

Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học chương trình Ngữ văn THPT là phải biết

kết hợp nhiều phương pháp trong dạy học.Đã có nhiều bài báo, các hội thảo khoa học và

những phương tiện thông tin bàn bạc về nội dung SGK, về việc cần phải đổi mới cách dạy Tuy nhiên, đổi mới PPDH không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn tính tích cực của PPDH truyền thống Người GV sẽ phải “tích hợp nhiều phương pháp trong bài học, tiết học và

trong c ả quá trình tổ chức hoạt động trên cơ sở xác định phương pháp chính gắn với đặc trưng của môn học Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ

Trang 14

động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thu ận lợi để HS lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học” [13,tr.6] Bên cạnh

phương pháp truyền thống như: diễn giảng, gợi mở thì những phương pháp như: đọc-hiểu,

thảo luận nhóm, nêu vấn đề, khai thác mẫu được xem là những phương pháp hiện đại

Trong đó, phương pháp phân tích và làm theo mẫu là một phương pháp quan

tr ọng để hình thành lý thuyết và rèn luyện kỹ nănglập dàn ý mẫu ở phân môn làm văn Với phương pháp này, GV cần mô tả rõ khái niệm, sau đó làm mẫu kết quả cần đạt,

vừa nói to những suy nghĩ của mình vừa sử dụng các kỹ thuật giảng dạy qua hình ảnh, âm thanh hoặc vận động; thông thường nhất chính là GV đưa ra những ví dụ minh họa Khi nói

ra, GV khiến cho những suy nghĩ của mình trở nên “trực quan” với HS.Khi GV lập dàn ý

mẫu về một kiểu bài nào đó thì nên nói to những suy nghĩ của mình ở từng bước.GV hướng

dẫn HS tìm hiểu đặc điểm của mẫu, cơ chế tạo mẫu cũng như hướng dẫn HS biết cách làm tương tự mẫu

Phương pháp phân tích và làm theo mẫu để hình thành kiến thức lý thuyết lẫn kỹ năng đòi hỏi việc lựa chọn mẫu hết sức cẩn thận Mẫu lí tưởng nhất là mẫu đáp ứng được

mọi dữ kiện cho việc hình thành lý thuyết và kỹ năng, nhưng trong thực tế rất khó có thể

chọn được những mẫu như vậy.Khi đã chọn được mẫu, cần khai thác triệt để các dữ kiện

của mẫu Hiện nay, khi dạy theo mẫu, GV thường sử dụng mẫu của SGK Bởi vì, đó là

những mẫu tốt đã được lựa chọn cẩn thận, đáp ứng tương đối đầy đủ các dữ kiện để hình thành lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng

Theo tác giả Trương Dĩnh: “ý nghĩa của việc dùng một mẫu trước hết là dể giải quyết

mâu thu ẫn về thời gian với dung lượng lý thuyết Một mẫu hoàn chỉnh, tiêu biểu có thể là

ch ỗ dựa để hình thành toàn bộ lý thuyết về một kiểu văn, kể cả khái niệm và cách làm Thế nhưng, nhiều người hay nghi ngờ việc dùng mẫu với lý do tạo nên thói quen bắt chước, thi ếu tính sáng tạo Có thể xem, đó chỉ là suy nghĩ phiến diện, một chiều.Nếu ta xem mẫu dưới khía cạnh rèn luyện tư duy nghiên cứu, tiết kiệm thời gian, sử dụng trực quan, ta sẽ

th ấy mẫu rất có lợi” [6, tr.32].Bản thân mỗi GV sẽ có những cách triển khai bài giảng, cách

đánh giá, kiểm tra khác nhau trong cùng một bài dạy Thế nhưng, mỗi GV vẫn phải tuân theo một chuẩn mực chung mà SGV hoặc sách Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng môn

Ngữ văn quy định

Trong bài viết Đổi mới chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn sau 2015-Một vài đề

xuất về nội dung và phương pháp, TS Nguyễn Văn Tùng đã nhận thấy: cần phải tạo lập cho

Trang 15

HS một phương pháp phân tích tác phẩm, một tư duy tích cực và chủ động để có thể giải quyết được mọi trường hợp Học văn cũng giống như học toán Giống như dạy toán, dạy văn cần phải cung cấp cho các em những “công thức” văn học, giúp các em hiểu bản chất

của những công thức đó, hướng dẫn các em vận dụng những công thức đó vào giải quyết

những trường hợp tác phẩm văn học cụ thể Học như thế là học một biết mười.Đó là cách

học để HS có thể lấy “cái bất biến” ứng dụng vào “cái vạn biến”

PGS Đỗ Ngọc Thống cho rằng: để lập được dàn ý nhanh và tốt, HS cần trang bị cho

cá nhân mình một vốn ý mẫu học được từ các tiết dạy học đọc-hiểu mà GV giảng dạy trên

lớp; từ những bài nghị luận mẫu của một số tác giả có uy tín Qua những cách viết, bài văn

mẫu đó, các em sẽ học được cách lập dàn ý của họ bằng cách tóm tắt bài văn ấy thành một dàn ý mẫu:

- Mở bài có luận đề là gì?

- Thân bài gồm những luận điểm và luận cứ nào

- Kết bài khái quát những ý gì?

Luận văn này, ngay từ đầu đã xác dịnh mục tiêu cần đạt là giúp bài viết của những

HS ở mức TB sẽ đạt điểm cao hơn vì đủ ý hoặc không lạc đề.Tư duy, cách hành văn của các em này còn nhiều hạn chế Vì vậy, cần phải sử dụng phương pháp trên có được những dàn ý mẫu chất lượng cho các em học và làm theo Cha ông ta có câu: “Trăm nghe không

b ằng một thấy” để nhấn mạnh giá trị của việc thấy tận mắt những điều mà mình chỉ được nghe Trong làm văn, nếu GV chỉ giảng cho HS nghe: thế nào là văn bản phân tích văn

h ọc, bình giảng thơ mà không hề chỉ cho HS thấy một mẫu cụ thể đang tồn tại xung quanh các em để các em có thể nhìn tận mắt hình thù cụ thể của loại văn bản đó thì chắc

ch ắn hiệu quả giờ giảng không cao Chính những mẫu văn bản, mẫu phân tích được GV

s ử dụng trong những giờ lên lớp có giá trị như những “giáo cụ trực quan”.Bởi vậy, có thể nói “m ẫu” trong làm văn là những mẫu thực, không xa lạ với HS [1, tr.205]

Không có gì đáng phê phán như một số ý kiến cho rằng học mẫu là học vẹt, học mẫu

sẽ làm tư duy sáng tạo cá nhân bị mài mòn Chẳng phải, trẻ em trong giai đoạn từ 5-12 tháng cũng phải học nói bằng cách nói theo cô hay sao? HS Tiểu học học viết chữ chẳng

phải cũng bằng cách nhìn và viết đúng theo mẫu? Trong những tiết trả bài viết, tại sao GV không chỉ nêu ra ưu-khuyết điểm chung của HS mà còn cho đọc những bài văn đạt điểm cao ở trước lớp? Đó chẳng phải vì ngoài việc HS sẽ tự mình rút được kinh nghiệm cho

những bài viết sau nhờ những lời nhận xét của GV mà còn học hỏi thêm cách trình bày,

Trang 16

diễn đạt ý từ bài mẫu của bạn.Không những thế, đi sâu vào phần kỹ năng, GV cần giới thiệu cho HS những kinh nghiệm viết một bài nghị luận của chính mình hoặc một số nhà phê bình văn học tên tuổi Đó chính là cách học tập và làm theo mẫu

Chúng ta đều biết, làm văn chú trọng cách hành văn (tức là cách viết) Với HS TB,

khả năng đảm bảo đủ ý cho bài viết là một điều khó khăn; nói chi đến việc diễn đạt suy nghĩ, ý kiến cá nhân dưới hình thức một bài văn nghị luận cho thật chính xác, rõ ràng, mạch

lạc thì quả thật là một điều không dễ dàng gì Hơn nữa chúng ta nhận thấy hiện nay trong

thực tế có nhiều việc không thể không dạy theo mẫu (nhất là ở giai đoạn đầu của việc học

tập) Có dựa theo mẫu, làm theo mẫu, các em mới có thể hình thành được khái niệm, nhất là các kỹ năng thao tác, để sau đó các em làm theo

Sau khi GV hướng dẫn HS rèn luyện lập dàn ý mẫu, các em sẽ dễ dàng phỏng tác và sáng tạo theo ý của mình nhưng vẫn không thể lạc đề, sai thể loại, sai mục đích yêu cầu Có

thể nói, khi đã làm đúng hoặc gần đúng như dàn ý mẫu, thì lúc đó sản phẩm tạo ra là chính

của các em chứ không còn là của người khác nữa Như vậy, nhìn từ góc độ này, việc dạy và làm theo mẫu vẫn cần thiết và không hề thủ tiêu tính năng động của HS Ngoài ra, dàn ý

mẫu khiến các em tự tin hơn khi viết bài; tùy từng đề văn mà tạo ra ý mới và loại bỏ những

ý cũ

1.1.2 Cơ sở tâm lý học và giáo dục học

K.Đ Usinxki (1824-1873) cho rằng muốn dạy học được tốt cần hiểu biết đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của HS.Tương tự, A Distervec (1780-1866) cũng yêu cầu người thầy giáo phải dựa vào cơ sở tâm sinh lý của HS Đó là một nguyên tắc cơ bản, là “sao Bắc Đẩu của nền tảng sư phạm, chung quanh nó quay tròn tất cả các phương pháp, tất cả các cách thức giáo dục, đó là lý tưởng chúng ta luôn hướng tới”

HS không thể thuộc lòng văn mẫu nhưng có thể ghi nhớ dàn ý mẫu.Cơ sở của sự

ghi nhớ này là tâm lý học về trí nhớ.Theo tác giả Nguyễn Trọng Hoàn, ghi nhớ luôn luôn mang tính chọn lọc Con người không thể ghi nhớ tất cả những gì đã xảy ra trong cuộc sống

mà tùy theo động lực, mục đích, hứng thú và phương tiện hoạt động mà đối tượng nào sẽ được lựa chọn trở thành biểu tượng trong trí nhớ Trong cuốn Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nguyễn Trọng Hoàn đã chia quá trình ghi nhớ thành: ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa Để nhớ một dữ liệu, người ta chỉ cần nhớ nguyên xi

mà không quan tâm đến ý nghĩa của nó, đó là ghi nhớ máy móc Ghi nhớ ý nghĩa là ghi nhớ

Trang 17

theo nhiệm vụ và mục đích đặt ra, có kế hoạch và phương pháp rõ ràng Trong đời sống và trong quá trình nhận thức, học tập, người ta thường sử dụng kết hợp hai loại ghi nhớ này.Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu, lĩnh hội tài liệu, người học thường phải sử dụng loại ghi nhớ ý nghĩa Bời vì việc học có nội dung, mục tiêu rõ ràng Trong làm văn, để có thể triển khai, xây dựng các ý cho đề văn, HS cần ghi nhớ các ý mẫu cơ bản của cùng một kiểu dạng đề.HS không chỉ ghi nhớ tái hiện được tài liệu đã học mà đồng thời với quá trình đó sẽ hiểu kiến thức một cách thấu đáo, đầy đủ hơn Khi HS nghiền ngẫm dàn ý mẫu để có thể ghi nhớ, có thể sẽ tự sáng tạo ra những khía cạnh và chi tiết mới mẻ mà khi học tập ban đầu, tri giác ban đầu chưa ý thức được hết

Theo TS Cao Đức Tiến, có hai loại ghi nhớ là: ghi nhớ không có ý thức và ghi nhớ

có ý thức Trong ghi nhớ có ý thức lại có ghi nhớ logich - là loại ghi nhớ chủ yếu dựa vào sự hiểu biết nội dung, hiểu biết về mối quan hệ bản chất, ý nghĩa của tài liệu.Đây là loại ghi nhớ gián tiếp, dựa vào hệ thống các mối liên hệ về nội dung do người cần ghi nhớ đặt ra; giúp ghi nhận kiến thức dễ dàng, đầy đủ và bền vững hơn Nếu quên thì có thể bằng sự suy luận, dựa vào các điểm tựa để tìm ra ý nhỏ và mối quan hệ giữa các ý Có thể nói, dàn ý mẫu là những kiến thức cơ bản cần phải có, là các ý lớn làm nền tảng cho việc tạo ra những kiến thức khác có liên quan Hai tác giả Madeline Hunter và Robin Hunter cho rằng khi tri thức được sắp xếp thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho HS nhớ bài Dàn ý mẫu có thể được

xem như là một dàn ý chung nêu ra được những ý lớn (luận điểm) bắt buộc phải có trong

bài làm của các em; mỗi kiểu dạng đề sẽ có một mô hình dàn ý mẫu

Thạc sĩ Lê Thị Thảo trong bài viết đăng trên Tạp chí giáo dục cho rằng: sơ đồ, mô hình là một trong các phương tiện trực quan có ưu thế đặc biệt trong việc nâng cao hiệu quả dạy học của hầu hết các môn học Sơ đồ, mô hình được dùng hiều trong dạy học vì dễ sử dụng, xây dựng trong các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học; có ý nghĩa quan trọng trong việc khái quát hóa ý của bài văn nghị luận Chúng ta đều biết tri giác là quá trình tâm

lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người; là giai đoạn khởi đầu nhưng có ý nghĩa định hướng cho cả quá trình nhận thức về sau HS thường dùng các giác quan của mình để tiếp xúc với các mẫu, các tài liệu học tập do GV giới thiệu nhằm thu thập kiến thức cần thiết Vì vậy, trong giai đoạn này, GV nên sử dung mô hình trực quan, cho HS xem những mẫu đảm bảo tính chính xác, ngắn gọn, phù hợp với đối tượng Đôi khi GV sẽ cung cấp sẵn cho HS

Trang 18

một số mô hình ý cơ bản.Tuy nhiên, nếu HS có thể tự tạo cho mình một mô hình riêng thì sẽ

dễ học, dễ nhớ hơn

Những gì HS tri giác được cũng có thể coi là một dạng kiến thức nhưng chỉ là những

kiến thức đơn giản bên ngoài Vì vậy, HS phải được hướng dẫn các thao tác tư duy như: so

sánh, đối chiếu, phân tích để tìm ra những ý đáp ứng đề văn dựa trên dàn ý mẫu Đây là

giai đoạn thông hiểu tài liệu-là giai đoạn chiếm lĩnh kiến thức.Ở đây nhận thức đòi hỏi phải

có một tư duy cao hơn Chẳng hạn, khi đã được GV hướng dẫn lập dàn ý mẫu kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học bằng cách khai thác mẫu quan điểm sáng tác của Thạch Lam; trên cơ sở thông hiểu tài liệu đó, HS nhận ra: để giải quyết đề văn có cùng kiểu này thì cần phải trải qua quá trình giải thích, chứng minh, phân tích và bàn luận ý kiến

Trong quá trình nhận thức, học tập, HS không những cần nắm được tri thức mà còn phải biết vận dụng vào thực tiễn.Đây là giai đoạn đòi hỏi cao nhất về tính tích cực, sự nỗ lực hết mình của HS.Chính vì vậy, việc vận dụng ý mẫu vào các đề văn cụ thể phải được rèn

luyện, trao dồi thành những kỹ năng

Làm văn là một môn thực hành hiểu trên ý nghĩa toàn bộ quá trình dạy học.Chúng ta đều biết hoạt động và thao tác là những khái niệm trung tâm của lý thuyết hoạt động trong tâm lý học.Xây dựng dàn ý mẫu cũng là một hoạt động.Để thành thạo trong hoạt động này,

HS cần được rèn luyện để đạt đến sự thành thạo.Xưa nay, giảng dạy Làm văn thường quan tâm đến việc hình thành kỹ năng cho HS khi tiếp xúc với đề văn.Không có kỹ năng tìm hiểu

đề, tìm ý để hình thành kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu, HS sẽ khó tạo lập được văn bản Dạy

kỹ năng do vậy có lịch sử hàng trăm năm cả ở lĩnh vực tâm lý và giáo dục Nói đến kỹ năng

là quan tâm đến khả năng của một người có thể áp dụng những hiểu biết của mình vào thực hiện tốt một công việc nào đó Tiến hành công việc đến mức trôi chảy, thuần thục, tốc độ, tinh thông, rất ít sự can thiệp của tư duy, gần như là tự động hóa là đặc điểm của một người

có kỹ năng trong công việc anh ta đang thực hiện Để đạt được kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu, trong giai đoạn rèn luyện, GV buộc phải hướng dẫn HS theo một quy trình gồm các biện pháp rèn luyện Sự rõ ràng, chính xác, chặt chẽ trong quy trình này sẽ giúp HS nhanh chóng nắm được kỹ năng xây dựng dàn ý cơ bản và có khả năng làm theo, rập khuôn theo quy trình đó

Trong số những cái hình thành ở cá thể HS, có cái được tiếp tục phát triển, có cái sẽ

bị lụi tàn.Vì vậy, nhiệm vụ của GV là phải cố gắng duy trì và phát triển những cái đã được hình thành ở HS để có thể sử dụng trong đời sống.Muốn vậy, cần phải thực hành, rèn luyện

Trang 19

thao tác.Việc rèn luyện luôn được đặt trong mối tương quan với việc hình thành tri thức khái niệm Do đó, có thể nói, việc rèn luyện kỹ năng xây dựng dàn ý mẫu vừa có thể củng

cố tri thức đọc-hiểu, các khái niệm lý luận ; vừa để huấn luyện thuần thục với các biện pháp tạo ra các ý cơ bản cho một đề văn nghị luận

Cuối cùng, một trong những nguyên tắc dạy học được chúng ta chú ý đó là nguyên

tắc vừa sức.Dàn ý mẫu đã đáp ứng yêu cầu tính vừa sức khi giúp HS trung bình nhớ lại

được các ý cơ bản.“Nguyên tắc vừa sức biểu hiện ở nội dung về phương pháp giảng dạy phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS, nhờ đó HS nắm được tri thức, kỹ năng”.(N.A.Đaninôp và S.P.Esipôp) Không những thế, Skatin cũng cho rằng: “HS chỉ có thể hiểu những điều vừa sức với nó, không vượt quá trí lực của nó”

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nh ững hạn chế chủ yếu của học sinh khi viết văn nghị luận

Có thể nói, hiện nay, HS chưa được trang bị đầy đủ các kỹ năng tạo lập văn bản nghị

luận ở cả hai dạng NLXH và NLVH.HS khi tạo lập văn bản thường phân tích đề chưa đúng, tìm không ra ý để viết nên phải kể lòng vòng cốt truyện (đánh đồng với phân tích truyện) hoặc diễn xuôi một bài thơ/đoạn thơ Một số HS cho rằng cứ kể lại nội dung truyện

là đã tiến hành phân tích truyện đó Đôi khi còn suy diễn một cách gượng ép, cứng nhắc, thô thiển về nội dung cũng như nghệ thuật tác phẩm, câu nói, hiện tượng đời sống

Đã có khá nhiều bài báo đề cập đến những hạn chế trong thực tế làm văn của HS hiện nay; những bài văn “cười ra nước mắt” vẫn đều đều xuất hiện sau mỗi kì thi tốt nghiệp THPT hoặc tuyển sinh đại học – cao đẳng Tuy nhiên, trong những hạn chế đó, chúng tôi

muốn lưu ý đến kĩ năng của HS trong việc xây dựng dàn ý nói chung, dàn ý mẫu nói riêng Trong thực tế, nhiều HS lớp 12, dù đã gần kì thi tốt nghiệp vẫn không biết cách thức làm một bài văn nghị luận.Đây quả là một vấn đề đáng quan tâm hiện nay, đặc biệt là đối

với những HS đang ôn thi Trong quá trình khảo sát cho luận văn, một số câu hỏi của HS

đã được chúng tôi ghi nhận lại như sau:

“Xin cô hướng dẫn cách thức làm một bài văn nghị NLVH về phương diện nghệ thuật của một tác phẩm (ví dụ như làm rõ những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm hay đoạn trích truyện).Em đọc đề thi đại học thấy có dạng đề này nên hơi lo” (Phan Thảo Uyên)

“Ở bài văn NLVH về tác phẩm thơ, truyện, em có nhất thiết phải giới thiệu tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm hay không?” (Nguyễn Thị Yến)

Trang 20

“Đã gần đến những kì thi mang tính quyết định của cuộc đời minh, kiến thức văn học

và kiến thức xã hội xem như tích lũy gần đủ, Tuy nhiên, khi viết bài, em không có đủ thời gian để diễn đạt trọn vẹn ý của minh; thậm chí GV không hiểu em đang viết những gì” (Trần Thị Lan)

“GV trên lớp hướng dẫn cho bọn em kiến thức đọc-hiểu văn bản nghệ thuật rất kĩ lưỡng.Thế nhưng, mặc dù đã được học rất kĩ về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh nhưng khi

gặp dạng đề phân tích hoặc cảm nhận về nghệ thuật bài thơ này thì em lại chẳng biết viết gì.Cô giúp em với” (nhóm HS lớp 12A5)

Qua việc khảo sát những ý kiến trên, chúng ta rút ra kết luận chung là các em HS này chưa nắm được hoặc không có ý thức lập dàn ý khái quát của từng kiểu đề, loại đề Từ đó,

dẫn đến việc viết lan man, không đủ thời gian, mất điểm vì thiếu ý Đây cũng có thể coi là

một phần thiếu sót của PPDH làm văn hiện nay

VD: Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Từ đó nhận xét về giá trị nhân đạo của tác phẩm này

Một mở bài NLVH đạt yêu cầu phải hội đủ các ý sau:

+ Tác giả: Kim Lân là một cây bút truyện ngắn vững vàng, có sự hiểu biết sâu sắc về nông thôn

+ Hoàn cảnh sáng tác: Vợ nhặt có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết năm

1946, ngay sau khi CMT8 thành công nhưng còn dở dang và đã bị mất bản thảo Sau 1954, Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ, viết thành truyện ngắn này

+ Đánh giá sơ bộ về nội dung cần nghị luận:Trong truyện, tác giả xây dựng thành công nhân vật bà cụ Tứ - người mẹ nghèo khổ, có tấm lòng bao dung, nhân hậu Qua nhân

vật, người đọc thấy rõ giá trị nhân đạo của tác phẩm

Còn mở bài của NLXH thì cần nêu bật luận đề có trong đề bài.Đặc biệt kiểu nghị

luận về một tư tưởng, đạo lý ẩn trong một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu

Trang 21

chuyện, một văn bản ngắn thì không thể thiếu trích dẫn lại trong phần mở bài.Vì vậy, nhiều HS có cách vào đề rất hay, rất công phu nhưng lại không đạt điểm tối đa

Ví dụ: Nhà văn Đức F Sile có nói: “Tình yêu là niềm say mê làm cho người khác

hạnh phúc” Anh/chị nghĩ gì về ý kiến đó và về vai trò tình yêu trong cuộc sống con người?

Một HS đã có cách vào đề như sau:

“Có ai trên đời chưa một lần nếm “trái đắng” của tình yêu, dẫu là biết “yêu là chết trong lòng một ít” (Xuân Diệu)? Tình yêu-chỉ hai chữ đơn giản vậy mà đã làm hao tổn bao

giấy mực của những nhà văn, những thi sĩ, những triết gia từ xưa đến nay Nó đã trở thành đề tài muôn thưở của con người V Hugo đã khẳng định: “Tình yêu là bông hoa,

cuộc đời là mật ngọt” Vai trò của tình yêu lớn lao như vậy nhưng bản chất của nó là gì?”

Rõ ràng cách mở bài trên rất hay Qua mở bài, chúng ta có thể biết HS này có vốn

kiến thức văn chương phong phú, mang trong người tâm hồn và xúc cảm thơ văn Tuy nhiên phần mở bài này chỉ đạt 0.25/0.5 vì thiếu trích dẫn câu nói của F Sile

Một mở bài của NLXH-kiểu nghị luận về một tư tưởng, đạo lý ẩn trong một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ muốn đạt chuẩn thì phải có các ý mẫu sau:

+ Lời dẫn dắt, giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần bàn luận

+ Trích dẫn nguyên văn câu danh ngôn, câu ngạn ngữ

 Phần thân bài

Việc triển khai bài viết ở phần thân bài bằng cách nêu các luận điểm (ý lớn) và làm

rõ luận điểm bằng các luận cứ (ý nhỏ) cũng không thực hiện được đầy đủ.Đây là hạn chế

phổ biến nhất của HS.Thậm chí, đôi lúc, phần thân bài chưa giải quyết hết yêu cầu của đề văn

Chẳng hạn với đề NLVH trên: Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện

ngắn Vợ nhặt của Kim Lân Từ đó nhận xét về giá trị nhân đạo của tác phẩm này

Một HS đã viết phần thân bài như sau:

Bà cụ Tứ là người mẹ già nghèo khổ, bất hạnh nhưng cũng là một người mẹ giàu tình yêu thương.Tâm trạng tinh tế, phức tạp của bà cụ Tứ sau khi Tràng có vợ được Kim Lân miêu tả hết sức sinh động, khéo léo

Ngạc nhiên là tâm trạng đầu tiên.Với bà, việc Tràng dẫn người đàn bà về nhà là một

việc bất thường, khác lạ, gây ra sự ngỡ ngàng, đẩy bà vào thế bị động.Tràng lấy vợ là một

việc trọng đại, bà ngạc nhiên bởi sự thay đổi lớn trong gia đình.Tác giả đã diễn tả sự ngạc nhiên của bà cụ qua một loạt những câu hỏi mà bà tự đặt ra cho mình.Bao nhiêu câu hỏi là

Trang 22

bấy nhiêu nghi ngờ, lạ lẫm.“Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế

nhỉ?”.Hình như bà cũng chẳng biết nên vui hay nên buồn, nên cười hay nên khóc Nỗi khổ

sở, sự nghèo đói đã thắm quá sâu vào tâm can bà Bà cảm thấy có tội với con, những câu bà

tự nhủ giống như lời tự thú đau đớn của con người

Sau khi hiểu ra cớ sự, khi có thời gian ngẫm về cuộc đời mình, bà mới khóc Giọt nước mắt rỉ xuống trong kẽ mắt kèm nhèm là giọt nước mắt tủi thân, tủi phận khi bà ý thức sâu sắc về cuộc đời tủi khổ của mình Bà quay lại nhìn người đàn bà con mình lấy làm vợ,

từ tình thương cho con trai bà chuyển sang cho con dâu Bà hiểu rằng không gặp lúc đói khát thê thảm thì người ta không theo con trai mình về, thì nó chẳng lấy nổi vợ Đó là sự

gặp gỡ, đồng cảm trong tâm hồn những người phụ nữ bất hạnh Bà không chỉ ý thức được

nỗi khổ của đời mình, của con mình mà còn biết cảm thông với nỗi khổ của người đàn bà

tội nghiệp kia Đến đây bà thương cho con trai thì ít mà tội cho con dâu thì nhiều “chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá” Và rồi tất cả tình thương yêu, nỗi lo lắng, sự xót xa

buồn tủi khiến bà lão “nghẹn lời”, “nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”.Tình cảm mà bà dành cho nàng dâu mới được thể hiện qua cử chỉ, thái độ và những lời nói rất đỗi cảm động.Bà “nhẹ nhàng”, “từ tốn”, “thân mật”nói với nàng dâu về hoàn cảnh gia đình mình

Rồi cả những lời dặn dò cũng rất mực tình người “vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn” Và cũng chính bà chủ động gieo vào lòng các con một niềm vui, niềm tin ở cuộc

sống tương lai “rồi may ông giời cho khá”

Cuối cùng, bà chấp nhận chuyện Tràng lấy vợ trong sự mừng vui, hạnh phúc.Sáng hôm sau, người đọc phát hiện ra niềm vui sướng ấy được biểu hiện ra từ nét mặt, cử chỉ đến lời nói Bà vẽ ra viễn cảnh tương lai cho các con: ngăn nhà, thu dọn nhà cửa, chủ động nói chuyện vui, đãi món chè khoán

Chúng ta sẽ triển khai ý của phần thân bài dựa vào bài viết trên của HS như sau: Tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ:

+ Trước hết, bà rất ngạc nhiên khi thấy con trai mình lấy được vợ

+ Khi đã hiểu ra, tâm trạng của bà vừa mừng vừa tủi, xót thương cho số kiếp của mình và con trai mình

+ Bà chấp nhận người con dâu mới với thái độ cảm thông, đầy bao dung và thương yêu + Bà lo lắng cho hai con

+ Bà luôn an ủi, động viên vợ chồng Tràng hướng tới một tương lai tươi sáng

Trang 23

Nếu nhìn vào các ý trên, thì bài viết HS thiếu một số luận điểm quan trọng .Mặc dù

đề văn yêu cầu nghị luận về mặt nội dung (diễn biến tâm lí của nhân vật) nhưng phần nghệ thuật xây dựng những diễn biến tâm lí đó HS cũng cần phải đề cập sơ qua Đó là nghệ thuật độc thoại nội tâm và ngôn ngữ đối thoại tinh tế Ngoài ra, ở bài viết này HS triển khai thiếu yêu cầu nghị luận của đề bài: giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện gián tiếp qua việc miêu tả diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ Đó chính là, dù đã gần đất xa trời, dù đã già nua nhưng niềm tin, khát vọng sống vẫn được thắp sáng trong tâm hồn của bà cụ Tứ Đến đây, chúng ta nhận ra dụng ý nghệ thuật sâu sắc của Kim Lân: Triết lý tình thương vượt lên mọi

khổ đau

 Phần kết bài

Các em chưa biết cách nêu nhận định, đánh giá chung trong phần kết bài Do đó, cũng chưa mở ra được hướng suy nghĩ mới sau khi nghị luận

Các ý mẫu cần có ở phầnkết bài của đề NLVH trên là:

+ Đánh giá: Là hình ảnh tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam nghèo khổ giàu lòng

Trong thực tế, khi chấm bài viết của HS với chính đề văn này, đa phần HS đều thiếu

ý đánh giá hoặc ý khẳng định-vốn thể hiện mối liên hệ giữa hai vấn đề nghị luận (tâm lý bà

cụ Tứ và giá trị nhân đạo)

1.2.3 Nguyên nhân d ẫn đến những hạn chế

- Các em chưa coi trọng bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa có thái độ đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chưa chịu khó tìm hiểu để mở mang kiến thức

- Thiếu năng lực phân tích cần thiết; chưa thấy được cái hay, cái đẹp trong văn chương

do không tập trung trong các tiết đọc-hiểu văn bản Khi nhận đề, chỉ đọc loáng thoáng rồi nhanh tay viết ngay Vì vậy, bài viết chỉ diễn xuôi, thiếu chính xác, không sâu sắc; các ý

lộn xộn, không theo trình tự

Trang 24

- GV chưa đảm bảo thực hiện dạy tích hợp các tiết đọc-hiểu, tiết lý luận văn học với

tiết dạy thực hành-lý thuyết làm văn Dạy học tích hợp có điều kiện giảm được thời gian

học; giúp HS vừa ghi nhớ kiến thức vừa thực hành được các kỹ năng PGS Đỗ Ngọc

Thống cho rằng cần phải vận dụng quan điểm liên môn trong dạy và học làm văn bản NLVH Việc rèn luyện các kỹ năng làm văn không thể “khoán trắng” cho phân môn làm văn

Khi học đọc-hiểu văn bản, HS sẽ được tiếp xúc với đặc trưng loại thể của văn bản

Ta có ba loại: Tự sự, trữ tình, kịch và từng loại sẽ có từng thể nhỏ.Chính việc đọc-hiểu đã giúp HS thực hành các thao tác phân tích một nhân vật tự sự hoặc cảm nhận, bình giảng

một bài thơ

Mọi người đều biết các đề thi HS Giỏi, đề thi Olimpic luôn đòi hỏi HS cần phải được trang bị đầy đủ các kiến thức lý luận văn học, nắm chắc các đặc điểm của từng dạng

loại thể Tuy nhiên, phần này chưa được chú trọng nhiều Chính vì vậy, cũng tại Hội thảo

về chương trình và SGK môn Ngữ văn sau năm 2015, GV Ngô Thanh Hải (Bắc Giang) bày

tỏ: “Nên đưa những văn bản nhật dụng, thuyết minh, nghị luận, phê bình, lịch sử nhưng

c ần chọn lọc văn bản tiêu biểu nhất và đưa với một số lượng vừa phải; cần viết thêm một

s ố tri thức về hoàn cảnh sáng tác, trào lưu văn học, hay những khái niệm lý luận văn học công c ụ về thể loại, về các yếu tố nội dung và hình thức tác phẩm”

Như vậy, các loại kiến thức trong bộ môn Ngữ văn có mối liên hệ mật thiết với nhau.Theo PGS.Đỗ Ngọc Thống, trong giờ đọc-hiểu nên dành khoảng 5 phút nhắc HS cách phân tích, cảm nhận một tác phẩm văn chương cùng với việc nêu hoặc ghi bảng phụ một dàn ý cơ bản khi phân tích văn học.Nếu có dư thời gian, GV sẽ hướng dẫn HS một dàn ý chi tiết hơn để HS tự ghivào trong vở Mặt khác, trong giờ làm văn, GV sẽ phải sử dụng

những tác phẩm cụ thể để minh họa cho lý thuyết và thực hành khai thác

Với đề văn: Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được biểu hiện qua nhân vật Dít (truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành) và nhân vật Chiến (truyện

ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi)- (đoạn trích trong SGK lớp 12)

HS cần phải huy động tích hợp kiến thức đọc-hiểu của hai tác phẩm Rừng xà nu và

Những đứa con trong gia đình với khái niệm lý luậnvề chủ nghĩa anh hùng cách mạng và

một dàn ý cơ bản của kiểu đề phân tích nhân vậttự sự gồm:

• Xuất thân

• Ngoại hình

Trang 25

 Kiến thức lý luận văn học:

Đó là một nguyên lí đạo đức, một nguyên lí tinh thần chi phối cuộc sống con người

và được biểu hiện nổi bật trong những thử thách lớn lao, khắc nghiệt của dân tộc

Mỗi cá nhân khác nhau nhưng đều là những người con của thời đại với tinh thần bất khuất, hành động dũng cảm, một lòng một dạ bảo vệ cách mạng

 Kiến thức đọc-hiểu và các ý mẫu của kiểu đề phân tích nhân vật tự sự:

Dít có vẻ đẹp dịu dàng nhưng đầy bản lĩnh:

+ Ngoại hình: duyên dáng (là bản sao của Mai, mũi thẳng và nhỏ, lông mày đậm,

m ắt mở to, bình thản, trong suốt)

+ Cử chỉ:kín đáo (khi ngồi hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả

gót chân)

+ Hành động: nhanh nhẹn, lanh lợi (khi giặc vây làng, không ai lọt ra được khỏi

làng, ch ỉ có Dít mới sẩm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra rừng để tiếp tế cho cụ Mết

và thanh niên)

+ Tính cách:kiên cường, mạnh mẽ; biết nén đau thương, nén cảm xúc (khi Mai chết

c ả làng đều khóc kể cả cụ Mết, riêng Dít mắt ráo khoảnh không khóc); biết đặt tinh thần trách nhi ệm trên tình cảm (lạnh lùng hỏi giấy Tnú khi về thăm làng)

+ Cách cư xử:giàu tình cảm, yêu thương dân làng (chia muối đều cho mỗi bếp trong

làng)

+ Lối sống:chân thành trong tình cảm (Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi)

Nhân vật Chiến lại mang vẻ đẹp nữ tính (bao giờ trong túi đồ cũng có chiếc gương, cây lược), đảm đang, tháo vát của người phụ nữ Nam Bộ

+ Dáng hình:kh ỏe mạnh (thân người to và chắc nịch, bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy n ắng)

Trang 26

+ Nói năng:rành rọt đâu ra đấy như in má vậy

+ Tính cách:kiên trì (th ức cả trưa đánh vần đọc cho kì hết cuốn sổ gia đình để hiểu

h ết truyền thống, ghi sâu mối thù), chu đáo, lo lắng từ việc lớn (nhà cửa, ruộng đất) đến

vi ệc nhỏ (nồi niêu chén bát); từ việc người còn sống (chị Hai, thằng út em) đến việc người

đã chết (gởi bàn thờ, tiền giỗ ba má)

+ Mối quan hệ:yêu cha mẹ (không quên bàn thờ, không quên ngày giỗ ba má, làm

vi ệc gì cũng lựa y má mà làm), với chị Hai ( đồ đạc trong nhà để chị Hai mang đi), chăm sóc, nhường nhịn Việt và thằng Út em)

+Nhận xét của nhân vật khác: Chú Năm phải khen ngợi

+ Hành động:kiên cường, mạnh mẽ (giành đi bộ đội với Việt, hăng hái tình nguyện ra

đi với quyết tâm cao, cùng với Việt bắn thằng Mỉ trên sông Định Thủy)

Với hai tác phẩm này, chủ nghĩa anh hùng vừa được thể hiện hồn nhiên, trong sáng qua nhân vật Chiến vừa mang đậm chất sử thi hào hùng Tây Nguyên qua nhân vật Dít

- Giờ làm văn HS chưa được học đến nơi đến chốn GV chưa có ý thức nên giúp HS

tạo ra được một số ý cơ bản đã rồi mới tính đến chuyện viết văn sao cho hay Ngoài ra, việc xác định các phương pháp để dùng cho phân môn này cũng chưa chính xác Có GV lại

chọn phương pháp giảng bình (vốn dành cho văn học) trong tiết dạy tri thức lý thuyết về

kiểu bài thậm chí cả trong thực hành làm văn GV chưa có điều kiện để tìm ra nét khác biệt

cơ bản giữa nghị luận về một bài thơ/đoạn thơ với nghị luận về một tác phẩm/một đoạn trích văn xuôi để từ đó có thể hình thành những ý cơ bản cho HS khi làm một bài cụ thể theo đặc trưng loại thể

- GV chưa hướng dẫn HS biết cách ghi nhớ kiến thức theo hệ thống và biết huy động

kiến thức có hiệu quả vào bài làm văn Chúng ta đều biết, mỗi giờ đọc-hiểu về tác phẩm, về văn học sử, về lý luận văn học đều cung cấp cho HS những đơn vị kiến thức cụ thể nhưng khi làm một bài văn nghị luận thì đòi hỏi các em phải huy động kiến thức từ nhiều giờ học khác nhau mới đáp ứng được yêu cầu của một bài làm văn (đặc biệt là NLVH) Do đó, nếu

kiến thức tiếp thu không được hệ thống hóa thì cho dù HS có đọc nhiều, học nhiều nhưng lúc huy động vào bài viết thì vẫn không đảm bảo đầy đủ.Bài Khái quát văn học Việt Nam

từ CMT8 năm 1945 đến hết thế kỉ XX (Ngữ văn 12-tập 1) thuộc mảng kiến thức văn học

sử, khái quát cả một thời kì văn học Vì vậy, nội dung kiến thức rất phong phú, phạm vi bao quát rộng Trong bài học lại có nhiều nhận định văn học sử mang tính khái quát cao

Thế nhưng, các tri thức đọc-hiểu về bài văn học sử này sẽ chỉ gồm các ý cơ bản sau:

Trang 27

• Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa từ năm 1945 đến năm 1975; từ năm 1975 đến hết

thế kỉ XX

• Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam

• Những thành tựu nổi bật về nội dung và nghệ thuật

• Đánh giá khái quát

Nếu GV biết cách hệ thống hóa tri thức thành những ý cơ bản như trên dưới nhiều hình thức như:mô hình, sơ dồ, phiếu học tập thì HS sẽ dễ dàng ghi nhớ và áp dụng linh

hoạt, triển khai chi tiết một cách sáng tạo vàođề văn sau: Chủ nghĩa yêu nước-một trong hai nguồn cảm hứng lớn nhất của văn học dân tộc trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-

Chuyển sang phần thân bài, tương tự như cách triển khai phần mở bài như trên,

những ý chung về đặc điểm cơ bản, về thành tựu nổi bật về nội dung lẫn nghệ thuậtsẽ tạo điều kiện cho HS triển khai đầy đủ các ý Bên cạnh đó, nếu biết cách sử dụng các thao tác

lập luận, bài viết có sự phối hợp đầy đủ kiến thức cùng với việc sử dụng các yêu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm thì chắc chắn HS sẻ đạt điểm tốt với đề văn này:

Như chúng ta đều biết chủ nghĩa yêu nước là một trong hai đặc điểm cơ bản của văn

học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 cùng với chủ nghĩa nhân đạo

Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là một bức tranh toàn cảnh, chân thực, sinh động và xúc động về cuộc kháng chiến và những con người kháng chiến:

Cháu n ằm trên lúa, Tay n ắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa

H ồn bay giữa đồng

(Lượm) Chính Hữu lại đi sâu diễn tả mối tình đồng chí, đồng độiquan hệ tình cảm rất tốt đẹp

và rất mới:

Trang 28

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo

Ngọc, đó là cuộc nổi dậy của dân làng Xôman và của cả Tây Nguyên bất khuất, anh hùng

Và Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu) đều nói lên tinh thần bất khuất của nhân dân ta

Tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước giai đoạn này nổi lên hai bài thơ Sao chiến thắng (Chế Lan Viên) và Cuộc chia ly màu đỏ (Nguyễn Mĩ)

Ôi T ổ quốc ta yêu như máu thịt!

Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Ôi T ổ quốc nếu cần ta chết Cho m ỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông

(Chế Lan Viên) Trong văn học sử luôn tồn tại những nhận định, đánh giámang tính khái quát cao

HS có thể lấy những ý chi tiết trong SGK để làm phần kết bài cho đề văn này Có thể triển khai kết bài như sau: Chủ nghĩa yêu nước là một trong hai nguồn cảm hứng lớn nhất của văn học dân tộc Nếu không có chủ nghĩa yêu nước thì Đảng ta, nhân dân ta không thể làm nên hai cuộc chiến thắng kì vĩ: Điện Biên Phủ năm 1954 và đại thắng mùa xuân năm 1975

Chủ nghĩa yêu nước sẽ mãi mãi tồn tại, bất diệt và được tiếp nối nâng cao qua suốt mọi thế

hệ

1.2.4 Tình hình l ập dàn ý của học sinh

- Lạc ý là lỗi thường gặp nhất Lúc này, luận đề yêu cầu định hướng này nhưng luận điểm hoặc luận cứ lại không triển khai theo định hướng đó; hay đang theo mạch ý này lại đột nhiên chuyển sang mạch ý khác

Trang 29

- Thiếu ý là lỗi thường gặp khi luận đề nêu một phạm vi bàn bạc rộng nhưng các luận điểm, luận cứ được triển khai chỉ mới trình bày một vài nội dung nhỏ nên chưa lấp đầy ý cho nội dung của luận đề

- Loãng ý là lỗi thường gặp trong những luận điểm có chứa nhiều luận cứ không làm

rõ trực tiếp cho luận điểm; mà đó chỉ là các ý nhỏ cách xa nhau về nghỉa, khó quy về một

hạt nhân nghĩa chung thống nhất Chính vì nhiều luận cứ nên nội dung của luận điểm bị dàn trải và loãng ra

- Lặp ý là lỗi có những luận điểm hoặccó những luận cứ trùng nhau trong một luận điểm khiến cho nội dung luận đề hay luận điểm không phát triển được, các ý trở nên vòng

vo, quẩn quanh

- Mâu thuẫn ý là lỗi có những ý không phù hợp nhau, đối lập nhau trong quá trình triển khai; ý trên mâu thuẫn với ý dưới

Muốn điều tra được tình hình lập dàn ý của HS, chúng ta phải tiến hành khảo sát thực nghiệm điều tra (TNĐT) bằng những cách sau:

Cách 1: GV sẽ thử cho một đề văn để HS tự mình lập dàn ý Thời gian cho phép tùy thuộc vào đề văn đơn giản hay phức tạp nhưng tối đa cũng chỉ 30 phút thôi Trong lúc HS

lập dàn ý, GV sẽ không nêu ra bất cứ gợi ý nào để kết quả đánh giá mang tính khách quan,

có độ chính xác cao

Đề văn: Trong bài cảm nghĩ về truyện Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài viết:“Nhưng điều kì

diệu là dẫu trong cùng cực đến thế mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người Lay lắt đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt”.(Tác

phẩm văn học 1930-1975, tập hai, NXB Khoa học xã hội, 1990, trang 71) Phân tích nhân

vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A phủ (đoạn trích được học) của Tô Hoài để làm sáng

Trang 30

Thân bài:

- Luận điểm 1: phẩm chất

• Luận cứ 1: chăm chỉ làm việc; yêu tự do, ý thức được quyền sống của mình

• Luận cứ 2: giàu lòng vị tha, đức hi sinh

• Luận cứ: trong ngày hội xuân ở Hồng Ngài:

+ Khi nghe ti ếng sáo gọi bạn tình: vui sướng, muốn và chuẩn bị đi chơi

+ Khi b ị trói: tâm hồn vẫn dõi theo những đám chơi nên vùng bước nhưng không được,

nh ận thức rõ hơn về thân phận của mình không bằng con ngựa

+ Khi t ỉnh dậy: lo sợ, lại sợ chết, vẫn khát khao sống

• Luận cứ: trong đêm cứu A Phủ

- Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật tinh tế, bút pháp hiện thực sắc sảo

- Mị chính là nhân vật điển hình sinh động cho sức sống tiềm tàng, sức vươn lên mạnh

mẽ của con người từ trong hoàn cảnh tăm tối hướng tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do

 Dàn ýkhông đạt yêu cầu

Bài làm

Tô Hoài là nhà văn hiện đại xuất sắc.Ông thành công trên nhiều thể loại, nhiều đề tài, trong đó đặc biệt là đề tài miền núi Hiện thực cuộc sống và con người miền núi hiện lên trong tác phẩm của ông sinh động và chân thực Tác phẩm của Tô Hoài giàu chất sống

Trang 31

Vợ chồng A Phủ là tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài về đề tài này.Tác phẩm là kết quả

của chuyến đi thâm nhập thực té và quá trình chuyển biến tư tưởng của nhà văn

Từ một cô gái xinh đẹp, hồn nhiên, hiếu thảo Mị bị bắt làm dâu gạt nợ cho nhà

thống lí Pá Tra.Từ khổ đau đến chịu đựng vì bị đày đọa về thể xác và áp chế về tinh thần,

Mị mất ý thức về sự sống, thậm chí không còn nghĩ đến cái chết nữa

Bước chuyển đầu tiên thể hiện sự trỗi dậy của Mị là lòng ham sống, là sự ý thức trở

lại về sự sống, về thời gian, về những khát vọng tinh thần (lòng rạo rực khi xuân về, khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình, )

Hành động cuối cùng khi Mị cởi trói cho A Phủ là hành động có ý nghĩa trong bước ngoặt của đời cô để cứu người và cứu mình, tự giải phóng khỏi vòng nô lệ

Ngôn ngữ và lời văn rất giàu tính tạo hình và gợi cảm.Truyện cũng thể hiện tài năng

sắc sảo của Tô Hoài trong việc trần thuật, xây dựng đối thoại và miêu tả nội tâm nhân vật

Nh ận xét: Đây không phải là một dàn ý mà là những đoạn văn tương đối hoàn chỉnh

mặc dù HS này viết khá hay Có thể xem đây là một bài viết rồi không còn là những ý phác

thảo ban đầu nữa

 Dàn ýtương đối đạt yêu cầu

Bài làm 1

I Mở bài

Luận đề:

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn đậm chất thơ Truyện cũng thể

hiện tài năng của Tô Hoài trong việc trần thuật, xây dựng đồi thoại và miêu tả nội tâm nhân

vật

- Nhân vật Mị đã chứng minh cho lời viết của chính nhà văn:

+ Hồn nhiên, yêu đời

+ Khổ đau, vất vả

+ Có sức sống mạnh mẽ

+ Có sự quyết liệt trong hành động cởi trói và chạy trốn theo A Phủ

II Thân bài

- Ta phân tích nhân vật Mị chủ yếu trong hai giai đoạn có sự chuyển biến tâm lí:

+ Lúc trong giai đoạn những đêm tình mùa xuân

+ Lúc c ởi trói cho A Phủ

Trang 32

- M ị thực sự đã sống dậy với tuổi trẻ và tình yêu nhờ men say của rượu và tiếng sáo réo r ắt gọi bạn tình

- M ị không có cảm xúc gì khi nhìn thấy cảnh A Phủ bị trói

+ “th ản nhiên thổi lửa, hơ tay”

- Quy ết định cắt dây trói và đuổi kịp A Phủ

Nh ận xét: Dàn bài trên tuy chưa hoàn chỉnh dựa theo tiêu chí của dàn ý chuẩn Tuy

nhiên, qua việc lập dàn ýnày, đã chứng tỏ HS này hiểu đề, nắm được tri thức đọc-hiểu và cách triển khai một dàn ý chi tiết cho đề văn

Bài làm 2

I Mở bài:

- Hoàn cảnh sáng tác: Truyện Vợ chồng A Phủ in chung trong tập Truyện Tây Bắc

- Nội dung: Truyện đặt ra số phận về con người-những con người dưới đáy xã hội

II Thân bài:

- Cuộc sống

+ Cô gái xinh đẹp, hồn nhiên, yêu đời, có tài thổi sáo

+ Người phụ nữ lầm lũi, cam chịu

- Tâm trạng

+ Trong đêm tình mùa xuân

III Kết bài

- Mị là hình tượng tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám

- Truyện Vợ chồng A Phủ là một trong những truyện giải quyết khá sớm vấn đề số phận của con người trong xã hội cũ

Nh ận xét: Dàn bài trên nếu được sử chữa một vài chỗ thì sẽ đạt yêu cầu dựa theo tiêu

chí dàn ý chuẩn Tuy nhiên, nhìn chung dàn bài này được xem là tốt HS lập được dàn ýnày

đã nắm chắc kỹ năng lập dàn ý mẫu cũng như tri thức văn chương

B ảng 1.1.Thống kê các loại lỗi về lập dàn ý NLVH trong thực nghiệm điểu tra

Trang 33

94 2 69 4 15 3 1

Cách 2: Ra một đề bài nghị luận để cho HS viết một bài văn hoàn chỉnh Từ bài viết

cụ thể của HS, chúng ta sẽ dựng lại dàn ý từ đó sẽ đánh giá khả năng lập dàn ý Cũng cần

lưu ý, ta chỉ đánh giá khả năng lập dàn ý chứ không phải toàn bài văn của các em

Đề bài: Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề bạo lực học đường hiện nay

Bài làm 1

Hiện tượng bạo lực giữa học sinh với nhau đã xuất hiện từ nhiều năm với những mức

độ khác nhau, nhưng chưa bao giờ xuất hiện nhiều như hiện nay, gây bức xúc trong dư

luận

Bạo lực là dùng sức mạnh để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống.Vấn đề bạo

lực học đường có nhiều biểu hiện với mức độ khác nhau.Học sinh đánh nhau không chỉ

nhất thời nóng giận và không chỉ giữa hai cá nhân mà có tổ chức, có băng nhóm Việc đánh nhau không chỉ ở nam sinh mà nữ sinh cũng đánh nhau rất tàn bạo: đánh hội đồng, đánh nhau có chủ đích, lột quần áo hạ nhục nhau Điều đáng lo sợ là sự thờ ơ, vô cảm của những

học sinh khác khi trực tiếp chứng kiến cảnh hành hạ trên; thậm chí còn cổ vũ, reo hò hay quay phim để tung lên mạng Vì vậy, cần phải có những biện pháp khắc phục, có sự phối

hợp giữa gia đình, nhà trường

Là học sinh phải biết nói không với bạo lực; sống thân thiện hòa nhã với bạn bè;

mạnh dạn lên tiếng và tích cực ngăn chặn khi có đánh nhau

họ phải sống hồn nhiên, vui vẻ Tại Việt Nam, số liệu được Bộ giáo dục và đào tạo đưa ra

gần đây nhất, toàn quốc xảy ra gần 1600 vụ học sinh đánh nhau; cứ khoảng trên 5200 học sinh thì có một vụ đánh nhau, cứ hơn 11000 học sinh thì có một học sinh bị đuổi học vì đánh nhau Vây nguyên nhân nào dẫn dến tình trạng này?Yếu tố đầu tiên là môi trường học đường hiện nay đang nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người.Yếu tố gia đình cũng rất quan

trọng Nếu sống trong gia đình cha mẹ hay lục đục, đánh chửi nhau, thì con cái cũng dễ bị ảnh hưởng Hậu quả sau mỗi lần đánh nhau là một tình bạn đẹp, niềm tin đều không dễ

Trang 34

dàng lấy lại được.Nặng hơn là gây thương tích nghiêm trọng dẫn đến mất mạng, như vậy

lại thêm dính dáng pháp luật.Vì vậy, ta phải trang bị những biện pháp phòng tránh bạo lực Hãy cùng nhau chung sức xây dựng một xã hội không còn bạo lực Đừng đứng yên, hãy nhờ thầy cô giải quyết hoặc bình tĩnh phân tích đúng sai nếu biết có đánh nhau; hãy làm bằng tất cả tình thương và trách nhiệm của tình bè bạn

 Dựng lại dàn ý dựa trên bài viết của chính học sinh

Dàn ý của bài làm 1

I Mở bài

Giới thiệu vấn đề nghị luận: hiện tượng bạo lực học đường

II Thân bài

Giới thiệu bạo lực học đường đang ngày càng nghiêm trọng

II Thân bài

Trang 35

T ự trang bị những cách thức phòng tránh

III Kết bài

Lời kêu gọi chung sức ngăn chặn nạn bạo lực học đường

Nh ận xét: So sánh hai dàn ý trên, chúng ta nhận thấy cả hai dàn ý đều chứng tỏ

những HS này cơ bản hiểu được luận đề, việc triển khai các luận điểm và luận cứ cũng khá

tốt Tuy nhiên, qua dàn ý, chúng ta nhân ra bài làm 2 đầy đủ ý hơn bài làm 1.Điều đó

chứng tỏ em thứ 2 nắm chắc các ý cơ bàn cần có của một đề văn nghị luận về một hiện tượng xã hội Dựa trên các ý cơ bản, biết kết hợp những tin tức đại chúng về sự việc, có lời phân tích khéo léo, bài làm 2 đạt 2.5/ 3 điểm

B ảng 1.2.Thống kê các loại lỗi về lập dàn ý NLXH trong thực nghiệm điều tra

K ết luận: Qua thực tế khảo sát, chúng ta đã đi đến một kết luận: HS phải nắm được

một dàn ý cơ bản, biết cách áp dụng linh hoạt, sáng tạo vào từng dạng đề khác nhau của cùng một kiểu đề thì sẽ triển khai được một bài viết tương đối hoàn chỉnh Dựa vào bảng

khảo sát các lỗi về ý mà HS thường xuyên mắc phải thì lỗi nặng nhất là thiếu ý và lặp ý

Bởi vì, đa số GV và HS đều không ý thức được tầm quan trọng của dàn ý mẫu

Trang 36

C HƯƠNG 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP DÀN Ý MẪU CHO ĐỀ

VĂN NGHỊ LUẬN

2.1 Văn nghị luận và các đề văn nghị luận trong nhà trường phổ thông

2.1.1 Quan ni ệm về kiểu bài văn nghị luận

Chúng ta đều biết kiểu bài văn nghị luận là kiểu bài quen thuộc mà HS đã được làm quen ngay từ lớp 7 ở THCS Đây cũng là kiểu bài có lịch sử lâu đời trong nhà trường Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa:Nghị luận (động từ): bàn và đánh giá cho rõ về

một vấn đề nào đó Vấn đề (danh từ): điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết một vấn đề

Sách Ngữ văn 10 (sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000) định nghĩa như sau: văn nghị

luận chủ yếu nhằm trình bày các ý kiến, các lý lẽ để giải thích, chứng minh, biện luận, thuyết phục về một vấn đề gì đó Nó nhằm tác động vào trí tuệ, lý trí của người đọc nhiều hơn vào cảm xúc, tình cảm hay tưởng tượng.Nó là sản phẩm của tư duy logic

2.1.2 Phân lo ại các đề văn nghị luận

Để giúp HS rèn luyện kỹ năng một cách có hiệu quả, chúng ta cần phải hệ thống hóa các đề văn nghị luận.để HS có một cái nhìn tổng quát

Trước đây, người ta phân loại các kiểu bài dựa vào thao tác lập luận.Ở các đề văn,

trước đây, thường yêu cầu về thao tác nghị luận như: chứng minh, giải thích, bình luận, phân tích Chẳng hạn như:Nghị luận văn học gồm: chứng minh một ý kiến văn học, phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự, phân tích tâm trạng trong thơ trữ tình, bình giảng văn

học, bình luận văn học.Nghị luận xã hội gồm: giải thích, chứng minh một câu tục ngữ, bình

luận xã hội

Trong dạy học làm văn, GV thường ra đề văn hạn định bao giờ cũng có một phạm vi

vấn đề, tri thức và một yêu cầu dưới hình thức mệnh lệnh Ví dụ các đề văn sau:

- Bình giảng khổ thơ thứ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

- Phân tích nghệ thuật chính luận đặc sắc của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập

Mỗi đề có một đối tượng xác định và một mệnh lệnh yêu cầu HS thực hiện trong bài làm văn Đặc điểm của đề văn này là hướng dẫn HS suy nghĩ và viết về một vấn đề cụ thể,

vận dụng một số thao tác, huy động một phạm vi kiến thức nhất định GV có thể quy định

Trang 37

một đáp án để dùng cho tất cả HS cùng làm một đề Nhược điểm của nó là tính chất bắt

buộc, gó bó, khả năng lựa chọn dành cho HS ít

Tuy nhiên, theo cá nhân người viết, để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, HS thực chất

cần vận dụng nhiều thao tác nghị luận khác nhau, không cứng nhắc chỉ có một thao tác nào đó-thậm chí đó là thao tác đề bài yêu cầu sử dụng Dĩ nhiên, sẽ tùy theo nội dung nghị luận

mà sử dụng một số thao tác nghị luận chủ đạo Chúng ta đều biết: ý thuộc về nội dung nghị

luận Vì thế, khi xây dựng dàn ý mẫu cho một đề văn, chúng ta nên căn cứ vào nội dung

vấn đề cần nghị luận

Hiện nay, đề văn nghị luận đã được cải tiến theo khuynh hướng mở Đó là loại đề chỉ nêu nội dung nghị luận, không nêu mệnh lệnh gì về thao tác lập luận như: hãy chứng minh, phân tích hoặc giải thích Đặc điểm của đề mở là tạo nhiều khả năng cho HS lựa chọn, khiến các em có điều kiện tự do trong việc lựa chọn vấn đề và lựa chọn cách giải quyết vấn

đề của mình Chẳng hạn như:

Mùa hè này, những học trò nghèo của làng chài bãi ngang xã Phổ Châu, huyện Đức

Phổ, tỉnh Quãng Ngãi, ngày nào cũng xuống biển bắt cua, sò ốc để kiếm vài ngàn ít ỏi nuôi ước mơ đến trường Từng giọt mồ hôi “non nớt” sớm rơi trên gành đá, hòa vào lòng

biển vì ước mong có bộ sách, cái cặp cho năm học mới Đồng hành với khát khao của con trẻ, những người mẹ nghèo của vùng đất này cũng nói với con: “Ăn khổ mấy má cũng

chịu, miễn con có sách vở, quần áo mới tới trường là má vui rồi!”

(Theo báo Thanh niên ngày 18-6-2013, Ôm ước mơ đi về phía biển)

Hãy viết bài văn ngắn (khoảng 1 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em được gợi

ra từ câu chuyện trên

Đây là dạng đề mở nên HS có quyền lựa chọn các vấn đề khác nhau để nghị luận nhưng vẫn phải gắn với văn bản đề bài đã cho, Các em có thể bàn bạc một trong những vấn

đề sau:

• Tinh thần hiếu học

• HS nghèo vượt khó

• Ý chí vươn lên thực hiện ước mơ học tập

• Tình cảm yêu thương, lo lắng, hi sinh của cha mẹ đối với việc học của con cái

SGK Ngữ văn hiện hành căn cứ vào đối tượng nghị luận để phân chia thành:

a Nghị luận xã hội gồm:

Trang 38

- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý

- Nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

b Nghị luận văn học gồm:

- Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

- Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi

- Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Tìm hiểu sâu hơn về đề văn nghị luận, PGS Đỗ Ngọc Thống cho rằng: đề văn sẽ

được phân chia rõ ràng hơn theo 3 cấp độ: loại > kiểu > dạng

Cấp độ 1: Loại đề nghị luận-là cấp độ lớn nhất, tập trung một loại đề nghị luận có chung một đặc trưng nào đó để phân biệt với loại khác

VD: Loại đề NLVH và loại đề NLXH

Cấp độ 2: Kiểu đề nghị luận-là cấp độ nhỏ hơn loại, là toàn bộ những đặc trưng của

một tiểu loại đề nhằm phân biệt với các tiểu loại đề khác

VD: Trong loại NLXH có các kiểu đề sau:

- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý

- Nghị luận về một hiện tượng cuộc sống

- Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

Trong loại NLVH có các kiểu đề sau:

- Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

- Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi

- Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Cấp độ 3: Dạng đề nghị luận-là những hình thức tồn tại cụ thể khác nhau của từng đề văn nghị luận cụ thể

Kiểu đề này gồm các dạng sau:

a Dạng đề tư tưởng, đạo lý được nói tới một cách trực tiếp

Đề bài: Suy nghĩ của anh/chị về lòng tự trọng

Dàn ý mẫu

I Mở bài

Giới thiệu luận đề nghị luận

Trang 39

II Thân bài

- Giải thích

Coi tr ọng tư cách vá giá trị bản thân

- Phân tích

Là cơ sở tạo nên những đức tính khác

• Là c ốt lõi đạo đức của con người

b Dạng đề tư tưởng, đạo lý được nói tới một cách gián tiếp

Đề bài: Anh/chị suy nghĩ về bài học sau: “Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người.” (Raxun Gamzatov)

Dàn ý mẫu

I Mở bài

- Giới thiệu luận đề nghị luận

- Trích câu nói của Raxun Gamzatov

II Thân bài

- Giải thích

“Quê hương” là nơi chôn nhau cắt rốn

Con người và quê hương có mối quan hệ mật thiết

- Phân tích và chứng minh

Con người có thể rời xa quê hương mình vì:

Trang 40

Đánh giá chung luận đề

Kiểu đề này gồm các dạng sau:

a Dạng đề nói đến những vấn đề có tính chất thời sự (quốc tế, quốc gia và địa phương)

Đề bài: Bạn nghĩ gì về sự gia tăng dân số ở nước ta?

Dàn ý mẫu

I Mở bài

Giới thiệu luận đề nghị luận

II Thân bài

- Giải thích

• Là s ự tăng lên của số dân

• Nguyên nhân:

+ Không k ế hoạch hóa gia đình

+ Sinh con ngoài ý mu ốn

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Nguy ễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2007),Phương pháp dạy học tiếng Việt , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. B ộ giáo dục và đào tạo (2001), Làm văn , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: B ộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo d ục
Năm: 2001
3. B ộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài li ệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa l ớp 10 Trung học Phổ thông – Ngữ văn (nâng cao) , Nxb Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10 Trung học Phổ thông – Ngữ văn (nâng cao)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
4. B ộ giáo dục và đào tạo (2009), Tài li ệu Văn học , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Văn học
Tác giả: B ộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
5. Nguy ễn Viết Chữ (2010),Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường , Nxb Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
6. Trương Dĩnh (2003), Thi ết kế mới về dạy học làm văn , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế mới về dạy học làm văn
Tác giả: Trương Dĩnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Nguy ễn Văn Đường, Hoàng Dân (2007), Thi ết kế bài giảng Ngữ Văn 10, 11 và 12 , Nxb Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10, 11 và 12
Tác giả: Nguyễn Văn Đường, Hoàng Dân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
8. Tr ọng Hoàng, Nguyễn Lê Huy, Ngô Văn Tuấn (2008), Ki ến thức cơ bản phương pháp ôn t ập để luyện thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học, Cao đẳng môn Ngữ Văn , Nxb Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức cơ bản phương pháp ôn tập để luyện thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học, Cao đẳng môn Ngữ Văn
Tác giả: Trọng Hoàng, Nguyễn Lê Huy, Ngô Văn Tuấn
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
9. Nguy ễn Thanh Hùng (2008), Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Nguy ễn Đức Hùng (2009), C ẩm nang ôn luyện môn Văn thi vào Cao đẳng và Đại h ọc, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ôn luyện môn Văn thi vào Cao đẳng và Đại học
Tác giả: Nguy ễn Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
11. Nguy ễn Thị Dư Khánh (2006), Thi pháp h ọc và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường
Tác giả: Nguy ễn Thị Dư Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Nguy ễn Văn Long (2009), Phân tích tác ph ẩm văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn th ể loại , Nxb Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại
Tác giả: Nguy ễn Văn Long
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
13. Phan Tr ọng Luận, Trần Đình Sử (2008),Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa l ớp 10, 11 và 12 môn Ngữ Văn , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10, 11 và 12 môn Ngữ Văn
Tác giả: Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
14. Phương Lựu (2006), Lý lu ận văn học , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lu ận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo d ục
Năm: 2006
15. Hoàng Th ị Mai, Kiều Thọ Long (2009),Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường phổ thông , Nxb Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường phổ thông
Tác giả: Hoàng Thị Mai, Kiều Thọ Long
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
16. Nhi ều tác giả, Nâng cao k ỹ năng làm bài văn nghị luận , Nxb Giáo d ục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao kỹ năng làm bài văn nghị luận
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Nhi ều tác giả, Thi ết kế bài dạy Ngữ Văn Trung học Phổ Thông , Nxb Giáo d ục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài dạy Ngữ Văn Trung học Phổ Thông
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
18. Vũ Nho, Nguyễn Duy Kha, Trần Đăng Nghĩa, Nguyễn Phượng (2012), Hướng dẫn ôn t ập thi tốt nghiệp Trung học Phố Thông môn Ngữ Văn , Nxb Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn t ập thi tốt nghiệp Trung học Phố Thông môn Ngữ Văn
Tác giả: Vũ Nho, Nguyễn Duy Kha, Trần Đăng Nghĩa, Nguyễn Phượng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
19. Vũ Dương Quý, Lê Đình Mai (2011), Bài t ập cơ bản và nâng cao theo chuyên đề Ng ữ Văn Trung học Phổ Thông ( phần làm văn) , Nxb Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập cơ bản và nâng cao theo chuyên đề Ngữ Văn Trung học Phổ Thông ( phần làm văn)
Tác giả: Vũ Dương Quý, Lê Đình Mai
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
20. Tr ần Đình Sử,Phan Huy Dũng, La Khắc Hoà, Phùng Ngọc Kiếm, Lê Hưu Oanh (2007), Giáo trình lý lu ận văn học tập II – tác phẩm và thể loại văn học, Nxb Đại h ọc Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận văn học tập II – tác phẩm và thể loại văn học
Tác giả: Trần Đình Sử, Phan Huy Dũng, La Khắc Hoà, Phùng Ngọc Kiếm, Lê Hưu Oanh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về tư tưởng, đạo lí - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 2.1. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về tư tưởng, đạo lí (Trang 80)
Hình 2.2. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về một hiện tượng cuộc sống - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 2.2. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về một hiện tượng cuộc sống (Trang 81)
Hình 2.3. Mô hình dàn ý mẫu  nghị luận về một vấn đề xã hội  trong tác phẩm văn học - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 2.3. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học (Trang 82)
Hình 2.4. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận  về một bài thơ, đoạn thơ - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 2.4. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ (Trang 83)
Hình 2.5. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Mở bài - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 2.5. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Mở bài (Trang 84)
Hình 2.6. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận  về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 2.6. Mô hình dàn ý mẫu nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi (Trang 85)
Hình 3 .1. Giai đoạn 2 của cách đo 1. - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 3 1. Giai đoạn 2 của cách đo 1 (Trang 91)
Hình 3 .2. Giai đoạn 2 của cách đo 1. - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 3 2. Giai đoạn 2 của cách đo 1 (Trang 92)
Hình 3 .3. Giai đoạn 2 của cách đo 1. - rèn luyện kỹ năng lập dàn ý mẫu cho đề văn nghị luận ở trung học phổ thông
Hình 3 3. Giai đoạn 2 của cách đo 1 (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w