1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thể loại phóng sự việt nam từ 1975 đến nay (qua một số tác giả tiêu biểu)

121 863 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 665,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng giai đoạn phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay được các nhà nghiên cứu như: Phan Cự Đệ, Nguyên Ngọc, La Khắc Hòa,… nhìn nhận, xem xét, đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau về những đóng

Trang 1

Nguyễn Thị Tú Như

THỂ LOẠI PHÓNG SỰ VIỆT NAM

TỪ 1975 ĐẾN NAY (QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

Nguyễn Thị Tú Như

THỂ LOẠI PHÓNG SỰ VIỆT NAM

TỪ 1975 ĐẾN NAY (QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

Chuyên ngành: Lí luận văn học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NG UYỄN HOÀI THANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Nguyễn Thị Tú Như

Sau hai năm học tập tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, được sự đồng ý của Phòng sau Đại học cùng với sự tận tâm hướng dẫn của thầy TS Nguyễn Hoài Thanh tôi đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và hoàn

thành đề tài: “Thể loại phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay (Qua một số tác

giả tiêu biểu)” Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài chưa từng

được công bố ở công trình khoa học nào khác

Học viên thực hiện Nguyễn Thị Tú Như

Trang 4

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Những đóng góp của luận văn 10

Chương 1: DIỆN MẠO CHUNG CỦA THỂ LOẠI PHÓNG SỰ VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY 11

1.1 Một số quan niệm về thể loại phóng sự trước đây và hiện nay 11

1.1.1 Quan niệm chung về thể loại phóng sự 11

1.1.2 Quan niệm về thể loại phóng sự trước 1975 ở Việt Nam 15

1.1.3 Quan niệm về thể loại phóng sự từ sau 1975 ở Việt Nam 17

1.2 Hoàn cảnh xã hội, văn học và báo chí từ 1975 đến nay 21

1.2.1 Hoàn cảnh xã hội sau 1975 21

1.2.2 Sự phát triển chung của văn học sau 1975 23

1.2.3 Sự phát triển chung của báo chí sau 1975 26

1.3 Quá trình vận động, phát triển của phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay 29

1.3.1 Phóng sự giai đoạn 1975 đến 1986 29

1.3 2 Phóng sự giai đoạn 1986 đến 1995 32

1.3.3 Phóng sự giai đoạn 1995 đến nay 35

Chương 2: ĐẤT NƯỚC, XÃ HỘI, CON NGƯỜI TRONG PH ÓNG SỰ VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY 43

2.1 Một cái nhìn thẳng thắn về hiện thực đất nước 44

2.1.1 Những sai lầm trong sản xuất nông nghiệp 44

2.1.2 Những bất công trong quản lý đời sống 48

2.1.3 Sự cần thiết phải bảo tồn nguồn tài nguyên của đất nước 57

Trang 5

2.2 Một cái nhìn sâu sắc về đời sống xã hội 62

2.2.1 Những bức tranh đen tối về tệ nạn xã hội 63

2.2.2 Những mảng hiện thực phức tạp trong đời sống 67

2.2.3 Những gam màu tươi sáng của đời sống 71

2.3 Một cái nhìn đậm chất nhân văn về hiện thực con người 72

2.3.1 Số phận người lính sau chiến tranh 72

2.3.2 Những con người bất hạnh 77

2.3.3 Những con người giàu đức hy sinh, vượt lên hoàn cảnh 83

Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA PHÓ NG SỰ VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY 87

3.1 Cái tôi thẩm định hiện thực với giọng điệu phong phú 87

3.1.1 Cái tôi thẩm định hiện thực 88

3.1.2 Cái tôi với giọng điệu phong phú 92

3.2 Tăng cường tính thông tin thời sự, giảm thiểu về dung lượng 96

3.2.1 Sự tăng cường tính thông tin sự kiện 97

3.2.2 Sự giảm thiểu về dung lượng, số trang 102

3.3 Sự kết hợp giữa ngôn ngữ văn học và báo chí 106

3.3.1 Ngôn ngữ giàu chất văn học 106

3.3.2 Ngôn ngữ mang tính thông tấn báo chí 110

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 6

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

Phóng sự là một trong những thể loại giữ vai trò tiên phong không kém gì tiểu thuyết và truyện ngắn trong việc chiếm lĩnh, phản ánh hiện thực.Với lợi thế tái hiện thực tại ở thế trực tiếp, thể phóng sự giúp độc giả nắm bắt hiện

thực một cách đầy đủ, chính xác nhất

Từ sau 1975 đến nay phóng sự vẫn là thể loại đi đầu trong việc tái hiện hiện thực với góc nhìn trực diện Nó không ngần ngại đi đến tận cùng ngõ hẻm chật hẹp nhất của hiện thực cũng như quá trình tồn tại, phát triển không tách rời với từng bước đi của xã hội, với sự chuyển mình của nền văn học Việt Nam Hiện thực đất nước chuyển từ tâm thế thời chiến sang thời bình, đến hội nhập, phát triển đã khẳng định được vị trí của mình cùng bạn bè khắp năm châu trong tất cả mọi lĩnh vực Bên cạnh những thành công nhất định đã đạt được trên con đường hiện đại hóa đất nước thì xã hội chúng ta đã và đang phát sinh không ít những vấn đề bất cập từ sau 1975 đến nay Thực trạng ấy rất cần đến những cây bút xông xáo, không ngại gian lao, hiểm nguy tiếp cận, phản ánh để làm nên những tác phẩm phóng sự đặc sắc đủ sức cảnh tỉnh một hiện tại Với đặc trưng vốn có của thể loại, phóng sự trở thành một lăng kính khách quan nhất trong việc phản ánh hiện thực Nếu như phóng sự báo chí là thể tài đắc dụng, và nó tồn tại như dĩ nhiên cần có để đáp ứng nhu cầu nắm bắt thông tin xã hội hàng ngày của nhân loại thì phóng sự văn học cũng là thể loại đáp ứng được nhu cầu thông tin nóng hổi, trực tiếp nhất nhưng ẩn đằng sau hàm lượng thông tin ấy nó còn chứa đựng cả giá trị nghệ thuật tạo tác nên tác phẩm văn chương Nhằm hướng đến khẳng định giá trị cũng như những đóng góp nhất định của phóng sự từ sau 1975 đến nay nên người viết đã chọn

Trang 7

đề tài: “Thể loại phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay (Qua một số tác giả tiêu

biểu)”

2 L ịch sử vấn đề

Trong quá trình vận động, phát triển thể loại phóng sự luôn nhận được sự quan tâm đông đảo của độc giả đến những nhà nghiên cứu Riêng giai đoạn phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay được các nhà nghiên cứu như: Phan Cự

Đệ, Nguyên Ngọc, La Khắc Hòa,… nhìn nhận, xem xét, đánh giá ở nhiều góc

độ khác nhau về những đóng góp tích cực của thể loại này trên văn đàn văn học và báo chí nói riêng, cho đất nước và xã hội từ năm 1975 đến nay nói

mới, hàng loạt bài ký, phóng sự ra đời, thu hút sự chú ý của công chúng: Cái

đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), Lời khai của bị can (Trần Huy

Quang),…” [7, tr.411] Qua ý kiến trên, Phan Cự Đệ nhằm nhấn mạnh đến bước phát triển nổi trội về số lượng cùng với chức năng ưu trội của thể loại phóng sự đã chinh phục, đáp ứng được trọn vẹn “nhu cầu của công chúng” Cùng đứng trên khía cạnh công nhận sự trưởng thành của thể loại này thông qua sự góp mặt của nhiều tác giả với hàng loạt tác phẩm xuất hiện đem

lại hiệu ứng tích cực cho xã hội nhưng Nguyên Ngọc qua bài viết Văn xuôi

Việt Nam hiện nay - logic quanh con người của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng triển vọng được in trong công trình Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy còn nhấn mạnh thêm

Trang 8

nét đặc sắc riêng và tác dụng của phóng sự đối với đời sống văn học trong

thời kỳ này cụ thể như sau: “Trên báo Văn nghệ bấy giờ xuất hiện một loạt

những phóng sự viết về những thực trạng khác nhau trong xã hội, đặc biệt là ở nông thôn… Nay văn học lại tìm đến thể loại phóng sự bị bỏ quên từ lâu… Phóng sự cho phép họ nhanh chóng tiếp cận hiện thực mới, không bị sự cản trở của “hàng rào” văn chương, và cũng chính từ đó mò tìm ra, trui rèn nên, tự tạo nên ngôn ngữ nghệ thuật mới của mình Một loạt phóng sự đăng trên báo

Văn nghệ gây tiếng vang lớn: Lời khai của bị can, Người biết làm giàu,… của Trần Huy Quang, Người đàn bà quỳ của Xuân Ba, Tiếng kêu cứu của một

vùng văn hóa của Võ Văn Trực, Đêm trắng của Hoàng Hữu Các, Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc,… làm xôn xao dư luận và lập tức kéo

công chúng quay trở lại với văn học Chính thể loại phóng sự được khôi phục một cách hiệu quả đó làm cho văn học, chỉ trong một thời gian ngắn, đầy ứ hiện thực xã hội mới mà trước đó nó rất nghèo nàn…” [12, tr.171-172] Theo tác giả thì thể loại phóng sự đã “tạo nên ngôn ngữ nghệ thuật của mình” và giúp văn học đa dạng hóa bức tranh “hiện thực xã hội” Cũng trên lập trường

cỗ vũ cho thể loại văn báo này, Nguyên Ngọc tiếp tục phát hiện mặt đóng góp tích cực của phóng sự: “Quả thật không thể không nói đến tác dụng tích cực của báo chí, đặc biệt của thể loại phóng sự, được khôi phục một cách đúng lúc vào thời điểm đó đã thật sự góp phần không nhỏ tạo nên chuyển động xã hội quan trọng nhất của đất nước kể từ sau 1975” Không chỉ đóng góp, bổ sung giúp bức tranh văn học thêm đầy đặn, phong phú hơn mà thể loại phóng sự còn tạo nên chuyển động ở tầm cao hơn là “tạo nên chuyển động xã hội quan trọng nhất của đất nước kể từ sau 1975”

Riêng với La Khắc Hòa khi có khoảng thời gian lùi lại và xem xét thì trong

bài viết Nhìn lại bước đi - lắng nghe những tiếng đổi mới ông cho rằng: “Thể

phóng sự sau nhiều năm vắng bóng, nay lại lên tiếng làm xôn xao dư luận

Trang 9

Những Tiếng đất của Hoàng Hữu Các, Người đàn bà quỳ của Xuân Ba, Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia lộc, Lời khai của bị can của Trần Huy

Quang, chắc chắn sẽ sống mãi trong ký ức người đọc” [12, tr.58] và “đây là những thiên phóng sự đầy ắp sự thật đời sống, làm chấn động dư luận” [12, tr.64], với cách nhìn nhận này tác giả có sự so sánh với giai đoạn trước là “ thể phóng sự sau nhiều năm vắng bóng” để hướng đến khẳng định những tác phẩm phóng sự nổi trội của giai đoạn này là “những thiên phóng sự đầy ắp sự

thật đời sống, làm chấn động dư luận”

Với Trần Thị Trâm trong bài bàn về Báo chí và cuộc hành trình đổi mới

văn học cuối thế kỷ XIX lại lưu tâm đến tác động của phóng sự đối với những

chuyển biến quan trọng của văn học khi có nhận xét rằng: “Công cuộc đổi mới văn học do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động cuối thế kỷ XX, có lẽ cũng được bắt đầu từ hàng trăm tác phẩm kí in trên báo chí và tiêu biểu là

những phóng sự đăng trên báo Văn nghệ như: Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc, báo Văn nghệ, 1986), Người đàn bà quỳ (Xuân Ba, báo Văn nghệ,

1988), Vua Lốp (Trần Huy Quang, báo Văn nghệ, 1986), Lời khai của bị can

(Trần Huy Quang, báo Văn nghệ, 1987)” [12, tr.149], từ việc khảo sát vai trò của thể loại tác giả nhằm nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa văn học và “tác phẩm kí in trên báo” trong quá trình phát triển

Dương Xuân Sơn lại xem xét sự phát triển của thể loại phóng sự từ góc độ

quan sát “mầm mống nảy sinh” được đề cập trong giáo trình Các thể loại báo

chủ trương mở cửa và chính sách đổi mới, dân chủ hóa đời sống chính trị, coi báo chí như một sản phẩm văn hóa đặc biệt, xóa bỏ bao cấp đối với các hoạt động của báo chí đã tạo điều kiện nảy mầm cho những cây phóng sự mới như

Huỳnh Dũng Nhân, Vĩnh Quyền (báo Lao động), Xuân Ba, Mạnh Việt (báo

Tiền phong), Minh Tuấn (báo Đại đoàn kết),… cùng với 11.000 nhà báo Việt

Trang 10

Nam, họ đã mang đến cho công chúng những thiên phóng sự lớn, thực sự có

giá trị, đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng lớn của công chúng” [25,

tr.35] Qua đó, ta thấy nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển vượt bậc số lượng tác phẩm phóng sự qua một lực lượng cầm bút hùng hậu đã làm hài lòng công chúng là bắt nguồn từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với nhiều chủ trương đổi mới, tiến bộ song song với việc xem báo chí là một trong những công cụ quan trọng để hoàn thành sứ mệnh đổi mới của đất nước trong lúc bấy giờ

Từ năm 1975 đến nay, trải qua chặng đường hơn 30 năm, với sự góp mặt đông đảo của người sáng tác lẫn giới nghiên cứu luận bàn, đánh giá về thể loại đã chứng tỏ được sức sống bền bỉ và tác động tích cực của phóng sự đối với xã hội Trên cơ sở tiếp nhận những ý kiến trên, đề tài tập trung đi sâu khai thác vấn đề nội dung và một số đặc điểm nghệ thuật chủ yếu của thể loại phóng sự Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Với đề tài “Đặc điểm phóng sự Việt Nam từ sau 1975 đến nay (qua một số

tác giả tiêu biểu)” người viết sẽ tập trung khảo sát trực tiếp trên những tác

phẩm phóng sự của những nhà văn, nhà báo tiêu biểu đã được xuất bản từ

1975 đến nay

Trong quá trình khảo sát, đề tài được nghiên cứu trên cơ sở chọn lọc những phóng sự tiêu biểu trong 11 tập phóng sự lần lượt của những tác giả sau:

Tiếng kêu của con chim gõ kiến (Trúc Chi – Công Thắng, NXB Hội Văn học

Nghệ thuật Phú Khánh, 1989), Phóng sự tuyển Trần Huy Quang (NXB Văn học, 11/1995), Sự đời (Vũ Hữu Sự, NXB Lao Động, 8/1996), Bút ký – Phóng

sự được giải năm 1996 – 1997 (Tuần báo Văn nghệ, NXB Hội Nhà văn,

1997) Chuyện đời thường mà không thường (Vũ Hữu Sự, NXB Công an

Nhân dân, 1998), Ăn tết trong rừng chó sói (Huỳnh Dũng Nhân, NXB Lao

động, 4/1995), Kính thưa osin (Huỳnh Dũng Nhân, NXB Thông tấn, 2012),

Trang 11

Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt (Xuân Ba, NXB Văn học, 1995), Thời chưa xa người chưa cũ (Xuân Ba, NXB Văn học, 2004), Mỗi ngày một vạn bước (Nhiều tác giả, NXB Thanh niên, 2006), 30 phóng sự tuyển chọn trong

công trình Phóng sự báo chí hiện đại (Đức Dũng, NXB Thông Tấn, Hà Nội,

2004) cùng với hai bài phóng sự đặc sắc Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), Người đàn bà quỳ (Xuân Ba) Song song với khảo sát trên văn bản tác

phẩm, đề tài luận văn còn được tiến hành các thao tác nghiên cứu trên nguồn các giáo trình, phê bình, chuyên khảo,… Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài với số lượng tác phẩm được lựa chọn và tìm hiểu những tài liệu có liên quan như trên là nguồn dẫn chứng, tư liệu quan trọng góp phần cho việc đánh giá,

bình luận, phân tích vấn đề thêm sâu sắc, chặt chẽ

Thông qua đề tài này, người nghiên cứu sẽ hướng đến phác họa diện mạo thể loại phóng sự từ 1975 đến nay (qua một số tác giả tiêu biểu), từ đó đó tìm hiểu về tình hình đất nước, xã hội, con người cùng một số đặc điểm nghệ

thuật được thể hiện trong phóng sự từ sau 1975 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích - tổng hợp sẽ được sử dụng rộng rãi trong luận văn

Đi từ việc khảo sát tác phẩm, phân tích những yếu tố, chi tiết nổi bật trong việc thể hiện nội dung cũng như nghệ thuật (sự việc, sự kiện, tâm lí nhân vật,

lí giải hành động của nhân vật,…) đến rút ra những nhận xét có tính chất tổng hợp, khái quát, làm nổi rõ đặc điểm phóng sự sau 1975 đến nay

Phương pháp so sánh: So sánh với phóng sự trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan, giúp người viết hướng đến khẳng định vị trí, vai trò của phóng sự Việt Nam từ sau 1975 đến nay

Trang 12

5 Nh ững đóng góp của luận văn

Qua đề tài người viết nhằm cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quát về đặc điểm của phóng sự Việt Nam từ sau 1975 đến nay Thể loại phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay đã có những đóng góp quan trọng đối với văn học và báo chí trên cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật Luận văn được tiến hành khảo sát, triển khai một cách có hệ thống, cụ thể các vấn đề thuộc về bình diện nội dung và hình thức góp phần làm sáng tỏ thêm bước chuyển mình của

“Thể loại phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay”

Nhìn nhận lại một giai đoạn mà phóng sự Việt Nam đã và đang phát triển đến ngày nay thực chất là phép quy chiếu “sức sống, nội lực tiềm tàng của thể loại” đang nảy sinh trên mảnh đất hiện thực vốn bộn bề, nhiều màu sắc Trên khía cạnh tổng hợp vấn đề mà phóng sự phản ánh về đất nước, xã hội, con người sẽ là cơ sở giúp ta nhận diện vấn đề của hôm qua và hôm nay bằng lăng kính khách quan nhất, vươn xa hơn đến chân trời Chân – Thiện – Mĩ

Trang 13

Chương 1: DIỆN MẠO CHUNG CỦA THỂ LOẠI PHÓNG SỰ

VI ỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY

Thể loại phóng sự, trong quá trình sinh thành, phát triển đã thu hút không

ít sự quan tâm của những nhà nghiên cứu, phê bình Nhìn chung, các ý kiến bàn luận xoay quanh các vấn đề thuộc về nguồn gốc xuất hiện, đặc điểm của thể loại này so với thể loại khác cũng như chức năng của thể phóng sự với cuộc sống, con người Để có cơ sở khảo sát những đặc điểm nội dung và hình thức ở hai chương sau ta cần tìm hiểu qua diện mạo chung của thể loại phóng

sự từ 1975 đến nay

1.1 M ột số quan niệm về thể loại phóng sự trước đây và hiện nay

Ta đã biết phóng sự là thể loại đặc biệt thuộc loại hình Ký Ký là tên gọi chung cho nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, chủ yếu là văn xuôi tự sự và văn xuôi trữ tình (bao gồm các thể loại: bút kí, tùy bút, du ký, trong đó có phóng sự) Trong đó, phóng sự là thể loại tiêu biểu nhất của ký tự sự đã có nhiều thành tựu ở Việt Nam cũng như thế giới

Ta cần điểm qua một số quan niệm chung về thể loại phóng sự trên thế giới

cũng như ở Việt Nam từ trước đến nay

1.1.1 Quan ni ệm chung về thể loại phóng sự

Ngay từ buổi đầu xuất hiện thể phóng sự đã gây sự chú ý mạnh mẽ với công chúng tiếp nhận Đã có nhiều quan niệm chung về thể loại phóng sự trên các khía cạnh về nguồn gốc sinh thành, đặc điểm cũng như vai trò, vị trí của

nó trong tương quan với hoàn cảnh xã hội, với thể loại khác nói chung

Trên thế giới đối với thể loại phóng sự đã có rất nhiều nghiên cứu và nhận

định ngay từ khi nó bắt đầu sinh thành Trong Từ điển nghiên cứu của văn

học Đức (Chủ biên: GS - TS Clause Trager, NXB Bibliographisches Institut,

Trang 14

Leipzig, 1986) cho rằng phóng sự là một: “Thể loại văn học, phát triển lên từ loại tường thuật tai nghe mắt thấy của báo chí trong mối quan hệ qua lại của

sự miêu tả khách quan và những phát biểu chủ quan Bắt nguồn từ báo chí và đáp ứng những đòi hỏi của nó (ngắn gọn, cụ thể, tính chất tường thuật và cung cấp tư liệu thông tin) phóng sự đã phát triển thành thể loại riêng, bằng một phương pháp hết sức hấp dẫn đã hòa quyện được sự tường thuật với sự nâng cao bằng hư cấu các sự kiện Từ đây trở đi phóng sự chứng tỏ khả năng của

nó đặc biệt ở những nơi mà những sự biến đổi xã hội cần phải được nhanh

chóng suy xét và thúc đẩy” [31, tr.38-39] Với những đặc tính: ngắn gọn, nhằm cung cấp tư liệu thông tin, nâng cao bằng hư cấu các sự kiện với khả năng đặc biệt là xuất hiện ở những nơi mà những sự biến đổi xã hội cần được nhanh chóng suy xét và thúc đẩy đã khẳng định tính tiên phong trong thế nắm bắt hiện thực của thể loại và nguồn gốc của nó là được “phát triển lên từ loại

tường thuật tai nghe mắt thấy của báo chí”

Theo Encyclopedia Universalis trong Bách khoa toàn cầu, xuất bản ở Pari

1991, thì thể phóng sự: “Ra đời ở Mỹ trong chiến tranh Nam Bắc (1861-1865)

phóng sự đã nhanh chóng phát triển trong các báo Anglo – Saxome và trên mục Thời luận” [31, tr.39] Sau khi thể phóng sự đã có mặt trên báo chí Mỹ,

thì: “Báo chí Pháp còn lâu vẫn dè dặt, ngập ngừng, các kí giả, chủ yếu là các nhà biên niên và những nhà bình luận đời sống chính trị quốc gia, nhận thức không đúng cái sản phẩm mới này” [31, tr.39-40]

Trong các ngôn ngữ ở châu Âu, như tiếng Pháp, tiếng Nga, thuật ngữ

(Dictionnaire Etymologique) của Anbert Dauzat, do Larouss xuất bản năm

1947, ở trang 625 và 725 có hai từ: re (lặp lại), port (mang vác, mang sự kiện), có thể xem từ report của tiếng Anh có nguồn gốc từ hai từ Latinh cổ này ghép lại [31, tr.41]

Trang 15

Ở Pháp, từ điển Le Petit Laroussl, năm 1996, trang 878 giải thích từ

viên Là bài điều tra được công bố trên đài, báo ảnh, truyền hình Là chức

năng, nhiệm vụ của một phóng sự viên thuộc một tờ báo” TrongTừ điển Petit

loạt bài báo trong đó phóng viên phản ánh một cách sinh động những gì mà anh ta đã nhìn và nghe thấy ” [31, tr41-42]

Có rất nhiều quan niệm, cách nhìn nhận về nguồn gốc thuật ngữ và đặc điểm phản ánh cũng như vị trí và vai trò của thể loại này với nhiều cách lý giải khác nhau Theo GS.TS Caren Xtorơcan (khoa Báo chí, Trường Đại học Sác lơ, Tiệp Khắc trước đây) cho rằng phóng sự thực sự xuất hiện đầu tiên là

ở nước Pháp: “Một nhà báo Pháp có nhiều tham vọng đã được cảnh sát trưởng Pari cho phép đi thăm các nhà tù của Pháp Việc miêu tả dựa trên sự kể lại của một nhân chứng mắt thấy tai nghe đã gây ấn tượng mạnh trong người đọc” [5, tr.9]

Nhà nghiên cứu người Pháp Noen Duytore có ý kiến rằng: “những người

đi tiên phong” trong việc viết phóng sự có thể là Giaclandon và Apton Xincle

ở Mỹ với những tác phẩm như Dân dưới vực thẳm hoặc Rừng [5, tr.10] Ở

Mỹ, nhà văn nhà báo Mark Twain quan niệm rằng: “Phóng sự chỉ là sự ghi chép lại một cách giản đơn, máy móc một hiện tượng nào đó” Cuốn từ điển

hiện tượng,…[31, tr.43] Ở Liên Xô, nhiều ý kiến cũng cho rằng phóng sự là một thể loại riêng của báo chí Ta lưu ý đến khái niệm “phóng sự hiện đại” của giáo sư Caren Xtorocan ở Tiệp Khắc khi ông cho rằng: “Trong phóng sự hiện đại, không phải là một sự ghi chép giản đơn, mà còn là sự trả lời một loạt câu hỏi phức tạp liên quan đến cuộc sống chúng ta” [31, tr.43] Theo ông, thể phóng sự bắt đầu khẳng định vị trí của nó trên báo chí từ sau chiến tranh thế

Trang 16

giới thứ nhất, vì lý do: “việc người đọc sau chiến tranh chán ngấy sự hư cấu

và khát khao muốn biết những điều chân thực đã gợi ý cho các nhà văn cũng như những người xuất bản báo” [31, tr.44]

Từ những ý kiến trên ta thấy Phóng sự đã phát triển nhanh nhạy, khẳng định năng lực phản ánh hiện thực ở tất cả các nước phương Tây từ cuối thế kỷ XIX Từ thực tiễn sáng tác, nghiên cứu, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có quan niệm khác nhau về thể loại này

Không khác với tình hình của thế giới, trong đời sống báo chí, văn học Việt Nam, phóng sự là thể loại tân văn, sản phẩm của công cuộc hiện đại hoá văn học, là thể loại có sự đóng góp quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học hiện đại ở thập niên thứ ba của thế kỷ XX đã thu hút nhiều sự quan tâm của người tiếp nhận dẫn đến có rất nhiều quan niệm khác nhau Nó là sản phẩm của quá trình giao lưu, ảnh hưởng, tiếp xúc với văn hoá, văn học

phương Tây Tác giả bài xã luận Phỏng sự là gì? đăng trên trang 2 của báo

Phỏng sự, số 3, năm 1938 ở Sài Gòn cũng cho rằng: “Lần đầu hết, trên tờ báo

New - York herald xuất bản ở Nữu Ước vào năm 1871, người ta thấy một bài của Stanley thuật chuyện mình đi tìm ông Livingstone ở hồ Tanganuyiki Bài

kĩ thuật ấy, Stanley viết bằng một lối văn mới lạ, chưa từng thấy bao giờ và

nó có mãnh lực lôi cuốn người xem làm cho thiên hạ phải ngạc nhiên và hoan

nghênh nhiệt liệt Đó là thể văn phóng sự do nhà báo Stanley – là người đầu

tiên đã sáng tạo ra cái danh từ “phỏng viên” cũng bắt đầu từ đó Trước sự thành công của Stanley, các báo ở Nữu Ước và trong thế giới mới lục tục bắt chước theo Và trong lịch sử của văn học thế giới từ ấy, người ta đã ghi tên nhà phỏng viên Stanley bằng nét chữ vàng.Về phỏng sự, Stanley là thủy tổ” [31, tr.39]

Trong cuốn Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến đức, xuất bản năm 1931,

cho rằng “phóng sự: người hỏi tin cho nhà báo” [31, tr.45] Năm 1932, trong

Trang 17

cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh có hai chữ: “phóng (bắt chước, hỏi,

phỏng theo) và sự (việc)” [31, tr.45] Từ điển Hán - Việt của Nguyễn Lân giải thích phóng sự: “Thể văn trên báo chí kể lại những sự việc tai nghe mắt thấy” [22, tr.14]

Xem xét trong tổng thể quá trình hình thành và phát triển của thể loại phóng sự so với các thể loại khác như tiểu thuyết, truyện ngắn,…thì phóng sự

ra đời muộn hơn Cụ thể là vào cuối thế kỷ XIX ở các nước phương Tây và du nhập vào Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Xuất hiện trong giai đoạn đầu với vị trí là “thể loại tân văn”, nó có sức hút đặc biệt đối với độc giả trong và ngoài nước Bởi phóng sự đã tỏ rõ được ưu thế của nó khi phản ánh hiện thực trực tiếp, đáp ứng được nhu cầu nắm bắt thông tin nhanh nhanh nhạy của người tiếp nhận

1.1.2 Quan ni ệm về thể loại phóng sự trước 1975 ở Việt Nam

Nhắc đến phóng sự trước 1975 ta không thể không nhắc đến giai đoạn phóng sự đã phát triển vượt bậc vào thập niên 30, 40 của thế kỷ XX Giai đoạn này, cùng với tiểu thuyết, Thơ mới, phóng sự là một thể văn phát triển mạnh mẽ (Vũ Trọng Phụng, Thiếu Sơn, Lãng Tử, Y Lang,…) Và cũng trong chừng ấy năm cho đến nay đã có hàng loạt những công trình, ý kiến nghiên cứu bàn về thể loại này theo nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau

Theo Hoàng Minh Phương trong Phương pháp thực hiện phóng sự báo

chí thì ở nước ta, do báo chí ra đời muộn hơn các nước phương Tây, phóng sự được ghi nhận từ những thập niên đầu của thế kỷ XX Vào khoảng năm 1932,

Tam Lang cho ra đời Tôi kéo xe và ông đã được coi là người mở đầu cho lối văn phóng sự ở Việt Nam Tiếp theo sau là những phóng sự Trước vành móng

ngựa (1938) của Hoàng Đạo, Hà Nội lầm than (Trọng Lang), Thanh niên trụy

Trang 18

lạc (Nguyễn Đình Lạp), Kỹ nghệ lấy Tây (Vũ Trọng Phụng),… đều là những

tác phẩm có tiếng vang trong đời sống văn học

Vào những năm 50, trong tập bài giảng Muốn làm phóng sự, tác giả

Nguyễn Đình Lạp cho rằng: “Phóng sự là nghiên cứu tìm hiểu một sự kiện gì

rồi ghi chép lại cho thật đúng” Đến năm 1962, trên báo Văn nghệ tác giả Bùi

Huy Phồn cho rằng phóng sự là: “một thể văn xung kích”, “thuyết phục trực tiếp người đọc bằng những số liệu, người thật có thể kiểm tra thấy được… nhất là tính chiến đấu và kịp thời” [31, tr.45]

Tiếp đó, trên Tạp chí văn học (từ số tháng 5/1966 đến số tháng 6/1967) đã

mở đợt Trao đổi về thể ký và vấn đề viết về người thật, việc thật Các nhà văn

đã lần lượt trình bày quan niệm của mình về thể phóng sự cũng như nhà nghiên cứu Vũ Đức Phúc đã kết luận vấn đề rằng: “Phóng sự là kết quả của một nghiên cứu tại chỗ một vấn đề thời sự rất lớn đang làm cho cả xã hội, có khi cả thế giới chú ý, đặt ra nhiều dấu hỏi mà vấn đế ấy lại xảy ra ở một nơi ít người có điều kiện đến nghiên cứu tường tận, một nơi đương thời rất khó đến Chính do đặc điểm này của phóng sự mà một phóng sự có giá trị phải sốt dẻo, xác thực, toàn diện” [31, tr.46] Trong bài viết có tính chất tổng kết, nhà nghiên cứu Nam Mộc kết luận rằng: “Có tác phẩm thiên về ghi sự kiện xã hội, hành động con người xoay quanh một vấn đề nhất định của xã hội, của thời đại Tác phẩm này còn có thể chứa cả những tài liệu báo cáo, số lượng thống

kê, bắc cầu giữa văn học và báo chí Ta gọi đó là phóng sự” [31, tr.47]

Đến những năm 60, Chế Lan Viên có những nhận xét thiên về hình thức cũng như kết cấu của thể loại đã cho rằng: “Ở phóng sự thì ta chỉ cần người

mà không cần nhân vật, và cần vấn đề, cần sự việc mà cốt truyện lại không cần Tóm lại, chuyện có thực hay không, có nhân vật hay không có nhân vật,

có cốt truyện hay không chỉ là những sự việc nối nhau bởi một vấn đề, là ba điểm lớn để phân biệt tiểu thuyết và phóng sự” [31, tr.47]

Trang 19

Những ý kiến, quan niệm trên của những nhà nghiên cứu do gắn liền với tuổi đời còn non trẻ của thể loại phóng sự nên họ có thiên hướng khai thác đặc điểm chung nhất của thể loại về mặt nội dung cũng như hình thức phản ánh Đó là thể loại phản ánh những vấn đề, sự kiện của cuộc sống ở góc nhìn trực diện mang tính chiến đấu kịp thời nhưng không cần sự khắc họa nhân vật, kể cả cốt truyện Điều cốt yếu nhất của thể loại phóng sự là “cần người”,

“cần vấn đề”, “cần sự việc” đồng thời tác phẩm phóng sự phải biết “đặt ra những câu hỏi” trước cuộc đời

1.1.3 Quan ni ệm về thể loại phóng sự từ sau 1975 ở Việt Nam

Trong cuộc hành trình sinh thành và phát triển của thể loại, phóng sự đã trải qua những bước thăng trầm nhất định tương ứng với những hoàn cảnh xã hội khác nhau Sau khi phát triển rầm rộ vào giai đoạn 1930 - 1945 thì phóng

sự tạm lắng lại trong khoảng thời gian dài cho đến đại thắng mùa xuân 1975

nó được khôi phục vị thế và trưởng thành hơn Sự hồi sinh của thể loại phóng

sự trên văn đàn giai đoạn từ 1975 đến nay cũng đồng nghĩa với sức cuốn hút trở lại của nó đối với giới nghiên cứu tham gia nhận xét, đánh giá trên nhiều bình diện khác nhau

Bước sang những năm 70 trong cuốn Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản

Khoa học xã hội, 1977) định nghĩa rằng: “Phóng sự là thể văn chú trọng diễn

tả sự thật mà mình trông thấy và giải đáp các vấn đề do sự thật ấy nêu ra” [31, tr.48] Tiếp theo trong Từ điển học sinh (Nhà xuất bản Giáo dục, 1977) trình

bày khái niệm có phần sâu sắc hơn khi cho rằng: “Phóng sự là thể văn phản ánh, phân tích kịp thời những sự việc tai nghe mắt thấy có tính chất điều tra” [31, tr.48]

Quyển Từ điển thuật ngữ văn học xuất bản vào năm 1992 do GS Lê Bá

Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (Nxb Giáo dục) đã có những

Trang 20

phân tích, đánh giá rất chi tiết về phóng sự như sau: “Việc sử dụng một số phương tiện biểu đạt của văn học như các biện pháp tu từ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, hướng vào thế giới bên trong (ở một mức độ nhất định) của nhân vật, khiến cho phóng sự vốn từ báo chí, có thể trở thành văn học, một số tác phẩm thuộc loại này thường được chấp nhận như là những tác phẩm văn học có giá trị” [31, tr.48]

Xuất phát từ cơ sở hiện thực, năm 1962, GS Hà Minh Đức trong giáo trình

Thể loại văn học nhận định rằng: “Điều chủ yếu trong một thiên phóng sự

là sự việc và hiện thực khách quan” (Nhà xuất bản Giáo dục, trang 160) [31, tr.49] Đến năm 1992 ông tiếp tục khẳng định: “Về cơ bản, phóng sự cũng có đặc tính của thiên kí sự: chú trọng sự kiện khách quan, tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả Nhưng phóng sự lại đòi hỏi tính thời sự trực tiếp Phóng sự được viết ra nhằm giải đáp những vấn đề nào đó mà xã hội đang quan tâm Người viết trình bày một cách khách quan diễn biến của câu chuyện, sự việc, đồng thời cũng nhằm chứng minh cho một kết luận của mình, hoặc từ đó đề xuất ra những vấn đề xã hội nhất định ( ) Người viết phóng sự giỏi trước hết phải là người có trách nhiệm với ngòi bút, với chân lí cuộc sống, phải biết xông xáo, đi sâu vào thực tế đời sống, có năng lực phát hiện và khái quát hóa” [31, tr.49] Khảo sát trên phương diện nội dung GS

Phương Lựu trong giáo trình Lí luận văn học tái bản lần thứ 5 năm 2006 cho

rằng “phóng sự nổi bật bằng những sự thật xác thực, dồi đào và nóng hổi” và

“nội dung chủ yếu của phóng sự lại thiên về vấn đề mà người viết muốn đề xuất và giải quyết” [13, tr.435]

Gần đây, công trình Lí luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên xuất bản

năm 2012 cũng khẳng định lại về mặt hình thức rằng: “Phóng sự là thể loại ký nằm giữa văn học và báo chí Phóng sự khác thông tấn ở chỗ nó không chỉ đưa tin mà còn có nhiệm vụ dựng lại hiện trường cho mọi người quan sát,

Trang 21

phán xét Do đó, nó nghiêng hẳn về phía tự sự, miêu tả, tái hiện sự thật, nhưng nội dung tự sự thường không dựa vào một cốt truyện hoàn chỉnh” [26, tr.377]

Nhìn nhận từ bình diện của thể kí báo chí, nhà nghiên cứu lí luận báo chí

Đức Dũng trong Các thể ký báo chí đã định nghĩa: “Phóng sự là một thể loại

đứng giữa văn học và báo chí, có khả năng trình bày, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát sinh phát triển dưới dạng một bức tranh toàn cảnh vừa khái quát vừa chi tiết sống động với vai trò quan trọng của nhân vật trần thuật và bút pháp linh hoạt, ngôn ngữ giàu chất văn học” [16, tr.39]

Tác giả Hoàng Minh Phương khi dựa trên một số tài liệu báo chí học

Pháp, Australia và Hoa Kỳ trong công trình Phương pháp thực hiện Phóng sự

những biến cố, sự kiện nổi bật đã xảy ra có liên quan đến một hay những bối cảnh hoặc con người trong các tình huống phức tạp và hệ quả của những biến

cố, sự kiện ấy gây ra cho xã hội” [22, tr.15] Theo tác giả công trình thì với định nghĩa như trên là khá cụ thể và đáng tham khảo bởi trước hết nó cho ta thấy nét khác biệt không chỉ giữa Phóng sự và Tường thuật mà còn giữa Phóng sự với các thể văn báo khác, nó giúp ta thấy được quá trình làm việc công phu, thận trọng và gian khổ của người viết Phóng sự

Huỳnh Dũng Nhân xuất phát từ điểm nhìn của báo chí khi đất nước bắt đầu

đổi mới vào năm 1986 trong giáo trình Để viết phóng sự thành công quan

niệm rằng: “Phóng sự là một thể tài báo chí, phản ánh những vấn đề có tính thời sự có ý nghĩa chính trị xã hội được bạn đọc quan tâm Phóng sự có thể viết bằng các bút pháp mang tính văn học Trong phóng sự có nhân vật và có cái tôi trần thuật Phóng sự giúp bạn đọc hiểu sâu hơn, rõ hơn sự việc và chia

sẻ được với tác giả những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm” [16, tr.39] Ông

Trang 22

cho rằng hiện nay phóng sự đứng hẳn về phía báo chí vì đề tài nó đề cập đến

là những vấn đề nóng hổi, thời sự, nó phản ánh các hoạt động xã hội, nó phải nhanh và trung thực, được quy định bởi các tính đặc trưng của báo chí

Đúng như Lê Phú khải trong bài viết Thử bàn về “cái Tôi” trong phóng sự

cho rằng: nếu hỏi 100 nhà báo về định nghĩa phóng sự thì người ta lại nhận được 100 câu trả lời khác nhau! Đó là vì sự phong phú đa dạng của thể loại này Riêng ông thì quan niệm rằng: “Người viết phóng sự là vị sứ giả được

bạn đọc cử đến tận nơi xảy ra sự kiện quan trọng để gửi về cho họ những thông tin vô giá ” [10, tr.89]

Cùng có những nhận định trong công trình Để viết phóng sự thành công

của tác giả Huỳnh Dũng Nhân thì nhà báo Nguyễn Quang Vinh và Ngọc Trân

đã có nhận xét xác đáng về thể loại phóng sự Trong khi Nguyễn Quang Vinh tập trung vào điểm nhấn của thể loại là: “Viết phóng sự phải tìm ra cái mới lạ Cái mới cái lạ trong bài viết phải đổi bằng mồ hôi công sức Phải máu đi” và

“để ra được một phóng sự bản thân người viết phải đầy chất năng lượng phóng sự: năng lượng cảm xúc, hồn vía, chữ nghĩa và vốn sống”[16, tr.191-192] thì Ngọc Trân cũng cho rằng: “Đây là thể loại được sử dụng khi thông tin có tính chất trình diễn, sống động, muôn màu muôn vẻ” [16, tr.193]

Nếu như giai đoạn trước 1975 quan niệm về thể phóng sự được các nhà nghiên cứu chú ý đến đặc điểm nội dung phản ánh thì sau 1975 chúng lại được người tiếp nhận khai thác một cách sâu sắc, triệt để hơn về đặc trưng thể loại, khi mà nó đã có bước tiến dài hơn trong quá trình phát triển Phóng sự giai đoạn này đã có sự thay đổi, cách tân kịp thời cả về nội dung lẫn hình thức

để đưa phóng sự trở về đúng với đặc trưng thể loại vốn có của nó Phóng sự vẫn là một thể loại thuộc loại hình ký, nó có nhiệm vụ ghi chép kịp thời những sự kiện, những vụ việc vừa xảy ra nhằm làm sáng tỏ trước công luận hiện thực cuộc sống xã hội đương thời Phóng sự bao giờ cũng phải mang ý

Trang 23

nghĩa thời sự, có mục đích cung cấp cho dư luận những tri thức phong phú, đầy đủ, chính xác về vấn đề mà mọi người quan tâm Phóng sự còn thể hiện quan điểm và xúc cảm của tác giả về hiện thực Những thiên phóng sự có giá trị là những tác phẩm mang đậm chất văn chương, mang giá trị thẩm mỹ cao

1.2 Hoàn c ảnh xã hội, văn học và báo chí từ 1975 đến nay

Quá trình tồn tại, vận động của văn học cũng như báo chí đều chịu sự chi phối của hoàn cảnh xã hội Những đổi thay, cách tân trong nội dung và hình thức của chúng đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống Như một lẽ tất yếu khi

đề cập đến đời sống của văn học và báo chí từ 1975 đến nay thì chúng ta phải tìm về hoàn cảnh xã hội của giai đoạn này

1.2.1 Hoàn c ảnh xã hội sau 1975

Đại thắng mùa xuân 1975 là một trong những chiến thắng oanh liệt nhất, lẫy lừng nhất của dân tộc Việt Nam Chúng ta đã đánh bại đế quốc Mỹ - một

đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự hùng mạnh bậc nhất thế giới Một kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam được mở ra: kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Tuy sống trong không khí hòa bình với niềm vui chiến thắng nhưng công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa phía trước vẫn là nhiệm vụ hết sức khó khăn do kinh tế xã hội đang hoạt động theo quán tính bao cấp thời chiến, do phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh liên miên, đầy gian lao, vất vả

Đứng trên góc nhìn đã qua với những khó khăn và thành công nhất định trong quá trình xây dựng đất nước thì lịch sử trong thời kỳ đất nước thống nhất có thể chia làm hai giai đoạn: trước và sau khi có nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Trước năm 1986 là giai đoạn nhân dân nô nức vui mừng vì đất nước sạch bóng quân thù, hy vọng tiến nhanh, tiến thẳng lên chủ

Trang 24

nghĩa xã hội với ấm no, hạnh phúc Tất cả khẩu hiệu bao trùm thời đó là: “tất

cả vì Chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân” Nhưng đây cũng là giai đoạn đất nước gặp rất nhiều khó khăn do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp không còn thích hợp Cách thức quản lý kinh tế theo kiểu bao cấp, là một cách quản lý làm thay và nuôi bao trong đầu tư xây dựng, sản xuất, phân phối lưu thông, tiêu dùng xã hội và tiêu dùng cá nhân Cách làm ăn không chú ý đến hiệu quả cuối cùng đã bộc lộ nhiều bất cập và bám rễ sâu trong sản xuất

và đời sống đẩy đất nước vào tình trạng vô cùng khốn đốn Đời sống nhân dân

ngày càng khó khăn, tình hình xã hội căng thẳng Do vậy, việc chấn chỉnh lại

cơ chế quản lý cho phù hợp với quy luật vận động là một vấn đề hết sức cấp bách Về mặt xã hội, chiến tranh đã làm xáo trộn và gây tổn thất lớn cho lực lượng lao động, để lại hậu quả nặng nề và kéo dài

Nhiệm vụ khôi phục và phát triển một nền kinh tế trong giai đoạn này là rất cần thiết nhưng cũng đầy khó khăn khi đất nước đang gánh trên vai những vùng bị chiến tranh tàn phá, bị hủy diệt bởi chất độc hóa học rất nặng nề Chiến tranh và quá trình cưỡng bức đô thị hóa của Mỹ đã gây xáo trộn trong phân bố lực lượng lao động Nông thôn nông nghiệp thiếu lao động Các vùng

đô thị, mật độ dân số quá đông không tương xứng với sự phát triển về kinh tế Những di hại do chế độ thực dân của Mỹ để lại cũng rất nặng nề như ma túy, mại dâm, lưu manh, bụi đời, số người thất nghiệp, mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong dân cư Tóm lại, tình hình đất nước sau đại thắng mùa xuân năm 1975

có nhiều thuận lợi đồng thời cũng tồn tại rất nhiều khó khăn, phức tạp

Giai đoạn thứ hai, từ năm 1986 trở đi, khi có Nghị quyết Đại hội VI, đây là cột mốc quan trọng đánh dấu cho sự nghiệp đổi mới của đất nước ta: thời kỳ đất nước đổi mới toàn diện, đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đứng trước những sai lầm trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, xã hội ngày càng khó khăn nên đòi hỏi Đảng ta

Trang 25

phải tích cực đổi mới tư duy một cách mạnh mẽ, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó xác định mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng trong tương lai để đưa đất nước vượt lên khó khăn, chuyển mình đi lên phía trước Như ta đã biết chính sự tồn tại quyết định ý thức vì vậy nên mỗi thời đại lịch sử sẽ có nền văn nghệ tương ứng hay chính là “xã hội thế nào thì văn nghệ thế ấy” Đổi mới là yêu cầu tất yếu của đất nước ta sau 1975 khi cái cũ không phù hợp, lạc hậu, lỗi thời, đổi mới để ổn định và phát triển hướng đến một xã hội dân chủ là sự nghiệp mà Đảng và dân ta quan tâm Những tác phẩm được sinh thành với sứ mệnh là “tiếng nói của thời đại” sẽ là bằng chứng sinh động thiết thực của lịch sử dân tộc Trên cơ sở xã hội đó thì phóng

sự, một thể loại nằm giữa văn học và báo chí, cũng có sự thay đổi về chất lẫn lượng để phản ánh và phục vụ kịp thời cho xã hội ấy

1.2.2 S ự phát triển chung của văn học sau 1975

Từ 1975 đến nay nền văn học Việt Nam trải qua hai giai đoạn: từ 1975 đến 1985 là giai đoạn mà cảm hứng văn học sử thi thời chiến vẫn còn âm vang và đang có xu hướng chuyển dần sang văn học thời hậu chiến với nhiều vấn đề đang được ra trong cuộc sống thường nhật, từ 1986 trở đi là văn học vận động trong thời kỳ đổi mới và được chia làm hai bước đi nhỏ như sau: từ

1986 đến đầu thập kỉ 90 là chặng đường văn học đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ gắn liền với chặng đầu của công cuộc đổi mới đất nước được đánh dấu bằng Đại hội Đảng lần thứ VI, từ giữa những năm 90 đến nay, khi mà xã hội đã đi vào ổn định và phát triển thì văn học trở lại những quy luật bình thường và nghiêng về chú trọng cách tân trong nghệ thuật

Giai đoạn đầu từ 1975 đến 1986 là giai đoạn mang tính chất bắc cầu từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học thời kì sau chiến tranh Tính chất chuyển tiếp được thể hiện trên mọi phương diện của đời sống văn

Trang 26

học từ cảm hứng, đề tài đến các phương thức nghệ thuật và quy luật vận động của văn học Ở nửa cuối thập kỉ 70, những năm sau chiến tranh, nền văn học vẫn tiếp tục mạch phát triển theo quán tính của nó với những cảm hứng chủ đạo trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, đó là đề tài về chiến tranh gắn liền với cảm hứng sử thi vẫn là nội dung mà nhà văn quan tâm khai thác Vào đầu những năm 80, với những cơ chế bao cấp thời chiến không còn phù hợp trong hoàn cảnh thời bình và bộc lộ những hạn chế đã đẩy nền kinh tế xã hội nước nhà rơi vào khó khăn và khủng hoảng trầm trọng Trong hoàn cảnh

xã hội như thế đã tác động trực tiếp đến nền văn học Sáng tác văn học chững lại vì người viết lâm vào tình trạng bối rối không tìm thấy phương hướng sáng tác Vì độc giả cần cái nhìn, hướng đi mới hơn của giới sáng tác bởi cuộc sống ngổn ngang có biết bao điều Vật chất luôn quyết định sự tồn tại của ý thức và trong trường hợp này thì ý thức nghệ thuật của nhà văn lẫn công chúng chuyển biến chưa kịp thời với thực tiễn xã hội mới Một xã hội yêu cầu họ phải có quan niệm và cách tiếp cận hiện thực khác hơn thời kỳ trước Chính vậy, nhà văn Nguyên Ngọc đã gọi thời kỳ này là “khoảng chân không trong văn học”, một khoảng không mà cả người sáng tác lẫn tiếp nhận đều chưa tìm được cho mình hướng đi mới của văn học nghệ thuật sao cho phù hợp với thực tại xã hội Cuộc sống vốn là mảnh đất màu mỡ cho văn chương, trong tình thế chững lại ấy thì sự trăn trở càng lớn thôi thúc cả một thế hệ cầm bút phải đổi mới trong cách viết, cách nhìn nhận vấn đề của họ Nguyễn Minh Châu đã tiên phong trong chặng đường này với những truyện ngắn hướng vào các vấn đề thế sự - đạo đức trong cuộc sống thường nhật, bên cạnh đó còn có

Nguyễn Khải trong những tác phẩm Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người,

và Ma Văn kháng với Mùa lá rụng trong vườn… Trên sân khấu kịch nói có

Lưu Quang Vũ, Xuân Trình,

Trang 27

Với buổi đầu bối rối, chững lại đầy trăn trở đến gặt hái được những thành công nhất định thì văn học cũng đã tìm được cho mình những hướng tiếp cận mới trong hiện thực đa dạng, nhiều chiều, nổi bật là cái nhìn gắn với hiện thực trong cuộc sống đời thường với những vấn đề đạo đức - thế sự đang rất cần văn học nhận thức, khám phá sau khi con người đã trải qua một thời khói lửa đau thương Sự ra đời của hàng loạt những tác phẩm ấy sẽ làm mất dần khoảng không giữa văn học và đời sống, là tiền đề tích cực chuẩn bị cho bước tiến tiếp theo của văn học, giai đoạn từ 1986 về sau

Giai đoạn thứ hai là từ năm 1986 trở đi, cùng với những tiền đề xã hội như Đại hội Đảng VI (1986) của Đảng đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra cho đất nước thời kỳ mới thoát khỏi khó khăn, phát triển trong bền vững với Nghị quyết 05 của Bộ chính trị cùng cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã mở ra thời kì đổi mới thật sự trong văn học Việt Nam với tinh thần đổi mới tư duy

và nhìn thẳng vào sự thật Chính vì thế những năm nửa cuối 80 và đầu 90 đã phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Những tác giả, tác phẩm in dấu trong

giai đoạn này là: Thời xa vắng (Lê Lựu), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp),

Bến không chồng (Dương Hướng), với những mảng khuất lấp của bức tranh

hiện thực trước đây chưa được soi rọi trực diện giờ được các nhà văn nhìn nhận, soi sáng từ nhiều phía mà họ mong muốn đánh thức toàn xã hội Cũng như trước, giai đoạn này vẫn là sự nối tiếp hướng tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự - đời tư trong giai đoạn trước

Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào

sự thật đã là những động lực tinh thần cho văn học của thời kỳ đổi mới phát triển mạnh mẽ và sôi nổi Sự vận động, biến đổi trong cuộc sống là nguồn gốc

Trang 28

sâu xa dẫn đến yêu cầu đổi mới ý thức nghệ thuật đối với người cầm bút lẫn tiếp nhận

Tình hình văn học giữa những năm 90 đến nay có xu hướng chững lại Bởi nghệ thuật mà văn học là một bộ phận luôn vận động và phát triển trong

sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội Những giá trị nghệ thuật chân chính đều là những sáng tác bắt rễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đại mình Chính vậy trong xu thế đi tới sự ổn định của xã hội từ giữa những năm

90 này đã tác động đến văn học, về cơ bản cũng đã trở lại với những quy luật mang tính bình thường

1.2.3 S ự phát triển chung của báo chí sau 1975

Lịch sử báo chí truyền thông Việt Nam tính từ năm 1865 khi tờ Gia Định

báo ra đời đến nay đã được 147 năm So với lịch sử báo chí thế giới thì nền báo chí nước ta có tuổi đời trẻ hơn Trong sự vận động và phát triển ấy có

nhiều khuynh hướng báo chí khác nhau: báo chí của thực dân đế quốc xâm lược, báo chí của những người Việt Nam yêu nước, báo chí cách mạng và nổi bật lên là dòng báo chí cách mạng Đã có hơn 80 năm phải triển kể từ ngày báo Thanh niên ra đời (21/6/1925) tại Quảng Châu - Trung Quốc do Chủ tịch

Hồ Chí Minh sáng lập, báo chí cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của đời sống cách mạng và dân tộc Trên hai mươi 20 năm đất nước đổi mới và đổi mới báo chí (từ năm 1986 tới nay), báo chí truyền thông Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng được chia thành nhiều loại Theo như các nhà luận báo chí, chúng được chia ra ba loại sau: Thông tấn báo chí (bản tin, phỏng vấn, tường thuật, điều tra), Chính luận báo chí (xã luận, bình luận, chuyên luận) và các thể Ký báo chí (phóng sự, ghi nhanh, ký chân dung, ký chính luận, nhật ký phóng viên, sổ tay phóng viên, thư phóng viên) Trong các thể ký báo chí thì phóng sự là một trong những thể loại có

Trang 29

khả năng đặc biệt thích hợp với mô tả sự phát triển hiện thực, có khả năng gây

ấn tượng với công chúng

Ngày nay, phóng sự vẫn đang ổn định với những ưu thế của mình Các bài phóng sự trên báo thường có vị trí quan trọng luôn thu hút lượng lớn độc giả Các nhà báo thành công với phóng sự luôn được đánh giá là những cây bút sắc sảo và nhạy bén Phóng sự đã thực sự góp phần làm sống dậy một không khí dân chủ trong văn học và báo chí Việt Nam Diện mạo của nền văn học và báo chí đổi mới của chúng ta trọn vẹn hơn với sự góp mặt đầy ấn tượng của hàng trăm tác phẩm phóng sự đề cập mọi khía cạnh của đời sống

Hiện nay phóng sự đang là những mục không thể thiếu được đối với công chúng báo chí trên các kỳ xuất bản Và bất kỳ tờ báo nào cũng dành một diện tích mặt báo thích hợp để đăng tải các bài phóng sự của báo mình, và đã có rất nhiều tờ báo tạo được chỗ đứng trong lòng độc giả nhờ có chuyên mục phóng

sự như chuyên mục phóng sự của báo Lao động, các bài phóng sự của báo

Tuổi trẻ, trang phóng sự của báo Thanh niên, báo Tiền phong, và hàng loạt

tên tuổi nhà báo đã được công chúng biết đến thông qua thể loại phóng sự Từ

thế hệ của nhà báo Xuân Ba, Mạnh Việt (báo Tiền phong), nhà báo Huỳnh Dũng Nhân, Vĩnh Quyền (báo Lao động), đến những nhà báo trẻ hiện nay

luôn lăn xả vào hiện thực cuộc sống để tìm kiếm và phản ánh mọi mặt vấn đề của đời sống xã hội

Ở nước ta hiện nay, Lao động là tờ báo hàng đầu trong việc khai thác

những thế mạnh của phóng sự báo chí hiện đại Phóng sự trên tờ báo này có

ưu điểm nổi bật là phong phú về đề tài, năng động trong tiếp cận hiện thực và

có hình thức thể hiện rất linh hoạt Về phương diện thể loại, đây là tờ báo mà hầu hết những bài được ghi là “phóng sự” đều đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của phóng sự hiện đại Trên tinh thần coi phóng sự là thể loại lớn, là “khẩu

đại bác” trong báo chí, trong nhiều năm qua, Ban biên tập báo Lao động đã nỗ

Trang 30

lực duy trì thể loại này đều đặn trên tất cả các số báo, đồng thời tự đặt ra tiêu chí riêng để duy trì và phát triển phóng sự Theo quan niệm này, tác phẩm phóng sự được ví như một bức tranh “có cảnh, có người, có những điều ta chưa biết tới, có những số phận sau những góc khuất của cuộc sống, để mà hiểu biết, căm giận, cảm thông và yêu thương cuộc sống, yêu thương con người hơn Bức tranh đó có thể rực rỡ sắc màu, rộn rã tiếng đời, tùy thuộc vào bút pháp, văn phong của người viết phóng sự” Với cách nhìn nhận về thể loại

phóng sự như vậy, trong những năm qua báo Lao động là một trong những tờ

báo hàng đầu ở nước ta gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực phóng

sự Nhiều tác phẩm in ra trên báo này đã được coi như những tác phẩm tiêu

biểu cho thể loại phóng sự trên báo in, báo điện tử Phóng sự báo Lao động đã

phản ánh trung thành những nổ lực của cá nhân, của cộng đồng và chính quyền các cấp trong việc giải quyết những khó khăn trong cuộc sống theo một định hướng tích cực, hợp lý, hợp tình, hợp pháp Bên cạnh những cây bút đàn anh như: Chinh Đức, Vĩnh Quyền, Huỳnh Dũng Nhân,… đã đạt nhiều thành công, trong những năm gần đây đã xuất hiện những cây bút trẻ có cá tính như

Lê Quang Vinh, Bảo Trân, Trần Đăng, Xuân Quang, Quảng Hà, Lê Thanh Nguyên,…

Đứng trước nhu cầu thông tin đa dạng, đáp ứng được những thôn tin cấp

thiết, nóng hổi của đời sống thì hiện nay Lao động vẫn là một trong những tờ

báo ở nước ta có nguồn phóng sự dồi dào để đăng hàng ngày Những tác phẩm này thường có dung lượng dao động trong khoảng từ 1500 chữ đến

1800 chữ Thể loại này đã trở thành thế mạnh, có vai trò quan trọng trong việc

tạo ra bản sắc riêng của báo Lao động Tiếp đến, Sài Gòn giải phóng là một

trong số không nhiều tờ báo ở nước ta thường xuyên đăng tải các phóng sự Trải qua quá trình vận động, phát triển báo chí luôn gắn liền và đáp ứng kịp thời với những đổi thay của xã hội Báo chí đã là vũ khí tinh thần, là

Trang 31

nguồn động lực quan trọng, lãnh trách nhiệm đi tiên phong trong công cuộc đổi mới đất nước, xã hội, con người

1.3 Quá trình v ận động, phát triển của phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay

Bối cảnh lịch sử xã hội ăm ắp những mâu thuẫn cùng với biết bao biến cố phức tạp nảy sinh ở cả trong quan hệ đối nội và đối ngoại thời tiền đổi mới đã tạo tiền đề cần thiết cho sự hiện diện của một giai đoạn phóng sự mới mang những sắc thái riêng rất khác các giai đoạn phóng sự trước đó Nét đặc sắc nổi bật của phóng sự giai đoạn này là ở chỗ: bước đầu phóng sự đã nới rộng đáng

Trang 32

kể phạm vi đề tài phản ánh Đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục được khai thác Những sự kiện tiêu biểu của hai cuộc chiến bảo vệ biên cương Tây Nam và biên giới phía Bắc được tái hiện khá hào hùng trong các phóng sự của Nam

Hà, Đỗ Quảng tạo nên sự tiếp nối, liền mạch với phóng sự thời 1945-1975 Song nổi bật nhất và phong phú nhất là phóng sự viết về đề tài kinh tế - xã hội qua những cây bút phóng sự như Hữu Thọ, Đỗ Quảng, Trần Huy Quang… Muôn mặt hoạt động kinh tế thời bao cấp đã được ghi lại khá sinh động với tất cả các mặt tốt, xấu của nó Đó là cuộc đấu tranh chống lại những bảo thủ, trì trệ của cơ chế quan liêu bao cấp, chống lại tệ nạn tham nhũng, tệ nạn ma túy, mại dâm… Thêm vào đó, những vấn đề trong cuộc sống đời thường lúc này cũng có dịp đi vào các trang phóng sự sau những năm dài tạm lắng trong chiến tranh

Không chỉ mở rộng về đề tài, phóng sự thời kì này còn bước đầu tiếp nối được cảm hứng phê phán hiện thực của phóng sự những năm 1930-1945, hướng tới phơi bày những hiện trạng tiêu cực xã hội Đó là đặc điểm thể hiện khả năng áp sát hiện thực cuộc sống bằng tinh thần can đảm vốn có của thể loại này Bên cạnh đó, bối cảnh hiện thực mới cũng đem đến cho phóng sự những cách tân hình thức khác với các giai đoạn trước Phóng sự thời chiến tranh vừa ưu tiên tính cập nhật và giá trị tuyên truyền, cổ vũ, động viên theo lối ghi nhanh, vừa chú trọng tái hiện qui mô sự kiện trong trạng thái ngổn ngang vốn có của nó theo lối kí sự, đồng thời lại đòi hỏi sự ngắn gọn, hàm súc

để tiện in trong một kì báo Giờ đây trong điều kiện của thời bình đã cho phép phóng sự được đầu tư kĩ càng hơn Tốc độ dòng trần thuật, không gian sự kiện, kể được đan xen với tả, chân dung nhân vật cơ bản được khắc họa thêm phần sắc nét Đặc biệt, trong các phóng sự thường in đậm dấu ấn chủ quan của tác giả qua những bình luận, phân tích vấn đề trong tác phẩm Vì vậy dung lượng tác phẩm thường khá lớn, đòi hỏi phải in trên báo thành nhiều kì

Trang 33

Nhiều phóng sự của Đỗ Quảng, Trần Huy Quang… được đăng gối liên tiếp

trên nhiều số báo (ví dụ phóng sự Âm mưu của kẻ thù và số phận những người

trốn bỏ Tổ quốc của Đỗ Quảng, Lời khai của bị can của Trần Huy Quang…)

Năng lực tổng hợp phẩm chất các thể loại kí khác của phóng sự giai đoạn này bước đầu cũng đã được ý thức ở một số cây bút tiêu biểu Nhờ điểm nhìn trần thuật được điều chỉnh, co giãn linh hoạt, không ít phóng sự đã khai thác cái nhìn hoài niệm theo kiểu hồi kí hoặc mở ra các nhánh rẽ bằng những tiểu đoạn miêu tả đầy ấn tượng về thiên nhiên, đồ vật, con người… như trong văn chương thẩm mĩ Tính chất chính luận cũng bắt đầu được chú trọng sử dụng nhằm tạo nên tầm khái quát cho tác phẩm Nổi bật hơn cả vẫn là phẩm chất truyện kí trong các phóng sự dài kì Mặt khác ý thức truy tìm sự thật của phóng sự thời kì này (nhất là từ những năm 80 trở đi) không thể không hàm chứa cái nhìn dân chủ của tiểu thuyết Sự ra đời của các tiểu thuyết - phóng sự

như: Những khoảng cách còn lại (1980), Đứng trước biển (1983), Cù lao

phóng sự giai đoạn tiền đổi mới này

Nhìn chung phóng sự giai đoạn 1975-1985 có được bước tiến đáng kể, tạo được một diện mạo mới khác trước Phóng sự thời kì này đang từng bước tiếp cận với hiện thực mới trong cái nhìn sâu hơn, đa dạng và linh hoạt hơn ở cả mặt phải cũng như phía khuất lấp của cuộc sống Tính dân chủ và sự can đảm bước đầu của phóng sự thời kì này đã góp phần tạo đà tích cực cho sự nở rộ khá trọn vẹn của phóng sự Việt Nam thời kì đổi mới kể từ 1986 trở về sau

Có thể nói trong vòng hơn nửa thế kỉ sinh thành và phát triển, phóng sự Việt Nam đã thực sự tạo nên những biến thái bất ngờ Sau sự khởi đầu trọn vẹn với những tác phẩm đặc sắc của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố,… Phóng

sự đi qua hai cuộc chiến tranh như một dòng chảy ngầm bền bỉ và dai dẳng

Có những lúc tưởng chừng thể loại này bị mờ chìm và mất hút trong dàn hợp

Trang 34

ca của các thể loại có ưu thế cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng của quân và dân ta Song những dấu hiệu phục sinh mạnh mẽ vào thời kì tiền đổi mới cho thấy phóng sự như một thể loại có khả năng tồn tại theo những lối riêng, thích ứng với mọi hoàn cảnh lịch sử xã hội Cả sự thăng hoa lẫn chìm lắng đều mang những dấu ấn đặc thù của thể loại văn học - báo chí quan trọng này

1.3.2 Phóng s ự giai đoạn 1986 đến 1995

Nếu như ở giai đoạn trước, đất nước vừa thống nhất, hiện tại hòa bình ngổn ngang bao vấn dề của cuộc sống, số phận người lính sau chiến tranh nói riêng và con người nói chung là những vấn đề mà toàn xã hội phải quan tâm Sau mười năm, cột mốc đổi mới đất nước được đánh dấu thông qua Đại hội Đảng lần thứ VI mở ra đã hướng nhà văn nhà báo sang tiếp cận hiện thực trong cách nhìn nhận, đánh giá công bằng, thẳng thắn và khách quan

Nửa sau những năm 80, trong tình hình những cuộc tranh luận về văn học

ở Việt nam diễn ra sôi nổi vì lúc ấy mọi người được phát biểu chính kiến, được sống trong bầu không khí dân chủ, lành mạnh Trải nghiệm trong thực tế sôi động của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, các nhà văn nhà báo đã cho ra đời những bài phóng sự đúng nghĩa Chính trong bầu không khí ấy đã tạo nên sự khởi sắc trong văn học Thoạt đầu là sự xuất hiện của rất nhiều bút

ký Thể phóng sự sau nhiều năm vắng bóng, nay lại lên tiếng làm xôn xao dư luận Đây là giai đoạn phóng sự lại có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng

và chất lượng Trong sự bùng nổ các thể ký văn học và ký báo chí từ nửa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay, phóng sự chính là “cái ngòi nổ” Trên báo

chí giai đoạn này có hai phóng sự mang dấu ấn: phóng sự Lời khai của bị can

(Trần Huy Quang), Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc) Hai bài phóng

sự này đã dám nói những tiêu cực

Trang 35

Ta thấy trên cơ sở cột mốc quan trọng là thời kỳ đổi mới Phóng sự giai

đoạn này hình thành trọn vẹn tính chất phóng sự với những tính chất sau: tuyên truyền cho đổi mới và nêu lên những bất công, những mặt trái, góp ý về đường lối, chủ trương, phê phán những cái xấu, tiêu cực của xã hội trong bối cảnh giao thời giữa cái cũ và cái mới, cái cũ chưa mất hẳn và ngày càng bộc

lộ những hạn chế, bất cập, cái mới thì đang trong quá trình hình thành, hình

thành những con người mới, tư duy mới Những tác phẩm Người đàn bà quỳ của Trần Khắc, Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc,… với những vấn

đề được nêu lên khiến những người có trách nhiệm và những cấp có thẩm quyền phải suy nghĩ, cân nhắc, lên tiếng, đưa ra giải pháp xử lý Sẽ còn sống

mãi trong ký ức người đọc và vĩnh viễn đi vào lịch sử dân tộc

Với tinh thần trách nhiệm cao, dũng cảm của người viết, phóng sự giai đoạn này đã có lối viết thẳng thắn hơn, mạnh dạn hơn Các phóng sự đã không ngần ngại vạch mặt chỉ tên những kẻ xấu, việc xấu, chỉ ra những vấn

đề cấp thiết của đời sống bất chấp những an nguy của bản thân Có thể thấy rằng, trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo thì phóng sự là một trong những thể loại xung kích luôn đứng ở hàng đầu trong cuộc đấu tranh với cái xấu, cái ác Phóng sự mạnh dạn kiến nghị, đề xuất cách giải quyết những vấn đề của cuộc sống

Đây là giai đoạn cực thịnh về phóng sự, nhiều cả về đội ngũ viết lẫn số lượng phóng sự với sự góp mặt của các tác giả tiêu biểu như: Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Xuân Ba, Vũ Hữu Sự, Huỳnh Dũng Nhân… Theo như nhận xét của các nhà nghiên cứu đã cho rằng thì nội dung của phóng sự giai đoạn này mang đặc điểm của phóng sự báo chí: Chống tiêu cực, đa dạng, phóng sự

có kiến nghị, đề xuất, có cái tôi tác giả và là thể loại hoàn chỉnh Đây được xem như là sự thích ứng và trưởng thành của thể loại trước thực tế và yêu cầu

Trang 36

của xã hội Một bước tiến thể hiện sự năng động của thể loại, một thể loại nắm bắt cuộc sống trong thế nhanh nhạy

Phóng sự giai đoạn này là phóng sự xã hội, trong đó mảng điều tra đã đóng góp tích sực, phanh phui nhiều vụ án, minh oan cho nhiều số phận, diễn

tả được muôn mặt của đời sống Là những vấn đề thời sự nóng bỏng, phản ánh được sự đổi mới Được viết bằng giọng thông tấn Chẳng hạn trong tập

phóng sự Tiếng kêu cứu của con chim gõ kiến của Trúc Chi và Nguyễn Công

Thắng đã thu hút sự chú ý đặc biệt của độc giả nhiều thế hệ, cho đến hôm nay

ta vẫn giật mình, cứ ngỡ như là sự không thật về những hoàn cảnh, số phận, con người phải sống trong hiện thực đầy bất công Đó là vụ án Đoàn Thị Thuận, vụ giải tỏa nhà dân đường Ngô Quyền ở thị xã Tuy Hòa,… Với trách nhiệm, lương tâm, bằng cả trái tim của người cầm bút thì họ “không thể nào

im lặng mãi trước đòi hỏi chính đáng của con người” Tập phóng sự của hai tác giả Trúc Chi - Công Thắng là tập phóng sự viết về một địa phương nhưng

có ý nghĩa với nhiều địa phương khác bấy giờ, và vẫn là tập phóng sự có giá trị hiện thực, nhân đạo cho đến hôm nay

Trong tình hình hiện nay gắn liền với đặc điểm phóng sự nghiêng dần về tính chất báo chí thì dung lượng của nó cũng có xu hướng ngắn lại, trung bình

là 1800 – 2000 chữ Tuy vậy những hiệu ứng xã hội không hề giảm sút mà đem lại hiệu ứng rất cao, mỗi phóng sự thật sự là một tác phẩm, nêu được những vấn đề tích cực và tiêu cực mà xã hội cần phải nhìn nhận và tìm cách giải quyết nó, không chỉ nêu vấn đề mà còn góp phần giải quyết vấn đề Có tính chiến đấu đối với những phóng sự phản ánh, phơi bày cái xấu, tiêu cực, những con người biến chất Thuyết phục người đọc bằng sự chính xác, linh hoạt, ngắn gọn, những tác phẩm phóng sự đã ghi lại dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc Tính từ khoảng thời gian xuất hiện ở Việt Nam từ đầu thập niên 30 của thế kỷ XX đến nay, với một chặng đường khoảng hơn 80 năm có

Trang 37

mặt ở Việt Nam nhưng phóng sự đã có những bước tiến dài, ngày càng định hình rõ về mặt thể loại Phóng sự càng đi sâu vào những vấn đề thời sự có tính cập nhật nóng bỏng, chứa đựng nhiều thông tin cô đọng, nổi bật tuy có ngắn gọn nhưng đã đáp ứng được nhu cầu nhận thức thông tin nhanh của người tiếp nhận trong thời đại ngày nay

Tính chiến đấu cao đó được thể hiện thông qua ngôn ngữ, giọng điệu được trình bày theo lối trực diện, thẳng thắn nhưng không kém phần sâu sắc, thâm trầm đã tạo hiệu ứng mạnh Phóng sự thật sự đã tạo được cho chính mình một diện mạo mới, trong đó xã hội hiện lên ở những đường nét và nhiều góc độ khác nhau, cũng như phóng sự đã hướng đến nhiều vấn đề tiêu cực và tệ nạn

xã hội – những vấn đề nhức nhối mà công chúng quan tâm Giai đoạn này đã

để lại trong chúng ta nhiều phóng sự đặc sắc được tạo nên từ ngôn ngữ văn học với đặc trưng thẩm mỹ cao kết hợp với ngôn ngữ mang tính trực diện không né tránh sự việc và con người, nhiều khi mạnh bạo, căng thẳng, quyết liệt của báo chí Đó là thứ ngôn ngữ có sức cảnh tỉnh, lay chuyển, tạo hiệu ứng mạnh đối với người tiếp nhận nói riêng và về phía xã hội nói chung Trong quá trình khảo sát cụ thể ở những tác phẩm phóng sự trong những chương sau ta sẽ thấy rõ hơn về ngôn ngữ, giọng điệu của phóng sự thời kỳ đổi mới rất riêng, rất sinh động và nhiều sắc thái Yêu cầu và tính chất của đời sống xã hội hiện đại đã tác động đến phóng sự sau 1986 và buộc nó phải có hướng đi mới với sự cách tân phù hợp Và trên hết là tính tính chiến đấu của phóng sự của phóng sự giai đoạn này đã trở thành sức mạnh vô hình trong việc thúc đẩy con người, cuộc sống phát triển theo hướng mới, tích cực hơn

1.3.3 Phóng s ự giai đoạn 1995 đến nay

Cuộc sống từ thời chiến chuyển sang thời bình đến đổi mới đất nước là cả một chặng đường không ngắn Từ đổi mới để đi đến ổn định kể từ sau năm

Trang 38

1995, đất nước ta đã và đang phát triển Nhưng song song với những thời cơ

và thuận lợi cũng không ít những khó khăn luôn nảy sinh hàng giờ hàng ngày buộc ta phải nhìn nhận, xem xét, phản ánh và đưa ra phương hướng khắc phục, giải quyết Những người đi tiên phong làm nhiệm vụ đầy trách nhiệm

và tâm huyết trong việc này không ai khác hơn là những nhà văn nhà báo Họ

đã đi khắp nẻo quê hương đất nước, tận cùng thôn xóm để tìm hiểu, ghi nhận, phản ánh, cảm thông, chia sẻ, góp nhặt từng “hình ảnh nhỏ nhất” trong khuôn hình chung rộng lớn của đất nước Mỗi góc ảnh là một hiện trạng, một sự kiện, một vấn đề về đất nước, xã hội và con người

Từ đặc trưng thể loại như ta đã biết thì phóng sự là một thể tài lớn được tất

cả các báo quan tâm Đặc biệt, trên báo Tuổi trẻ, mảng phóng sự được đầu tư rất lớn Theo sinh viên Phương Thanh, tác giả khóa luận nghiên cứu về Phóng

sự trên báo Tuổi Trẻ đã có thống kê cụ thể trong giáo trình Để viết phóng sự

tục phát triển” như sau: “Năm 1995: 67 phóng sự, 1996: 59 phóng sự, 1997:

56 phóng sự, 1998: 83 phóng sự, 1999: 108 phóng sự/144 số báo (Cùng thời

gian này chỉ có báo Lao động có nhiều phóng sự hơn Năm 1995 báo Lao

động có 82 phóng sự Năm 1999: Báo Lao động có 144 phóng sự) Đến năm

2000, báo Tuổi trẻ ra từ 4 rồi 5 rồi 6 kỳ một tuần, phóng sự cũng tăng lên

đáng kể, năm 2001: 148 phóng sự, 2002: 212 phóng sự, 2003: 200 phóng sự, 2004: 142 phóng sự, 2005: 160 phóng sự Như vậy trong vòng 6 năm gần đây trên báo Tuổi trẻ có 944 phóng sự, trung bình một năm có 157 phóng sự

Trong 11 năm qua, báo Tuổi trẻ cũng đã liên tiếp tổ chức các kỳ thi viết

phóng sự Đã thu hút được 1.318 tác phẩm phóng sự dự thi của gần 300 tác

giả Cùng thời gian này, báo Lao động vẫn tiếp tục dẫn đầu về số lượng phóng

sự Có thể nói vài ba năm trở lại đây, từ khi ra 7 số trong một tuần, báo Lao

Trang 39

động chưa một ngày nào vắng bóng các thể loại phóng sự, ghi chép, bút

cầu của họ càng ngày càng cao Hiện nay một số tờ báo: Lao động, Sài Gòn

giải phóng, Thanh niên, Tuổi trẻ, An ninh thế giới, Tin tức, luôn duy trì đều

đặn các mục phóng sự nhằm thu hút độc giả Hàng năm Hội Nhà báo Việt Nam và nhiều cơ quan báo chí, Hội Nhà báo các địa phương đã phát động nhiều cuộc thi viết phóng sự và đã đạt được nhiều kết quả khả quan Hiện nay phóng sự vẫn được coi là thể loại hàng đầu trên báo chí Việt Nam Trong

cuộc thi phóng sự năm 2002-2003 của báo Lao động có 3 tác phẩm phóng sự

đề cập những con người của đời thường đạt giải Đó là các phóng sự: Mệ

(Giải nhì - Hoàng Văn Minh) và Chàng trai Mông nuôi cá tiến vua (Giải nhì -

Tản Viên) Đây là mảng phóng sự đề cập đến những con người trong cuộc sống thường nhật Nhân vật là những con người rất bình thường, có cuộc sống cũng rất bình thường, nhưng hành động ứng xử đối với cuộc sống hàng ngày

họ lại tỏa sáng đến lạ thường

Cuộc sống vốn luôn vận động, vạn vật không đứng yên Xã hội cũng không nằm ngoài quy luật ấy, mỗi một thời kỳ luôn chứa đựng những thuận lợi và khó khăn riêng Trong thời hội nhập và phát triển, chúng ta đã và đang phải đối diện với muôn vàn những vấn đề không kém phần phức tạp trong cuộc sống thường nhật Thời kỳ này đã mở ra nhiều hướng tìm tòi trong tiếp nhận và thể hiện, thật sự đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận của người đọc hiện đại Chính vậy, đề tài được mở rộng, khám phá trên mọi khía cạnh của cuộc

Trang 40

sống Nhiều vấn đề một thời người ta e dè ít khi nói đến, nay được phóng sự không ngần ngại tiếp cận, ghi nhận và nghiền ngẫm, để rồi đưa ra những lời giải đáp đôi khi trần trụi đến lạnh lùng

Cũng như ở những giai đoạn trước, phóng sự giai đoạn này ít chất văn học

và đậm chất thời sự, thông tin Chất truyện nhạt dần, chủ yếu đọng lại ở “văn” của người viết Sự đổi mới nghệ thuật xây dựng nhân vật trong phóng sự đã góp phần đưa phóng sự trở về gần với báo chí hơn Mặc dầu vậy, phóng sự cũng không ngần ngại đi sâu khai thác trọn vẹn số phận nhân vật khi cần đề cập đến những vấn đề lớn nhưng rất hiếm Phóng sự thời kỳ đổi mới đa số không có cốt truyện mà chỉ có sự liên kết giữa sự kiện, số liệu, con người với cảm quan của tác giả Trong đó, sự kiện là chất liệu chính bao gồm nhiều vấn

đề nhỏ hàm chứa bên trong Tài năng của những cây bút phóng sự thể hiện ở khả năng nối kết các sự kiện sao cho nó có sức sống sinh động nhất Đặc điểm

đã đưa phóng sự thời kỳ này trở về đúng với đặc trưng thể loại

Thời đại của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của con người thì cách thể hiện và trình bày các phóng sự được thay đổi để đáp ứng yêu cầu thông tin nhanh nhạy của người đọc bởi phóng sự thời còn phải dành đất cho nhiều thể loại khác nên phạm vi có hạn Dung lượng phóng sự được thu hẹp

để đảm bảo diện tích dành cho các thể loại khác trên trang báo Phóng sự có

xu hướng chú ý đến chất lượng thông tin trong tác phẩm, những thông điệp

mà tác giả muốn gửi đến cho người đọc Đáp ứng yêu cầu thông tin nhanh nhạy của người đọc hiện đại, kích thước phóng sự thời kỳ đổi mới vận động theo hướng giảm dần, nếu phóng sự 1932-1945 phổ biến trên 10.000 từ, thì kích thước phóng sự thời kỳ này chỉ dao động từ 1.000 đến 5.000 từ, chủ yếu

là dưới 5.000 từ

Phóng sự giai đoạn này đã mạnh dạn mở ra những bí mật của sự thật về các vấn đề nằm ẩn sâu trong xã hội, đã góp mặt đầy ấn tượng với hàng trăm

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w