1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phong trào đấu tranh của công nhân sài gòn (1954 – 1975)

153 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của Ban chấp hành Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Lao động, 1993 đã dựng lại bức tranh của giai cấp công nhâ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thu Huyền

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA

CÔNG NHÂN SÀI GÒN

(1954 – 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thu Huyền

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA

CÔNG NHÂN SÀI GÒN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và trích dẫn trong đề tài là trung thực Những đánh giá, nhận định trong luận văn do cá nhân tôi nghiên cứu trên những tư liệu xác định

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban Giám hiệu trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học cùng toàn thể quý thầy cô khoa Lịch

sử

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy, TS Nguyễn Đức Hòa đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình hướng dẫn, sửa chữa, động viên… giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các cán bộ của Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học xã hội, Thư viện trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh… đã cung cấp tài liệu, số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã hỗ trợ vật chất cũng như tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Bố cục của luận văn 10

CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN SÀI GÒN – CHỢ LỚN TRƯỚC 1954 12

1.1 Tình hình kinh tế xã hội 12

1.1.1 Tình hình kinh tế 12

1.1.2 Tình hình xã hội 13

1.2 Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và một số phong trào đấu tranh 14

1.2.1 Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn 14

1.2.2 Một số phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trước năm 1954 17

1.3 Một số đặc điểm của phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trước 1954 28

CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN SÀI GÒN TRONG NHỮNG NĂM 1954-1968 30

2.1 Tình hình Sài Gòn trong những năm 1954-1968 30

2.1.1 Tình hình chính trị 30

2.1.2 Tình hình kinh tế và xã hội 31

2.2 Tình hình công nhân Sài Gòn trong những năm 1954-1968 34

2.2.1 Sự phát triển của đội ngũ công nhân 34

2.2.2 Đời sống của công nhân 36

2.2.3 Âm mưu và biện pháp của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với phong trào công nhân Sài Gòn 38

2.3 Các phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Gia Định (1954-1968) 43

2.3.1 Đấu tranh vì hòa bình, chống chiến tranh xâm lược 44

2.3.2 Đấu tranh vì quyền lợi kinh tế 48

Trang 6

2.4 Một số đặc điểm của phong trào công nhân Sài Gòn 77

CHƯƠNG 3: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN SÀI GÒN TRONG NHỮNG NĂM 1968-1975 81

3.1 Tình hình Sài Gòn trong những năm 1968-1975 81

3.1.1 Tình hình chính trị 81

3.1.2 Tình hình kinh tế và xã hội 81

3.2 Tình hình công nhân Sài Gòn trong những năm 1968-1975 84

3.2.1 Sự biến đổi và phát triển của đội ngũ công nhân 84

3.2.2 Đời sống của công nhân 86

3.2.3 Biện pháp của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với phong trào công nhân Sài Gòn 87

3.3 Các phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn 1968-1975 89

3.3.1 Đấu tranh vì dân sinh dân chủ 89

3.3.2 Đấu tranh chống Mỹ và chiến tranh xâm lược 108

3.3.3 Đóng góp của phong trào công nhân trong Tổng tấn công nổi dậy 1975 113

3.4 Một vài đặc điểm phong trào công nhân Sài Gòn 1968-1975 115

KẾT LUẬN 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 133

Trang 7

Sài Gòn là đô thị lớn nhất miền Nam, là trung tâm chính trị của chế độ Việt Nam Cộng hòa, có các cơ quan đầu não, đồng thời là hậu cứ an toàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã sử dụng mọi âm mưu và thủ đoạn, từ dụ dỗ lừa mị, phân hóa, cô lập, đến đàn áp tàn bạo hòng dập tắt các cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn, nhưng những phong trào đấu tranh đó vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ cho đến tận toàn thắng năm 1975 Đứng trước tuyến đầu của phong trào đô thị, công nhân Sài Gòn dưới

sự lãnh đạo của Đảng đã nối tiếp truyền thống của dân tộc, thể hiện vai trò tiên phong cách mạng cùng các giới đồng bào góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ công nhân miền Nam nói chung và công nhân Sài Gòn nói riêng luôn đi theo Đảng và là lực lượng tiên phong trong các phong trào yêu nước Xem xét một cách tổng quát phong trào

Trang 8

đấu tranh của công nhân Sài Gòn trong giai đoạn 1954-1975 là rất quan trọng và cần thiết để tìm hiểu mối liên hệ, sự tác động lẫn nhau giữa các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong các phong trào đấu tranh yêu nước

Tìm hiểu lịch sử đấu tranh của công nhân Sài Gòn từ 1954 đến 1975 để rút ra những đặc điểm cũng như vị trí vai trò trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc mà có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất

cho thế hệ trẻ Đó là những lý do khiến tôi chọn đề tài “Phong trào đấu tranh của công

sử cận – hiện đại Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và tác phẩm tổng kết về lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung cũng như công nhân Sài Gòn nói riêng Trong đó có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu chủ yếu đã công bố liên quan đến đề tài:

Viết về phong trào công nhân có thể kể đến tác phẩm tiêu biểu như: Một vài vấn đề

về Đảng và giai cấp công nhân Việt Nam của GS Hoàng Quốc Việt, NXB Lao động, 1960;

Các tác công trình nghiên cứu của GS Trần Văn Giàu như: Giai cấp công nhân Việt Nam:

sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giai đoạn cho mình, NXB Sự

thật, Hà Nội 1961; Giai cấp công nhân Việt Nam: từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách

mạng thành công tập 1: 1930-1935 và tập 2: 1936-1939, NXB Sử học, 1962; Giai cấp công nhân Việt Nam: từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công tập 3: 1939-1945,

NXB Sử học, 1963…

Ngoài ra còn có một số công trình viết về mảng đề tài giai cấp công nhân Việt Nam,

có liên quan tới cuộc các mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam như: Ngô Văn Hòa,

Trang 9

Dương Kinh Quốc (1979), Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập

Đảng, NXB Khoa học xã hội; Cao Văn Biền (1979), Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1939-1936 , NXB Khoa học xã hội; Cao Văn Biền (1979), Giai cấp công nhân Việt Nam

thời kỳ 1936-1939, NXB Khoa học xã hội; Nguyễn Hữu Hợp, Phạm Quang Toàn (1987), Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1945-1954, NXB Khoa học xã hội; Nguyễn Công

Bình (1974), Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, NXB Lao động; Vũ

Nguyên Ngọc (1959), Công nhân Nam Bộ trong khói lửa, NXB Lao động; Đinh Xuân Thu (2009), Giai cấp công nhân Việt Nam trong chiến tranh giải phóng đất nước (1945-1975,

NXB Lao động; …

Viết về phong trào công nhân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có các tác phẩm như:

Tác phẩm đồ sộ gồm 5 tập viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền

Nam Việt Nam của Giáo sư Trần Văn Giàu có tên Miền Nam giữ vững thành đồng

(1964-1978) Đây là một công trình nghiên cứu công phu phác họa và phản ánh trung thực về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở miền Nam trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước

Các tác phẩm của Lê Duẩn “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ

nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới”(1970), “Thư vào Nam” 1985 đề cập

đường lối, chủ trương của Đảng đối với các phong trào đấu tranh yêu nước, trong đó có phong trào công nhân

Tác phẩm Công nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu

nước (1954 - 1975) của Cao Văn Lượng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1977 đã cung cấp

cho người đọc các tư liệu về sự phát triển đội ngũ công nhân cũng như phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam Việt Nam từ 1954 – 1975

Phong trào công nhân miền Nam: giới thiệu cuộc đấu tranh chống Mỹ - Diệm của giai cấp công nhân miền Nam từ tháng 7-1954 đến tháng 7-1961, NXB Sự thật, 1961 của

Võ Nguyên giúp người đọc hiểu được sự trưởng thành của giai cấp công nhân miền Nam và

vị trí của phong trào công nhân trong các phong trào yêu nước Cuốn sách đã giới thiệu những nét sơ lược về phong trào công nhân miền Nam trong 7 năm (7-1954 – 7-1961)

Phong trào công nhân lao động và hoạt động công đoàn miền Nam Việt Nam 1975) của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã nêu lên truyền thống anh dũng của giai cấp công nhân miền Nam vì dân sinh dân chủ và chống chiến tranh xâm lược

Trang 10

(1954-Cuốn sách Nghiệp đoàn Sài Gòn và phong trào công nhân (1988) của tác giả Lê Thị

Quý NXB TP Hồ Chí Minh trình bày về âm mưu và thủ đoạn của Mỹ ngụy trong việc tổ chức và sử dụng nghiệp đoàn, và nhận thức rõ về tính thống nhất giai cấp của công nhân Sài Gòn qua phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn chống lại âm mưu, thủ đoạn của Mỹ - ngụy Đây là một trong những công trình nghiên cứu về phong trào công nhân Sài Gòn và miền Nam dưới thời Mỹ - ngụy mà tác giả đã sưu tầm được nhiều tư liệu có giá trị

Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của Ban chấp

hành Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Lao động, 1993 đã dựng lại bức tranh của giai cấp công nhân thành phố trước kia trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và quá trình phát triển của đội ngũ công nhân ở Sài Gòn

Các luận văn tốt nghiệp của Học viện Quốc gia Hành chính trước 1975: Nguyễn

Khắc Duyên (1969), Hậu quả của đình công; Vũ Công Hùng (1969), Chính sách lao động

của chính quyền; Thái Bình Dân (1972), Vấn đề thất nghiệp tại Việt Nam Cộng hòa (từ thập niên 60); Nguyễn Mạnh Hùng (1969), Hiện tình nghiệp đoàn công nhân tại Việt Nam; Phạm Thị Vân (1973), Kỹ nghệ dệt trong nền kinh tế Việt Nam; Nguyễn Thị Kim Nhung (1972),

Thỏa ước xí nghiệp điện lực Việt Nam,… đã cung cấp thêm những tư liệu quý về tình hình

kinh tế, chính sách của chính quyền Việt Nam cộng hòa đối với phong trào công nhân Sài Gòn

Ngoài ra còn có thể kể tới nhiều tác phẩm sử học khác viết về Sài Gòn – Thành phố

Hồ Chí Minh có đề cập đến phong trào công nhân như: Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí

Minh tập 1: lịch sử, NXB TP Hồ Chí Minh 1987; Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam TP HCM tập 1: 1930-1954 và tập 2: 1954-1975, NXB TP Hồ Chí Minh 1994, Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến, NXB TP Hồ Chí Minh 1994… Đây là những

công trình có quy mô lớn phản ánh bao quát các hoạt động đấu tranh chính trị, vũ trang… của mọi tầng lớp nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì vậy, trong các công trình này, phong trào đấu tranh của công nhân chỉ được đề cập sơ lược qua việc điểm một số

sự kiện tiêu biểu

Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh 300 năm hình thành và phát triển 1698-1998 của Đoàn

Thanh Hương, Hồ Hữu Nhựt khái quát về lịch sử Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh cũng như phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân

Tất cả những công trình và những bài viết của các tác giả đi trước đã phản ánh nhiều mặt gián tiếp hay trực tiếp đề cập tới phong trào công nhân Sài Gòn từ 1954 đến 1975 Dù

Trang 11

vậy cho đến nay vẫn còn thiếu những công trình dưới góc độ sử học nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn thời kỳ chống Mỹ Do vậy, việc đi sâu tìm hiểu về phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn (1954-1975) sẽ có những ý nghĩa khoa học và thực tiễn Việc nghiên cứu các công trình của các tác giả đi trước là quan trọng và cần thiết khi giải quyết các vấn đề khoa học Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã kế thừa và tiếp thu có chọn lọc thành tựu của các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài phong trào công nhân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong trào đấu tranh của công nhân ở Sài Gòn thời kỳ chống Mỹ Luận văn nghiên cứu, làm rõ một số nội dung cơ bản của phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn như quá trình hình thành đội ngũ công nhân, phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn qua từng thời kỳ tương ứng với các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ Các nội dung này sẽ được nghiên cứu trình bày theo trình tự lịch

sử, trong từng mặt của nội dung luận văn sẽ cố gắng rút ra được những vấn đề cốt yếu, liên quan đến bối cảnh lịch sử đặc trưng của từng thời kỳ lịch sử

3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi thời gian nghiên cứu trong đề tài được giới hạn là từ năm 1954 đến 1975, từ sau Hiệp định Genève cho đến đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam

Không gian nghiên cứu của đề tài là nội đô (Đô thành Sài Gòn) và tỉnh Gia Định theo

cơ cấu hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1955-1975, tương ứng với địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Đây là một đô thị lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ và là trung tâm quyền lực của chính quyền Sài Gòn, là địa bàn ghi dấu thắng lợi có

ý nghĩa quyết định giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Để có thể thấy rõ bối cảnh truyền thống đấu tranh của công nhân Sài Gòn, luận văn giành một chương ngắn trình bày

về đội ngũ và phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trước 1954

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi dựa vào nguồn tài liệu lưu trữ và nguồn tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và sử học

Trang 12

Nguồn tài liệu gốc của luận văn được khai thác từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, gồm các tài liệu của chính quyền Sài Gòn có liên quan đến các phong trào đấu tranh của công nhân, nghiệp đoàn đấu tranh chống lại chính quyền Sài Gòn trong giai đoạn từ 1954 đến 1975

Nguồn tài liệu là kết quả của các công trình nghiên cứu bao gồm: sách, báo, tạp chí, các luận văn tốt nghiệp của Học viện Quốc gia hành chính hiện có tại Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến các phong trào đấu tranh cách mạng ở Sài Gòn giai đoạn 1954-1975

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, và các phương pháp nghiên cứu liên ngành như thống kê, tổng hợp Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh trong việc trình bày những nguyên nhân, diễn biến cũng như vị trí vai trò của phong trào đấu tranh của công nhân thành phố Sài Gòn từ 1954 đến 1975

5 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở hệ thống tư liệu, tiếp thu có chọn lọc những công trình nghiên cứu, luận văn trình bày một cách có hệ thống phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Luận văn có những đóng góp khiêm tốn như sau:

Thứ nhất, luận văn góp phần phục dựng lại một cách chân thực và khách quan phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Sài Gòn trong giai đoạn 1954-1975

Thứ hai, luận văn bước đầu đã rút ra những đặc điểm, vị trí, vai trò phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn trong các phong trào yêu nước ở miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Thứ ba, luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu về phong trào công nhân đấu tranh yêu nước ở Sài Gòn trong giai đoạn 1954-1975

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chương nội dung chính gồm:

Chương 1 Phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trước năm 1954 Chương 2 Phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn trong những năm 1954-1968 Chương 3 Phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn trong những năm 1968-1975

Trang 14

CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN SÀI

Từ những năm đầu thế kỷ XVII, từ miền đất hoang vu, Sài Gòn dần có bến sông, phố chợ, sở thu thuế, trung tâm giao dịch quốc tế, một đồn lũy chiến lược rồi trở thành một trung tâm hành chính cho cả vùng đất mới Năm 1698 một bộ máy hành chính được thiết lập tại đất Gia Định, lưu dân đã đến đây khai hoang lập ấp ngày một đông, Sài Gòn trở thành nơi

đô hội và là trung tâm chính trị, văn hóa của cả vùng đất phía Nam Dưới triều Nguyễn, Sài Gòn vẫn tiếp tục phát triển, thương mại và giao thông tiếp tục được mở rộng, dân cư ngày một đông đúc Các ngành nghề thủ công tuy có những bước phát triển nhất định, do chính sách lạc hậu của triều Nguyễn chưa có điều kiện chuyển thành những ngành công nghiệp tư bản chủ nghĩa Nền kinh tế Việt Nam một nước nông nghiệp lạc hậu, tự túc, tự cấp

Tháng 2-1861, quân viễn chinh Pháp đặt ách thống trị của chúng ở Gia Định Năm

1897, Pôn Du-me chính thức nhậm chức toàn quyền Đông Dương, thực hiện chương trình khai thác thuộc địa trên quy mô lớn cũng từ đó giai cấp công nhân nước ta nhanh chóng hình thành và phát triển Riêng tại Nam Kỳ, bên cạnh công cuộc khai thác đồn điền cao su miền Đông, các ngành công nghiệp thương mại và giao thông vận tải cũng phát triển mạnh, chủ yếu là Sài Gòn – Chợ Lớn Để phục vụ công cuộc cai trị trước mắt và sinh hoạt của giới viên chức thực dân Pháp đã cho xây dựng những nhà máy công nghiệp như xưởng Ba Son, cảng, nhà máy đèn, nhà máy bia, bưu điện Sài Gòn, nhà máy kéo sợi… Rồi người Pháp, người Hoa kiều mở nhà máy xay lúa, lò đường công nghiệp, lò gạch… Về giao thông Pháp huy động đào kinh chợ Gạo và thành lập công ty đường sông Nam Kỳ (1881) Pháp cho mở đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho dài 71 km, làm đường xe điện từ Sài Gòn – Chợ Lớn, Sài Gòn – Gò Vấp, thành lập công ty điện Đông Dương (1890) Về xuất cảng, hướng chính khai thác của Pháp vẫn là xuất cảng gạo và nông sản ở Nam Kỳ…

Trang 15

Các cơ sở công nghiệp các nhà máy mới được thành lập trong các ngành công nghiệp như: đường, đồ uống, thuốc lá, xay xát, xà bông, công ty nước và điện Đông Dương Năm

1951 tại Sài Gòn – Chợ Lớn có 21.909 cơ sở kinh doanh có thẻ môn bài Từ năm 1954 đến

1955 ở Chợ Lớn có 70% cơ sở kinh doanh của người Hoa Năm 1954 có 32057 xí nghiệp của người Việt và 11.084 xí nghiệp của người Hoa (xí nghiệp người Việt có vốn của người Hoa đến 70%)

Đến năm 1954, thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố vẫn còn ở mức cá nhân gia đình Thường tiểu chủ sử dụng vài ba chục công nhân sản xuất theo sự phân phối hoặc đem hàng về nhà làm Nghề thủ công phát triển khá mạnh ở thành phố: sơn mài, khảm xà cừ,

kim hoàn, điêu khắc, sản xuất đường đen, đường phèn, đường phổi, đan, thêu, dệt, da, may mặc Trong giai đoạn này nhiều thợ thủ công tham gia kháng chiến nhiều cơ sở phải đóng cửa Mặt khác, do tình hình chiến tranh cho nên hàng thủ công khó tiêu thụ

Thương mại – xuất khẩu ở Sài Gòn dừng lại ở mức buôn bán nhỏ, làm kinh tế gia đình, thành phố bán cho các địa phương, chủ yếu là các sản phẩm công nghệ, thuộc trị bệnh Hàng hóa từ các nơi về thường là rau, quả, gà, vịt, các loại nông sản thực phẩm

Người Pháp chiếm độc quyền về công kỹ nghệ và xuất nhập khẩu hàng hóa Năm

1954, có 1754 tàu thủy công cộng Sài Gòn chuyên chở 203.600 tấn hàng hóa

Dù Pháp vẫn duy trì nền kinh tế mất cân đối, không có công nghiệp nặng nhưng qua các cuộc khai thác thuộc địa đã làm tạo nên những biến đổi xã hội, tạo điều kiện hình thành

và phát triển các giai cấp mới trong xã hội thực dân nửa phong kiến

1.1.2 Tình hình xã hội

Sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định vào năm 1698 có ý nghĩa quan trọng như là sự mở đầu cho một quá trình hình thành cơ cấu kinh tế xã hội của người Việt trên vùng đất mới

Trong quá trình mở mang bờ cõi và phát triển kinh tế xã hội, Sài Gòn đã trở thành trung tâm kinh tế chính trị văn hóa ở vùng đất mới phía nam của các chúa Nguyễn, cơ cấu giai tầng xã hội ở Sài Gòn có hai giai cấp cơ bản là phong kiến và nông dân, đồng thời có nhiều tầng lớp xã hội khác Tuy nhiên trong thời kỳ lịch sử khác nhau mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp đều có những biến đổi mang tính chất đột biến, trong đó có những bộ phận mà sự biến đổi mang tính chất đột biến của nó đã ảnh hưởng một cách trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến tiến trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố, giai cấp phong kiến tạo ra vai trò trung tâm chính trị của Sài Gòn, tầng lớp nho sĩ – trí thức đã tạo ra vai trò trung tâm văn hóa, tầng

Trang 16

lớp thương nhân (mà chủ yếu là người Hoa) đã tạo ra vai trò trung tâm thương mại, kinh tế của Sài Gòn ở phía Nam đất nước

Vào giữa thế kỷ XIX, ở Sài Gòn đã hình thành gần như đầy đủ các tầng lớp xã hội của một đô thị lớn Sự xâm nhập của nền kinh tế hàng hóa Pháp cũng tạo điều kiện phát triển thêm nhiều ngành thủ công và nhiều tầng lớp thương mại như thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ… Văn hóa tư sản Pháp thâm nhập vào xã hội Sài Gòn đã bước đầu phá vỡ những lối sống, những phong tục tập quán cổ truyền của nhân dân ta Mức độ đô thị hóa nhanh chưa từng có ở Việt Nam, đó là một hiện tượng độc đáo của thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn Sự gia tăng dân số thành phố Sài Gòn được ghi nhận: khoảng 248.000 người (năm 1913) lên 347.000 người (1926), lên 540.000 người (1938) vượt quá dự kiến đồ án phát triển thành phố Sài Gòn của Pháp (đồ án COFFYN) Chỉ trong 10 năm, dân số Sài Gòn – Chợ Lớn đã tăng gấp 3 lần Năm 1943: 498.100 người chiếm 9% dân số Nam Kỳ, 1953: 1.614.200 người chiếm 27% dân số Nam Kỳ trong 10 năm đó dân số của cả Nam Kỳ cũng chỉ tăng lên 426.700 người (1943: 5.577.800 người, 1953: 6.004.500 người) [146, 21]

Về thành phần dân cư, thời điểm năm 1953, ngoài người Việt chiếm 73% dân số, tại khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định còn có 443.114 người Hoa, chiếm gần nửa người gốc Hoa tại miền Nam, cư ngụ chủ yếu tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn [146, 22], người di cư

từ châu Âu đến (18.339 người) phần lớn cư ngụ tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn và tỉnh lỵ Gia Định [146, 22] Ngoài ra còn có khoảng 10.000 người thuộc các dân tộc Khmer Nam

Bộ, Lào, Chăm, Stiêng và một số dân tộc thiểu số khác Nhìn chung các cộng đồng dân cư này cư ngụ đan xen, sống hòa đồng, cởi mở không phân biệt nguồn gốc

1.2 Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và một số phong trào đấu tranh 1.2.1 Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn

Từ đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô lớn, giai cấp tư sản Pháp đầu tư mạnh vào các ngành công thương nghiệp, tạo ra sự nhảy vọt

cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân Sài Gòn

Năm 1900, ở Sài Gòn có 2.000 công nhân làm việc khá tập trung của xưởng Ba Son

và 2.000 công nhân làm việc ở các cơ sở khai thác thuộc địa của Pháp

Theo tài liệu cũ của Pháp về dân số, năm 1928 Sài Gòn có 125.000 người, Chợ Lớn

có 192.000 người, tổng cộng là 317.000 người thì số lượng công nhân chiếm tỷ lệ khoảng 7%, tức là trên 25.000 người Đó là một tỷ lệ khá cao lúc bấy giờ so với các thành thị khác

Trang 17

[5, 23] Sự phát triển và trưởng thành nhanh chóng của đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn đã làm cho thực dân Pháp lo sợ Báo cáo của Thống đốc La-mốt (Lamothe) gởi cho Toàn quyền Đu-me (Paul Doumer) năm 1902 đã ghi: “Sự phát triển của những đô thị như Sài Gòn, Chợ Lớn làm nảy sinh ra một thứ vô sản thành thị và ngoại ô, thái độ và hành động của đám vô sản này làm cho số người Âu và những giai cấp giàu có người bản xứ đều lo sợ một cách nghiêm trọng và có lý” [5, 23]

Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn phần đông xuất thân từ nông dân và dân nghèo thành thị đi làm lao dịch Từ lớp này đến lớp khác bị bóc lột nặng nề Từ những năm 90 của thế kỷ XIX trở đi, nhu cầu công nhân ngày càng lớn, chúng buộc dân nội đinh (trai tráng từ 18 đến 50) phải đi lao dịch một số ngày, còn lại thì phải chuộc bằng tiền mà chúng nói là để thuê mướn nhân công Ngoài lao dịch không công, dân nội đinh còn phải đóng thuế thân hàng năm bắt đầu từ năm 1902 Công nhân bị bóc lột bằng phương thức tư bản chủ nghĩa và bóc lột phong kiến với đồng lương rẻ mạt, không có bảo hiểm xã hội, cuộc sống rất cơ cực Công nhân trong hai thập kỷ của nửa đầu thế kỷ 20 đã từng bước hình thành và ngày càng trở thành một lực lượng xã hội quan trọng, một lực lượng chính trị độc lập trong khi giai cấp

tư sản Việt Nam chỉ là những phần tử đơn lẻ, chưa hình thành giai cấp rõ ràng Phong trào công nhân giai đoạn này đã có thêm những điều kiện mới Về số lượng, đội ngũ công nhân được bổ sung thêm hơn 12 vạn người Về chất lượng, sau chiến tranh nhiều thủy thủ, lính thợ được hồi hương; trong hành trang nghèo khó của mình mang về nước có cả những hiểu biết mới, tư tưởng mới và cả những kinh nghiệm tổ chức và đấu tranh của giai cấp công nhân châu Âu Trong khi đó, cuộc sống của họ càng trở nên cùng quẫn Những điều kiện đó

đã thôi thúc họ đứng dậy đấu tranh

“Phong trào công nhân là một hiện tượng lịch sử, chủ yếu là một thái độ lịch sử của giai cấp công nhân công nghiệp, mà công nhân công nghiệp chỉ tồn tại và phát triển dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, khi công nghiệp đã phát triển tới chừng mực tối thiểu nào và tập trung được một số công nhân tối thiểu nào, và trong phong trào đó, giai cấp công nhân biểu

lộ ra một sự hoạt động, một sức đấu tranh để cải thiện điều kiện sinh hoạt của mình, do cuộc đấu tranh kinh tế này mà công nhân tuần tự biểu lộ ra được khả năng tự tổ chức thành đoàn thể giai cấp của mình để rồi tham gia hay chủ động những cuộc đấu tranh chính trị, đóng một vai trò tích cực trong việc cải biến chế độ xã hội và chính trị” [42, 39]

Cùng với phong trào đấu tranh yêu nước của nông dân, trí thức, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thành phố Sài Gòn đã diễn ra sôi động Từ những hình thức lãn

Trang 18

công, bỏ việc, làm đơn tố cáo, phá hoại máy móc, vật tư tiến lên những hình thức đình công, bãi công tập thể Tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân nhà máy Ba Son, cuộc đấu tranh của học sinh trường Bá Nghệ năm 1912, cuộc đình công của 40.000 lao động đào kinh Đô (Chợ Lớn) Ngày 8-3-1920, công nhân và thủy thủ 5 chiếc tàu đậu ở bến Sài Gòn bãi công đòi phụ cấp đắt đỏ nêu cao khẩu hiệu: “Vạn tuế tổng công hội”, “Vạn tuế sự giải phóng người lao động bởi tay người lao động” Tháng 11-1922, cũng tại Chợ Lớn đã diễn ra cuộc bãi công của 600 thợ nhuộm Nét mới ở cuộc đấu tranh này là sự tập hợp đông đảo thợ

nhuộm của nhiều cơ sở nhuộm trên đất Sài Gòn - Chợ Lớn Trong tác phẩm “Bản án chế độ

thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã ca ngợi phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn –

Chợ Lớn và kêu gọi giai cấp cần lao hãy ghi nhớ lấy dấu hiệu đấu tranh của thời đại Những cuộc đấu tranh yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Sài Gòn tuy còn mang yếu tố

tự phát và chưa đi đến thắng lợi sau cùng, nhưng đó là mảnh đất thuận lợi để chủ nghĩa Mác-Lênin nảy nở sau này

Năm 1920, Tôn Đức Thắng bí mật thành lập Công hội với mục đích đấu tranh bảo vệ quyền lợi của công nhân, tổ chức tương trợ cứu giúp anh em công nhân, tổ chức tương trợ cứu giúp anh em công nhân khi gặp khó khăn Tổ chức công hội đã có cơ sở ở Nhà đèn Sài Gòn, Chợ Quán, xí nghiệp Ba Son, F.A.C.I… Từ 1920 đến 1925, Công hội đã có 300 hội viên và tổ chức thắng lợi cuộc đấu tranh của 1.000 công nhân Ba Son vào tháng 8-1925 Mục đích cuộc bãi công của công nhân Ba Son là làm chậm việc sửa chữa chiếc tàu Misơlê (Michelet) mà thực dân Pháp dùng chở lính sang đàn áp phong trào cách mạng Trung Quốc Ngày 4-8-1925, cuộc bãi công nổ ra với yêu sách "tăng 20% lương, đưa số thợ bị đuổi trở lại làm việc và giữ lệ nghỉ 30 phút vào ngày lãnh lương" Để đảm bảo thắng lợi, ban lãnh đạo Công hội đã vận động công nhân, viên chức trong thành phố ủng hộ vật chất và tinh thần cho công nhân Ba Son Sau 8 ngày đấu tranh, cuộc bãi công đã giành được thắng lợi Ngày 12-8 công nhân trở lại làm việc, nhưng tiếp lục lãn công làm chậm việc sửa chữa tàu Misơlê đến tháng 11-1925 mới xong Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên có tổ chức và lãnh đạo Cuộc đấu tranh không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn nhằm vào mục đích chính trị thể hiện tình đoàn kết vô sản quốc tế của công nhân Việt Nam Cuộc bãi công Ba Son vạch một mốc lớn trong phong trào công nhân Việt Nam - giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và mục đích chính trị rõ ràng

Tháng giêng 1926, công nhân Sở bưu điện Sài Gòn bãi công; ngày 2-4, công nhân xe lửa Sài Gòn bãi công làm tê liệt ngành hỏa xa; ngày 5-5, công nhân Ba Son bãi công; ngày

Trang 19

28-9, toàn thể công nhân nhà máy đèn Vĩnh Long bãi công chống tăng giờ làm… Năm

1927, phong trào công nhân tiếp tục dâng cao, nhất là tại các đồn điền Năm 1928, ngày

19-2, công nhân hãng La-ruy ở Sài Gòn bãi công; ngày 23-2, công nhân các nhà máy xay gạo ở Chợ Lớn bãi công; … Năm 1929, từ tháng 4 đến cuối năm, ở Nam Bộ có 12 cuộc bãi công lớn, ngày 4-6, công nhân hãng Sác-ne bãi công…

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập Tháng 3-1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản tại Sài Gòn và hai tỉnh Gia Định, Chợ Lớn được thành lập Từ đây nhân dân thành phố có được một đảng bộ vững mạnh, được Trung ương và xứ ủy trực tiếp chỉ đạo,

mở ra một trang sử mới trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do

Thực tiễn cách mạng thời kỳ 1919-1929 chứng minh rằng đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn là một bộ phận năng động tích cực, sớm có những nét tiêu biểu của giai cấp công nhân Việt Nam Công nhân Sài Gòn- Chợ Lớn đã đi từ tình cảm yêu nước đến ý thức giai cấp, giác ngộ sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình

1.2.2 Một số phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trước năm

1954

Ngay sau khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động cao trào cách mạng 1930-1931, các tổ chức công hội cũng được thành lập ở các ngành xây dựng, rượu, nhà đèn Chợ Rẫy, trạm vô tuyến điện Phú Lâm, hãng Faci… Tháng 4-1930, đại biểu công hội của các ngành đã họp và thành lập Tổng công hội Nam Kỳ Dưới sự lãnh đạo của Tổng công hội, công nhân Sài Gòn tích cực tham gia kỷ niệm ngày lễ Quốc tế lao động 1-5-1930 Trong năm 1930, có đến 98 cuộc bãi công Bằng làn sóng mít tinh, biểu tình lớn ở khắp nơi, phong trào đấu tranh của công nhân vẫn duy trì ở mức độ cao Các cuộc đấu tranh rầm rộ dưới các khẩu hiệu: Phản đối đánh đập, cúp lương – ngày làm 8 giờ - công nông binh liên hợp lại – vô sản giai cấp toàn thế giới liên hợp lại – nổ ra… Nổi bật nhất là các cuộc bãi công của công nhân hãng dầu Xô-cô-ny Nhà Bè (1-2-1930), của công nhân làm đường ở đường Cantinat và Espagne 14-4-1930, của 300 công nhân xe lửa Dĩ An và của 600 công nhân hãng dầu Nhà Bè 16-3, công nhân Ba Son 21-4-1930; nhà máy đèn Chợ Lớn… Cuộc bãi công 27-4-1930 của công nhân Đề pô xe lửa Dĩ An bãi công có rải truyền đơn, treo cờ

đỏ búa liềm và lần đầu tiên hô những khẩu hiệu: “công nông binh liên hiệp lại”, “thi hành luật làm 8 giờ”, tăng lương, không được đánh đập, không được cúp lương… Cuộc bãi công này kéo dài đến ngày 1-5 và cùng với những cuộc bãi công khác đã biến ngày 1-5 thành ngày biểu dương lực lượng của quần chúng công nông ở thành phố chính thức kỷ niệm ngày

Trang 20

Quốc tế lao động lần đầu tiên ở Sài Gòn – Chợ Lớn - Gia Định [44, 9] Cuộc đấu tranh ngày 1-5-1930 là một bước ngoặt của cao trào cách mạng 30-31, từ thành thị đến nông thôn khắp

3 miền Bắc, Trung, Nam đều có cờ đỏ búa liềm, truyền đơn, mít tinh xuất hiện, biểu tình, tuần hành thị uy nổ ra khắp nơi Tại Sài Gòn và Nam Kỳ các cuộc đấu tranh đều có sự lãnh đạo của chi bộ Đảng như cuộc biểu tình của hàng vạn nông dân Gia Định, Chợ Lớn, cuộc bãi công của công nhân hãng rượu Bình Tây, hãng cưa Gia Ty…

Tháng 1-1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã họp cùng Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân thành phố Các cuộc bãi công, biểu tình, rải truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm đã nổ ra Nổi bật nhất là cuộc mít tinh kỷ niệm một năm khởi nghĩa Yên Bái của công nhân hãng dầu Nhà Bè ngày 8-2-1931 do Tổng Công hội đỏ Sài Gòn – Chợ Lớn tổ chức, đấu tranh đòi tăng lương, trả lương đúng hạn và không được vô

cớ đuổi thợ Cuộc bãi công được nông dân ngoại thành tổ chức mít tinh quyên tiền ủng hộ [74, 9-10]

Được ban Công vận trực tiếp chỉ đạo, Tổng Công hội đỏ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức 5 cuộc bãi công lớn ở 3 hãng dầu Standard Oil, Texaco và Pháp Á Nông dân ngoại thành Hóc Môn, Bà Điểm và các nơi khác mit tinh, hội họp tỏ tình đoàn kết với công nhân tranh đấu Tính chất cuộc đấu tranh ngày càng quyết liệt và hình thức tổ chức của các cuộc đấu tranh khá cao như công nhân đã tổ chức các đội tự vệ công nhân đấu tranh, vừa ngăn không cho địch đưa người đến phá các cuộc đấu tranh

Nhìn chung, cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân đã diễn ra sôi nổi dưới sự lãnh đạo của đảng bộ thành phố Sài Gòn, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đòi quyền dân sinh, dân chủ, ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh, ủng hộ Liên bang Xô Viết, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước Trước phong trào đấu tranh ấy, thực dân Pháp đã ra sức đàn áp và khủng bố dã man

Tháng 5-1931, địch khủng bố trắng bắt trên 200 người để điều tra Cơ sở Đảng bị tổn thất nghiêm trọng Đó là giai đoạn thoái trào của cách mạng Phong trào đấu tranh tạm lắng xuống nhưng tư tưởng cộng sản đã được truyền bá vẫn bám rễ sâu chắc trong lòng nhân dân

Tháng 8-1931, Công hội Sài Gòn công khai kêu gọi công nhân lạc quyên giúp nông dân Bến Tre bị đàn áp Trong khi đó, bà con nông dân ngoại thành quyên góp 200 đồng ủng

hộ công nhân hãng dầu Nhà Bè và hãng rượu Bình Tây đang bãi công Sự kiện này nói lên một nhân tố cơ bản làm cho phong trào Sài Gòn liên tục mạnh mẽ: Sự liên minh chặt chẽ và bền vững giữa công nhân và nông dân các vùng quanh Sài Gòn xây dựng trên quan hệ giai

Trang 21

cấp và những quan hệ gia đình, bè bạn, làm ăn, có sự lãnh đạo của các tổ chức bí mật của Đảng

Đến năm 1932, Xứ ủy mới được tổ chức lại và khôi phục lại Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn có tác dụng hết sức tích cực đối với tổ chức công hội đỏ và phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn Ngày 20-2-1932, cuộc đấu tranh của 184 công nhân làm đường ở Tòa Tân Đáo Sài Gòn, thực dân Pháp đã đàn áp làm 18 người chết và bị thương Cuộc bãi công của 500 nữ công nhân 13 xưởng dệt khăn tay ở Chợ Lớn 21-4-1932 phản đối bọn chủ hãng lấy lý do “khủng bố kinh tế” hạ tiền công dệt một chiếc khăn từ 5 xu xuống 4 xu, 3 xu rồi cuối cùng còn 2 xu Chị em nữ công nhân kéo thành đội ngũ biểu tình, hô khẩu hiệu phản đối chủ bóc lột, đòi tăng tiền công, làm cho các hãng phải ngừng hoạt động Cuộc đấu tranh này nói lên trình độ tổ chức và tính thống nhất của chị em thợ dệt Đây không phải là một xí nghiệp công nghiệp hiện đại mà là 13 xưởng thủ công (mỗi xưởng mướn vài chục thợ), vì vậy cuộc bãi công có ý nghĩa như một cuộc tổng bãi công của toàn ngành dệt khăn, nói lên

sự trưởng thành về ý thức giác ngộ quyền lợi giai cấp và trình độ tổ chức, kỷ luật của công nhân Sài Gòn nói chung

Liên tiếp sau đó là những cuộc đấu tranh ở nhiều nhà in Ardin, nhà in Công Luận ở Sài Gòn và công nhân xe kéo Sài Gòn và Gia Định Năm 1932, 500 công nhân hãng dầu Texaco đấu tranh khá quyết liệt, chống cúp phạt, đuổi người vô cớ… làm giới chủ phải nhượng bộ Cuộc đấu tranh này được tạp chí Búa Liềm của Đảng đưa tin và biểu dương Tiểu thương thành phố cũng tham gia đấu tranh dưới hình thức bãi thị ở các chợ Đa Kao, Bà Chiểu, Chợ Lớn chống tăng tiền chỗ…

Trong hai năm 1934-1935, mặc dù Thực dân Pháp đang ra sức đàn áp khủng bố phong trào cách mạng, ở Đông Dương có 60 cuộc đấu tranh công nhân thì có đến 40 cuộc đấu tranh nổ ra ở Sài Gòn – Chợ Lớn [27,10] Nhiều cuộc bãi công và tổng bãi công liên tiếp nổ ra ở sân bay Tân Sơn Nhất, ngành giao thông vận tải, các hãng buôn, các xưởng đường, xưởng nhuộm ở Gia Định, các lò gạch, công nhân bốc vác, hãng dầu Nhà Bè… Phong trào công nhân thành phố Sài Gòn thực sự trở thành một trong những trung tâm đấu tranh tiêu biểu của Nam Bộ và cả nước Đặc điểm của phong trào công nhân lúc này là vừa

có bãi công lớn vừa có tổng bãi công, mở đầu bằng cuộc tổng bãi công của 12 nhà máy xay của Hoa kiều ở Chợ Lớn (5-1934) Những cuộc đấu tranh này đã kết thúc một thời kỳ làm quen và tập sự với phương pháp đấu tranh mới và mở ra cao trào mới cho Sài Gòn

Trang 22

Cũng trong thời kỳ này, Sài Gòn là nơi duy nhất tiến hành đấu tranh hợp pháp trên báo chí và nghị trường, gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng Đại biểu giai cấp công nhân ra tranh cử “Hội đồng quản hạt Nam Kỳ” 2-1935 và “Hội đồng thành phố” 5-

1935 đã giành được số phiếu rất cao [74, 10] Hai đại biểu cộng sản (Nguyễn Văn Tạo và Dương Bạch Mai) được đắc cử trong các Hội đồng thành phố được hàng vạn công nhân ủng

hộ bằng các cuộc bãi công đồng loạt: Xưởng xà phòng Trương Văn Bền, nhà in Ác-đanh, Đê-cua Ca-bô, công xưởng thành phố, và nhất là cuộc tổng bãi công xe thổ mộ Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định Các cuộc diễn thuyết về biện chứng pháp ở trụ sở Hội S.A.M.I.P.C, các buổi mít tinh tranh cử Hội đồng thành phố ở rạp hát Thành - Xương, đòi tự do dân chủ, đòi phổ thông đấu phiếu, cuộc đón tiếp phái đoàn Cứu tế Đỏ đã làm rung chuyển các đường phố Sài Gòn, làm thức tỉnh các tầng lớp trung gian, huy động và tập dượt nhiều lực lượng cách mạng mới trong ngũ công nhân, trí thức, học sinh, sinh viên

Phong trào đấu tranh của công nhân phát triển mạnh ở Sài Gòn đã tác động tích cực đến các tầng lớp lao động nghèo thành thị và gây ảnh hưởng sâu rộng đến các tỉnh Nam Kỳ Đúng như Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất 3-1935 nhận xét: “phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn đã biết chuẩn bị khi tranh đấu (có Ủy ban bãi công, có đội tự

vệ như ở Sở Canh nông Chợ Lớn), đã biết đem kinh nghiệm thất bại trước để sửa lỗi, định

kế hoạch tổ chức cuộc đấu tranh mới (như nhà in Ardin Sài Gòn), biết gây mối liên hệ công nông binh (hãng rượu Bình Tây) Qua nhiều cuộc đấu tranh, trình độ tổ chức và lãnh đạo có

tiến bộ rõ rệt, tính chất đấu tranh càng quyết liệt, quy mô đấu tranh rộng lớn và liên tục, biết tranh thủ tận dụng khả năng công khai hợp pháp để đưa phong trào tiến lên mạnh mẽ Phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn thời kỳ 1932-1935 đã trở thành một trung tâm đấu tranh của Nam Kỳ và của cả nước

Tháng 7-1936, Trung ương Đảng họp ở Thượng Hải (Trung Quốc) đã xác định nhiệm vụ cần kíp của Đảng lúc này là ra sức tập hợp lực lượng dân chủ và tiến bộ, chống kẻ thù trước mắt là phát xít và thực dân Pháp, giành tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, chống nguy cơ chiến tranh thế giới, tạm thời không nêu khẩu hiệu “đánh đổ đế quốc Pháp” và “tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”, chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản

đế Đông Dương (Về sau đổi là Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương) Đây là cuộc vận động dân chủ trên cả nước mà Sài Gòn đã giữ một vai trò quan trọng Các tầng lớp nhân dân Sài Gòn từ quần chúng cơ bản công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, cho đến trí thức,

Trang 23

viên chức, nhân sĩ dân chủ đều được phát động rộng rãi Cao trào bãi công trên cả nước với

297 cuộc trong 6 tháng bằng 30 năm về trước

Ở Sài Gòn, báo chí tiến bộ đều nêu lên tình cảnh cực nhọc của nhân dân ta và kêu gọi tranh đấu cho các quyền tự do dân chủ như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do nghiệp đoàn, nam nữ bình đẳng, tăng lương, bớt giờ làm… công nhân Sài Gòn vừa đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, vừa hưởng ứng lời kêu gọi tổ chức vận động tiến tới Đông Dương đại hội Khắp nơi thành lập các ủy ban hành động, tổ chức mít tinh diễn thuyết, tập hợp nguyện vọng, yêu cầu của nhân dân để chuẩn bị cho Ủy ban điều tra nghị viện Pháp sắp sang Đông Dương Chỉ một thời gian ngắn, ở Nam Bộ đã tổ chức được 600 ủy ban hành động mạnh nhất ở Sài Gòn – Chợ Lớn thành lập được 31 ủy ban được tổ chức trong các nhà máy, cơ sở công nghiệp như: thuốc lá Cofat, rượu Bình Tây, xăng dầu Nhà Bè, cảng; trong các ngành đường sắt, xe điện, các nhà in, trong thợ thủ công, học sinh, tiểu thương… Hội họp mít tinh

mở ra liên tiếp không chỉ ở trung tâm thành phố mà còn ở nhiều nhà máy, xí nghiệp, trường học vùng nông thôn ngoại thành Phong trào công nhân lên mạnh với những khẩu hiệu đấu tranh như ngày làm 8 giờ, tuần lễ làm 40 giờ, định tiền lương tối thiểu, nữ công nhân nghỉ

đẻ có lương và không bị sa thải sau khi sanh đẻ Phong trào công nhân thúc đẩy nông dân hội họp mít tinh đưa yêu sách đòi giảm thuế, cấm cho vay nặng lãi; tiểu thương đòi giảm thuế chợ, bỏ phạt vạ, tiểu chủ đòi giảm thuế môn bài; học sinh đòi mở thêm trường học…

Năm 1936, phong trào tổng bãi công với quy mô lớn dồn dập nổ ra ở hầu hết các xí nghiệp, công nhân Sài Gòn đã đóng vai trò tích cực, nòng cốt với lực lượng đông đảo tại những cuộc đấu tranh sau: cuộc tổng bãi công của công nhân 8 xưởng đường và 8 xưởng nhuộm ở Gia Định, 5 lò gạch ở Chợ Lớn, của 4000 công nhân làm trên 350 ghe chài chở lúa gạo, của công nhân Ba Son, công nhân nước mắm, thương khẩu, xà bông và Sở vệ sinh [74; 11], ngày 20-5 công nhân hãng dầu Texaco Nhà Bè bãi công đòi tăng lương; Ngày 27-9 công nhân xà bông Trương Văn Bền bãi công lần thứ nhất; Ngày 5-10 công nhân nhà máy xay Nguyễn Thành Liên đòi tăng lương; Ngày 5-11 tất cả công nhân lò nhuộm, trại cưa, anh

em đánh xe thổ mộ Bà Điểm, Bà Quẹo, Quán Tre, Chợ Cầu, Trung Chánh đình nghiệp đòi thả Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo; Ngày 10-11, 100 công nhân lò gạch ở Chợ Lớn bãi công đòi tăng lương; Ngày 9-12, 100 công nhân thương khẩu Sài Gòn đình công đòi tăng lương; Ngày 12-12, 600 thợ nhuộm Gia Định và thợ giặt Sài Gòn đình công đòi tăng lương, giảm giờ làm, nghỉ chủ nhật và không vô cớ đuổi thợ; Ngày 16-12 công nhân xà

Trang 24

bông Trương Văn Bền bãi công lần thứ hai; Ngày 31-12, 150 công nhân Sở vệ sinh Chợ Lớn đòi nghỉ chủ nhất có lương

Phong trào bãi công của công nhân Sài Gòn trong thời gian sau Đông Dương đại hội

đã phát triển lên một bước mới, cao hơn, kể cả về số lượng cuộc đấu tranh cũng như quy mô bãi công, tổng bãi công – rộng hơn thời kỳ trước và bên cạnh bãi công đòi quyền dân sinh còn có cả bãi công chính trị, phong trào cũng cho thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Chỉ trong năm 1937 phong trào đấu tranh tăng lên gấp đôi (48 cuộc so với năm 1936)

Ngày 1-1-1937, một cuộc biểu dương lực lượng lớn nhất lúc bấy giờ đã diễn ra ở Bến Nhà Rồng với 2 vạn người đón phái đoàn điều tra của chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp,

do J Gô-đa (Godart) dẫn đầu với những yêu sách “tự do dân chủ, tự do thành lập nghiệp đoàn, thi hành luật lao động, đại xá chính trị phạm” Ngay sau đó, một cuộc biểu tình lớn của công nhân lao động và nhân dân đã diễn ra giữa thành phố phản đối Toàn quyền Đông Dương Brê-vi-ê (Brévié) không chịu thỏa mãn những yêu sách trên Địch đã đàn áp dã man, quần chúng công nhân lao động đã chống trả quyết liệt với địch bằng bạo lực kéo dài suốt ngày [74, 11] Hàng chục vạn lao động, nhân cơ hội này biểu dương sức mạnh đoàn kết đấu tranh của mình, bất chất hành động đàn áp tàn bạo của cảnh sát

Cuộc đấu tranh của toàn thể công nhân xưởng Ba Son nổ ra ngày 5-4-1937 được sự ủng hộ nhiệt tình và mạnh mẽ của công nhân cùng các giới lao động Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn, ngày 13-7-1937, Bộ trưởng Hải quân Pháp đã phải chấp thuận tăng lương cho công nhân ở các xưởng đóng tàu của chúng nói chung và cải thiện nơi ăn chốn ở buổi trưa cho anh em công nhân

Cũng từ năm 1937, phong trào đòi tự do nghiệp đoàn nổi lên sớm nhất ở Sài Gòn Tháng 6-1937, “Ủy ban Sáng xuất nghiệp đoàn” Sài Gòn – Chợ Lớn ra đời và hoạt động công khai, ra lời kêu gọi công nhân đấu tranh cho quyền lợi của mình “Lập ủy bản sáng xuất của thợ thuyền để được trọn hưởng tự do nghiệp đoàn theo luật 1884 Kể từ nay chúng tôi

mở cơ quan 36 đường Alasce Lorraine, Sài Gòn để trực tiếp với anh chị em” [44, 296] Tháng 3-1938, Ủy ban chuyển thành “Ủy ban đại biểu công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn” bằng những việc làm thiết thực, bền bỉ, đã thắt chặt thêm mối quan hệ gắn bó giữa đội ngũ công nhân và quần chúng lao động với những người cộng sản, với Đảng Cộng sản Phong trào ái hữu ở Sài Gòn phát triển mau lẹ trong công nhân công nghiệp, trong xí nghiệp nhà máy Ba Son, Faci, Simac… Thực chất là phong trào đòi tự do nghiệp đoàn cho thấy trình độ chính trị của công nhân làm thất bại âm mưu của bọn thực dân

Trang 25

Để góp phần đấu tranh công khai trên báo chí, ngày 22-7-1938, tờ Dân chúng với danh nghĩa là cơ quan của lao động và quần chúng ở Đông Dương, nhưng thực chất là cơ quan Trung ương của Đảng Tiếp theo các tờ Mới của Thanh niên, Lao động của công nhân

và một số tờ báo khác Với nội dung tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, vạch trần chế độ thực dân phong kiến thối nát, phản động, kêu gọi công nông đấu tranh bảo vệ quyền

lợi chính đáng của mình và tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin Hàng loạt cuốn sách công khai giới thiệu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giới thiệu về Liên Xô được phát hành rộng rãi

Bước sang những năm 1938-1939, phong trào công nhân Sài Gòn có phần lắng xuống các cuộc đấu tranh tiêu biểu như cuộc tổng bãi công ngày 29-2-1938 của 5.500 công nhân chuyên chở trên 450 thuyền và xà lan chở hàng từ Chợ Lớn ra Cảng Sài Gòn, 200 nữ công nhân làm tại 5 công ty xuất nhập khẩu Sài Gòn đình công, công nhân hãng Cotab (MIC) bãi công đòi giảm giờ làm (1939)…

Trong 4 năm 1936-1939, Sài Gòn – Chợ Lớn có tất cả 111 cuộc bãi công, đây là con

số kỷ lục so với những thời kỳ trước Phong trào công nhân đã biết lợi dụng thế hợp pháp, tận dụng những hình thức công khai hợp pháp, nửa hợp pháp như ủy ban hành động, tập hợp thảo luận dân nguyện đòi tự do nghiệp đoàn, đòi ái hữu, tiếng nói trên báo chí, mit tinh biểu tình… Hòa cùng phong trào quần chúng công khai phát triển rầm rộ ở Sài Gòn, đội ngũ công nhân lao động đã trưởng thành thêm một bước

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ Cuối năm 1939 chính quyền Thực dân Pháp ở Đông Dương ra mặt phát xít hóa trắng trợn, cấm đoán hoàn toàn các hoạt động nghiệp đoàn và ái hữu Kế đó, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940) thất bại, bị dìm trong máu, phong trào công nhân càng gặp nhiều khó khăn Năm 1941, phát xít Nhật đổ bộ vào Sài Gòn Cuộc sống của công nhân lao động cũng như mọi tầng lớp nhân dân nói chung càng thêm nghẹt thở Chính vì vậy, mặc dù bị cấm đoán, các tổ chức nghiệp đoàn và ái hữu vẫn tìm mọi cách hoạt động bí mật, hướng dẫn công nhân lao động đấu tranh với chủ tư bản Pháp và đấu tranh cả với Nhật Trong năm 1941, ngay lúc Nhật vừa đổ bộ vào Sài Gòn, đã

nỗ ra cuộc bãi công của 500 công nhân bến tàu Nhà Rồng và Xóm Chiếu Trong hai năm 1942-1943 vẫn lẻ tẻ nổ ra những cuộc đấu tranh của công nhân với qui mô nhỏ bởi ách kiểm soát chặt chẽ của hai tầng áp bức Pháp – Nhật Đến năm 1944, khi hệ thống tổ chức Đảng ở Sài Gòn được khôi phục, phong trào công nhân cũng có bước phát triển mạnh mẽ hơn Tiêu biểu là sự kiện hàng trăm công nhân làm việc trong các trại lính Nhật (ở Chí Hòa) xí nghiệp

Trang 26

Nhật (hãng Dainan Koosi) đình công đòi tăng lương; cuộc bãi công 9 ngày chống Nhật của công nhân hãng cưa Xăng cô và của thợ may quân phục cho Nhật ở đường Se-nhô Sài Gòn Đáng chú ý là cuộc đấu tranh ngày 14-8-1944 của thợ giày thuộc Đại Nam công ty (Đai-năng-cô-xi) (thầu đóng giày cho Nhật) nổ ra đồng thời ở cả Sài Gòn và Hà Nội [74, 12]

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9-3-1945, các đồng chí đảng viên và cán bộ công hội

cũ đã nhóm họp tại Sài Gòn thành lập Tổng Công đoàn Nam Bộ Tiếp đó, tổ chức “Đoàn thanh niên Tiền phong Ban xí nghiệp” Từ tháng 5 đến tháng 8-1945, số cơ sở nhà máy, xí nghiệp có tổ chức Thanh niên Tiền phong Ban xí nghiệp đã tăng từ 70 lên 350 và số hội viên tăng từ 3.000 lên tới 120.000 [74, 12]

Trong thời kỳ sửa soạn Cách mạng tháng Tám, mặc dầu địch thẳng tay đàn áp khủng

bố, song các tổ chức công nhân vẫn được xây dựng, củng cố và phát triển Trong không khí sôi sục của những ngày cuối tháng 8-1945, công nhân lao động đã tích cực tham gia mọi hoạt động khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn Ngày 25-8-1945, 30 vạn công nhân lao động cùng với gần 70 vạn nhân dân các vùng nông thôn ngoại thành đã vùng dậy khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền từ trong tay phát xít Nhật và thực sự làm chủ Sài Gòn – Gia Định [74,13] Công nhân lao động Sài Gòn đã đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động chuẩn

bị và tiến hành khởi nghĩa, từ hội họp, mít tinh, biểu tình, may cờ, kẻ khẩu hiệu, giao liên tiếp tế cho đến luyện tập quân sự và canh gác…

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, nhưng nhân dân Thành phố mới hưởng được độc lập tự do chưa đầy một tháng thì thực dân Pháp trở lại chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn Ngày 23-9-1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trước tiên ở Sài Gòn

Ủy ban kháng chiến Sài Gòn – Chợ Lớn được thành lập ngay trong ngày 23-9-1945, ban hành lệnh bất hợp tác với giặc và hiệu triệu nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn đoàn kết chiến đấu chống giặc xâm lăng Ngày 24-9-1945, Tổng Công đoàn Nam Bộ ra lời kêu gọi nhân dân “tiến hành tổng bãi công, tổng bãi thị, tổng bãi khóa, tản cư khỏi thành phố, tích cực thực hiện “vườn không nhà trống” tiêu thổ kháng chiến, kiên quyết bất hợp tác với giặc Công nhân lao động cùng với các tầng lớp nhân dân thành phố đã nghiêm chỉnh thực hiện Cuộc tổng đình công đã kéo dài 3 tháng, làm tê liệt mọi hoạt động trong thành phố Đi đôi với các hoạt động quân sự, công nhân đẩy mạnh phong trào phá hoại: đốt cháy kho xăng Vĩnh Hội, Khánh Hội, kho đạn Thị Nghè… Tổng Công đoàn Nam Bộ và Liên Hiệp Công

Trang 27

đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn đã đề ra chủ trương xây dựng cơ sở công đoàn bí mật ở các địa phương, xí nghiệp, nhà máy, cơ quan

Cuộc chiến đấu của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn trong những ngày đầu khói lửa đã diễn ra hết sức oanh liệt Đặc biệt công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn nêu cao tinh thần dũng cảm chiến đấu của giai cấp tiền phong, thề quyết tâm bảo vệ thành phố, bảo vệ chính quyền nhân dân và nền độc lập của Tổ quốc Nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn, chủ yếu là công nhân,

đã tổ chức được trên 350 đội xung phong với 120 cây súng chia làm 3 mặt trận (mặt trận tiền tuyến miền Đông, mặt trận tiền tuyến miền Tây, mặt trận Bình Đăng, Bình Xuyên) đánh vào kẻ thù, bao vây chặt chúng trong thành phố, vừa đánh vừa len lỏi vào trung tâm thành phố đột phá những cơ sở kinh tế và căn cứ quan trọng của địch và tiêu diệt địch Ngay trong những ngày đầu, đã có trên 138 xí nghiệp và công sở, 22 kho tàng, 4 chợ, 17 đầu máy xe lửa, 30 tàu lớn, 51 tàu nhỏ, 200 xe hơi và một số cầu đường bị đốt phá

Để thống nhất trong một hệ thống duy nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, ngày 7-11-1946 Tổng Công đoàn Nam Bộ đổi tên thành Liên hiệp Nghiệp đoàn Nam Bộ trực thuộc Tổng Công đoàn Việt Nam Ngày 25-11-1946 các tổ chức Công đoàn do Tổng Công đoàn Nam Bộ xây dựng ở Sài Gòn và các tổ chức công nhân cứu quốc thống nhất lực lượng dưới một tổ chức duy nhất là Liên hiệp Nghiệp đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn gồm hàng trăm cơ

sở và hàng vạn đoàn viên

Liên hiệp nghiệp đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn đã đẩy mạnh hoạt động của công đoàn và phong trào công nhân và lao động trên mọi lĩnh vực như: từ vận động công nhân và lao động ủng hộ kháng chiến đến đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày bên cạnh phá hoại cơ sở kinh tế địch, đẩy mạnh tuyên truyền xung phong, trừ gian, diệt ác bảo vệ quần chùng và cơ

sở cách mạng Ngoài ra công nhân và lao động đã chủ động quyên góp tiền bạc, thuốc men, quần áo gửi ra chiến khu ủng hộ các chiến sĩ ngoài mặt trận

Để đối phó với phong trào ngày càng phát triển, giặc Pháp một mặt ra sức khủng bố, tàn sát, tổ chức, canh phòng nghiêm ngặt, bố ráp liên miên khắp nơi, nhất là ở những xóm lao động, tăng cường bộ máy đàn áp mở rộng mạng lưới mật thám, chỉ điểm, ngày đêm rình

mò, bắt bớ khắp hang cùng ngõ hẻm Mặt khác, thành lập những tổ chức chính trị phản động như “Lực lượng thợ thuyền, Liên đoàn Thiên chúa giáo, Liên đoàn lao động quốc tế, Thanh niên bảo quốc đoàn, Việt đoàn… để phỉnh phờ, mua chuộc công nhân viên chức, phá hoại phong trào công nhân Nhưng với tất cả những biện pháp đó, giặc Pháp vẫn không sao dập tắt được lửa cách mạng đang dâng lên trong các tầng lớp nhân dân Sài Gòn

Trang 28

Ngay trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, đã có nhiều công nhân, trí thức Sài Gòn tham gia vào các lực lượng cách mạng, từ bỏ những điều kiện thuận lợi ở thành phố, chấp nhận gian khổ hy sinh, đi theo kháng chiến chính nghĩa Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Chỉ thị 04/NV (22-5-1947), Liên đoàn viên chức và các nghiệp đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn vận động 5.000 viên chức, 1.000 thợ có tay nghề giỏi của Sài Gòn ra bưng biền tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp tăng cường thêm những ngành nghề mới, đặc biệt là ngành cơ khí quốc phòng

Năm 1947, phong trào phá hoại kinh tế địch trong công nhân và quần chúng lao động Công nhân trong các xí nghiệp đã liên tục phá hoại các máy móc, dụng cụ phục vụ chiến tranh Năm 1948 là năm phong trào công nhân nhân viên phá hoại tài sản của địch lên mạnh, gây cho chúng nhiều thiệt hạ, nhiều cuộc đấu tranh của công nhân có qui mô lớn đã

nổ ra ở các xí nghiệp đã giành được thắng lợi như: hãng Mic, hãng rượu Bình Tây, hãng xà bông Việt Nam, hãng Xcama…

Năm 1949 phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của công nhân và các tầng lớp nhân dân được đẩy mạnh, có đến 21 cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lương Từ nửa cuối năm 1949, phong trào đấu tranh công khai ở Sài Gòn – Chợ Lớn ngày càng phát triển mạnh, nhất là phong trào học sinh, sinh viên và công nhân Để hỗ trợ cho phong trào bãi trường của học sinh, Liên hiệp Công đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn quyết định tổ chức một cuộc tổng đình công trong công nhân từ ngày 1-12 nổ ra ở hãng SIT rồi lần lượt lan rộng ra các hãng BGI (Chợ Lớn), BGI (Sài Gòn) SEGI (Khánh Hội), hãng MIC, Mitac, Basto… với các yêu sách như lên lương từ 30-50%, không được đuổi ngang thợ, trả tiền Tết trước 5 ngày Đây là cuộc đấu tranh lớn nhất ở thành phố trong thời gian này làm tê liệt hoạt động của một loạt các nhà máy, xí nghiệp ở Sài Gòn, làm bọn chủ hoang mang lo sợ, nên cuối cùng chúng phải nhượng bộ, tăng lương cho công nhân từ 20-30% Cuộc bãi công giành được thắng lợi lớn, đạt được mục đích kinh tế và có tác dụng cổ vũ tinh thần đoàn kết đấu tranh trong công nhân lao động cũng như trong nhiều tầng lớp, nhiều giới, nhiều ngành toàn thành phố, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu góp phần vào thắng lợi chung của các chiến trường toàn quốc

Đầu năm 1950, trong đám tang Trần Văn Ơn ngày 12-1 và cuộc biểu tình chống Mỹ ngày 19-3, công nhân các hãng xưởng, BGI, MITAC, bưu điện, ngân hàng, tòa đô chính, sở Công chính, sở Địa chính, nhà đèn Chợ Quán đã tích cực tham gia Ngày 8-4-1950 lại nổ ra cuộc bãi công của viên chức các sở Ngân khố, công chính, bưu điện, ngân hàng, tòa Đô chính, thương cảng…

Trang 29

Ngày 20-7-1950 nhân kỷ niệm ngày thành lập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, lúc 12 giờ trưa, một cuộc mít tinh tại góc được Pollerin Bonard đã diễn ra với sự có mặt của đông đảo công nhân nêu các khẩu hiệu: “chống Mỹ xâm lược Triều Tiên, Chống Pháp – Anh – Mỹ xâm lược Việt Nam”, Phản đối việc đày luật sư Nguyễn Hữu Thọ đi Lai Châu, Thả ngay luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Tăng lương – giải quyết thất nghiệp cho công nhân”, giải quyết yêu sách cho học sinh… [11, 149] Theo thống kê của Liên Hiệp công đoàn Nam

Bộ thì trong năm 1950 ở Sài Gòn đã nổ ra 52 cuộc đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh dân chủ gồm 20.000 lượt người tham gia [5, 231]

Sang đầu năm 1951, công nhân các nhà máy, xí nghiệp công khai làm giỗ Trần Văn

Ơn bằng cách đóng máy, đến trễ hoặc lãn công 15 phút nhân ngày 9-1 Các hãng Caric, Nguyễn Văn Dung, Garage Lê Dương, Nhà đèn Sài Gòn, hãng Scama lãn công 30 phút; Soda Khánh Hội lãn công 15 phút; 3.000 công nhân thuốc lá Bastos, MIC, Mitac, Cofat nghỉ việc tập trung làm lễ tưởng niệm Trần Văn Ơn tại hãng MIC Ngày 12-11-1951, 2000 công nhân hãng Caric, Eiffel, Nguyễn Văn Dung đình công; công nhân Nhà đèn Sài Gòn, hãng Scama, Citroen, Sido, Mitac, Bastos… lãn công lên án hành động của thực dân Pháp

và bọn tay sai đàn áp cuộc mít tinh truy điệu Trần Văn Ơn 3 ngày trước đó

Tuy nhiên sau một số hoạt động đấu tranh rầm rộ đầu năm 1951 phong trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn – Gia Định trong đó có phong trào công nhân bắt đầu lắng xuống Nguyên nhân chủ yếu một mặt là do địch “quay về bình định và đánh phá ác liệt ở các vùng tạm chiếm Nam Bộ mà Sài Gòn là trọng điểm quyết liệt nhất”, mặt khác là do ta có phần trở nên bị động, lung túng, không kịp thời xác định nhiệm vụ chuyển hướng phương châm, phương thức đấu tranh cho phù hợp tình hình lúc đó [3, 327] Tình hình này kéo dài cho mãi đến giữa năm 1953, ngày 19 tháng ba 1953, công nhân đi tiên phong trong cuộc đấu tranh của 30 vạn đồng bào Sài Gòn, Chợ Lớn phản đối đế quốc Mỹ can thiệp vào Việt Nam…Từ tháng 8-1953 trở đi, được sự cổ vũ bởi thắng lợi quân sự trên các chiến trường dội về cùng với sự chỉ đạo kịp thời nhạy bén của Đảng bộ thành phố, phong trào đấu tranh dân sinh dân chủ được khôi phục và dấy lên mạnh mẽ Nổi bật là phong trào của công nhân thuộc khối hậu cần của thực dân Pháp Ngày 9-9-1953, 1.000 công nhân Sở Mộ (cơ quan tuyển công nhân quốc phòng) bãi công đòi hưởng phụ cấp sinh hoạt 20% Ngày hôm sau, 2.400 công nhân Sở Capitaine Couveur cũng hưởng ứng bãi công Ngày 4-10-1953, 1.500 công nhân nhà binh họp đại hội thành lập nghiệp đoàn công nhân giúp việc nhà binh Có đến 11.000 công nhân trong tổng số 30.000 công nhân ở Sài Gòn tham gia nghiệp đoàn này Một báo

Trang 30

cáo của Ủy ban kháng chiến hành chánh Sài Gòn – Chợ Lớn ngày 3-11-1953 còn cho biết

có đến 2000 công nhân Sở nhà binh bãi công đòi tăng lương 35%, buộc bọn chủ phải nhượng bộ và chấp nhận yêu sách chính đáng đó [3, 343]

Sang đầu năm 1954, một loạt cuộc bãi công tiếp tục nổ ra ở các xí nghiệp lớn tại thành phố Sài Gòn Ngày 22-2-1954, 400 công nhân xưởng cơ khí ASAM bãi công, được nhiều nghiệp đoàn ở cả ba miền Nam, Trung , Bắc ủng hộ bằng cách tổ chức lạc quyên hỗ trợ Công nhân nhiều hãng lớn như Eiffel, Auto dall, Faci, Caric… cũng bãi công 24 giờ hưởng ứng cuộc đấu tranh của công nhân ASAM Từ 20-4-1954 cuộc bãi công của công nhân ô to buýt Sài Gòn diễn ra làm đình trệ giao thông trong thành phố Cũng trong tháng 4-

1954, 200 thợ giày ở 7 tiệm giày lớn trên đường Bonard (Lê Lợi) bãi công phản đối chủ hà khác… [3, 345]

Ngày 1-5-1954 khi quân đội ta nổ súng mở đầu đợt 3 – đợt tấn công quyết định vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - đông đảo công nhân và nhân dân lao động Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã tuần hành và mít tinh trước Tòa Đô chính thành phố, giương cao các biểu ngữ “trả phụ cấp gia đình trên căn bản duy nhất!”, áp dụng di dịch lương bổng, chống nạn đuổi nhà lấy đất… [3, 346], nhắc lại những cuộc đấu tranh này, trong bài viết “Thời chống Mỹ” đăng trên báo Nhân dân (số ra ngày 17-2-1985), đồng chí Lê Duẩn khẳng định:

“trước mũi súng của quân thù, hàng ngày cọ xát với địch, đấu tranh của đồng bào lao động giành được một đồng xu cũng có giá trị như một chiến công” [3, 346]

Công nhân nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn, với 200 cơ sở và hơn hai vạn đoàn viên, nhiều cơ sở tan vỡ rồi xây dựng Qua mỗi thất bại, phong trào lại già dặn thêm một bước nhưng chưa bao giờ lửa đấu tranh của công nhân nội thành bị dập tắt Cuộc chiến đấu diễn

ra liên tục Mỗi lúc lại gặp những khó khăn mới, nhưng mỗi lúc lại càng tỏ rõ óc sáng tạo của người công nhân, sức chiến đấu dẻo dai của người công nhân

1.3 Một số đặc điểm của phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trước 1954

Đội ngũ công nhân lao động phát triển ngày càng đông thêm, phong trào đấu tranh của họ cũng diễn ra thường xuyên và rất mạnh Nhiều cuộc đấu tranh lớn thu hút đông đảo công nhân và nhiều tầng lớp nhân dân khác tham gia, hoặc hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên và các giới khác, gây tiếng vang lớn trong và ngoài thành phố Trong thời kỳ kháng chiến, phong trào công nhân đã phát triển thêm những bước mới Ở vùng tự

do và căn cứ kháng chiến, công nhân nỗ lực thi đua sản xuất và sửa chữa vũ khí, đạn dược

Trang 31

cung cấp cho nhu cầu tiền tuyến Trong vùng tạm chiếm, công nhân đã dẫn đầu phong trào phá hoại kinh tế và đấu tranh chống các chính sách áp bức bóc lột của địch

Phong trào đấu tranh của công nhân lao động Sài Gòn suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp đã gắn chặt mục tiêu đòi quyền lợi dân sinh dân chủ với mục tiêu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc

Qua thực tiễn đấu tranh, những hình thức bãi công, đình công, lãn công đòi tăng lương, bớt giờ làm, chống sa thải bắt bớ… đã kết hợp mật thiết với các hình thức phá hoại kinh tế địch, gây cho địch nhiều khó khăn bị động Nhân dân Sài Gòn mà công nhân là nòng cốt đã chủ động tham gia kháng chiến trong những hoàn cảnh, với những hình thức thích hợp, phương thức thích hợp nhất Điều đó làm cho tính chất nhân dân của cuộc kháng chiến của ta càng thêm sinh động, phong phú [5, 250]

Hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú, đa dạng của phong trào chứng tỏ tính năng động và sáng tạo không ngừng của đội ngũ công nhân thành phố Đó cũng là những hành trang vững chắc, quý báu mà lực lượng công nhân Sài Gòn – Gia Định tiếp tục bồi đắp, phát triển thêm trong một thời kỳ đấu tranh mới sôi động và quyết liệt hơn: thời kỳ

21 năm chống Mỹ

Trang 32

CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN SÀI

và đàn áp phong trào cách mạng miền Nam

Cuối năm 1960, phong trào cách mạng miền Nam bùng lên mạnh mẽ đẩy Mỹ và chính quyền Sài Gòn vào thế bế tắc, đứng trước nguy cơ sụp đổ Tình hình này trở thành mối đe dọa trực tiếp đến lợi ích Mỹ ở khu vực Đông Nam Á, ngày 20-1-1961 Kennơđi đề ra chiến lược "phản ứng linh hoạt chính thức công bố học thuyết mới và chọn Việt Nam làm nơi thí điểm "chiến tranh đặc biệt" Sài Gòn trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ với một

hệ thống đồn bót dày đặc, một lực lượng quân đội rất lớn (gần 40% tổng số quân địch) Ở nông thôn miền Nam, từ giữa năm 1961 Mỹ - ngụy triển khai quốc sách Ấp chiến lược với mục tiêu xây dựng cho được ở miền Nam 16.000 ấp chiến lược Phong trào chống phá ấp chiến lược ngày càng lên cao Một số tổ chức đối lập và nhiều nhóm quân nhân trong quân đội Sài Gòn lợi dụng tình trạng rối ren đẩy mạnh cuộc vận động làm đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm 1-11-1963 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc Hàng loạt các cuộc đảo chính từ sau khi Ngô Đình Diệm đổ làm cho chính quyền ngụy suy yếu nghiêm trọng, nội bộ lục đục

Năm 1965 để cứu vãn tình thế, Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc

Do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa lý chi phối, Sài Gòn là nơi đặc biệt nhạy cảm với mọi diễn biến chung của thời cuộc và mỗi biến động của nó đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình miền Nam ra cả nước và chừng mực nào đó ra cả thế giới Trong thư gửi Ủy ban

Trang 33

Sài Gòn – Gia Định ngày 1-7-1967, đồng chí Lê Duẩn đã nhấn mạnh vai trò của Sài Gòn – Gia Định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc: “Đối với cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ, Sài Gòn – Gia Định là căn cứ là hậu phương quan trọng Hơn nữa dù liều lĩnh và trắng trợn, đế quốc Mỹ cũng không thể không dựa vào Ngụy quyền Vì vậy, Sài Gòn – Gia Định vừa là hang ổ, là đầu não của Ngụy quân, Ngụy quyền Đứng về quân sự mà xét, không đánh vào căn cứ vào hậu phương, vào đầu não của địch thì không thể giành được thắng lợi cuối cùng Trong quá trình chiến tranh cứu nước của miền Nam, nếu ở giai đoạn đầu đấu tranh chính trị và quân sự ở nông thôn đã có tác dụng giành thắng lợi từng bước và làm thay đổi lực lượng so sánh ngày càng có lợi cho cách mạng thì ở giai đoạn cuối những đòn tấn công mãnh liệt về quân sự và chính trị ở thành thị, đánh vào một trong những chỗ dựa cơ bản của địch, cũng là đòn quyết định đánh bại hoàn toàn chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ” [38,152] Có thể nói, Sài Gòn vừa là đại bản doanh của địch, nơi tập trung sức mạnh của Mỹ - Việt Nam Cộng hòa đồng thời cũng là nơi có vị trí chiến lược quan trọng đối với cách mạng miền Nam Việt Nam

2.1.2 Tình hình kinh tế và xã hội

Về kinh tế, Mỹ xây dựng ở Sài Gòn (cũng như toàn miền Nam) một nền kinh tế nô dịch và phục vụ chiến tranh Dưới chiêu bài “viện trợ”, đầu tư tư bản vào các ngành sản xuất phục vụ cho nhu cầu chiến tranh xâm lược thực dân mới, đế quốc Mỹ đã nắm chặt nền kinh tế Miền Nam đồng thời làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội miền Nam thay đổi

Dưới tác động của viện trợ Mỹ, kinh tế của Sài Gòn phát triển khá nhanh theo chiều hướng kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Từ 1954 đến 1960, kinh tế miền Nam khá ổn định, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 5%, giá cả ít biến động Sản lượng gạo xuất khẩu qua cảng Sài Gòn hàng năm đạt trên 300.000 tấn Chất lượng hàng tiêu dùng khá đa dạng và phong phú

Từ đầu những năm 60 trở đi, khi Mỹ ngày càng mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam thì viện trợ Mỹ ngày càng đổ nhiều vào miền Nam và nền công nghiệp miền Nam, tập trung nhất ở Sài Gòn cũng ngày càng phát triển Cũng theo nhịp độ và hình thái chiến tranh của Mỹ, cơ cấu các ngành công nghiệp Sài Gòn biến đổi ngày càng phong phú, đa dạng Nhiều ngành nghề mới được mở ra, song vẫn chủ yếu là công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng… Năm 1960, công suất tình chung toàn máy phát điện khai thác tại miền Nam khoảng 80.000kw, trong đó 60.000kw tập trung tại Sài Gòn – Chợ Lớn, thêm vào đó có khoảng 26.000kw của các máy phát điện tư nhân mà Sài Gòn - Chợ Lớn

Trang 34

chiếm gần 20.000kw [137, 16] Để phục vụ cho chiến tranh xâm lược và xây dựng một chế

độ thuộc địa kiểu mới, Mỹ cho du nhập nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào công nghiệp Sài Gòn, nhất là ở những ngành, những xí nghiệp quân sự, quốc phòng

Cả miền Nam nói chung và thành phố nói riêng không có một cơ sở công nghiệp nặng nào đáng kể, mà chủ yếu phát triển một số ngành như: công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, dệt… Trên thực tế các ngành này luôn dẫn đầu trong các ngành kỹ nghệ nằm trong tay tư bản nước ngoài Các nhà tư bản Việt Nam chỉ làm chủ 18% kỹ nghệ

cơ sở sản xuất, chỉ chiếm được 10% số vốn trong kỹ nghệ chế biến, phần lớn là cơ sở nhỏ [82, 37] Trong lĩnh vực công nghiệp, thế lực kinh tế của tư sản ở thành phố nhỏ bé Họ chỉ tham gia kinh doanh một số ngành không quan trọng như giao thông vận tải đường bộ, vận tải ven biển và vận tải đường sông, hay một số ngành thầu khác Bên cạnh đó, Mỹ - Ngụy cho thành lập những “xí nghiệp quốc doanh” với số vốn đầu tư lớn của chính quyền, qui tụ hàng vạn công nhân Các khu công – kỹ nghệ, thương mại ở Sài Gòn – Gia Định có gần 3.000 công ty kỹ nghệ

Từ năm 1959, tình hình kinh tế Sài Gòn bắt đầu chịu ảnh hưởng tai hại của viện trợ

Mỹ Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống bị phá sản có 10.527 trong số 15.038 khung dệt ở thành phố phải ngưng hoạt động; 10.000 lò đường nghỉ không sản xuất, những nhà trồng thuốc nổi tiếng ở Gò Vấp, Hóc Môn bị đình đốn vì thuốc lá ngoại tràn ngập thị trường,

số công nhân thất nghiệp tăng cao [67, 48]

Thi hành nhiều chính sách và biện pháp tước bỏ độc quyền của tư bản Pháp trong những lĩnh vực quan trọng và mở cửa cho tư bản Mỹ đầu tư, nhập cảng xuất khẩu hàng hóa vào thị trường miền Nam Tăng thuế sản xuất, buôn bán, khiến cho nhiều ngành sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình trệ, phá sản Nông nghiệp, ngành sản xuất chính của miền Nam cũng lâm vào tình trạng sa sút do sự khủng bố rất ác liệt của địch ở nông thôn và chính sách “cải cách điền địa” phục hồi quyền sở hữu ruộng đất và chế độ bóc lột địa tô của địa chủ

Công nghiệp miền Nam nói chung và công nghiệp ở Sài Gòn dưới thời Mỹ - Ngụy là một nền công nghiệp mang tính chất thực dân mới, là một nền công nghiệp không đồng bộ, không hoàn chỉnh, lệ thuộc nước ngoài từ vốn đầu tư, trang bị kỹ thuật đến nguyên liệu vật

tư Tuy vậy dính liền với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và là cơ sở kinh tế của chính quyền ngụy và giai cấp tư sản mại bản, nền công nghiệp đó có một bước phát triển với tốc

độ nhanh và trang bị kỹ thuật hiện đại như xây cất, nhất là ngành xây cất phục vụ quân sự,

Trang 35

sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng, cơ khí, điện giao thông vận tải, sản xuất vật phẩm tiêu dùng…

Các chính sách kinh tế dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng tác động tới sản xuất và

xã hội, gây ra nhiều khó khăn… và bế tắc cho sản xuất và kinh doanh, nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng; hàng loạt nhà tư sản dân tộc bị phá sản, kéo tụt số lượng nhà tư sản ở Sài Gòn

từ 20.000 năm 1955 xuống còn 5.000 năm 1957

So với giới tư sản thương nghiệp, giới tư sản công nghiệp dân tộc lại càng khốn đốn hơn Lực lượng kinh tế của họ rất nhỏ bé không cạnh tranh nổi với các tổ chức công ty tư bản của Mỹ - Diệm và nước ngoài Chính quyền Diệm lại còn thi hành nhiều chính sách và biện pháp bóp nghẹt sự phát triển của hoạt động công nghiệp dân tộc để phục vụ cho chính sách đầu tư của tư bản Mỹ

Địa giới hành chính Sài Gòn – Gia Định gồm đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn, từ ngày 22-10-1956 được gọi là “thủ đô Sài Gòn” bởi sắc lệnh số 143-NV của chính quyền Ngô Đình Diệm và tỉnh Gia Định Sài Gòn có 7 quận hành chính được giữ nguyên như dụ số 11, ngày 30-5-1954 do Bảo Đại ký Ngày 27-3-1959, ký nghị định số 110-NV, chia Sài Gòn thành 8 quận với tên gọi quận Nhất, quận Nhì, quận Ba, quận Tư… quận Tám với tổng diện tích 51 km2, đến năm 1963 là 58km2 Về tình hình Gia Định thì vào ngày 29-4-1957, Ngô Đình Diệm ký nghị định số 138-BNV/HC/NĐ chia Gia Định ra làm 6 quận hành chính gồm

Gò Vấp, Tân Bình, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Bình Chánh Với tổng diện tích ban đầu là

1228 km2, sau ba lần điều chỉnh đến năm 1963 còn lại 810km2, với 60 xã, 427 ấp quản lý 134.310 nóc gia [148, 25-27] “Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định là 2 đơn vị hành chính chỉ cách nhau có con rạch Cầu Bông” [53]

Về dân số, Sài Gòn năm 1954 có 1 triệu dân, theo kết quả cuộc điều tra dân số năm

1958 do Viện Thống kê thực hiện cho biết Sài Gòn có dân số 1.200.000 người Đến năm

1963 tăng lên 1.336.000 người, với mật độ dân số 28.059 người/km2, đây là mật độ dân số cao nhất thế giới lúc bấy giờ, vượt xa Tokyo và Athenes Trong vòng 20 năm (1943-1963) dân số Sài Gòn tăng lên 3 lần [147, 25] Còn ở tỉnh Gia Định, chỉ trong vòng 9 năm, mật độ dân số tăng gấp 3 lần: từ 296 người/ km2 (năm 1954) lên 903 người/km2(năm 1963) So với các thành phố, thị xã vào thời điểm năm 1963 khi Đà Nẵng có 121.000 người; Huế có 104.600 người, Cần Thơ có 71.000 người, Mỹ Tho có 58.100 người… thì Sài Gòn – Gia Định là thành phố đông dân nhất với hơn 2 triệu dân, chiếm 1/7 dân số trên 1/200 diện tích của toàn miền Nam [148, 25] Theo bảng kê dân số trong toàn quốc 27-5-1964 Nam Phần:

Trang 36

toàn miền Nam có 14.495.283 người trong đó Đô thành Sài Gòn có 1.335.610 người, Gia Định có 741.206 người [114] Ngoài người Kinh chiếm đa số, tại Sài Gòn còn có người Hoa, người Chăm và một số dân tộc thiểu số khác Ngoài ra một bộ phận cư dân định cư lâu đời, do những biến động xã hội và cũng do chiến tranh, một bộ phận người dân từ các địa phương khác rời bỏ quê hương đến Sài Gòn Vào những năm 1950 có những đợt nhập cư quan trọng của đồng bào miền Trung và miền Bắc

Về văn hóa, Mỹ du nhập vào miền Nam, nhất là ở Sài Gòn, một lối sống hưởng thụ

xa hoa cùng các loại văn hóa phẩm đồi trụy, cao bồi, làm cho nhân dân Sài Gòn xa rời đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; nhằm biến Sài Gòn thành nơi trưng bày sức mạnh của

Mỹ, hàng viện trợ, lối sống và nền văn hóa Mỹ Trong chừng mực nhất định, ý đồ này của

Mỹ đã tác động tiêu cực đến một bộ phận công nhân lao động tại những nơi cơ sở cách mạnh còn yếu, làm nảy sinh ở họ tâm lý hưởng thụ và vọng ngoại, có phần xao lãng ý thức đấu tranh chống áp bức bất công

2.2 Tình hình công nhân Sài Gòn trong những năm 1954-1968

2.2.1 Sự phát triển của đội ngũ công nhân

Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, đội ngũ công nhân công nghiệp được tăng lên nhanh chóng Năm 1955 công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn là 191.030 người đến

1961 đã tăng lên 255.230 người Công nhân xây dựng năm 1957 có 6.000 người, năm 1960 tăng lên 50.000 người, gấp 8 lần, công nhân vận tải 1960 có 55.500 người đến 1964 lên tới 88.345 người, công nhân các ngành chế biến năm 1960 là 48.890 người đến năm 1964 đã lên tới 62.425 người [137, 29] Hầu hết công nhân công nghiệp tập trung ở Sài Gòn – Chợ Lớn, trung tâm kinh tế - chính trị - quân sự của địch Năm 1960 toàn miền Nam có 7.398 công ty kỹ nghệ, sử dụng 59.300 công nhân thì có tới 3.123 công ty ở Sài Gòn – Chợ Lớn, chiếm 42% số công nhân sử dụng, nếu tính cả Biên Hòa thì chiếm khoảng 61% công nhân miền Nam (36.493 người) Đến 1965, chỉ kể số công nhân ở đô thị miền Nam đã có khoảng 613.000 người, riêng Sài Gòn chiếm ½ [137, 30]

Tại khu kinh tế công quản, quốc phòng, số lượng công nhân khá đông Năm 1960, riêng Sài Gòn – Chợ Lớn có khoảng 15 cơ sở với 22.100 người Các cơ sở có số công nhân đông là ngành hỏa xa (toàn miền Nam 6.000), xưởng Ba Son 3.500 công nhân, kho xăng xông binh Gò Vấp 1.000 công nhân, xưởng quân cụ Gò Vấp 1.000 công nhân…

Trang 37

Số công nhân thuộc các xí nghiệp ngoại quốc đầu những năm 60 cũng chiếm số lượng đáng kể Riêng Sài Gòn – Gia Định có 34 cơ sở với 21.000 công nhân Chủ yếu là các

cơ sở của Pháp, Mỹ hoặc liên doanh Mỹ - Ngụy, Pháp – Ngụy hoặc Mỹ - Pháp – Việt với các nước tư bản khác Điển hình là hãng dệt Vimytex có 2.000 công nhân liên doanh Mỹ - Đài Loan – ngụy với tổng số vốn là 38 triệu đồng miền Nam Hãng nước ngọt Pháp (BGI)

có 1.200 công nhân…

Các bến cảng lớn cũng tập trung ở Sài Gòn với hàng vạn công nhân như: Thương cảng Sài Gòn có 5.000 công nhân chính thức và 15.000 công nhân phụ động, Bến Lê Quang Liêm và Tân Cảng, mỗi nơi cũng có tới 5.000 công nhân Khu vực kinh tế tư bản bản xứ nói chung nhỏ bé, có 23 hãng sử dụng 6.640 công nhân

Sau năm 1954, lực lượng nữ công nhân chiếm một tỷ lệ khá cao trong đội ngũ công nhân Sài Gòn – Gia Định Riêng ở Sài Gòn, năm 1957 trong đó 225.000 công nhân thì 77,4% nam, 17% nữ và 5,6% trẻ em từ 14 đến 18 tuổi Năm 1960 Sài Gòn có 191.050 thì 78% là nam, 19% là nữ và 3 % trẻ em từ 14 đến 18 tuổi Ở một số xí nghiệp dân dụng (bột giặt, đường, bột ngọt, đay, sợi, khách sạn…), số lượng nữ công nhân chiếm 70-80% Riêng các ngành dệt, cơ khí, tỷ lệ nữ công nhân ở mức bình quân là hơn 50%, thậm chí có một số

xí nghiệp tỷ lệ đó lên tới 90-95% Trong ngành xây dựng, nữ công nhân cũng chiếm một vị trí quan trọng (khoảng 70% trong số 45.000 công nhân Việt Nam làm việc tại hãng thầu RMK-BRJ là nữ) Trong các xí nghiệp nhỏ, thủ công và các ngành ấn loát, lắp ráp, nữ công nhân thường chiếm đa số Lao động phục vụ trong các sở Mỹ cũng hầu hết là nữ và những người lớn tuổi (khoảng chừng 50.000 nhân công phục vụ) [79, 28-29]

Đáng chú ý là trong đội ngũ công nhân ở miền Nam nói chung, thành phố nói riêng, lực lượng công nhân Hoa kiều chiếm tỷ lệ đáng kể Năm 1955-1956, công nhân người Hoa

có 20.000 người trong tổng số 205.466 công nhân miền Nam, công nhân quốc tịch khác 2.4000 người Năm 1957, riêng ở Sài Gòn – Chợ Lớn số công nhân người Hoa đã lên tới 48.942 người, chiếm 27% tổng số công nhân thành phố, công nhân quốc tịch khác là 3.590 người (2%) Ngành có công nhân người Hoa nhiều nhất là ngành kỹ thuật chế tạo và tiểu thủ công nghiệp

Nói tóm lại, đội ngũ công nhân công nghiệp Sài Gòn – Chợ Lớn trong những năm 1954-1967 phát triển nhanh về số lượng và chưa có sự xáo trộn lớn trong cơ cấu Tuy nhiên, thành phần xuất thân không đồng nhất, ý thức giai cấp, trình độ giác ngộ cách mạng và tinh

Trang 38

thần đấu tranh của công nhân có mức độ khác nhau, nhưng thành phần cơ bản vẫn chiếm chủ yếu và không có tầng lớp công nhân quý tộc

2.2.2 Đời sống của công nhân

Đời sống nhân dân lao động không ổn định biểu hiện trên khắp các mặt điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt, phản ánh một cách cụ thể nhất quy luật bần cùng hóa tuyệt đối giai cấp công nhân dưới chế độ xã hội thuộc địa và nửa phong kiến Theo cuộc điều tra về lương công nhân của Viện quốc gia thống kê (Sài Gòn) năm 1961, qua khảo sát 4 năm (1958-1961) so sánh giữa tiền lương và giá cả thì mệnh lương tiến triển chậm, thực lương chuyển biến thất thường trong khi giá tiêu thụ thì gia tăng vùn vụt, vì vậy “nếu được tăng lương đều đều mãi lực của họ vẫn yếu, điều kiện sinh hoạt của họ vẫn chưa được cải tiến” [50, 34]

Đối chiếu với giá sinh hoạt ngày càng tăng vọt, dễ nhận thấy số công nhân đang có việc làm cũng phải sống rất cơ cực Gạo từ 560$ đến 750$ - 850$ và 900$/1 tạ; cá từ 30 lên

45 -50$/1 kg; thịt từ 60$ lên 80-90$/1 kg; than từ 160$ lên 240$/1 tạ Sau khi Diệm tuyên

bố tình trạng khẩn cấp, giá sinh hoạt một lần nữa tăng cao; gạo 1.000 -1.100$/ 1 tạ, thịt 120$/1 kg, cá 60$/1 kg

100-Cùng với giá sinh hoạt lên cao, là tình trạng tăng thuế trực thu, gián thu, truy thu thuế

và tăng cường phạt vạ từ đầu năm đến tháng 9-1961 có trên 2.000 vụ phạt vạ, riêng tháng 7

và 8 phạt vạ 128 vụ (2.690.391 đồng) Mức sống trung bình của công nhân sụt 50% so với thời giá trước 1960

Theo báo Tân văn 10/Mar 1955 trong 2 số liền đăng 2 bài về vấn đề tiền lương số 43

ngày 7.3.1955: “công nhân làm sao sống với 43đ 50 lương tối thiểu trong khi giới chuyên môn nhìn nhận mỗi gia đình lao động Việt Nam phải có 112 đ để sống hàng ngày” và số 44 ngày 8-3-1955: “Trong cuộc đấu tranh đòi lương mới cho lao động, đại diện công nhân đừng quên rằng lương tối thiểu thật sự do nhiều hãng đang trả là 65 đồng Gia đình công nhân có tới 999 trường hợp nghèo đau bệnh mà chết” [116] Lương người Việt Nam sánh với người dân Tây hay Âu Châu rất chênh lệch quá xa Người Việt Nam chỉ có thể trang trải qua tháng được với giá sanh hoạt mắc mỏ hiện giờ, nhiều khi phải thiếu hụt làm mất cả tinh thần và làm việc mất cả năng lực” [54]

Nạn thất nghiệp cũng ngày càng tăng cao, là một căn bệnh trầm kha của chính quyền Sài Gòn Tình trạng bị sa thải, mất việc làm luôn là mối ám ảnh và đe dọa thường trực đối với giới công nhân Sau Hiệp định Genève, những cơ sở kinh tế - quân sự của Pháp rút khỏi

Trang 39

Việt Nam làm cho một số đông công nhân thợ thuyền bị thất nghiệp Năm 1955, Sài Gòn có

10 vạn người thất nghiệp; năm 1956 chính quyền Ngô Đình Diệm thải hồi 23.000 công nhân các xí nghiệp nhà binh Pháp, 4.000 công nhân hãng Ba Son [46, 207] Cuối năm 1960, theo Theo tờ trình của Bộ Xã hội và Y tế của chính quyền Sài Gòn “về vấn đề thất nghiệp tại Việt Nam và phương pháp giải quyết” riêng tại Sài Gòn số người thất nghiệp đã chiếm đến 68,6% dân số, và chắc chắn rằng tình trạng này trở thành mối đe dọa nặng nề cả về chính trị lẫn kinh tế Đặc biệt là tình trạng nhiều ngành tiểu thủ công bị phá sản, phải đóng cửa do thuế nặng và không cạnh tranh nổi với hàng ngoại hóa Bế tắc trong vấn đề giải quyết việc làm cho dân, Ngô Đình Diệm nói, nếu muốn hết thất nghiệp thì “chánh phủ sẵn sàng giúp đỡ” họ về nông thôn làm tá điền cho địa chủ [37, 76]

Nạn tử tự ở các thành thị miền Nam ngày mỗi tăng: năm 1954 có 204 vụ, năm 1957

có 514 vụ, năm 1959 có 913 vụ Số vụ tử tự năm 1959 tăng hơn gần 5 lần so với năm 1954 Đương nhiên, nguyên nhân các vụ tử tự xảy ra không phải tất cả đều là do nạn thất nghiệp Còn có nhiều nguyên nhân khác bắt nguồn từ một chế độ xã hội đồi trụy mà Mỹ - Diệm đã dựng lên ở miền Nam Nhưng số vụ tự tử vì bị thất nghiệp cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn Trong số 931 vụ tự tử năm 1959 thì có đến 665 vụ nguyên nhân là do thất nghiệp

Với những người có công ăn việc làm, cuộc sống của họ cũng hết sức khó khăn vất

vả, đồng lương thấp kém, công nhân sống trong tình cảnh thiếu thốn, lương không đủ sống, phụ cấp gia đình ít Ở Sài Gòn, tình trạng thất nghiệp lan tràn Tháng nào rải rác ở các hãng xưởng cũng đều có sa thải công nhân Chủ tư bản luôn đưa nạn thất nghiệp ra đe dọa công nhân để giảm bớt hay chặn đứng lương bổng vốn đã thấp kém của họ, gia tăng cường độ lao động Công nhân ngành dệt phần lớn là nữ, làm việc từ 4 giờ sáng đến 7 giờ tối trong những nhà xưởng nóng đến 40oC mà chỉ kiếm được từ 20 đến 30 đồng, trong khi nhu cầu tối thiểu

về sinh hoạt của một ngày cho một công nhân là 40 đồng [79, 54] Thời gian làm việc không phải 8 giờ mà thường phải tăng lên 10-12 giờ, có khi còn hơn thế Báo Cách mạng quốc gia,

tờ báo chính thức của chính quyền Ngô Đình Diệm (số ra ngày 25-5-1959) cũng phải viết:

“Công nhân bị bắt làm việc trung bình 11 giờ một ngày chủ nhật không được nghỉ và quanh năm cũng không có ngày lễ” Tờ tuần san Phòng thương mại Sài Gòn số ra ngày 20-10-

1959 viết: “nữ công nhân mỗi tuần phải luân phiên làm 3 loại nghề khác nhau: 3 ngày làm ở hãng thuốc lá, 4 ngày làm nghề dệt ban ngày và ban đêm phải gánh chè cháo bán rong Chúng ta chú ý người công nhân này làm việc 7 ngày liền trong một tuần lễ với số giờ không thể kể được” [79, 54]

Trang 40

Tất cả những điều nói trên, đã gây nên mối căm thù sâu sắc trong công nhân đối với

Mỹ - Ngụy, phong trào công nhân đấu tranh đòi cải thiện đời sống, đòi các quyền tự do dân chủ và hòa bình thống nhất ngày mỗi dâng cao, diễn ra dưới nhiều hình thức

2.2.3 Âm mưu và biện pháp của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với phong trào công nhân Sài Gòn

Theo đuổi chính sách "thăng tiến cần lao, đồng tiến xã hội", Chính quyền Ngô Đình Diệm đã sửa đổi nhiều điều khoản trong bộ Luật Lao động và tăng cường sự kiểm soát để bảo vệ quyền lợi công nhân, giải tỏa lương bổng và nâng cao mức lương tối thiểu, thiết lập các sở y tế lao động, Tòa án lao động, lớp dạy nghề buổi tối [83]

Những hoạt động của Bộ Lao động về phương diện pháp chế, bộ Luật Lao động Việt Nam đã được bổ khuyết bằng những đạo dụ sau đây: Dụ số 9 ngày 8-2-1955 đặt 1 khoản

"trợ cấp thôi việc" cho những công nhân xin nghỉ vì duyên cớ chính đáng không thể tiếp tục công việc được, hoặc bị sa thải không phải vì phạm lỗi nặng, tính theo thâm niên của công nhân trong xí nghiệp - Nghị định số 23 ngày 24-2-1955 ấn định các thể thức và chi tiết để thi hành điều khoản nghỉ 15 ngày hàng năm có hưởng lương do bộ luật Lao động đã qui định Bộ Lao Động cũng không sao nhãng quyền lợi của công nhân ngoại kiều - Dụ số 37 ngày 8-11-1954 nới rộng thể lệ thành lập nghiệp đoàn đã cho phép công nhân ngoại kiều được gia nhập các nghiệp đoàn - Do sắc lệnh số 140 T.P ngày 6-5-1955, Bộ đã thiết lập các tòa án Lao Động tại Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, là những nơi tập trung nhiều hoạt động kỹ nghệ và thương mại - Các nghị định số 1.527, 634

và 32, ấn định lại lương tối thiểu áp dụng cho Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt Ngoài ra,

để có thể giải quyết vấn đề thất nghiệp, thăng bằng sự cung cầu, nhân công bộ Lao động đã thi hành 1 biện pháp thực tế nhất và có kết quả nhất, là mở các lớp dạy nghề”

Trong “hiến pháp” có ghi: “Quyền đình công không được thừa nhận đối với… công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống công cộng” Trong “bộ luật lao động tân tiến” điều 379 ghi rõ thêm là: “Một người nào hoặc tham dự vào hoặc xúi giục một vụ đình công trong một sở hữu ích công cộng… sẽ bị phạt tù 6 ngày đến 6 tháng và bị phạt vạ từ 60 đến 24.000 đồng”

Âm mưu của Mỹ - ngụy đối với công nhân lao động là vừa khủng bố kềm kẹp, vừa lừa mị về đời sống và đầu độc về chính trị, nhằm làm lu mờ ý thức giai cấp của công nhân lao động, gây chia rẽ trong nội bộ công nhân, làm cho phong trào công nhân lao động xa rời

Ngày đăng: 02/12/2015, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. B.B đặc phái viên (1957), “Đại hội ngành dệt”, Tạp chí Chấn hưng kinh tế, (số 14), tr.10-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội ngành dệt”, "Tạp chí Chấn hưng kinh tế
Tác giả: B.B đặc phái viên
Năm: 1957
2. Ban biên tập nhà xuất bản Lao động (1978), Một vài ý kiến về đội ngũ công nhân lao động miền Nam và công tác công đoàn vùng giải phóng , Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về đội ngũ công nhân lao động miền Nam và công tác công đoàn vùng giải phóng
Tác giả: Ban biên tập nhà xuất bản Lao động
Nhà XB: nhà xuất bản Lao động (1978)
Năm: 1978
3. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (1995), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam TP Hồ Chí Minh tập I (1930-1945), Nxb T hành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam TP Hồ Chí Minh tập I (1930-1945)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
4. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (2000), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam TP Hồ Chí Minh tập II (1954-1975), Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam TP Hồ Chí Minh tập II (1954-1975)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 2000
5. Ban chấp hành Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh (1993), Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc , Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Tác giả: Ban chấp hành Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1993
6. Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện đại hội tập 1 , Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội tập 1
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam
Năm: 1960
7. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Thắng lợi và bài học , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
8. Ban chỉ đạo tổng kết lịch sử Bộ tổng tham mưu (1997), Tổng kết bộ tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước , Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết bộ tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết lịch sử Bộ tổng tham mưu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1997
9. Ban công vận L.71 (1962), Dự thảo tổng kết công tác công vận Sài Gòn – Chợ Lớn từ trước Tổng khởi nghĩa đến hòa bình lập lại, Hồ sơ lưu trữ tại Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo tổng kết công tác công vận Sài Gòn – Chợ Lớn từ trước Tổng khởi nghĩa đến hòa bình lập lại
Tác giả: Ban công vận L.71
Năm: 1962
10. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Những sự kiện lịch sử Đảng tập III (1985) , Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lịch sử Đảng tập III (1985)
Nhà XB: Nxb Thông tin lý luận
11. Ban sự Liên hiệp công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh (1986), Công nhân Sài Gòn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc , Nxb T hành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân Sài Gòn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Tác giả: Ban sự Liên hiệp công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1986
12. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 12-1-1971 đến 8h00 ngày 13-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 12-1-1971 đến 8h00 ngày 13-1-1971
13. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 21-1-1971 đến 8h00 ngày 22-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 21-1-1971 đến 8h00 ngày 22-1-1971
14. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 23-1-1971 đến 8h00 ngày 24-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 23-1-1971 đến 8h00 ngày 24-1-1971
15. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 25-1-1971 đến 8h00 ngày 26-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 25-1-1971 đến 8h00 ngày 26-1-1971
16. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 30-1-1971 đến 8h00 ngày 31-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 30-1-1971 đến 8h00 ngày 31-1-1971
17. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 3-2-1971 đến 8h00 ngày 4-2-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 3-2-1971 đến 8h00 ngày 4-2-1971
18. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 6-1-1971 đến 8h00 ngày 7-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 6-1-1971 đến 8h00 ngày 7-1-1971
19. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 7-1-1971 đến 8h00 ngày 8-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 7-1-1971 đến 8h00 ngày 8-1-1971
20. Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 8-1-1971 đến 8h00 ngày 9-1-1971, Hồ sơ 17116, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng ngày từ 8 giờ sáng ngày 8-1-1971 đến 8h00 ngày 9-1-1971

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 1.5. BẢNG CHIẾT TÍNH MỨC ĐỘ CHI TIÊU SO VỚI LỢI TỨC CỦA 2 - phong trào đấu tranh của công nhân sài gòn (1954 – 1975)
h ụ lục 1.5. BẢNG CHIẾT TÍNH MỨC ĐỘ CHI TIÊU SO VỚI LỢI TỨC CỦA 2 (Trang 139)
Nguồn: Tình hình kinh tế Việt Nam 1972, bảng D3, tr 35-36. - phong trào đấu tranh của công nhân sài gòn (1954 – 1975)
gu ồn: Tình hình kinh tế Việt Nam 1972, bảng D3, tr 35-36 (Trang 140)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm