1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thế giới thần linh trong sử thi tây nguyên (sử thi ba na, ê đê, mơ nông)

321 784 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 321
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng trong tác phẩm này, khi trình bày về nhân vật anh hùng – nhân vật trung tâm c ủa sử thi, tác giả khẳng định thế giới thần thánh, tâm thức thần linh chính là n ền tảng để người dân k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Hương Thơm

THẾ GIỚI THẦN LINH

TRONG SỬ THI TÂY NGUYÊN

(Sử thi Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Hương Thơm

THẾ GIỚI THẦN LINH

TRONG SỬ THI TÂY NGUYÊN

(Sử thi Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp

tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn đến quí thầy cô trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Phòng sau Đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn, các thầy

cô và bạn bè đã hết lòng nhiệt tình đóng góp ý kiến, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn

TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2012

Học viên

Nguyễn Thị Hương Thơm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Chương 1: VÙNG ĐẤT VÀ SỬ THI TÂY NGUYÊN 19

1.1 Vùng đất Tây nguyên 19

1.1.1 Đặc điểm các tộc người Ba-na, Ê-đê , Mơ-nông ở Tây nguyên 19

1.1.2 Đời sống vật chất và tinh thần của tộc người Ba-na, ê-đê, Mơ-nông ở Tây nguyên 20

1.1.3 Tâm thức thần linh, “Vạn vật hữu linh” trong đời sống tinh thần người Tây nguyên 27

1.2 Sử thi Tây nguyên 36

1.2.1 Thuật ngữ “Sử thi” 36

1.2.2 Đôi nét về sử thi Tây nguyên 37

1.2.3 Tổng quan về Sử thi của ba dân tộc Ê-đê, Ba-na, Mơ-nông 41

C hương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT THẦN LINH VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CON NGƯỜI TRONG SỬ THI TÂY NGUYÊN 47

2.1 Một số khái niệm 47

2.1.1 Khái niệm thần linh 47

2.1.2 Khái niệm nhân vật thần linh – một kiểu nhân vật đặc biệt trong tác phẩm nghệ thuật 48

2.1.3 Khái niệm nhân vật bán thần 49

2.1.4 Khái niệm thế giới thần linh 49

2.2 Thế giới nhân vật thần linh trong Sử thi Tây nguyên 49

2.2.1 Nhân vật thần linh trong Sử thi Tây nguyên 49

2.2.2 Nhân vật bán thần linh trong Sử thi Tây nguyên 70

2.2.3 Mối quan hệ giữa nhân vật thần linh với nhau và giữa thần linh với bán thần 75

2.3 Mối quan hệ giữa thế giới nhân vật thần linh và con người trong sử thi Tây nguyên 79

2.3.1 Thế giới nhân vật thần linh tác động đến cuộc sống của con người 79

2.3.2 Sự tác động trở lại của con người đến thế giới thần linh 86

Trang 5

2.3.3 Sự hòa hợp giữa người và thần 89

Chương 3: THẾ GIỚI NHÂN VẬT THẦN LINH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI THI PHÁP SỬ THI TÂY NGUYÊN 95

3.1 Thế giới nhân vật thần linh - phương thức nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống tinh thần các tộc người Tây nguyên 95

3.1.1 Quan niệm về con người 95

3.1.2 Quan niệm về thế giới 99

3.2 Thế giới nhân vật thần linh - phương thức nghệ thuật tham gia vào cấu trúc tác phẩm Sử thi Tây nguyên 108

3.2.1 Mở rộng hệ thống nhân vật 110

3.2.2 Mở rộng không gian nghệ thuật 118

3.2.3 Thúc đẩy cốt truyện, giải quyết tình huống sử thi 125

PHẦN KẾT LUẬN 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÍ do chọn đề tài

1.1 S ử thi là tài sản vô cùng quý báu không chỉ của riêng kho tàng văn học dân gian mà còn c ủa văn hóa nhân loại nói chung Được tìm thấy muộn hơn so với

nh ững sử thi trên thế giới như Mahabharata, Ramayana (Ấn Độ), Iliat, Ôđixê (Hy

L ạp), … nhưng sử thi Tây Nguyên nói chung cũng đã góp cho kho tàng sử thi nhân

lo ại thêm phong phú, đa dạng Mặc dù được phát hiện và sưu tầm cách đây không lâu nhưng những sử thi các dân tộc trên “vùng đất thiêng” này lại được xác định là

s ử thi cổ sơ, ra đời trong giai đoạn tiền giai cấp, chưa hình thành nhà nước Nghiên

c ứu về sử thi của các dân tộc này, chúng tôi được tiếp cận với cái đẹp theo cách nguyên sơ, thuần phác nhất

1.2 M ột lí do mang tính cá nhân là người viết sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tây Nguyên huyền thoại này Nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên là cách giúp người viết có cơ hội hiểu sâu hơn về quê hương, xứ sở; về nền văn hóa “đặc sản”

“có m ột không hai” này

1.3 S ử thi là thể loại được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, đồng thời là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu với mục đích gặt hái những thành t ựu về văn hóa cũng như văn học dân gian Nghiên cứu về thế giới thần linh trong các s ử thi Tây Nguyên một cách có hệ thống để khám phá cái đẹp hấp dẫn đầy lôi cuốn của tư duy thần thoại và tâm thức thần linh “tươi mát và sinh động”

c ủa con người nơi đây Những kết quả của nghiên cứu có thể sử dụng trong việc

gi ảng dạy thể loại sử thi Đi vào một số sử thi, đặc biệt là sử thi anh hùng, người

vi ết thấy rằng: nhân vật thần linh xuất hiện với một tần số dày đặc trong các tác

ph ẩm Đây là một đặc điểm quan trọng góp phần thể hiện tư duy nguyên thủy thô

sơ, hồn nhiên của nhân dân trong một thời kỳ lịch sử “một đi không trở lại” Nghiên c ứu về thế giới thần linh trong các sử thi tiêu biểu của Ê-đê, Ba-na, Mơ- nông để thấy được những nét đặc sắc riêng về văn học dân gian cũng như văn hóa các dân t ộc thiểu số sống trên vùng đất cao nguyên đầy nắng và gió này Với

nh ững hứa hẹn và hấp dẫn mà vấn đề đem lại, người viết mạnh dạn thực hiện đề

Trang 7

tài: “TH Ế GIỚI THẦN LINH TRONG SỬ THI TÂY NGUYÊN” (Sử thi Ba-na,

Ê- đê, Mơ-nông)

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về thế giới thần linh trong sử thi

Quan niệm về thế giới thần linh của một số nhà nghiên cứu nước ngoài:

trong công trình Sử thi thần thoại M’Nông, NXB KHXH, 1996, Đỗ Hồng Kỳ đã

nhắc đến yếu tố phi lí trong sử thi mà Arixtôt bàn đến Tuy không đề cập yếu tố thần linh nhưng Arixtôt đã chỉ ra cái khác thường trong sử thi Theo ông, sử thi có thể biểu hiện cái phi lí, nguồn gốc của sự khác thường Thiết nghĩ, đây cũng là xuất phát điểm của yếu tố thần linh trong tác phẩm sử thi Qua công trình này, Đỗ Hồng

Kỳ cũng nêu lên nhận định của Hêghen “con người trong sử thi chứa trong lồng ngực nó tất cả các thần” Như vậy, yếu tố thần linh và kho tàng thần thoại là cơ sở,

là chất liệu trong việc nhào nặn nên con người trong sử thi Tuy không đề cập trực tiếp về thế giới thần linh nhưng Hêghen đã nêu lên vai trò của các yếu tố thần linh trong sử thi anh hùng V.Prôp khi bàn về đặc tính chủ yếu của sử thi anh hùng đã cho rằng mức độ con người chinh phục và làm chủ tự nhiên tỉ lệ thuận với mức độ

suy sụp lòng tín ngưỡng của con người với các thần chủ: “các vị thần này từ chỗ là

những người phân phát những của cải và hạnh phúc đã biến thành những quái vật hung tợn mà nhân vật anh hùng trong sử thi phải giao tranh” [117; tr.122] Theo

Mê-lê-tin- xki, đề cập đến nhân vật thần linh nhưng nhận xét của Prôp ở một số trường hợp còn chưa phù hợp Bởi lẽ không phải tất cả những quái vật đánh nhau với người anh hùng đều là những thần linh bị “thất sủng” Những cuộc chiến tranh này không phải bao giờ cũng thể hiện sự tan vỡ về niềm tin tâm linh mà ngược lại

nó là biểu hiện của tư duy nguyên thủy của con người trong việc lí tưởng hóa cái quá khứ dân chủ, tuyệt đối Xét từ thực tế tác phẩm sử thi, nhận xét trên của Mê-lê- tin- xki là hoàn toàn có cơ sở

Nghiên cứu về thế giới thần linh trong sử thi của một số nhà nghiên cứu trong nước: Phan Đăng Nhật với bài viết Mo lễ tang – một pho thần thoại và sử thi Mường – Việt đồ sộ cho rằng thần thoại Mường và thần thoại Hy Lạp sở dĩ có giá

trị tinh thần vô cùng quý báu, là niềm tự hào của từng dân tộc là vì nó có “một thế

Trang 8

giới thần đi lại, bay lượn hoạt động rất nhộn nhịp” [61; tr.187] Bài viết dừng lại ở

mức độ trích kể tóm lược quá trình đoàn người đưa hồn người chết lên Mường Trời, đi qua các mường thần linh có các vị thần ngự trị Cuối cùng, tác giả kết luận

thế giới thần là tấm gương phản chiếu xã hội loài người” [61; tr.196] Mục đích

của bài viết là mượn yếu tố thần linh để giải thích quá trình hình thành và phát triển con người và lịch sử xã hội loài người chứ không đi vào phân tích vai trò của

yếu tố thần linh Bên cạnh đó, Phan Ngọc trong bài “Đẻ đất đẻ nước”- bản sử thi

đầu tiên của nền văn học Việt – Mường đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian số 4/1986 c ũng nhắc đến mối quan hệ giữa thế giới trần gian và thế giới thần linh Ông cho rằng thần linh trong sử thi Mường không hề chịu ảnh hưởng của văn hóa

Há n hay Ấn Độ mà là do tư tưởng vạn vật hữu linh của Đông Nam Á Giống như những nhà nghiên cứu trên, Phan Ngọc mới nêu lên nhận định chứ chưa giải quyết luận điểm Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong giáo trình

Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, 2005, có đề cập về thế giới thần linh

nói chung dưới góc độ vai trò của thần thánh và yếu tố thần linh trong các sử thi Tuy nhiên, phần viết này chỉ là một điểm nhỏ trong những đặc điểm về nội dung của sử thi anh hùng nói chung mà tác giả trình bày Các nhà nghiên cứu chủ yếu nêu ra vấn đề mà chưa giải quyết một cách hệ thống vấn đề Khía cạnh này người viết sẽ thể hiện chi tiết, cụ thể trong luận văn của mình

2.1 Nghiên cứu về thế giới thần linh trong sử thi Tây Nguyên

Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, bảo quản, biên soạn

và xu ất bản về sử thi diễn ra cũng hết sức khẩn trương và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Trên tinh thần đó, thế giới thần linh cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập đến Có thể kể đến Phan Đăng Nhật với một loạt những bài nghiên

c ứu Trong bài viết Sử thi Tây Nguyên với hiện thực lịch sử Tây Nguyên (Nghiên

c ứu sử thi Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001), tác giả trình bày quan

ni ệm về thế giới siêu nhiên của con người Tây Nguyên bao gồm ba cấp độ: thần

(th ần ông Trời, thần sấm, thần mưa, thần chiến tranh, thần diều hâu, …), giàng

(các th ần cây cối và thần săn bắn, …) và hồn (Pơ Ngol) Ông cho rằng thế giới siêu

nhiên này có m ối quan hệ mật thiết, hòa hợp với đời sống con người bởi dù miêu tả

Trang 9

th ần hay người, sử thi đều xuất phát từ hiện thực lịch sử, xã hội và con người Cùng chung ý ki ến với Phan Đăng Nhật là Tô Ngọc Thanh Trong công trình Giữ

gìn phát huy vốn văn hóa truyền thống của dân tộc do Ty Văn hóa và thông tin

Gia-lai - Kon-tum, xu ất bản năm 1981, tác giả Tô Ngọc Thanh cho thấy yếu tố

th ần linh ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sống tâm linh con người Tây Nguyên Họ quan ni ệm muôn vật, bất kỳ cái gì cũng có hồn ngự trị: hòn sỏi, hòn đá, lá cây, giọt sương, … Tìm hiểu cụ thể một số sử thi thì ý kiến của Phan Đăng Nhật và Tô

Ng ọc Thanh đưa ra là rất chính xác

Trong công trình nghiên c ứu của Viện Dân tộc học Các dân tộc ít người ở

Vi ệt Nam (1984), các tác giả khi viết về một số tộc người ở Tây Nguyên đã cho

r ằng thần K’du hay Gơhônh là những vị thần tối cao? Theo người viết gọi như thế

là chưa chính xác vì sử thi Tây Nguyên ra đời trong giai đoạn tiền nhà nước, chưa phân chia giai c ấp và cũng chưa có mâu thuẫn xã hội gay gắt Và như vậy, chưa thể

t ập hợp một hệ thống thần linh có đẳng cấp hay một điện thần như đỉnh Olympia trong s ử thi Hy lạp, thì cũng không thể có thần linh tối cao Hơn nữa, vũ trụ quan

c ủa người Tây Nguyên là tín ngưỡng ba tầng (trời, mặt đất, dưới đất), mỗi tầng đều

có buôn th ần linh trị vì, không ai là nhân vật thần linh cai quản của cả ba tầng này

c ả

2.1.1 Nghiên cứu thế giới thần linh trong sử thi Ba-na

Phan Th ị Hồng trong công trình Nhóm sử thi dân tộc Bahnar đã nêu lên vai

trò c ủa yếu tố thần linh “người Bahnar KonTum như các cư dân Tây Nguyên khác,

có ni ềm tin về sự tồn tại của thế lực siêu nhiên với đông đảo các vị thần (Yàng)”

[65; tr.26] Theo tác gi ả, thần thánh vừa là nỗi kinh sợ vừa là chỗ dựa, niềm tin của con người nơi đây Hướng tiếp cận mà Phan Thị Hồng đặt ra thiên về phong tục, tín ngưỡng Yếu tố siêu nhiên, thần thánh góp phần làm phong phú thêm văn hóa,

đời sống tinh thần của người Tây Nguyên

Cũng trong tác phẩm này, khi trình bày về nhân vật anh hùng – nhân vật trung tâm c ủa sử thi, tác giả khẳng định thế giới thần thánh, tâm thức thần linh chính là n ền tảng để người dân khắc họa hình ảnh người anh hùng: “từ thế giới của

th ần linh đến thế giới của người trần nơi các buôn làng, đó là sự hình dung về

Trang 10

ngu ồn cội của nhân vật người anh hùng sử thi Bahnar”[65; tr.64] Có thể nói,

Phan Th ị Hồng khi đề cập đến yếu tố thần linh là nhằm nhấn mạnh nguồn gốc xuất thân th ần thánh của nhân vật anh hùng trong sử thi Ba- na Như vậy, nữ tác giả của

công trình nghiên c ứu về Nhóm sử thi dân tộc Bahnar đã có nhắc đến thế giới thần

linh nhưng dưới hình thức lướt qua nhằm phục vụ cho việc làm rõ luận điểm của mình Tác gi ả không có ý định trình bày vấn đề thần linh một cách hệ thống,

chuyên sâu

M ới đây, trên tạp chí Văn hóa dân gian số 5/2010, trong bài viết “Giấc mơ

và vi ệc giải mã những giấc mơ của người Ba na”, tác giả Trung Thị Thu Thủy cho

r ằng giấc mơ là cầu nối tâm linh giữa con người và thần linh: “giấc mơ chính là

kho ảnh khắc được biệt đãi, trong đó con người, thông qua linh hồn mình, có thể

ti ếp xúc với thần linh hay linh hồn của tổ tiên” [144; tr.43] Mục đích của bài viết

là bàn v ề giấc mơ và ý nghĩa của những giấc mơ đó trong đời sống tinh thần của người dân Ba-na Qua đó thấy được trong tâm thức của người Ba-na, thế giới thần linh luôn có m ối quan hệ gần gũi với con người Tuy nhiên, vấn đề mà tác giả bài

vi ết đặt ra chủ yếu xét trên bình diện dân tộc học, văn hóa học

2.1.2 Nghiên cứu thế giới thần linh trong sử thi Ê-đê

Đỗ Hồng Kỳ với phần nghiên cứu về Văn học dân gian Ê-đê, Mơ Nông khi

trình bày nh ững nét chung về tộc người Ê-đê, trong phần đời sống tinh thần, có nêu lên tín ngưỡng ba tầng của dân tộc này (tầng trời, tầng mặt đất, tầng dưới đất và

m ỗi tầng đều có thần linh ngự trị) Ở phần khác, nhà nghiên cứu có phân loại và

mô t ả về một số nhân vật thần linh trong quan niệm tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”

c ủa tộc người Ê-đê Tuy nhiên, Đỗ Hồng Kỳ cũng chỉ trình bày về các nhân vật

th ần linh dựa trên những kiến thức tổng hợp điền dã thực tế tại buôn làng, tức là

nh ững kiến thức về dân tộc học Đến phần nói về nhân vật thần linh trong sử thi

Ê-đê, tác giả chỉ đề cập đến hai nhân vật phụ là ông Trời và bà Duôn Sun

Phan Đăng Nhật trong bài Tín ngưỡng dân gian đê và nghệ thuật sử thi

Ê-đê cho biết tín ngưỡng của người Ê-Ê-đê rất nặng về nghi lễ thờ cúng Thậm chí, nghi

l ễ diễn ra suốt năm suốt tháng, việc gì cũng cúng lễ Và nguyên nhân sâu xa của

tình hình này là do “quan ni ệm về hồn, thần linh và cả giới thần linh của người

Trang 11

Ê-đê” [61; tr.166] Quan niệm vạn vật đều có hồn vía, thần linh đem lại nhiều hệ quả

trong đời sống của họ

Cũng tác giả này, trong bài viết Chi Lơ Kôk – một trong những sử thi tiêu

bi ểu – 1999, khi bàn về đề tài mối quan hệ xã hội trong sử thi trên, ông có nêu lên

m ối quan hệ giữa thần linh và con người “Xét về mặt quan hệ đối với thần linh, tức

là các v ật trong tự nhiên được siêu nhiên hóa, họ cũng có những quan niệm dân

ch ủ và bình đẳng hơn con người của xã hội có áp bức giai cấp” [61; tr.346-347]

Năm 2006, trên tạp chí Văn hóa dân gian số 2, Phan Đăng Nhật có thêm bài

vi ết “Phương pháp nghệ thuật hữu sinh của sử thi Xing Nhã 3” Ở bài viết này, sau

khi ch ỉ ra những biểu hiện của phương pháp hữu sinh trong sử thi Xing Nhã 3

thông qua m ột số biện pháp nghệ thuật (vật thể hóa, thao tác hóa và tương đồng hóa) , Phan Đăng Nhật đã lí giải cội nguồn của phương pháp này là những quan

ni ệm tâm linh “vạn vật hữu linh” của người Tây Nguyên: giàng, thần, hồn, …

T ạp chí Văn hóa dân gian số 5/2003 có đăng bài viết “Ý nghĩa không gian –

th ời gian của con số bảy trong đời sống dân tộc Ê đê” của Phạm Đặng Xuân

Hương Theo tác giả bài viết, con số bảy có một vai trò quan trọng trong đời sống tinh th ần của người Ê-đê, nó không chỉ là cách thức để con người liên lạc nhanh

nh ất khi cần sự hỗ trợ của thần linh mà còn là cầu nối giữa con người và thần linh, góp ph ần cải thiện mối quan hệ này thêm tốt đẹp, gần gũi Cũng theo tác giả, con

s ố bảy thường xuyên xuất hiện trong văn học dân gian Tây Nguyên, nhất là sử thi ( Đăm Săn, Xing Nhã, Đăm Di, …)

2.1.3 Nghiên cứu thế giới thần linh trong sử thi Mơ-nông

Trong công trình nghiên c ứu Văn học dân gian Ê-đê, Mơ Nông, Phan Đăng

Nh ật khi viết phần đại cương về tộc người Mơ-nông có nêu lên quan niệm tín ngưỡng ba tầng của người Mơ-nông (tầng trời, tầng mặt đất, tầng dưới mặt đất) và

ở mỗi tầng như thế tác giả đã liệt kê những tên nhân vật thần linh ngự trị ở đấy Đến phần viết về sử thi Mơ-nông, ông đã trình bày về các nhân vật thần linh Chỉ

v ới độ dài hai trang giấy nhưng những nhận xét mang tính khái quát của tác giả về nhân v ật thần linh cũng đã cung cấp cái nhìn cụ thể hơn về kiểu nhân vật này trong

s ử thi Bài viết của Phan Đăng Nhật phần lớn mang tính chất giới thiệu tổng hợp về

Trang 12

nh ững tài liệu đã thu thập được khi điền dã và mới chỉ liệt kê tên các nhân vật thần linh, chưa đi vào miêu tả chi tiết các đặc điểm về nhân vật, đời sống của thần linh

Trong ph ần nói về các nhân vật thần linh, tác giả có viết: “tính cách của một

s ố nhân vật thần linh cũng được xây dựng theo những khuôn mẫu nhất định” [64;

tr.227] Tuy nhiên, v ề điều này người viết cho rằng tùy trường hợp cụ thể mà cần

ph ải thận trọng Vì đặc trưng của sử thi Mơ-nông nói riêng và sử thi Tây Nguyên nói chung là s ử thi cổ sơ Các nhân vật thần linh trong trí tưởng tượng của con người trong quá khứ hết sức hồn nhiên, ngây thơ Thần linh trong giai đoạn này được miêu tả tương đối đơn giản, chủ yếu là đặc điểm về ngoại hình, thần thái, quy ền năng, sức vóc, … Hay nói cách khác là mỗi nhân vật thần linh đều có đặc điểm riêng nhưng chưa phải là tính cách phức tạp, điển hình Và như thế, tính cách các nhân v ật này không phải bao giờ cũng được xây dựng theo những khuôn mẫu định hình

Cũng bàn về sử thi Mơ-nông, Tô Đông Hải trong bài viết “Những phát hiện

m ới xung quanh sử thi nrong” cho rằng: “nội dung chính xuyên suốt bộ sử thi nrong chính là s ự phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa các thế giới thần linh với bon Tiăng” [142; tr.36] Trong bài viết, tác giả đưa ra luận điểm “hệ thống thần

linh trong s ử thi nrong”: thế giới thần linh trong sử thi nrong “được chia thành hai

t ầng (dưới mặt đất, trên trời), mỗi tầng gồm nhiều bon làng” [142; tr.37] và giữa

hai t ầng đó “là một khoảng ranh giới, tại đó diễn ra cuộc tranh chấp liên miên

gi ữa Nước và Lửa” [142; tr.38] Theo các tài liệu dân tộc học và văn học dân gian

Mơ-nông mà chúng tôi được biết thì đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng tín ngưỡng thần linh của người Mơ-nông chia thành ba tầng: dưới đất, mặt đất, trên

tr ời Qua quá trình đọc các tác phẩm sử thi Mơ-nông, chúng tôi cũng nhận thấy quan ni ệm tâm linh của họ về thế giới ba tầng chứ không phải là thế giới hai tầng như Tô Đông Hải đã trình bày Có thể thấy ý kiến người Mơ-nông có hai tầng thế

gi ới tâm linh mà Tô Đông Hải đã nêu là chưa thống nhất với ý kiến của phần lớn các nhà nghiên c ứu về sử thi Mơ-nông như Phan Đăng Nhật, Đỗ Hồng Kỳ, Ngô Đức Thịnh, Trương Bi, …

Trang 13

Gi ới thiệu về sử thi “Mùa rẫy bon Tiăng”, Ngô Đức thịnh (Những mảng

màu văn hóa Tây Nguyên, NXB Trẻ, 2007) khi tóm lược nội dung của sử thi đã đề

c ập đến sự tác động của thần linh đối với đời sống con người: một mặt, thần xấu hãm h ại con người: gây thiên tai, phá hoại sản xuất còn thần tốt phù hộ con người:

h ỗ trợ cứu đói dân làng và đánh thắng kẻ thù Đúng như mục đích giới thiệu của tác gi ả, bài viết chỉ dừng lại ở mức độ tóm tắt nội dung mà chưa giải quyết hệ

th ống, cụ thể những vấn đề đặt ra

Tóm lại, những bài viết của các nhà nghiên cứu trên về thế giới thần linh trong sử thi Tây Nguyên hầu như chưa có một công trình nào chuyên biệt, chưa phải là một hệ thống nghiên cứu hoàn chỉnh về đối tượng thần linh Đó mới chỉ là những giới thiệu một cách khái quát nhất hoặc là những hình thức lướt qua, điểm qua vài ý rất ít ỏi trong khi đang trình bày vấn đề chính mà thôi Chính vì thế, việc nghiên cứu thế giới thần linh trong một số sử thi Tây Nguyên tiêu biểu một cách có

hệ thống là công việc rất cần thiết và ý nghĩa

3 Phương pháp nghiên cứu

(1) Ph ương pháp loại hình: dùng phương pháp này để xác định thể loại và đặc trưng thể loại những tác phẩm tiến hành khảo sát Từ đó thấy được: sử thi V iệt Nam nói chung và sử thi Tây Nguyên nói riêng vừa có những đặc điểm chung mang tính phổ quát của nhân loại lại vừa có những điểm riêng đặc sắc, độc đáo

(2) Phương pháp so sánh: Khi tiến hành tìm hiểu về thế giới thần linh biểu hiện trong sử thi Tây Nguyên người viết thấy rằng đề tài đang thực hiện

có nhiều điểm tương đồng và dị biệt với các sử thi trong nước như sử thi Mường, Thái, với các sử thi thế giới như sử thi Ấn Độ (Mahabharata, Ramayana); Hy Lạp (Iliat, Ôđixê); … Chính vì vậy, dùng phương pháp so sánh, người viết mong muốn đối chiếu để thấy được điểm chung với nhân loại và đặc biệt là mô tả điểm độc đáo, “đặc sản” của thế giới thần linh trong sử thi Tây Nguyên

(3) Phương pháp cấu trúc: Người viết xác định đề tài là tìm hiểu về thế giới thần linh ở các khía cạnh: nhân vật, đời sống và biểu hiện cụ thể của nó qua tín ngưỡng, phong tục tập quán…Phần quan trọng trong luận văn là mô tả thế

Trang 14

giới nhân vật thần linh – yếu tố thi pháp quan trọng trong thi pháp tác phẩm Coi nhân vật thần linh cũng là một kiểu nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật Vì thế chúng tôi dùng phương pháp cấu trúc để tiếp cận vấn đề một cách đầy đủ các phương diện của nhân vật: xuất thân, ngoại hình, hành động, lời nói, … Ngoài ra, chúng tôi cũng chú ý tới tác động của thế giới nhân vật thần linh đến thi pháp sử thi Tây Nguyên

(4) Phương pháp thống kê: dùng phương pháp để thống kê tần số xuất hiện của nhân vật thần linh, thống kê những điểm giống và khác nhau về nhân vật thần linh trong sử thi Tây Nguyên với sử thi trong cùng khu vực, vai trò của thần linh đối với cấu trúc tác phẩm sử thi… Từ đó có thể kết luận số lượng các nhân vật thần linh xuất hiện trong tác phẩm và những đặc điểm độc đáo của thế

g iới thần linh trong sử thi Tây Nguyên

(5) Phương pháp nghiên cứu liên ngành: để lí giải những nguyên nhân tương đồng và khác biệt giữa sử thi Tây Nguyên với một số sử thi trong nước

và ngoài nước, chúng tôi dựa trên những yếu tố chi phối về mặt văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, … Từ đó thấy được đặc điểm đặc sắc của thế giới thần linh

sử thi Tây Nguyên Như vậy, muốn nghiên cứu chi tiết về thế giới thần linh trong

sử thi Tây Nguyên, tác giả luận văn phải đi từ tác phẩm sử thi cụ thể cho đến việc tìm hiểu những kiến thức dân tộc học, văn hóa học về nhân vật thần linh cũng như quan niệm về thần linh của người Tây Nguyên trong thực tế xã hội

(6) Phương pháp thực tế điền dã: trong quá trình tìm hiểu các áng

sử thi được sưu tầm, ghi chép, biên tập, … , chúng tôi nhận thấy sự cần thiết phải tiến hành điền dã thực tế Tháng 5/2011, chúng tôi đã tiến hành đi tìm hiểu thực địa tại một số xã: Dun, Ia Blang, Ia Pa tại huyện Chư Sê – tỉnh Gia lai Đây là địa bàn sinh sống chủ yếu của các dân tộc Ba-na, Ê-đê, Gia-rai Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy một thực tế đáng tiếc là hầu hết người nơi đây khi được phỏng vấn đều trả lời là không biết và chưa được nghe hát kể khan, hơmon hay ot ndrong Trong trí nhớ mang máng, họ cho biết thời xa xưa, ông bà của họ từng được nghe hát kể sử thi Nhưng khi được hỏi là có tin vào thần linh, giàng không thì đa số đều trả lời là có Một niềm vui lớn mà chúng tôi thu được khi đi thực tế là: tất cả người

Trang 15

dân bản địa dù chưa được nghe kể sử thi nhưng khi nói đến thể loại này, họ đều dùng những lời lẽ hay với tình cảm trân trọng Đời sống của các cư dân nơi đây cũng có nhiều đổi khác: phần lớn họ đã chuyển sang sống trong các ngôi nhà xây kiên cố thay vì nhà sàn, ti vi, máy tính đã xâm nhập đến từng làng buôn, … Chúng tôi cho rằng trong tình hình xã hội hiện tại mà người dân vẫn giữ được tình cảm yêu mến đối với sử thi là một tín hiệu đáng mừng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

(1) Đối tượng nghiên cứu: Thế giới thần linh trong sử thi Tây Nguyên

(s ử thi Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông) Thế giới thần linh là thế giới mà các nhân vật thần linh, bán th ần linh sinh sống, hoạt động, tác động đến nhau, đến cuộc sống con người và vai trò của thế giới nhân vật này trong hệ thống thi pháp sử thi Tây Nguyên

(2) Phạm vi nghiên cứu: chúng tôi tiến hành lựa chọn khảo sát trong

một số sử thi tiêu biểu của ba dân tộc: Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông Lí do mà chúng tôi chọn các sử thi này trước hết vì đây là ba dân tộc có trữ lượng sử thi được tìm thấy

là rất lớn Hơn nữa, những sử thi của ba dân tộc này có tần số xuất hiện các nhân vật thần linh tương đối nhiều, tiêu biểu cho thế giới thần linh các dân tộc Tây Nguyên Trong các sử thi khảo sát đó có 9 sử thi Ba-na, 7 sử thi Ê-đê, 6 sử thi Mơ- nông Đa số các sử thi thuộc bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên được NXB Khoa học

xã hội công bố từ năm 2004 – 2007 Bộ sách đồ sộ, giá trị này có tổng số 75 sử thi

đã xuất bản của 6 dân tộc: Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông, Xơ-đăng, Ra-glai, Chăm Đây là

kết quả của Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử

thi Tây Nguyên do Vi ện Khoa học xã hội chủ trì, phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận tiến hành Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng hai sử thi trong Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam là sử thi Bia Brâu

và Đăm Kteh Mlan

Bảng 1.1 Danh sách một số sử thi thuộc đối tượng khảo sát

Trang 16

3 Giông cứu nàng Rang Hu Ba-na A Hon

4 Giông nhờ ơn thần núi làm cho giàu có Ba-na A Lưu

5 Giông đánh hạ nguồn cứu dân làng Ba-na A Lưu

7 Giông, Giỡ mồ côi từ nhỏ Ba-na A Lưu

13 Anh em Đăm Trao, Đăm Rao Ê-đê Y Djao Niê

17 Bing con Măch xin làm vợ Yang Mơ-nông Me Luynh

18 Mùa rẫy bon Tiăng Mơ-nông Điểu Glơi - Điểu Mpiơih

19 Kră, Năng cướp Bing, Kông con Lông Mơ-nông Điểu Klưt

20 Cướp chăn Lêng của Jrêng, Lông con Ốt Mơ-nông Điểu Glơi

21 Lêng, Kong, Mbong lấy ché voi trắng Mơ-nông Điểu Klung

22 Lấy hoa bạc, hoa đồng Mơ-nông Điểu Klung

5 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể, hệ thống về thế giới thần linh trong sử thi Tây Nguyên Luận văn cung cấp cái nhìn hệ thống, toàn diện về thế giới thần linh trong sử thi Tây Nguyên Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi giải quyết được những vấn đề sau: xác định được một số vấn đề lí thuyết về thế giới thần linh; tiến hành khảo sát, mô tả, nhận xét quan niệm về các nhân vật thần linh , bán thần linh, mối quan hệ giữa hai kiểu nhân vật này qua quan niệm của các tộc người; chỉ ra mối quan hệ giữa thế giới thần linh với con người và nhất là chỉ ra mối liên hệ giữa thế giới thần linh như là một yếu tố thi pháp với hệ thống thi pháp

sử thi Tây Nguyên Ngoài ra, luận văn cũng góp phần cung cấp cái nhìn tương

Trang 17

đồng mang tính phổ quát và những khác biệt đặc sắc của sử thi Tây Nguyên trong tương quan so sánh với một số sử thi thế giới

Qua tìm hiểu về thế giới thần linh trong sử thi, sẽ thấy được thế giới quan,

vũ trụ quan cũng như niềm tin, tín ngưỡng của con người Tây Nguyên hết sức hồn nhiên, ngây thơ Đó cũng chính là cách tìm hiểu về văn hóa – con người nơi đây,

k hẳng định giá trị tinh thần, vai trò của sử thi trong đời sống cộng đồng Từ đó, thấy được nhiệm vụ quan trọng của các nhà nghiên cứu, trí thức dân gian trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa Tây Nguyên

Văn học dân gian là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn học Việt Nam Tìm hiểu về văn học dân gian nói chung và sử thi nói riêng góp phần cung cấp thêm những kiến thức về văn học dân tộc nước nhà Những thành tựu, kết quả của việc nghiên cứu có thể ứng dụng trong công tác giảng dạy sử thi trong nhà trường, giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong những tác phẩm sử thi trích dạy

6 Cấu trúc của luận văn

L uận văn bao gồm các phần: Mở đầu, Nội dung chính, Kết luận Phần Nội dung chính có 3 chương:

Chương 1: Vùng đất và sử thi Tây Nguyên

Ở chương này, chúng tôi giới thiệu một cách khái quát về vùng đất cũng như

về sử thi Tây Nguyên Khi giới thiệu về vùng đất Tây Nguyên, chúng tôi sẽ trình bày những đặc điểm các tộc người Ê-đê, Ba-na, Mơ-nông; đời sống vật chất, đời sống tinh thần và tâm thức thần linh trong đời sống tinh thần của người Tây Nguyên Giới thiệu về sử thi, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về thuật ngữ, đặc điểm sử thi nói chung và đi sâu vào giới thiệu sử thi của ba dân tộc khảo sát (Ba-

na, Ê- đê, Mơ-nông)

Chương 2: Thế giới nhân vật thần linh và mối quan hệ với con người trong sử thi Tây Nguyên

Ở chương 2, chúng tôi trình bày những nghiên cứu, tìm hiểu của mình về thế giới nhân vật thần linh và mối quan hệ của thế giới này với cuộc sống con người được thể hiện trong các tác phẩm sử thi Tây Nguyên Đầu tiên, trình bày về thế

Trang 18

giới nhân vật thần linh, người viết sẽ làm rõ một số khái niệm liên quan đến thế giới thần linh; mô tả, nhận xét và giải thích thế giới các nhân vật thần linh, bán thần linh Trong phần mối quan hệ giữa thần linh với con người, chúng tôi trình bày mối quan hệ hai chiều, tác động qua lại giữa thần linh và con người Để thấy được điểm đặc sắc của nhân vật thần linh Tây Nguyên, chúng tôi tiến hành so sánh

với một số sử thi khác trên thế giới (chủ yếu là sử thi Ấn Độ - Ramayana)

Chương 3: Thế giới nhân vật thần linh trong mối quan hệ với thi pháp sử thi Tây Nguyên

Trong chương 3, chúng tôi trình bày mối liên hệ giữa thế giới nhân vật thần linh và hệ thống thi pháp tác phẩm sử thi Tây Nguyên Để làm rõ vấn đề, chúng tôi tiến hành khảo sát các sử thi và nhận thấy thế giới nhân vật thần linh đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh đời sống tinh thần của con người Tây Nguyên

và là phương thức nghệ thuật độc đáo tham gia vào cấu trúc tác phẩm sử thi như:

mở rộng không gian; mở rộng hệ thống nhân vật sử thi Tây Nguyên, thúc đẩy cốt truyện và góp phần giải quyết tình huống sử thi Về vai trò của thế giới nhân vật thần linh trong việc phản ánh đời sống tinh thần con người Tây Nguyên, chúng tôi chú ý đến quan niệm về con người và thế giới Phần thế giới thần linh tham gia cấu trúc tác phẩm, chúng tôi quan tâm chủ yếu đến việc xây dựng nhân vật thần linh qua một số công thức khuôn mẫu Ngoài ra, thế giới thần linh còn góp phần

mở rộng không gian và thúc đẩy cốt truyện, giải quyết tình huống sử thi, …

Trang 19

Chương 1: VÙNG ĐẤT VÀ SỬ THI TÂY NGUYÊN

số dân tộc bản địa, sinh sống lâu đời, tiêu biểu cho văn hóa truyền thống Tây Nguyên thì chỉ có vài dân tộc: Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông, Gia-rai, Xơ-đăng Trong đó, chúng tôi quan tâm đến văn hóa, văn học của ba dân tộc là Ê-đê, Ba-na và Mơ- nông Có thể nói, văn hóa mà ba tộc người trên thể hiện là văn hóa tiêu biểu cho vùng đất Tây Nguyên Tìm hiểu về ba tộc người này sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về truyền thống văn hóa các tộc người ở Tây Nguyên

1.1.1.1 Tộc người Ba-na

Tộc người Ba-na phân bố chủ yếu ở một số tỉnh Tây Nguyên như: Gia Lai, Kon Tum Ngoài ra, tộc người này còn phân bố ở Quãng ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, … Ngôn ngữ Ba-na thuộc ngữ hệ Nam Đảo, nhóm ngôn ngữ Môn- Khơme [17; tr.19] Ba-na là dân tộc có số dân đông nhất trong các tộc người nói ngôn ngữ Môn-Khơme ở Tây Nguyên Ba-na cũng là tộc người có số dân đông thứ ba (sau Ê-đê và Gia-rai) trong số các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên Theo số liệu thống kê, dân số tộc người Ba-na là 180.000 người (4/1999) [63; tr.28] Người Ê- đê phân chia thành nhiều nhóm địa phương nhỏ như: Tơ Lô, Krem, Vân Canh, Thồ Lồ, Gơ lar, Kon KơĐeh, Kon Tum, Jơ Lơng, Rơ Ngao, …

1.1.1.2 Tộc người Ê-đê

Không gian sinh sống của người Ê-đê chủ yếu tập trung ở tỉnh Đắc Lắc Ngoài ra, tộc người này còn phân bố ở một số tỉnh khác như: Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hòa, … Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc Đắc Lắc, dân số

người Ê-đê là 271.111 người (12/2003) Ngôn ngữ Ê-đê thuộc ngữ hệ Nam Đảo,

Trang 20

dòng Malayo – Pôlinêđi [17; tr.19] Tộc người Ê-đê cư trú ở Tây Nguyên phân chia thành khoảng gần 20 nhóm địa phương nhỏ như: Kpă, Atham, Krung, Mthur, Ktul, Dlie, Kue, Kdung, Bih, Kah, Blô, … Tuy nhiên, dù có sự phân chia nhưng khác biệt giữa các nhóm địa phương là không đáng kể, không ảnh hưởng đến sự giao lưu, liên hệ giữa các nhóm với nhau Nhìn chung, tộc người Ê-đê ở Tây Nguyên là tộc người có đời sống cộng đồng, có truyền thống văn hóa chung, thống

… Các nhóm Preh, Rlâm, Kuănh sinh sống ở Đắc Lắc, Đắc Nông sống gần người Ê- đê nên ngôn ngữ có sự vay mượn một số từ vựng của người Ê-đê [63; tr.120]

1.1.2 Đời sống vật chất và tinh thần của tộc người Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông ở Tây Nguyên

1.1.2.1 Đời sống vật chất

Đời sống vật chất của các tộc người Tây Nguyên được thể hiện qua các mặt: cách thức sinh tồn, hình thức cư trú và thói quen ăn, uống, mặc, …

Về cách thức sinh tồn, người Tây Nguyên chủ yếu là dựa vào nền nông

nghiệp thô sơ: săn bắn, hái lượm và sản xuất nương rẫy Tuy nhiên, trình độ canh tác thấp kém, mọi hoạt động sản xuất nương rẫy phần lớn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết nên năng xuất chưa cao Theo quan niệm đa thần, vào vụ mùa, lần thu hoạch đầu tiên, người Tây Nguyên dùng tay tuốt lúa (để tránh làm đau thần lúa), những lần thu hoạch sau, họ mới dùng liềm gặt Không gian sinh sống chủ yếu của người Tây Nguyên là những bình nguyên rộng lớn, có núi, có sông và đặc biệt là

có rừng Với người Tây Nguyên nói chung, rừng không chỉ là không gian sống, sinh hoạt mà còn là không gian thiêng, mang tâm thức tín ngưỡng độc đáo

Trang 21

Thức ăn của người Tây Nguyên chủ yếu được rừng cung cấp: rau, củ, quả, nấm, măng, thịt thú rừng, cá, chim, mật ong, gạc nai, trầm hương, … Đàn ông rất

g iỏi săn bắn, đặt bẫy Việc chăn nuôi gia cầm, gia súc cũng được phụ nữ coi trọng

Họ thường nuôi trâu, bò, ngựa, heo, dê, gà, chó, … để làm vật trao đổi hoặc dùng làm vật hiến sinh trong những lễ, hội Với người Tây Nguyên thì trâu là con vật quý và thiêng , đặc biệt là không thể thay thế trong những lễ hội đâm trâu Đây cũng là một nét văn hóa tâm linh đặc trưng của Tây Nguyên

Về thói quen ăn uống, cách chế biến thức ăn của phụ nữ Tây Nguyên rất đa

dạng: nấu, nướng, chiên, xào, luộc, sấy khô, phơi khô, muối chua, … Độc đáo nhất trong ẩm thực các tộc người này là hương vị món lam nấu trong các ống le, ống nứa Thói quen trong ăn uống của họ là thường ăn bốc bằng tay Người Tây Nguyên không nấu nước sôi để uống mà lấy nước từ các máng nước ngầm (tại bến nước) đựng trong những trái bầu khô uống dần Các tộc người này có thói quen uống rượu cần vào những lúc rảnh rỗi, mệt mỏi, có khách và các dịp lễ, hội, cúng thần Rượu cần được làm bằng các loại gạo, ngũ cốc như ngô, sắn, kê và được ủ theo một kĩ thuật nhất định cho lên men trong ché Cùng với rượu cần thì thói quen hút thuốc cũng là một nét văn hóa của con người Tây Nguyên

Phụ nữ Tây Nguyên rất giỏi dệt vải, quay sợi Trang phục hằng ngày của họ thường đơn giản Chỉ có trang phục lễ, hội mới có hoa văn rực rỡ và được trang trí bằng hình học, con vật thiêng, hoa lá, … Phụ nữ ở đây mặc váy dài quấn quanh hông, áo chu i đầu Nam giới thường đóng khố, mặc áo phủ mông

Về hình thức cư trú, người Tây Nguyên chủ yếu sống trong các ngôi nhà

sàn Trừ dân tộc Ba-na (không ép buộc theo chế độ mẫu hệ), ngôi nhà sàn bao gồm nhiều thế hệ theo chế độ mẫu hệ sống cùng nhau Nhà dài được làm theo hướng bắc – nam, Người Tây Nguyên rất kị hướng tây, họ cho rằng đó là hướng của người chết Nhà của người Tây Nguyên được bố trí rất nhiều bếp lửa Nó không chỉ là nơi nấu nướng, sưởi ấm, sinh hoạt văn hóa chung của gia đình lớn mà nó còn

là nơi linh thiêng, có thần lửa đến ở, là nơi tượng trưng cho sức mạnh, trí tuệ con người Công trình kiến trúc độc đáo nhất của cộng đồng này là nhà rông - không gian sinh hoạt văn hóa và những công việc trọng đại của cả làng Điểm nổi bật ở

Trang 22

công trình này là phần mái cao lớn gấp nhiều lần vách tường, thiết kế theo hình lưỡi rìu, hơi lồi Người ta cho rằng nhà rông chính là nơi thần linh cư ngụ, nhận lễ cúng chứng kiến mọi việc xảy ra trong buôn và phù hộ cho con người

1.1.2.2 Đời sống tinh thần

Đời sống tinh thần của các tộc người Tây Nguyên được thể hiện qua các mặt: tổ chức buôn làng, chế độ gia đình, sở hữu đất đai, luật tục tập quán, tín ngưỡng nghi lễ và văn học dân gian

Về tổ chức buôn làng, người Tây Nguyên lấy buôn làng làm đơn vị cơ bản

trong tổ chức xã hội, đứng đầu các buôn làng là chủ buôn có trách nhiệm điều hành mọi công việc trong buôn làng (Phan Đăng Nhật, sđd) Mối quan hệ giữa các thành viên trong buôn làng tương đối bình đẳng Già làng và những người chủ buôn làng

sẽ đứng ra thành lập hội đồng già làng có trách nhiệm chăm lo, quản lí và giải quyết mọi vấn đề trong làng buôn Họ là những người mẫu mực, có uy tín, là con chim đầu đàn, là ngọn lửa sống lưu giữ và truyền lại cho con cháu tất cả những gì thuộc về tinh hoa khoa học, kiến trúc, văn học, văn hóa, … của các thế hệ đi trước

Họ là những người được kính trọng, yêu mến, ngưỡng mộ, là tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu Tây Nguyên

Về tổ chức gia đình, người Ê-đê và Mơ-nông sống theo chế độ gia đình mẫu

hệ, nhiều thế hệ theo dòng mẹ sống chung trong ngôi nhà dài Đứng đầu ngôi nhà này là một người đàn bà cao tuổi, có uy tín trong nhà có trách nhiệm quản lí tài sản, chăm lo đời sống sản xuất và tinh thần cho cả nhà Trong cùng một dòng họ, tính từ đời thứ hai, nếu con gái của cậu lấy con trai của bác gái và con trai của em gái lấy con gái của bác trai thì không được cho là loạn luân Cuộc sống ngày càng hiện đại thì tổ chức gia đình mẫu hệ trong ngôi nhà dài có nguy cơ bị phá vỡ Riêng người Ba-na có sự điều hòa giữa chế độ mẫu hệ và phụ hệ Đây chính là điều khác lạ, tương đối tự do trong tổ chức gia đình và dòng họ của tộc người này Người đứng đầu cai quản, chăm lo cuộc sống của đại gia đình Ba-na không phải là người phụ nữ mà là một người đàn ông cao tuổi, uy tín trong dòng họ

Về sở hữu đất đai, với tâm lí sợ thần linh trừng phạt, ràng buộc về luật tục

và không gian sinh hoạt rộng rãi nên người Tây Nguyên ít khi xâm phạm, lấn

Trang 23

chiếm đất đai của nhau, nhất là trong cùng buôn làng Ngoài đất đai sở hữu riêng của dòng họ như đất ở, đất vườn, đất rẫy do được thừa kế hay tự khai hoang thì còn

có đất đai sở hữu chung của cả buôn làng như rừng, khu nghĩa địa, bãi chăn thả, khu vui chơi, sinh hoạt cộng đồng Mọi thành viên trong buôn đều có quyền sử dụng, có nghĩa vụ chăm sóc, bảo vệ phần đất đai chung của cả buôn Ranh giới để phân biệt sở hữu đất đai giữa các buôn với nhau hoặc giữa các dòng họ trong buôn đều được quy ước rõ ràng và nghiêm ngặt trong luật tục Đất đai không chỉ là nơi sinh sống, sinh hoạt mà còn là sự khẳng định chủ quyền, vị trí làm chủ của từng cá nhân, từng buôn làng ở Tây Nguyên

Về luật tục, người Tây Nguyên nói chung có lối sống cộng đồng, tất cả các

thành viên trong buôn làng đều có ý thức thực hiện theo những nguyên tắc chung

do buôn, làng đã đề ra Luật tục chính là luật pháp, là hình thức quản lí, điều hòa các m ối quan hệ trong xã hội Tây Nguyên Nó không chỉ thể hiện tính pháp chế mà còn bao hàm cả tính nhân văn sâu sắc Trong trường hợp xảy ra mây thuẫn, tranh chấp thì người chuyên lo việc hòa giải là thầy xử kiện sẽ dựa vào những điều đã được quy định trong luật tục để xét xử, luận tội Sau khi hòa giải, xét xử xong xuôi,

để lập lại hòa bình, chấm dứt xích mích, họ thường cử hành nghi thức cúng khấn nhằm hi vọng thần linh chứng giám, phù hộ cho cuộc sống của họ ấm no, hạnh phúc Sau đó, cả hai bên đều ăn uống vui vẻ, bỏ qua mọi hiềm khích Trong trường hợp mâu thuẫn không thể giải quyết (rất hiếm) thì hai bên sẽ xảy ra chiến tranh Các buôn làng tộc người luôn tổ chức kết cấu hàng rào theo lối phòng ngự, sẵn sàng cho chiến đấu Nhìn chung, họ thường tìm cách hòa giải, không chuộng chiến tranh, cướp bóc

Về tín ngưỡng, phong tục tập quán, quan niệm của các tộc người trên mảnh

đất Tây Nguyên nói chung cho rằng thế giới gồm có ba tầng: mặt đất, dưới đất và trên trời Cả ba tầng thế giới này đều có thần linh cư ngụ Mọi vật đều có phần xác

và phần hồn Phần hồn rất quan trọng, quyết định đến sự sống, chết của con người Thần (giàng) có mặt ở khắp nơi, trong mọi vật Quan niệm “vạn vật hữu linh” đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người Tây Nguyên Họ tin vào chuyện bùa ngải, ma lai, thuốc tiên có thể hại hay chữa bệnh, cứu sống con người Cuộc sống

Trang 24

của người Tây Nguyên quanh năm diễn ra nhiều nghi lễ Với họ, thầy cúng và thầy bói là chỗ dựa tinh thần cho cả buôn làng, là người duy nhất có thể làm cầu nối giữa họ với thần linh, có khả năng xua tan những ám ảnh, sợ hãi về bệnh tật, đau

ốm, mất mùa, thiên tai, … Có khách đến nhà chơi, họ tiếp rất ân cần, chu đáo: mời cơm, tiếp rượu (nếu ở lại qua đêm) Trong buôn làng, có việc cưới xin hay ma chay thì cả làng sẽ đến chung tay chia sẻ và lo lắng Phụ nữ nơi đây thường là người chủ động đi hỏi, cưới chồng Đàn ông sau khi đã “được” cưới thì được gia đình mình chia của cải và chuyển về ở hẳn bên vợ, làm nương rẫy nuôi bố mẹ vợ và vợ con (trừ người Ba-na ở cả bên nội và bên ngoại)

Văn hóa tinh thần của các tộc người này còn thể hiện qua các tác phẩm văn học dân gian: truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ, ca dao dân ca, lời nói vần và đặc biệt nhất phải kể đến những tác phẩm sử thi Phan Đăng Nhật phân biệt sử thi của một số dân tộc dựa trên ngôn ngữ bản địa của từng tộc người như sau: người Ê-đê

gọi sử thi của mình là khan nên sử thi Ê-đê gọi là sử thi – khan, người Mơ-nông

gọi sử thi của họ là ot ndrong nên sử thi Mơ-nông gọi là sử thi – ot ndrong; tương

tự ta có sử thi - hơmon của người Ba-na Nhìn chung, cách phân loại như trên cũng khá hợp lí vì các định ngữ theo sau sẽ giúp phân biệt đặc trưng về sử thi của từng dân tộc và hơn nữa, giữ được tên gọi bản địa mà người dân dùng để gọi sử thi của chính tộc người mình Như vậy, khi nói khan là chúng ta hiểu sử thi của người Ê-

đê, ot ndrong là sử thi của dân tộc Mơ-nông, hơ mon là sử thi của người Ba-na

P hần sử thi này, chúng tôi sẽ trình bày kĩ hơn ở mục 1.2.2

Đồng bào Ê-đê có tục lạ trong hôn nhân gọi là chuê nuê (nối dây, nối dòng,

nối nòi, …) Trường hợp người vợ mất, người chồng có thể kết hôn nối nòi với em

vợ hoặc em họ vợ; còn nếu chồng chết, người vợ có thể lấy em chồng, em họ chồng hoặc cháu chồng Đây là một tập tục thể hiện tính nhân văn sâu sắc của tộc người này Bởi lẽ, trong trường hợp người chồng mất trước thì người vợ còn có gia đình, con cái để nương nhờ Nhưng nếu trường hợp người vợ mất thì người chồng trở nên bất lợi, anh ta không được ở lại nhà vợ cũng không được mang theo con cái hay tài sản Khi trở về nhà mẹ đẻ, người đàn ông góa vợ chỉ được chia một phần nhỏ tài sản Đó là chưa kể, có thể cha mẹ đẻ anh ta không còn nữa, anh ta sẽ phải

Trang 25

sống cùng với gia đình em gái, cháu gái Chuê nuê chính là cách duy nhất giúp người đàn ông góa vợ có nơi nương tựa, được chăm sóc, sẻ chia khi ốm đau, về già đồng thời duy trì mối quan hệ thông gia tốt đẹp giữa hai nhà Xưa kia, tục chuê nuê được tuân thủ chặt chẽ như luật tục Xã hội ngày càng phát triển, tục nối dây này không còn cứng nhắc nữa mà linh hoạt hơn Tùy những hoàn cảnh khác nhau nhưng nói chung người Ê-đê luôn cố gắng thực hiện tục chuê nuê Tuy nhiên, do

có những chênh lệch về tuổi tác, lối sống nên tục này cũng có khi không được thực hiện Trên thực tế, để tránh những thiệt thòi đáng tiếc cho người nuê, người Ê-đê rất thận trọng, cân nhắc kĩ càng trước khi thực hiện nối dây chứ không hề ép buộc vội vàng, tùy tiện Trong thờ cúng, người Ê-đê đặc biệt tôn kính vị thần Aê Diê, Aê

Du Họ cho rằng đây là vị thần sáng tạo ra muôn loài, giành cho con người rất

nhiều đặc ân, từ những gì to lớn như trời đất: “chim muông trên trời, con người

dưới đất, loài cá dưới sông, dưới biển, con thú trong rừng, trên núi” [92; tr.663]

đến những thứ nhỏ như cây kim sợi chỉ: “Cái khố sọc đỏ hoa knung / Cái khố sọc

trắng hoa me / Cái khố của ông Trời, trên trời thả xuống cho” [92; tr.712] Và vị

thần làm cho đồng bào người Ê-đê nói chung sợ hãi, kinh hoàng nhất đó là Aê Mghi, Aê Mghan; Mtao Tlua, Kbua Lan Đây là những vị thần sẽ trừng trị con người khi con người phạm vào tội loạn luân Hình phạt rất ghê ghớm: trời đất rung chuyển, hạn hán, dịch bệnh, … Không chỉ có đôi trai gái loạn luân mới bị phạt mà

cả cộng đồng sẽ chịu chung một hình phạt Bởi vậy, với người Tây Nguyên, tội loạn luân là vô cùng nghiêm trọng và không được phép phạm vào

Trong tâm thức người Mơ-nông, họ luôn có những mẹo nhỏ để giảm thiểu

những tai họa mà ác thần gây ra cho họ Chẳng hạn, họ đeo lông công ở cổ để

phòng ngừa thần Briêng chuyên bắt hồn người hay buộc củ bu ở trước cổng bon làng và trên rẫy để ngăn ngừa thần Ndu gây gió bão cho buôn làng Người Mơ-

nông trước đây rất tin vào bùa ngải, ma lai Họ cho rằng, con người có thể chế tạo bùa ngải hay biến thành ma lai để làm hại những người không ưa Chính tín ngưỡng nguyên thủy này đã để lại hiều hậu quả đau thương trong buôn làng Tộc người này có tục lạ là căng tai đeo ngà voi – một nét văn hóa đặc sắc, hiếm có Trong bon làng có đoàn người vừa đi đánh trận hay săn bắn trở về, phụ nữ phải

Trang 26

đem nước vo gạo ra tạt vào người đoàn quân này Khi đi thăm người thân quen ở

xa, người ta thường mang theo gạo và muối để tặng chủ nhà…Những vị thần Lêt, Mai; Deh, Dai; Ting, Mbong là những vị thần gần gũi nhất với người Mơ-nông Họ thường coi các vị thần này là họ hàng thân thuộc, bình đẳng và dân chủ Đây cũng

là những vị thần thường xuyên xuất hiện nhất trong các sử thi Mơ-nông

Với người Ba-na, Bok Kei Dei - Yă Kuh Keh là những vị thần sáng tạo ra

muôn loài: Yă Kuh Keh làm nên trời đất, còn Bok Kei Dei làm ra mặt trời, mặt

trăng và các vì tinh tú rồi đính chúng lên bầu trời Sau họ là yang Măt Na - yang

Măt Khei (thần mặt trời - thần mặt trăng) Trong thờ cúng tín ngưỡng, người Ba-na

thường thờ thần Sri (thần lúa) Vị nữ thần này tượng trưng cho tính nữ bao dung, vị

tha Người Ba Na rất yêu mến thần Nước (yang Đăk) - nữ thần xinh đẹp, có giọng hát ngọt ngào và cũng giống như họ, yang Đăk hiền hòa, yêu ca hát và thích hội hè Tộc người này còn thờ Yă Dung Dai Taih Toh (bà vú dài thõng), người giữ cửa tầng dưới đất, đảm nhận việc săn sóc, bú mớm cho các linh hồn trẻ sơ sinh chết sớm Họ cũng cầu khấn thần Lửa (yang Unh) để mong thần ban cho con người ngọn lửa quý báu giúp cuộc sống con người luôn ấm no, hạnh phúc Người Ba-na cũng thờ cúng cả những ác thần để mong họ không quấy nhiễu cuộc sống con người Đó là Bok Hôch - thần cai quản chim muông và thú rừng Cứ đến mùa lúa chín, thần thường xua chim thú đi chăn dắt Bok Hôch được người Ba Na hình dung là một con chim lớn có sải cánh rộng và phát ra tiếng kêu rất ghê sợ Bên cạnh đó, họ cũng rất sợ thần Sấm (Bok Glaih) Đây là vị thần hung hăng, dữ tợn Nam thần này đại diện cho sự mạnh mẽ, oai phong khiến người ta vừa tôn thờ vừa

sợ hãi Vì thế, mỗi khi gặp chuyện, người Ba-na thường cầu khấn Bok Glaih Ngoài ra, đồng bào Ba-na còn thờ rất nhiều vị thần khác như: thần Rừng (yang Bri ), thần Đất (yang Teh), thần Đá (yang T’mo), thần Núi (yang Kông), thần Sông (yang Krong), thần Nồi (yang Go), thần Sắt (yang Mam), thần Chiêng (yang Ching), …

Như vậy, con người Tây Nguyên mà cụ thể là tộc người Ê-đê, Ba-na, nông với lối sống hồn nhiên, với những thói quen về ăn, uống, mặc, ở, những

Trang 27

Mơ-phong tục tập quán và tín ngưỡng tâm linh chính là cái hồn, cái cốt lõi của những tác phẩm sử thi Tây Nguyên

1.1.3 Tâm thức thần linh, “vạn vật hữu linh” trong đời sống tinh thần người Tây Nguyên

1.1.3.1 Biểu hiện

Các dân tộc sinh sống trên mảnh đất Tây Nguyên nói chung và dân tộc

Ba-na, Ê- đê, Mơ-nông nói riêng đều có chung một quan niệm về vũ trụ, về thế giới siêu nhiên Chúng tôi tạm gọi đó là tâm thức thần linh Trong tâm thức thần linh của người Tây Nguyên, thế giới với họ bao gồm có ba tầng: tầng trời, tầng mặt đất

và tầng dưới mặt đất Mỗi tầng như thế đều có thần linh, con người và vạn vật sinh sống Con người chỉ sống ở tầng mặt đất, trong khi đó, thần linh sống và hoạt động

ở phạm vi rộng lớn: cả ba tầng thế giới Thế giới các thần linh đều có quyền năng, sức mạnh nhất định Nhiều khi sức mạnh này gây ra cho con người nhiều biết ơn lẫn sợ hãi Để đền đáp ơn nghĩa hay giảm thiểu những tai họa thần linh có thể gây

ra cho mình, người Tây Nguyên thường tổ chức rất nhiều lễ nghi, hội hè, cúng khấn, … Mỗi năm cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên diễn ra hàng trăm lễ cúng lớn nhỏ khác nhau Giống như cuộc sống, thế giới của con người, thần linh cũng có cuộc sống, tâm hồn, hành động như con người Quan niệm về thế giới ba tầng này dường như đã ăn sâu vào tiềm thức người Tây Nguyên Không chỉ thế, nó còn chi phối mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của họ Tâm thức thần linh cho thấy quan niệm của họ về thần thánh vừa gần gũi lại vừa cao siêu Thần linh có sức mạnh vô biên, không thể đoán định, chống đỡ đồng thời cũng hết sức thân thuộc với đời sống con người Trong thế giới ba tầng vũ trụ, cuộc sống của con người ít nhiều đều có sự can thiệp của thần linh và ngược lại, con người cũng có những tác động nhất định đến thế giới thần linh Mối quan hệ giữa con người và thế giới thần linh

có sự gắn bó, thân thiết Con người có thể kết hôn, kết nghĩa, thậm chí được thổi bùa ngải, thuốc tiên để biến thành thần linh Và thần linh cũng có thể từ bỏ thân phận thần linh để sống cuộc đời của một con người trần tục Với người Tây Nguyên, những biểu hiện trên hoàn toàn là điều hết sức bình thường Họ tin như thế, hơn nữa đó còn là niềm tin tưởng tuyệt đối, mãnh liệt Điều này lí giải vì sao

Trang 28

mỗi khi người nghệ nhân của núi rừng bắt đầu cất giọng hát kể sử thi là tất cả những độc giả thưởng thức đều im lặng tuyệt đối, thành kính lắng nghe Họ cho rằng lúc nghệ nhân hát kể cũng là lúc các nhân vật huyền thoại, thần linh đều trở

về, sống và hoạt động quanh họ Chính tâm thức thần linh đã tạo ra sức sống trường tồn, mãnh liệt cho các áng sử thi

Bên cạnh đó, vạn vật trong tâm thức người Tây Nguyên cũng có hoạt động,

có suy nghĩ, vui buồn Người nguyên thủy quan niệm trong mỗi vật, dù là động vật hay thực vật đều mang trong bản thân nó tính chất thiêng – có giàng Tâm thức mà chúng ta vẫn hay gọi là “vạn vật hữu linh” Trong quan niệm này, vạn vật từ cỏ cây, đồ vật, đến những hạt sương, viên sỏi đều có linh hồn (giàng) Giàng có mặt ở mọi nơi, mọi lúc Người Tây nguyên tin rằng các giàng có thể nhìn thấy tất cả Mọi sinh linh dù to lớn hay nhỏ bé đều chứa đựng trong nó vô vàn những huyền bí, linh thiêng Thế giới các linh hồn của vạn vật hết sức đa dạng và phong phú: “Yang có

loại tốt, loại xấu Yang có thể giúp đỡ người hoặc làm hại người Vật có thể vui hoặc buồn, bằng lòng hoặc bất bình Trong các yang của vật, có yang mạnh, yang yếu Chúng có thể hòa hợp hoặc xung khắc…” [136; tr.10] Con người cần tôn

trọng vạn vật để được che chở, phù hộ Vì thế, người Tây Nguyên dù làm gì, đi đâu đều lẩm nhẩm cầu khấn thần linh

Trên thực tế, tâm thức thần linh hay tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” không tách rời mà tạo thành một khối gắn bó, hòa quyện vào nhau Nói cách khác, ranh giới giữa chúng chỉ là tương đối Cả tâm thức thần linh và tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” đều chi phối sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Tây Nguyên nói chung: từ thế giới quan, vũ trụ quan, phong tục tập quán cho đến những nghi lễ cúng tế, … Cuộc sống của người Tây Nguyên quanh năm diễn ra nhiều nghi lễ Hệ thống nghi lễ của các tộc người Tây Nguyên bao gồm những nghi lễ vòng đời người như: lễ cầu sinh đẻ dễ, lễ đặt tên, lễ cầu sức khỏe, lễ hỏi chồng, lễ thỏa thuận, lễ cưới, lễ tang ma, lễ bỏ mả, …; những nghi lễ nông nghiệp như: lễ cúng thần gió, lễ cúng cào cỏ, lễ trỉa lúa, lễ cầu mưa, lễ cầu no đủ, lễ mừng lúa trổ bông,

lễ rước hồn lúa, lễ tuốt lúa, lễ đóng kho lúa, lễ cúng nỏ, … và những nghi lễ khác như: lễ cúng bến nước, lễ uống rượu mừng năm mới, lễ hội kpan, lễ cúng trống, lễ

Trang 29

lên nhà mới, … Cùng với những lễ nghi là những lễ hội: lễ bỏ mả, lễ hội đâm trâu,

lễ mừng cơm mới, … và những trò chơi dân gian như: thả diều, chơi quay, ném vòng, … Dường như con người Tây Nguyên từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành rồi nhắm mắt qua đời đều gắn với thần linh và nghi lễ thần thánh Có thể nói

đó là một tín ngưỡng mang tính đặc trưng độc đáo của các tộc người này Chính tư tưởng, quan niệm này đã tạo ra cho mảnh đất nơi đây một tấm màn huyền ảo mê hoặc lòng người Và như một vòng tuần hoàn, tấm màn huyền ảo mê hoặc lòng người này tiếp tục đan vào các sử thi, làm cho nội dung các tác phẩm dày đặc những tín ngưỡng thần thánh, huyễn hoặc.

1.1.3.2 Nguồn gốc, nguyên nhân

Nguồn gốc, nguyên nhân của tín ngưỡng thần linh, “vạn vật hữu linh”, thứ

nhất là do ảnh hưởng bởi tư duy thần thoại nguyên thủy: như chúng ta đã biết, sử

thi là những mảnh ghép từ thần thoại Con người từ xa xưa mang trong mình những suy nghĩ, những nếp tư duy hồn nhiên, chất phác về thiên nhiên, con người

và cuộc sống Ảnh hưởng bởi tư duy này, một số tộc người trên vùng đất thiêng thường tìm cách giải thích nguồn gốc vũ trụ, con người và thần linh trong các tác phầm sử thi của mình Thời đại hỗn mang không những được thể hiện đậm đặc trong các thần thoại mà còn rơi rớt trong các áng sử thi ngày nay chúng ta được chiêm ngưỡng

Thứ hai, những hạn chế về khám phá và hiểu biết cuộc sống, thiên nhiên

cũng là một nguyên nhân chủ yếu: từ thuở còn hồng hoang, con người đã biết dựa vào thiên nhiên để sinh tồn Đói thì hái lượm trái cây ăn, tiến lên một chút con

ng ười biết săn bắt rồi làm bẫy các con thú và chim Không chỉ săn bắt, hái lượm, con người bắt đầu biết chăn nuôi, trồng trọt để cải thiện cuộc sống Nhu cầu sống của con người ngày càng tăng lên Bên cạnh đáp ứng nhu cầu về ăn, con người còn dựa vào thiên nhiên để thỏa mãn nhu cầu về ở, mặc, đi lại và các nhu cầu khác nữa

Về nhà ở, đã có lá, gỗ, tre, đất, rơm; về mặc đã có gỗ (làm khung dệt) sợi cây, bông, lá nhuộm…; về đi lại đã có gỗ (làm thuyền), chuối (làm bè), …Có thể nói, thiên nhiên là nguồn sống, là người bạn tri âm tri kỉ nhiều bao dung đối với con người Qua quá trình sống, phát triển, thiên nhiên và con người hình thành mối

Trang 30

quan hệ gắn bó, giao hòa Thế nhưng sự gắn kết giữa con người và thiên nhiên không phải lúc nào cũng yên bình, êm ả Nhiều khi con người vẫn không thể hiểu hết được thiên nhiên, vẫn thấy sợ hãi, kinh hoàng, bất lực trước thiên nhiên Những trận gió bão, hạn hán, lũ lụt, lũ quét, sấm sét, dịch bệnh, chết chóc, … không hiểu

từ đâu giáng xuống đầu họ Đó là những lúc thiên nhiên nổi giận, không bao dung,

ưu ái con người nữa Những lúc như thế, con người phải tự đặt câu hỏi: vậy thì nguyên nhân là từ đâu? Và làm thế nào để có thể chế ngự, giảm thiểu thiệt hại khi thiên nhiên nổi giận Dù đã có rất nhiều cố gắng tìm hiểu nhưng vì trình độ sản xuất thấp kém, sự hiểu biết, khám phá quy luật thiên nhiên và xã hội còn nhiều hạn chế, họ vẫn không thể giải thích nổi nguyên nhân của những tai họa trên Cuối cùng, v ới khối óc tưởng tượng phong phú và những trăn trở, băn khoăn, con người

đã tự gán cho nó một nguyên nhân: SIÊU NHIÊN Vì theo họ, con người bình thường không bao giờ có thể làm được những việc kinh hoàng như thế Chỉ có thần linh hoặc ma quỷ mới đủ khả năng và sức mạnh thực hiện điều đó Và thật lí tưởng, thế giới siêu nhiên đó, thần linh nhiều hơn ma quỷ Ban đầu những suy nghĩ tưởng tượng về thần linh chỉ là thoáng qua, sau đó xuất hiện nhiều hơn và trở thành thói quen cố hữu Cuối cùng, những suy nghĩ vô thực ấy được khẳng định thành niềm tin bất diệt, thiêng liêng Khi mất mùa, đau ốm, bệnh tật, chết chóc, … đó là

do thần linh giận dỗi, trừng phạt hoặc do ác thần hãm hại Ngược lại, khi được mùa, khỏe mạnh, tốt lành, … là do có phúc thần phù hộ, giúp đỡ Chính vì lẽ đó, con người trước những thông điệp (biểu hiện qua sự bằng lòng hay không bằng lòng) của thần linh, phải biết ca ngợi, cúng khấn, hiến sinh hay tạ lỗi với thần linh Con người trên mảnh đất này tin rằng việc cầu khấn, hiến tế là có kết quả Có như vậy cuộc sống con người mới được yên ổn, may mắn Đó cũng chính là những hệ quả của tâm thức thần linh, “vạn vật hữu linh”

1.1.3.3 Hệ quả

Việc tin rằng thần linh có thực và có những ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống con người trong tâm thức các dân tộc Tây Nguyên dẫn đến những hệ quả khác nhau:

Trang 31

Hệ quả tích cực: tâm thức vạn vật hữu linh làm cho người Tây Nguyên có

một niềm tin “tươi mát về thần linh” (Hê-ghen) Xét về góc độ tinh thần, niềm tin tâm linh này sẽ giúp con người có được một lẽ sống tích cực Vì chí ít, con người sống cần có một niềm tin, một niềm hi vọng hay một chỗ dựa tinh thần (dù đó là niềm tin, hi vọng hay chỗ dựa huyễn hoặc, không có thực) để con người có thể bám víu vào đó sống tốt hơn, có động lực vươn tới ấm no, hạnh phúc Đúng như

nhận xét của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên: “một thế giới quan duy vật tươi

sáng, khẳng định sức mạnh của người lao động trên bước đường đi lên của công

xã trong buổi rạng đông của lịch sử; đồng thời lại là một thế giới quan ít nhiều có tính chất duy tâm thần bí của những con người còn bị đè nặng dưới những mảng

bó ng tối của thực tại mà họ còn tỏ ra sợ hãi vì chưa khám phá nổi” [10, tr.770]

Chính tín ngưỡng đa thần đã tạo ra mối quan hệ giữa con người với thần linh

và giữa con người với vạn vật Mối quan hệ giữa con người và thần linh là mối quan hệ hai chiều, sống động, có tác động qua lại Về mối quan hệ này, chúng tôi

sẽ đề cập sâu hơn ở chương sau Mối quan hệ giữa con người và vạn vật là mối quan hệ gần gũi, đặc biệt Đó là những giao cảm hết sức tinh tế, nhân văn sâu sắc

Họ coi các đồ vật không đơn thuần chỉ là đồ vật vô tri vô giác Người ta trò chuyện, tâm sự hỏi han, an ủi, vỗ về chúng như vẫn làm với bạn bè, người thân Dần dần hình thành một tình cảm chân thành, gắn bó giữa người và vật Tâm thức vạn vật hữu linh hay còn gọi là vạn vật hữu sinh [136, tr.10] là một quan niệm, một cái nhìn mang tính thiêng mà không phải ai, trong cuộc sống hiện đại ngày nay cũng cảm nhận được Bên cạnh việc cầu khấn thần linh, người Tây Nguyên thường nói chuyện trước khi làm gì có tác động đến các vật: trước khi chặt cây quý về làm Kpan, người Ê-đê thường ôm ấp, vỗ về xin phép được chặt cây và thông báo cho cây biết họ sẽ chặt cây quý về làm vật quý (ghế Kpan là một vật quý, thiêng của người Tây Nguyên) chứ không sử dụng vô ích Ghè rượu quý cũng được thông báo rằng mình được đào lên để tiếp khách quý chứ không phải làm việc này việc nọ

Đó là biểu hiện của sự tôn trọng (với vạn vật) - đáng trân trọng bởi không phải lúc nào con người cũng làm được điều ấy Khi phụ nữ Tây Nguyên làm đẹp, họ cũng không quên tô điểm cho vật quý trong nhà như đeo những chuỗi hạt long lanh cho

Trang 32

các ché rượu Và song song với nghi lễ đặt tên cho đứa trẻ – một nghi lễ quan trọng trong vòng đời con người – người Tây Nguyên cũng đặt tên cho đồ vật trong nhà

và đặc biệt là đặt tên theo quan hệ huyết thống, ruột thịt [136, tr.10]

Nhìn chung, tình cảm mà con người dành cho vạn vật là một thứ tình cảm hết sức nhân văn, chính tình cảm này đã giúp các tộc người trên mảnh đất lộng gió này hình thành thói quen, tập tục đối xử công bằng, đúng mực với tự nhiên, thiên nhiên Vì xét cho cùng, tôn trọng, quan tâm đến vạn vật, đến tự nhiên cũng chính là cách con người giữ gìn, bảo vệ nguồn sống (hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng) của chính họ Điều mà con người với lối sống công nghiệp hiện đại ngày nay cần phải nhìn lại, xem xét và thay đổi cách đối xử tàn nhẫn với thiên nhiên và cũng là với chính cuộc sống của bản thân Xét riêng về lĩnh vực văn học dân gian, nếu không có tâm thức, niềm tin về thần linh thì có lẽ sẽ không có các áng sử thi Tây Nguyên bất hủ

Hệ quả tiêu cực: bên cạnh những ảnh hưởng tích cực từ tâm thức thần linh,

“vạn vật hữu linh” thì vẫn có những ảnh hưởng tiêu cực Ở khía cạnh này, tín ngưỡng đa thần có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của các tộc người Tây Nguyên Cuộc sống quanh năm của họ diễn ra nhiều những lễ nghi, lễ hội Hầu như trung bình ngày nào người dân ở đây cũng tổ chức một lễ cúng thần Cái lạ ở người Tây Nguyên là việc họ sử dụng sản phẩm chăn nuôi của mình Khác với người Việt, thực phẩm từ nguồn chăn nuôi là nhằm cải thiện bữa ăn hay gia tăng kinh tế (mua bán, trao đổi), các dân tộc tại đây dùng hầu như toàn bộ sản phẩm chăn nuôi để cúng khấn, hiến tế Mỗi lễ tế thần tùy từng nội dung, quy mô nhưng tối thiểu phải có một ghè rượu và một con gà Việc dùng gia súc, gia cầm và các loại gạo, kê, mì ủ rượu ghè làm vật phẩm hiến tế cộng với thời gian chuẩn bị, tổ chức lễ hội làm cho đời sống người dân ở đây quanh năm nghèo đói, thiếu thốn đủ mọi thứ

Người Tây Nguyên cầu khấn thần linh mọi lúc mọi nơi, trong bất kỳ hoàn cảnh, công việc nào: xuất hành, uống rượu, làm lễ, gặp khó khăn, … Có thể nói, các hành động cầu cúng, khấn vái đã trở thành thói quen của người dân Tây Nguyên như câu nói cửa miệng, như việc họ vẫn thở để sống hằng ngày Trong

Trang 33

những hiểu biết còn hạn chế, cư dân nơi đây quan niệm những hành động cầu cúng, khấn vái là cần thiết Họ tin khi làm như thế các thần linh mới phù hộ, không

hãm hại họ nữa Biểu hiện của tín ngưỡng thần linh qua nghi thức cầu cúng, khấn

vái cũng được sử thi Tây Nguyên phản ánh Khảo sát một số sử thi, chúng tôi nhận thấy tần số xuất hiện của các hành động cầu cúng, khấn vái là rất đáng chú ý: 294 lần /22 sử thi

Trang 34

Bảng 1.2 Thống kê tần số xuất hiện các hoạt động cầu cúng, khấn vái trong một số sử thi Tây Nguyên tiêu biểu (bảng tổng hợp đầy đủ 22 sử thi khảo sát xin xem thêm trong phụ lục)

tộc

Tần số xuất hiện

1 Lấy hoa bạc,

hoa đồng

nông

Mơ-27 523,524,525,526,541,610,620,627,629,

630,631,633,634,636,640,673,733,761, 828,893,899,900,902,904,905,907,909

27/294 (chiếm 9.18%)

6 Cướp chăn

lêng của Jrêng,

Lêng con Ôt

nông

Mơ-22 416,531,539,541,542,543,545,550,577,

655,674,706,708,709,710,711,713,721, 725,726,727,728

22/294 (chiếm 7.48%)

118,121,124,128,130,151,154,159,165, 166,174,179,189,190

24/294 (chiếm 8.16%)

545,564,568,575,600,626,631,632,633, 634,672

20/294 (chiếm 6.8%)

261,275,277,280,285,288,291,307,309, 310,312,328,331,332,334,335,336,345, 355,357,358,359,363,364,376

34/294 (chiếm 11.56%)

744,747,764,842,851,856,1007,1044, 1074,1080,1114,1147

21/294 (chiếm 7.14%)

Quan trọng hơn, tâm thức “vạn vật hữu linh” còn để lại một hệ lụy tinh thần, làm tổn thương đến sự yên ổn, hòa thuận trong mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng buôn làng Đó là do mặt trái mê tín, sùng bái của tín ngưỡng thần linh: bói toán, bùa ngải, thuốc tiên, ma lai, … Cũng vì tin vào bói toán, bùa ngải,

Trang 35

thuốc tiên mà dù có đau ốm, bệnh tật họ cũng mời thầy cúng, thầy bói về cúng bái chứ không chịu đi bệnh viện

Quan niệm vạn vật tương giao, sinh thành, biến hóa lẫn nhau không chỉ là nguồn gốc của mối quan hệ giữa thần – thần, thần – người mà còn chi phối mối quan hệ giữa người – ma và thần – ma Khi tất cả những hiện tượng cuộc sống được soi rọi từ những tín ngưỡng, từ những tập tục tự nhiên hay từ chính không gia n rừng của các tộc người thì ranh giới giữa vật – thần – người – ma không phải

là tuyệt đối rạch ròi Quan niệm về ma lai như là mặt đối lập của quan niệm về

phúc thần trong tín ngưỡng bản địa Lê Hồng Phong trong công trình Tìm hiểu

truyện cổ tích Tây Nguyên cũng cho rằng: “Hiểu chà là ma thì yàng là thần, nếu

chà là ác thần thì yàng là phúc thần” [26; tr.109] Xét kĩ từng khía cạnh, quan

niệm của tác giả có phần chưa hợp lí khi coi ma là ác thần Ma không thể là thần,

dù là ác thần Thế nhưng nếu đặt tương quan ma trong thế đối lập với thần thì ý kiến trên của Lê Hồng Phong không phải là không có lí

Tín ngưỡng chi phối tập tục, đến lượt mình, tập tục, truyền thống phản ánh

tín ngưỡng Bên cạnh đó, truyền thống cũng có mặt sai lầm, lệch lạc Đó là ma lai

– niềm tin sai lệch về ma thuật – cũng là mặt trái của tín ngưỡng đa thần Có thể nói, chính những niềm tin sai lệch này đã chi phối đời sống xã hội tộc người, chi phối ách ứng xử của cư dân với một vài thành viên trong cộng đồng Bất công ở chỗ là bất kỳ ai cũng có thể bị nghi ngờ là ma lai nếu họ có những đặc điểm khác lạ: một thầy cúng tài giỏi, một cô gái quá đẹp, một người vô tình đi đến đâu ngẫu nhiên có người, con vật ốm, chết, … Ở sự mê tín này, tính nhân văn giữa người và người trong cộng đồng dường như bị gạt sang một bên Ngày nay, tuy rất hi hữu mới còn những vụ “xử tội” ma lai xảy ra nhưng dư âm đau thương của nó để lại thì vẫn ám ảnh con người Tín ngưỡng này xuất hiện tương đối nhiều trong các sử thi Tây Nguyên Theo thống kê, chúng tôi thấy tần số xuất hiện các bon ma lai này là

11 lần trong 22 sử thi Tây Nguyên khảo sát Tuy nhiên, do niềm tin mãnh liệt và những tập tục quy định, con người không bao giờ chấp nhận những kết cục thất bại trước ma quỷ Kết thúc bao giờ cũng là những hình phạt đích đáng với ma lai Thông qua các sử thi, ta nhận thấy con người ở vùng đất rừng núi này luôn cảnh

Trang 36

giác cao độ và nhắc nhở nhau phải tránh xa ma lai Đặc biệt là phải tỉnh táo, thận trọng trong tình yêu và hôn nhân, tránh sự quyến rũ của lực lượng ma lai

Nhìn chung tâm thức thần linh, “vạn vật hữu linh” đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần các tộc người Tây Nguyên Con người nơi đây đã thổi những tư tưởng, những quan niệm tâm linh của mình vào trong các sản phẩm tinh thần – sử thi Yếu tố này trở thành nội dung lớn, bao trùm các áng sử thi Tâm thức thần linh, “vạn vật hữu linh” xuất hiện trong các tác phẩm sử thi Tây Nguyên một cách đậm đặc thông qua những tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghi lễ, cúng

tế, lễ hội… Có thể khẳng định, tâm thức này chính là tiền đề, nền tảng của các tác phẩm sử thi và nếu giả sử không có yếu tố thần linh này thì sẽ không có những tác phẩm sử thi lãng mạn, huyền bí mê hoặc lòng người đến thế

1.2 S ử thi Tây Nguyên

1.2 1 Thuật ngữ “sử thi”

Theo Đinh Gia Khánh, “sử thi không có nghĩa là “thơ chép sử” theo lối duy

danh định nghĩa thông tục Sử thi là thuật ngữ mà ở Đông Nam Á (Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản), giới khoa học dùng để dịch một thuật ngữ phương Tây (tiếng Pháp là épopée, tiếng Anh là epic, tiếng Hy Lạp là epopoiia), … Theo tiếng

Hy Lạp thì epopoiia có nghĩa là kể chuyện, là tự sự” [99; tr.333-334] Từ điển

Tiếng Việt cũng định nghĩa sử thi là “tác phẩm lớn thuộc loại văn tự sự, miêu tả sự

nghiệp những người anh hùng và các sự kiện lịch sử lớn” [21; tr.845] Trong công

trình Văn học dân gian, tập II, viết chung với Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh

nêu lên cách hiểu của mình về sử thi: “Sử thi là những áng thơ ca thuật lại lịch sử

kỳ vĩ của sự hình thành đất nước, dân tộc Đó là những áng thơ ca đúc kết những điều truyền thuyết và những mẫu thần thoại ở nhiều địa phương, của nhiều thị tộc, nhiều bộ lạc thành hệ thống rộng lớn để miêu tả nguồn gốc dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quốc gia trong buổi bình minh của lịch sử” [10; tr.53] Bên cạnh

đó, Đinh Gia Khánh còn góp phần phân biệt rõ sử thi với trường ca, anh hùng ca:

Trường ca là một danh từ chung để gọi bất cứ tác phẩm thơ ca nào mang ý nghĩa

ca ngợi và có độ dài nào đó, chứ không phải là một thuật ngữ trỏ một thể loại riêng biệt trong văn học dân gian… Anh hùng ca trùng hợp với sử thi ở chỗ cũng

Trang 37

thuật lại những kỳ công vĩ tích, những sự nghiệp anh hùng” nhưng khác sử thi,

anh hùng ca là những áng thơ liên quan đến từng vị anh hùng nhất định” [10;

tr.53-54] Ý kiến của Đinh Gia Khánh được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ông

là một trong những người đi đầu ở Việt Nam trong việc đề nghị định danh thuật ngữ sử thi, góp phần khẳng định tên gọi đúng đắn, thống nhất cho thể loại này

Như vậy, các nhà nghiên cứu khi nêu lên khái niệm của mình về thuật ngữ

sử thi đều có chung một ý: sử thi là thể loại tự sự dân gian cỡ lớn, thuật lại lịch sử

kỳ vĩ của cộng đồng, sự nghiệp các vị anh hùng trong buổi bình minh của nhân loại

1.2.2 Đôi nét về sử thi Tây Nguyên

1.2.2.1 Khái niệm sử thi Tây Nguyên

Quá trình nghiên cứu sử thi Tây Nguyên ở nước ta diễn ra từ đầu thế kỉ XX, trải qua nhiều tranh luận, giả thuyết với nhiều cách định nghĩa khác nhau về sử thi Tây Nguyên Một trong những người có nhiều công trình nghiên cứu cũng như

phát hiện sử thi Tây Nguyên là Ngô Đức Thịnh Trên tạp chí Văn học số 4 năm

2002, trong bài Sử thi Tây Nguyên, phát hiện và các vấn đề, ông nêu lên cách hiểu

khá hoàn chỉnh, chính xác về sử thi Tây Nguyên “đó là một dạng tự sự dân gian,

nằm trong khuôn khổ thể loại mà các học giả thế giới gọi là Epic, Epopée (dịch sang tiếng Việt là “Sử thi”), gắn với những đặc thù Tây Nguyên về môi trường tự nhiên, truyền thống các dân tộc bản địa, trình độ phát triển kinh tế xã hội và các đặc trưng văn hóa, tạo nên sự thống nhất thể loại trên các phương diện, như: độ dài tác phẩm, phương thức diễn xướng, hình thức truyền miệng, nội dung và các đặc trưng nghệ thuật, tạo nên một tổng thể văn hóa, đó là “văn hóa sử thi”” [122;

tr.6] Chúng tôi cho rằng định nghĩa về sử thi Tây Nguyên trên của Ngô Đức Thịnh

là rất chính xác

1.2.2.2 Vùng s ử thi Tây Nguyên

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu sử thi đã tìm hiểu và chứng minh Tây Nguyên chính là vùng v ăn hóa thể loại sử thi tiêu biểu “Vùng sử thi là vùng thể

loại văn hóa, ở đó trong một không gian lãnh thổ nhất định các tộc người đã sáng

Trang 38

tạo và lưu truyền sử thi, mà các tác phẩm sử thi đó thể hiện sự thống nhất, tương đồng về nội dung, kết cấu cốt truyện, các đặc trưng nghệ thuật, phương thức diễn xướng, lưu truyền, các sắc thái biểu hiện, tạo nên một tổng thể văn hóa hóa sử thi bền chắc lưu truyền từ đời này sang đời khác” (Ngô Đức Thịnh) Như vậy, Tây

Nguyên là vùng đất duy nhất ở nước ta đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để xác định vùng sử thi Trước hết, vùng đất này lưu giữ một khối lượng đồ sộ các tác phẩm sử thi với mật độ phân bố dày đặc Theo thống kê cho tới hiện tại, có khoảng 800 tác phẩm đã được sưu tầm Phần lớn các tác phẩm sử thi được phát hiện trên khắp khu vực Tây Nguyên và các vùng phụ cận Tuy nhiên, tập trung hơn cả là ở năm tỉnh: Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, Đắc Nông, Lâm Đồng Trong đó, người viết chú ý quan tâm đến sử thi của dân tộc Ba-na, Ê-đê, Mơ-nông Các tộc người phân bố trên địa bàn này chính là chủ nhân của các sử thi Như nhiều nhà nghiên cứu sử thi đã khẳng định, sử thi Tây Nguyên thuộc loại sử thi cổ sơ (phân biệt với sử thi cổ đại) Hiện tại, các áng sử thi được lưu truyền bằng con đường truyền miệng thông qua hình thức hát kể Như vậy, sử thi Tây Nguyên là loại sử thi “sống” Nội dung và nghệ thuật các sử thi không tách rời nhau Các tác phẩm này có mối quan hệ chặt chẽ với các nghi lễ, tín ngưỡng ở đây tạo nên một chỉnh thể văn hóa đặc trưng Tây Nguyên độc đáo

1.2.2.3 Phân loại sử thi Tây Nguyên

Có nhiều cách phân loại sử thi dựa trên cấu trúc tác phẩm, hình thức diễn xướng, phương thức lưu truyền…Tuy nhiên, hiện nay, các nhà nghiên cứu thường phân loại sử thi dựa theo phương diện nội dung xã hội của nó Dựa theo cách phân loại của Mê-lê-tin-xki, Phan Đăng Nhật cho rằng sử thi Khan của dân tộc Ê-đê là

sử thi cổ sơ để phân biệt với sử thi cổ đại (Iliat, Ôđixê) Còn Võ Quang Nhơn, Đỗ Hồng Kỳ, Trương Sĩ Hùng, Đinh Gia Khánh… thì cho rằng sử thi Ê-đê là sử thi anh hùng để phân biệt với sử thi thần thoại (sử thi Mường, Mơ-nông) Ngoài ra, Phan Đăng Nhật còn dựa theo cách phân loại của Trung Quốc cho rằng sử thi Mường, Mơ-nông có thể là sử thi sáng thế còn các sử thi khác thuộc sử thi thiết chế Nhưng nhìn chung, phần lớn các nhà nghiên cứu khi nhắc đến sử thi Tây Nguyên thường cho nó là sử thi anh hùng

Trang 39

Như vậy, việc phân loại sử thi Tây Nguyên nói chung có nhiều cách Những cách phân loại trên cũng khá sát thực, góp phần định hướng giúp cho việc nhận thức về sử thi Tây Nguyên ngày càng toàn diện, thấu đáo

1.2.2.4 Quá trình nghiên cứu, sưu tầm

Quá trình nghiên cứu, sưu tầm sử thi Tây Nguyên ở nước ta trải qua nhiều giai đoạn Nguyễn Xuân Kính chia quá trình nghiên cứu sử thi ở Việt Nam làm bốn giai đoạn Giai đoạn đầu từ năm 1927 đến năm 1955 đánh dấu những thành tựu ban đầu do công lớn của các nhà nghiên cứu người Pháp Ngoài ra còn có nhà nghiên cứu Hoàng Thiếu Sơn với ý kiến mang tính tiền đề, gợi mở về sử thi mà lúc

đó ông gọi là anh hùng ca Giai đoạn 1957 đến 1976, việc nghiên cứu sử thi Tây Nguyên có những bước tiến mới, thêm nhiều sử thi được công bố Các tác phẩm sử thi lần đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Việt Giai đoạn này nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh cũng đã đưa ra sự phân biệt xác đáng về các thuật ngữ sử thi, anh hùng

ca, trường ca, tráng sĩ ca, … Giai đoạn từ năm 1977 đến năm 2000 ghi dấu nhiều

cố gắng tìm tòi, phát hiện về sử thi Tây Nguyên Mỗi tác phẩm sử thi, bên cạnh phần tiếng Việt còn được xuất bản thêm phần tiếng dân tộc bản địa Giai đoạn năm

2001 đến nay là giai đoạn nghiên cứu sử thi có nhiều khởi sắc và thành tựu nhất từ trước đến nay Hàng trăm sử thi đã được sưu tầm, biên soạn, biên dịch, chú thích,

Thông qua dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng

sử thi Tây Nguyên, việc nghiên cứu, sưu tầm sử thi tiến thêm một bước lớn, đánh

dấu những công sức, tâm huyết của nhiều nhà nghiên cứu Nhìn chung, quá trình nghiên cứu, sưu tầm sử thi Tây Nguyên ngày càng có nhiều bước tiến và đã thu được nhiều thành tựu, hướng tới sự hoàn chỉnh về mọi phương diện

1.2.2.5 Đặc điểm của sử thi Tây Nguyên

Các nhà nghiên cứu khi đi tìm hiểu về thể loại sử thi đã lần lượt xây dựng các tiêu chí, đặc trưng cơ bản của thể loại này Trải qua quá trình phát triển, các thuộc tính sử thi dần dần được bổ sung, hoàn thiện Nằm trong hệ thống sử thi của thế giới nên sử thi Tây Nguyên cũng đồng thời mang những đặc điểm, thuộc tính của sử thi về môi trường tồn tại, thời đại ra đời, hình thức diễn xướng, phương thức lưu truyền cũng như những thuộc tính về nội dung, nghệ thuật

Trang 40

Về môi trường tồn tại, sử thi thuộc phạm trù văn hóa nghệ thuật và sống trong môi trường văn hóa dân gian Sử thi Tây Nguyên ra đời trong thời kỳ cuối của xã hội tiền giai cấp khi mâu thuẫn xã hội chưa gay gắt Con người sống với nhau chan hòa, sự phân hóa giàu nghèo không quá chênh lệch Về hình thức diễn xướng và phương thức lưu truyền, sử thi Tây Nguyên được gọi là sử thi sống Hình thức lưu truyền là truyền miệng Điểm riêng biệt của nó là được các nghệ nhân

trình bày bằng cách hát-kể, “trong đó hình thức ngôn ngữ lời nói vần (klei khan) là

cơ bản” [Sử thi Tây Nguyên, phát hiện và các vấn đề, Ngô Đức Thịnh, Tạp chí Văn hóa dân gian số 4/2002] và khi diễn xướng sử thi thì hát vẫn là cơ bản còn kể

là phụ

Về nội dung, sử thi phản ánh bức tranh thời đại mang tính xã hội, cộng đồng

đó là sự vận động chuyển biến lớn của xã hội, đi từ công xã mẫu hệ, dần dần phát triển lên thành xã hội cộng đồng rộng lớn hơn trên đường tiến lên hình thành dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam” [9; tr.756] Quan niệm về nguồn gốc vũ

trụ, con người, thế giới thần linh, … cũng chính là đề tài mà sử thi thể hiện Nhân vật trung tâm của các tác phẩm sử thi là người anh hùng Đó là hình ảnh con người

lí tưởng – kết tinh của những giá trị chân – thiện – mĩ của cả một cộng đồng Chính hình ảnh của những con người mang tầm vóc vũ trụ, kỳ vĩ này thể hiện tư tưởng,

nh cảm của cộng đồng xã hội: “ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật

anh hùng đã có công bảo vệ cộng đồng, đồng thời qua đó khẳng định một cách đầy

tự hào sự tồn tại và phát triển của xã hội cộng đồng” [9, tr.756] Theo Phan Đăng

Nhật, người anh hùng hiện lên trong các sử thi có ba nhiệm vụ chính là đánh giặc, làm lụng và lấy vợ, trong đó đánh giặc là nhiệm vụ trung tâm Vấn đề chiến tranh

là một trong những nội dung quan trọng, nổi bật của sử thi Tây Nguyên Đánh giặc trong các cuộc chiến để trả thù, đòi nợ, lấy/cướp/giành lại vợ, lập lại hòa bình ấm

no, … chính là cách mà người anh hùng khẳng định tài năng, sức vóc của mình

Về nghệ thuật, sử thi là loại hình nghệ thuật nguyên hợp Hơn nữa, là sử thi sống, có hình thức truyền miệng nên ngôn ngữ là một trong những yếu tố nghệ thuật vô cùng quan trọng, không thể không nhắc tới Ngôn ngữ trong các tác phẩm

sử thi Tây Nguyên là ngôn ngữ uyển chuyển, ví von, giàu hình ảnh, nhạc điệu Yếu

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Danh sách một số sử thi thuộc đối tượng khảo sát - thế giới thần linh trong sử thi tây nguyên (sử thi ba na, ê đê, mơ nông)
Bảng 1.1. Danh sách một số sử thi thuộc đối tượng khảo sát (Trang 15)
Bảng 1.2. Thống kê tần số xuất hiện các hoạt động cầu cúng, khấn vái trong một số sử  thi Tây Nguyên tiêu biểu (bảng tổng hợp đầy đủ 22 sử thi khảo sát xin xem thêm trong phụ lục) - thế giới thần linh trong sử thi tây nguyên (sử thi ba na, ê đê, mơ nông)
Bảng 1.2. Thống kê tần số xuất hiện các hoạt động cầu cúng, khấn vái trong một số sử thi Tây Nguyên tiêu biểu (bảng tổng hợp đầy đủ 22 sử thi khảo sát xin xem thêm trong phụ lục) (Trang 34)
Bảng  2.4. Hệ  thống  một  số  điểm  khác  nhau  giữa  nhân  vật  thần  linh  trong  sử  thi - thế giới thần linh trong sử thi tây nguyên (sử thi ba na, ê đê, mơ nông)
ng 2.4. Hệ thống một số điểm khác nhau giữa nhân vật thần linh trong sử thi (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w