Tuy nhiên, chỉ có cuốn "Dạy và học nghị luận xã hội” của tác giả Đỗ Ngọc Thống- NXBGD Việt Nam- 2010 và cuốn "Thực hành Làm văn 12" của tác gia Lê A chủ biên- NXB GD- 2009 là có bàn đến
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUY ỄN THỊ MINH HIỀN
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 3- Bạn bè và gia đình tôi, đặc biệt là người bố kính yêu và người chồng thân yêu của tôi,
những người luôn khích lệ, động viên tôi
Chúng tôi xin chân thành c ảm ơn
Hà N ội, ngày 20 tháng 10 năm 2011
Nguy ễn Thị Minh Hiền
Trang 4MỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 3
M ỤC LỤC 4
M Ở ĐẦU 9
1 Lí do ch ọn đề tài 9
1.1.Nghị luận về một hiện tượng đời sống là dạng văn bản chính thức được đưa vào chương trình Ngữ văn THCS và THPT 9
1.2.Lập ý là một trong những điều kiện tiên quyết để viết được bài văn nghị luận nói chung và bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng 9
2 L ịch sử vấn đề 10
2.1.Về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 10
2.2.Về chương trình và SGK việc dạy học lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 11
3.M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
3.1.Mục đích nghiên cứu 13
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu 13
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4.1.Đối tượng nghiên cứu 14
4.2.Phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 15
5.1.Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 15
5.2.Phương pháp điều tra, khảo sát 15
5.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 15
6 C ấu trúc của luận văn 15
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG 18
1.1 Cơ sở lí thuyết 18
1.1.1 Quan niệm về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 18
1.1.2 Quan niệm về ý trong văn nghị luận xã hội nói chung và văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng 19
1.1.3 Lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống 20
1.1.3.1 Cơ sở tâm lí học của việc hình thành kĩ nâng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hi ện tượng đời sống 20
1.1.3.2 Kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 21
1.1.3.3 Mô hình ý trong ki ểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 23
1.1.3.4 Quan h ệ giữa kĩ năng lập ý và các kĩ năng khác trong quá trình nắm vẫn nghị lu ận về một hiện tượng đời sống 25
1.2.Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh THPT ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 26
1.2.1.1 Đối tượng điều tra 26
1.2.1.2 N ội dung điều tra 27
1.2.1.3 Cách th ức đi điều tra 27
1.2.1.4 Đánh giá kết qủa 27
1.2.2 Thực trạng về các tài liệu dạy học dưới góc độ rèn luyện kĩ năng lập ý 36
1.2.2.1 Sách giáo khoa 37
1.2.2.2 Sách giáo viên 37
1.2.2.3 Sách bài t ập 38
ểu kết chương 1 39
Trang 6Chương 2: HÌNH THÀNH TRI THỨC VÀ XÂY DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUY ỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN
TƯỢNG ĐỜI SỐNG 40
2.1 Hình thành tri th ức về kĩ năng lập ý cho học sinh qua giờ học lí thuyết 40
2.1.1 Căn cứ để lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống 41
2.1.2 Qui trình lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống 42
2.1.2.1 Bước 1: Tìm ý 42
2.1.2.2 Bước 2: Chọn ý 46
2.1.2.3 Bước 3: Sắp xếp ý 47
2.1.3 Cách lập ý ở kiểu bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống 49
2.2 Xây d ựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 51
2.2.1 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 52
2.2.1.1 Nguyên t ắc đảm bảo tình thống nhất 52
2.2.1.2 Nguyên t ắc toàn diện 52
2.2.1.3 Nguyên t ắc đa dạng 52
2.2.1.4 Nguyên t ắc vừa sức 53
2 2.5 Nguyên tắc từ dễ đến khó 53
2.2.6 Miêu tả hệ thống bài tập 54
2.2.6.1 Cách th ức miêu tả 54
2 2.6.2 Nhóm bài t ập 1 54
2.2.6.3 Nhóm bài t ập 2 58
2.2.6.4 Nhóm bài t ập 3 59
2.2.6.5 Nhóm bài t ập 4 60
Trang 72.2.6.6 Nhóm bài t ập 5 60
2.2.7 Phương hướng sử dụng hệ thống bài tập 61
2.2.7.1 V ận dụng hệ thống bài tập trong tiết lí thuyết 61
2.2.7.2 V ận dụng hệ thống bài lập trong tiết viết bài 62
2.2.7.3 V ận dụng hệ thống bài tập trong tiết tra bài 62
Ti ếu kết chương 2 63
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.1 M ục đích thực nghiệm 64
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 65
3.3 Phương pháp thực nghiệm 65
3.4 N ội dung thực nghiệm 66
3.5 Cách đánh giá kết quả thực nghiệm 66
3.5.1 Cách thức đánh giá thứ nhất: 67
3.5.2 Cách thức đánh giá thứ hai: 67
3.6 Giáo án th ực nghiệm 67
3.7 K kinh nghi ệmà: Sệm 79
3.7.1 Phép đo 1 79
3.7.2 Phép đo 2 80
3.7.3 Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm 84
3.7.3.1 T ổng hợp và so sánh tỷ lệ học sinh đạt và không đạt yêu cầu qua 2 phép đo 84
3.7.3.2 T ổng hợp và so sánh tỷ lệ các lỗi cơ bản học sinh thường mắc phải qua 2 phép đo 84
3.7.3.3 T ổng hợp kết qủa về mức độ ảnh hưởng của việc lập dàn ý đối với kết qủa của bài làm Th ống kê 1 85
Trang 8Ti ểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 91
PH Ị LỤC 94
PH Ụ LỤC 1: 94
PH Ụ LỤC 2 96
Trang 9Ví dụ đề bài: Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm
hoa th ật đẹp Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) được gợi ra từ hiện tượng trên
Học sinh có thể liên hệ những hiện tượng tồn tại trong cuộc sống con người Trong môi trường sống thuận lợi, có người biết tận dụng điều kiện để phát triên, khẳng định bản thân, có người chỉ biết ỷ lại, không cố gắng Không gặp được thuận lợi trong cuộc sống, có người chán
nản, buông xuôi, có người vươn lên chiến thắng hoàn cảnh
1.2 Lập ý là một trong những điều kiện tiên quyết để viết được bài văn nghị luận nói chung và bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng
Các Mác viết trong bộ Tư ban ( 1867): “Con nhện thực hiện các thao tác giống các thao
tác c ủa người thợ dệt, con ong xây tô sáp làm cho mỗi nhà kiến trúc phải hỗ thẹn Nhưng ngay
m ột nhà kiến trúc tồi từ đầu đã khác một con ong cừ nhất ở chổ trước khi dùng sáp xây tổ, nhà
ki ến trúc đã xây nó trong đầu mình rồi Khi quá trình lao động kết thúc, nhận được kết qủa thì
k ết qủa này đã có được dạng tinh thần trong biểu tượng con người từ khi quá trình ấy mới bắt đầu”
Trang 10Lập ý quyết định hình thức diễn đạt Y nào lời ấy, lời phải phù hợp với ý Vì thế, việc lập
ý vô cùng quan trọng Một vấn đề thiết yếu và khó khăn đối với cả thầy và trò trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp, đó là kĩ năng lập ý
1.3 Hiện nay, cả giáo viên và học sinh đều lúng túng trong khâu lập ý văn nghị luận nói chung và kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng Phần lớn bài làm của học sinh thường không có ý, thiếu ý, trùng ý, lạc ý, ý lộn xộn Có nhiều lí do dẫn đến tình trạng đó nhưng chác chăn có nguyên nhân do chúng ta chưa xây dựng được một hệ thống các biện pháp rèn luyện kĩ năng này trong dạy và học lập ý Hơn nữa, nghị luận về một hiện tượng đời sống
mới được đưa vào nhà trường nên chưa trở nên quen thuộc, chưa có nhiều tài liệu tham khảo Đây cũng là một kiểu bài khó So với việc lập ý ở nghị luận văn học (học sinh đã được học),
lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có cái khó riêng Hiện tượng đời sống
vốn muôn hình muôn vẻ, vô cùng phức tạp và học sinh phải tự tìm hiểu lấy
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận
v ề một hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT" nhằm góp phần nâng cao kĩ năng làm
văn nghị luận cho học sinh, đáp ứng những yêu cầu mới của giáo dục hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
2.1.V ề kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Thực ra, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống đã có từ lâu Thời phong kiến, các
đề thi đã mượn những hiện tượng đời sống để bàn bạc Sách xưa chép chuyện khoa thi hội năm Canh Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ I (1680) đầu văn sách có câu hỏi về nhân vật lịch sư Hồ Quý Ly (1330-?), người làng Đại Lại, huyện Tống Sơn, nay là Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa cùng với việc đoạt ngôi vua, lập nên triều đình mới của ông
Sau này, nghị luận về một hiện tượng đời sống chưa được xem như một kiểu bài mà các nhà nghiên cứu chỉ xếp vào thuộc loại nghị luận xã hội nói chung
Những năm gần đây, nghị luận về một hiện tượng đời sống được đưa vào chương trình
Ngữ văn THCS và THPT, cụ thể là ở lớp 9 và lớp 12
Khác với nghị luận về một tư tưởng đạo lí, nghị luận về một hiện tượng đời sống thường
ột hiện tượng có thật trong đời sống Đó có thể là một hiện tượng tiêu cực trong xã
Trang 11hội, hoặc một hiện tượng có mặt tích cực lẫn tiêu cực Như thế đòi hỏi người viết, bằng nhận
thức của bản thân, phải thể hiện được chủ kiến của mình, bằng phân tích và lập luận để ca ngợi
và biểu dương cái đẹp, cái tốt, cái thiện và lên án, vạch trần cái xấu, cái ác, cái phi nhân Tất nhiên những hiện tượng đời sống nêu trong các dạng đề này vừa phải gần gũi với tuổi trẻ học đường vừa phải có ý nghĩa lớn lao đối với cộng đồng dân tộc và thế giới
2.2.V ề chương trình và SGK việc dạy học lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Nếu chi tính riêng những bài nghiên cứu, những tài liệu dạy học và kĩ năng lập ý ở văn nghị luận xã hội thì không phong phú Bởi vì tuy có phân biệt hai loại nghị luận xã hội và nghị
luận văn học nhưng trong thực tế kĩ năng lập ý bao giờ cũng chỉ được trình bày trong phần kĩ năng làm văn nói chung và chủ yếu ở loại bài nghị luận văn học
Trong thời kì phong kiến, cách lập ý cho văn nghị luận được tiến hành chủ yếu theo cách:
thầy đưa ra các bài văn mẫu; từ những bài văn mẫu này, thầy căn cứ vào đặc điểm về nội dung
và hình thức của thể loại mà phân tích và giảng giải cho trò Học trò cứ thế mà luyện tập theo
Có thể thấy, thực chất của việc lập ý thời phong kiến ở một bài văn nghị luận là giúp người học
nắm vững đặc điểm và những yêu cầu về bố cục của từng loại văn mà thôi
Ở thời kì Pháp thuộc, việc dạy lập ý trong văn nghị luận cũng chủ yếu là cung cấp bài
mẫu, người học cứ theo đó mà làm, mà luyện tập
Với yêu cầu đổi mới dạy và học văn trong đó có phần môn Làm văn thì kĩ năng lập ý lại chu yếu được chú ý ở loại bài nghị luận văn học Kĩ năng này được đề cập đến nhiều trong các
bộ sách giáo khoa Làm văn cho học sinh, sách giáo viên, sách bồi dưỡng giáo viên dạy môn Làm văn do trường ĐHSP Hà Nội biên soạn; tài liệu bồi dường dạy SGK cải cách giáo dục môn Làm văn do Vụ giáo viên biên soạn; sách Làm văn 12 của Trần Thanh Đạm nhưng tất cả cũng chỉ chú trọng đến nghị luận văn học
Kĩ năng lập ý nói riêng và kĩ năng làm văn nói chung chủ yếu được đề cập đến ở các tài
liệu dạy học trong nhà trường (từ phổ thông đến đại học) Ngoài ra một số ít chuyên ngành cũng đề cập đến kĩ năng làm văn nói chung
Trang 12Ở dạng văn nghị luận xã hội cũng có một số cuốn sách đề cập tới kĩ năng lập ý, tiêu biểu
là cuốn Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống - Nguyễn Thành Thi - Phạm Minh Diệu có đưa ra 2 bước để lập ý như sau: Dựa vào yêu cầu và chỉ dẫn của đề để tìm ra vấn đề trọng tâm
và các ý lớn mà bài viết cần làm sáng tỏ; tìm ý nhỏ bằng cách đặt ra các câu hỏi, vận dụng
những hiểu biết về văn học và cuộc sống, xã hội để trả lời các câu hỏi đó
Trong cuốn Làm văn (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS) tác giả Lê A cũng đề cập đến
kĩ năng lập ý ở bài văn nghị luận Cuốn sách Làm văn 11 do tác giả Trần Thanh Đạm chủ biên
cũng nói tới thao tác lập ý trong văn nghị luận, tuy nhiên còn rất chung chung
Trước đây, do quan điểm xem trọng nghị luận văn học mà nghị luận xã hội có vẻ chưa được chú ý lắm Giờ đây, với sự phát triển của đời sống xã hội, nghị luận xã hội ngày càng có vai trò thiết thực trong cuộc sống
Nghị luận về một hiện tượng đời sống thuộc thể loại nghị luận xã hội Nó cũng ra đời, tồn
tại và phát triển cùng với sự ra đời của nghị luận xã hội Tuy nhiên, trước đây trong nhà trường
phổ thông, nghị luận về một hiện tượng đời sống chưa được đưa vào giảng dạy và chưa được nhiều người chú ý quan tâm
Những năm gần đây, nghị luận về một hiện tượng đời sống chính thức được đưa vào
giảng dạy ở chương trình phổ thông, cụ thể là ở kì II lớp 9 THCS và kì I lớp 12 THPT; trong
cấu trúc đề thi môn Ngữ văn (thi học kì, thi tốt nghiệp THPT, thi đại học) có một câu 3 điểm dành cho một bài nghị luận xã hội ngắn
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là một loại văn bản rất mới nên chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu trực tiếp về loại văn bản này Các kĩ năng làm kiểu bài này cũng chưa có nhiều tài liệu đề cập đến Có một số tài liệu nói về loại bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, cụ thể:
1, D ạy và học nghị luận xã hội: Đỗ Ngọc Thống- NXBGD Việt Nam-2010
2,Các d ạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội: Lê A, Nguyễn Thị Ngân Hoa
(đồng chủ biên)- NXB GD- 2009
3,Th ực hành làm văn 10, 11, 12: Lê A (chủ biên)- NXB GD- 2009
Trang 13Tuy nhiên, chỉ có cuốn "Dạy và học nghị luận xã hội” của tác giả Đỗ Ngọc Thống-
NXBGD Việt Nam- 2010 và cuốn "Thực hành Làm văn 12" của tác gia Lê A (chủ biên)- NXB
GD- 2009 là có bàn đến cách làm dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống nhưng không nói cụ thể về kĩ năng lập ý ở kiểu bài này
Kĩ nàng lập ý bài văn nghị luận cũng được đề cập tới trong một số tài liệu nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể về kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT
Trong chương trình Ngữ văn THPT, học sinh chỉ được học có 1 tiết lí thuyết ở lớp 12 Đây thực sự là câu hỏi còn bỏ ngỏ Vì vậy, vấn đề đặt ra trong luận văn là tập trung nghiên cứu rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học, đề ra biện pháp rèn luyện kĩ năng ngày một cách toàn diện, khoa học
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu, luận văn tổng kết cơ sở lí thuyết và thực tiễn
của việc rèn kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, đề xuất nội dung và
biện pháp rèn luyện kĩ năng này cho học sinh lớp 12 THPT, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định cơ sở khoa học của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT
Đề xuất nội dung và biện pháp rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để điều chỉnh và đánh giá hiệu qủa cùng như khả năng
thực thi của giải pháp được đề xuất
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong nhà trường THPT hiện nay, văn nghị luận đã và đang được học với nghị luận xã
hội và nghị luận văn học Tuy nhiên, luận văn này chỉ quan tâm đến nghị luận xã hội, cụ thể là nghị luận về một hiện tượng đời sống Bởi vì:
Học sinh học văn nghị luận về một hiện tượng đời sống là học cách trải nghiệm cuộc
sống, cách quan sát, tư duy, cách chia sẻ, cảm thông với người khác
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là loại văn bản rất đa dạng và phong phú Hiện tượng đời sống vốn thiên hình vạn trạng Thế nên nếu như học sinh còn có thể tham khảo
những bài văn mẫu trong các loại bài nghị luận khác thì ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, học sinh phải tự thân vận động
Từ trước tới nay, kĩ năng lập ý chủ yếu chỉ triển khai ở phần kĩ năng làm văn nghị luận nói chung Luận văn này chú ý tới nghị luận về một hiện tượng đời sống nhằm bổ sung cho khiếm khuyết đó
Luận văn này cũng chỉ giới hạn sự xem xét kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh tớp 12 THPT Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời
sống cần xuất phát từ căn cứ khoa học, tránh mò mẫm Nhưng cũng không nên vì thế mà đưa ra
những lí thuyết quá cao siêu, phức tạp không thể áp dụng cho việc dạy và học gây chán nản cho
Trang 15Muốn viết được bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có chất lượng học sinh cần phải rèn luyện nhiều kĩ năng Luận văn này tập trung vào kĩ năng lập ý Đó là việc tìm ra được các
ý, định ra được nội dung cơ bản của bài viết, tổ chức sắp xếp các nội dung cơ bản của bài viết,
tổ chức sắp xếp các nội dung ấy một cách hợp lí để làm sáng tỏ mục đích cần nghị luận
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khi tiến hành làm luận văn, để thực hiện tốt những nhiệm vụ mà luận văn đã đề ra
ở trên, chúng tôi sử dụng một số các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Chúng tôi tiến hành tập hợp các tài liệu có liên quan đến văn nghị luận xã hội Đặc biệt, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu các tài liệu chuyên sâu về kĩ năng lập ý nghị luận xã hội
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra khảo sát là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài này Chúng tôi dùng phương pháp điều tra, khảo sát để tìm hiểu việc dạy học lập ý kiểu bài nghị luận về một
hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT hiện nay Đặc biệt, với phương pháp này, chúng tôi đã điều tra được nhận thức của giáo viên và học sinh về kĩ năng lập ý ở kiểu bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống, để từ đó, chúng tôi có thể đưa ra những giải pháp phù
hợp
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm giúp chúng tôi bước đầu đưa ra những vấn đề mà luận văn đề
xuất vào thực tế dạy học ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Hà Tây cũ Từ những phương pháp này, chúng tôi có thể rút ra những kết luận cần thiết cho luận văn
6 Cấu trúc của luận văn
Từ việc xác định mục tiêu, đối tượng, phạm v, phương pháp nghiên cứu luận văn có cấu trúc như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị
luận về một hiện tượng đời sống
Trang 161.1.Cơ sở lí thuyết
Phần này nêu lên những cơ sở khoa học của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị
luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT với các nội dung:
- Quan niệm về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Quan niệm về ý trong văn nghị luận xã hội nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng
- Lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.2.Cơ sở thực tiễn
Phần này nhằm nêu lên thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh lớp 12 THPT ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống và thực trạng về - các tài liệu dạy học dưới góc độ rèn luyện kĩ năng lập ý
Chương 2: Hình thành tri thức và xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống Chương này gồm 2 phần:
2.1 Hình thành tri thúc về kĩ năng lập ý cho học sinh qua giờ học lí thuyết
Phần này nhằm nêu cách thức để hình thành tri thức kĩ năng lập ý cho học sinh ở giờ học
lí thuyết với những nội dung sau:
- Căn cứ để lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Qui trình lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Cách lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Phần này nhằm nêu cách thức rèn kĩ năng lập ý cho học sinh qua hệ thống bài tập với
những nội dung sau:
- Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
- Miêu tả hệ thống bài tập
Trang 17Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương này nhằm kiểm tra, đánh giá khả năng thực thi, hiệu qủa của những đề xuất trong
luận văn, với các bước cụ thể:
- Thiết kế giáo án cho các bài: Nghị luận về một hiện tượng đời sống; Bài viết số 2; Tra bài kiểm tra số 2
- Đưa ra một số đề nghị luận về một hiện tượng đời sống và hướng dẫn cách lập ý cho
mỗi đề
- Tổ chức thực nghiệm ở các lớp thuộc lớp theo chương trình chuẩn Đánh giá kết quả
thực nghiệm
Trang 18
1.1.1 Qu an niệm về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Theo các tài liệu nghiên cứu, văn nghị luận được chia làm hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Trước đây, người ta phân loại các kiểu bài dựa vào thao tác lập luận Cụ thể là:
Nghị luận văn học gồm: chứng minh một ý kiến văn học, phân tích nhân vật trong tác
phẩm tự sự, phân tích tâm trạng trong thơ trữ tình, bình giảng văn học, bình luận văn học
Nghị luận xã hội gồm: giải thích, chứng minh một câu tục ngữ, bình luận xã hội Như
vậy, nghị luận về một hiện tượng đời sống chưa được xem như một kiểu bài mà các nhà nghiên
cứu chỉ xếp vào thuộc loại nghị luận xã hội nói chung
Căn cứ vào thao tác lập luận để phân loại như thế chưa đảm bảo tính khoa học vì không
có bài văn nghị luận nào chỉ sử dụng một thao tác nghị luận để triển khai vấn đề
Sách giáo khoa Ngữ văn mới đang lưu hành hiện nay có quan điểm phân loại khác Người
ta không căn cứ vào thao tác nghị luận để phân loại các kiểu bài mà căn cứ vào đối tượng nghị
luận Cụ thể là:
Nghị luận văn học gồm:
- Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
- Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
Nghị luận xã hội gồm:
Trang 19- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Vậy theo quan điểm phân chia hiện hành thì nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài thơ thế nào ? Đây là một kiểu bài thuộc nghị luận xã hội Đối tượng nghị luận của nó là một
hiện tượng đang diễn ra trong thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người Đó có thể là một hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê Sách giáo viên Ngữ văn 12 nhận định: Ngoài nhưng nét tương đồng với kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có những nét khác biệt cần lưu ý
Kiểu bài này lấy một hiện tượng xảy ra trong đời sống để bàn bạc Từ hiện tượng này, ngoài nghị luận phải phân tích, tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng đạo đức mà bàn bạc, đánh giá Đề tài để bàn bạc gần gũi với đời sống, sát hợp với trình độ nhận thức của học sinh như: tai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, nhưng tấm gương người tốt việc tốt ", "nghị luận về một hiện tượng đời sống không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn có tác dụng giáo dục tư tương đạo lí, cách sống đúng đắn, tích cực đối với thanh niên, học sinh"
1.1.2 Quan niệm về ý trong văn nghị luận xã hội nói chung và văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng
Ý là nhưng đơn vị tạo nên nội dung cơ bản của một bài viết là hạt nhân cơ bản của bài văn nghị luận Đó là hệ thống ý kiến, quan điểm khác nhau được huy động để cùng làm sáng to
ý kiến, quan niệm chung nhất trong bài văn nghị luận
Ý kiến trong bài văn nghị luận thường là những phán đoán, nhận xét khái quát của người
viết về nội dung nhằm đáp ứng yêu cầu của vấn đề cần nghị luận Ý kiến thể hiện cách nhìn, cách đánh giá và cách nghĩ riêng của mỗi người trước một vấn đề được nêu ra
Ý trong bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nhằm phân tích, đánh giá để hiểu được bản chất của hiện tượng đời sống được nêu ra, để thấy rõ mặt tích cực, tiêu cực của vấn
đề và từ đó rút ra bài học về các hiện tượng đời sống ấy Từ những bài học đó rút ra ý nghĩa,
Trang 20phương hướng hành động cụ thế đối với hiện tượng đời sống đó Tất cả các ý đều phải được đưa vào một sự sắp xếp, vào một bố cục cụ thể
Ví dụ: Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ,
lang thang ki ếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em h ọc tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về hiện lượng đó
Ý trong bài văn nghị luận thường được nhìn nhận từ nhiều mức độ khác nhau, có thể được
gọi bằng những thuật ngữ khác nhau Ở ví dụ trên, xét từ phương diện logic lập luận thì ý khái quát bao trùm toàn bài là luận đề Nó là ý kiến được nêu ra trong đề bài yêu cầu người viết phải
giải quyết Đó là: trẻ em lang thang, cơ nhỡ là vấn đề của toàn xã hội Các ý: 1, Người viết nêu
thực trạng trẻ em lang thang, cơ nhỡ; 2, Người viết nêu những hoạt động giúp đỡ trẻ em lang thang cơ nhỡ của cộng đồng xã hội là các luận điểm Đó là các ý kiến chính trong luận đề, được
luận đề bao chứa, được sử dụng để làm sáng tỏ một mặt, một khía cạnh của luận đề Một luận
đề có thể bao gồm một hoặc nhiều luận điểm, trong mỗi luận điểm lớn lại bao hàm những luận điểm nhỏ, các luận điểm lớn, nhỏ đều có nhiệm vụ tập trung làm sáng tỏ luận đề Trong mỗi
luận điểm ấy có thể triển khai tiếp thành những luận cứ
Luận cứ là các lí lẽ và dẫn chứng được dùng để thuyết minh cho luận điểm và làm sáng tỏ
luận điểm Các lí lẽ, dẫn chứng có quan hệ tương hỗ soi sáng cho nhau Lí lẽ làm cho dẫn
chứng có khả năng thuyết minh cho luận điểm; dẫn chứng làm cho lí lẽ có nội dung, có sức
nặng thuyết phục Ví dụ: từ luận điểm 1 ở trên có thễ cụ thể hóa thành các luận cứ
Luận cứ 1: Người viết giải thích ngắn gọn khái niệm "trẻ em lang thang, cơ nhỡ"
Luận cứ 2: Người viết nếu lên cuộc sống bất hạnh của trẻ em lang thang cơ nhở
Luận cứ 3: Nhưng thử thách, nguy hiểm mà trẻ em lang thang, cơ nhỡ đang phải đối mặt
1.1.3 Lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.1 3.1 Cơ sở tâm lí học của việc hình thành kĩ nâng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Cơ sơ của việc hình thành kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Trang 21Skiner Từ hai thực nghiệm của Paplôp và Skiner, ta thấy cùng là nhũng phản xạ có điều kiện nhưng ở thực nghiệm của Paplôp thì việc hình thành phản xạ có điều kiện ấy hoàn toàn là thụ động, không có sự nỗ lực tích cực chủ động của chủ thể mà hoàn toàn phụ thuộc điều kiện bên ngoài Còn thực nghiệm của Skiner đã tăng cường được tính chủ động tích cực của chủ thể không phụ thuộc bên ngoài Trong quá trình tìm kiếm chủ thể có thể có kết qủa sai nhưng bằng kinh nghiệm, tự lực tìm kiếm cuối cùng chủ thể tìm đến kết quả đúng Ta có thể khẳng định
rằng tất cả các hiện tượng tâm lí đều có cơ sở sinh lí là phản xạ có điều kiện Chính vì vậy hoạt động học cũng là phản xạ có điều kiện Dạy học chính là dạy phản xạ có điều kiện Trong hoạt động dạy học thì chủ thể học sinh phải tích cực, chủ động hoạt động tìm kiếm kiến thức Phải làm đi làm lại nhiều lần một hoạt động nào đó thì mới tạo thành đường hằn trong võ não và từ
đó mới hình thành được kĩ năng mình mong muốn một cách thành thục
Cũng như vậy, muốn hình thành kĩ năng làm văn nghị luận về một hiện tượng đời sống thì
cá nhân phải chủ động tích cực rèn luyện Ngoài việc tiếp thu áp dụng những kiến thức về lí thuyết đã được giáo viên truyền đạt thì điều quan trọng hơn là học sinh phải được làm được
thực hành nhiều Quá trình thực hành ấy phải được tiến hành ở nhiều hình thức khác nhau như: Đọc những bài văn mẫu của những tác giả có uy tín; tham khảo nhiều dạng đề khác nhau; làm nhiều loại bài tập khác nhau Những hoạt động đó được làm đi làm lại nhiều lần dần dần thành
thục và tạo thành kĩ năng Tuy nhiên, những hoạt động đó phải được chủ thể chủ động làm, làm
một cách say mê, không gò bó ép buộc cũng không phải đi chép lại của người khác thì mới tạo thành kĩ năng được
Như vậy, cơ sở của việc hình thàn kĩ năng nói chung và kĩ năng lập ý nói riêng ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống chính là bằng cách tiến hành các hoạt động tích cực chủ động có định hướng lập đi lập lại nhiều lân thông qua hệ thống bài tập thực hành như một phương tiện chủ yếu
1.1 3.2 Kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Nêu ý là những nội dung chính cần trình bày trong bài văn thì lập ý là một quá trình suy nghĩ nhằm định ra nhưng nội dung cơ bản của bài viết trước khi diễn đạt thành văn Như vậy ý
là kết qủa những dự định sẽ trình bày ra bằng lời được hình thành trong quá trình tư duy có hướng Lập ý là định ra nhưng ý kiến chính sẽ được thể hiện ra bằng lời trong văn bản Đối với
Trang 22học sinh lớp 12 THPT, lập ý cho đề văn là một quá trình suy nghĩ trong một tình huống có vấn
đề (đề văn tạo nên tình huống có vấn đề) nhằm đưa ra những dự định về các nội dung chính mà mình sẽ viết trong bài Như vậy, quá trình này bắt đầu từ khi đọc đề (khi đọc đề học sinh đã bắt đầu hình thành ý) đến khi có được một hệ thống ý ban đầu
Việc lập ý sẽ giúp người viết có thể bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ cần triển khai và xác định đúng mức độ và phạm vi nghị luận Mặt khác, lập ý trước khi viết sẽ giúp người viết có thể điều chỉnh hệ thống luận điểm, có điều kiện cân nhắc để lược bỏ hết các ý thừa, ý trùng lặp hoặc bổ sung đề khắc phục các ý còn thiếu Lập ý còn giúp cho người viết chủ động phân phối thời gian cho từng ý trong bài một cách hợp lí, tránh trường
hợp "đầu voi đuôi chuột" hoặc ý phụ viết quá dài trong khi ý chính lại viết sơ sài vì không đủ
thời gian
Một bài văn không được lập ý trước khi viết thường mắc phải các lỗi như thiếu ý, thừa ý,
ý lộn xộn, dung lượng viết cho các ý không phù hợp với yêu cầu của đề bài Lập ý trước khi
viết sẽ giúp người viết khắc phục được các lỗi trên
Đối với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, việc lập ý cũng tương tự như vậy,
là quá trình tìm, chọn và sắp xếp các ý thành một hệ thống hợp lí trước khi viết thành một bài văn hoàn chỉnh
Ví dụ: Hãy xác lập ý cho đề bài sau: Hiện nay, khủng bố đang là một vấn nạn có ảnh
hưởng trên phạm vi toàn cầu Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về hiện tượng này
Với đề bài trên chúng ta có thể trình bày các ý như sau:
- Người viết giải thích khái niệm khủng bố là gì và nêu thực trạng khủng bố hiện nay
- Nạn khủng bố đem đến những hậu quả như thế nào
Người viết cắt nghĩa những nguyên nhân dẫn đến khủng bố
- Người viết nêu những giải pháp để hạn chế nạn khung bố
Chúng ta có thể khẳng định rằng khi viết một văn bản hoàn chỉnh thì khâu lập ý là một khâu rất quan trọng Với nghị luận về một hiện tượng đời sống cũng vậy, để có một bài văn
Trang 23hoàn chỉnh, không bị thừa hay thiếu ý hoặc mức độ các ý phải được trình bày sao cho hợp lí thì
lập ý là vô cùng quan trọng, là không thể thiếu được
1.1.3.3 Mô hình ý trong kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Mô hình ý là kết qủa của quá trình lập ý được đưa vào bố cục ba phần của văn bản Có thể hình dung mô hình ý trong bài văn nghị luận nói chung qua phác thảo của nhà nghiên cứu Đỗ
Trang 24Vận dụng phác thảo trên, có thể hình dung mô hình ý trong bài văn nghị luận về một hiện trượng đời sống như sau:
Trang 251.1.3.4 Quan h ệ giữa kĩ năng lập ý và các kĩ năng khác trong quá trình nắm vẫn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Quá trình làm một bài văn nghị luận nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng có 5 kĩ năng cơ bản sau:
- Kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết
- Kĩ năng lập ý
- Kĩ năng lập dàn bài
- Kĩ năng diễn đạt, trình bày
- Kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết
Mỗi kĩ năng có một vai trò và vị trí riêng nhưng chúng có liên quan chặt chẽ với nhau Xét trong sự sắp xếp trình tự các kĩ năng đó, ta nhận thấy kĩ năng lập ý đứng ở vị trí thứ 2 sau
kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết và đứng trước kĩ năng lập dàn ý, kĩ năng diễn đạt, trình bày và kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết
Có thể thấy rằng mỗi kĩ năng có một vai trò riêng và nếu thiếu 1 trong 5 kĩ năng trên thì bài văn sẽ thiếu chính xác, thiếu sự đầy đủ Chúng ta cũng không thể nói kĩ năng nào là quan
trọng nhất bởi mỗi kĩ năng có một chức năng riêng tạo thành một mắt xích trong quá trình viết
một bài văn nghị luận
1.1.3 4.1 Quan h ệ với kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết
Để lập được ý trong bài văn nghị luận nói chung và trong bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng thì chúng ta phải dựa vào kết qủa của kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết
1.1.3.4.2 Quan h ệ với kĩ năng lập dàn ý
Dàn ý chính là sự sắp xếp các ý vào bố cục ba phần theo một trình tự lôgic để tạo sự mạch
lạc, liên kết, thống nhất trong bài văn Có ý thì mới lập được dàn ý Như vậy, trong quan hệ với
lập dàn ý thì lập ý là cơ sở để lập dàn ý xây dựng kết cấu của bài văn Ngược lại, lập dàn ý lấy
kết qủa của lập ý làm tư liệu cho mình
Trang 261.1.3.4.3 Quan h ệ với kĩ năng diễn đạt, trình bày
Trong quan hệ với kĩ năng diễn đạt, trình bày ta thấy rằng lập ý cũng đóng một vai trò quan trọng Một bài văn nghị luận nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng bao gồm nhiều ý với các cấp độ khác nhau Không phải có bao nhiêu ý thì tất cả các ý đều được trình bày tương đương nhau mà ta phải xác định trong hệ thống các ý đó thì ý nào là quan trọng
nhất, là ý trọng tâm, ý nào là phụ, không quan trọng Với nhưng ý trọng tâm thì ta phải trình bày nhiều hơn, nói kĩ hơn, còn những ý phụ thì không cần trình bày nhiều bằng các ý trọng tâm Như vậy mới tạo sự cân đối, hài hòa cho bài văn và khi đọc thì người đọc sẽ dễ dàng nhận
ra trong bài viết ấy thì ý nào là cốt lõi, là vấn đề chính
1.1.3.4.4 Quan h ệ với kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết
Kĩ năng kiểm tra và hoàn chính bài viết là khâu cuối cùng trong quá trinh tạo lập một văn
bản Đây là khâu cũng rất quan trọng, bởi trong quá trình tạo lập văn bản có khi người viết mác
phải một số lỗi thì đây chính là lúc để chúng ta hoàn chỉnh và sửa chữa các lỗi mắc phải ấy
Nếu hệ thống các ý rành mạch, rõ ràng sắp xếp theo trình tự hợp lí thì khâu hoàn chỉnh sẽ dễ dàng và ngược lại Để kiểm tra và hoàn chỉnh được bài viết thì bài viết phải có ý Như vậy,
giữa kĩ năng lập ý và kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết cũng có mối quan hệ gắn bó với nhau
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng: Hoạt động kiểm tra hiệu đính không phải chỉ có ở khâu
cuối mà luôn luôn đi kèm theo các hoạt động khác để bảo đảm các hoạt động thu được hiệu
quả Cho nên, khi lập ý luôn có sự kiểm tra và hiệu chỉnh để việc lập ý thu được kết quả, đáp ứng được yêu cầu của đề bài
1.2.Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh THPT ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.2.1.1 Đối tượng điều tra
Để nắm được thực trạng năng lực và việc dạy học về kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về
một hiện tượng đời sống, chúng tôi tiến hành điều tra học sinh 4 lớp 12 ở 2 trường THPT trên
Trang 27địa bàn quận Hà Đông, đó là trường - THPT Lê Quí Đôn Hà Đông và THPT Quang Trung Hà Đông
1 2.1.2 Nội dung điều tra
Điều tra thực trạng năng lực lập ý của học sinh lớp 12 ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thông qua hệ thống bài tập trong tiết lí thuyết bài "Nghị luận về một hiện tượng đời sống”, thông qua bài kiểm tra số 2 và tiết trả bài kiểm tra số 2
1.2.1 3 Cách thức đi điều tra
1.2.1.3.1 Đối với học sinh
Chúng tôi đã tiến hành 03 cách đo như sau:
Cách thứ nhất: Cho một đề văn (NLXH), yêu cầu học sinh lập ý trong thời gian 10 - 15 phút Sau đó chấm bài và thống kê kết qủa Qui định 10 - 15 phút theo chúng tôi, đó là thời gian cần thiết để học sinh lập ý trước khi bắt tay vào viết thành văn Cách này gọi là phép đo 1 Cách thử hai: Ra một đề văn NLXH yêu cầu học sinh lập ý cho bài văn và triển khai hệ
thống ý đó thành một bài văn hoàn chỉnh tại nhà hoặc 2 tiết trên lớp sau đó chấm hệ thống ý và bài văn Ở phép đo này, người chấm phải tiến hành bước chấm hệ thống các ý và bài văn kết
hợp với việc so sánh kết quả của dàn ý và bài văn xem chúng có tỷ lệ thuận với nhau không, từ
đó mà đánh giá kết qủa ở nhiều khía cạnh khác nhau Cách này gọi là phép đo 2
Cách thứ ba: Ngoài hai phép đo cơ bản trên, chúng tôi cũng đã tiến hành điều tra học sinh
và giáo viên để xác định thực trạng lập ý của học sinh lớp 12 THPT hiện nay Cách này gọi là phép đo 3
1.2.1 3.2 Đối với giáo viên
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò và trực tiếp phỏng vấn, dự các giờ giảng
của giáo viên
1 2.1.4 Đánh giá kết qủa
Một hệ thống ý của học sinh lớp 12 THPT làm trong thời gian qui định cần đạt được là:
- Nêu được luận đề (ý khái quát bao trùm toàn bài)
Trang 28- Nêu được các luận điểm (ý lớn), các ý này đều tập trung làm sáng tỏ cho luận đề
- Trong mỗi luận điểm nêu được một số luận cứ (ý nhỏ), các ý nhỏ này đều làm sáng tỏ cho luận điểm đã nêu, nằm trong luận điểm đã nêu Số lượng luận điểm, luận cứ tuy thuộc vào
nội dung cụ thể của từng đề văn được giao
Ngoài những yêu cầu trên, bài làm đạt yêu cầu không được mắc các lỗi cơ bản về lập ý:
Lỗi thiếu ý: Là loại bài mà để yêu cầu 3 luận điểm, học sinh chỉ nêu được 1 hoặc 2- luận điểm cần 3 luận cứ làm sáng tỏ, học sinh chỉ nêu được 2 hoặc 1
- Lỗi trùng lặp ý: Là loại bài mà luận điểm 2 trùng với luận điểm 3 hoác luận điểm 3 trùng
với luận điểm 1; luận cứ 2 nói lại luận cứ 1 hoặc luận cứ 3 trùng luận cứ 2 hoặc luận điểm sau bao hàm luận điểm trước và ngược lại
- Lỗi lạc ý: Là loại bài xác định sai luận đề, đề ra một nơi, người viết một nẻo Hoặc là bài xác định đúng luận đề nhưng các luận điểm không thuộc luận đề, không làm sáng tỏ cho luận
đề đó Trong một luận điểm, có các luận cứ không phù hợp luận điểm ấy (Thừa ý là một trường hợp của lạc ý)
- Lỗi không biết lập ý: Là loại bài mà ở đó, học sinh viết luôn thành văn, không phân biệt
luận đề, luận điểm, luận cứ
- Lỗi logic: Là loại bài sắp xếp các luận điểm, luận cứ lộn xộn hoặc trật tự các luận điểm,
luận cứ không thích hợp, hoặc luận cứ được xếp ngang với luận điểm, hay luận điểm 1 mâu thuẫn với luận điểm 2, luận cứ 2 ngược với luận cứ 1 trong cùng một luận điểm Hay trong hệ
thống ý có luận điểm 1 mà không có luận điểm 2, có luận cứ 1 mà không có luận cứ 2
Để xác định được năng lực lập ý của học sinh lớp 12 THPT trong quá trình thực nghiệm điều tra này, chúng tôi áp dụng các cách đánh giá sau đây:
Luận văn đã tiến hành thực nghiệm đo năng lực lập ý của học sinh lóp 12 các trường THPT Lê Quí Đôn Hà Đông, THPT Quang Trung Hà Đông
Ở phép đo 1, tổng số học sinh tham gia 225 em, thời gian làm thực nghiệm tháng 11 năm
2010
Trang 29Ở phép đo 2, tổng số học sinh tham gia 160 em, thời gian làm thực nghiệm tháng 12 năm
2010
Ở phép đo 3 (phép đo bổ sung), tổng số học sinh tham gia là 525 em (số phiếu hợp lệ là
500 phiếu), tổng số giáo viên tham gia là 18 thầy cô
1.2.1.4 1 Phép đo 1
Bài tập: Hãy lập ý cho đề bài sau trong thời gian 15 phút: Đề bài: Hãy lập ý cho đề văn
sau đây trong vòng 10 phút: Giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp
Yêu ầâu về một hệ thống ý đạt yêu cầu:
- Người viết giải thích ngắn gọn về môi trường xanh, sạch, đẹp (giải thích từng yếu tố)
- Người viết bàn luận, khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp
- Người viết nêu trải ngiệm cá nhân kết quả đo:
K ết quả tổng hợp (số học sinh đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu)
Trang 35Căn cứ vào kết qủa tổng hợp của phép đo 1 và phép đo 2 thì có đến trên 60% học sinh được khảo sát không đạt yêu cầu về lập ý, do đó ta có thể dễ dàng khẳng định năng lực lập ý ở
kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống của đa số học sinh THPT hiện nay rất yếu Cũng căn cứ vào kết quả tổng hợp của phép đo 1 và phép đo 2, chúng ta có thể thấy những lỗi phổ
biến mà đa số học sinh thường mắc phải trong quá trình lập ý là lỗi thiếu ý, lỗi triển khai ý không làm rõ trọng tâm, đặc biệt lỗi không biết lập ý cũng có khá nhiều học sinh mắc phải Căn cứ vào kết qủa của phiếu phỏng vấn giáo viên thì 0% giáo viên cho rằng khả năng lập
ý của học sinh hiện nay là tốt và có đến 78% giáo viên cho rằng khả năng lập ý của học sinh
hiện nay là yếu
Nhận xét: Nhìn vào các bảng tổng hợp ở trên, chúng tôi thấy rằng: nếu như xem lập ý là
một khâu không thể thiếu trong việc sản sinh một văn bản nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng; nếu như kĩ năng lập ý là một kĩ năng quan trọng cần hình thành và rèn luyện cho học sinh, thì chúng ta đang và phải bắt đầu từ một mặt bằng chất lượng (về lập ý)
rất thấp: hơn 60% số bài không đạt yêu cầu; phần lớn các bài của học sinh đều mắc lỗi về lập ý
Lỗi nặng nhất là thiếu ý (42,2%), thừa ý (33,3%) Có đến 53 4% học sinh ít khi lập ý và 21,2%
học sinh không lập ý trước khi viết một bài Làm văn trong khi số học sinh thường xuyên làm công đoạn này chỉ có 6,0% Đa số học sinh (49%) cho rằng khâu khó nhất khi làm một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống là khâu lập ý Thâm chí, có đến 64,8% học sinh có cảm
ận rằng, phần Làm văn là phần rất khó để tiếp thu
Trang 36Trong quá trình học tập, ở phần Làm văn nói chung và văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng, 49% học sinh được khảo sát mong muốn giáo viên chú ý nhiều đến việc rèn
khả năng lập ý của các em kết hợp với việc cung cấp, hướng dẫn cụ thể cách vận dụng kiến
thức và cách làm một bài làm văn Đặc biệt, nếu có quyền được lựa chọn 1 trong 3 phần của bộ môn Ngữ văn để học thêm giờ thì có đến 64,8% học sinh chọn phần Làm văn
Chúng tôi đã phỏng vấn khá nhiều giáo viên về việc rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh
và đều được cho biết họ chưa thực sự chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh Sở
dĩ có điều đó là vì rất nhiều lí do:
Thứ nhất, chương trình sách giáo khoa chỉ có vài bài dạy lí thuyết lập dàn ý (bước sau của
lập ý) của các loại văn bản khác nhau
Thứ hai, việc dạy kĩ năng lập ý cho học sinh nhiều khi không có kết qủa vì học sinh không tiếp thu Nhiều học sinh chỉ lập ý khi giáo viên yêu cầu làm bài tập lập ý, còn khi viết văn thì viết ra giấy luôn, bỏ qua khâu lập ý
Thứ ba, cách dạy lập ý của giáo viên nhiều khi rất khô khan, cứng nhắc, đơn điệu nên không gây được hứng thú cho học sinh
Vì những lí do nêu trên, nhiều giáo viên ngại rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh và học sinh không có nếp lập ý trước khi viết
1.2 2 Thực trạng về các tài liệu dạy học dưới góc độ rèn luyện kĩ năng lập ý
Ở phần trên, chúng tôi đã trình bày thực trạng năng lực lập ý của học sinh THPT Tại sao
có thực trạng đó? Tại sao chất lượng lập ý của học sinh quá thấp? Để trả lời được câu hỏi đó không phải đơn giản Tuy nhiên, có thể thấy rõ kết qủa học tập của học sinh trong nhà trường trước hết phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: việc dạy của thầy, việc học của trò và công cụ phương
tiện kết nối việc dạy và việc học ấy Các tài liệu dạy học là thành phần cơ bản tạo nên yếu tố
thứ 3
Tài liệu dạy học trong nhà trường bao gồm từ chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập, sách tham kháo về Ngữ văn Về cơ bản, chính tài liệu dạy học qui định cách dạy và cách học trong nhà trường
Trang 371 tiết, có mở rộng nâng cao và tất cả các nơi đều phải dạy tiết học này Lớp 10 có thể nêu kĩ nâng lập ý cho văn nghị luận nói chung, còn lớp 11, 12 có thể rèn kĩ năng lập ý cho loại bài nghị luận văn học, nghị luận xã hội (trong đó có nghị luận về một hiện tượng, đời sống) Kĩ năng làm văn thì có nhiều nhưng chúng tôi cho rằng có 3 loại (nhóm) kĩ năng cơ bản phải được hình thành và rèn luyện ngay từ đầu là :lập ý, diễn đạt và trình bày
Vì kĩ năng này chỉ được học ở phần kĩ năng làm văn, trong đó có văn nghị luận, nhưng ở
mỗi loại văn nghị luận vận dụng chúng như thế nào để lập ý cho bài viết thì cần được tiếp tục hướng dẫn, có thể học sinh mới được nhắc lại và mới làm được Tuy thế, lập ý cho bài văn nghị
luận về một hiện tượng đời sống chưa được sách đề cập đầy đủ, chi tiết Chúng tôi cho rằng
nếu coi lập ý là một khâu bắt buộc và quan trọng phải có thì các lỗi về lập ý cũng cần được
nhắc nhở thường xuyên ngay từ đầu cấp
Như vậy, về vấn đề kĩ năng làm văn nghị luận nói chung và kĩ năng lập ý nói riêng, cần
có cái nhìn chiến lược Nội dung chủ yếu của chiến lược này là xác định các kĩ năng cơ bản, thiết yếu, phân chia việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng ấy một cách hợp lí ở các lớp trong
một cấp học ở các sách và các bài cụ thể về làm văn để sau một năm học, một khóa học, học sinh hoàn chỉnh được các kĩ năng làm văn một cách có hệ thống đồng bộ, cùng hướng và có
hiệu quả cao
1.2.2.2 Sách giáo viên
Sách giáo viên hoàn toàn bám sát chương trình và sách giáo khoa của học sinh, chỉ khác ở cách viết Sách giáo viên thực chất thay cho loại sách hướng dẫn giảng dạy trước kia Ở đó, các
Trang 38tác giả nêu mục đích, kiến thức cơ bản cần truyền đạt và những gợi ý về phương pháp giảng
dạy
Về kĩ năng lập ý, cũng như sách giáo khoa của học sinh do phân phối chương trình qui định chỉ có số lượng thời gian rất ít ỏi (như đã trình bày cụ thể ở phần trên) dành cho kĩ năng này Cách dạy mà sách giáo viên đưa ra chủ yếu là thông qua các bài luyện tập, từ đó mà củng
cố lý thuyết lập ý- Vì tác giả cho rằng phần lí thuyết đã được học ở các lớp dưới Nhưng thực
chất vấn đề lập ý (nhất là lí thuyết) ở các lớp dưới hầu như chưa được trang bị, nhất là lập ý bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống Đây lại là vấn đề khó, giáo viên ngại dạy, học sinh
ngại làm vì thế lí thuyết về kĩ năng lập ý cần được trang bị lại để học sinh nắm chắc có hệ
thống, không rơi vào làm mò mẫm, thiếu kinh nghiệm, nghĩ gì viết nấy
1.2.2.3 Sách bài tập
Đây là loại sách được biên soạn với nội dung bám sát vào chương trình của sách giáo khoa Các tác giả cung cấp một hệ thống bài tập nhiều dạng nhiều yêu cầu khác nhau và đều có hướng dẫn làm bài Sách bài tập là tài liệu tốt để học sinh rèn luyện kĩ năng lập ý về phương
diện thực hành Tuy nhiên giống như chương trình trong sách giáo khoa, sách bài tập cũng chỉ dành số lượng quá ít ỏi cho lập ý nói chung và lập ý bài văn nghị luận về một hiện tượng, đời
sống nói riêng
Trên đây là một số nhận xét về sự hạn chế của các tài liệu dạy học dưới góc độ rèn kĩ năng lập ý Vì thế, bởi sự đóng góp của luận văn, tác giả mong muốn có thể góp phần nhỏ bé
của mình để đưa ra một hướng có thể giúp các em học sinh đỡ lúng túng, bở ngỡ trong việc rèn
kĩ năng lập ý bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống Chúng tôi cũng hi vọng kĩ năng lập
ý sẽ được quan tâm, chú trọng hơn nữa trong các tài liệu dạy học đẻ học sinh ngày càng học tốt hơn
Trang 39
Ti ểu kết chương 1
Tóm lại, chương này, chúng tôi đã trình bày những cơ sơ lí thuyết của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống với quan niệm về kiểu bài, quan
niệm về ý trong bài văn và vấn đề lập ý cho bài Đồng thời, chúng tôi cũng trình bày cơ sở thực
tiễn của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống bao gồm
thực trạng dạy và học lập ý, thực trạng về các tài liệu dạy học với những tồn tại chưa được tháo
gỡ
Tất cả những điều nêu trên chính là lí do, cơ sở cho sự tiếp nối ở chương sau Hình thành trí thức và xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Trang 40
Ch ương 2: HÌNH THÀNH TRI THỨC VÀ XÂY DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
2.1 Hình thành tri thức về kĩ năng lập ý cho học sinh qua giờ học lí thuyết
Khi tiến hành các giờ dạy lí thuyết, giáo viên cần nhận thức đúng vai trò mục tiêu của giờ
lí thuyết làm văn giờ học hình thành kĩ năng viết văn cho học sinh
Theo tác gia Nguyễn Quang Ninh, lí thuyết không phải là mục đích cuối cùng của việc
dạy học làm văn nhưng lại là cơ sở để rèn luyện kĩ năng làm văn trong giờ học thực hành Nghĩa là, dạy lí thuyết không phải là việc làm duy nhất khi dạy học làm văn, nhưng lại là việc làm cần thiết Vì trong dạy học làm văn, có những nội dung lí thuyết, có những khái niệm,
những vấn đề cần được làm sáng tỏ Thiếu những cơ sở dẫn đường này, học sinh không thể
nắm được kiểu bài và cách thức viết kiểu bài đó Tình trạng lơ mơ về lí thuvêt sẽ dẫn học sinh đến chỗ mất phương hướng "làm bài, không xác định được kiểu bài và từ đó sẽ viết nên nhưng bài văn chung chung, tẻ nhạt, thiếu tính sáng lạo cá nhân Bởi vậy không nên coi nhẹ lí thuyết trong dạy học làm văn Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời
sống là hình thành một trong những kĩ năng làm văn nghị luận
Mục đích của giờ dạy học lí thuyết làm văn là hình thành cho học sinh các kĩ năng làm văn, giúp học sinh có những hiểu biết về kĩ năng đó, biết phân biệt các kĩ năng và bước đầu biết
vận dụng kĩ năng trong thực tế viết văn Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp dạy học cho mỗi
tiết dạy học lí thuyết là một việc làm cần thiết, phương pháp có đúng thì người giáo viên mới
có thể hướng dẫn học sinh tiếp cận tri thức nhanh, chắc và sâu được
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, khâu lập ý vô cùng quan trọng Lập ý giống như bản thiết kế ngôi nhà, nó phải có trước khi người thợ xây những viên gạch đầu tiên Khâu lập ý là
cơ sở cho khâu lập dàn ý Nếu lập ý đưa ra những ý cơ bản của một bài viết thì lập dàn ý là chi
tiết hóa hệ thống ý ấy thành một bộ khung cho bài văn Đáng tiếc là trong chương trình Ngữ văn THPT, không hề có bài lí thuyết nào rèn kĩ năng lập ý