1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sự kết hợp phương thức tự sự và trữ tình trong truyền kỳ mạn lục

164 2,7K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, với tư cách là một tác phẩm được xếp vào loại đỉnh cao của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Truyền kỳ mạn lục đã được tuyển chọn để giảng dạy ở nhiều cấp học, cụ thể là

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐOÀN THỊ THU VÂN

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết

qu ả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác

H ọ và tên tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin kính gửi đến Cô, PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân lời cảm

ơn sâu sắc về sự tận tình chỉ bảo tôi trong học tập, cũng như trong thời gian tìm hiểu và trình bày hoàn chỉnh luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô giảng dạy tại khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến

thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô công tác tại Phòng Sau Đại học của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận

lợi cho tôi hoàn tất chương trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, xin cảm ơn người thân và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

TP H ồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 16

1.1 Thể loại truyền kỳ 16

1.1.1 Khái niệm “truyền kỳ” 16

1.1.2 Nguồn gốc thể loại truyền kỳ 16

1.1.3 Đặc trưng thể loại 18

1.1.4 Truyền kỳ trung đại Việt Nam 24

1.2 Truyền kỳ mạn lục 28

1.2.1 Tác giả Nguyễn Dữ và thời đại của ông 28

1.2.2 Nguồn gốc 30

1.2.3 Nội dung 32

1.2.4 Nghệ thuật 42

1.2.5 Liên hệ với “Tiễn đăng tân thoại” 47

1.3 Những phương thức sáng tác trong tác phẩm văn học 50

1.3.1 Phương thức tự sự 50

1.3.2 Phương thức trữ tình 51

1.3.3 Hiệu quả sự kết hợp các phương thức trong sáng tác văn học 52

Chương 2 PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ VÀ TRỮ TÌNH TRONG TRUY ỀN KỲ MẠN LỤC – NHỮNG DẠNG THỨC KẾT H ỢP VÀ TÁC D ỤNG NGHỆ THUẬT 54

2.1 Phương thức tự sự trong Truyền kỳ mạn lục 54

2.1.1 Biểu hiện của phương thức tự sự trong Truyền kỳ mạn lục 54

Trang 6

2.1.2 Ý nghĩa của phương thức tự sự trong Truyền kỳ mạn lục 72

2.2 Phương thức trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục 73

2.2.1 Biểu hiện của phương thức trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục 73

2.2.2 Ý nghĩa của phương thức trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục 80

2.3 Sự kết hợp hai phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục 82

2.3.1 Yếu tố trữ tình xâm nhập vào cốt truyện 82

2.3.2 Yếu tố trữ tình xâm nhập vào nhân vật 96

2.3.3 Tác dụng nghệ thuật của việc kết hợp phương thức tự sự và trữ tình trong Truy ền kỳ mạn lục 99

Chương 3 ĐÓNG GÓP CỦA TRUYỀN KỲ MẠN LỤC ĐỐI VỚI VĂN XUÔI VI ỆT NAM 105

3.1 Văn xuôi Việt Nam trước Truyền kỳ mạn lục với những chuẩn bị có ý nghĩa tiền đề 105

3.2 Văn xuôi Việt Nam sau Truyền kỳ mạn lục với những kế thừa và phát huy…… ……… 116

3.2.1 Ảnh hưởng của Truyền kỳ mạn lục đối với văn xuôi trung đại Việt Nam (xuất hiện sau Truyền kỳ mạn lục) 116

3.2.2 Vấn đề ảnh hưởng của Truyền kỳ mạn lục đối với văn xuôi hiện đại Việt Nam 125

K ẾT LUẬN 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong lịch sử Văn học Việt Nam, đặc biệt là trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, có một tác giả mà cho tới nay chúng ta biết được duy nhất

một tác phẩm nhưng đây lại là một tác phẩm vô cùng đặc sắc Đặc sắc từ

phương diện nội dung cho đến phương diện nghệ thuật Lấy tên sách là Truyền

kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những chuyện lạ) nhưng căn cứ vào tính chất của

các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập, sao

chép đơn thuần mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm đã từng làm hao tổn tâm trí và giấy mực của nhiều

thế hệ Từ các bậc Nho sĩ thời trước cho đến các nhà nghiên cứu văn học thời

hiện đại đều đánh giá cao và coi tác phẩm là một kiệt tác của nền văn học nước nhà Đặc biệt ở thế kỷ XVIII, một thế kỷ rực rỡ nhất của văn học trung đại, các

học giả nổi tiếng như Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đã từng ca

ngợi Truyền kỳ mạn lục là một thiên cổ kỳ bút, áng văn hay của bậc đại gia với

lời lẽ thanh tao tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen Vì vậy, nghiên cứu

của tác phẩm xứng danh này

Truy ền kỳ mạn lục không chỉ là mối quan tâm của người Việt Nam mà

còn là một tác phẩm văn học được sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu văn học trên thế giới Ngay từ những năm sáu mươi của thập niên hai mươi, tác

phẩm đã được dịch ra tiếng Nga, các nhà nghiên cứu Xô - Viết khi nghiên cứu

văn học phương Đông thường chú ý tới Truyền kỳ mạn lục Tác phẩm của

Nguyễn Dữ là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại, ngày càng trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, càng chiếm được cảm tình

của bạn đọc Càng ngày, người ta càng phát hiện và khẳng định vị trí, vai trò của tác phẩm bởi sự ra đời của tác phẩm đã đánh dấu sự trưởng thành của truyện

ngắn Việt Nam trung đại, đánh dấu sự chuyển biến từ văn xuôi mang nặng tính

Trang 9

chức năng sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật Mặc dù, khi khai thác những đề tài dân tộc, tác giả chú ý đến những truyền thuyết dân gian nhưng đồng thời cũng đã vươn lên và có những bước đột phá trên cách ghi chép của lối biên soạn truyện cổ Tác phẩm biểu hiện một xu hướng thoát dần khỏi sự ảnh hưởng thụ động của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử để bước sang giai đoạn mới, giai đoạn của văn xuôi tự sự, của truyện ngắn nghệ thuật

Vì vậy, nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục phần nào giúp ta ứng dụng vào

việc tìm hiểu loại hình truyện ngắn trung đại Việt Nam Đặc biệt hơn hết, sự ra

đời của Truyền kỳ mạn lục đã khẳng định một cách đầy đủ sự ra đời của thể loại

truyền kỳ cho nền văn xuôi trung đại Việt Nam Sở dĩ tác phẩm được đánh giá cao, được quan tâm như vậy là vì ngoài giá trị nội dung tư tưởng còn có những thành tựu đặc sắc về phương diện nghệ thuật Mặc dù viết theo thể loại truyền

kỳ, một thể loại ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc, chuyên dùng hình thức kỳ

ảo, hoang đường làm phương tiện nghệ thuật nhưng tập truyện đã có nhiều đóng góp đáng kể về nghệ thuật dựng truyện, xây dựng nhân vật, kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca trong một lời văn trau chuốt, sinh động, giàu sức hấp dẫn Đặc biệt tác phẩm còn

có sự kết hợp tinh tế, linh hoạt giữa phương thức tự sự và trữ tình, điều này đã làm nên sự khác biệt rõ rệt với các tác phẩm trước nó như Việt điện u linh và

Lĩnh Nam chích quái Vì vậy, nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục về phương diện

nghệ thuật, cụ thể là sự kết hợp phương thức tự sự và trữ tình, là một công việc

cần thiết, hữu ích để khẳng định rõ nét thêm những giá trị đặc sắc của tác phẩm

xứng danh “thiên cổ kỳ bút” này Truyền kỳ mạn lục thực sự xứng đáng là một

tác phẩm tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của các sáng tác dân gian

Hơn nữa, với tư cách là một tác phẩm được xếp vào loại đỉnh cao của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Truyền kỳ mạn lục đã được tuyển chọn để

giảng dạy ở nhiều cấp học, cụ thể là Chuyện người con gái Nam Xương được

Trang 10

dạy và học ở lớp 9, Chuyện chức Phán sự ở đền Tản Viên được dạy học ở lớp

10, tác phẩm được giới thiệu trọn vẹn ở ngành Ngữ văn trong các trường đại học

và cao đẳng Việc dạy học truyện truyền kỳ theo đúng đặc trưng của thể loại văn chương là một điều khó khăn, trước hết phụ thuộc vào việc nhận thức những giá

trị thẩm mỹ đặc thù thể loại của người dạy và học, từ đó mới hiểu đúng, truyền

thụ đúng những giá trị cơ bản của từng tác phẩm cụ thể Truyền kỳ mạn lục là

tập truyện đã tạo được nhiều hứng thú cho cả người dạy và người học nhưng cũng là một tác phẩm không dễ dàng chiếm lĩnh và cần phải được tiếp tục khám phá Bởi vì nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục có ý nghĩa rất quan trọng kể cả

trong lí luận và trong thực tiễn cho nên việc nghiên cứu vấn đề đã nêu là một điều cần thiết và rất hữu ích cho người viết để hiểu sâu hơn và giảng dạy đạt

hiệu quả tốt hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Là người đang theo học và giảng dạy môn Ngữ văn tại trường Trung học phổ thông, hơn ai hết, tôi cần phải thông hiểu ở một mức độ nhất định đối với những tác phẩm văn học để đời của dân tộc, đặc biệt là những tác phẩm được trích giảng trong chương trình sách giáo khoa ở cấp Trung học phổ thông Do

vậy, tiến hành nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục và thực hiện tìm hiểu sự kết hợp

phương thức tự sự và trữ tình trong tác phẩm, trước hết chúng tôi nhằm góp phần vào việc xem xét, phân tích và đánh giá tác phẩm ở một số phương diện nghệ thuật đặc sắc, điều này đã mang lại những thành tựu đáng ghi nhận cho tập truyện Sau khi giải quyết được thoả đáng những vấn đề đã đặt ra trong đề tài, người viết sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về giá trị của tác phẩm Từ

đó, bổ sung những kiến thức mới, cần thiết trong việc giảng dạy tác phẩm

Truyền kỳ mạn lục ở các cấp học, giúp người học nhìn nhận đầy đủ những nét

đặc sắc nghệ thuật của tập truyện nói riêng và của cả văn xuôi trung đại Việt Nam nói chung Qua đó, đề tài cũng góp phần bồi dưỡng tinh thần trân trọng và

Trang 11

giữ gìn những tinh hoa của dân tộc trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật văn chương của tiền nhân

3 Lịch sử vấn đề

Truyền kỳ mạn lục ra đời vào cuối thế kỉ XVI Ngay từ khi ra đời, tác phẩm

đã được người đọc quan tâm và giới nghiên cứu đánh giá rất cao Nhiều vấn đề trong Truyền kỳ mạn lục là đối tượng, là đề tài của các công trình nghiên cứu từ

trước đến nay không chỉ ở trong nước mà còn ở ngoài nước, chẳng hạn ở Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Chúng tôi xin được lược dẫn về những công trình, những bài viết có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu:

* Các công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục trước thế kỉ XX:

Trước hết, cần kể đến Lời đề tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết

năm Vĩnh Định sơ niên 1547:

- Trong lời đề tựa, tác giả đã cho ta thấy xuất thân và con đường làm quan

của Nguyễn Dữ, chỉ ra lí do Nguyễn Dữ cáo quan về ở ẩn “Tập lục này là trứ

nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm tri huyện Thanh Tuyền Mới được một năm ông cáo quan về nuôi mẹ, thế rồi viết ra tập lục này để ngụ ý”

- Tác giả bài viết đã nhận xét: “Xem lời văn thì Truyền kỳ mạn lục không

vượt khỏi phên dậu của Tông Cát, nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hoá ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu” Rõ

ràng, đây là một thái độ trân trọng và sự khẳng định đóng góp lớn của Nguyễn

Dữ trong kho tàng văn học nước nhà

Đây có lẽ là ý kiến đánh giá sớm nhất về tác phẩm, Hà Thiện Hán chủ yếu

khẳng định mục đích sáng tác Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là để nhắc nhở

khuyên răn con người biết làm điều thiện, tránh điều ác Nguyễn Dữ đề cập đến những chuyện liên quan đến cuộc sống thường nhật của con người, mục đích

Trang 12

cuối cùng là việc dạy người, dạy đời Chính vì lẽ đó mà tác phẩm ngoài là một tác phẩm văn học có giá trị còn là một cuốn sách có ý nghĩa giáo dục sâu sắc Trên tinh thần kế thừa ý kiến của thế hệ đi trước, nhiều học giả, giới phê bình và nghiên cứu của của Việt Nam trong giai đoạn thế kỉ XVIII – XIX, khi

đánh giá về Truyền kỳ mạn lục thường hết lời ngợi khen về giá trị của tác phẩm,

đặc biệt hết là về phương diện nghệ thuật, chẳng hạn như:

- Ôn Như hầu Vũ Khâm Lân (1702 - ?) trong Bạch Vân am cư sĩ phả kí coi

Truyền kỳ mạn lục là một “thiên cổ kỳ bút” (ngòi bút kỳ lạ của muôn đời)

- Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong Kiến văn tiểu lục đánh giá văn chương

Truyền kỳ mạn lục là “lời lẽ thanh tao tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi

trứ tác Truyền kỳ mạn lục gồm bốn quyển, văn từ trong sáng, mỹ lệ”

- Phan Huy Chú (1782 – 1840) trong Lịch triều hiến chương loại chí đã

từng khen rằng: “Bấy giờ học trò ông (Nguyễn Bỉnh Khiêm) thành đạt rất nhiều,

chỉ có Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Trương Thì Cử là

có tiếng nhất Khi Nguyễn Dữ viết quyển Truyền kỳ mạn lục được ông sửa chữa nhiều chỗ, sau thành áng văn hay của bậc đại gia”

- Vũ Phương Đề (1697 - ?) trong Công dư tiệp kí coi Truyền kỳ mạn lục là

“thiên cổ kỳ bút”

Như vậy, các học giả thế kỉ XVIII – XIX, đã chú ý nhiều tới mặt văn phong, tới nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật xây dựng nhân vật nhưng họ chỉ cho thấy cái nhìn tổng thể về tác phẩm, chưa thực sự chú ý một cách thích đáng tới khía cạnh sự kết hợp giữa các phương thức sáng tác, chẳng hạn như mối quan hệ giữa hai phương thức tự sự, trữ tình và tác dụng nghệ thuật của sự kết hợp những phương thức ấy trong việc chuyển tải nội dung, tư tưởng của tác phẩm

* Các công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục từ đầu thế kỉ thứ XX đến nay:

Trang 13

Bước vào thế kỉ XX, Truyền kỳ mạn lục đã tiếp tục được khảo cứu trên nhiều phương diện cả về nội dung và nghệ thuật Lời giới thiệu Truyền kỳ mạn

lục của Bùi Kỷ được Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch ra quốc ngữ in năm 1941:

- Khi đánh giá về phương diện nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục, Bùi Kỷ viết: “Nguyễn Dữ học rất rộng, lại có tài viết văn dùng nhiều điển tích Lối viết

nào cũng hay, về phần uyên bác có thể ngang với Bồ Tùng Linh, về phần vận dụng các văn thể vượt hơn Đặng Trần Côn”

- Về phương diện nội dung, tác giả bài viết cũng cho rằng Truyền kỳ mạn

lục đã đề cập đến vấn đề có liên quan trong cuộc sống của người phụ nữ xã hội

Việt Nam thời kì trung đại

Ngoài một số công trình nghiên cứu chủ yếu về nghệ thuật viết truyện ngắn, về thể loại của tác phẩm như công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Dân

Loại hình văn xuôi huyễn tưởng (Tạp chí Văn học, số 5, năm 1984), công trình

của Nguyễn Hữu Sơn Đặc điểm văn học Việt Nam thế kỉ XVI – các bước nối tiếp

và phát triển (Tạp chí Văn học, số 5 và số 6, năm 1988), còn có khá nhiều bài

viết khác trong đó đáng lưu ý là các bài viết Truyền kỳ mạn lục một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán - Văn học Việt Nam của Bùi Duy Tân

(Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2001) Trong bài viết, tác giả đã nhận định những

thành tựu vượt bậc về phương diện nội dung cũng như nghệ thuật của Truyền kỳ

mạn lục trong dòng truyện ký văn học trung đại Việt Nam Bài viết của Bàn luận thêm về vấn đề tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Lại Văn Hùng

(Tạp chí Văn học, số 10, năm 2002) đã khẳng định lại một số vấn đề cơ bản về

thân thế Nguyễn Dữ và nguồn gốc, nội dung, nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục

Bài viết Những biến đổi của những yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền

kỳ Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 6, năm 2004) của Vũ Thanh đã cho thấy sự

biến chuyển linh hoạt và sinh động của hai yếu tố kỳ và thực và tác dụng nghệ thuật của sự biến đổi này trong tác phẩm

Trang 14

Bộ sách Lịch sử văn học Việt Nam, tập II (sách Đại học Sư phạm – Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1978) có đoạn: “Nguyễn Dữ cũng đã ít nhiều nói lên

được đời sống cơ cực của nhân dân, đặc biệt tác giả đã chú ý đến đời sống tình cảm của những con người nhỏ bé nhất là người phụ nữ bình dân” Tác giả của

bộ sách này đã khẳng định số phận người phụ nữ bị đày đoạ vì loạn li, điêu đứng

vì thế lực cường quyền chủ yếu là người phụ nữ bình dân Ngoài yếu tố ấy, theo

những người viết sách đồng tiền cũng là một “quyền lực tối cao” và ảnh hưởng,

chi phối đạo đức của con người Đồng tiền gián tiếp gây nên những nỗi thống khổ cho con người, và hơn ai hết đó chính là người phụ nữ

Bộ sách Văn học Việt Nam (Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2001) viết: “Truyền kỳ mạn lục có nhiều truyện miêu tả tình yêu nam nữ, hạnh phúc

gia đình trong hoàn cảnh khó khăn và đầy biến động của xã hội phong kiến”

Trong đó, rõ nét nhất là Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện người

con gái Nam Xương Đây là hai ví dụ tiêu biểu cho thái độ của tác giả: phản ánh,

lên án tình trạng đáng thương của người phụ nữ trong xã hội cũ Cho dù tất cả phụ nữ có đảm đang bao nhiêu, chung thuỷ và tình nghĩa bao nhiêu thì cũng phải

chịu số phận oan nghiệt trước cuộc đời dâu bể Chuyện Lệ Nương là một câu

chuyện đầy bi kịch về sự chung thuỷ của tình vợ chồng trong cảnh đất nước bị

ngoại xâm Ngoài đề tài tình vợ chồng, Truyền kỳ mạn lục còn đề cập khía cạnh

khác của đời sống con người lúc bấy giờ Các câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn:

Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện nàng Thuý Tiêu, Chuyện cây gạo, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây miêu tả những mối tình vụng trộm, trái hẳn với đạo lí

Nho gia “nam nữ thụ thụ bất tương thân” Các tác giả trong bộ sách này cho

rằng Nguyễn Dữ đã táo bạo và phóng túng khi thể hiện quan hệ yêu đương

không lành mạnh giữa Trình Trung Ngộ và Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo, giữa Hà Nhân và hai nàng họ Đào, họ Liễu trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây và

họ đã kết luận: đối với truyện này Nguyễn Dữ đã có lời phê bình để phê phán

những quan niệm đồi truỵ và khẳng định lại những giáo điều về “đức hạnh tiết

Trang 15

nghĩa” và bình luận thêm “tuy thông cảm với khát vọng yêu đương của con người nhưng quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ nét tích cực của

lễ giáo nho phong Điều đó phản ánh thái độ đầy mâu thuẫn trong tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Dữ”

* Song song đó, còn có các bài viết, công trình đã nghiên cứu về một số

khía cạnh chuyên biệt của Truyền kỳ mạn lục có ý nghĩa trực tiếp đối với việc

thực hiện đề tài, chẳng hạn như:

Bài viết Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ (Tạp chí Văn học, số 1, năm 1987) của Nguyễn Phạm Hùng Đây là

bài viết mà chúng tôi quan tâm nhất, nội dung bài viết có ý nghĩa định hướng

cho việc triển khai đề tài Theo tác giả, Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm đã

đặt ra những vấn đề về người phụ nữ Chúng tôi hoàn toàn đồng ý nhận xét của

tác giả: “Niềm khát khao hạnh phúc gia đình là chủ đề chính của nhiều truyện

Mâu thuẫn khao khát hạnh phúc đó với các thế lực tàn bạo của xã hội chính là hạt nhân nghệ thuật của những truyện này” Không phải đến Nguyễn Dữ thì vấn

đề này mới được nhắc đến Thực ra, trong những tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Húc, chúng ta đã thấy những vấn đề ấy được đề cập Tuy nhiên, ở những tác giả ấy, niềm khao khát hạnh phúc của con người đặc biệt là người phụ

nữ trong xã hội phong kiến, và sự xung đột giữa khát khao cao đẹp của con người với sự hẹp hòi, gò bó, tàn nhẫn của chế độ xã hội đương thời chỉ đơn thuần dừng lại ở sự nhận thức trên bình diện tâm lí và được thể hiện trong suy

nghĩ, trong diễn biến nội tâm của nhân vật mà thôi Đến Truyền kỳ mạn lục,

niềm khát khao ấy, mâu thuẫn ấy đã thực sự trở thành đối tượng của sự nhận thức mang tính thẩm mĩ một cách trọn vẹn, đó trở thành ước vọng chung của người phụ nữ trong đời sống văn học Nguyễn Dữ đã phản ánh, lên án, phê phán những gì của xã hội đã trái với đạo lí luân thường, trái với khát vọng tự do, hạnh phúc chính đáng của con người Đó chính là một trong những biểu hiện của trào lưu văn học nhân đạo chủ nghĩa Và đây cũng chính là khuynh hướng sáng tác

Trang 16

chung của thời đại Từ bài viết, ta có thể nhìn nhận tác phẩm của Nguyễn Dữ được xem là mở đầu cho khuynh hướng phản ánh hiện thực xã hội đương thời

để rồi những thế hệ văn sĩ sau đó tiếp tục kế thừa và phát triển nó, tạo nên những tên tuổi nổi tiếng như: Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái… Trong công trình này, Nguyễn Phạm Hùng đã đề

cập rất rõ về khuynh hướng sáng tác Truyền kỳ mạn lục ở phương diện nội dung,

tuy nhiên, về ở phương diện nghệ thuật tác giả vẫn còn chưa đi sâu, chưa đề cập đến các phương thức sáng tác trong tác phẩm

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Dương (Đại học Sư phạm Hà Nội, năm

1996) đã nghiên cứu về Số phận người phụ nữ và các phương thức thể hiện số

phận ấy trong Truyền kỳ mạn lục Tuy nhiên, hai phương thức tự sự và trữ tình

trong tác phẩm cũng chưa được quan tâm đúng mức mà tác giả chỉ khái quát về các phương thức thể hiện số phận người phụ nữ trong tác phẩm

Luận văn thạc sĩ Loại hình các nhân vật trong truyền kỳ trung đại Việt Nam

văn lục của Trương Thị Hoa (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm

2011) đã tiếp cận và khai thác Truyền kỳ mạn lục theo loại hình nhân vật và

cũng chưa đề cập đến vấn đề mà luận văn đã đề ra

Luận văn thạc sĩ Vị trí của thể loại truyền kỳ trong tiến trình phát triển của

văn học Việt Nam của Trần Nghi Dung (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí

Minh, năm 2012) đã tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn thể loại để đi đến đánh giá vị trí quan trọng của Truyền kỳ mạn lục nói riêng và tất cả những tác phẩm thuộc

thể loại truyền kì nói chung trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam Tác giả cũng không đặt ra vấn đề tiếp cận Truyền kỳ mạn lục theo phương thức

sáng tác nghệ thuật

Như vậy, nhìn một cách tổng thể, các học giả, các công trình nghiên cứu đã

có những nhận xét tương đối thống nhất về những đóng góp đáng kể về mặt nghệ thuật của tập truyện Tuy nhiên, do những mục đích khác nhau mà các tác

Trang 17

giả chưa quan tâm cụ thể và đi sâu vào sự biểu hiện cũng như hiệu quả quan

trọng của việc kết hợp hai phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn

lục

Với mong muốn kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu Truyền

kỳ mạn lục của các thế hệ đi trước, chúng tôi chọn vấn đề sự kết hợp phương

thức tự sự, trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục nhằm cố gắng hoàn chỉnh và làm

nổi rõ hơn vấn đề đã nêu, hy vọng góp thêm ý kiến vào việc nghiên cứu một tác phẩm văn học lớn và có giá trị nhiều mặt này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Như trên đã nói do yêu cầu và mục đích, nhiệm vụ cụ thể của đề tài, chúng tôi chọn những biểu hiện của phương thức tự sự, phương thức trữ tình và chỉ ra tác dụng nghệ thuật của sự kết hợp hai phương thức sáng tác ấy trong

Truyền kỳ mạn lục Tác phẩm có tất cả hai mươi truyện, chia làm bốn quyển,

được viết theo lối tản văn, biền văn xen lẫn thơ ca, được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ Nôm Dù độ ngắn dài của mỗi câu chuyện là khác nhau, dù mỗi câu chuyện chuyển tải mỗi tư tưởng của tác giả là khác nhau nhưng nhìn chung thì tất cả những câu chuyện ấy đều có sự kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt giữa hai phương thức tự sự và trữ tình Tuy nhiên tuỳ mức độ thể hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm mà tác giả

có cách tổ chức, thể hiện sự kết hợp hai phương thức tự sự và trữ tình đậm nhạt khác nhau trong mỗi câu chuyện Điều này cũng cho chúng ta thấy tài năng sáng tạo của một tác giả lớn Để thuận tiện cho việc triển khai các vấn đề đã đặt ra,

chúng tôi đồng tình và sử dụng thứ tự các câu chuyện theo tập truyện Truyền kỳ

mạn lục, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nhà xuất bản Văn nghệ, Hội

nghiên cứu giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh, in lại năm 1988, cụ thể như sau:

Trang 18

- Truyện thứ nhất: Câu chuyện ở đền Hạng Vương (Hạng Vương từ kí)

- Truyện thứ hai: Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái châu (Khoái Châu nghĩa

phụ truyện)

- Truyện thứ ba: Chuyện cây gạo (Mộc miên thụ truyện)

- Truyện thứ tư: Chuyện gã Trà đồng giáng sinh (Trà đồng gián đản lục)

- Truyện thứ năm: Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây (Tây viên kỳ ngộ kí)

- Truyện thứ sáu: Chuyện đối tụng ở Long cung (Long đình đối tụng lục)

- Truyện thứ bảy: Chuyện nghiệp oan của Đào thị (Đào thị nghiệp oan kí)

- Truyện thứ tám: Chuyện chức Phán sự đền Tản viên (Tản Viên từ phán sự

lục)

- Truyện thứ chín: Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên (Từ Thức tiên hôn lục)

- Truyện thứ mười: Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào (Phạm Tử Hư

- Truyện mười bốn: Chuyện nàng Tuý Tiêu (Tuý Tiêu truyện)

- Truyện mười lăm: Chuyện bữa tiệc ở Đà Giang (Đà Giang dạ ẩm kí)

- Truyện mười sáu: Chuyện người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử

lục)

- Truyện mười bảy: Chuyện Lý tướng quân (Lý tướng quân truyện)

- Truyện mười tám: Chuyện Lệ Nương (Lệ Nương truyện)

- Truyện mười chín: Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa (Kim Hoa thi thoại kí)

- Truyện hai mươi: Chuyện tướng Dạ Xoa (Dạ Xoa bộ soái lục)

Trang 19

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm của Nguyễn Dữ, được viết bằng chữ Hán,

ra đời vào thế kỉ XVI, đến nay đã nhiều lần tái bản Khi thực hiện đề tài này,

chúng tôi đã dùng bản Truyền kỳ mạn lục do Trúc Khê Ngô Văn Triện (1943)

dịch, Nhà xuất bản Văn nghệ, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh, in lại 1988, bởi vì Trúc Khê Ngô Văn Triện được giới nghiên cứu văn học đánh giá rất cao về tài dịch thuật và vốn Hán học, đặc biệt là Văn Tâm trong

Từ điển Văn học (bộ mới) đánh giá: “vốn Hán học sâu rộng, và bút pháp cũng khá nhuần nhị, ông truyền đạt tư liệu lịch sử có hệ thống (…) khá hấp dẫn với những lời bình đúng mực” [32, tr.1828]

Theo yêu cầu của đề tài, trong luận văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu

hai phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục và chỉ ra hiệu quả

thẩm mỹ của sự kết hợp hai phương thức trên trong tác phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài viết, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận văn Bằng phương pháp phân tích, chúng tôi tìm hiểu cụ thể và đào sâu mỗi câu chuyện trong tác phẩm về các khía cạnh nội dung và nghệ thuật, từ đó tìm ra những vấn đề có liên quan, phục vụ cho đề tài đang nghiên cứu Sau khi phân tích mỗi truyện cụ thể, phương pháp tổng hợp được sử dụng để tìm ra quy trình hoặc sự đồng loạt, thống nhất trong cách kết hợp các phương thức tự sự và trữ

tình trong toàn tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

- Tiếp theo là phương pháp thống kê, phân loại Sự kết hợp của phương

thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục được thể hiện ở nhiều truyện, ở

nhiều dạng thức khác nhau Vì vậy, trên cơ sở khảo sát, lựa chọn những truyện

cụ thể có sự kết hợp hiệu quả các phương thức sáng tác kể trên, chúng tôi thống

kê, phân loại và khái quát thành những dạng thức thể hiện sự kết hợp của phương thức tự sự và trữ tình trong toàn bộ tác phẩm (thống kê, phân loại cách

Trang 20

thức tổ chức, cách thâm nhập của yếu tố trữ tình vào cốt truyện, vào nhân vật (ngôn ngữ, hành động, nội tâm) hay vào các tình tiết, sự kiện…) Từ đó, có thể thấy rõ và sâu sắc hơn cách kết hợp của phương thức tự sự và trữ tình trong tác phẩm để rút ra kết luận về tác dụng nghệ thuật của sự kết hợp của hai phương

- Cuối cùng phương pháp so sánh cũng được sử dụng nhằm so sánh sự kết

hợp hai phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục và các tác phẩm khác trước và sau khi Truyền kỳ mạn lục xuất hiện Bên cạnh đó, so sánh giữa

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Việt Nam) và Tiễn đăng tân thoại của Cù

Hựu (Trung Quốc) cũng làm nổi bật sự độc đáo của Truyền kỳ mạn lục, một lần nữa khẳng định giá trị nhiều mặt của “thiên cổ kỳ bút” này

Ngoài ra, trong bài viết, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác

để bổ trợ cho việc tìm hiểu kỹ và sâu tác phẩm

6 Đóng góp của luận văn

Trên tinh thần của thế hệ đi sau học hỏi, kế thừa và phát huy những thành

tựu nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục của các thế hệ đi trước, chúng tôi mong

muốn góp thêm một phần nhỏ vào kho tri thức liên quan đến tác phẩm bằng việc

bổ sung thêm một số thành tựu về mặt nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục, từ đó

có thể vận dụng những kiến thức thiết thực này một cách cụ thể, linh hoạt vào

thực tế giảng dạy Truyền kỳ mạn lục trong nhà trường

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm có ba phần cơ bản: mở đẩu, nội dung và kết luận

M ở đầu, người viết trình bày cụ thể về lí do chọn đề tài, mục đích nghiên

cứu, đối tượng và phạm nghiên cứu, phương pháp, những đóng góp của luận

Trang 21

văn, cấu trúc luận văn Phần này, người viết chủ yếu là trình bày những vấn đề chung diễn giải quá trình hình thành và thực hiện triển khai đề tài nghiên cứu sự

kết hợp phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục

N ội dung, người viết thực hiện ba chương Cụ thể như sau:

Ở chương 1 - Một số vấn đề chung, người viết trình bày những vấn đề

chung, chủ yếu là những lí thuyết làm cơ sở để triển khai nội dung đề tài đúng hướng và đạt hiệu quả Đó là những lí luận về thể loại truyền kỳ (khái niệm, nguồn gốc và đặc trưng thể loại); những lí thuyết về các phương thức sáng tác trong văn học, cụ thể là hai phương thức tự sự và trữ tình; những kiến thức có

liên quan đến Truyền kỳ mạn lục như tác giả, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm,

sự liên hệ giữa Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ với Tiễn đăng tân thoại của

Cù Hựu Tất cả là những tiền đề rất quan trọng để người viết triển khai vấn đề một cách khoa học

Ở chương 2 - Phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục, những dạng thức kết hợp và tác dụng nghệ thuật, người viết sẽ trình bày cụ thể,

đi sâu những vấn đề chính của đề tài, các biểu hiện của hai phương thức tự sự và trữ tình, ý nghĩa riêng lẽ cũng như hiệu quả nghệ thuật của việc kết hợp của cả hai phương thức ấy trong tác phẩm Người viết sẽ thực hiện công việc phân tích, thống kê, phân loại, tổng hợp, so sánh để rút ra kết luận một trong những điểm đặc sắc về phương diện nghệ thuật của tác phẩm chính là sự kết hợp độc đáo giữa hai phương thức tự sự và trữ tình Và sự kết hợp này đã góp phần thể hiện sâu sắc nội dung, tư tưởng của toàn tác phẩm, đồng thời cũng cho thấy vai trò

quan trọng trong việc thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của Truyền kỳ

mạn lục

Ở chương 3 - Đóng góp về nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục trong nền văn học Việt Nam, để hình thành cái nhìn toàn diện về tác phẩm, người viết đã trình

bày sự liên quan, ảnh hưởng giữa Truyền kỳ mạn lục với những tác phẩm xuất

hiện trước và sau nó, chủ yếu là các tác phẩm là truyện truyền kỳ hoặc những tác

Trang 22

phẩm có liên quan gần gũi đến thể loại truyền kỳ trong nền văn học Việt Nam

Từ đó, người viết có thể khẳng định thành công vượt bậc về cả nội dung lẫn nghệ thuật của tác phẩm vang bóng một thời này trong nền văn học trung đại của Việt Nam

K ết luận, người viết tổng hợp và khẳng định lại một lần nữa những kết quả

đạt được của đề tài Đồng thời cũng trình bày lập trường, suy nghĩ và đánh giá riêng của bản thân về tác phẩm “thiên cổ kỳ bút” trong lịch sử văn học nước

nhà

Trang 23

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Thể loại truyền kỳ

1.1.1 Khái niệm “truyền kỳ”

Theo T ừ điển thuật ngữ văn học thì “truyền kỳ” có nghĩa là “thể loại tự

cấu” [20, tr.230] Trong Từ điển Văn học (bộ mới) thì khẳng định rằng: Truyền

kỳ là “một hình thức văn xuôi tự sự Trung Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân

gian, sau các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng các môtip kỳ quái, hoang đường lồng vào trong cốt truyện có ý nghĩa trần thế” [32, tr.447]

Và theo tác giả Đoàn Lê Giang, chữ “kỳ” trong “truyền kỳ” có nguồn gốc từ tác

phẩm “Truyền kỳ” của Bùi Hình, cũng có nghĩa là kỳ lạ, hoang đường Trong

tác phẩm Đường Tống truyền kỳ, Lỗ Tấn cho rằng “kỳ” trong khái niệm không

phải hiểu theo nghĩa là sự kỳ ảo, kỳ dị mà phải hiểu như một quan niệm văn học,

một phương pháp sáng tác, cách hiểu này bắt buộc các tác giả phải có sự coi

trọng yếu tố “lạ” trong khi sáng tác

Nhìn chung, khái niệm “truyền kỳ” được hiểu khá thống nhất Đó là một

thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, dùng những yếu tố hoang đường, kỳ lạ để phác hoạ và phản ánh đời sống hiện thực, thể hiện quan điểm sống của bản thân tác giả trước cuộc đời đầy dâu bể

1.1.2 Nguồn gốc thể loại truyền kỳ

“Truy ền kỳ” cũng giống như một số thể loại khác như “tiểu thuyết” hoặc

“thơ Đường luật” đều có nguồn gốc rất lâu từ Trung Quốc “Truyền kỳ” được

xem là thể loại truyện ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc và thể loại này

thịnh hành nhất là ở thời Đường (từ năm 618 đến năm 774) [86, tr.1]

Vào đời Nguỵ Tấn (từ thế kỷ thú III đến thế kỷ thứ IV), chưa có khái

niệm “truyền kỳ” mà chỉ có khái niệm “tiểu thuyết”, nó tồn tại dưới dạng chí

quái (chuyện ghi chép những điều quái dị hoặc những chuyện dã sử) Thuật ngữ

Trang 24

“ti ểu thuyết” chính là mầm mống của “truyền kỳ” Vào đời Đường, người ta

vẫn còn nghĩ “tiểu thuyết” là một khái niệm đơn giản chỉ một dạng văn viết về

những chuyện lãng mạn, xa rời cuộc sống thực tế, không thể tin Có người đã

gạt tiểu thuyết ra khỏi hệ thống văn học chính thống quốc gia Do sự phân tầng trong giai cấp xã hội, mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, nhu cầu phản ánh

hiện thực cuộc sống ngày càng cao, tiểu thuyết không ngừng mở rộng nội dung

và hoàn thiện về hình thức nghệ thuật, đạt đến độ chín trong các tác phẩm Theo

thị hiếu xã hội, tác giả phải lựa chọn một kết cấu lạ để thể hiện tư tưởng, quan điểm muốn gửi gắm Từ đó, tiểu thuyết dần dần biến tướng và được thay thế bởi khái niệm “truyền kỳ” Với sự ra đời của truyện Cổ kính kí của Vương Độ (?-?),

truyền kỳ thật sự đã trở thành thể loại văn học chính thống tồn tại độc lập và quan trọng trong nền văn học Trung Quốc Một người thời Minh là Hồ Ứng

Luân đã từng khẳng định: “Những chuyện biến hoá kỳ lạ rất thịnh vào thời Lục

biến hoá, đến người đời Đường, mới có sự cấu tứ ly kỳ, mượn tiểu thuyết để gửi

những chuyện được truyền trong dân gian mà nó còn là phương tiện ngôn ngữ

để tác giả thể hiện những suy nghĩ, những cảm xúc, những trăn trở trước cuộc đời Thể loại truyền kỳ tiếp tục phát triển ở đời Tống, Nguyên (1279 - 1368)

Cuối đời Nguyên, đầu đời Minh (thế kỉ XIV), có sự xuất hiện Tiễn đăng tân

cho thể loại truyền kỳ của Trung Quốc và có ảnh hưởng lớn đến truyền kỳ các nước trong khu vực, tiêu biểu như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Sang đời

nhà Thanh (1644 - 1911), Liêu trai chí d ị của Bồ Tùng Linh (1640 - 1715) ra đời

đã làm rạng danh cho thể loại truyền kỳ của nền văn học Trung Quốc

Trong nền văn học Việt Nam, những mầm mống của “truyền kỳ” đã có mặt

từ rất sớm ở Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo Đến

Trang 25

Truy ền kỳ mạn lục thì khái niệm “truyền kỳ” mới chính thức xuất hiện và thật sự

phát triển đến đỉnh cao về nội dung lẫn hình thức

Nhìn tổng quát, ta thấy truyền kỳ là một thể loại văn xuôi xuất hiện khá

sớm trong lịch sử văn học Trung Quốc Lúc đầu truyền kỳ chưa phải là một thể

loại độc lập, nó chỉ là loại chí quái xuất hiện thời Lục triều, về sau loại này phát triển độc lập thành thể loại truyền kỳ và du nhập vào nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Bằng ý thức tự hào và giữ gìn tinh hoa của dân tộc, người

Việt Nam đã sáng tác truyện truyền kỳ theo cách riêng của mình Những tác

phẩm luôn có sự kết hợp giữa sự tiếp thu và sáng tạo, gắn liền với các nền văn hoá dân tộc (chủ yếu là văn hoá dân gian và văn xuôi lịch sử) Truyền kỳ của văn học Việt Nam có đóng góp lớn cho thể loại truyền kỳ trong nền văn học toàn khu vực đồng văn thời trung đại

1.1.3 Đặc trưng thể loại

Đặc trưng của mỗi thể loại trong sáng tác văn học là một trong những vấn

đề quan trọng trong lý luận văn học Người đọc có thể tiếp cận tác phẩm với nhiều góc nhìn khác nhau Xét về phương diện thể loại, truyền kỳ có những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật sau:

* V ề nội dung:

Truy ền kỳ là một thể loại văn học đậm giá trị phản ánh hiện thực Yếu tố

kỳ lạ ở đây cần phải hiểu chính là những việc thực, người thực trong cuộc đời nhưng được phản ánh bằng lối tư duy, sáng tạo mới lạ với kết cấu ly kỳ và

những chi tiết hoang đường Tác phẩm truyền kỳ chứa đựng nội dung phản ánh

hiện thực xã hội rất đa dạng, phong phú Có dạng chỉ đơn thuần là miêu tả cuộc đời biến ảo như mơ, như mộng; có loại chuyên ca ngợi tình yêu lứa đôi nam nữ;

có loại thì chuyên ca ngợi những hào sĩ hiệp khách giang hồ; cũng có loại lên án, phê phán thói hư tật xấu của tầng lớp thanh thiếu niên, thói ham tiền hám lợi của các giai tầng thống trị

Trang 26

Có thể thấy nơi đây một xã hội đầy rẫy những bất công, nhiễu nhương với

những thế lực uy quyền cậy thế hà hiếp người nghèo khổ Vua quan thì kết bè

kết cánh, bóc lột nhân dân, người thấp cổ bé họng thì lại nhút nhát, chịu đựng

Trong TKML, hiện lên khá rõ sự tàn nhẫn, vô nhân của bậc tối cao trong xã hội đương thời Đó là cảnh chính sự thối nát cuối triều nhà Trần và triều nhà Hồ Tác giả mượn chuyện vua nước người ngụ ý nhắc nhở vua nước mình qua lời

của Hồ Tông Thốc đối đáp với Hạng Vương trong Câu chuyện ở đền Hạng

cường làm đức Chém Tống nghĩa là một tướng mạnh, vô quân đến đâu! Giết Tử Anh là người đã hàng, bất võ quá lắm! Hàn sinh vô tội mà bị luộc, hình pháp thái thường; A Phòng vô cố mà bị thiêu, hung uy quá tệ!” Trong Chuyện đối đáp của tiều phu ở núi Nưa, người tiều phu đã nhận xét về vua nhà Hồ “Ông ấy thường dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân để dựng cung Kim Âu, dốc

vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn…”, một triều đại mà “hình ngục có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được”, vua chẳng qua là hôn quân vô đạo

nhân dân đã cơ cực lại còn cơ cực hơn, nạn đói kém ngày càng trầm trọng! Vợ

phải bán con để ma chay cho chồng “Người vợ nghèo kiết, không có tiền để đưa

ma chồng về quê được, phải đem bán con gái nhỏ Thị Nghi cho một nhà phú thương họ Phạm” (Chuyện yêu quái ở Xương Giang) hoặc người chết hàng loạt,

hồn ma đói khát vất vưỡng, dân tình điêu đứng lầm than: “Cuối đời Trùng

“những oan hồn không chỗ tựa nương thường họp thành đàn lũ, hoặc gõ cửa hàng cơm để kiếm ăn, hoặc đón cô gái chơi để kết duyên tạm, ai va chạm thì

Trang 27

Thánh Tông trong TTDT cũng cho thấy sự hời hợt của bậc tối cao trong việc trị

vì thiên hạ: “Đến đời Huệ Tông, trễ nãi chính trị, ruồng bỏ nhạc công, hàng

ngày say sưa hát hỏng, múa giáo tự xưng là tướng nhà trời, uỷ cả chính quyền

Những tệ lậu của xã hội, thói hoang dâm vô độ của trai gái, của những quan

nhân, thương buôn, sư sãi cũng được các tác giả chú ý thể hiện Ở TKML, hồn

ma Nhị Khanh đã thể hiện sự đắm say trong ái ân xác thịt ngay lần gặp đầu tiên

với Trình Trung Ngộ (Chuyện cây gạo): “Nghĩ đời người ta, thật chẳng khác

ân, cũng không thể được nữa” Hay tính nết và hành động đáng chê trách của

nàng Hàn Than và sư Vô Kỷ: “hai người đã yêu nhau, mê đắm say sưa, chẳng

muôn vàn tội ác! Các tác giả đã vẽ nên bức tranh hiện thực có giá trị để nhắc

của dân tộc Thần Thuồng Luồng làm yêu làm quái cướp vợ người (Chuyện đối

chàng lái buôn Trình Trung Ngộ (Chuyện ma cây gạo) đam mê sắc dục đến lâm

trọng bệnh và chết đi hoá thành những cô hồn ngạ quỷ…

Đồng thời các tác giả cũng bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những số phận

bất hạnh, hẩm hiu trong xã hội, đặc biệt là người phụ nữ; đề cao tình yêu chung thuỷ, ca ngợi những tấm gương cương trực chính nghĩa của các anh hùng Tình

Trang 28

yêu chân chính, tình vợ chồng thuỷ chung đến chết không thôi được khẳng định

giữa các nhân vật trong TKML như Trọng Quỳ và Nhị Khanh trong Chuyện

người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Lệ Nương và Phật Sinh trong Chuyện Lệ

trong Chuy ện người con gái Nam Xương Trong TKTP, nàng Nguyễn Cơ đẹp

người đẹp nết, chấp nhận hi sinh để bảo toàn tính mạng cho vua và các binh sĩ

(Truy ện đền thiêng ở cửa bể)), nàng Liễu Hạnh son sắt với Đào Lang (Truyện

Nhìn chung, các truyện truyền kỳ đều thể hiện đầy đủ hai nội dung cơ bản:

phản ánh hiện thực và thấm đẫm tinh thần nhân đạo Truyện truyền kỳ đã góp

phần hướng văn học trung đại Việt Nam đến gần việc thể hiện một cách chân

thực đời sống của quần chúng nhân dân, tỏ rõ được thái độ cảm thông, thương xót của tác giả đối với những số phận bất hạnh, phê phán những thế lực chà đạp nhân phẩm của con người, góp phần bảo tồn những nét những tinh hoa của truyền thống văn hoá dân tộc

* Về nghệ thuật:

Truy ện truyền kỳ có sự ảnh hưởng rất lớn từ các truyện dân gian Ảnh

hưởng rõ nhất đó chính là cốt truyện Cốt truyện ở truyện truyền kỳ chịu sự ảnh

hưởng bởi các môtip cốt truyện dân gian Trong TTDT, truyện Chồng dê có cốt

truyện rất quen thuộc với các truyện dân gian Lấy vợ cóc, Lấy chồng dê Truyện

tượng phong phú sáng tạo lại từ truyện dân gian Từ Thức lên tiên, tương tự

rất phổ biến được truyền tụng trong dân gian Trong TKTP, truyện Vân Cát thần

Trang 29

bất tử nổi tiếng trong văn hoá và trong văn học Việt Nam) bởi tấm gương tiết

hạnh đã hoá Thánh của người phụ nữ Chuyện tình ở Thanh Trì trong LTKVL

khiến ta liên tưởng đến chuyện dân gian Trương Chi, Mỵ Nương bởi mối tình

son sắt, tình cảm thuỷ chung đáng trân trọng giữa người với người

Các câu chuyện truyền kỳ có điểm tương tự với truyện dân gian ở cốt truyện Cách mở đầu là lời của tác giả giới thiệu về tên, quê quán hay nghề nghiệp, xuất thân của nhân vật Cách mở đầu rất quen thuộc trong các truyện dân gian được thể hiện khá đậm nét trong các tác phẩm truyền kỳ Thử quan sát vài ví dụ: “Ngày xưa, ở làng Nam Xương có cô gái tên Vũ Thị Thiết, người đã

xinh đẹp lại thuỳ mị, nết na…” (Truyện dân gian Vợ chàng Trương) Trong

nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp…” (Chuyện người con gái Nam Xương), hay

trong TTDT: “Cu ối niên hiệu Nguyên Phong đời nhà Trần, ở Mai Châu có một

nữ ở Châu Mai) Tiếp nối đó là mạch kể của tác giả về hàng loạt sự việc, sự kiện

xoay quanh cuộc đời của nhân vật, qua đó thể hiện phẩm chất thiện hay ác, tốt hay xấu của nhân vật Kết thúc truyện truyền kỳ thường có hậu rất giống với các truyện dân gian với tinh thần “thiện giả thiện báo, ác giả ác báo”

Các tình tiết trong truyện truyền kỳ còn ảnh hưởng nhiều từ các môtip truyện dân gian Chẳng hạn môtip người lấy vật trong các truyện Duyên lạ nước

truyện Chuyện nàng Tuý Tiêu và Chuyện đối tụng ở Long cung (TKML); môtip con người xuống thuỷ cung, âm ty hay thiên tào trong các truyện Chuyện tướng

Dạ Xoa, Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào (TKML), Gặp Tiên ở hồ Lãng Bạc

(TTDT)…; môtip n ằm mộng, điềm báo trong Tháp báo ân (LTKVL), Câu chuyện

ở đền Hạng Vương, Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa (TKML); môtip thụ thai

thần kỳ được thể hiện trong khá nhiều truyện: Chuyện gã trà đồng giáng sinh,

Trang 30

Chuy ện yêu quái ở Xương Giang (TKML), Thần nữ Vân Cát (TKTP), Duyên lạ

Truy ện truyền kỳ là những truyện mang đậm thủ pháp nhân hoá, tạo ra

nh ững yếu tố kỳ ảo, hoang đường Sáng tác văn học nghệ thuật không chỉ tái

hiện cuộc sống hiện thực và con người một cách máy móc mà phải thể hiện,

phản ánh chúng sao cho mang tính nghệ thuật sáng tạo Nhân hoá là một trong

những thủ pháp phổ biến trong văn học trong quá trình phản ánh một cách nghệ thuật về đời sống hiện thực của con người Đây là thủ pháp không chỉ quen thuộc với những sáng tác dân gian mà còn phổ biến rộng rãi trong văn học viết

và đặc biệt trở thành thủ pháp quan trọng trong việc thể hiện yếu tố kỳ ảo trong các truyện thuộc thể loại truyền kỳ Các loại hoa được nhân hoá làm người và có

những cung bậc cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố, si như Đào Nương và Liễu Nương trong

họ Viên luận bàn về chính sự như con người trong Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà

tham, sân, si giống như con người trong Bài ký dòng dõi con Thiềm thừ (TTDT)

Trong truyện truyền kỳ, quan niệm về thế giới, về con người vừa có

nh ững đặc điểm phổ biến vừa mang những đặc thù của từng tác phẩm Nhân

vật thường đơn giản, tính cách nhân vật thể hiện qua hành động, ngôn ngữ, nội tâm ít mâu thuẫn do chịu ảnh hưởng của bút pháp trung đại Đặc điểm sống còn

của truyện truyền kỳ là mang tính chất kỳ lạ Tác giả cần phải xây dựng nên một

thế giới thật khác lạ với thế giới thực của cuộc sống con người Hầu như, các truyện truyền kỳ đều có sự đan xen giữa thế giới thực với thế giới ảo, giữa trần

thế và địa phủ, giữa người và ma Chẳng hạn ở các truyện Chuyện cây gạo,

Trang 31

Các văn bản văn học thuộc thể loại truyền kỳ đều là những tác phẩm

vi ết bằng văn xuôi, thường là tản văn, biền văn có dung lượng ngắn gọn Tác

phẩm VĐUL của Lý Tế Xuyên gồm hai mươi bảy truyện, LNCQ của Trần Thế

Pháp gồm hai mươi hai truyện, NÔML của Hồ Nguyên Trừng gồm hai mươi tám

thiên mục (truyện), TTDT của Lê Thánh Tông gồm mười chín truyện, TKML của

Nguyễn Dữ gồm hai mươi truyện, TKTP của Đoàn Thị Điểm gồm ba truyện,

mươi lăm truyện TTNgL của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án gồm tám mươi chín

truyện Số câu, số đoạn ở mỗi truyện không nhiều, chẳng hạn Truyện dòng dõi

Người làm mướn ở kinh thành (TTNgL) duy nhất một đoạn gồm bảy câu

Tóm lại về mặt nghệ thuật, những nét đặc trưng cơ bản của truyện truyền

kỳ là chịu ảnh hưởng cốt truyện và các môtip truyện dân gian, mang yếu tố kỳ

ảo Quan niệm về con người vừa cụ thể vừa phổ quát, dung lượng thì ngắn gọn thường được thể hiện bằng hình thức văn xuôi, biền văn hay tản văn góp phần quan trọng trong việc tạo sự hấp dẫn cho truyện và phản ánh chân thực cuộc

sống khách quan, qua đó bộc lộ thái độ, quan niệm sống của tác giả Những đặc trưng cơ bản về phương diện nội dung và nghệ thuật nêu trên đã góp phần tạo nên sự độc đáo cho thể loại truyền kỳ, góp phần làm nên sự phong phú cho văn xuôi trung đại Việt Nam nói riêng và thêm phần khẳng định những nét đặc sắc cho nền văn học trung đại của các nước đồng văn nói chung

1.1.4 Truyền kỳ trung đại Việt Nam

Ở Việt Nam, thuật ngữ “truyền kỳ” được hiểu ở những cấp độ rộng hẹp

khác nhau Có những nhà nghiên cứu xếp tất cả các tác phẩm văn xuôi có tính

chất thần linh ma quái hoặc kỳ dị vào thể loại truyền kỳ Nhưng cũng có nhà nghiên cứu cho rằng ngoài yếu tố ma quái, kỳ dị ra thì chi tiết hư cấu và tiêu chí

khẳng định thể loại là nhân vật chính của truyện phải là con người bằng xương

bằng thịt chứ không phải thần linh hay ma quỷ [87, tr.21] Nguyễn Đăng Na

Trang 32

trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại nhận xét: “Đây là tác phẩm

đánh dấu sự chuyển biến đột khởi văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Có thể

người với sức mạnh trí tuệ của mình đã trở thành chủ thể của vũ trụ Trong văn

[40, tr.151] Việc đề cao con người là một trong những nguyên nhân làm cho thủ pháp nhân hóa trở nên phổ biến, hiệu quả trong tác phẩm Khái niệm “Truyền

tập truyện TKML của Nguyễn Dữ Sau đó là TKTP của Đoàn Thị Điểm, Tân

truyền kỳ đã đạt được những thành tựu rực rỡ và là đỉnh cao của văn xuôi dân

tộc như TTDT, TKML, LTKVL

Ngày nay, nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của văn học trung đại

Việt Nam, có thể thấy TKML thực sự là một kiệt tác, trước và sau nó không có

tác phẩm truyền kỳ nào sánh bằng, đúng như lời nhận xét của Vũ Khâm Lân

trong B ạch Vân am cư sĩ phả kí: “Nguyễn Dữ chỉ để lại một tác phẩm nhưng đó

Đường (Trung Quốc), TKML là tác phẩm có nội dung đa dạng, phong phú xoay

quanh chủ đề tình yêu nam nữ trong đời sống hằng ngày và mang khuynh hướng nhân văn chủ nghĩa Rõ ràng, ta thấy giữa Việt Nam và Trung Quốc có mối quan

hệ tương đối đặc biệt Đó là mối quan hệ của hai nước láng giềng rất gần gũi nhau về lãnh thổ, văn hoá và phong tục Hơn nữa, trước thế kỉ thứ X, nước ta

chịu ngót một ngàn năm đô hộ của phong kiến Trung Hoa (179 TCN đến năm 938) [88, tr.1], điều đó dẫn đến lẽ tất yếu của sự ảnh hưởng qua lại của văn học hai nước, đó là sự ảnh hưởng qua lại và tiếp biến của các nước đồng văn

Trong bài viết, chúng tôi xem xét những tác phẩm xuất hiện trước và sau

khi Truy ền kỳ mạn lục xuất hiện, đó là những tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ

Trang 33

hoặc có liên quan gần gũi đến thể loại truyền kỳ nhằm có cái nhìn tổng thể về quá trình hình thành và phát triển đến đỉnh cao của thể loại độc đáo này trong

nền văn học nước nhà Bắt đầu từ VĐUL (Tập truyện về cõi u linh của nước

vị thần linh Việt Nam ở thời xa xưa Ban đầu, tác phẩm gồm hai mươi bảy truyện kể về các vị thần linh được thờ ở Việt Nam, bao gồm: các vua chúa (nhân quân), bề tôi trung liệt (nhân thần), thần sông, thần núi (hạo khí anh linh) Có thể

thấy ở tác phẩm này đã chứa những yếu tố kỳ ảo Tác phẩm là một cuốn thần

phả về những linh hồn bất tử của nước Đại Việt Nhân vật trong truyện hầu hết

là thần linh vốn là những anh hùng dân tộc đã hiển thánh Vì vậy, trong tập truyện đã có xuất hiện thấp thoáng những yếu tố của bút pháp truyền kỳ và có

thể đây là giai đoạn mầm mống cho sự phát triển của truyền kỳ sau này Tác

phẩm LNCQ (Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam) của Trần Thế

Pháp, ra đời cuối thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV Đây là một tập hợp truyền thuyết

và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào cuối đời Trần Theo bản gốc

gồm hai mươi hai truyện, tác giả đã tập trung chép lại những truyện kể giàu chất

kỳ ảo như: Phù Đổng thiên vương, Truyện Rùa vàng, Truyện Ngư tinh… Cuối

thế kỉ XV, TTDT (Bản thảo để lại của Thánh Tông) ra đời, tương truyền là của

Lê Thánh Tông Tác phẩm đã là một bước tiến xa hơn nữa cho thể loại truyền

kỳ Tên tác phẩm là do người đời sau đặt, bao gồm mười chín truyện Tập truyện

là một sáng tạo độc đáo và đặc sắc, mang tính chất của truyện truyền kỳ với

những truyện tiêu biểu như Lấy chồng dê, Tinh chuột, Duyên lạ xứ hoa… Tiếp

nối là NÔML (Chép lại những giấc mộng của Nam ông) của Hồ Nguyên Trừng

Tác phẩm được tác giả soạn trong thời gian bị bắt sang Trung Quốc vào thế kỷ

XV Tác phẩm không được chia số quyển cụ thể mà được chia thành 31 thiên (truyện), nhưng thực tế chỉ còn 28 thiên

Đến TKML (Sao chép tản mạn những chuyện kỳ lạ) của Nguyễn Dữ thì thể

loại truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam mới thật sự được khẳng định Đây là tập

Trang 34

truyện bao gồm hai mươi tác phẩm cụ thể Sự ra đời của TKML đã đưa thể loại

truyền kỳ Việt Nam đến đỉnh cao và chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong văn xuôi

tự sự Việt Nam Tiếp theo đó là tác phẩm TKTP (Cuốn phả mới về truyền kỳ)

của Đoàn Thị Điểm ra đời ở thế kỉ XVIII, bao gồm ba truyện Và thêm một

bước tiến xa hơn cho thể loại truyền kỳ trung đại Việt Nam là tác phẩm LTKVL

năm 1789 Tác phẩm có dung lượng khá lớn, bao gồm ba quyển, tổng cộng có

45 thiên (truyện) Theo Nguyễn Đăng Na, đây chính là tác phẩm cuối cùng thuộc thể loại truyền kỳ ở Việt Nam thời trung đại

Nhìn chung, chúng ta có thể thấy thể loại truyền kỳ xuất hiện từ khi văn xuôi trung đại Việt Nam xuất hiện Ban đầu văn xuôi trung đại Việt Nam tồn tại

với những ba loại chính: truyện ghi chép dân gian, truyện lịch sử và truyện tôn giáo Từ thế kỉ XV, XVI trở đi, văn xuôi trung đại có những bước chuyển biến quan trọng, tính chất ghi chép giảm dần thay vào đó là tính chất kỳ ảo, hư cấu tăng dần Ra đời khá sớm trong nền văn học Việt Nam thuộc thể loại truyền kỳ, theo Trần Ích Nguyên, TKML ra đời sớm nhất là năm 1509, muộn nhất là năm

1547 [89, tr.11] Thể loại văn học ấy được hình thành và phát triển theo chiều dài lịch sử xã hội Việt Nam Truyền kỳ trung đại đóng vai trò quan trọng trong

nền văn học nước nhà, đánh dấu bước tiến mới và xa hơn của sáng tác văn xuôi trung đại Cuộc sống hiện thực nước ta ở mỗi thời điểm lịch sử được thể hiện

một cách cụ thể trong tác phẩm Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố thực và

yếu tố kỳ lạ đã làm nên giá trị độc đáo, to lớn cho các tác phẩm truyền kỳ Từ đó

có thể thấy bên cạnh đời sống thực, con người còn có đời sống tâm linh thật đa

dạng với biết bao điều kỳ lạ đang và đã xảy ra trong cuộc sống Con người chấp

nhận và tin vào sự tồn tại của những chuyện kỳ lạ ấy Chính vì thế, yếu tố kỳ ảo được phản ánh thực ra chính là sự phản ánh đời sống tâm linh của con người

Việt Nam Và nó được hiểu như một yếu tố nghệ thuật để xây dựng những tác

phẩm văn chương

Trang 35

1.2 Truyền kỳ mạn lục

1.2.1 Tác giả Nguyễn Dữ và thời đại của ông

Đến nay, phần tiểu sử và thân thế của Nguyễn Dữ vẫn còn nhiều điều chưa rõ Có rất nhiều giả thuyết về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn chương

của Ông Giả thuyết thứ nhất, các ông Hà Thiện Hán trong Bài tựa Truyền kỳ

lục, Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển đều cho rằng Nguyễn Dữ chính là

học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từng đỗ đạt, làm quan và ở ẩn Giả thuyết này đang tồn tại ở giáo trình của Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội

và nhân văn Giả thuyết thứ hai, nhà nghiên cứu Lại Văn Hùng dự đoán:

thứ tư của thế kỉ XVI, thọ 50 tuổi” [25, tr.7] và thông tin mới nhất gần đây là:

Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài viết Truyền

Nhìn chung, mặc dù còn nhiều điều chưa rõ về thân thế của tác giả nhưng chúng ta có thể khẳng định chung nhất rằng: Nguyễn Dữ sinh vào những năm

cuối thế kỉ XV và trưởng thành ở những năm đầu của thế kỉ XVI Đấy là thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam bắt đầu đi vào con đường nhiễu nhương, rối

loạn Chế độ phong kiến suy yếu ngày càng trầm trọng mà một trong những biểu

hiện của nó là tình trạng rối loạn về chính trị với nhiều biến cố lớn xảy ra Chỉ trong vòng ba mươi năm kể từ Lê Thánh Tông (vị vua anh minh trị vì từ năm

1460 đến năm 1497) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi lập nên nhà Mạc và trị

vì quốc gia từ năm 1527 đến 1529, đã có đến sáu đời vua bị giết hoặc bị phế truất, cụ thể Lê Hiến Tông (trị vì từ năm 1497 đến tháng 5 năm 1504), Lê Túc Tông (trị vì từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1504), Lê Uy Mục (trị vì từ năm 1505 đến năm 1509), Lê Tương Dực (trị vì từ năm 1510 đến năm 1516), Lê Chiêu Tông (trị vì từ năm 1516 đến năm 1522), Lê Cung Hoàng (trị vì từ năm 1522

Trang 36

đến năm 1527) Những kỳ công mà vua Lê Thánh Tông dày công xây dựng đã nhanh chóng sụp đổ Vua Lê Hiển Tông đã từng than thở về tình trạng quan trường hỗn loạn, suy nát và dù đã ra sức chấn chỉnh nhưng vẫn không cứu được tình trạng suy vi đó Đại Việt sử kí toàn thư đã viết: “Sao mà những kẻ tại chức

đều bị vị, không nghĩ đến phép tắc của triều đình Người vì nước quên nhà thì ít, người bỏ phận thiếu chức thì nhiều, tha giàu bắt nghèo, không chừa thói cũ tham tiền khoét của vẫn theo lối xưa Thế rồi chính sự phiền hà, lòng dân oán

thời đại, một thế chế hỗn loạn, rối ren với những cuộc nội chiến khốc liệt, đau thương Nước ta lúc bấy giờ từ năm 1527 đến năm 1528 tồn tại một lúc ba triều đại: Mạc, Lê, Nguyễn Xã hội rối ren, cuộc sống nhân dân lâm vào cảnh cùng

cực khốn khó Cuộc chiến tranh Lê - Mạc dai dẳng, quyết liệt Nguyễn Bỉnh

Khiêm đã từng thốt ra những lời thơ thống thiết trong bài “Cảm hứng” về cuộc

chiến ấy:

“Thái hoà vũ trụ bất Ngu, Chu,

Uyên ngư tùng tước vị thuỳ khu

Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,

Dịch thơ (Người dịch: Ngô Lập Chi):

Thù đánh nhau chi khéo nực cười

Trang 37

Núi xương, sông huyết, thảm đầy vơi

Tình trạng ấy gây nên sự xuống cấp, suy thoái đời sống tinh thần trầm

trọng trong hàng ngũ Nho sĩ Tầng lớp người học rộng, hiểu nhiều, trung chính liêm minh ngày càng ít, kẻ mê muội, nhút nhát, tư lợi ngày càng nhiều Đứng trước hiện thực như vậy, không ít những nho sĩ sống xu thời, khom lưng uốn gối

cầu cạnh tư lợi Bên cạnh đó nhiều nho sĩ có khí tiết nhưng hoang mang, chán chường, đổ vỡ niềm tin vào cuộc sống thực tại, treo ấn từ quan mà về quê sống

ẩn dật, trong số ấy có Nguyễn Dữ

Được sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh xã hội như thế, Nguyễn Dữ không có lựa chọn nào khác hơn là phải chôn vùi ước mơ “hành đạo” Cáo quan

về ở ẩn, đó là phản ứng tất yếu của Nguyễn Dữ cũng như của các nhà nho chân chính đương thời đối với thời cuộc Biểu hiện của sự phản ứng đó chính là viết sách - sáng tác văn chương Với ý thức “phát phẫn trứ thư” (phát phẫn viết

sách), Nguyễn Dữ đã dồn hết tâm sức vào những trang sách, tái hiện lại những điều mắt thấy tai nghe có thêm phần hư cấu với một ước muốn, khát khao một

xã hội đức trị, con người biết yêu thương nhau, năng làm điều thiện, tránh xa điều ác

1.2.2 Nguồn gốc

Trong thế kỉ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như thế kỉ XV, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã

hội phân hoá mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác

liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực Muốn phản ánh thực tế đa dạng, phong phú

ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động này thì

Trang 38

không thể chỉ dùng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước một cách máy móc, sơ sài Nhu cầu phản ánh chân thực cuộc sống trong văn học ngày càng được giới văn sĩ chú trọng Từ nhu cầu ấy đòi hỏi văn sĩ phải đổi mới phong cách sáng tác,

mở rộng thể loại trong sáng tác văn học Nguyễn Dữ cũng không ngoại lệ Ông không chỉ dựa vào những sự tích có sẵn từ trước, từ những truyện được kể hoặc được ghi chép lại và truyền trong dân gian mà ông còn thể hiện sự tài hoa của mình qua việc tổ chức lại kết cấu, cốt truyện, xây dựng lại hệ thống nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ… Nguyễn Dữ đã tái tạo lại những câu chuyện dân gian ấy thành những thiên truyện mới lạ và hấp dẫn

TKML là một tập truyện gồm hai mươi truyện, viết bằng chữ Hán, theo

thể loại tản văn (văn xuôi), xen lẫn biền văn (văn có đối) và thơ ca, ở cuối mỗi truyện có lời bình của tác giả (hoặc của một người có cùng quan điểm của tác

giả), được in trong khoảng năm 1768 Theo Lời tựa của Hà Thiện Hán viết năm

1547 thì Nguyễn Dữ viết ra tác phẩm này để ngụ ý trong thời gian ẩn cư ở rừng

núi xứ Thanh Hoá Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế

Nghi sống cùng thời dịch ra chữ Nôm Bùi Duy Tân nhắc lại một lần nữa thời

điểm và hoàn cảnh sáng tác TKML trong Từ điển văn học (bộ mới): “… Sau khi

mươi sương, chân không bước đến thị thành”, “để lại tập truyện chữ Hán nổi

chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ Nôm” [32, tr.1123-1124]

Lấy tên sách là TKML, Nguyễn Dữ muốn thể hiện một thái độ sống khiêm

tốn của một người chuyên chỉ ghi chép lại những truyện cũ đã có từ rất lâu Tuy nhiên, Vũ Phương Đề không nghĩ vậy, trong Công dư tiệp kí, ông đã cho rằng: căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là

một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục mà là một

sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này Đó là một tập truyện phóng tác,

Trang 39

đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học

chữ Hán

Là tác phẩm truyền kỳ có giá trị và mang tính dân tộc đậm nét, tác phẩm được những người trong giới văn học dịch ra nhiều thứ tiếng và lưu hành rộng rãi ở một số nước lớn như Pháp, Nga, Trung Quốc Việc ảnh hưởng của văn học Trung Quốc vào tác phẩm TKML chỉ là một phần, văn học dân gian truyền thống

và thành tựu của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam mới là nguồn gốc trực tiếp

nhất hình thành tác phẩm Và đấy chính là yếu tố quan trọng đã mang lại tính dân tộc sâu sắc cho tác phẩm Trước đó, các nhà văn chỉ ghi chép các truyện dân gian, các thần phả trong các đình, đền, miếu, hoặc chỉ đơn thuần dựa vào các truyền thuyết dân gian đã có sẵn kèm theo là sự thêm bớt ít nhiều các chi tiết hư

ảo, kỳ quái nhằm tạo ra những câu chuyện lạ, hoàn chỉnh và hấp dẫn Chẳng hạn

như LNCQ của Trần Thế Pháp, Thiên Nam Vân lục của Nguyễn Hãng Với

hư cấu thêm, sáng tạo ra một diện mạo mới cho tác phẩm Việc sưu tầm, sửa

chữa, khai thác các đề tài dân gian là quá trình kế thừa và tiếp biến mang tính liên tục Người đi sau tiếp nối bước của người đi trước và song song đó đúc kết, sáng tạo từ những tinh hoa của thế hệ trước và thực hiện bước tiến xa hơn

1.2.3 Nội dung

Từ những công trình nghiên cứu TKML từ trước đến nay, ta thấy hiện có

rất nhiều văn bản Ngoài bản được khắc in năm 1712 (có bài tựa của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định sơ niên 1547), còn có một số bản chép tay Các bản này ngoài phần nguyên chữ Hán của Nguyễn Dữ còn có phần tăng bổ giải tạp

âm, chú thích điển cố và chữ khó Nhiều bản dịch ra chữ quốc ngữ, trong đó bản

dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện năm 1943 được coi như đặc sắc nhất Và đó cũng là tư liệu chính cho bài viết này

TKML gồm hai mươi truyện, chia làm bốn quyển Cốt truyện chủ yếu lấy

từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian như Chuyện tướng Dạ Xoa,

Trang 40

Chuy ện cây gạo, Chuyện người con gái ở Nam Xương Nhiều trường hợp xuất

phát từ những vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn như đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ nàng Nhị Khanh ở Hưng Yên, đền thờ Văn Dĩ Thành ở Hà Nội… Truyện được viết bằng chữ Hán theo hình thức văn xuôi, có xen những bài thơ,

ca, từ, biền ngẫu Trừ truyện thứ mười chín: Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa thì

cuối các truyện đều có lời bình của tác giả (hoặc là lời bình của người đời sau có

cùng quan điểm với tác giả) TKML ra đời không rõ chính xác vào năm nào

nhưng theo các nhà nghiên cứu thì tác phẩm được sáng tác vào những năm Nguyễn Dữ ở ẩn ở núi rừng Thanh Hoá Như vậy, tác phẩm ra đời vào lúc triều đại nhà Lê trên đà suy thoái với những vị vua hoang dâm tàn bạo Những đau

thương của một thời đại cũng đã in đậm dấu ấn trong tập truyện

Hai mươi truyện trong TKML, trừ hai truyện: Câu chuyện đối đáp của

toàn là truyện quỷ thần, ma quái, sau từng truyện, phụ thêm một bài bình Theo

như ý kiến đánh giá của Bùi Kỷ, tất cả những lời bình ấy “đều là của tác giả”

Trong xã hội cũ, những truyện trong văn học viết lấy cốt truyện từ những câu chuyện kể dân gian cũng không ít Những câu chuyện dân gian lúc đầu chỉ là

khẩu truyền và chỉ được xem là những truyện phiếm, truyện mua vui, giải trí Về sau nó đã không còn là những sáng tác truyền tụng trong dân gian nữa mà đã chính thức được đi vào những trang văn viết Tác giả đã chú tâm tạo thành văn

bản hoàn chỉnh, xếp đặt lại có mục, có chương một cách hệ thống Tác giả đã dùng những phương tiện nghệ thuật thích hợp để chuyển tải những cung bậc

trạng thái tâm hồn, những suy tư trăn trở của chính bản thân đối với con người

và cuộc đời Vì vậy, dù rằng những truyện ấy vẫn có nhiều yếu tố hoang đường,

có phần nào là hư cấu nhưng ít nhiều đã có tác dụng đến đời sống tinh thần và ý

thức thẩm mĩ của người đọc Đó là một trong những thành công của người sáng tác văn chương

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2005), Từ điển văn học Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2005
2. Nguyễn Huệ Chi (2009), Truyện truyền kì Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
3. Nguyễn Huệ Chi (2009), Truyện truyền kì Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
5. Phạm Tú Châu (1999) “Vài suy nghĩ về tiểu thuyết tình dục chữ Hán của Việt Nam”, Tạp chí Hán Nôm , (3), tr.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về tiểu thuyết tình dục chữ Hán của Việt Nam”, "Tạp chí Hán Nôm
6. Nguyễn Văn Dân (1984) “Loại hình văn xuôi huyễn tưởng”, Tạp chí Văn học , (5), tr.12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình văn xuôi huyễn tưởng”, "Tạp chí Văn học
7. Nguy ễn Văn Dân (1999), Nghiên c ứu văn học lý luận và ứng dụng , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguy ễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Nguy ễn Dữ (Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch) (1988), Truy ền kì mạn lục , Nxb Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kì mạn lục
Tác giả: Nguy ễn Dữ (Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch)
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1988
9. Nguy ễn Thị Dương (1996), S ố phận người phụ nữ và các phương thức thể hi ện số phận ấy trong Truyền kỳ mạn lục , Lu ận văn Thạc sĩ, Trường Đại h ọc sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số phận người phụ nữ và các phương thức thể hiện số phận ấy trong Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Nguy ễn Thị Dương
Năm: 1996
10. Tr ần Nghi Dung (2012), V ị trí của Truyền kỳ mạn lục trong nền văn học Vi ệt Nam , Lu ận văn Thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của Truyền kỳ mạn lục trong nền văn học Việt Nam
Tác giả: Tr ần Nghi Dung
Năm: 2012
11. Đặng Anh Đào (2006) “Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Vi ệt Nam”, Tạp chí Văn học, (12), tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, "Tạp chí Văn học
12. Đoàn Thị Điểm (Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp dịch) (2013), Truy ền kỳ tân ph ả , Nxb Tr ẻ Hồng Bàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ tân phả
Tác giả: Đoàn Thị Điểm (Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp dịch)
Nhà XB: Nxb Trẻ Hồng Bàng
Năm: 2013
13. Hà Minh Đức, Phạm Thành Hưng, Đỗ Văn Khang (2012), Lý lu ận văn học , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức, Phạm Thành Hưng, Đỗ Văn Khang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
14. Bi ện Minh Điền (2006) “Vấn đề tác giả và loại hình tác phẩm văn học trung đại Việt Nam”, T ạp chí nghiên cứu Văn học , (12), tr.18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và loại hình tác phẩm văn học trung đại Việt Nam”, "Tạp chí nghiên cứu Văn học
15. Lê Đạt, Lê Minh Hà (2006), Truy ện cổ viết lại , Nxb Tr ẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ viết lại
Tác giả: Lê Đạt, Lê Minh Hà
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
16. Đoàn Lê Giang (2010), Vũ nguyệt vật ngữ của Ued Akanari và Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Trang điện tử Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học khoa học xã hội nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ nguyệt vật ngữ của Ued Akanari và Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Năm: 2010
17. Tr ần Văn Giáp (1984), Tìm hi ểu kho sách Hán Nôm , t ập 1, Nxb Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Tác giả: Tr ần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1984
18. Tr ần Văn Giáp (1990), Tìm hi ểu kho sách Hán Nôm , t ập 2, Nxb Khoa học Xã h ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Tác giả: Tr ần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1990
19. Lê Bá Hán, Hà Minh Đức (1978) “Phần nguyên lý chung”, Cơ sở lý luận văn học (t ập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phần nguyên lý chung”, "Cơ sở lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Lê Bá Hán, Tr ần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), T ừ điển thuật ngữ Văn h ọc , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Tr ần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
21. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2010), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w