Do đó, nghiên cứu thái độ của sinh viên về mạng xã hộ dưới góc độ tâm lý học để có được câu trả lời khoa học và giải pháp tối ưu cho các hiện tượng tâm lý liên quan đến mạng xã hội là đi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
TS ĐINH PHƯƠNG DUY
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do chính tôi thực hiện
Các số liệu và kết quảtrình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong một công trình nào khác
Tác giả
Tôn Nữ Cẩm Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô của khoa Tâm lý – Giáo
dục, phòng Sau đại học và trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã tạo điều kiện tốt nhất cho tập thể lớp cao học Tâm lý học khóa 23 trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS.Đinh Phương Duy, người đã
tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ M ẠNG XÃ HỘI 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Các vấn đề lý luận về thái độ 15
1.2.1 Định nghĩa thái độ 15
1.2.2 Bản chất của thái độ 21
1.2.3 Đối tượng của thái độ 22
1.2.4 Chức năng của thái độ 22
1.2.5 Cấu trúc của thái độ 23
1.2.6 Một số đặc tính cơ bản của thái độ 25
1.2.7 Thái độ và hành vi 25
1.2.8 Sự hình thành thái độ 27
1.3 Mạng xã hội 29
1.3.1 Khái niệm 29
1.3.2 Lịch sử phát triển mạng xã hội 31
1.3.3 Tính năng sử dụng 32
1.3.4 Tính năng dành cho các loại phương tiện sử dụng 34
1.4 Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên 35
1.5 Thái độ của sinh viên về mạng xã hội 42
1.5.1 Định nghĩa 42
Trang 61.5.2 Biểu hiện thái độ của sinh viên về mạng xã hội 42
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên về mạng xã hội 43
Ti ểu kết Chương 1 46
Chương 2 THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊNMỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH V Ề MẠNG XÃ HỘI 47
2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 47
2.2 Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng thái độ của SV một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh về mạng xã hội 48
2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 48
2.2.2.Phương pháp phỏng vấn 51
2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng thái độ của SV một số trường đại học tại Tp Hồ Chí Minh về mạng xã hội 53
2.3.1 Nhận thức của SV một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh về mạng xã hội 53
2.3.2 Thái độ của SV về mạng xã hội 56
2.3.3 Hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên: 69
2.3.4 Nguyên nhân thái độ của sinh viên một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh về mạng xã hội 72
Ti ểu kết chương 2 78
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 83
PH Ụ LỤC
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG
khẩu và kinh tế gia đình, ngành học, tình trạng công việc 47
Bảng 2.2 Cách tính điểm mức độ biểu hiện việc sử dụng MXH của SV một số trường đại học tại TPHCM 49
Bảng 2.3 Cách tính điểm mức độ đánh giá về MXH của SV một trường đại học tại TPHCM 50
Bảng 2.4 Mức độ nhận thức của SV một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh về MXH 53
Bảng 2.5 So sánh nhận thức SV về lợi ích và nguy cơ của MXH 54
Bảng 2.6 Thái độ của SV về MXH trước khi sử dụng MXH 56
Bảng 2.7 Mạng xã hội được yêu thích nhất 57
Bảng 2.8 So sánh thái độ yêu thích và không thích MXH của SV khi sử dụng MXH 58
Bảng 2.9 Thái độ của SV về tính năng và giao diện của MXH khi sử dụng 58
Bảng 2.10 Thái độ của SV về vấn đề bảo mật của MXH 59
Bảng 2.11 So sánh niềm tin vào hệ thống bảo mật của MXH giữa SV các chuyên ngành 61
Bảng 2.12 Thái độ của SV đối với khả năng tìm kiếm thông tin của MXH 62
Bảng 2.13 Thái độ của SV về các họat động trên MXH 62
Bảng 2.14 Thái độ của SV về việc sử dụng MXH của bản thân 64
Bảng 2.15 Thái độ của SV khi không tham gia MXH 65
Bảng 2.16 Thái độ của SV sau khi sử dụng MXH 65
Bảng 2.17 Ý chí của SV khi tham gia MXH 67
Bảng 2.18.Thời gian dành cho MXH của SV 69
Bảng 2.19.Nguồn kinh phí SV dùng để chi trả cho việc sử dụng FB 70
Bảng 2.20 Thông tin cá nhân của SV một số trường đại học tại TPHCM được hiển thị trên MXH 71
Bảng 2.21 Nguyên nhân SV một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh yêu thích MXH họ đang sử dụng 72
Bảng 2.22 Nguyên nhân SV một số trường đại học tạo TP Hồ Chí Minh không thích MXH 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn bùng nổ về công nghệ thông tin trong đó sự xuất hiện ngày một nhiều của các trang mạng xã hội tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức có nhiều cơ hội chi`a sẻ thông của mình nhưng cũng là thách thức đối với
cơ quan quản lý chuyên ngành về đảm bảo nội dung và phạm vi hoạt động của hình thức này Ngày 15/7/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng có hiệu lực từ ngày 1/9/2013 Trang thông tin điện tử cá
sử dụng tài nguyên Internet và các quy định có liên quan tại Nghị định này Thông qua nghị định có thể thấy rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với tốc độ phát triển chóng mặt của internet nói chung và mạng xã hội nói riêng [55]
Thái độ có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động của con người Thái độ của
được biểu hiện bằng hành động cụ thể với đối tượng đã nhận thức đồng thời thái độ cũng chi phối sự tác động của các yếu tố bên ngoài Có thể thấy thái độ quan trọng như
viên cũng không ngoại lệ.Hiệu quả của tất cả các hoạt động của sinh viên đều bị chi
đời sống hàng ngày
Các mạng xã hội như Facebook, Twitter, YouTube đã nhanh chóng trở thành một phần của cuộc sống hàng ngày của nhiều người, đặc biệt là đối với những thế hệ trẻ, đặc biệt là khi công nghệ phát triển như hiện nay Theo một
Trang 10báo cáo của eMarketer năm 2009, lượng người dùng các trang mạng xã hội ở
Mỹ tăng mạnh trong năm, chiếm hơn 50% tổng lượng người dùng Internet ở
Mỹ, trong đó ấn tượng nhất là sự phát triển của Facebook Họ ước tính rằng
1 lần 1 tháng trong năm 2010 [53] Theo kết quả nghiên cứu của Socialbakers &
Việt Nam lần thứ 18 - VIO 2013 diễn ra ở TP.HCM, tính đến tháng 8/2013, tại Việt Nam đã có 19.6 triệu người dùng Facebook – trang mạng xã hội phổ biến
[6]
Có thể thấy sự bành trướng chóng mặt của mạng xã hội, kèm theo đó chính
là ảnh hưởng phức tạp của nó đối với đời sống của con người Sinh viên có thể
sử dụng mạng xã hội để phục vụ cho nhu cầu học tập và giao tiếp xã hội, giao lưu, mở rộng các mối quan hệ Tuy nhiên chính mạng xã hội cũng là nguyên nhân khiến sinh viên xao nhãng việc học, sống khép kín, sa đà vào “cuộc sống ảo” trên mạng xã hội mà quên mất cuộc sống thực tế đang diễn ra Họ cập nhật trạng thái, hình ảnh liên tục, đăng những câu nói, hình ảnh gây sốc để được nổi tiếng, viết những lời bình ác ý, thiếu suy nghĩ…
Vấn đề được đặt ra ở đây là điều gì đã xảy ra, tại sao ứng xử, hành vi của người sử dụng mà ở đây xin nói tới sinh viên lại diễn ra vô cùng đa dạng và phức tạp như thế? Đâu là nguyên nhân, thái độ của họ khi tiếp xúc với mạng xã hội là gì?Rồi khi đã là một thành viên của trang mạng đó họ cảm thấy gì? Khi đọc các thông tin trên mạng xã hội thái độ của họ ra sao và nó ảnh hưởng tới tâm trạng, hành vi họ như thế nào? Do đó, nghiên cứu thái độ của sinh viên về mạng
xã hộ dưới góc độ tâm lý học để có được câu trả lời khoa học và giải pháp tối ưu cho các hiện tượng tâm lý liên quan đến mạng xã hội là điều vô cùng cấp thiết Chính những lý do trên đã thôi thúc tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:”Thái
độ của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về mạng xã hội”
Trang 112 M ục đích nghiên cứu
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
Thái độ của sinh viên về mạng xã hội
4 Gi ả thuyết nghiên cứu
Đa số sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh có thái
độ yêu thích mạng xã hội Tuy nhiên còn một số ít sinh viên có thái độ không
5 Nhi ệm vụ nghiên cứuquan
6 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau
6.1 V ề nội dung nghiên cứu
6.2 V ề khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng trên 380 sinh viên ở một số trường Đại học
Trang 12- Sinh viên đang học 3 nhóm ngành : Kinh tế, Khoa học kỹ thuật, Khoa học
xã hội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và tìm tài liệu, sách giáo trình nhằm thu thập những thông tin, khai thác
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đây là phương pháp cơ bản bao gồm: Phương pháp điều tra bằng bảng
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp cơ bản, bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm
hưởng đến thái độ của sinh viên
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
thác thái độ của họ đối với mạng xã hội, những suy nghĩ, thái độ của sinh viên
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
đây
Trong nghiên cứu “Imagined Communities Awareness, Information
tưởng tượng, chia sẻ thông tin và vấn đề riêng tư trên Facebook”) của
những khác biệt trong hành vi của những người sử dụng FB với những người không sử dụng, tác động của sự lo lắng về các vấn đề riêng tư trên FB đối với hành vi người sử dụng [32]
in Euro” (2010) với mục đích lý giải hành vi sử dụng MXH của những người trẻ
Pháp, Đức, Ý, La Mã, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kì cho thấy 95% người được khảo
được sử dụng nhiều nhất đó là Facebook (trừ Đức với MXH StudiVZ có 48% người dùng)
Trang 14tượng dưới 18 tuổi); không có hứng thú và thời gian, không muốn tiết lộ cuộc
MXH đều là giả, thấy rằng việc sử dụng không hữu ích, sợ MXH là những lí do được đưa ra nhiều nhất của những trong độ tuổi 21 – 26
Năm 2011, Kristen A Carruth của ĐH Texas, Mỹ thực hiện luận văn
độ của sinh viên đại học về quyền riêng tư của chính họ Giả thuyết của nghiên
[41]
Ở Mỹ, tháng 2/2012 nhóm nghiên cứu Lee Rainie, Amanda Lenhart, Aaron Smith, khi nghiên cứu về Cuộc sống trên Mạng xã hội (The tone of life on social networking sites) đã đưa ra các số liệu đáng chú ý:
85% những người trưởng thành sử dụng mạng xã hội cho rằng mọi người rất tử tế.68% người sử dụng mạng xã hội đã từng có trải nghiệm khiến họ cảm thấy bản thân mình tốt hơn.61% từng có trải nghiệm khiến họ cảm thấy gần gũi hơn với người khác.39% người trưởng thành sử dụng mạng xã hội nói rằng họ thường thấy những hành động rộng lượng của những người khác trên mạng xã
sẳn lòng giúp đỡ Đây là những kết quả khá tích cực về việc sử dụng MXH [43]
attitudes on the use of social networking to build learning communities” do
thái độ của sinh viên về việc sử dụng MXH như là một công cụ hỗ trợ học
Trang 15tập[47] Ngoài ra còn một số nghiên cứu về thái độ của sinh viên về MXH trong
Elham Akbari, Soodeh Eghtesad, Robert-Jan Simons Utrecht University (Netherlands), University of Tehran (Iran), hay Students’ Attitudes towards Using Social Networking in Foreign Language Classes: A Facebook Example
thái độ tíc cực hơn về MXH khi họ sử dụng nó để học ngoại ngữ
Hiệp hội tâm lý học Mỹ (APA) “Facebook psychology: popular questions
thành 3 nhóm chính: (a) Trước khi sử dụng Facebook; (b) Những cá nhân và tổ
mình? Khi sử dụng Facebook, người dùng thiết lập cho mình một bảng khai báo thông tin cá nhân, điều này có thể tạo nên một lớp “mặt nạ” ảo cho những người
sủ dụng Vì Facebook là một môi trường “mở” thế nên người dùng phần nào cũng kiểm soát những gì mà họ thể hiện Thế nhưng không hoàn toàn do những hoạt động online mà họ tham gia vào hay những người mà họ liên kết phần nào cũng thể hiện bản chất của họ trong suy nghĩ của người khác [50]
Tháng 10 năm 2013, nhóm tác giả Julie Prescott, Sarah E Wilson&
“Students’ Attitudes Towards Facebook and Online Professionalism: Subject
sinh viên các ngành dược, công tác xã hội và ngành điều dưỡng ở Anh về
Trang 16liên quan giữa thái độ ủa sinh viên với ngành học, năm học, giới tính của họ
tính hay năm học [39]
người [49]
Ở Ấn Độ, bài viết Research to enhance experience of Indian Social
Networking Site, (Nghiên c ứu để nâng cao hiểu biết về mạng xã hội ở Ấn Độ) -
IES Management College and Research Center, Mumbai – nghiên cứu về việc
Độ (93.26% người sử dụng mạng xã hội).Điều được yêu thích nhất ở Facebook
đó là sử dụng dễ dàng, giao diện thân thiện với người dùng (46.07%) Tiếp đó là
đó là tính riêng tư (29.21%) [49]
Trang 17Kế đến làYoung People, Social Media, Social Network Sites and Sexual
Health Communication in Australia (Giới trẻ, truyền thông cộng đồng, mạng
như nỗi lo lắng về sự bắt nạt, sự riêng tư, và sự xấu hổ trên mạng xã hội hay
người dùng cảm thấy e dè khi muốn đề cập đến vấn đề sức khỏe tình dục
Cũng tương tự, theo nghiên cứu Utilizing Social Networks for User Model
Gudrun Wesiak, Christina M Steiner, Claudia Hauff, Declan Dagger, Gary
người dùng tăng lên theo độ tuổi của họ [31]
MXH như là một công cụ học tập, công cụ chuyên môn…
Trang 181.1.2 Ở Việt Nam
Đầu tiên, phải thừa nhận rằng có khá ít các đề tài nghiên cứu chuyên biệt
“Nghiên cứu xu hướng phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định hướng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam”- Chủ trì đề tài: ThS Đỗ Công
để quản lý mạng xã hội tại Việt Nam
Nhóm đề tài đã lựa chọn 20 mạng xã hội nổi tiếng và được truy cập nhiều
điểm, bản chất của mạng xã hội, nhóm đề tài đã đề ra các nhóm các giải pháp
- Nhóm gi ải pháp về chính sách: Quản lý thị trường cung ứng các
ứng dụng và dịch vụ trên mạng xã hội; Quản lý thông tin đăng ký
thúc đẩy các hoạt động tuyên truyền của nhà nước sử dụng mạng xã
- Nhóm giải pháp về kỹ thuật: Nghiên cứu phương án xây dựng
Trang 19giá truy cập website; Xây dựng phương án hành động khi xảy ra
Bên cạnh đó là công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ“Một số vấn đề văn hóa mạng hiện nay (Internet: Mạng xã hội và sự thể hiện bản sắc)”–Ths Vũ Hoàng Hiếu, Ths Nguyễn Thị Huệ, Ths Đinh Mỹ Linh, Ths Vũ Thành Long, Nguyễn Thị Phương Châm – 2012 với mục tiêu nghiên cứu là thông qua trải nghiệm cá nhân của những người trong cuộc, phân tích, đánh giá thực trạng và
sự phát triển phổ biến của Internet hiện nay, những tác động của nó đến đời sống Đồng thời bàn đến những vấn đề thời sự của sự phát triển Internet đặt ra cho xã hội hiện tại Một vài kết quả đáng chú ý về thực trạng sử dụng Internet như sau:
nơi làm việc, quán cà phê, hàng Internet và nhiều nơi khác khi họ có
máy tính gia đình, máy tính cá nhân, máy tính chung của cơ quan, trường học, máy ở hàng Internet, điện thoại…
Trang 20trung học tập trung lên mạng vào các ngày cuối tuần (4.1 giờ) Sinh viên ngày thường và ngày nghỉ tương đương nhau khoảng 3.7 giờ
v ề thời gian (thay đổi nhịp sinh hoạt, nhịp sống, sử dụng mọi lúc
th ức giao tiếp (hình thức giao tiếp mới như “like”, “share”, “tag”,
“comment”) [5]
Theo hướng nghiên cứu này còn có đề tài“Nghiên cứu đề xuất xây dựng
như xu hướng ứng dụng mạng xã hội cho hoạt động giáo dục Đề xuất xây dựng
- Ưu điểm:Tính linh hoạt: mở rộng sự lựa chọn cho người học về học
Trang 21có thể lấy thông tin được cung cấp trên các trang web ngay lập tức
nơi đâu
cũng tiềm ẩn những nguy cơ như việc lợi dụng các thông tin của người dùng
hưởng tới sức khỏe và sự tập trung trong học tập, nghiên cứu; Giao tiếp
không đầy đủ: giáo dục điện tử dựa trên môi trường mạng là sự giao tiếp
và rõ ràng như trong giáo dục truyền thống thông qua cử chỉ, nét mặt, lời nói [21]
dung [1]
Trang 22Nghiên cứu “Tìm hiểu ngôn ngữ trên mạng xã hội Facebook” - Bùi Hương
thanh điệu) của riêng mình.Lâu dần những cách ghi này trở nên phổ biến và trở
đã xuất bản “Mạng xã hội với giới trẻ TP Hồ Chí Minh” (2013) – tuyển tập
lưu ý một số đề tài và bài viết về FB như: Trong bài viết của ThS Nguyễn Hải
phương tiện truyền thông trước đây Thứ ba, mạng xã hội đáp ứng được nhu
Trang 23“Mạng xã hội – vỏ ốc của một bộ phận giới trẻ” của Ths Lưu Đình Vinh, tác
không dám làm[13]
nhưng chỉ mới bùng nổ khoảng 10 năm trở lại đâyở Việt Nam nên số lượng đề
nơi trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu về MXH dưới nhiều khía cạnh và
“Thái độ của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về
1.2 Các vấn đề lý luận về thái độ
1.2.1 Định nghĩa thái độ
Khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, từ đó thái độ trở thành một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học, đặc biệt là tâm lý học xã hội.Trong “Sổ tay tâm lý học xã hội” G.W.Allport đã cho rằng khái niệm thái độ “có lẽ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm lý học xã hội hiện đại Mỹ”.Sự nghiên cứu của các nhà tâm lý về thái
độ đã cho ra đời rất nhiều khái niệm thái độ khác nhau.Thái độ là một khái niệm
nhiều nhưng các nhà tâm lý vẫn chưa thể thống nhất quan điểm về thái độ
Trước hết phải kể đến đinh nghĩa về thái độ trong từ điển Theo từ điển tiếng Việt, Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân
về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với
Trang 24con người hay một sự việc nào đó” [25].Trong từ điển Anh-Việt, “thái độ” được viết là “Attitude” và được định nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân”
Từ điển Tâm lý học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh: “tâm thế-thái độ-xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi” [30]
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New
York năm 1996 thì lại cho rằng: "Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do
tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng.Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”
Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là “cách ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội” Nó được cấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ ngữ khi định nghĩa về thái độ là khác nhau
Còn các nhà tâm lý, mà trước nhất phải nói đến hai tác giả W I Thomas
và F Znaniecki (1918), những người đầu tiên đưa ra khái niệm thái độ, theo đó
“thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân như một thành viên (cộng đồng) đối với giá trị này hay giá tị khác, làm cho cá nhân có phương pháp hành động này hay hành động khác được xã hội chấp nhận” Với định nghĩa thía độ chính
là sự định hướng giá trị của mội cá nhân trong cộng đồng xã hội [15
Từ sự phát hiện trên, bắt đầu bùng nổ các cuộc nghiên cứu về thái độ xã hội Nhiều tác giả khác cũng có quan điểm tương tự và mỗi người đều đưa ra các
lý do của mình, nhưng có thể tóm tắt lại là: khái niệm thái độ được sử dụng rộng rãi vì nó bao hàm các mối liên hệ cơ bản với các vấn đề như dư luận xã hội, tuyên truyền, sự mâu thuẫn giữa các nhóm, cạnh tranh kinh tế niềm tin tôn giáo,
Trang 25thay đổi hành vi và nhiều vấn đề có ý nghĩa to lớn khác về mặt lý luận và thực tiễn về các mối quan hệ xã hội nói chung
H Fillmore (1935) nhận định, thái độ là sự sẵn sang phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trường… Thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của mội trường và là cấu trúc có tính động cơ [15
G W Allport (1935), nhà tâm lý học xã hội người Mỹ cho rằng, “thái độ
là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đến các phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà có mối liên hệ” Định nghĩa về thái độ của G W Allport được nhiều nhà tâm lý học thừa nhận vì qua định nghĩa thái
độ là gì, tác giả còn nêu ra nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái độ Tuy nhiên, trong định nghĩa của Allport, một lần nữa lại thấy, thái độ chỉ bó gọn “trong đầu” của một cái tôi chủ quan, mà không thấy vai trò của các yếu tố môi trường
và những người khác trong xã hội đối với việc hình thành thái độ chủ quan của mỗi người [15]
Sau này, nhà tâm lý học T.M.Newcom cũng đưa ra một định nghĩa tương
tự như định nghĩa của Allport.Ông cho rằng:“thái độ chính là một thiên hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân tới một đối tượng hay sự việc có liên quan”
Vào năm 1964, nhà tâm lý học nhân cách người Mỹ là J.P.Guilford đã đưa ra một định nghĩa về “thái độ”, dựa trên quan niệm cho rằng nhân cách bao gồm bảy khía cạnh tạo nên một cấu trúc độc đáo Bảy khía cạnh đó là: Năng lực,
nghĩa: “Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn cảnh xã hội ” Không chỉ một mình Guilford, mà hầu như tất cả các tác giả viết
về tâm lý học nhân cách đều coi “thái độ” như là một thuộc tính của nhân cách [15]
Trang 26H C Trianodis (1971) coi “thái độ là tư tưởng được hình thành từ những xúc cảm gây tác động đến hành vi nhất định ở một giai cấp nhất định trong những tình huống xã hội Thái độ của con người bao gồm những điều người ta suy nghĩ và cảm thấy về đối tượng, cũng như thái độ xử sự của họ đối với nó” Khi xem xét định nghĩa của Trianodis, ta thấy có một điểm tương đồng với định nghĩa của Allport, vì Allport cho rằng “thái độ” có “tính gây tác động” tới một
R.Marten khi phân tích định nghĩa của Allport và định nghĩa của Triandis
đã nhận thấy điểm chung này Ông cho rằng thái độ được hình thành nhờ kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân Nó có tính ổn định và tuỳ theo từng tình huống, thái độ sẽ thay đổi tuỳ theo từng tình huống đó Ông khẳng định, thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hành động.thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi, được xác định bằng tình huống thống nhất bên trong
Còn gần đây, James.W.Kalat đưa ra định nghĩa: “Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó”
Nhà tâm lý học John Traven cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc,
tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người đó” [15]
Như vậy, khi điểm qua một số định nghĩa về thái độ do các nhà tâm lý học đại cương và tâm lý học xã hội Mỹ nêu ra, chúng ta cũng thấy sự không đồng nhất vè khái niệm thái độ của họ Tuy nhiên, có một số nhận định chung về nội hàm của khái niệm này, đó là tính “sẵn sang phản ứng”, tính gây tác động đến hành vi
Trong tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, khi định nghĩa về thái độ, một số tác giả thường đề cập nhiều đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức năng của thái độ, như Davis Myers đã coi “thái độ” là “phản ứng có thiện chí hay không
Trang 27thiện chí về một điều gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định [15]
Hay như nhà tâm lý học W.J.Mc Guire thì định nghĩa rằng: “thái độ là bất
cứ sự thể hiện nào đó về mặt nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ, về bản thân, về những người khác, về đồ vật, về hành động,
sự kiện hay tư tưởng” [15]
V N Miaxisev cho rằng, thái độ là khía canh chủ quan bên trong, có tính chọn lọc của các mối liên hệ đa dạng của con người với các khía cạnh khác nhau của hiện thực Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử phát triển của con người, biểu thị kinh nghiệm cá nhân và quy định nội hành động cũng như các trải nghiệm của họ.Khái niệm “thái độ” là khái cạnh tiềm năng của quá trình tâm
lý, liên quan đến tính tích cực chủ quan, có chọn lọc của nhân cách
“thái độ” vì tính đa nghĩa của nó trong tiếng Nga (từ này phần nhiều được dung chỉ mối quan hệ giữa các sự vật hiên tượng) Khi nói đến thái độ, thuật ngữ tâm thế chủ quan (và sau này B Ph Lomov gọi là thái độ chủ quan của nhân cách) được sử dung nhiều hơn, điển hình là Uznatze với “thuyết tâm thế” Uznatze cho
rằng “thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý thức, không phải là nội
dung tâm lý bị tách rời, đối lập lại với các trạng thái tâm lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó, mà nó là một trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể…Tính khuynh hướng năng động mà tâm thế là một yếu tố toàn vẹn theo một khuynh hướng nhất định nhằm một tính năng động nhất định Đó là sự phản ánh cơ bản, đầu tiên đối với tác động của tình huống, mà trong đó, chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ”[20]
“Tâm thế xã hội là một dạng tâm thế được xem như một yếu tố hình thành hành vi xã hội của nhân cách, xuất hiện dưới dạng các quan hệ của nhân cách với các điều kiện hoạt động của nó và của những người khác”
Trang 28Iadob nghiên cứu vai trò của thuyết định vị trong hành vi xã hội của nhân cách Ông cho rằng con người có một hệ thống các tổ chức định vị khác nhau phức tạp và hành vi của con người bị điều khiển bởi các tổ chức đó Các định vị này được tổ chức theo 4 bậc, mức độ khác nhau
● Bậc một: bao hàm các tâm thế bậc thấp (như quan niệm của Uznatze), hình thành trên cơ sở các nhu cầu và tình huống đơn giản nhất
● Bậc hai: các định vị phức tạp hơn, được hình thành trên cơ sở và các tình huống giao tiếp của con người trong các nhóm nhỏ
● Bậc ba: các định vị mà trong đó định hướng chung của các sở thích được hình thành trong các lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể
● Bậc bốn: bậc cao nhất hình thành nên hệ thống định hướng giá trị của nhân cách, nó điều chỉnh hành vi và hoạt động của nhân cách trong những tình huống mà tính tích cực xã hội có giá trị nhất định đối với nhân cách [15]
Tác giả K K Platonovthì cho rằng thái độ là “một cấu thành tích cực của ý thức cá nhân và là các mối liên hệ ngược của chủ thể với thế giớ, được phản ánh
và được khách thể hóa trong tâm vận động” Theo tư tưởng nếu trên, phản ánh được hiểu không chỉ là kết quả tác động của môi trường bên ngoài lên con người
mà là biểu hiện của sự tác động qua lại giữa chúng; chính xác hơn, bản thân phản ánh là sự tác động qua lại được thực hiện bằng phương cách thái độ có ý thức [15]
Các nhà tâm lý học của Leningrad thuộc Liên xô trước đây thì coi thái độ là
“những cơ cấu tâm lý sẵn có, định hướng cho sự ứng phó của cá nhân”; trong khi đó, dưới góc độ tâm lý học nhân cách Kosacowski và Lompscher (1975) đều khằng định thái độ là thuộc tính tâm lý bao gồm niềm tin, hứng thú, thái độ xã hội
Có thể nói, thái độ được định nghĩa khác nhau, xuất phát từ khia cạnh nghiên cứu của mình, nhưng các tác giả Xô-viết đều giải thích “thái độ” dưới
Trang 29góc độ chức năng của nó, đều có chung khẳng định thái độ là sự phản ánh ý thức, là thuộc tính cốt lõi của nhân cách và là một yếu tố định hướng hành vi xã hội của con người Nó thúc đẩy, tăng cường tinh thần sẵn sàng của những hành
vi, phản ứng của con người tới đối tượng có liên quan [20]
Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam Đó là quan niệm cho rằng “thái độ là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức” hay “thái độ, về mặt cấu trúc, bao hàm cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm và mặt hành vi”
Nói tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ Người
nghiên cứu sau khi xem xét, phân tích các định nghĩa đó, và cho rằng:Thái độ là
một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượng theo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể
1.2.2 Bản chất của thái độ
Năm 1935, trong một bài viết tổng kết các nghiên cứu về thái độ, Allport liệt kê ra 17 định nghĩa thái độ Từ 17 định nghĩa đó có thể đưa ra 5 đặc tính chung của thái độ như sau: thái độ xã hội được các nhà nghiên cứu trên hiểu như là:
● Thái độ là trạng thái của tinh thần và hệ thần kinh
● Thái độ là sự sẵn sang phản ứng
● Thái độ là trạng thái có tổ chức
● Thái độ được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ
● Thái độ gây ảnh hưởng và điều khiển hành vi
Qua đây có thể thấy rõ sự phụ thuộc của thái độ vào kinh nghiệm trước đó
và vai trò điều chỉnh hành vi rất quan trọng của nó Chúng ta sẽ xem xét đối tượng của thái độ, cùng với chức năng, đặc tính và các thành tố của nó
Trang 301.2.3 Đối tượng của thái độ
Khi nói tới thái độ bao giờ chúng ta cũng nói tới đối tượng mà thái độ đó hướng tới Đối tượng có thể là tất cả những gì tồn tại trong thế giới vật chất và tinh thần mà chúng ta đang sống: người khác, một nhóm người, một tổ chức, một sự kiện, triết học, nghệ thuật, thượng đế, có khi là thái độ về chính bản thân mình Tuy nhiên số lượng các thái độ của mỗi cá nhân là có giới hạn.Anh ta chỉ
có thái độ với các đối tượng có tồn tại trong thế giới tâm lý của mình mà thôi Đây là một thực tế rất đơn giản nhưng đôi khi bị lãng quên dẫn đến khó khăn, thậm chí sai phạm khi tiến hành và phân tích số liệu trong các cuộc điều tra, nghiên cứu về thái độ hoặc dư luận xã hội Người được hỏi có thể có câu trả lời cho bất cứ câu hỏi nào của các nhà điều tra bằng cách này hay cách khác, nhưng điều đó không có nghĩa là anh ta có cái thái độ mà nhà nghiên cứu quan tâm Sự tồn tại đối tượng trong cuộc sống chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ để một cá nhân có một thái độ nào đó về đối tượng đó
1.2.4 Chức năng của thái độ
Chúng ta có khả năng ứng xử trong các tình huống tâm lý khác nhau theo một cách thức nhất định phần lớn là nhờ khuôn mẫu các thái độ xã hội mà chúng
ta có Điều này đóng vai trò tổ chức rất lớn trong đời sống tâm lý của chúng ta.Với ý nghĩa bao quát nhất, thái độ hình thành nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người Tổng kết ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể thấy thái
độ có một số chức năng cụ thể chủ yếu sau đây:
có thể giúp đạt được các mục đích kinh tế, xã hội của mình Áp lực của nhóm thường rất lớn, nó làm cho chúng ta có xu hướng thoả hiệp hoặc
hay chấp nhận được chúng ta dễ dàng đạt được mục đích hơn, dễ được thưởng và tránh bị trừng phạt hơn
Trang 31- Chức năng kiến thức: Nhờ có thái độ mà chúng ta biết cách thức phải ứng
xử như thế nào trong các tình huống khác nhau, một cách giản đơn, tiết kiệm thời gian và sức lực
khỏi các căng thẳng nội tâm và thể hiện mình như một nhân cách
nghĩ, niềm tin, có khi là giữa thái độ và hành vi) chúng ta thường tìm cách
tự bào chữa, tìm lý do giải thích thậm chí tìm một người nào đó khác chịu trách nhiệm thay mình hoặc hợp lý hoá hành vi của mình Quá trình này dẫn đến sự thay đổi thái độ tương ứng Thái độ mới đó sẽ giúp chúng ta giảm bớt sự “bất đồng” nội tâm (xem thuyết bất đồng nhận thức của Festinger) [15]
1.2.5 Cấu trúc của thái độ
Hiện nay, phần lớn các nhà tâm lý học đồng ý với quan điểm cấu trúc ba thành phần của thái độdo M Smith đưa ra vào năm 1942.“Thái độ, vềcấu trúc
trúc bao gồm các mặt sau:
* Nhận thức: Là những quan niệm, ý nghĩ, tri thức của con người
hoặc những ý kiến cụ thể về một hiện tượng hay một đối tượng nào đó Thành phần này thể hiện ở quan niệm đánh giá của cá nhân đối với đối tượng
* Tình cảm: Là những phản ứng cảm xúc của con người đối với
một đối tượng nào đó Thành phần này bao gồm những xúc cảm, tình cảm của cá nhân đối với đối tượng Xúc cảm, tình cảm là sự biểu thị thái độ
cơ thể, liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của con người Tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại được lặp đi
Trang 32của thái độ Qua biểu hiện của xúc cảm, tình cảm có thể thu được những đặc điểm và tính chất của thái độ chủ cá nhân đối với hiện thực khách quan
của cá nhân đối với đối tượng Mặc dù các nhà nghiên cứu đều thừa nhận cấu trúc thái độgồm 3 thành phần nhưng họ đưa ra cách nhìn nhận khác nhau về mối quan hệ giữa các thành phần của cấu trúc thái độ [12
- Quan điểm về ba thành phần riêng biệt]
Đây là quan điểm lý thuyết mới về cấu trúc của thái độ trong đó ba thành phần này được thể hiện một cách riêng biệt.Các thành phần tách biệt này có thể không liên quan đến nhau, điều này chỉ phụ thuộc vào những hoàn cảnh cụ thể Quan điểm này được sự ủng hộ mạnh mẽ của hai
- Quan điểm ba thành phần thống nhất
Quan điểm này cho rằng, ba thành phần trên luôn phải mang tính thống nhất cao, như vậy thái độ mới được xác định Đại diện cho quan điểm này là nhà tâm lý họcM.J Rosenberg
Qua việc tìm hiểu và xem xét các quan điểm về mối quan hệgiữa các thành phần trong cấu trúc thái độ, tác giảcho rằng quan điểmba thành phần thống nhất là hợp lý hơn cả Thái độphải là sựkết hợp biện chứng giữa nhận thức, tình cảm và hành vi, nghĩa là có sựkết hợp giữa sựhiểu biết vềđối tượng, sựthích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động của bản thân với đối tượng.Trên thực tế, chúng ta có thểgặp những tình huống màởđó không có sự cân bằng giữa các thành tố trong cấu trúc thái độ, nhưng ngay sau đó, trạng thái cân bằng được lặp lại và tạo ra các mức độvà các dấu hiệu khác nhau của thái độ.Qua phân tích, tác giảcho rằngđâylà cấu trúc rất thuận tiện cho việc nghiên cứu thái độ, nhất là thái độđối với nghề nghiệp Vì vậy tác giảlựa chọn cấutrúc ba thành phần
Trang 33thống nhất này làm cơ sở cho việc xây dựng các chỉ số nghiên cứu của luận văn
1.2.6 Một số đặc tính cơ bản của thái độ
Không phải tất các thái độ đều giống nhau về mặt cấu trúc hệ thống Chúng khác nhau theo một số đặc tính nhất định Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều đặc tính nhưng những đặc tính dưới đây có lẽ là quan trọng nhất:
thái độ có thể là tích cực hoặc tiêu cực, ủng hộ hoặc phản đối, tức là chiều (+) hay (-)
đối tượng khác nhau nhưng sự ủng hộ hày theo mức độ khác nhau
tố (kiến thức, tình cảm, hành vi) có sự liên hệ khá vững chắc với nhau về mặt trị số
mình như thế nào? Khi có thái độ phản đối tham nhũng một cách kịch liệt, chúng ta sẽ nói về nó một cách dễ dàng và nhanh chóng như thế nào, thậm chí ngay cả khi không được hỏi về vấn đề đó [15]
1.2.7 Thái độ và hành vi
Phần lớn mọi người sẽ cho rằng: đúng, những gì con người suy nghĩ và cảm nhận bên trong sẽ quyết định hành vi bên ngoài của anh ta, tức là có thể dự đoán được hành vi nếu chúng ta biết thái độ Mối quan hệ thái độ - hành vinhư
là con ngựa kéo còn thái độ thì như là cái xe (Festinger) Năm 1969 nhà tâm lý học xã hội Allan Wicherl tổng kết một loạt các nghiên cứu về vấn đề này và đưa
ra một kết luận kinh ngạc: Thái độ của con người hầu như chẳng dự báo gì hành
vi của họ Ví dụ thái độ của sinh viên về việc thiếu trung thực khi thi cử (copy bài chẳng hạn) hầu như chẳng liên hệ nhiều lắm tới hành vi quay cóp khi làm
Trang 34bài, hoặc là thái độ về việc thuốc lá có hại cho sức khoẻ chỉ có tác động rất nhỏ với những người nghiện mà thôi Nhiều người phê phán phim ảnh về tình dục và bạo lực nhưng trớ trêu thay người ta vẫn thích xem những pha mùi mẫn hoặc bắn nhau ùng oàng như xưa Tóm lại trả lời cho câu hỏi: thái độ có qui định hành vi hay không chúng ta thấy có quan điểm ủng hộ, có quan điểm phản đối, vậy tất phải có quan điểm thứ ba là quan điểm tổng hợp
Các nhà tâm lý học xã hội giải thích nguyên nhân tại sao chúng ta thường hành động ngược lại với thái độ của mình là do cả thái độ (exressed attitude) và hành vi của chúng ta đều bị tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác Triandis, năm 1982 đã liệt kê tới 40 yếu tố khác nhau có thể tác động làm phức tạp hoá mối quan hệ giữa thái độ và hành vi [15]
Khi các yếu tố ảnh hưởng tới thái độ được biểu hiện và hành vi giảm tới mức tối thiểu, thái độ có thể thay đổi hành vi Các nhà tâm lý học xã hội không
bao giờ đo được các thái độ thật của đối tượng nghiên cứu.Họ chỉ đo được các thái độ được đối tượng nghiên cứu biểu hiện mà thôi Mà các biểu hiện - phản ứng của con người thì giống như hành vi lại chịu tác động của các yếu tố khác Chúng ta có xu hướng thể hiện những gì mà chúng ta cho rằng người khác muốn chúng ta thể hiện Nhưng các nhà nghiên cứu không chịu bó tay Edward Jones
và Harold Sigall (1971) đã thiết kế phương pháp gọi là "đường ống giả vờ" (bogus pineline) cho phép đo được các thái độ con người một cách khá chính xác
Nếu cách biểu hiện của thái độ bị ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như vậy thì hành vi còn chịu ảnh hưởng lớn hơn nhiều, bởi nó chịu sự tác động rất mạnh của các chuẩn mực, giá trị, áp lực của nhóm, nhân cách cá nhân, hoàn cảnh cụ thể và nhiều yếu tố khác nữa
Khi thái độ (được biểu hiện), chẳng hạn thái độ về sức khoẻ - quá chung
định thì sự tương ứng giữa thái độ và hành vi rất thấp Nhưng nếu thái độ xác
Trang 35định, cụ thể cho một hành vi nào đó thì những gì "chúng ta nói" và những gì
"chúng ta làm" là phù hợp với nhau
Khi hành động, chúng ta càng ý thức rõ ràng thường xuyên về thái độ của mình bao nhiêu thì sự tương ứng giữa thái độ và hành vi của mình càng lớn bấy nhiêu Thái độ rõ ràng, mạnh mẽ, ăn sâu trong tâm ta sẽ nhắc nhở chúng ta hành động theo hướng mà nó đã xác định
Trong đời thường, nhiều người cho rằng thái độ bên trong qui định hành
vi bên ngoài chứ hành vi hầu như chẳng có ảnh hưởng gì tới thái độ, bởi con người là động vật có lý trí Thực tế thì mối quan hệ giữa thái độ và hành vi là mối quan hệ hai chiều, tức là hành vi cũng có tác động rất lớn trong việc hình thành hay thay đổi thái độ
1.2.8 Sự hình thành thái độ
Như đã đề cập ở phần trước, với ý nghĩa bao quát con người hình thành và phát triển các thái độ nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình Người ta sẽ hình thành các thái độ tích cực với các khách thể có lợi, tiêu cực đối với các khách thể có hại cho họ trên con đường đạt tới mục đích nào đó để thoả mãn các nhu cầu nhất định của họ Thực tế cho thấy là một thái độ có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.Và như vậy các nhu cầu khác nhau có thể hình thành nên một thái độ
Ví dụ bạn biết rất ít về các vụ thử hạt nhân cũng như tác hại của nó đối với môi trường Bạn chẳng hề có phản ứng hay thái độ gì khi tổng thống Pháp vừa qua tuyên bố sẽ nối lại các cuộc thử đó, nhưng khi được tiếp xúc với các nguồn thông tin đại chúng khá đầy đủ về vấn đề này bạn có thể có thái độ phản đối kịch liệt, thậm chí còn có thái độ tích cực ủng hộ việc cấm vĩnh viễn các cuộc thử tương tự Tuy nhiên thông tin mới thường hình thành nên các thái độ phù hợp, hài hoà với các thái độ có liên quan đã tồn tại trước đó (theo Cartwright,
Trang 36D., & Harary, F.: of Heider’s theory) Ngoài ra không phải thái độ nào cũng phản ánh đúng thực tế Ví dụ một số thái độ thành kiến, khuôn mẫu, mê tín dị đoan, huyễn hoặc, ảo tưởng Phần nhiều các thái độ kiểu này không có tính hợp
lý vì thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch, một chiều (do vô tình hoặc cố ý) Khỏi phải nói tới mức độ tai hại, nguy hiểm của loại thông tin này Trong một số trường hợp thông tin thiếu còn tai hại hơn không có thông tin Hàng ngày chúng
ta thường dựa vào các nguồn thông tin mà chúng ta cho là tin cậy Vì không thể
tự biết được mọi thứ nên ta dựa vào các “chuyên gia” Đối với trẻ em thì bố mẹ
là các "chuyên gia", với học sinh - giáo viên, với nhà khoa học trẻ - các đồng nghiệp có kinh nghiệm Với mọi người nguồn thông tin chính thức qua các phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành thái độ,
dư luận cũng như thay đổi hành vi của các nhóm dân cư
quá trình hình thành thái độ
Mỗi cá nhân là thành viên của nhiều nhóm khác nhau Thái độ của anh ta thường phản ánh niềm tin, giá trị, chuẩn mực của nhóm mà anh ta là thành viên
Sự khác nhau giữa thái độ của các nhóm khác nhau một phần là do niềm tin của
họ khác nhau Thái độ đối với Thượng đế, chẳng hạn của trẻ em trong các gia đình theo một tôn giáo nào đó thường khác với thái độ của trẻ em trong các gia đình mà các thành viên là người vô thần Giá trị mà cả nhóm theo đuổi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tới việc hình thành thái độ các thành viên của nhóm đó Chuẩn mực nhằm không chỉ xác định hành vi nào là "đúng" hoặc "sai" (tốt - xấu) mà còn xác định thái độ nào là "đúng", "sai" nữa Thông qua cơ chế thưởng
thưởng (động viên khuyến khích bằng vật chất hay tinh thần) khi có thái độ và hành vi "đúng" và ngược lại bị trừng phạt khi có thái độ và hành vi "sai" Các nhà tâm lý học xã hội đều cho rằng vai trò của các nhóm, nhất là nhóm nhỏ (gia đình, bạn bè, bạn đồng nghiệp ) trong việc bình thành ý thức cá nhân là cực kỳ
Trang 37quan trọng Nhưng các cá nhân không tiếp nhận các thái độ phổ biến trong nhóm một cách bị động mà việc đó diễn ra một cách có chọn lựa trong quá trình thoả mãn nhu cầu của anh ta Trong quá trình này nhân cách cá nhân đóng một vai trò đáng kể
Các cá nhân có thể tiếp nhận thái độ của nhóm một cách có chọn lựa và theo mức độ, cách thức khác nhau chính là nhờ sự khác nhau về nhân cách của các cá nhân đó Qua nhiều cuộc nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và các thái
độ tôn giáo nhân cách và chủ nghĩa dân tộc trung tâm nhân cách và thái độ thành kiến, nhân cách và thái độ chính trị có thể đưa ra kết luận là cá nhân có xu hướng tiếp nhận các thái độ phù hợp với nhân cách của mình Tuy nhiên nhân cách con người không phải là một hệ thống hoàn toàn thống nhất Chính vì thế
nó có thể tiếp nhận các thái độ mâu thuẫn lẫn nhau bởi sự giáo dục khác nhau, bởi sự giao tiếp trong các nhóm xung đột nhau, cũng có thể bởi cả sự xung đột các nhu cầu của chính cá nhân đó
Xem xét 4 yếu tố quyết định trong sự hình thành thái độ có thể kết luận là thái độ chủ yếu được hình thành bởi các yếu tố xã hội
1.3 Mạng xã hội
1.3.1 Khái niệm
đã định nghĩa với nhiều góc nhìn và cách diễn giải khác nhau nhưng chưa có
Theo định nghĩa của Fitcher (1957), “mạng lưới xã hội (social network)
bao g ồm nhiều mối quan hệ đôi.Mỗi người trong mạng lưới có liên hệ với ít nhất
2 người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả các thành viên khác” Dựa
trên định nghĩa đó, Barry Wellman đã định nghĩa: “Khi mạng máy tính kết nối
con người, nó là một mạng xã hội”[11]
Trang 38Khái niệm “mạng xã hội” được Từ điển bách khoa mở Wikipedia định
nghĩa: “Mạng xã hội, hay còn gọi là mạng xã hội ảo (social network) là dịch vụ
n ối kết các thành viên trong cùng một sở thích trên Internet lại với nhau, với nhi ều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian”[51]
mà nơi đó một người có thể kết nối với nhiều người thông qua chia sẻ những sở thích cá nhân, nơi ở, đặc điểm, học vấn” [13]
Dưới góc nhìn xã hội học, Th.S Nguyễn Hải Nguyên đưa ra khái niệm về
nhóm người khởi xướng gửi đi thông điệp mời những người chưa quen gia nhập
- Có sự tham gia trực tiếp của nhiều cá nhân (hoặc doanh nghiệp – đóng vai trò như một cá nhân)
thành viên tham gia
thời gian
Trang 39- Nâng cao vai trò của mỗi công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức
các cá nhân và c ộng đồng lại dưới một kiểu nào đó để thực hiện một vài chức năng xã hội”[13]
định nghĩa về thuật ngữ mạng xã hội: “Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch
vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ
t ạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương
t ự khác”[55]
người nghiên cứu hiểu như sau về mạng xã hội: Mạng xã hội (social network)
là m ột website mở mà người dùng có thể cùng xây dựng nội dung của trang, được kết nối và tương tác với nhau thông qua nhiều tính năng riêng biệt bất
kể không gian và thời gian
1.3.2 Lịch sử phát triển mạng xã hội
website Classmate.com ra đời của tại Mỹ, với mục đích nối kết các bạn học
Năm 2002, mạng xã hội Friendster ra đời với hàng triệu thành viên ghi
Năm 2004, mạng xã hội MySpace thu hút hàng trăm nghìn lượt xem mỗi
Trang 40động quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của rất nhiều người, ảnh hưởng sâu
Năm 2006, mạng xã hội Facebook đã quyết định mở rộng từ một trang
Đến nay, trải qua 19 năm hình thành và phát triển, mạng xã hội đã khẳng định vị thế đặc biệt quan trọng của mình trong thế giới mạng Internet Với hàng trăm mạng xã hội được thành lập cùng hàng trăm triệu người sử dụng mỗi ngày,
1.3.3 Tính năng sử dụng
Năm 1997, Nghị định 21/NĐ-CP do Chính phủ ban hành đã chính thức đặt điểm mốc cho sự tham gia của Internet vào đời sống của nhân dân Việt Nam Ngày nay, Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng và thiết yếu trong mọi mặt
Kantar Media)
email (thư điện tử), phim ảnh, voice chat (trò chuyện trực tuyến bằng giọng nói),
phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo nhóm (group